VIỆC ĐỘ VONG
TRONG KITÔ GIÁO và PHẬT GIÁO
Nguyễn Chính
Kết
Người
Công giáo coi tháng 11 dương lịch hàng năm là tháng cầu nguyện cho những người
quá cố, còn gọi là tháng các linh hồn
mà cao điểm là ngày 2-11, là ngày lễ cầu hồn.
Nhưng người Phật tử và người theo «đạo tổ tiên» lại coi
tháng 7 âm lịch hàng năm mới là tháng để tưởng nhớ, cúng kiến và chú nguyện
cho những người đã khuất, mà cao điểm là lễ Vu
Lan ngày rằm tháng 7, hay ngày Xá tội vong nhân.
Phật tử cũng
như Kitô hữu đều tin rằng sau khi chết còn có một
đời sống khác, và những người còn sống ở trần
gian có thể giúp đỡ người đã chết -
hiện đang sống trong một đời sống khác -
thoát khỏi cảnh khổ của họ, hay giảm bớt đau khổ cho
họ. Tuy nhiên, quan niệm về số phận của các vong nhân và về việc độ
vong (1) của hai tôn giáo này có nhiều điểm khác biệt. Trong chiều
hướng hội nhập văn hóa và tìm hiểu các tôn giáo, chúng ta
thử so sánh hai quan niệm ấy đồng thời rút ra những
điểm đồng dị.
Quan niệm của Kitô giáo
Số phận đời sau
Người Kitô hữu
tin rằng con người chỉ có hai đời sống: đời này và
đời sau. Đời này ngắn ngủi, hữu hạn, còn đời sau vĩnh cửu, vô hạn.
Nhưng số phận của đời sau - hạnh phúc
hay đau khổ - lại hoàn toàn tùy thuộc
vào cách sống của con người trong cuộc đời ngắn ngủi này, nhất là vào tình
trạng tâm hồn trong giây phút cuối cùng của cuộc đời. Người nào khi chết vẫn
có ân nghĩa với Thiên Chúa sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên Ngài. Người
nào chết trong trong tình trạng thù nghịch với Ngài, tức mắc tội trọng, thì bị
phạt đời đời xa cách Ngài là nguồn hạnh phúc của mình.
Sự thanh luyện
Tuy nhiên, để
xứng đáng thấy Thiên Chúa, xứng đáng kết hiệp với Ngài, Đấng tuyệt đối hoàn
hảo, và để hưởng hạnh phúc đời đời, con người cũng phải trở nên hoàn hảo,
trong trắng như Chúa Giêsu đã nói: «Các con hãy
nên hoàn hảo như Cha các con trên trời là Đấng hoàn hảo» (Mt 5,
48), «Nếu sự công chính của các con không vượt hơn
những người Pharisiêu, các con không được vào Nước Trời» (Mt 5,
20), «Phúc cho những tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ
thấy Thiên Chúa» (Mt 5, 8). Hạnh phúc vĩnh cửu đòi hỏi gắt gao như
thế thì dù những người thánh thiện nhất cũng không đạt được vì «nhân vô
thập toàn». Do đó, để xứng đáng vào Nước Trời,
để đạt được tình trạng hoàn hảo trên, con người cần phải được thanh luyện một
thời gian trước khi vào.
Sự thanh luyện
đó đã được Giáo Hội định tín trong Công Đồng chung thứ 14, năm 1274 tại Lyon:
«Linh hồn kẻ chết chưa đền tội hoàn toàn sẽ được
thanh luyện sau khi chết với những hình phạt được gọi là “Thanh Luyện”
(purgatoriis seu catharteriis)» (2). Tín điều đó đã được
lặp lại trong nhiều Công Đồng sau đó (3).
Mục
đích của việc thanh luyện là làm cho linh hồn trở nên hoàn hảo, hoàn toàn vị
tha, đầy tình thương, không còn một chút tâm địa ích kỷ, độc ác, tham lam nào
nữa. Thiên Đàng đòi hỏi một sự hoàn hảo như thế thật là hợp lý, vì đó
là một «nơi» (4) hoàn toàn hạnh phúc, hoàn toàn thánh
thiện, là «nơi» chúng ta sẽ trở về để hưởng hạnh phúc muôn đời.
Không cần phải xét về phía Thiên Chúa, mà ngay chính chúng ta cũng đòi hỏi
điều đó.
