Số 27, Ngày 20-11-2004

 

 MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Kính Nhớ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Chúa Giêsu Thánh Thể Trong Đời Sống Thánh Tử Đạo VN - Lm. Trần Anh Thụ

Danh Sách & Tiểu Sử Sơ Lược các Thánh Tử Đạo Việt Nam - Trần Duy Nhiên st

Đức Kitô là Vua hay là Trưởng Tử - Khổng Nhuận

Đức Giêsu Đã Là Vua Của Chính Bạn Chưa? - Huyền Vi

Việc Độ Vong Trong Kitô Giáo và Phật Giáo - Nguyễn Chính Kết

Thư Gửi Bạn - Nguyễn Hoài Hương

Tâm Tình Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa Quý độc giả,

Chúa Nhật này, tín hữu Công giáo Việt nam trên quê hương và toàn thế giới cùng hiệp thông với Giáo Hội hoàn vũ hân hoan kính nhớ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Các ngài đã chọn cái chết để thể hiện niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô trước những chọn lựa và đòi hỏi gắt gao đến cùng. Các ngài đã tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là Vua, Đấng là Vua của vũ trụ cũng như của lòng người, không phải theo hình ảnh của một Đấng Mêssia đến trần gian chiêu tập binh mã hùng mạnh, trái lại, Ngài làm Vua trên thập giá nhục nhã giữa hai người ‘cận thần’ là những tên tử tội.

Trên thập giá, Chúa Giêsu đã trở thành lễ vật hiến tế và đồng thời cũng là vị thượng tế dâng lên Chúa Cha chính bản thân mình. Ngài đã hoàn thành công cuộc cứu thế, không phải trên ngai vàng vinh hiển, nhưng trên ngai thập giá thương đau. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, những vị đã tin vào Ngài và noi gương Ngài, các ngài cũng đã hiến tế chính mạng sống mình để đem lại hạt giống đức tin và sức sống mãnh liệt cho Giáo Hội Việt Nam. Và các ngài đã được đón vào Nước vinh quang với Chúa Kitô như người trộm lành.

Sở dĩ các Thánh Tử Đạo Việt Nam tìm được sức mạnh phi thường để đón nhận những thương đau kinh hoàng và ngay cả cái chết, chính vì các ngài đã nuôi duỡng đời sống tâm linh của mình qua việc thường xuyên tham dự bàn tiệc Thánh Thể. Sức mạnh của các ngài phát xuất từ việc gắn bó và tin tưởng vào tình yêu của Chúa Giêsu thể hiện trong Bí tích cao trọng này.

Maranatha tuần này gửi đến quý độc giả những tâm tình theo hướng ấy. Bổn phận của chúng ta, những con cháu của các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta có đi theo con đường của các ngài là đi theo con đường của Chúa Giêsu chưa? Vương quốc của Chúa Giêsu thành lập, Giáo Hội Việt Nam được các Thánh Tử Đạo đặt nền móng, đã được xây dựng bằng thập giá, thế thì cuộc sống của mỗi chúng ta, của Giáo Hội ngày nay đang được xây dựng thế nào? Phải chăng câu hỏi này không đặt ra cho mỗi một người trong chúng ta, khi mừng lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam và khi tham dự Thánh Lễ? Chúng ta có tuyên tín Chúa Giêsu là Vua, là Đấng Cứu Chúa trên thập giá trong chọn lựa hàng ngày của cuộc sống người tín hữu không?

Tháng này chúng ta cũng đặc biệt nhớ đến các đẳng linh hồn. Giáo Hội mời gọi chúng ta hiệp thông không những với Giáo Hội vinh hiển trên thiên quốc, nhưng cả với Giáo Hội thầm lặng nơi luyện tội. Bằng những lời cầu nguyện, bằng những lần tham dự Thánh Lễ, bằng những hy sinh âm thầm nhỏ nhặt, chúng ta nài xin Máu Chúa Giêsu thanh tẩy các linh hồn còn trong nơi thanh luyện, nhất là những linh hồn không ai thân thuộc tưởng nhớ.

Nguyện xin Chúa Giêsu Kitô là Vua của vương quốc tâm linh - Đấng đã ban sức mạnh phi thường cho các Thánh Tử Đạo Việt Nam - cũng ban cho từng người trong chúng ta ân sủng và sức mạnh của Ngài, để chúng ta chiến thắng được những yếu đuối, giới hạn của bản thân mình, vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống và trong Giáo Hội khi còn đang lữ hành, không phải bằng những thành quả vật chất, bên ngoài, nhưng chính yếu là do những lần vác thập giá và chết như Ngài trên thập giá. Có thế, chúng ta mới là những tín hữu đích thực của Ngài, khi chúng ta nối gót bước chân các tiền nhân là các Thánh Tử Đạo Việt Nam.

Tại vì, để có thể tử vì đạo một cách anh dũng và bình an đến như thế, các ngài hẳn đã mặc nhiên hướng về Chúa Kitô để khấn xin: Maranatha, Lạy Chúa xin ngự đến!

MARANATHA.

Trở về mục lục >>

MỪNG KÍNH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM 

KÍNH NHỚ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Đừng sợ!

«Anh em đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn» (Mt 28, 33). Nếu có ai giết được linh hồn thì Đấng đó phải là Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa không bao giờ làm như vậy. Người chỉ cứu rỗi chứ không bao giờ hành hạ con người. Chỉ có con người mới tàn sát nhau thôi. Mà con người dẫu có hành hạ nhau dã man cách mấy, vẫn chỉ là hành hạ nhau trên thân xác.

Lời Chúa dạy «Đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn», trở thành lời an ủi, động viên niềm tin, niềm hy vọng của ta vào Chúa Giêsu: Người là Thiên Chúa, đến trần gian cứu chuộc và loan báo cho họ biết chính Người là Đấng Cứu Thế Thiên Chúa ban cho họ, vậy mà loài người còn không tha, thì huống hồ là loài người với nhau. Người Do thái nghĩ rằng, khi giết Chúa Giêsu, họ đã khử trừ được một thứ tôn giáo mới. Và do cái chết thê thảm đó, sẽ làm cho các môn đệ thoái chí, buộc lòng phải giải tán. Nhưng họ lầm. Họ lầm vì họ không biết rằng, họ chỉ có thể giết được thân xác của Giêsu, chứ không giết được linh hồn Người. Họ lầm vì họ chỉ có thể giết được thân xác Giêsu, nhưng chính Thiên Chúa nơi con người Giêsu ấy, làm sao giết được! Họ lầm vì họ không ngờ rằng, cái thân xác mà họ treo trên cây thập giá đó đã sống lại chỉ trong một thời gian ngắn: trên dưới 40 tiếng đồng hồ. Bởi loài người không thể giết Thiên Chúa, nên Kitô giáo vẫn tồn tại, đạo Chúa Kitô vẫn không ngừng phát triển.

Các thánh Tử Đạo Việt Nam cũng vậy. Một lòng trung kiên kính thờ Thiên Chúa. Sợ Thiên Chúa chứ không sợ «những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn». Trước mặt vua quan, các ngài đã khẳng khái tuyên xưng đức tin của mình, sẵn sàng chấp nhận mọi thiệt thòi, quyết không để đức tin bị khinh miệt, bị xúc phạm. Các thánh Tử Đạo biết rõ mất mạng sống là không còn có mặt trong cuộc đời nữa, nhưng vì đức tin: tin vào Chúa Giêsu, Đấng đã chết và sống lại, các thánh không sợ chết, quyết tâm dâng hiến mạng sống để tôn thờ Chúa đến cùng.

Còn vua quan, cũng giống những người Do thái trước kia: tưởng giết Chúa Giêsu là xong chuyện. Vua quan tưởng rằng bách hại và giết chết người có đạo là xóa được một tôn giáo mới, nhưng họ cũng lầm y như những người Do thái vậy: Vì họ chỉ có thể giết được thân xác chứ không giết được linh hồn người có đạo. Họ chỉ có thể giết được người có đạo chứ không thể giết chính Thiên Chúa của người có đạo. Các vua, các quan càng ra sức bách hại và cấm đạo triệt để bao nhiêu, thì trong hoàn cảnh trốn tránh hết sức khó khăn, đức tin của người tín hữu càng mạnh mẽ, càng kiên vững bấy nhiêu.

Gần 3 thế kỷ bắt đạo, có lúc gay gắt, có lúc nới lỏng, thì 3 thế kỷ hãi hùng ấy đã giết chết khoảng từ 130 ngàn đến trên dưới 250 ngàn người Việt Nam Công giáo. Điều đó chứng tỏ trong khó khăn, đức tin không lùi bước mà sẵn sàng đương đầu với khó khăn đó. Con số 118 vị tử đạo được tuyên phong trên bàn thờ chỉ là một phần nhỏ, chỉ là con số tượng trưng. Ba thế kỷ bắt đạo, đạo Công giáo không mất mà vẫn tồn tại, và đang phát triển. Cho nên Lời Chúa nói: «Anh em đừng sợ» đúng vô cùng, bởi lời ấy trở nên lời hy vọng, niềm tin tưởng, sức mạnh và tình yêu để mỗi người Việt Nam nói chung và người Công giáo Việt Nam trong hiện tại nói riêng hãnh diện bước tới và trung kiên gìn giữ đức tin, cũng như sống đức tin của mình.

Mừng lễ các thánh tử đạo hôm nay, bạn và tôi tự hào vì mình là con cháu các thánh, các thánh là tổ tiên của mình. Tự hào là con cháu các thánh, bạn và tôi càng phải sống đức tin trung kiên như lời Chúa dạy: «Anh em đừng sợ». Cái «đừng sợ» của chúng ta hôm nay đó là ý thức đức tin từ những việc làm hết sức nhỏ nhặt hằng ngày. Ví dụ làm dấu thánh giá trang nghiêm. Tôi thử hỏi một câu hỏi nhỏ để mọi người suy nghĩ: mỗi khi vào tiệm ăn, mình có dám tuyên xưng đức tin bằng dấu thánh giá trước khi bưng một tô phở hay cầm một dĩa cơm không? Từ những việc xem ra rất nhỏ nhặt ấy lại là hành động tuyên xưng đức tin rất quí giá! Tại sao có những việc lớn lao ta lại làm được, còn những việc rất nhỏ bé như thế lại không thể được? Bao hàm trong cái không thể đó, là sự sợ hãi: sợ người khác thấy, sợ người khác biết mình có đạo, sợ bị chê cười… Những cái sợ không đáng sợ lại là thực tế của người Công giáo hôm nay. Ngày xưa tuyên xưng đức tin như thế, các thánh Tử Đạo đã trả bằng giá máu, nhưng các ngài vẫn kiên tâm, không sợ những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh hồn. Ngày nay có ai giết ta đâu tại sao ta lại không giữ nổi những điều căn bản nhất mà cha ông đã làm?

Ví dụ về dấu Thánh giá chỉ là một ví dụ đại diện cho biết bao nhiêu lời nói, việc làm, suy tư, hình thức biểu lộ đức tin của từng người Công giáo hôm nay. Qua tất cả những gì ta có thể thể hiện đức tin từ việc nhỏ nhất như hành vi tuyên xưng đức tin bằng dấu Thánh giá, đến việc sống đức tin trong suốt cuộc đời của mình, bạn và tôi đã làm được điều mà các thánh Tử Đạo đã từng làm: chọn đức tin làm lẽ sống và chọn Chúa Kitô làm gia nghiệp đời mình. Bởi chọn lựa ấy là chọn lựa quan trọng và cần thiết. Vì giữa bao nhiêu cạm bẫy và cám dỗ trong cuộc đời, ta sẽ dễ mất phương hướng, nghi nan, chao đảo, có khi còn mất cả đức tin, nếu mình không có một chọn lựa dứt khoát đứng về phía đức tin chẳng những để bảo vệ mình khỏi ngã nhào mà còn đứng vững trong đức tin của mình.

