|
|
Số 26, Ngày 8-11-2004
Cảnh Đời Này và Đời Sau - GM. Bùi Tuần Niềm Tin vào Sự Sống Lại của Người Kitô Hữu - Giao Duyên Việc Độ Vong trong Kitô Giáo và Phật Giáo - Nguyễn Chính Kết Những Nhận Thức Mới về Thánh Lễ - Hoàng Quý viết theo Scott Hahn Vĩnh Biệt Mẹ - Kim Lệ Dấn Thân Loan Báo Tin Mừng - Khổng Nhuận Người Hát Rong &Tiếng Cười - Người Ẩn Sĩ & Nụ Cười - An Phong-Hàn Vũ Lời Con Trẻ - Trần Duy Nhiên
Kính thưa Quý vị độc giả. Một trong những hình ảnh còn lưu lại trong ký ức tôi từ lúc tuổi còn thơ về các thánh lễ tháng 11 là một màn đen dễ sợ. Giữa nhà thờ có một quan tài giả, phủ một chiếc khăn đen, trên ấy thêu một sọ người và hai chiếc xương chéo màu trắng với hàng chữ: “Nay Tao, Mai Mày”. Những chữ ‘Hodie mihi, cras tibi’ trong tiếng La Tinh, khi dịch ra tiếng Việt bằng ‘tao, mày’ nghe như một lời đe dọa. Thế nên trong những thánh lễ ấy, thay vì cầm trí cầu nguyện cho các linh hồn, tôi chỉ nghe vẳng vẳng bên tai: “Mai mày sẽ chết...” và sau đó là một màn đêm rùng rợn với những bóng ma quái gỡ. Tôi sợ sa hỏa ngục đời đời kiếp kiếp! Trước kia, ngay cả những người không phải là Công Giáo cũng có một khái niệm về hỏa ngục (hay địa ngục): ấy là nơi mà linh hồn (vong hồn) bị hành hạ đủ điều, bằng mọi hình thức tra tấn đau đớn nhất mà con người có thể nghĩ ra. Thế thì ngày nay phải quan niệm thế nào về hỏa ngục? Chúng ta đều cảm nhận được rằng hành động chúng ta, hoặc vì yêu thương hoặc vì căm ghét, đều có một tiếp nối và có ‘một nơi nào đó để bù trừ’. Linh cảm về sự bù trừ sau khi chết - nghĩa là một phần thưởng cho lành hay người nghèo khổ, một hình phạt cho người ác hay người giàu có ích kỷ - không phải là một sáng kiến của Kitô giáo, mà là một tiếng nói từ thâm sâu của bản chất con người. Chúa Giêsu đã nói thế nào về hỏa ngục? Nhiều lần, Ngài đã cảnh báo về một nơi ‘lửa không bao giờ tắt’, dành cho những người không chịu tin và quay về với tình yêu. Trong ngọn lửa đó, chính linh hồn bị thiêu đốt chứ không chỉ là thân xác. Chúa bảo rằng, vào ngày phán xét chung, Ngài sẽ ‘sai các thiên thần tập trung mọi người gian ác ... để quăng vào lò lửa...’. (Mt 13,41). ‘Quân chúc dữ, hãy đi khuất mắt ta mà vào lửa đời đời’(Mt 25, 41). Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II từng nói: “Không nên bảo rằng án phạt là do ý định của Thiên Chúa, vì do tình yêu nhân hậu của Người, Người chỉ muốn rằng mọi sinh linh mà Người tạo dựng đều được cứu rỗi. Thực ra, chính con người đóng cửa lại đối với tình yêu của Người.” (Tiếp kiến 28-7-1999). Chết đi mà không nhận ra tội lỗi mình và không đón nhận tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa, ấy là sống cách xa Người, đến mãi mãi, do sự chọn lựa của cá nhân mình. Chính việc tự mình loại trừ mình một cách vĩnh viễn khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa và các đấng lành thánh, ấy là điều mà ta gọi là Hỏa Ngục (Giáo Lý GH Công Giáo, 222 IV) Như vậy, hỏa ngục đời đời mà Giáo Hội dạy theo gương Chúa Giêsu là một thực tại rất hệ trọng. Và không ai có thể nói rằng hỏa ngục không hiện hữu, mà không có nguy cơ nói ngược lại với điều chính Chúa Giêsu đã khẳng định. Nhưng đồng thời cũng phải hiểu rằng Thiên Chúa đến ‘vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta’ bằng cách tha thứ và biến chúng ta thành những con người mới: “Tôi không đến cho những người công chính, mà đến để kêu gọi người tội lỗi ăn năn”. Chúa Giêsu, hình ảnh của Chúa Cha, là vị chăn chiên lành mang con chiên lạc trên vai để đem về sum họp với đàn chiên. Trong giây phút hấp hối trên Thập Tự, Chúa Giêsu nói với người trộm lành: “Quả thật, tôi nói với anh, hôm nay anh sẽ ở cùng tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,42) Cậy vào lòng nhân từ đó, và tin vào Hội Thánh thông công, chúng ta cầu nguyện cho những người quá cố, để cho họ mở lòng đón nhận Tình Yêu vô biên của Chúa, và hưởng phúc đời đời. Maranatha trong số này nhấn mạnh về niềm tin ấy, đồng thời nối dài những suy tư về năm Thánh Thể và về linh đạo của người giáo dân. Như thế, trong khi hướng về các linh hồn, chúng ta không tập trung cái nhìn vào họ, mà hướng về Chúa Kitô để khẩn cầu: Maranatha, Lạy Chúa, xin ngự đến. MARANATHA.
NGẪM SUY GM. Bùi Tuần Trong Phụng vụ, tháng 11 quen được gọi là tháng cầu cho những người đã qua đời. Khi nghĩ về những người đã qua đời, tự nhiên tôi nghĩ tới chính tôi. Tới lúc nào đó, tôi cũng sẽ từ giã đời này, để sang đời sau. Cảnh đời sau rất khác cảnh đời này. Thiết tưởng chúng ta cần biết sự khác biệt đó. Sự hiểu biết này, tuy vắn gọn, cũng sẽ là chân lý quan trọng. Quan trọng cho những người ta chăm sóc, nhưng nhất là quan trọng cho chính bản thân ta. Chúng ta hãy tìm hiểu chân lý này trong Phúc Âm. Phúc Âm có nhiều chỗ nhắc tới chân lý này. Ở đây, tôi chỉ xin đưa ra Phúc Âm thánh Mátthêu và thánh Luca. Trong hai Phúc Âm này, tôi chỉ chọn mấy dụ ngôn, Chúa Giêsu đề cập đến cảnh đời này và cảnh đời sau. 1/ Cảnh đời này không phân biệt rõ cái tốt cái xấu. a) Dụ ngôn thứ nhất là dụ ngôn về khu đất gieo trồng (x. Mt 13,18-23). Khu đất này có chỗ cỏ mọc kín, có chỗ đầy sỏi đá, có chỗ um tùm gai góc, có chỗ bằng phẳng, mịn màng. Người gieo giống gieo vãi hạt giống trên khắp khu đất ấy. Nhưng, khi phát triển, các chỗ khác nhau của khu đất phát triển khác nhau. Không đồng đều. Rất lộn xộn. Cảnh đó không đẹp. Nhưng người chủ đất cứ để vậy. Sau mới tính. b) Dụ ngôn thứ hai là dụ ngôn ruộng lúa có cỏ lùng (x. Mt 13,24-30). Chủ nhà gieo toàn lúa tốt trong ruộng. Nhưng ban đêm, kẻ xấu lẻn vào rắc các loại cỏ xấu. Lúa cũng mọc lên. Các loại cỏ xấu cũng mọc lên. Hơn nữa, các loại cỏ này cũng được thừa hưởng phân bón nước non dành cho lúa. Thế là lúa tốt sống chung với cỏ xấu. Cả hai cùng tươi tốt. Cảnh đó không hay. Nhưng người chủ cứ để vậy. Sau mới tính. c) Dụ ngôn thứ ba là dụ ngôn chiếc lưới (x. Mt 13,47-50). Chủ sai người đi chài cá. Chài bằng lưới. Lưới này bắt được nhiều thứ cá. Có cá tốt. Có cá không tốt. Cá tốt sống chung với cá xấu, thậm chí cá tốt cũng sống chung với rắn, ốc, đỉa. Cảnh đó lộn xộn. Nhưng chủ bảo người chài cứ để vậy mà chài. Sau mới tính. d) Dụ ngôn thứ bốn là dụ ngôn ông phú hộ và người hành khất Ladarô (x. Lc 16,19-31). Ông phú hộ sống quá sung sướng. Người hành khất sống quá nghèo khổ. Hai người không xa nhau về địa lý, nhưng rất xa nhau về bậc thang xã hội. Có thể nhiều người tưởng ông phú hộ được Chúa thương đặc biệt. Biết đâu chính ông cũng nghĩ thế. Cảnh phân hoá đó thực ra rất khó coi. Nhưng rồi cũng quen. Chẳng mấy ai đặt vấn đề. Chúa cứ để vậy. Sau mới tính. Qua 4 dụ ngôn trên đây, chúng ta thấy cảnh đời này là rất đa dạng. Dạng tốt có. Dạng xấu có. Chúng xen lẫn vào nhau. Nhiều khi khó phân biệt. Thậm chí, nhiều cái tốt bị đánh giá là xấu. Và ngược lại. Nhưng sự xáo trộn