Thật vậy, thử
hỏi: khi trở về nơi lý tưởng đó để hưởng hạnh phúc, ta có thể hoàn toàn hạnh
phúc khi phải sống chung với thân nhân, bạn bè với những tính nết xấu như họ
đang có bây giờ không? Nếu họ còn ích kỷ, còn ác ý, còn lãnh đạm, còn hẹp hòi,
còn hay nghĩ xấu cho người khác, dù chỉ một chút xíu, thì họ có thể hoàn toàn
hạnh phúc và làm cho ta và những người chung quanh họ cũng hoàn toàn hạnh phúc
cho đến đời đời, không hề gây ra một chút đau khổ nào không? Bản thân ta cũng
vậy, ta sẽ còn đau khổ và còn làm người khác đau khổ nếu ta còn một chút xấu
xa, ích kỷ, độc ác… Chưa hoàn hảo mà đã sống ở Thiên
Đàng thì ta sẽ làm ô nhiễm cái hạnh phúc tinh tuyền
-
không vương chút đau khổ
-
của Thiên Đàng rồi, và biến Thiên Đàng trở thành một cái gì không còn là Thiên
Đàng nữa. Do đó, Thiên Đàng đòi hỏi những người bước vào phải hoàn toàn
trong sạch, tốt lành, nếu còn chút gì xấu xa thì phải thanh luyện cho hết.
Sự thanh luyện
đó được gọi là «luyện ngục». Chữ
ngục khiến người ta liên tưởng tới một
nơi chốn, một cảnh tù đày. Thực ra không nên hiểu cụ thể như thế. Nên hiểu
đó là một tình trạng của tâm hồn được thanh
luyện, được thánh hóa bằng những đau khổ nội tại cũng như ngoại tại:
· Đau khổ nội
tại là đau khổ vì khát khao được ở gần Thiên
Chúa, kết hợp với Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc của mình mà không được.
Sau khi chết, linh hồn hết sức sáng suốt để nhận ra Thiên Chúa là nhu cầu khẩn
thiết nhất, là nguồn hạnh phúc đích thực của mình, nên lòng khao khát Thiên
Chúa lúc đó hết sức lớn lao. Tương tự như người rất đói, rất thèm ăn, và có
ngay trước mặt một mâm cơm thịnh soạn, đầy hấp dẫn với đủ thứ cao lương mỹ vị,
mà lại bị trói chân trói tay không ăn được. Hay như hai tình nhân yêu nhau tha
thiết mà phải sống xa nhau.
· Còn đau khổ
ngoại tại cũng được thần học bàn tới, nhưng
không được định tín.
Giáo Hội Hy Lạp phủ nhận loại đau khổ này.
Khổ hình này được thần học truyền thống gọi là «lửa».
Một vài giáo hoàng diễn tả luyện ngục có lửa
(5). Sắc lệnh của Công Đồng chung Firenze (1438–1445) không còn
dùng từ ngữ «lửa» để diễn tả hình phạt nữa, vì các nghị phụ Hy
Lạp không chấp nhận. Các nhà thần học hiện nay cũng
không thích lý thuyết nói về lửa đó nữa.
Trong tình
trạng thanh luyện, người ta thường chỉ nghĩ tới đau khổ của các linh hồn đang
trông chờ ngày gặp mặt Chúa mà không lưu tâm tới
tình trạng tích cực của họ. Chắc chắn các
linh hồn ấy có một hạnh phúc rất lớn, rất căn bản là biết chắc chắn
mình được cứu rỗi, được Thiên Chúa yêu thương (6), đồng thời họ
mến Chúa hết sức vì không còn gì trở ngại lòng yêu mến ấy nữa, và họ cũng ý
thức được sự cần thiết của việc thanh luyện này, nên họ sẵn sàng và ước ao
chịu mọi khổ hình để sớm gặp Chúa. Lúc đó, khổ hình đối với họ không
còn là «khổ» nữa. Cũng như một thí sinh sẵn sàng chấp nhận mọi
cực nhọc, mệt mỏi của việc học để chuẩn bị một kỳ thi với hy vọng sẽ có một
tương lai huy hoàng. Việc thanh luyện vì thế trở
thành tự nguyện. Họ sung sướng vì được thanh luyện, được khổ vì Chúa, vì tình
yêu.
Việc độ vong
Thời gian
thanh luyện lâu hay mau chắc chắn tùy thuộc vào tình trạng hay mức độ hoàn hảo
của mỗi linh hồn, và vào tình thương can thiệp của Chúa.