Đặc biệt sống đức tin của hôm nay còn là chuyển tải đức tin cho anh chị em xung quanh. Với ý thức này, người Công giáo Việt Nam vô cùng ao ước được đồng hành với dân tộc mình. Họ mong muốn sống giữa lòng dân tộc để phục vụ, để yêu thương và được đón nhận, được yêu thương như tất cả mọi anh chị em không có hoặc không cùng lòng tin của mình. Niềm khắc khoải này được Hội Đồng Giám mục Việt Nam trình bày trong quyển «Giáo Hội Công Giáo Việt Nam - Niên Giám 2004»: «Ý thức được điều này, người Công giáo Việt Nam càng muốn hòa nhập vào lòng dân tộc để thể hiện sứ mạng đã được Cha trên trời trao phó: xây dựng dựng tình huynh đệ chân thành nơi địa phương mình sống. Trong đại gia đình dân tộc hiện nay có nhiều nền văn hóa khác nhau nên người tín hữu cần tìm hiểu và đối thoại với anh em để cùng xây dựng một nền văn minh tình thương và hòa bình» (Lm.Ant. Nguyễn Ngọc Sơn - Lược Sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam - trang 202). Đó là ước nguyện lớn lao, tha thiết, cháy bỏng của người Công Giáo Việt Nam hôm nay. Đó cũng chính là tương lai của Giáo Hội Công giáo Việt Nam. Vì nếu giáo Hội không ra khỏi chính mình, đến với anh chị em, Giáo Hội đánh mất căn tính của mình.

Sau khi đã suy niệm về tấm gương anh dũng của các thánh Tử Đạo và ý thức bổn phận của người Kitô hữu hôm nay, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện:

Lạy các thánh Tử Đạo Việt Nam,

Các ngài đã dám sống đến cùng ơn gọi Kitô hữu

Trong một hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm.

Sự hy sinh của các ngài

Cho thấy tình yêu mạnh hơn sự chết

Và chết là cửa mở vào cuộc sống bất diệt.

Dù mang phận người yếu đuối,

Nhưng nhờ ơn Chúa nâng đỡ,

Các ngài đã chiến thắng khải hoàn.

Xin cầu cho chúng con là con cháu các ngài

Biết can trường sống đức tin của bậc cha anh

Trong một thế giới vắng bóng Thiên Chúa,

Biết nhiệt thành làm chứng về tình yêu

Bằng một đời hiến thân phục vụ.

Ước gì ngọn lửa đức tin

Mà các ngài đã thắp lên bằng cuộc sống và cái chết,

Được bừng tỏa trên Tổ quốc Việt Nam.

Ước gì máu thắm của các ngài

Thấm vào mảnh đất quê hương

Để công cuộc truyền giáo sinh nhiều hoa trái.

Trở về mục lục >>

CHÚA GIÊSU THÁNH THỂ
TRONG ĐỜI SỐNG CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Lm. Giuse Têrêsa Trần Anh Thụ

"Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống.
Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.
Và bánh tôi sẽ ban tặng,
chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống. "
(Ga 6, 51)

Sáng ngày 30-11-1835, trước khi hành hình tại Tòa Tam Pháp, cha Marchand Du bị tra khảo:

§         Tại sao đạo Giatô móc mắt mấy người gần chết?

Ø      Không có, không bao giờ tôi thấy điều đó.

§         Tại sao mấy người kết hôn lại phải đến các thầy đạo trước bàn thờ?

Ø      Họ đến để thầy cả chúc phúc và chứng nhận trước mặt các tín hữu ở đó.

§         Khi làm yến tiệc trong nhà thờ, bay làm những sự gì quái gở lắm phải không?

Ø      Không, chẳng có những điều quái gở.

§         Vậy sao có thứ bánh dùng làm bùa mê thuốc lú để phát cho những đứa đã xưng tội mà nó mê đạo đến thế?

 

Giáo Hội, ngay từ những thế kỷ đầu, khi kết án các vị tử đạo, niềm tin vào Chúa Giêsu Thánh Thể luôn bị thẩm vấn bởi các nhà cầm quyền. Cuộc bách hại tại Việt Nam cũng như thế. Nhà cầm quyền chẳng thể hiểu nổi sức mạnh thần linh của "thứ bánh" này. Nhưng đối với các vị tử đạo, các ngài cảm nghiệm rất rõ: Chúa Giêsu Thánh Thể chính là sức mạnh của các ngài. Thánh thể chính là nguồn linh dược giúp các Ngài chiến thắng.

1. Từ những tâm hồn trẻ thơ yêu mến Thánh Thể.

Giữa một giai đọan lịch sử đầy khó khăn, cùng với nền văn hóa đương thời, việc lưu trữ tiểu sử cá nhân không được chú ý nhiều. Vì thế, việc tìm hiểu đời sống của các vị tử đạo - nhất là thời thơ ấu - hoàn toàn không dễ dàng.

Tuy thế, với những chứng nhân và tài liệu ít ỏi, chúng ta cũng có thể khám phá ra những tâm hồn "trẻ thơ" yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể của các ngài.

Nơi các vị tử đạo, ngay từ khi còn nhỏ, các ngài đã bày tỏ tấm lòng yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể đặc biệt. Nữ tu Madalena Yến kể về Thánh Tôma Thiện: "Chú Thiện có một người dì, gọi là bà Nghị, làm bà nhất nhà phước Trung Quán. Chú thường lui tới thăm dì và tỏ ra rất ngoan ngoãn, nhu mì, lễ phép. Khi linh mục đến dâng lễ ở họ nhà, chú thường quỳ dự lễ cách nghiêm trang." Thánh Micae Nguyễn Huy Mỹ cũng được sử sách ghi nhận rằng, ngay từ nhỏ đã siêng năng đọc kinh sớm tối, tham dự và lãnh nhận các bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể.

Lòng yêu mến đó không chỉ bộc lộ trong việc thờ kính Chúa Giêsu Thánh Thể trong khi cử hành Bí tích, nhưng còn là một thái độ rất đời thường của trẻ con: thích được cử hành Thánh lễ như các linh mục. Chuyện kể, đầu thế kỷ 19, tại làng Passavant, nước Pháp, nhiều người đã phải ngạc nhiên khi thấy hành vi của một cậu bé chưa đầy mười tuổi: sau giờ học, cậu rủ các bạn hữu về nhà, khiêng bàn, trải khăn làm bàn thờ, trang hoàng hoa nến, đặt cây thánh giá, rồi bắt chước các cử điệu như khi linh mục dâng lễ Missa cho các bạn xem. Đó là cậu Giuse Marchand (Thánh Du).

Có thể ai đó cho rằng, việc làm trên chỉ là việc làm trẻ con như bao đứa trẻ khác vẫn chơi trò chơi với nhau. Nhưng chúng ta không quên rằng, ở tuổi của cậu bé Giuse Marchad, tuổi để chơi trò chơi "đóng kịch" đã qua từ lâu rồi. Nó cũng không phải là tuổi của những mộng tưởng tôn giáo như một số người nghĩ.

Ở tuổi lớn hơn, Đức cha Melchor Xuyên, "khi còn làm thầy đã say mê Chúa Giêsu Thánh Thể, trong các kỳ nghỉ hè, thầy dạy giáo lý cho trẻ em chuẩn bị rước lễ lần đầu và thêm sức. Dân chúng trong vùng yêu mến thầy, và đặt cho thầy cái tên "ông cầu nguyện", vì thầy năng quỳ cầu nguyện trước Thánh thể lâu giờ, và suy niệm 15 mầu nhiệm kinh mân côi mỗi ngày".

Không chỉ là những cậu bé lớn lên trong những gia đình đạo đức, được huấn luyện nghiêm ngặt mà thôi. Thánh giám mục Phêrô Borie Cao, từ nhỏ đã là một đứa trẻ cẩu thả, vào chủng viện vì cha mẹ ép buộc nên không hứng thú gì và thường xuyên phạm luật. Trong cơn bệnh nặng, cậu có dịp gẫm lại cuộc đời mình. Khi trở lại, Borie đã lấy Chúa Giêsu làm lẽ sống, siêng năng đến gặp Chúa Giêsu Thánh Thể. Và trong những giờ gặp gỡ ấy, cậu nghe như Ngài kêu gọi cậu lãnh nhận một sứ mạng cao quý hơn: sứ mạng truyền giáo.

2. Thành những Tông Đồ Thánh Thể giữa gian nan.

Chính lòng yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể đã dẫn những con người vốn yếu đuối, nhỏ bé đó đi vào con đường của chứng nhân, những tông đồ Thánh Thể không mệt mỏi và không hề chùn bước trong gian nan.

Là mục tử, các ngài biết các tín hữu và cả bản thân các ngài cần được sự trợ giúp từ sức mạnh Thánh Thể. Các ngài biết rằng việc làm của các ngài sẽ là một nguy hiểm cho bản thân mình, các ngài vẫn không thể lẩn tránh.

Chẳng hạn, vì thương giáo dân bơ vơ, thánh Vinh Sơn Yến, chấp nhận ẩn trú lén lét để ban ngày thăm viếng khuyên bảo và ban đêm dâng lễ cho giáo dân. Cha Phêrô Tự, mỗi sáng dâng lễ ngay trong vườn nơi cha trú ẩn. Cha Phaolo Phạm Khắc Khoan, mỗi tháng đều đến dâng lễ cho các họ lẻ. Cha bề trên Isidoro Gagelin Kính, đi bộ từ họ này sang họ khác, dầu xa hay gần, dầu lớn hay nhỏ để giảng dạy, dâng lễ, giải tội và ban phép thêm sức cho giáo dân.

Rất nhiều cha đã bị bắt ngay sau khi dâng thánh lễ như: cha Gioan Đạt trốn trên rừng nhưng khi thấy tình hình lắng dịu, cha thường lẻn về các giáo xứ ban phát bí tích. Cha bị bắt khi vừa dâng lễ xong tại một tư gia. Cha Jean Louis Hương bị bắt ngay khi vừa dâng lễ xong đang rửa tội cho trẻ em…có vị bị bắt ngay khi đang cử hành thánh lễ như Thánh Matthew Alonso Liciniana Đậu: ngày 29/11/1743, đang lúc cha dâng lễ, quân lính vây bắt. Các giáo hữu bỏ chạy tán lọan. Cha Đậu vì bất ngờ cũng hoảng hốt bỏ chạy, tay ôm Bình Thánh và rước hết Bánh Thánh.

Các ngài ý thức rất rõ, đời sống linh mục là dâng hiến tế cùng Chúa Giêsu. Dù trong hoàn cảnh khó khăn, thánh lễ vẫn phải được dâng một cách sốt sắng. Chính cử hành của các ngài trở thành những gương mẫu, những bài giảng sống động cho giáo dân về lòng yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể.

Cha Luca Vũ Bá Loan, khi giảng dạy ít dùng lý luận, cha nói bằng cảm nghiệm bản thân mình về Đấng cha đã gặp gỡ thực sự trong kinh nguyện và thánh lễ. Khi cầu nguyện cha như xuất thần, quên hết mọi chuyện chung quanh, dù ai gây tiếng động sát bên cũng không làm cho cha gián đoạn cụôc tiếp xúc với Đấng Linh Thiêng được. Hầu như cha không bỏ dâng lễ bao giờ. Thánh lễ cha cử hành có mầu sắc trang nghiêm khoan thai, cung kính đặc biệt. Một thầy giảng góp ý xin cha dâng lễ nhanh lên như các linh mục khác, cha giải thích: "Không được con ạ. Lễ Missa là việc cao trọng nhất trên trần gian. Không có gì đáng để chúng ta cử hành thánh lễ cách vội vã cả. Việc thờ phượng Chúa cần phải làm cho trang nghiêm sốt sắng". Và thánh lễ của cha chưa kết thúc ở lời chúc bình an, cha thường quỳ lại lâu giờ trước Thánh Thể để tạ ơn Chúa.