sẽ không kéo dài mãi mãi. Đời sau sẽ phân biệt rõ ràng công minh. 2/ Cảnh đời sau sẽ có sự phân biệt rõ ràng công minh. Trong dụ ngôn khu đất gieo trồng, đời sau Chúa sẽ phân biệt rõ cho mọi người thấy: Chỗ nào là đất tốt, chỗ nào là đất xấu. Chúa còn phân biệt đến từng chi tiết. Có chỗ một hạt sinh thêm được 100, có chỗ một hạt sinh thêm được 60, có chỗ một hạt sinh thêm được 30 (x. Mt 13,23). Trong dụ ngôn cỏ lùng, đời sau Chúa phân biệt với giọng tuyên án: Cỏ lùng bị gom lại, bó thành bó và đem đốt đi. Còn lúa thì thu lại, đem vào lẫm (x. Mt 13,30). Trong dụ ngôn chiếc lưới, đời sau Chúa phân biệt rất kỹ: Cá tốt thì giữ lại, cá xấu thì bỏ đi (x. Mt 13,48-50). Trong dụ ngôn người phú hộ và người hành khất, đời sau Chúa cho thấy một sự phân biệt rất bất ngờ: Người phú hộ phải ném xuống biển lửa. Còn người hành khất lại được hạnh phúc bên các tổ phụ dân Chúa trên cõi trường sinh (x. Lc 16,23). * * * * * Một cái nhìn sơ qua về những gì Chúa dạy trong 4 dụ ngôn trên cho tôi thấy: 1. Tôi phải khiêm nhường chấp nhận thực tế của cảnh đời này, mà Chúa muốn để vậy. Cảnh đời này ở trong Giáo Hội ta, trong địa phương ta, trong gia đình ta, trong chính bản thân ta. Thực tế đó luôn pha trộn ánh sáng và bóng tối, cái tốt và cái xấu. Khiêm nhường chấp nhận thực tế đó không có nghĩa là cứ để vậy, tới đâu thì tới, nhưng là luôn kiên trì phấn đấu làm tròn bổn phận Chúa trao giữa những thăng trầm và xáo trộn. Đời này là nơi thử thách, là chiến trường giữa thiện và ác. 2. Tôi nên khiêm nhường đặt niềm tin vào sự phán đoán sau cùng của Chúa về thực tế của cảnh đời hôm nay. Tốt hay xấu thực sự thì chỉ Chúa có quyền phân biệt rõ. Biết đâu có những người, mà thế gian coi thường như người hành khất Ladarô, bà goá nghèo (x. Mc 12,41-44), lại được Chúa khen thưởng, vì họ tốt. Còn người mà thế gian trọng vọng lại có thể bị Chúa loại bỏ, vì họ ham hưởng thụ, thiếu tình liên đới. 3. Tôi phải khiêm nhường biết trước sự phân định của Chúa ở đời sau là dứt khoát. Không có sơ thẩm, phúc thẩm. Không có thay đổi. Vì thế, tôi phải hết sức tỉnh thức và khiêm nhường, sống thực hành Lời Chúa ở đời này. Chứ lúc ra trước toà Chúa, tôi muốn chữa mình, sẽ quá muộn. 4. Tôi phải khiêm nhường biết trước là sự phân định của Chúa ở đời sau sẽ có nhiều bất ngờ. Có người bé nhỏ âm thầm chỉ là chút muối, sẽ được Chúa thưởng, vì góp phần đổi mới lòng người. Có người lớn lao như cây vả um tùm, nhưng sẽ bị loại, vì không sinh trái (x. Mt 21,18-22), hoặc nhận được nhiều nén bạc nhưng không sinh lời (x. Mt 25,14-30). Xin Chúa nhân lành thương dẫn đưa chúng ta đến những sự thực cứu rỗi, và gắn bó với Đấng Cứu độ. Đấng Cứu độ là chính Chúa Giêsu. “Người là đường, là sự thực và là sự sống” (Ga 14,6). Trích Sống Đức Tin TÌM HIỂU NIỀM TIN VÀO SỰ SỐNG LẠI CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU
Giao Duyên 1. Mọi Kitô hữu đều tin vào sự sống lại Nói chung, hầu hết các tôn giáo trên thế giới đều tin rằng con người còn có một đời sống khác ngoài cuộc sống ở đời này. Nói cách khác, sự hiện hữu của mỗi con người thì rất lâu dài, còn đời sống tại thế này chỉ là một giai đoạn hết sức ngắn ngủi của sự hiện hữu ấy. Và cách thức con người sống trong đời sống tại thế này là một yếu tố quan trọng quyết định tình trạng của đời sống hậu thế. Kitô giáo cũng chủ trương như thế. Nhưng niềm tin vào cuộc sống mai hậu của Kitô hữu còn có những nét đặc thù riêng. Người Kitô hữu tin rằng không chỉ có linh hồn tham dự vào cuộc sống mai hậu, mà cả thân xác cũng sẽ sống lại sau khi hư nát một thời gian, để tham dự vào sự sống thần linh và vĩnh cửu đời sau. Thân xác ấy sẽ được biến đổi để phù hợp với cách hiện hữu mới ấy. Niềm tin vào sự sống lại được xây dựng trên nền tảng sự sống lại của Đức Giêsu, mà các tông đồ là những người đã thấy tận mắt, đã sẵn sàng chịu đau khổ và chết để làm chứng. «Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng» (Cv 2,32; x. Cv 10,41). Đây là một trong những niềm tin căn bản nhất của người Kitô hữu, đến nỗi có thể nói ai không tin vào sự sống lại thì không phải là người Kitô hữu. 2. Đời sống mai hậu là một thực tại siêu nghiệm Trong bài Tin Mừng Đức Giêsu nói về sự sống lại (x. Lc 20,27-38), nhóm Xađốc đã đưa ra một vấn nạn về cuộc sống mai hậu dựa trên ý nghĩ cho rằng cuộc sống ấy cũng có vợ có chồng, và vợ chồng cũng sống chung với nhau như ở trần gian. Mà theo quan niệm đầy tính gia trưởng của người Do Thái, thì không thể chấp nhận được chuyện một bà cùng lúc sống với bảy người chồng. Nếu như thế thì vấn nạn họ đặt ra thật khó giải quyết: «trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ?» Nhưng câu trả lời của Đức Giêsu cho ta biết trật tự, cách tổ chức, sinh hoạt, cách thế hiện hữu trong cuộc sống mai hậu không giống như cuộc sống đời này. Không thể lấy kinh nghiệm hiện hữu của cuộc sống này để áp dụng vào việc suy đoán cách hiện hữu của cuộc sống mai hậu. Đối với cuộc sống mai hậu, con người không hề có một kinh nghiệm nào và cũng không có một từ ngữ nào tương xứng để diễn tả. Thánh Phaolô có nói về sự siêu nghiệm ấy như sau: «Điều mà Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người là điều mà mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ được» (1 Cr 2, 9) Tương tự như một anh chàng bị mù từ bẩm sinh, chưa hề có một kinh nghiệm gì về màu sắc. Đối với anh, không thể có cách giải thích nào giúp anh hiểu được màu sắc như người sáng mắt cả. Nếu anh hỏi màu sắc có phải tương tự như một cái gì đấy mà anh đã từng kinh nghiệm không, thì ta phải trả lời rằng không. Vì kinh nghiệm về màu sắc là một kinh nghiệm độc đáo của thị giác, mà những giác quan khác dù có tinh nhuệ đến đâu cũng không thể nào có được. Dùng những kinh nghiệm của các giác quan khác để diễn tả về màu sắc thì cũng giống như việc lấy giấy để làm nhà, hay lấy thước bằng gỗ để đo độ lớn sự khôn ngoan của một người vậy. 3. Những gì xảy ra trong cuộc đời này có thể có liên hệ và ảnh hưởng đến đời sống mai hậu Cuộc đời này tuy ngắn ngủi, nhưng lại rất quan trọng: nó ảnh hưởng một cách quyết định đến cách thế hiện hữu của ta trong cuộc sống mai hậu. Một người sống đầy tình người, đầy yêu thương ở đời này chắc chắn tình trạng đời sau sẽ khác hẳn với người đời này sống ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến mình. Đời này là nhân, đời sau là quả: nhân nào sinh quả nấy, cây nào sinh trái nấy, «cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt» (Mt 7,1718). Người làm tốt sẽ được thưởng, người làm điều xấu sẽ bị phạt như thư Rôma và sách Khải huyền viết: «Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm» (Rm 2,6; Kh 2,23). Cuộc sống ở đời này có nhiều điều xảy đến hết sức phi lý đến nỗi không thể hiểu hay cắt nghĩa được. Nhưng nếu có đời sống mai hậu, thì ta có thể an