Các tín hữu còn sống có thể giúp các linh hồn được
thanh luyện theo những điều kiện nhất định, đó là một tín điều.
Công Đồng
Trentê định tín lễ Misa có thể được dâng lên để cầu
nguyện cho người sống và kẻ chết, cho họ được tha tội, tha hình phạt,
cho việc đền tội và cho những nhu cầu khác (7),
đặc biệt cho những người chết trong Đức Kitô đang
được tinh luyện (8). Ngoài lễ Misa, các tín hữu còn có
những hình thức độ vong khác (9) như cầu
nguyện, bố thí và làm các việc đạo đức (10). Người còn sống
có thể đền tội thay cho họ bằng những
hy sinh hãm mình, chấp nhận những đau khổ Thiên Chúa gửi đến một cách vui vẻ,
vì một chi thể có thể đền tội thay cho một chi thể
khác trong cùng một thân thể, vả lại, tội
không chỉ có tính cách cá nhân mà còn có tính xã hội: sự liên đới chịu trách
nhiệm. Đương nhiên, tín hữu còn sống càng
trong sạch thánh thiện bao nhiêu thì khả năng độ vong càng
hữu hiệu bấy nhiêu: một chi thể «chết» không thể giúp cho
một chi thể khác «sống» được.
Mọi việc độ
vong đều phải qua tay Thiên Chúa, chứ không trực tiếp ảnh hưởng tới các linh
hồn. Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn luôn luôn tự do. Sự độ vong của chúng ta không
phải là một pháp thuật có sức ép buộc Thiên Chúa phải tha cho các linh hồn
theo ý ta, hay ảnh hưởng tới Thiên Chúa một cách máy móc, tự động theo những
định luật.
Việc độ vong
trong Giáo Hội bắt nguồn từ việc làm của Giuđa Macabêô theo như đoạn Kinh
Thánh 2 Mcb 12, 40-60. Thời đó, sau một trận đánh, có một số
binh sĩ Do Thái tử trận. Khi lục soát các tử thi, người ta tìm ra dưới áo họ
ẩn dấu các đồ vật để cúng tế các thần ngoại lai mà luật cấm. Người Do Thái tin
rằng tuy họ chết đi khi mang tội đó, nhưng họ vẫn được cứu rỗi. Họ cầu nguyện
để xin Chúa tha tội cho những người ấy. Rồi họ quyên góp 2. 000 quan tiền nhờ
Giuđa gửi lên Giêrusalem để tế lễ chuộc tội. Bản văn khen ông:
«Đó là việc làm rất tốt lành và có giá trị cao
quí do tin vào việc sống lại, vì nếu không tin vào sự sống lại thì cầu nguyện
cho người chết là uổng công vô ích. Nếu ông nghĩ tới phần thưởng dành cho họ
thì quả là tư tưởng lành thánh và đạo đức. Vì thế, ông đã dâng lễ xá tội để
người quá cố được tha thứ tội lỗi».
(Còn tiếp)

Chú thích:
(1) Độ
vong: cứu những linh hồn đã quá cố đang đau khổ vì hình phạt.
(2)
Denzinger-Schonmetzer, Enchiridion Symbolorum (DS) 856/464.
(3) Xem DS 1580
/ 840; 1620 / 983; 1867 / 998, v.v...
(4) Tạm gọi như thế. Thật ra, Thiên đàng, luyện ngục hay hỏa
ngục không phải là những nơi hiểu theo nghĩa không gian vật lý cho bằng là
những tình trạng tâm linh hoặc tâm lý. Chẳng hạn Thiên Đàng là tình
trạng tâm linh hoàn toàn hạnh phúc, không còn một chút đau khổ, của những tâm
hồn hoàn hảo, thánh thiện, còn Hỏa Ngục là tình trạng tâm linh hết sức
đau khổ của những tâm hồn độc ác, xấu xa, ích kỷ...
(5) Đức Innôcentiô IV (1243-1254)và Đức Clêmentê VI
(1342-1352). Lửa ở đây là lửa mầu nhiệm, vừa là vật chất vừa là tinh thần, vì
có thể vừa đốt được thân xác mà vừa đốt được cả linh hồn.
(6) Xem DS 1488
/ 778.
(7) Xem DS 1753
/ 950.
(8) Xem DS 1743
/ 940.
(9) Xem DS 1820
/ 693.
(10) Xem DS 856
/ 464.
Trở về Muc Lục