Với cha Phêrô Khanh, bên cạnh những lời giáo huấn, chính đời sống là một gương sống động cho giáo dân. Khi cha dâng lễ, mọi người đều thấy sốt sắng thêm lên.

Cha Phêrô Thi được dân chúng làm chứng: "rất nhân đức, mỗi ngày đọc kinh nguyện lâu giờ ba bốn lần, cử hành thánh lễ trang nghiêm,.. Đi đâu ngài cũng mang theo đồ lễ".

Về phía các thánh giáo dân, các ngài không hề run sợ trước chiếu chỉ của Vua Tự Đức vào tháng 3/1851 lên án xử tử: "chặt làm hai ném xuống sông các kẻ chứa chấp Tây dương Đạo trưởng".

Biết trước những nguy cơ đến tính mạng, các ngài vẫn tìm cách để các linh mục có nơi ẩn náu, hầu có thể cử hành thánh lễ và trao ban bí tích. Chẳng hạn như: Thánh Trùm Lựu, Bà Thánh Đê, Thánh Chánh Tổng Luca Thìn. . . : lưu trữ ảnh tượng, áo lễ, . . . trong nhà.

Các ngài cũng ý thức rất rõ việc làm Tông đồ Thánh Thể của giáo dân. Cô gái út của bà Đê là Lucia Nụ đã khai trước tòa: "Mẹ chúng con rất chăm lo việc giáo dục con cái. Chính bà dạy chúng con biết đọc sách và học giáo lý, sau lại dạy cách tham dự thánh lễ và xưng tội rước lễ. Bà không để chúng con lơ là, bà thúc giục chúng con bằng được mới thôi. . ".

Con Thánh Đích cũng làm chứng: "Bố tôi luôn quan tâm đến đời sống đạo đức của mười người con và của những gia nhân giúp việc. Mỗi ngày, ông chỉ định một hay hai người coi nhà, còn những người khác đi lễ". Ông chuyên chú đọc kinh cầu nguyện, xưng tội và rước lễ sốt sắng ngay trong nhà giam.

Bà Lý Mỹ kể: "gia đình tôi sống trong hòa thuận yêu thương. Ông Micae chuyên chăm việc đạo đức, dự lễ hàng ngày, nếu vợ con hay người giúp việc bận rộn không đi lễ được, ông bắt phải đọc kinh chung và nghe sách thiêng liêng để suy niệm. . . "

3. Đến việc cảm nghiệm sức mạnh của Thánh Thể.

Nếu như trong gian nan, các ngài luôn trung tín với sứ vụ tông đồ Thánh Thể; thì trong lao tù, các ngài lại, hơn bao giờ hết, cảm nghiệm sức mạnh thần linh của Của Ăn Thiêng Liêng.

Bằng cách này hay cách khác, khi có dịp, các ngài cử hành Thánh Thể để bản thân mình và anh em được dưỡng nuôi bằng Bánh Hằng Sống.

Cha Cha Jaccard Phan và cha Odorico bị giam lỏng trong cung quán vẫn thường lén lút dâng lễ và cất giấu Mình Thánh Chúa trao cho cha Gagelin Kính.

Ba năm ở Cam Lộ, niềm vui lớn hơn cả của cha Francois Jaccard Phan là được dâng lễ trong trại giam. Một tấm ván bắc qua hai chiếc ghế làm bàn thờ, cha dâng thánh lễ vào giữa đêm khuya, rồi thu xếp dọn dẹp ngay sau đó.

Lễ Chúa ba Ngôi 1744, cha Tế dâng thánh lễ, cha Đậu giúp lễ. Ngày 4 tháng 6, lễ Mình Thánh Chúa, Cha Đậu cũng được dâng lễ, và đấy là lần thứ nhất kể từ khi cha bị bắt, có 130 giáo dân tham dự ngay trong tù.

Cha Ven, trong ngục được cha Thịnh chuyển cho ngài một hộp nhỏ đựng Mình Thánh Chúa. Ngài cung kính chầu Thánh Thể cho đến nửa đêm, rồi mới rước vào lòng.

Rất nhiều linh mục, dầu hoàn cảnh khó khăn hiểm nguy, các vị đã can đảm hiện diện, hoặc hóa trang vào thăm giáo hữu ở trong tù, ban các Bí tích Hòa giải và trao Mình Thánh Chúa. Trong số các Ngài, đã không ít vị cũng lãnh phúc tử đạo như:

Cha Ngôn, hai lần đã khéo léo vào tù thăm và trao Mình Thánh Chúa cho thánh Phêrô Tự. Cha Thán 3 lần vào tù giải tội và đem Mình Thánh Chúa cho thánh Gẫm.

Các tín hữu coi cha Phêrô Lựu như thiên thần Chúa gửi đến đem cho họ lương thực Thánh Thể, ân sủng và bình an. Để thực hiện điều đó, có lúc cha phải bỏ tiền mua chuộc lính canh và thận trọng lời nói với cấp trên của họ. Ngài bị bắt khi thăm tù.

Trong lao tù, cha già Hoan dành rất nhiều giờ để giải tội, chúc lành và khích lệ các tín hữu. Nhận được Mình Thánh Chúa ở ngoài gửi vào, cha rước lễ và chia sẻ cho anh em. Chính cảm nghiệm: Bánh Trường Sinh, Lương thực Thiêng liêng sẽ ban sức mạnh cho mọi người mà người cha già, tay chân cũng mang xiềng, cổ cũng đeo gông và nắm chắc bản án vì đức tin, đã đến gặp từng người bạn sắp ra pháp trường để nói lời ủy lạo và ban cho họ "của ăn đàng".

Các ngài cũng tin rằng, việc cử hành Thánh lễ và rước lễ của người thân cũng là lời cầu nguyện cho sự tín trung của các ngài. Chính Cô Nụ khi đến thăm mẹ là Bà Đê đã được mẹ nhắc nhở: "con hãy về chuyển lời mẹ bảo anh chị con săn sóc việc nhà, vững tâm giữ đạo, sáng tối đọc kinh dâng lễ, cầu nguyện cho mẹ vác thánh giá đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con ta đoàn tụ trên Nước Thiên Đàng."

Cha Vinh Sơn Liêm đã viết cho giám mục Votaris: "con xin đức cha (và cha bề trên) cầu Thiên Chúa cho con trong thánh lễ và kinh nguyện, để mọi ngày con được nên hoàn thiện hơn và vui lòng nhận mọi sự khốn khó theo Thánh Ý Chúa."

4. Để lên đường hiến tế.

Đứng trước thập giá, bên cạnh nhiều người đã bỏ cuộc vẫn còn đó hàng trăm ngàn con người đã trung kiên đến cùng với niềm tin vào Chúa Kitô. Các ngài là những anh hùng của niềm tin. Không ai trong chúng ta phủ nhận điều đó. Nhưng, để làm nên chứng tích anh hùng, các ngài đã trải qua kinh nghiệm của những yếu đuối con người và Bánh Hằng Sống chính là sức mạnh giúp các ngài đi đến tận cùng hiến lễ.

Thánh Phaolo Đạt đã có lần quá khóa. Sau khi ăn năn trở lại, biết đến lúc bị bắt, ngài đã lánh mặt ít giờ để xưng tội và rước lễ lần cuối, rồi thản nhiên đi theo lính lên tỉnh. Hoặc Cha Giuse Hiển, tối ngày 20-12-1839, đi xức dầu cho ông đội đang hấp hối, bị một người ngoại giáo phát giác tố cáo. Thấy khó trốn thoát, cha cử hành một thánh lễ sốt sắng để chuẩn bị lãnh nhận phúc tử đạo.

Phần lớn các ngài, trong ngục tù, bằng cách này cách khác đều được nâng đỡ bởi Bánh Hằng sống: cha Laurensô Hưởng, Cha Loan, Thánh Phaolo Tống Viết Bường, Thánh Giuse Lê Đăng Thị, Cha Gioan Đạt, Thánh Cần, thánh Phêrô Qúy, Cha Federich Tế. . . được các linh mục đến giải tội cho rước lễ trước những ngày chịu hành hình.

Cũng có những trường hợp thật đặc biệt như thánh Anrê Trông. Khi biết tin có cha Ngôn đang hoạt động ở Phú Xuân, anh Trông liền xin viên cai ngục và được phép về nhà một ngày dưới sự giám sát của một người lính. Nhờ đã dò hỏi rõ nơi ở của vị linh mục, Anrê Trông và người lính chèo thuyền đến bến đò kia vào giữa trưa. Lúc đó, mọi người dân chài đã lên bờ ăn uống nghỉ ngơi. Anh Trông liền bước qua thuyền của cha Ngôn, đẩy thuyền trôi nhẹ ra giữa dòng. Hai người nhỏ to "tâm sự" và anh quỳ xuống lãnh phép lành tha tội. Xưng tội xong, anh xin ngỏ ý xin rước lễ. Cha Ngôn hẹn anh sáng hôm sau tại Kẻ Văn. Thế rồi anh và người lính tiếp tục chèo thuyền về Kim Long. Hai người lên bờ và ngủ tại nhà mẹ một đêm. . . . Tảng sáng hôm sau, anh Trông và người lính gác vội vã chèo thuyền đến điểm hẹn. Gặp lại vị khách quý, anh liền quỳ xuống lãnh nhận Mình Thánh Chúa. Cha Ngôn chúc lành: "Ước gì Mình Thánh Chúa Giêsu Kitô sẽ gìn giữ con đến cuộc sống muôn đời" anh thưa: "Amen". Rồi trong niềm hân hoan vì hồng phúc lãnh nhận, anh vui vẻ trở về trại giam như lời hứa với viên cai ngục.

Đối với các vị tử đạo, Thánh Thể chính là lương thực đích thực của các ngài. Các ngài ước ao, mong đợi lương thực từng ngày. Ngày lễ Các Thánh 1839, Cha Trân đưa Mình Thánh Chúa vào ngục. Vừa thấy ngài, cha Lạc đã ra chào đón: "xin chào bác, tôi đợi bác đã lâu vì hết lương thực rồi". Sau đó, cha cung kính rước lễ, và trao Mình Thánh Chúa cho cha già Thi. Ngày 21-12-1839, lần thứ hai khi cha Trân đưa Mình Thánh Chúa vào, cha Thi đã liệt giường, phải nhờ cha Dũng Lạc ra nhận và trao Thánh Thể. Ngày hôm đó là ngày cuối cùng cuộc đời dương thể của các ngài.

Khi đã có thứ lương thực tuyệt vời này, các ngài cảm nhận được niềm vui và sức mạnh thật sự để lên đường. Cha Triệu giả làm thường dân mang Mình Thánh Chúa cho thầy Phêrô Vũ Truật, thầy Đường và các bạn. Thầy Đường đã viết cho cha Marette trong thư: "Hôm nay là ngày trọng đại, chúng con được rước Mình Thánh Chúa. Xin tạ ơn Chúa đã viếng thăm và làm vơi nhẹ những xiềng xích của chúng con. . . cửa thiên đàng đã gần kề, nghĩ đến hạnh phúc đang chờ đợi, chúng con chẳng còn ước ao sự gì khác nữa. . . ".