tâm chấp nhận sự «không thể hiểu hay cắt nghĩa được» ấy. Cuộc sống này so với cuộc sống mai hậu cũng phần nào tương tự như cuộc sống của ta trong bụng mẹ so với cuộc sống của ta ở ngoài đời. Khi ở trong bụng mẹ, nếu ta biết suy nghĩ và lý sự như hiện nay, chắc chắn ta sẽ nhận ra nhiều điều thật phi lý hoặc không thể cắt nghĩa được. Lúc đó ta sẽ không thể nào hiểu được Trời sinh ra đôi tai, cặp mắt, đôi tay, đôi chân là để làm gì, vì chúng hoàn toàn vô dụng trong cuộc sống bào thai. Chỉ khi ra khỏi bào thai, sống cuộc đời trần thế, ta mới thấy được sự hết sức hợp lý và dễ hiểu của những điều ta cho là hết sức phi lý kia. Cũng vậy, nhiều điều mà ta không thể hiểu nổi hiện nay – những đau khổ, những bất công, những phi lý trong cuộc đời hiện tại – sẽ trở thành hết sức hợp lý và dễ hiểu khi chúng ta bước vào đời sống mai hậu. 4. Đời sống mai hậu sẽ ra sao? Đời sống mai hậu hoàn toàn vượt khỏi khả năng tưởng tượng và suy đoán của con người. Dù biết như thế, nhưng vì Thiên Chúa ban cho con người khả năng tưởng tượng và suy đoán, nên tôi vẫn thử sử dụng khả năng ấy một chút để mình có một hướng suy nghĩ hay hành động cho mình trong cuộc đời này. Những suy nghĩ sau đây là của riêng tôi, hoàn toàn mang tính cá nhân, nhưng tôi cảm thấy nó có ích ít là cho riêng tôi. Tôi tưởng tượng rằng sau khi chết, con người sẽ có một đời sống vĩnh cửu khác hẳn với đời sống hiện tại. Con người sẽ làm gì trong cái vĩnh cửu ấy? Chắc hẳn con người sẽ không ngồi một chỗ để nhìn ngắm Thiên Chúa, để ca tụng ngợi khen Ngài mãi mãi. Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa luôn luôn làm việc: «Cho đến nay, Cha tôi vẫn luôn luôn làm việc, thì tôi cũng làm việc» (Ga 5,17), nên chắc chắn là dù có ở thiên đàng thì ta cũng vẫn làm việc. Thiên Chúa sẽ mời gọi chúng ta tiếp tục cộng tác vào công việc sáng tạo mới của Ngài, với những công trình hoàn toàn mới. Từ xưa đến nay, Ngài vẫn luôn luôn mời gọi mọi người cộng tác vào công việc của Ngài. Có điều khác là sự làm việc ở trên thiên đàng không phát sinh mệt nhọc và đau khổ như ở dưới thế, mà là nguồn phát sinh cảm hứng và hạnh phúc. Và chắc chắn không phải mọi người đều cùng làm một việc như nhau, nếu thế thì thiên đàng chán ngắt, mà trái lại công việc sẽ rất đa dạng. Nhưng làm sao ta có thể làm được những công việc ấy nếu chúng ta không được huấn luyện trước hay không có một kinh nghiệm gì? Tôi có cảm tưởng rằng cuộc đời này chính là một trường đào tạo «tay nghề» cho những công việc của đời sống mai hậu. Chính vì thế, ở đời này, Thiên Chúa đã để cho biết bao việc xảy đến để chúng ta tập đối phó, để luyện những đức tính cần thiết, để rút kinh nghiệm, để rèn đúc sự khôn ngoan, v.v… Rất có thể Thiên Chúa sẽ tạo lập những thế giới mới và cho chúng ta cai quản, như Đức Giêsu đã từng hé mở điều ấy qua dụ ngôn mười nén bạc (Lc 19,11-27). Nhà vua nói với người nhận một nén và đã làm lợi thành mười nén: «Khá lắm, hỡi đầy tớ tài giỏi ! Vì anh đã trung thành trong việc rất nhỏ, thì hãy cầm quyền cai trị mười thành». Ngài nói với người làm lợi được năm nén: «Anh cũng vậy, anh hãy cai trị năm thành». Còn với kẻ chôn cất nén bạc và không làm lợi gì, nhà vua nói: «Hãy lấy lại nén bạc nó giữ mà đưa cho người đã có mười nén». So với người được cai trị năm thành, chắc chắn người được cai trị mười thành trước đó phải chịu khó nhọc vất vả hơn, nhờ đó học hỏi được nhiều kinh nghiệm hơn, và vì thế xứng đáng cai trị nhiều thành hơn. Vì tưởng tượng và suy nghĩ như thế, nên tôi tin rằng tất cả mọi phi lý bất công xảy đến cho tôi trong cuộc đời này đều có ý nghĩa của nó. Tất cả đều do Thiên Chúa đầy khôn ngoan gửi đến cho tôi để tôi tập luyện bản lĩnh của mình, hầu trở nên một người cộng tác đắc lực với Ngài trong công trình sáng tạo mới của Ngài mai sau. Viễn cảnh tưởng tượng ấy cho dẫu không đúng, thì nó cũng giúp tôi rất nhiều trong việc làm cho cuộc đời tôi có ý nghĩa và có đích hướng tới, đồng thời giúp tôi có hướng giải thích nhiều chuyện xảy ra trong cuộc đời mà trí khôn bình thường cho là phi lý và không thể chấp nhận được.
VIỆC ĐỘ VONG Nguyễn Chính Kết Người Công giáo coi tháng 11 dương lịch hàng năm là tháng cầu nguyện cho những người quá cố, còn gọi là tháng các linh hồn mà cao điểm là ngày 2-11, là ngày lễ cầu hồn. Nhưng người Phật tử và người theo «đạo tổ tiên» lại coi tháng 7 âm lịch hàng năm mới là tháng để tưởng nhớ, cúng kiến và chú nguyện cho những người đã khuất, mà cao điểm là lễ Vu Lan ngày rằm tháng 7, hay ngày Xá tội vong nhân. Phật tử cũng như Kitô hữu đều tin rằng sau khi chết còn có một đời sống khác, và những người còn sống ở trần gian có thể giúp đỡ người đã chết - hiện đang sống trong một đời sống khác - thoát khỏi cảnh khổ của họ, hay giảm bớt đau khổ cho họ. Tuy nhiên, quan niệm về số phận của các vong nhân và về việc độ vong (1) của hai tôn giáo này có nhiều điểm khác biệt. Trong chiều hướng hội nhập văn hóa và tìm hiểu các tôn giáo, chúng ta thử so sánh hai quan niệm ấy đồng thời rút ra những điểm đồng dị. Quan niệm của Kitô giáo Số phận đời sau Người Kitô hữu tin rằng con người chỉ có hai đời sống: đời này và đời sau. Đời này ngắn ngủi, hữu hạn, còn đời sau vĩnh cửu, vô hạn. Nhưng số phận của đời sau - hạnh phúc hay đau khổ - lại hoàn toàn tùy thuộc vào cách sống của con người trong cuộc đời ngắn ngủi này, nhất là vào tình trạng tâm hồn trong giây phút cuối cùng của cuộc đời. Người nào khi chết vẫn có ân nghĩa với Thiên Chúa sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên Ngài. Người nào chết trong trong tình trạng thù nghịch với Ngài, tức mắc tội trọng, thì bị phạt đời đời xa cách Ngài là nguồn hạnh phúc của mình. Sự thanh luyện Tuy nhiên, để xứng đáng thấy Thiên Chúa, xứng đáng kết hiệp với Ngài, Đấng tuyệt đối hoàn hảo, và để hưởng hạnh phúc đời đời, con người cũng phải trở nên hoàn hảo, trong trắng như Chúa Giêsu đã nói: «Các con hãy nên hoàn hảo như Cha các con trên trời là Đấng hoàn hảo» (Mt 5, 48), «Nếu sự công chính của các con không vượt hơn những người Pharisiêu, các con không được vào Nước Trời» (Mt 5, 20), «Phúc cho những tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ thấy Thiên Chúa» (Mt 5, 8). Hạnh phúc vĩnh cửu đòi hỏi gắt gao như thế thì dù những người thánh thiện nhất cũng không đạt được vì «nhân vô thập toàn». Do đó, để xứng đáng vào Nước Trời, để đạt được tình trạng hoàn hảo trên, con người cần phải được thanh luyện một thời gian trước khi vào. Sự thanh luyện đó đã được Giáo Hội định tín trong Công Đồng chung thứ 14, năm 1274 tại Lyon: «Linh hồn kẻ chết chưa đền tội hoàn toàn sẽ được thanh luyện sau khi chết với những hình phạt được gọi là “Thanh Luyện” (purgatoriis seu catharteriis)» (2). Tín điều đó đã được lặp lại trong nhiều Công Đồng sau đó (3). Mục đích của việc thanh