Ba thánh Mai Năm, Nguyễn Đích Và Nguyễn Huy Mỹ, ngày 12-8-1838, khi biết vua Minh Mạng đã y án. Cả ba vui mừng hớn hở chuẩn bị tâm hồn lãnh nhận bí tích hòa giải và rước Mình Thánh Chúa cách sốt sắng để lên đường hiến tế.

Ngày 2-4-1839, cha Thánh Đaminh Tước đang dâng lễ, nghe tiếng động liền vội vàng cởi áo lễ, dự định chạy sang vườn tới một nhà khác. . . cha bị bắt, bị tra tấn dã man và ngày chiều hôm đó, cử hành Thánh Thể dở dang buổi sáng đã được kết thúc bằng chính hy lễ mạng sống của cha.

Cùng suy nghĩ:

1. Là con cháu của các Thánh Tử Đạo Việt nam, bạn và tôi, chúng ta có đang là những tông đồ Thánh Thể?

2. Giữa những kiếm tìm bánh đời thường hôm nay, tôi có cảm nghiệm được sự cần thiết của "Bánh Hằng sống"?

3. Thánh Thể - sức mạnh của chứng nhân Tin Mừng - tôi có cảm nghiệm được điều đó trong hành trình Loan báo Tin mừng hôm nay?

Tài liệu tham khảo:

1. Lm. Vinh Sơn Bùi Đức Sinh OP. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo, San Jose California-USA 2002.

2. Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam San Jose California -Hoa Kỳ, Thiên Hùng Sử, San Jose, CA-USA 1990.

Trích Website Người Tín Hữu

Trở về mục lục >>

 

DANH SÁCH và TIỂU SỬ SƠ LƯỢC

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Phong thánh: 19-06-1988 * Lễ Kính: 24 – 11 hằng năm

 

Trần Duy Nhiên sưu tầm

1. Giu-se Túc, Thiếu niên. Sinh năm 1852 tại Hoàng Xá, Bắc Ninh.

Tử Đạo 1.6.1862, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

 2.  Mát-thêu Lê Văn Gẫm, Thương gia. Sinh năm 1813 tại Gò Công, Biên Hòa.

Tử Đạo ngày 11.5.1847 tại Chợ Đũi, bị xử trảm đời vua Minh Mạng. 

 

3. Melchior Garcia Sampedro Xuyên, Giám Mục Dòng Đa-minh. Sinh 1821 tại Cortes, Asturias, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 28.7.1858 tại Nam Định, bị xử lăng trì đời vua Tự Đức. 

 

 4.  Francois Gil de Fedrich Tế, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1702 tại Tortosa, Cataluna, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 22.1.1745 tại Thăng Long, bị xử trảm đời chúa Trịnh Doanh. 

 

 5.  Đa-minh Nguyễn Văn Hạnh – Diệu, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1772 tại Năng A, Nghệ An. Tử Đạo ngày 1.8.1838 tại Ba Tòa, bị xử trảm đời vua Minh Mạng. 

 

 6.  Phao-lô Hạnh, Giáo Dân. Sinh năm 1826 tại chợ Quán, Gia Định.

Tử Đạo ngày 28.5.1859 tại Sài-gòn, bị xử trảm đời vua Tự Đức. 

 

7.  Đa-minh Henares Minh, Giám Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1765 tại Baena, Cordova, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 25.6.1838 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Minh Mạng. 

 

8.  Jeronimo Hermosilla Liêm, Giám Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1880 tại S. Domingo de la Calzadar, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 1.11.1861 tại Hải Dương, bị xử trảm đời vua Tự Đức. 

 

9.  Giu-se Đỗ Quang Hiển, Thầy Giảng. Sinh năm 1775 tại Đồng Chuối, Ninh Bình.

Tử Đạo ngày 9.5.1840 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Minh Mạng. 

 

10.  Phê-rô Nguyễn Văn Hiển, Thầy Giảng. Sinh năm 1783 tại Đồng Chuối, Ninh Bình.

Tử Đạo ngày 28.4.1840 tại Ninh Bình, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

11. Si-mon Phan Đắc Hòa, Y sĩ. Sinh năm 1878 tại Mai Vinh, Thừa Thiên.

Tử Đạo ngày 12.12.1840 tại An Hòa, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

12.  Gio-an Đoàn Trinh Hoan, Linh Mục. Sinh năm 1798 tại Kim Long, Thừa Thiên.

Tử Đạo ngày 26.5.1861 tại Đồng Hới, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

13.  Âu-tinh Phan Viết Huy, Binh Sĩ. Sinh năm 1795 tại Hạ Linh, Nam Định.

Tử Đạo ngày 12.6.1839 tại Thừa Thiên, bị xử lăng trì đời vua Minh Mạng. 

 

14.  Đa-minh Huyện, Giáo Dân.  Sinh năm 1817 tại Đông Thành, Thái Bình.

Tử Đạo ngày 5.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sinh đời vua Tự Đức.

 

15.  Lô-ren-sô Nguyễn Văn Hưởng, Linh Mục. Sinh năm 1802 tại Kẻ Sài, HàNội.

Tử Đạo ngày 13.2.1856 tại Ninh Bình, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

16.  Mi-ca-e Hồ Đình Hy, quan Thái Bộc. Sinh năm 1808 tại Như Lâm, Thừa Thiên.

Tử Đạo ngày 22.5.1857 tại An Hòa, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

17.  Francois Jaccard Phan, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris. Sinh năm 1799 tại Onnion, Annecy, Pháp. Tử Đạo ngày 21.9.1838 tại Nhan Biều, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

18.  Đa-minh Phạm Viết Khảm, quan Án, Dòng Ba Đa-minh. Sinh năm 1779 tại Quần Cống, Nam Định. Tử Đạo ngày 13.1.1859 tại Nam Định, bị xử giảo đời vua Tự Đức.

 

19.  Giu-se Nguyễn Duy Khang, Thầy Giảng, Dòng Ba Đa-minh. Sinh năm 1832 tại Trà Vinh, Nam Định. Tử Đạo ngày 6.12.1861 tại Hải Dương, bị xử trảm đời vua Tự Đức. 

 

20.  Phê-rô Phạm Khanh, Linh Mục. Sinh năm 1780 tại Hòa Huệ, Nghệ An.

Tử Đạo ngày 12.7.1842 tại Hà Tĩnh, bị xử trảm đời vua Thiệu Trị.

 

21.  Phê-rô Võ Đăng Khoa, Linh Mục. Sinh năm 1790 tại Thuận Nghĩa, Nghệ An.

Tử Đạo ngày 24.11.1840 tại Đồng Hới, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

22.  Phao-lô Phạm Khắc Khoan, Linh Mục. Sinh năm 1771 tại Duyên Mậu, Ninh Bình.

Tử Đạo ngày 28.4.1840 tại Ninh Bình, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

23.  Tô-ma Khuông, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1789 tại Nam Hào, Hưng Yên.

Tử Đạo ngày 30.1.1860 tại Hưng Yên, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

24.  Vinh-sơn Lê Quang Liêm, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1732 tại Trà Lũ, Nam Định.

Tử Đạo ngày 7.11.1773 tại Đồng Mơ, bị xử trảm đời chúa Trịnh Sâm.

 

25.  Lu-ca Vũ Bá Loan, Linh Mục. Sinh năm 1756 tại Trại Bút, Phú Đa.

Tử Đạo ngày 5.6.1840 tại Ô Cầu Giấy, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

26.  Pedro Almato Bình, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1830 tại San Feliz Saserra, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 1.11.1861 tại Hải Dương, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

27.  Matteo Alonzo Leciniana Đậu, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1702 tại Nava del Rey, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 22.1.1745 tại Thăng Long, bị xử trảm đời chúa Trịnh Doanh.

 

28.  Valentino Berrio Ochoa Vinh, Giám Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1827 tại Elorrio Vizcaya, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 1.11.1861 tại Hải Dương, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

29.  Jean Louis Bonnard Hương, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris. Sinh 1824 tại Saint-Christo-em-Jarez, Pháp. Tử Đạo ngày 1.5.1852 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

30.  Phao-lô Tống Viết Bường, quan Thị Vệ. Sinh tại Phủ Cam, Huế.

Tử Đạo ngày 23.10.1883 tại Thở Đúc, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

31.  Đa-minh Cẩm, Linh Mục Dòng Ba Đa-minh. Sinh tại Cẩm Chương, Bắc Ninh.

Tử Đạo ngày 11.3.1859 tại Hưng Yên, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

32.  Phan-xi-cô Xa-vi-ê Cần, Thầy Giảng. Sinh năm 1803 tại Sơn Miêng, Hà Đông.

Tử Đạo ngày 20.11.1837 tại Ô Cầu Giấy, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

33.  Giu-se Hoàng Lương Cảng, y sĩ, Trùm Họ, Dòng Ba Đa-minh. Sinh năm 1763 Làng Văn, Bắc Giang. Tử Đạo ngày 5.9.1838 tại Bắc Ninh, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

34.  Jacinto Castaneda Gia, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1743 tại Javita, Tây Ban Nha.

Tử Đạo ngày 7.11.1773 tại Đồng Mơ, bị xử trảm đời chúa Trịnh Sâm.

 

35.  Phan-xi-cô Đỗ Văn Chiểu, Thầy Giảng. Sinh năm 1797 tại Trung Lễ, Liên Thùy, Nam Định.

Tử Đạo ngày 12.6.1838 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

36.  Gio-an Bao-ti-xi-ta Còn, Lý trưởng. Sinh năm 1805 tại Kẻ Báng, Nam Định.

Tử Đạo ngày 8.11.1840 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

37.  Jean Charles Cornay Tân, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris. Sinh năm 1809 tại Loudun, Poitiers, Pháp. Tử Đạo ngày 20.9.1837 tại Sơn Tây, bị xử lăng trì đời vua Minh Mạng.

 

38.  Etienne Théodore Cuénot Thể, Giám Mục Hội Thừa Sai Paris.Sinh năm 1802 tại Bélieu, Besancon, Pháp. Tử Đạo ngày 14.11.1861 tại Bình Định, chết rũ tù đời vua Tự Đức.

 

39.  Clemente Ignatio Delgaho Hy, Giám Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1761 tại Villa Felice, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 21.7.1838 tại Nam Định, chết rũ tù đời vua Minh Mạng.

 

40.  Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Đắc, Trùm Họ. Sinh năm 1808 tại Kẻ Lái, Quảng Bình

Tử Đạo ngày 26.5.1861 tại Đồng Hới, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

41.  Jose Maria Diaz Sanjuro An, Giám Mục Dòng Đa-minh. Sinh 1818 tại Santa Eulalia de Suegos, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 20.7.1857 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

42.  Bê-na-đô Võ Văn Duệ, Linh Mục. Sinh năm 1755 tại Quần Anh, Nam Định.

Tử Đạo ngày 26.11.1839 tại Ba Tòa, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

43.  Pierre Dumoulin-Borie Cao, Giám Mục Hội Thừa Sai Paris. Sinh năm 1808 tại Beynat, Tulle, Pháp. Tử Đạo ngày 24.11.1838 tại Đồng Hới, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

44.  An-rê Trần An Dũng – Lạc, Linh Mục. Sinh năm 1795 tại Bắc Ninh.

Tử Đạo ngày 21.12.1839 tại Ô Cầu Giấy, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

45.  Phê-rô Dũng, Giáo Dân. Sinh tại Đông Hào, Thái Bình.

Tử Đạo ngày 6.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sống đời vua Tự Đức.

 

46.  Vinh-sơn Dương, Giáo Dân. Sinh tại Doãn Trung, Thái Bình.

Tử Đạo ngày 6.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sống đời vua Tự Đức.

 

47.  Phao-lô Vũ Văn Dương – Đổng, Giáo Dân. Sinh năm 1792 tại Vực Đường, Hưng Yên.

Tử Đạo ngày 3.6.1862 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

48.  Phê-rô Đa, Giáo Dân. Sinh tại Ngọc Cục, Nam Định.

Tử Đạo ngày 17.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sống đời vua Tự Đức.

 

49.  Đa-minh Đinh Đạt, Binh sĩ. Sinh năm 1803 tại Phú Nhai, Nam Định.

Tử Đạo ngày 18.7.1839 tại Nam Định, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

50.  Gio-an Đạt, Linh Mục. Sinh năm 1765 tại Đồng Chuối, Thanh Hóa.

Tử Đạo ngày 28.10.1798 tại chợ Rạ, bị xử trảm đời vua Cảnh Thịnh.

 

51.  Mát-thêu Nguyễn Văn Đắc-Phượng, Trùm Họ. Sinh tại Kẻ Lai, Quảng Bình.

Tử Đạo ngày 26.5.1861, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

52.  Tô-ma Nguyễn Văn Đệ, Giáo Dân. Sinh năm 1810 tại Bồ Trang, Nam Định.

Tử Đạo ngày 19.12.1839 tại Cổ Mê, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

53.  An-tôn Nguyễn Đích, Giáo Dân. Sinh tại Chi Long, Hà Nội.

Tử Đạo ngày 12.8.1838 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

54.  Vinh-sơn Nguyễn Thế Điểm, Linh Mục. Sinh năm 1761 tại Ân Đô, Quảng Trị.

Tử Đạo ngày 24.11.1838 tại Đồng Hới, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

55.  Phê-rô Trương Văn Đường, Thầy Giảng. Sinh năm 1808 tại Kẻ Sở, Hà Nam.

Tử Đạo ngày 18.12.1838 tại Sơn Tây, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

56. Jose Fernandez Hiền, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1775 tại Ventosa de la Cueva, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 24.7.1838 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

57.  Francois Isidore Gagelin Kính, Linh Mục Thừa Sai Paris. Sinh năm 1799 tại Montperreux, Besancon, Pháp. Tử Đạo ngày 17.10.1833 tại Bãi Dâu, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

58.  Phao-lô Lê Văn Lộc, Linh Mục. Sinh năm 1830 tại An Nhơn, Gia Định.

Tử Đạo ngày 13.2.1859 tại Gia Định, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

59.  Giu-se Nguyễn Văn Lựu, Trùm Họ. Sinh năm 1790 tại Cái Nhum, Vĩnh Long.

Tử Đạo ngày 2.5.1854 tại Vĩnh Long, chết rũ tù đời vua Tự Đức.

 

60.  Phê-rô Nguyễn Văn Lựu, Linh Mục. Sinh năm 1812 tại Gò Vấp, Gia Định.

Tử Đạo ngày 7.4.1861 tại Mỹ Tho, bị xử trả đời vua Tự Đức.

 

61.  Đa-minh Mạo, Giáo Dân. Sinh năm 1818 tại Ngọc Cục, Nam Định.

Tử Đạo ngày 16.6.1862 tại Làng Cốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

62.  Joseph Marchand Du, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris. Sinh năm 1803 tại Passavaut, Besancon, Pháp. Tử Đạo ngày 30.11.1835 tại Thợ Đúc, xử bá đao đời vua Minh Mạng.

 

63.  Đa-minh Mầu, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1808 tại Phú Nhai, Nam Định.

Tử Đạo ngày 5.11.1858 tại Hưng Yên, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

64.  Phan-xi-cô Xa-vi-ê Hà Trọng Mậu, Thầy Giảng, Dòng Ba Đa-minh. Sinh năm 1790 tại Kẻ Riền, Thái Bình. Tử Đạo ngày 19.12.1839 tại Cổ Mễ, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

65.  Phi-líp-phê Phan Văn Minh, Linh Mục. Sinh năm 1815 tại Cái Mơn, Vĩnh Long. Tử Đạo ngày 3.7.1853 tại Đinh Khao, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

66.  Âu-tinh Nguyễn Văn Mới, Giáo Dân, Dòng Ba Đa-minh. Sinh năm 1806 tại Phú Trang, Nam Định. Tử Đạo ngày 19.12.1839 tại Cổ Mễ, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

67.  Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ, Lý trưởng. Sinh năm 1804 tại Kẻ Vĩnh, Hà Nội.

12.8.1838 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

68.  Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ, Thầy Giảng. Sinh năm 1798 tại Kẻ Non, Hà Nam.

Tử Đạo ngày 18.12.1838 tại Sơn Tây, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

69. Gia-cô-bê Đỗ Mai Năm, Linh Mục. Sinh năm 1781 Đông Biên, Thanh Hóa.

Tử Đạo ngày 12.8.1838 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

70.  Pierre Francois Néron Bắc, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris. Sinh năm 1818 tại Bornay, Saint-Claude, Pháp. Tử Đạo ngày 3.11.1860 tại Sơn Tây, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

71.  Phao-lô Nguyễn Ngân, Linh Mục. Sinh năm 1771 tại Kẻ Biên, Thanh Hóa.

Tử Đạo ngày 8.11.1840 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

72.  Giu-se Nguyễn Đình Nghi, Linh Mục. Sinh năm 1771 tại Kẻ Vồi, Hà Nội.

Tử Đạo ngày 8.11.1840 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

73.  Lô-ren-sô Ngôn, Giáo Dân. Sinh tại Lục Thủy, Nam Định.

Tử Đạo ngày 22.5.1862 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

74.  Đa-minh Nguyên, Giáo Dân. Sinh năm 1802 tại Ngọc Cục, Nam Định.

Tử Đạo ngày 16.6.1862 tại Làng Cốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

75.  Đa-minh Nhi, Giáo Dân. Sinh tại Ngọc Cục, Nam Định.

Tử Đạo ngày 16.6.1862 tại Làng Cốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

76.  Đa-minh Ninh, Giáo Dân. Sinh năm 1835 tại Trung Linh, Nam Định.

2.6.1862 tại An Triêm, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

77.  Em-ma-nu-en Lê Văn Phụng, Trùm Họ. Sinh 1796 tại Đầu Nước, Cù Lao Giêng, An Giang

Tử Đạo ngày 31.7.1859 tại Châu Đốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

78.  Phê-rô Đoàn Công Quý, Linh Mục. Sinh năm 1826 tại Búng, Gia Định.

Tử Đạo ngày 31.7.1859 tại Châu Đốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

79.  An-tôn Nguyễn Hữu Quynh, Y sĩ.  Sinh năm 1768 tại Mỹ Hương, Quảng Bình.

Tử Đạo ngày 10.7.1840 tại Đồng Hới, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

80.  Augustin Schoeffler Đông, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris. Sinh năm 1822 tại Mittelbonn, Nancy, Pháp. Tử Đạo ngày 1.5.1851 tại Sơn Tây, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

81.  Giu-se Phạm Trọng Tả, Cai tổng. Sinh năm 1800 tại Quần Cống, Nam Định.

Tử Đạo ngày 13.1.1859 tại Nam Định, bị xử giảo đời vua Tự Đức.

 

82.  Gio-an Bao-ti-xi-ta Đinh Văn Thành, Thầy Giảng. Sinh năm 1796 tại Nôn Khê, Ninh Bình.

Tử Đạo ngày 28.4.1840 tại Ninh Bình, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

83.  A-nê Lê Thị Thành – Đê, Giáo Dân.  Sinh năm 1781 tại Bá Đền, Thanh Hóa.

Tử Đạo 12.7.1841 tại Nam Định, chết rủ tù đời vua Thiệu Trị.

 

84.  Ni-cô-la Bùi Đức Thể, Binh sĩ. Sinh năm 1792 tại Kiên Trung, Nam Định.

Tử Đạo ngày 12.6.1839 tại Thừa Thiên, bị xử lăng trì đời vua Minh Mạng.

 

85.  Phê-rô Trương Văn Thi, Linh Mục. Sinh năm 1763 tại Kẻ Sở, Hà Nội

Tử Đạo 21.12.1839 tại Ô Cầu Giấy, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

86.  Giu-se Lê Đăng Thi, Cai đội. Sinh năm 1825 tại Kẻ Văn, Quảng Trị.

Tử Đạo ngày 25.10.1860 tại An Hòa, bị xử giảo đời vua Tự Đức.

 

87.  Tô-ma Trần Văn Thiện, Chủng Sinh. Sinh năm 1820 tại Trung Quán, Quảng Bình.

Tử Đạo ngày 21.9.1838 tại Nhan Biều, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

88.  Lu-ca Phạm Trọng Thìn, cai tổng. Sinh năm 1819 tại Quần Cống, Nam Định.

Tử Đạo ngày 13.1.1859 tại Nam Định, bị xử giảo đời vua Tự Đức.

 

89.  Mác-ti-nô Tạ Đức Thịnh, Linh Mục. Sinh năm 1760 tại Kẻ Sặt, Hà Nội

Tử Đạo 8.11.1840 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

90.  Ma-ri-nô Thọ, Trùm Họ.  Sinh năm 1787 tại Kẻ Báng, Nam Định.

Tử Đạo 8.11.1840 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

91.  An-rê Nguyễn Kim Thông – Năm Thuông, Giáo Dân. Sinh năm 1790 tại Gò Thị, Bình Định. Tử Đạo 15.7.1855 tại Mỹ Tho, chết rủ trong tù đời vua Tự Đức.

 

92.  Phê-rô Thuần, Giáo Dân.  Sinh tại Đông Phú, Thái Bình.

Tử Đạo 6.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sống đời vua Tự Đức.

 

93.  Phao-lô Lê Bảo Tịnh, Linh Mục. Sinh năm 1793 tại Trịnh Hà, Thanh Hoá.

Tử Đạo 6.4.1857 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

94.  Đa-minh Toái, Giáo Dân. Sinh năm 1811 tại Đông Thành, Thái Bình.

Tử Đạo 5.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sống đời vua Tự Đức.

 

95.  Tô-ma Toán, Thầy Giảng Dòng Ba Đa-minh. Sinh năm 1767 tại Cần Phan, Nam Định.

Tử Đạo 27.6.1840 tại Nam Định, chết rủ trong tù đời vua Minh Mạng.

 

96.  Đa-minh Trạch Đoài, Linh Mục Dòng Đa-minh.  Sinh năm 1772 tại Ngoại Vối, Nam Định.

Tử Đạo ngày 18.9.1840 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

97.  Em-ma-nu-en Nguyễn Văn Triệu, Linh Mục.  Sinh năm 1756 tại Thợ Đúc, Phú Xuân, Huế.

Tử Đạo ngày 17.9.1798 tại Bãi Dâu, bị xử trảm đời vua Cảnh Thịnh.

 

98.  An-rê Trần Văn Trông, Binh sĩ.  Sinh năm 1808 tại Kim Long, Huế.

Tử Đạo ngày 28.11.1835 tại An Hoà, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

99.  Phê-rô Vũ Văn Truật, Thầy Giảng.  Sinh năm 1816 tại Kẻ Thiếc, Hà Nam.

Tử Đạo ngày 18.12.1838 tại Sơn Tây, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

100.  Phan-xi-cô Trần Văn Trung, Cai đội.  Sinh năm 1825 tại Phan Xá, Quảng Trị.

Tử Đạo ngày 2.5.1858 tại An Hoà, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

101.  Giu-se Tuân, Linh Mục Dòng Đa Minh. Sinh năm 1821 tại Trần Xá, Hưng Yên.

Tử Đạo ngày 30.4.1861 tại Hưng Yên, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

102.  Phan-xi-cô Trần Văn Trung, Cai đội. Sinh năm 1825 tại Phan Xá, Quảng Trị.

Tử Đạo ngày 2.5.1858 tại An Hoà, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

103.  Phê-rô Nguyễn Bá Tuần, Linh Mục.  Sinh năm 1766 tại Ngọc Đồng, Hưng Yên.

Tử Đạo 15.7.1838 tại Nam Định, chết rủ tù đời vua Minh Mạng.