luyện là làm cho linh hồn trở nên hoàn hảo, hoàn toàn vị tha, đầy tình thương, không còn một chút tâm địa ích kỷ, độc ác, tham lam nào nữa. Thiên Đàng đòi hỏi một sự hoàn hảo như thế thật là hợp lý, vì đó là một «nơi» (4) hoàn toàn hạnh phúc, hoàn toàn thánh thiện, là «nơi» chúng ta sẽ trở về để hưởng hạnh phúc muôn đời. Không cần phải xét về phía Thiên Chúa, mà ngay chính chúng ta cũng đòi hỏi điều đó. Thật vậy, thử hỏi: khi trở về nơi lý tưởng đó để hưởng hạnh phúc, ta có thể hoàn toàn hạnh phúc khi phải sống chung với thân nhân, bạn bè với những tính nết xấu như họ đang có bây giờ không? Nếu họ còn ích kỷ, còn ác ý, còn lãnh đạm, còn hẹp hòi, còn hay nghĩ xấu cho người khác, dù chỉ một chút xíu, thì họ có thể hoàn toàn hạnh phúc và làm cho ta và những người chung quanh họ cũng hoàn toàn hạnh phúc cho đến đời đời, không hề gây ra một chút đau khổ nào không? Bản thân ta cũng vậy, ta sẽ còn đau khổ và còn làm người khác đau khổ nếu ta còn một chút xấu xa, ích kỷ, độc ác… Chưa hoàn hảo mà đã sống ở Thiên Đàng thì ta sẽ làm ô nhiễm cái hạnh phúc tinh tuyền - không vương chút đau khổ - của Thiên Đàng rồi, và biến Thiên Đàng trở thành một cái gì không còn là Thiên Đàng nữa. Do đó, Thiên Đàng đòi hỏi những người bước vào phải hoàn toàn trong sạch, tốt lành, nếu còn chút gì xấu xa thì phải thanh luyện cho hết. Sự thanh luyện đó được gọi là «luyện ngục». Chữ ngục khiến người ta liên tưởng tới một nơi chốn, một cảnh tù đày. Thực ra không nên hiểu cụ thể như thế. Nên hiểu đó là một tình trạng của tâm hồn được thanh luyện, được thánh hóa bằng những đau khổ nội tại cũng như ngoại tại: · Đau khổ nội tại là đau khổ vì khát khao được ở gần Thiên Chúa, kết hợp với Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc của mình mà không được. Sau khi chết, linh hồn hết sức sáng suốt để nhận ra Thiên Chúa là nhu cầu khẩn thiết nhất, là nguồn hạnh phúc đích thực của mình, nên lòng khao khát Thiên Chúa lúc đó hết sức lớn lao. Tương tự như người rất đói, rất thèm ăn, và có ngay trước mặt một mâm cơm thịnh soạn, đầy hấp dẫn với đủ thứ cao lương mỹ vị, mà lại bị trói chân trói tay không ăn được. Hay như hai tình nhân yêu nhau tha thiết mà phải sống xa nhau. · Còn đau khổ ngoại tại cũng được thần học bàn tới, nhưng không được định tín. Giáo Hội Hy Lạp phủ nhận loại đau khổ này. Khổ hình này được thần học truyền thống gọi là «lửa». Một vài giáo hoàng diễn tả luyện ngục có lửa (5). Sắc lệnh của Công Đồng chung Firenze (1438–1445) không còn dùng từ ngữ «lửa» để diễn tả hình phạt nữa, vì các nghị phụ Hy Lạp không chấp nhận. Các nhà thần học hiện nay cũng không thích lý thuyết nói về lửa đó nữa. Trong tình trạng thanh luyện, người ta thường chỉ nghĩ tới đau khổ của các linh hồn đang trông chờ ngày gặp mặt Chúa mà không lưu tâm tới tình trạng tích cực của họ. Chắc chắn các linh hồn ấy có một hạnh phúc rất lớn, rất căn bản là biết chắc chắn mình được cứu rỗi, được Thiên Chúa yêu thương (6), đồng thời họ mến Chúa hết sức vì không còn gì trở ngại lòng yêu mến ấy nữa, và họ cũng ý thức được sự cần thiết của việc thanh luyện này, nên họ sẵn sàng và ước ao chịu mọi khổ hình để sớm gặp Chúa. Lúc đó, khổ hình đối với họ không còn là «khổ» nữa. Cũng như một thí sinh sẵn sàng chấp nhận mọi cực nhọc, mệt mỏi của việc học để chuẩn bị một kỳ thi với hy vọng sẽ có một tương lai huy hoàng. Việc thanh luyện vì thế trở thành tự nguyện. Họ sung sướng vì được thanh luyện, được khổ vì Chúa, vì tình yêu. Việc độ vong Thời gian thanh luyện lâu hay mau chắc chắn tùy thuộc vào tình trạng hay mức độ hoàn hảo của mỗi linh hồn, và vào tình thương can thiệp của Chúa. Các tín hữu còn sống có thể giúp các linh hồn được thanh luyện theo những điều kiện nhất định, đó là một tín điều. Công Đồng Trentê định tín lễ Misa có thể được dâng lên để cầu nguyện cho người sống và kẻ chết, cho họ được tha tội, tha hình phạt, cho việc đền tội và cho những nhu cầu khác (7), đặc biệt cho những người chết trong Đức Kitô đang được tinh luyện (8). Ngoài lễ Misa, các tín hữu còn có những hình thức độ vong khác (9) như cầu nguyện, bố thí và làm các việc đạo đức (10). Người còn sống có thể đền tội thay cho họ bằng những hy sinh hãm mình, chấp nhận những đau khổ Thiên Chúa gửi đến một cách vui vẻ, vì một chi thể có thể đền tội thay cho một chi thể khác trong cùng một thân thể, vả lại, tội không chỉ có tính cách cá nhân mà còn có tính xã hội: sự liên đới chịu trách nhiệm. Đương nhiên, tín hữu còn sống càng trong sạch thánh thiện bao nhiêu thì khả năng độ vong càng hữu hiệu bấy nhiêu: một chi thể «chết» không thể giúp cho một chi thể khác «sống» được. Mọi việc độ vong đều phải qua tay Thiên Chúa, chứ không trực tiếp ảnh hưởng tới các linh hồn. Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn luôn luôn tự do. Sự độ vong của chúng ta không phải là một pháp thuật có sức ép buộc Thiên Chúa phải tha cho các linh hồn theo ý ta, hay ảnh hưởng tới Thiên Chúa một cách máy móc, tự động theo những định luật. Việc độ vong trong Giáo Hội bắt nguồn từ việc làm của Giuđa Macabêô theo như đoạn Kinh Thánh 2 Mcb 12, 40-60. Thời đó, sau một trận đánh, có một số binh sĩ Do Thái tử trận. Khi lục soát các tử thi, người ta tìm ra dưới áo họ ẩn dấu các đồ vật để cúng tế các thần ngoại lai mà luật cấm. Người Do Thái tin rằng tuy họ chết đi khi mang tội đó, nhưng họ vẫn được cứu rỗi. Họ cầu nguyện để xin Chúa tha tội cho những người ấy. Rồi họ quyên góp 2. 000 quan tiền nhờ Giuđa gửi lên Giêrusalem để tế lễ chuộc tội. Bản văn khen ông: «Đó là việc làm rất tốt lành và có giá trị cao quí do tin vào việc sống lại, vì nếu không tin vào sự sống lại thì cầu nguyện cho người chết là uổng công vô ích. Nếu ông nghĩ tới phần thưởng dành cho họ thì quả là tư tưởng lành thánh và đạo đức. Vì thế, ông đã dâng lễ xá tội để người quá cố được tha thứ tội lỗi». (Còn tiếp)
Chú thích: (1) Độ vong: cứu những linh hồn đã quá cố đang đau khổ vì hình phạt. (2) Denzinger-Schonmetzer, Enchiridion Symbolorum (DS) 856/464. (3) Xem DS 1580 / 840; 1620 / 983; 1867 / 998, v.v... (4) Tạm gọi như thế. Thật ra, Thiên đàng, luyện ngục hay hỏa ngục không phải là những nơi hiểu theo nghĩa không gian vật lý cho bằng là những tình trạng tâm linh hoặc tâm lý. Chẳng hạn Thiên Đàng là tình trạng tâm linh hoàn toàn hạnh phúc, không còn một chút đau khổ, của những tâm hồn hoàn hảo, thánh thiện, còn Hỏa Ngục là tình trạng tâm linh hết sức đau khổ của những tâm hồn độc ác, xấu xa, ích kỷ... (5) Đức Innôcentiô IV (1243-1254)và Đức Clêmentê VI (1342-1352). Lửa ở đây là lửa mầu nhiệm, vừa là vật chất vừa là tinh thần, vì có thể vừa đốt được thân xác mà vừa đốt được cả linh hồn. (6) Xem DS 1488 / 778. (7) Xem DS 1753 / 950. (8) Xem DS 1743 / 940. (9) Xem DS 1820 / 693. (10) Xem DS 856 / 464.