 

104.  Phê-rô Lê Tù, Linh Mục. Sinh năm 1773 tại Bằng Sơn, Hà Đông.

Tử Đạo ngày 11.10.1833 tại Quan Ban, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

105.  Phê-rô Nguyễn Văn Tự, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1796 tại Ninh Cường, Nam Định. Tử Đạo ngày 5.9.1838 tại Bắc Ninh, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

106.  Phê-rô Nguyễn Khắc Tự, Thầy Giảng.  Sinh năm 1811 tại Ninh Bình.

Tử Đạo ngày 10.7.1840 tại Đồng Hới, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

107.  Đa-minh Tước, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1775 tại Trung Lao, Nam Định.

Tử Đạo ngày 2.4.1839 tại Nam Định, tra tấn đến chết đời vua Minh Mạng.

 

108.  An-rê Tường, Giáo Dân.  Sinh năm 1812 tại Ngọc Cúc, Nam Định.

Tử Đạo 16.6.1862 tại Làng Cốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

109.  Vinh-sơn Tường, Giáo Dân. Sinh năm 1814 tại Ngọc Cục, Nam Định.

Tử Đạo 16.6.1862 tại Làng Cốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

110.  Đa-minh Bùi Văn Úy, Thầy Giảng Dòng Ba Đa-minh. Sinh năm 1801 tại Tiên Môn, Thái Bình. Tử Đạo 19.12.1839 tại Cổ Mễ, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

111.  Giu-se Nguyễn Đình Uyển, Thầy Giảng Dòng Ba Đa-minh. Sinh năm 1775 tại Ninh Cường, Nam Định. Tử Đạo 4.7.1838 tại Hưng Yên, chết rũ tù đời vua Minh Mạng.

 

112.  Phê-rô Đoàn Văn Vân, Thầy Giảng. Sinh năm 1780 tại Kẻ Bói, Hà Nam.

Tử Đạo ngày 25.5.1857 tại Sơn Tây, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

113.  Jean Theophane Vénard Ven, Linh Mục Hội Thừa Sai Pháp.  Sinh năm 1829 tại St. Loup-sur-Thouet, Poitiers, Pháp. Tử Đạo ngày 2.2.1861 tại Ô Cầu Giấy, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

114.  Giu-se Đặng Văn Viên, Linh Mục. Sinh năm 1787 tại Tiên Chu, Hưng Yên.

Tử Đạo ngày 21.8.1838 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

115.  Stê-pha-nô Nguyễn Văn Vinh, Giáo Dân, Dòng Ba Đa Minh. Sinh năm 1814 tại Phú Trang, Nam Định. Tử Đạo ngày 19.12.1839 tại Cổ Mễ, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

116.  Đa-minh Nguyễn Văn Xuyên, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1786 tại Hưng Lập, Nam Định. Tử Đạo ngày 26.11.1839 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời Vua Minh Mạng.

 

117. Vinh-sơn Đỗ Yến, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1764 tại Trà Lũ, Nam Định.

Tử Đạo ngày 30.6.1838 tại Hải Dương, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

Trở về mục lục >>

MỪNG KÍNH LỄ CHÚA KITÔ VUA

ĐỨC KITÔ LÀ VUA HAY LÀ TRƯỞNG TỬ

Khổng Nhuận 

Tôi đã tham dự lễ Kitô Vua nhiền lần và bài thánh ca: Ôi Giêsu, Chúa Giêsu là vua, Chúa muôn thủa là Vua muôn vua… gần như trở thành bài hát truyền thống cả mấy chục năm gần đây. Hình ảnh Vua muôn vua khiến cho tôi luôn nghĩ về một ông Vua làm bá chủ muôn loài và mọi người là thần dân của Ngài hoặc là thảo dân của Ngài – dân hèn mạt như cây cỏ hoang dại trước vị Vua cao sang ngàn trùng thánh đức trên chín tầng mây xanh thẳm.

Thực vậy, khi nói tới Đức Giêsu là tôi nghĩ ngay tới ông Chúa thánh thiện, ông Vua oai phong tuyệt đối. Mở miệng ra là: Lạy Chúa Giêsu đã lạy rồi thì chỉ còn biết quỳ mọp xuống mãi, lấy tư cách gì mà đứng lên được. Hơn nữa, lại lạy ông Chúa – Vua muôn vua, Chúa các chúa - nên khoảng cách giữa Chúa và tôi còn bị đẩy lùi xa đến nỗi tôi trở thành vật mọn phàm hèn, chẳng đáng Chúa ngự vào lòng.

              Vì thế, tuy ngoài miệng ông ổng hát Chúa Giêsu là Vua nhưng trong cuộc sống thường ngày, tôi chẳng khi nào coi Ngài là Vua của đời tôi. Bằng chứng rõ ràng là mạnh tôi, tôi sống, mạnh Ngài, Ngài sống, đường ai nấy đi, chẳng có liên quan gì với nhau. Tôi có con đường của tôi: ăn, ngủ, chơi, học, kiếm tiền, giải trí … Tôi tự mình cũng dư sức làm, đâu cần sự giúp đỡ của Ngài. Cuộc sống cứ chảy trôi theo nhịp điều bình thường. Chỉ khi nào khó khăn xảy ra, tôi mới vội chạy tới Mẹ Maria - chứ không chạy tới Vua Kitô. Vì tôi nghe nói xin Đức Mẹ dễ được nhận lời hơn - tấm lòng người Mẹ dễ bao dung và dễ mủi lòng hơn - còn Chúa cao sang quá, tôi lại thật thấp hèn. Việc Chúa nhận lời cũng khó như hoàng đế trần gian chuẩn tấu cho một tên thảo dân vô danh tiểu tốt như tôi.

              Nhưng theo ánh mắt Tâm linh, tôi xin chia sẻ về hai hình ảnh trong Đức Kitô : Trưởng tử và vị Vua.

ĐỨC KITÔ LÀ TRƯỞNG TỬ

Tôi còn nhớ rõ ngày tôi tham dự lễ Kitô Vua do nhóm Phục vụ Hôn Nhân Gia Đình của nhà thờ Chánh Toà tổ chức tại tu hội Naza. Lần đầu tiên tôi mới để ý tới Bài đọc 2: Thư Côlôxê 1:12-20, có 2 câu khiến tôi ngạc nhiên:

Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình,
trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo,
Người là khởi nguyên,
trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại

              Không ngạc nhiên sao được, vì trước đó, chưa bao giờ tôi nghĩ tới một hình ảnh người anh cả thân thương trong thánh lễ Đức Kitô Vua oai phong lẫm liệt.

Hôm nay tôi xin chia sẻ 3 đặc điểm của Anh cả Giêsu thân yêu của chúng ta dựa trên nền tảng Kinh Thánh: Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. (Rm 8:29)

1.                    Đức Kitô là hình ảnh Thiên Chúa vô hình.

Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, mà tôi cũng mang hình ảnh Thiên Chúa nên tất nhiên tôi đồng hình đồng dạng với Con của Ngài. Đây là một trong những điều mà tôi rất tâm đắc. Tôi đã chia sẻ khám phá tuyệt vời này trong những bài trước và cũng xin được phép nhắc đi nhắc lại trong những bài sau này. Đây không phải là trường hợp biết rồi, khổ lắm nói mãi. Nhưng vì đó là một trong những nền tảng để xây dựng toà nhà tâm linh, con đường Linh Đạo. Và mỗi lần nhắc lại là một lần chính bản thân tôi xác tín hơn. Nếu không có nền tảng này, tôi sẽ trở thành một tên mù sờ voi chính hiệu. Ý Chúa muốn nói con voi mà tôi lại cứ khư khư bảo rằng đó là cái cột đình.

Trước đây, tôi chỉ nghe về Hình ảnh Thiên Chúa qua bài đọc 1 trong Thánh lễ Vọng Phục sinh nói về cuộc sáng tạo của Thiên Chúa. Hơn 30 lễ phục sinh qua đi nhưng tôi vẫn ngủ yên trong tâm tưởng tôi là con người có hồn có xác với đầy đủ đặc tính phàm nhân – đó là hình ảnh con người 100%. Không thấy đâu bóng dáng của hình ảnh Thiên Chúa. Chính vì thế, tôi nói năng như con người, hiểu biết như con người, suy nghĩ như con người và tất nhiên là sống một đời con người bình thường như bất cứ một người chưa từng biết Chúa, trừ một vài biểu hiện bên ngoài như đi lễ Chúa nhật, làm dấu thánh giá trong quán ăn để chứng tỏ mình là con nhà có đạo.

2.         Đức Kitô là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo.

Trước đây, tôi luôn tin rằng: Chúa Cha chỉ sinh ra Đức Giêsu Chúa Cha yêu thương Chúa con sinh ra Chúa Thánh Thần. Còn tất cả mọi loài khác như loài người và mọi loài, mọi vật khác đều do Chúa dựng nên. Tôi chỉ được xếp cùng với loài thọ tạo theo kiểu cá mè một lứa - vật được tạo thành - Vật chứ không phải là Người.

Mãi sau này đọc Kinh Thánh tôi mới té ngửa, thì ra có cả hàng chục câu nói về tư cách là con yêu dấu của Chúa. Tôi xin phép trích ra một số câu tượng trưng.

Họ được sinh ra, không phải do khí huyết,
cũng chẳng do ước muốn của nhục thể,
hoặc do ước muốn của người đàn ông,
nhưng do
bởi Thiên Chúa.(Ga 1:13)

Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào:
Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa
-mà
thực sự chúng ta là con Thiên Chúa.(1Ga 3:1)

Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau,
vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa.
Phàm ai yêu thương, thì đã
được Thiên Chúa sinh ra,
và người ấy biết Thiên Chúa.(1Ga 4:7)

Phàm ai tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô,
kẻ ấy đã
được Thiên Chúa sinh ra.
Và ai yêu mến Đấng sinh thành,
thì cũng yêu thương
kẻ được Đấng ấy sinh ra.(1Ga 5:1)

Tin vào những Lời Chúa trên đây, tôi vui mừng nhận ra rằng tôi không còn là vật nữa, mà tôi chính là con yêu dấu của Cha. Chắc chắn rằng ngày tôi chịu Bí Tích Thánh Tẩy, Chúa Cha cũng phán với tôi y như đã phán với Anh cả Giêsu: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Và phải đợi hơn ba mươi năm sau tôi mới nghe được câu tiếp theo: Ta hài lòng về con."  - dù rằng hiện tại tôi chưa hoàn thiện nhưng bản chất của tôi luôn luôn và mãi mãi là con yêu dấu của Cha. Ngài luôn hài lòng về tôi không phải vì công trạng của tôi nhưng chỉ vì tôi mang hình ảnh Ngài, là đền thờ của Chúa Ba Ngôi. Cho dù hiện nay, lâu lâu ngôi đền thờ cũng biến thành hang trộm cướp qua những lỗi phạm, loạng quạng, vấp ngã bởi vì suốt hơn ba mươi năm tôi đã bị nhiễm thói đời quá nặng, nhưng theo ánh mắt của Chúa, tôi mãi mãi là con yêu dấu của Cha. Người ta đã kể câu chuyện về một người mẹ khóc thương thằng con cướp của giết người, sau khi bị xử bắn. Mặc cho người đời nguyền rủa nhưng theo ánh mắt yêu thương của bà thì “Nó vẫn là đứa con do tôi đứt ruột đẻ ra”. Chúa còn bao dung hơn nhiều, với tình yêu vô biên, Ngài đâu thèm nhìn vào lỗi lầm của tôi, mà Ngài chỉ thấy tôi là một đứa con yêu dấu của Ngài do chính Ngài sinh ra - Đứa con đã được sinh ra từ trái tim thổn thức yêu thương của Ngài.