NHỮNG NHẬN THỨC MỚI VỀ THÁNH LỄ (tiếp theo Maranatha_23) Hoàng Quý viết theo Tiến Sĩ Scott Hahn Khói hương lan tỏa! Và những ngày kế tiếp ông vẫn đến tham dự Thánh Lễ. Mỗi lần đến tham dự Thánh Lễ như vậy là một lần ông khám phá ra thêm những chân lý Kinh Thánh đang khai diễn trước mắt ông. Chưa bao giờ sách Khải Huyền trở thành khai sáng trong ông bằng lúc này, trong ngôi nguyện đường tối tăm ở đây, ông nhìn thấy quang cảnh thờ phượng rực rỡ của triều thần thánh trên thiên cung, đã được sách Khải Huyền mô tả. Giờ phút này ông nhìn thấy phẩm phục của các tư tế, bàn thờ, rồi cả cộng đoàn đồng ca "Thánh, Thánh, Thánh." Ông còn nhìn thấy các làn hương khói lan tỏa, ông còn nghe thấy những lời khấn nguyện của các thiên thần và các thánh. Còn chính ông, ông cũng bị lôi cuốn vào dòng thờ phượng cao quang này lúc nào không hay khi ông hát lên những lời ca ngợi Alleluia. Cũng chính giờ phút này ông tự hỏi không biết đây là những diễn tiến phụng vụ trong sách Khải Huyền hay trên bàn thờ kia! Và ông tự trả lời: cả hai cũng là một. Từ đây ông càng hăng say đi vào truy tầm Kitô giáo vào thời kỳ tiên khởi và ông khám phá ra các Giám Mục, các Giáo Phụ cũng đã khám phá ra những gì ông đang cảm nghiệm được vào mỗi buổi sáng ông đi tham dự Thánh Lễ này. Các ngài đã nhận ra sách Khải Huyền là chiếc chìa khóa mở vào phụng vụ và phụng vụ cũng là chìa khóa mở vào sách Khải Huyền. Những gì trước đây ông còn phân vân, lưỡng lự khi nghiên cứu sách Khải Huyền, giờ đây đang bừng sáng trong ông để trở thành chân lý nền tảng cho đức tin của ông: chân lý về giao ước là mối giây thánh thiêng trong gia đình Chúa. (Sau này chúng tôi sẽ trình bầy đề tài thâm thúy này qua cuốn sách giá trị của ông, cuốn 'A Father who keeps His promises'). Những gì trước đây ông quan niệm về Thánh Lễ là một việc phạm thánh nặng nề, thì giờ đây đang trở thành một biến cố đóng ấn tín cho lời giao ước của Thiên Chúa: "Đây là Chén Máu Ta, Máu của lời giao ước mới và vĩnh cửa." Quả thật ông đang choáng váng trước những khám phá mới mẻ và kỳ diệu này. Biết bao năm trời ông cố công truy tầm sách Khải Huyền để tìm ra nơi đây những tín hiệu về ngày tận thế, về việc thờ phượng xa xôi trên thiên đàng, về những gì mà các Kitô hữu chẳng thể cảm nghiệm được trên trần thế này. Giờ đây, chỉ sau hai tuần ông đi tham dự Thánh Lễ hàng ngày, ông đã cảm nghiệm được mình đang đứng trước nghi lễ phụng vụ thiên cung và ông hô to: "Này các bạn ơi, để tôi chỉ cho các bạn thấy các bạn đang ở đâu trong sách Khải Huyền! Các bạn hãy mở chương bốn, câu tám. Các bạn đang ở trên thiên cung ngay từ giờ phút này đó!" Sững sờ Ngay trên thiên cung vào giờ phút này sao? Phải, các Giáo Phụ cách đây cả hơn ngàn năm đã chỉ cho ông thấy đây không phải là khám phá mới mẻ của ông đâu. Thực ra ông đáng được hưởng việc tái khám phá này giữa sách Khải Huyền và Thánh Lễ. Ông đâu ngờ rằng chính Công Đồng Vaticanô II đã làm ông sững sờ qua Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh: "Trong phụng vụ nơi trần thế này, chúng ta được nếm hương vị của phụng vụ trên thiên cung được cử hành nơi Thành Thánh Giêrusalem, nơi đây chúng ta như những khách hành hương đang trên đường tiến về. Nơi đây Đấng Cứu Thế đang ngồi bên hữu Thiên Chúa, Đấng Chủ Sự thánh điện và lều thánh đích thực. Cùng với tất cả các chiến binh của đoàn binh thiên quốc, chúng ta hát bài ca vinh quang chúc tụng Thiên Chúa; trong khi kính nhớ các thánh, chúng ta hy vọng được thông phần và kết nghĩa với các ngài; chúng ta hăm hở chờ đợi Đấng Cứu Thế là Chúa Giêsu Kitô, chính là cuộc sống của chúng ta, cho tới ngày Ngài sẽ tái ngự đến và chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Ngài." Đích thực thiên đàng là đây rồi, phải không? Không, đây mới là Thánh Lễ. Không, đây mới là sách Khải Huyền. Và tác giả bảo chúng ta: phải, tất cả đều là thiên đàng đấy! Ông nhận ra mình cần phải cố công tiến hành chậm chậm, thận trọng và kỹ lưỡng để tránh những nguy hiểm có thể đem đến hoài nghi cho những ai mới trở lại, vì ông là người quá mau chóng trở thành một tín hữu Công Giáo. Những khám phá của ông không phải là sản phẩm của một óc tưởng tượng quá độ. Đó chính là lời giáo huấn trang trọng của Công Đồng Vaticanô II. Đó cũng chính là câu kết luận đương nhiên của bất cứ học giả Tin Lành nào nghiêm chỉnh và lương thiện. Một trong các học giả này là ông Leonard Thompson, khi ông viết "Chỉ một thoáng đọc thôi, sách Khải Huyền cũng biểu lộ sự hiện diện của một thứ ngôn ngữ phụng vụ trong việc thờ phượng... Ngôn ngữ phụng tự này nắm giữ vai trò quan trọng trong việc nhất thống cuốn sách. Chỉ nguyên các hình ảnh phụng vụ đã đủ giúp cho cuốn sách lạ lẫm này trở thành đầy ý nghĩa. Những hình ảnh phụng tự trở thành trung tâm cho các sứ điệp mà cuốn sách chuyên chở, để muốn nói lên rằng còn điều gì đó trọng đại hơn là những viễn ảnh về 'những chuyện sẽ xẩy đến.'" Những lôi cuốn mới Sách Khải Huyền đề cập đến Đấng sẽ ngự đến. Đó là Chúa Giêsu Kitô và "Lần Ngự Đến Thứ Hai" của Ngài. Sau nhiều ngày giờ có mặt trong thánh đường tại Milwaukee vào năm 1985, tác giả đi đến nhận thức rằng Đấng đó cũng chính Chúa Giêsu Kitô mà các linh mục Công Giáo nâng lên cao trong tấm bánh thánh. Chính trong giây phút trọng đại này, thiên cung đụng chạm trái đất. "Lạy Chúa là Thiên Chúa của con. Thực sự Chúa đấy sao!" Vẫn còn tồn đọng trong tâm tưởng ông một số vấn đề như bản chất của hy lễ, về các nền tảng Kinh Thánh trong Thánh Lễ, về truyền thống tiếp nối trong Giáo Hội Công Giáo và còn về một số các tiểu tiết trong phụng vụ ... chưa được thông suốt. Những chuyện đó ông vẫn tiếp tục tìm hiểu cho đến ngày nay. Ông tìm hiểu không phải như một kẻ tọc mạch hay dò xét, nhưng như một người con đến với cha mình để hỏi han những chuyện khôn lường, để xin nắm trong bàn tay một ngôi sao nhấp nháy và xa thẳm. Và ông tin tưởng Người Cha chúng ta không nỡ từ chối chúng ta những kiến thức uyên áo liên quan đến Thánh Lễ. Chính trong biến cố này Ngài đóng dấu ấn giao ước với chúng ta và biến hóa chúng ta trở thành con cái Ngài. Cuốn sách của ông là bản tường trình về những gì ông đã tìm kiếm, đã khám phá được trong tài nguyên phong phú của truyền thống Công Giáo. Theo ông, gia tài của chúng ta hàm chứa toàn bộ Kinh Thánh, chứng tá không ngừng của Thánh Lễ, những giáo huấn liên tục của các thánh nhân, những truy tầm của các trường sở, các phương pháp cầu nguyện chiêm niệm và các chăm sóc mục vụ của các giáo hoàng và các giám mục. Nơi Thánh Lễ, tất cả chúng ta đều ở trên thiên cung ngay tại trần thế này. Sự hiển nhiên này tràn ngập chúng ta. Cảm nghiệm này là một mạc khải.
THƠ Kim Lệ (Viết thay Mattha MK)
Đêm nay, đêm cuối cùng vĩnh biệt Mãi mãi không còn trông thấy Mẹ, Mẹ ơi! Con ra đi bỏ lại Mẹ Cha rồi Và mãi mãi không còn bên Mẹ nữa . . .