Nhờ ý thức bản chất con yêu dấu của Ngài với cả kho sức mạnh Thần Khí Thiên Chúa trong mình.  Tôi trỗi dậy rất nhanh và dễ dàng. Tôi không con lần lữa, lưỡng lự, nuối tiếc những quyến rũ thế gian mời mọc, với những lý luận cù nhầy nhưng lại nghe có vẻ rất hữu lý như thời con người cũ - một con người thường xuyên bị những ham muốn lừa dối.

Thí dụ như: “Ồ, đâu phải chỉ có một mình mình, cả hàng ngàn, hàng vạn, thậm chí hàng triệu người cũng làm như vậy, có chết chóc gì đâu.” “Chỉ thử một tí thôi mà, chẳng có tội lỗi gì đâu”. “Chẳng ai thấy đâu mà sợ, cứ làm tới đi.” … Và tất nhiên là tôi cứ từ từ từng bước nghe theo những lời dụ dỗ ngọt ngào và rơi vào tình trạng tội lỗi lúc nào không hay. Cứ như thế, không chỉ một vài lần mà cái cảnh cám dỗ kiểu đó diễn đi diễn lại trong tôi cả chục, cả trăm lần. Và tôi hầu như bại trận tới 95%, giỏi lắm mới thoát được trong 5% mong manh.

Nhưng từ khi đón nhận Đức Kitô là Anh cả, tôi cảm thấy Ngài rất gần gũi. Tôi dễ dàng cá nhân hoá lối sống của Ngài và nội tâm hoá những lời Ngài giảng dạy, những cảm nghiệm sống động của Ngài về Chúa Cha. Và rồi, sau một thời gian, cảm nghiệm đồng hình đồng dạng với Con của Ngài đã trở thành hiện thực ngay trong cuộc đời thường, giữa chốn trần gian khổ ải với biết bao hiểm nguy giăng mắc và con đường lởm chởm gai chông.

3.                    Đức Kitô là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại.

 Tôi còn nhớ rất rõ thời gian mò mẫm đi tìm Ngài, tôi đã suy tư trăn trở về chủ đề sự sống đời đời và trong lúc đọc Kinh Thánh tôi đã khám phá ra một số câu giúp tôi trỗi dậy từ cõi chết.

Thật, tôi bảo thật các ông: ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống. (Ga 5:24)

Thật là một an ủi lớn lao. Tôi đang lắng nghe lời Ngài, đang nội tâm hoá Lời Ngài. Nhờ Lời Chúa thấm vào lòng mình, tôi rất khoái chí vì biết được mình sẽ không bị xét xử - mà đã từ cõi chết bước vào cõi sống. Lúc đó tôi chưa cảm nhận được sự sống đời đời như thế nào, nhưng nguyên cái chuyện không bị xét xử đã làm tôi sướng run cả lên rồi. Trước đó, tôi đã tưởng tượng ra viễn cảnh u ám thê lương: khi mình vừa trút hơi thở cuối cùng, tôi sẽ phải lếch thếch trong tấm áo linh hổn nhầu nát đầy bùn nhơ tới trình diện Ngài thẩm phán chí công. Và tôi nắm chắc phần thua trông thấy khi biết mình sẽ phải chịu phạt trong lửa luyện ngục một thời gian rất dài… kinh khủng quá!!!

Một thời gian sau, khi tìm hiểu về Thần Khí, tôi lại bắt gặp một câu khác.

Vậy giờ đây, những ai ở trong Đức Kitô Giêsu, thì không còn bị lên án nữa. Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Ki-tô Giê-su, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết (Rm 8,1-2)

 Lần này là sướng thật rồi nhé. Tôi đang tập sống nên một với Đức Kitô trong Thần Khí Thiên Chúa và nên 2 câu trên đối với tôi là một khám phá tuyệt vời. Tôi không còn sợ bị lên án nữa – và nhất là - tôi đã được giải thoát khỏi luật của sự tôi và sự chết (hình ảnh của hoả ngục). Và tôi thấy mình quả thực đang từ cõi chết bước vào cõi sống - nơi đầy ánh sáng huyền diệu. Nhờ đó, tôi cảm nhận quả thực Đức Kitôtrưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại,

Để hình ảnh người Anh cả Giêsu rõ nét hơn, tôi xin minh hoạ thêm cảm nhận của thánh Phaolô trong thư Do Thái chương 2, theo dịch giả Ansơn Vị:

Đấng thánh hóa và các người được thánh hóa hết thảy đều có cùng một Cha. Nên Đức Giêsu đã không xấu hổ kêu họ là em, mà nói: ‘Con sẽ rao danh Cha cho các em con. Con sẽ tán dương Cha ở giữa cộng đoàn’…Nên Người phải giống các em mình trong mọi sự.

Chính Đức Giêsu đã tuyên bố: "Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em".(Ga 20:17)

ĐỨC KITÔ LÀ VUA

Những chia sẻ về Đức Kitô - Trưởng tử có lẽ khiến cho một số quý độc giả đọc tới đây nghĩ thầm: Tên này chắc rối đạo tới nơi rồi, dám cả gan phế bỏ tước hiệu Đức Kitô Vua mà Giáo Hội đã long trọng mừng kính vào Chúa nhật cuối năm phụng vụ. Xin thưa, xin thưa: hoàn toàn không phải vậy, hoàn toàn không phải vậy.

Tôi chỉ muốn xác tín điều này: đối với tôi hiện giờ, Đức Kitô không còn phải là vua cao sang quyền thế xa lạ theo quan niệm con người ngày xưa của tôi nữa, nhưng hiện nay Ngài là Vua của lòng tôi theo ánh mắt tâm linh.

Tôi xin phép được nhắc lại lời Đức Kitô khẳng định: Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình (Ga 14:10)

Với ánh mắt của Đức Giêsu thì Chúa Cha là ông chủ đích thực, Chúa Cha là người làm chủ hành động của mình. Nói các khác,  Chúa Cha rõ ràng là Vua của lòng Đức Kitô,

Thánh Phaolô cũng để lại một kinh nghiệm nổi tiếng: Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. (Gl 2:20)

Với ánh mắt của Phaolô thì Đức Kitô là ông chủ đích thực, Đức Kitô là người làm chủ hành động của Phaolô. Nói cách khác, Đức Kitô hiển nhiên là Vua của lòng Phaolô,

Thế thì tôi cũng vậy, theo ánh mắt tâm linh, Đức Kitô người làm chủ hành động của tôi. Nói cách khác, Đức Kitô đích thực là Vua của lòng tôi.

Tóm lại, nhân dịp lễ Đức Kitô Vua, tôi xin chia sẻ hình ảnh về Đức Kitô mà tôi thực sự tâm đắc, đó là Đức Kitô: vừa là người Anh cả vừa là Vua đích thực trong lòng của mỗi người Kitô hữu chúng ta.

Trở về mục lục >>

 

ĐỨC GIÊSU ĐÃ LÀ VUA CỦA CHÍNH BẠN CHƯA?

 

Huyền Vi

1. Đức Giêsu là Vua, nhưng là vua theo nghĩa nào?

Trên trần gian này, có nhiều cách làm vua. Có những vị vua hay tổng thống cai trị đất nước với quyền lực trong tay, ngồi trên ngai vàng và ra lệnh, buộc các thần dân phải tuân phục. Có những vị vua không ngai, không lãnh thổ, nhưng làm chủ một lãnh vực kinh tế nào đó trên thế giới. Họ cũng được gọi là vua, như vua dầu lửa (Rockfeller), vua xe hơi (Ford), v. v…

Hôm nay, Giáo Hội suy tôn Đức Giêsu là Vua, không phải chỉ của thế giới này, mà của toàn vũ trụ. Nhưng chúng ta cần phải xác định xem: Ngài là Vua theo nghĩa nào? Vì quả thật Ngài chưa bao giờ làm vua theo kiểu các vua chúa ở trần gian, cũng chưa bao giờ làm chủ một lãnh vực kinh tế nào. Ngài là Vua theo một nghĩa hoàn toàn khác.

2.  Một phần ba nhân loại tôn Ngài là Vua của tâm hồn mình.

Hiện nay trên thế giới, 34,86% nhân loại – tức khoảng 2 tỷ trên 6 tỷ người – là Kitô hữu thuộc nhiều giáo phái khác nhau (Công giáo, Tin Lành, Chính Thống…). Họ là những người theo Ngài, làm môn đệ Ngài, đồng thời nhìn nhận Ngài là lẽ sống, là gương mẫu hoàn hảo nhất cho cuộc đời mình, và coi giáo huấn của Ngài là kim chỉ nam cho mọi hành động của mình. Họ theo Ngài chủ yếu không phải vì giáo huấn của Ngài cao siêu, vì nhân cách của Ngài đáng phục nhất (mặc dù họ tin đích thực là như vậy). Họ theo Ngài vì họ tin Ngài là Con Thiên Chúa, là thần linh cao cả vô cùng, lại là người yêu thương họ hơn bất kỳ ai khác trên đời, yêu họ đến nỗi sẵn sàng đau khổ và chết cho họ. Nhất là Ngài là người duy nhất có thể đem lại hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu cho họ.

Bài Tin Mừng trong lễ Đức Giêsu Vua Vũ Trụ (Lc 23,35-43) cho thấy một cảnh tượng cảm động chứng tỏ tình yêu thương vô bờ bến của Ngài đối với nhân loại. Ngài đã chấp nhận một cái chết thật đau khổ và nhục nhã, giữa sự chế giễu của mọi người, vì yêu thương con người. Và câu cuối cùng của bài Tin Mừng là «Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng» cho thấy Ngài có khả năng ban hạnh phúc vĩnh cửu cho con người. Ngài có thể ban hạnh phúc vĩnh cửu cho chúng ta, cho dẫu chúng ta tội lỗi đến đâu, miễn là chúng ta thành tâm sám hối và liên kết chặt chẽ với Ngài.

Tin và cảm nhận được tình yêu thương vô bờ bến của Ngài, nhiều Kitô hữu đã tự nguyện đáp lại bằng tình yêu thương của họ. Thế là cuộc đời họ trở nên hạnh phúc và mang một ý nghĩa cao đẹp vì yêu và biết mình được yêu. Tương tự như một cô gái yếu đuối hèn mọn được một chàng trai cao sang để ý yêu thương, yêu thương đến độ sẵn sàng hy sinh tất cả cho mình, kể cả mạng sống. Thế là cô thấy đời mình hạnh phúc và có ý nghĩa hoàn toàn khác trước. Để đáp lại tình yêu cao cả ấy, cô tự nguyện dâng hiến đời mình cho chàng, làm tất cả những gì chàng muốn để chàng được hạnh phúc. Hạnh phúc lớn nhất của nàng là được biết chàng hạnh phúc, vì chính chàng cũng đối xử như thế với nàng. Chàng trở thành vua lòng nàng, và nàng trở thành hoàng hậu của lòng chàng.