Mẹ yêu dấu! con lìa xa tất cả Xa gia đình, xa con dại thương yêu Xa người chồng từng chia sẻ bao điều Xa em gái sớt chia khi đau yếu
Mẹ yêu hỡi! xin thứ tha mẹ nhé! Đừng buồn khi con vĩnh biệt trần gian Đừng tiếc thương khi cuộc sống phũ phàng Dìm con xuống sâu dần trong thinh lặng
Mẹ yêu quý! đêm nay đêm tiễn biệt Biết bao người rơi lệ khóc thương con Hoa và nến sáng trưng bên con đó Trầm hương bay nghi ngút tỏa diệu mờ
Con ra đi, lòng vấn vương phiền muộn Hiếu trả chưa xong, nghĩa vẫn chưa đền Các cháu nhỏ còn ngây thơ khờ dại Mẹ xót thương… Xin lo giúp tương lai
Đêm lặng lẽ, như hồn con lặng lẽ Trả lại đời bao ảo vọng phù du Con trở về bên cánh Chúa nhân từ Vĩnh biệt Mẹ! Hồn con bay, bay mãi...
LINH ĐẠO GIÁO DÂN DẤN THÂN RA KHƠI – LOAN BÁO TIN MỪNG THEO ÁNH MẮT TÂM LINHKhổng Nhuận DẤN THÂN RA KHƠI Dấn thân - Ra khơi khởi đi từ đâu? Trước đây tôi cứ tưởng ra khơi chỉ đơn giản là ra khỏi nhà mình và tôi phải dấn thân vào nơi thử thách, trở ngại như những sóng gió giữa biển khơi mịt mùng đầy bão tố và nguy hiểm. Tôi sẽ phải chiến đấu trong một trận chiến thiêng liêng đầy cam go và thử thách với Satan và bè lũ của chúng. Nhưng theo ánh mắt tâm linh ra khơi chính là ra khỏi Căn Nhà Tù Túng Cái Tôi Của Mình để bơi lội trong biển khơi bát ngát nghìn trùng của tình yêu Chúa. Nói cách khác, đó chính là những giây phút sống kết hiệp thân mật với Chúa. Đốt tàu cũng vậy, đó chính là đốt con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, kể cả những lừa dối rất đỗi thánh thiện như những trường hợp nêu trên, với mục đích để mặc con người mới - là con người đã đuợc sinh ra theo hình ảnh của Thiên Chúa. Như thế, ra khơi hay đốt tàu chính là từ bỏ cái tôi - sống kết hiệp với Chúa để nếm thử, để cảm nghiệm hương vị ngọt ngào, bình an và hoan lạc trong Thần Khí của Ngài. Chính niềm bình an và hoan lạc này là Tin mừng đang toả hương ngọt ngào trong tôi. LOAN BÁO TIN MỪNG Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng của chúng ta phải theo tuyên ngôn của Đức Giêsu. Tôi xin giới thiệu câu Kinh Thánh rất quen thuộc làm nền tảng: Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, (Lc 14:18) Trước hết tôi xin mạn phép nói cách khác cho dễ hiểu hơn Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ vốn ung dung thoải mái, cho người mù biết họ vốn sáng mắt, cho người bị áp bức biết họ vốn tự do. Đây không phải là tôi dám cả gan sửa lại Lời Chúa, nhưng tôi chỉ nói cách khác - một cách cho người bình dân dễ hiểu mà thôi. Tôi xin phép phân tích lại từng đoạn 1. ĐIỀU KIỆN CỦA LOAN BÁO TIN MỪN Điều kiện buộc phải có cho Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng chính là cảm nhận thực sự Thần Khí Chúa ngự trên tôi với một niềm xác tín sâu xa và sống động. Như tôi đã chia sẻ trong những bài trước, muốn cảm nhận Thánh Thần hiện diện và sống trong tâm mình thì trước hết phải tin rằng: Tôi là con Thiên Chúa, do chính Ngài sinh ra - tôi phải nội tâm hoá lời Chúa trong Tin Mừng Gioan
Tôi được sinh ra, không
phải do khí huyết, Trước khi sinh tôi ra, Ngài đã chuẩn bị cho tôi rất chu đáo: Ngài đã thánh hóa tôi bằng chính Thần khí của Ngài, nhờ đó tôi vốn thánh thiện từ đầu đến chân. Và Ngài xức dầu tấn phong tôi làm ngôn sứ cho muôn dân. Có như vậy Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng của tôi mới danh chính ngôn thuận bởi chính Chúa đã giao trọng trách này cho tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ cơ mà.
"Trước khi cho ngươi thành hình
trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; Còn khi tôi chịu phép thánh tẩy thì cũng như Đức Giêsu ngày xưa, trước khi lên đường Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng, tôi đã lãnh nhận sứ mạng do chính Chúa Cha một cách công khai trước linh mục, cha mẹ, ho hàng… Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người.17 Và có tiếng từ trời phán: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người."(Mt 3:16-17) Như vậy, tự bản chất, tôi đã là ngôn sứ của Chúa nhờ Thần Khí Chúa ngự trên tôi – và đây cũng chính là điều kiện căn bản của Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng. Thiếu điều kiện này thì Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng lập tức sẽ rơi vào khủng hoảng cho cả người loan báo lẫn người - bị - nghe - Tin - Mừng vì không có sức sống của Thần khí Thiên Chúa. Từ khám phá tuyệt vời này, quan niệm tôi thay đổi hoàn toàn. Tôi bắt đầu tập sống với Chúa với tư cách một người con yêu dấu của Ngài, nhờ sức mạnh của Thần Khí ngay trong tâm mình. Quả thật tôi cảm nhận rõ ràng mình nghiệm được hương vị bình an và hoan lạc trong Thánh Thần và đây cũng chính là Tin Mừng mà tôi cần phải loan báo cho người khác. Xin lưu ý: Thần Khí Chúa ngự trên tôi không có nghĩa là có Thánh Thần ngự ở bên trên đầu tôi như vị chỉ huy, nhưng thực ra Thần Khí Chúa ở ngay trong tâm tôi, là nguồn sống, nguồn bình an, nguồn hoan lạc, chính sự sống viên mãn và niềm bình an hoan lạc này đã trở thành tin mừng đích thực mà Chúa muốn náo nức chia sẻ với người khác qua lời nói và cuộc sống thường ngày của tôi. Câu Kinh Thánh mà tôi rất tâm đắc chứng tỏ điều này: Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta (Rm 5:5) 2. LOAN BÁO TIN MỪNG CHO KẺ NGHÈO HÈN Ai là người nghèo hèn? Tất cả những ai chưa nhận ra con người đích thực của mình. Trước đây, tôi chưa nhận ra con người đích thực của mình. Tôi chỉ nhìn thấy con người xác thịt của mình nên tôi cảm thấy mình quả là nghèo hèn trước mặt Chúa. Chúa ngàn trùng thánh đức còn tôi là vật mọn phàm hèn, yếu đuối, tội lỗi, chẳng đáng Chúa ngự vào lòng. Tôi đã kéo lê cuộc sống đấy chản nản và đau khổ, vui ít, buồn nhiều. Tối ngày chạy theo những đam mê, dục vọng trần gian như con thiêu thân. Đúng là kẻ vừa nghèo vừa hèn. 3. NGÀI SAI TÔI ĐI CÔNG BỐ Một trong những việc chủ yếu của Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng chính là công bố điều mình đã xác tín, đã sống, đã cảm nghiệm chứ không phải cung cấp cho họ một mớ lý thuyết suông. Theo thứ tự từ dễ tới khó, từ thấp lên cao, từ tiểu học tới đại học vì con đường tâm linh không cần kiến thức cao hay sâu, mà chỉ cần công bố cho người khác thông qua việc chia sẻ cảm nghiệm bằng chính đời sống và niềm xác tín của mình. 4. CHO NGƯỜI MÙ BIẾT HỌ VỐN SÁNG MẮT Trong một buổi chia sẻ Lời Chúa về đoạn Tin Mừng nói về người mù từ lúc mới sinh, tôi đã từng chia sẻ với anh em. · Tôi khám phá ra rằng: tôi vốn sáng ngay con trong lòng mẹ, nhưng rồi sống giữa trần gian, tình, tiền, tài, danh vọng, sắc dục đã làm tôi mờ mắt và tâm trí trở nên mê muội, càng chạy theo đam mê thế gian, mắt tôi càng mờ hơn… cho tới khi tôi đọc Kinh Thánh và cá nhân hoá mình với Giêrêmia, tôi mới chợt nhận ra bấy lâu nay mình vốn sáng mắt mà mình không biết. Trong khi nghe tôi chia sẻ, anh huynh trưởng của tôi - người chủ trì phiên họp - có vẻ không đồng ý lắm và cuối cùng trong lúc đúc kết, anh mạnh mẽ khẳng định với anh em rằng: · Tất cả chúng ta đều mù từ lúc mới sinh vì Kinh Thánh viết rõ như thế - mù từ lúc mới sinh. Vì tôn trọng anh, tôi không muốn tranh luận hay dồn anh vào thế bí. Nếu tôi đặt cho anh 2 vấn nạn, không biết anh sẽ trả lời sao đây: · Tôi là con của Chúa do chính Chúa sinh ra, mang hình ảnh của Thiên Chúa, mà Chúa là ánh sáng thì tôi – hình ảnh của Chúa - làm sao lại mù tối được, hay là anh huynh trưởng của tôi lại cho rằng Chúa cũng mù nốt ? · Nếu tôi mù từ lúc mới sinh thì chắc chắn tôi không chịu trách nhiệm gì về những tội lỗi tôi đã gây ra, mà người chịu trách nhiệm đó: chính là Chúa. Vì Chúa sinh ra tôi chứ không phải quỷ hay Satan sinh ra thằng tôi mù tối này. Thí dụ như một người con mù từ lúc mới sinh, nếu nó đụng phải bình rượu quý vỡ tan tành, hay vô tình cầm dao làm chết người khác thì tôi nghĩ: không một người cha nhân lành nào lại kết án và phạt nó phải chết (hình ảnh của hỏa ngục: chết muôn đời). Anh mù ở Bét-xai-đa không sáng mắt ngay lập tức, bắt đầu thấy người ta lờ mờ như cây cối đi, rồi mới dần dần mới rõ hẳn. Tôi cũng vậy, sau hơn ba mươi năm gần như mù, quá trình thấy của tôi xảy ra tất chậm, hàng mấy năm trời mới thấy khá rõ, và bây giờ, ngày càng thấy rõ hơn. Cuối cùng tôi chợt khám phá ra một điều cực kỳ thú vị: hoá ra mình vốn sáng mắt chứ có phải mù tối đâu. Nói cách khác, tôi đã bay vào vùng ánh sáng: Còn anh em, anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền (1Pr 2:9) Một khi mắt đã sáng rõ trở lại, thì lập tức cũng thấy mình vốn tự do thoải mái, không còn cảm thấy mình bị giam cầm hay bị áp bức nữa. Bởi vì Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do (2Cr 3:17). Sáng nay, bất ngờ đọc cuốn “Thánh Gioan Thánh Giá ”, tôi rất thích thú khi biết nguồn gốc của thuật ngữ Ngôn Sứ trong tiếng Hipri: (trang 20-21) · Ro’eh : Người nhìn thấy · Nabhi : Người công bố, Người làm chứng Sứ điệp đầu tiên của vị Ngôn sứ là cuộc sống của ông, là kinh nghiệm riêng tư của ông về Thiên Chúa, kinh nghiệm làm cho ông thành một ngôn sứ đích thực Như vậy, ngôn sứ đích thực phải là người nhìn thấy. Nhìn thấy gì? Nhìn thấy gương mặt đích thực của mình và niềm hạnh phúc mình đang vui hưởng, lúc đó mình mới công bố điều mình đã khám phá, đã cảm nghiệm, đã sống ngay trong đời sống bình thường của đời mình. Như thế, điều quan trọng là: Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng đòi hỏi phải loan báo cho chính mình trước đã, rồi mới dấn thân loan báo cho người khác. Tôi xin mạn phép kể ra một vài bước chuẩn bị như sau: 1. Xác tín mình là con yêu dấu của Ngài. Ngay từ trong lòng mẹ, Chúa dùng Thần Khí của Ngài để thánh hoá tôi và sai tôi làm ngôn sứ cho muôn dân. 2. Vì thế, dù chưa mở mắt chào đời, chưa bíêt lên tiếng cần xin thì Chúa đã tuôn đổ tình yêu của Ngài vào lòng tôi. Vì thế tâm hồn tôi tràn đầy Thần Khí Ngài. Nhờ đó, bản chất tôi vốn thánh thiện, mạnh mẽ, sẵn sàng lên đường làm ngôn sứ của Ngài. 3. Trong khi thực hiện sứ mạng Ngôn Sứ, Khám phá tới đâu, tôi chia sẻ tới đó; cảm nghiệm tới đâu, tôi công bố tới đó. Và ngay trong khi tôi chia sẻ lại là lúc tôi cảm nghiệm điều mình nói một cách sâu sắc nhất, mãnh liệt nhất và niềm xác tín này càng ngày càng vững chắc hơn. Tóm lại, qua bài chia sẻ này, tôi chỉ muốn kể lại những điều tôi đã chứng kiến tận mắt, những thất bại của cá nhân tôi và khá nhiều cộng đoàn và đặc biệt là những cảm nghiệm thú vị tuyệt vời mà tôi đã và đang nếm hưởng trong việc Loan Báo Tin Mừng cho chính con người tôi, trước khi Loan Báo Tin Mừng cho những anh chị em khác.
CHIA SẺ LỜI CON TRẺ...
Trần Duy Nhiên Chúa ơi, Trời mưa suốt kỳ nghỉ nên cha của con rất bực mình! Ông ấy đã nói về Chúa một vài điều không nên nói, nhưng con hy vọng Chúa sẽ không phạt ông. Bạn của Chúa (nhưng con không cho Chúa biết con là ai đâu!) Không đâu con ạ. Ta không phạt ba con đâu. Ông ấy nói nặng lời với Ta nhưng ít ra ông ấy cũng còn nhớ đến Ta. Nhiều người hiện nay không còn nhớ tới Ta nữa. Nhưng riêng con, con có nhớ tới Ta khi mọi việc đều tốt đẹp không? Hãy nhớ thay cho những kẻ không còn nhớ đến Ta, cho những kẻ chỉ biết trách Ta khi mọi việc tồi tệ. Nếu con biết hân hoan khi mọi việc tốt đẹp, con sẽ thấy rằng số lần con hớn hở thì nhiều gấp trăm ngàn số lần ba con bực mình và tiếng nặng tiếng nhẹ với Ta đấy. Chúa của con, và cũng là bạn của con (Ta biết con là ai nhưng Ta cũng không nói ra đâu) Chúa ơi, con từng nghĩ rằng màu cam không thể hòa với màu tím, cho đến khi con nhìn thấy hoàng hôn mà Chúa đã vẽ vào chiều thứ ba vừa rồi. Thật là tuyệt! Eugène. Eugène con, thật ra còn nhiều điều tuyệt diệu khác mà con không để ý để nhìn thấy đấy. Hôm nào con thử nhìn vào một cọng cỏ, một lá cây, một viên sỏi... rồi con sẽ thấy rằng nội việc con có thể nhìn thấy chúng đã là điều tuyệt diệu rồi ! Nhiều người sống dựa trên thói quen và dần dần không còn biết vui hưởng những kỳ công Ta ban cho họ từng giây từng phút. Nhưng riêng con, thì đừng nên làm thế con nhé. Chúa ơi, Chúa thật sự muốn cho con hươu cao cổ nó có hình dáng đúng như vậy, hay đấy đó chỉ là chuyện tình cờ ngoài ý muốn, hả Chúa? Norma. Norma con, Đúng là Ta đã muốn tạo ra con hươu cao cổ có hình dáng như thế đấy. Con không thấy rằng mỗi một sinh vật đều rất độc đáo sao? Và trong mọi sinh vật thì con người là độc đáo nhất. Con đừng coi thường hươu cao cổ nhưng cũng đừng mong mình làm phượng hoàng. Hãy để ý cái độc đáo trong con và con sẽ thấy rằng tất cả những sinh vật quanh con đều thật độc đáo, nhất là con người, và không ai thay thế con người được đâu! Chúa ơi, thay vì để cho người ta chết đi và phải mất công làm ra những con người khác, sao Chúa không chịu giữ mãi những người mà Chúa đang có hiện nay nhỉ? Jane Jane con, Thật ra không ai chết cả con à. Mọi người Ta dựng nên đều phải dần dần lớn lên để trở thành tuyệt đối. Con cũng sẽ lớn lên, thay đổi, cho đến một ngày con được viên mãn và sống với Ta, Đấng đã dựng nên con. Dĩ nhiên, thân xác con nó nặng nề thì con phải tạm bỏ nó lại sau một giai đoạn nào đó. Người ta gọi đó là chết, nhưng con hãy biết, đó chỉ là đổi thay. Và con phải chuẩn bị cho cái ngày đặc biệt ấy, con nhé ! Chúa ơi, ai đã vẽ những lằn ranh quanh các quốc gia vậy Chúa? Nan. Bé Nan của Ta, Chính con người đã vẽ lên đấy con ạ. Khi Ta tạo dựng trái đất, ta trao ban tất cả cho loài người và không vẽ bất cứ một lằn ranh chia cách nào. Loài người – nhân danh tổ quốc, màu da, chủng tộc – đã chia vụn ra từng mảnh cái quả đất mà Ta đã ban trọn vẹn cho con người. Con người đã được nhồi sọ để trở thành người Pháp, người Mỹ, người Việt-nam, mà quên rằng trước khi là Pháp, Mỹ, Việt, họ phải là “người.” Và trái đất này là của con người, vì Ta đã ban trọn vẹn cho loài người chứ không dành một mảnh nào riêng cho dân tộc nào, dù đó là dân Ta đã từng tuyển chọn như dân Ít-ra-en. Chúa ơi, con đi dự đám cưới, và họ hôn nhau ngay trong nhà thờ. Như vậy có được không hả Chúa? Neil. Được con ạ! Người ta có thể hôn nhau trong nhà mình thì sao lại không thể hôn nhau trong Nhà Thờ là Nhà của Ta, nghĩa là nhà của Cha họ nhỉ ? Thế nhưng nụ hôn phải là biểu hiện của tình yêu. Có những người hôn nhau vì ích kỷ, vì tư lợi, vì thỏa mãn một đòi hỏi thấp hèn, những người ấy dù hôn nhau ở nơi chốn nào thì cũng không đúng chỗ cả. Chúa ơi, cám ơn Chúa vì đã ban cho con một đứa em trai, nhưng rõ ràng là con xin Chúa một chú chó con cơ mà! Joyce. Joyce bé bỏng của Ta, ba con dưới đất chưa bao giờ tặng cho con một điều gì nhiều hơn con xin sao? Vậy vì sao Ta là Cha của con ở trên Trời lại không cho con được một điều còn cao hơn cái con xin gấp triệu lần ư? Nhưng này Joyce, con hãy chăm sóc em con vì thương nó, chứ đừng giống như chăm sóc con chó vì như vậy là con chỉ thương chính con thôi. Món quà càng quý thì yêu cầu chăm sóc món quà ấy càng cao, nhớ nhé! Chúa ơi, xin gởi cho con một con lừa. Từ trước tới giờ, con chưa xin Chúa một điều gì. Xin Chúa lưu ý giùm con nghe! Bruce. Bruce của Ta ơi, từ trước tới giờ con chưa xin Ta điều gì. Nhưng Ta cũng lưu ý con là dù con không xin, Ta cũng đã ban cho con thật nhiều mà con không nhận ra đấy. Con thử hít vào mà xem. Ta ban cho con không khí để thở bao nhiêu năm qua... Ta ban cho con cặp mắt để nhìn, đôi tai để nghe... và bao nhiêu là thứ. Để Ta xem, khi ban cho con một con lừa thì tốt hơn cho con chăng, rồi ta sẽ quyết định nhé. Nhưng nếu con chưa thấy đủ với những điều Ta đã ban, thì có thêm một con lừa hay 100 con lừa đi nữa, con cũng chẳng thấy vui hơn đâu. Chúa ơi, nếu phải sinh lại làm một cái gì đó, xin đừng để con trở thành Jennifer Horton, vì nó khó ưa lắm Chúa ơi! Denise. Denise ơi, Ta buộc phải làm trái ý con mất rồi. Con phải sinh lại làm Jennifer thôi. Chẳng những như thế, con có thể phải sinh lại làm mọi người khác. Con của Ta là Chúa Giê-su của con cũng đã sinh ra làm người, và Ngài đã trở nên giống mọi người. Vậy con muốn làm con của Ta, nghĩa là muốn giống Chúa Giê-su, thì con cũng buộc phải sinh lại thành Jennifer, ít ra là trong lòng mình, và yêu thương nó thay vì ghét nó, con ạ ! Chúa ơi, con muốn khi lớn lên thì con giống ba, nhưng đừng có nhiều lông khắp người như ông ấy, Chúa nhé! Sam. Chú Sam bé bỏng của Ta này, con không nên giống như ba con khi lớn lên con à, dù có lông hay không có lông cũng vậy. Con phải giống chính con cơ. Vì con là độc nhất đối với Ta cơ mà. Chúa ơi, thỉnh thoảng con có nhớ đến Chúa, dù là khi đó con không cầu nguyện. Elliot. Bé Elliot ơi, lâu lâu con mới nhớ đến Ta một lần, còn Ta thì lúc nào cũng nhớ đến con, con có biết không? Chúa ơi, con nghĩ, thật là khó khăn cho Chúa khi phải yêu thương hết mọi người trên thế gian này. Gia đình con chỉ có bốn người, thế mà con không thể nào thương cho hết được. Nan. Đúng như vậy, con ạ. Con người ta thật là hết sức khó thương. Nhưng Ta yêu thương mọi người không phải vì họ đễ thương, mà vì Ta là Tình Yêu, và Ta không thể làm gì khác hơn là yêu thương. Chúa ơi, trong số những người từng làm việc cho Chúa, con thích ông Nô-ê và vua Đa-vít hơn hết. Rob. Bé Rob của Ta ơi, trong tất cả những người đã Ta tạo dựng, ta đều thích từng người một, trong đó có con, và Ta không hề so sánh người này với người kia. Mỗi người đều có một chỗ đặc biệt trong tim Ta đấy. Chúa ơi, các anh con nói rằng con được sinh ra, nhưng hình như không đúng. Họ nói đùa, phải không Chúa? Marsha. Marsha con, các anh con nói đúng đấy. Con đã được sinh ra. Sinh ra đến hai lần. Hình hài con là do cha mẹ con sinh. Và linh hồn con thì do Ta sinh. Con hãy gắng mà yêu quý những gì trước kia con không có mà bây giờ con đã có qua việc tác sinh ấy. Chúa ơi, nếu Chúa chịu nhìn con một chút trong Nhà Thờ vào Chúa Nhật này, con sẽ cho Chúa xem đôi giày mới của con đấy! Mickey. Chú Mickey dễ thương của Ta, con có thể cho Ta xem ngay bây giờ chứ không cần phải đợi đến Chúa Nhật, vì lúc nào Ta cũng đang nhìn con cơ mà. Ta rất vui vì con muốn cho Ta xem đôi giày, nhưng Ta sẽ vui hơn nếu con biết rằng Ta có góp phần để con nhận được đôi giày ấy đấy nhé. Chúa ơi, chúng con đọc trong sách rằng ông Thomas Edison đã thắp sáng. Nhưng trong lớp Giáo Lý, chúng con học rằng Chúa đã dựng nên ánh sáng. Vì vậy, con nghĩ rằng ông ấy đã ăn cắp sáng kiến của Chúa đó! Chân thành, Donna. Bé Donna yêu quý, ông Edison không ăn cắp sáng kiến của Ta đâu. Ta đã vui lòng tặng cho ông ấy cái sáng kiến đó, và ông ấy đã chế ra bóng đèn để giúp ích cho nhân loại. Có nhiều điều Ta cũng ban cho con... mà càng lớn lên con càng thấy rõ. Hãy phát huy chúng vì lợi ích của mọi người, con nhé. Chúa ơi, con nghĩ rằng không có ai tốt lành hơn Chúa. Con muốn Chúa biết rằng con không nói lên điều đó bởi lẽ Chúa đã là Chúa rồi. Charles. Charles ơi, đúng, đúng lắm, Ta là Chúa và không cần một lời ca ngợi nào. Nhưng nếu con có thể nói lên điều đó thì con sẽ sung sướng hơn, vì con sẽ luôn ý thức rằng Ta không bao giờ thiếu lòng nhân hậu đối với con, dù con đang ở trong bất cứ tình huống nào. Chúa ơi, có lẽ Ca-in và A-ben hẳn đã không giết nhau nếu mỗi người ở một phòng riêng. Con với anh con ổn lắm. Steven. Steven này, không phải vì Ca-in và A-ben không có phòng riêng mà họ giết nhau đâu... Chính vì Ca-in muốn dành cả những gì A-ben có, nên mới giết em mình. Anh em con rất ổn, vì không ai muốn chiếm phòng của nhau. Thế thôi! Con hãy cầu mong sao trên thế gian này không có ai muốn chiếm phòng của người khác, căn phòng mà Ta dành cho mỗi người. Nhưng điều này khó lắm đấy... Biết làm sao được, khi Ta đã cho phép con người ta được sống tự do theo ý mình cơ mà.
Trong tuần qua, Maranatha đã nhận được điện thư xin đổi địa chỉ email, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của quý độc giả: Thái Văn Hiến, Phan Hòa, MariaCecila, Vũ Hạnh, Lâm Anh, PMai…. Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý độc giả dành cho Maranatha. 1. Fonts chữ: Maranatha hiện đang sử dụng font Times New Roman (Unicode) để viết và nhận bài. Nếu quý vị sử dụng Windows trước 98SE, xin install font Unicode này vào máy. Viết bài cho Maranatha xin quý vị cũng sử dụng font này. 2. Báo cũ: Đối với những độc giả nhận báo lần đầu tiên hoặc độc giả nào còn thiếu một vài số báo cũ, xin quý vị vui lòng vào hai trang websites http://maranatha-vn.net hoặc http://tiengnoigiaodan.net để download những số báo mình cần. Hiện nay, các số báo từ 1 đến 24 đã được lưu trên hai websites trên. Nếu vì lý do trục trặc kỹ thuật, xin liên lạc về địa chỉ: maranatha@saintly.com Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. Trân trọng, MARANATHA
Trang Nhà (website) http://www.maranatha-vietnam.net Thư từ, ý kiến, xin gửi về maranatha@saintly.com Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về Chân thành cám ơn
|