Biết bao Kitô hữu trên đời đã có một tình yêu song phương như thế đối với Đức Giêsu. Đối với họ, Đức Giêsu chính là vị Vua duy nhất của lòng họ, chiếm trọn vẹn trái tim họ. Họ đã hiến trọn cuộc đời mình để phụng sự Ngài nơi những hiện thân cụ thể của Ngài là những người chung quanh họ, những người họ gặp trong cuộc đời, nhất là những người nghèo khổ nhất, bị bỏ rơi hoặc chịu áp bức bất công nhất trên đời.

Với họ, tình yêu đối với Đức Giêsu được biến thành tình yêu đối với tha nhân. Vì Đức Giêsu đã nhiều lần tự đồng hóa Ngài với những người nhỏ bé nhất, đau khổ nhất trên đời (xem Mt 25,40.45; 10,40; 18,5; Lc 10,16). Hai tình yêu ấy chỉ là hai mặt khác nhau của một tình yêu duy nhất. Đối với họ, sự phân biệt giữa yêu Đức Giêsu và yêu tha nhân chỉ có trong lý thuyết chứ không có trong thực tế của đời sống. Nghĩa là yêu Đức Giêsu thì tất nhiên phải yêu tha nhân, và yêu tha nhân chính là yêu Đức Giêsu. Họ đã yêu Ngài, và phụng sự Ngài trong tha nhân đến mức sẵn sàng chịu tất cả mọi đau khổ có thể xảy đến, thậm chí hy sinh mạng sống mình (điển hình: gương của 2 linh mục Ba Lan Maximilianô Kôlbê và Jerzy Pôpiêlúskô).

3. Đức Giêsu đã là Vua của bản thân ta chưa?

Nếu phải tranh luận về thần học xem Đức Giêsu có phải là Vua của nhân loại, của vũ trụ không, thì chắc chắn biết bao người trong chúng ta sẽ tỏ ra hăng say nhiệt tình như thể sẵn sàng sống chết để bảo vệ luận điểm ấy. Nhưng nếu phải tự xét mình xem Đức Giêsu đã thật sự là Vua của chính bản thân ta chưa, nghĩa là đã chiếm trọn vẹn trái tim ta chưa, đã thật sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi tư tưởng, lời nói và việc làm của ta chưa, thì chắc chắn rất nhiều người sẽ phải ngập ngừng, hoặc phải trả lời «CHƯA!». Thực tế thật đau lòng: Ngài là Vua của cả vũ trụ, nhưng đời sống và cách hành xử của ta lại chứng tỏ Ngài chưa phải là Vua của chính bản thân ta! Chân lý kia chỉ được ta công nhận trên lý thuyết, chứ không trở thành thực tế trong đời sống. Trong thực tế, vua của tâm hồn ta, thường xuyên ảnh hưởng mạnh mẽ đến những động lực của ta không phải là Ngài, mà là tiền bạc, quyền lực, danh vọng, địa vị, lạc thú, hoặc chính bản thân ta!

Nói một cách cụ thể hơn, nhiều khi miệng chúng ta tuyên xưng rất mạnh mẽ rằng Đức Giêsu là Vua của cả vũ trụ, là Đấng Cứu Độ duy nhất của toàn nhân loại, đồng thời kết án và tẩy chay những ai tuyên xưng bằng miệng khác với chúng ta, dẫu chỉ là một chút… Nhưng hành động và cách cư xử của chúng ta đối với mọi người lại tuyên xưng rất rõ ràng rằng tiền hay quyền bính mới là Vua của vũ trụ, mới là đấng cứu độ duy nhất của nhân loại! Thế mà chẳng ai kết án ta cả? ! Liệu tuyên xưng kiểu ấy có phù hợp với tinh thần Kitô giáo chăng? Dẫu sao, ta có thể chắc chắn một điều là: nó không phù hợp với tinh thần của Đức Giêsu.

Nếu Ngài chỉ là Vua của thế giới, của vũ trụ, mà không phải là Vua của tâm hồn ta, thì việc tuyên xưng hùng hồn kia ấy có ích lợi gì cho ta? Tuyên xưng thật mạnh mẽ trên lý thuyết, mà thực tế đời sống của ta lại chứng tỏ trái ngược lại, thì sự tương phản ấy chỉ cho thấy sự giả dối hay giả hình của ta thôi! Tôi rất thích lời của tổng thống Bush: “Show, but don’t tell!” Hãy chứng tỏ (bằng thực tế, bằng hành động) chứ đừng nói suông!

Trong ngày sau cùng, khi Đức Giêsu phán xét chúng ta như vị Vua của vũ trụ, Ngài sẽ không thèm hỏi ta đã chấp nhận và tuyên xưng những giáo điều nào, những luận điểm nào, hay đã tuyên xưng Ngài là Vua của cả vũ trụ chưa… Ngài chỉ xét chúng ta những điểm rất thực tế: ta đã thực hành ý muốn của Ngài như thế nào? nhất là đã yêu thương và đối xử với Ngài như thế nào qua hiện thân của Ngài là những người chung quanh ta? Ngài có phải là Vua đích thực của chính bản thân ta không?

Thiết tưởng việc sống đạo của chúng ta cần phải xây dựng trên căn bản là thực tế của đời sống, chứ không phải trên lời nói, lý thuyết, sách vở. Có như thế chúng ta mới là «người khôn ngoan xây nhà trên đá». (Mt 7, 24). Nhân dịp này, ta thử xét lại xem cách sống đạo hiện tại của chúng ta là «xây nhà trên đá». hay «trên cát»?

Trở về mục lục >>

 

 TÌM HIỂU

 

VIỆC ĐỘ VONG
TRONG KITÔ GIÁO và PHẬT GIÁO
(tiếp theo Maranatha_26)

Nguyễn Chính Kết

Quan niệm của Phật giáo :

Luật luân hồi và nhân quả.

Trước hết, người Phật tử quan niệm cuộc đời hiện tại không phải là kiếp sống duy nhất của mình, mà chỉ là một trong hàng trăm ngàn kiếp sống kế tục nhau như những mắt xích trong cả một chuỗi xích dài vô tận. Kiếp hiện tại là quả của kiếp quá khứ mà cũng là nhân cho kiếp tương lai. Nghĩa là nếu kiếp này mình làm lành thì kiếp sau gặp hiền, làm ác thì kiếp sau gặp dữ. Bất cứ một động tĩnh nào trong tư tưởng, lời nói, hay việc làm xảy ra nơi con người, đều có nguyên nhân trong quá khứ và đều gây ra hậu quả trong tương lai. Đó là luật nhân quả. Chuỗi nhân quả không bao giờ chấm dứt. Vì thế, con người chết đi để bắt đầu một cuộc sống mới, một kiếp khác. Và cuộc sống mới này mang hình thức nào tùy thuộc cái nghiệp đã gây ra trong những kiếp trước. Đó là luật luân hồi.

 Lục đạo

Luân hồi có sáu nẻo, gọi là lục đạo, tức sáu cảnh giới, sau khi chết, con người sẽ phải đầu thai vào một cảnh giới trong đó. Lục đạo gồm có: Thiên, Nhân, Atula, Ngạ quỉ, Súc sinh, Địa ngục (xếp theo mức độ từ sướng tới khổ).

– Thiên: cảnh giới của loài «thiên thần» tốt lành, vô hình đối với con người, vì mang thân xác vi tế hơn con người, sống trong những điều kiện dễ dàng hạnh phúc hơn, đời sống cũng lâu dài hơn con người rất nhiều.

– Nhân: cảnh giới của con người, điều kiện sống khó khăn hơn, nhưng lại là cảnh giới thuận tiện nhất để tu giải thoát, nhờ có sự quân bình tương đối giữa sướng và khổ.

– Atula: cảnh giới của một loài «thiên thần» xấu, là những sinh linh nhiều tham vọng, ham quyền lực, kiêu căng, ghen ghét, ganh tị, v.v… nên thường xuyên có chiến tranh, và những đau khổ thiên về tinh thần. Họ cũng vô hình dưới mắt con người tương tự như những sinh linh trong cảnh Thiên, nhưng họ phải chịu nhiều đau khổ.

– Ngạ quỉ: (11) cảnh giới của những sinh linh tham lam vật chất, của cải, tiền bạc, lạc thú vật chất như ăn uống, nhục dục… Lúc nào họ cũng khao khát những thứ đó mà không bao giờ được thỏa mãn, khiến họ luôn luôn khổ đau. Họ cũng là những sinh linh vô hình dưới mắt con người.

– Súc sinh: cảnh giới của loài vật mà chúng ta vẫn thấy: thú vật, chim chóc, cá… ít hiểu biết, kém ý thức. Đời sống thấp kém, hầu như không có đời sống tinh thần. Thường xuyên sống trong sợ hãi, có thể bị thú khác hoặc bị người giết ăn thịt, hoặc có thể bị thúc đẩy đi giết các thú khác. Tất cả đều sợ đói.

– Địa ngục: Cảnh giới của những sinh linh độc ác, hận thù, ích kỷ, ghen ghét, hay giận dữ, hay gây đau khổ cho người khác. Họ cũng vô hình dưới mắt con người. Họ phải chịu những cực hình rất đau đớn, khắc nghiệt. Đời sống trong các địa ngục dài hay ngắn tùy theo từng địa ngục khác nhau, tùy theo sự trầm trọng của điều xấu họ đã làm cho người khác.

Tất cả các cảnh giới trên đều bị chi phối bởi luật vô thường, nên không có ai cứ được hay phải ở mãi trong một cảnh giới nào, vì không có một điều phúc đức nào vô cùng để đáng thưởng đời đời, mà cũng không có một tội ác nào vô cùng để đáng bị phạt đời đời cả. Do đó, sinh linh cứ tái sinh, cứ bị trôi lăn trong lục đạo đó mãi. Chỉ có những con người biết tu tập trí tuệ để giác ngộ được con đường giải thoát mới ra khỏi cái vòng lẩn quẩn đó.

Trong lục đạo, chỉ có hai cảnh giới được coi là sướng, là cảnh giới thiên nhân, nhưng cảnh giới nhân là quí hơn cả. Xét về hạnh phúc thì cảnh giới thiên có nhiều điều kiện thuận lợi hơn, nhưng chính vì thế, mà họ bị ru ngủ không muốn đi tìm sự giải thoát thật sự, để rồi khi họ hưởng hết phúc lành, thì họ lại rơi vào một cảnh giới khổ hơn. Các atula thì tâm trí bị thu hút vào việc tranh cãi và hơn thua. Các ngạ quỉ thì quan tâm đến những thèm khát không được thỏa mãn. Súc sinh thì u mê chỉ nghĩ đến thức ăn và thỏa mãn tính dục. Còn sinh linh ở địa ngục thì bị hành khổ đủ cách nên không có đầu óc đâu mà nghĩ đến đạo giải thoát. Chỉ có con người sướng khổ tương đối quân bình, nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát tâm đi tìm con đường giải thoát. Chỉ có con người là có nhiều tự do quyết định hơn cả, có đầu óc sáng suốt hơn cả để có thể đạt tới trí tuệ giải thoát. Nên trong lục đạo, chỉ có con người là có nhiều cơ may, nhiều khả năng để thành Phật nhất. Do đó, theo Đức Phật, được làm người là cả một cơ hội quí báu, không nên uổng phí (12).

 Việc độ vong

Trong Phật giáo, không có chỗ đứng cho một Thiên Chúa sáng tạo, một Thiên Chúa điều khiển và chi phối mọi sự. Tất cả đều xảy ra theo qui luật của vũ trụ. Một người bị rơi vào địa ngục hay đầu thai vào cảnh giới nào hoàn toàn không do một Đấng Tối Cao nào phán xét và định đoạt cả. Cũng y như một người sử dụng dao không khéo bị đứt tay, hay một người ích kỷ bị mọi người ghét, một người vui vẻ được nhiều người thương. Đó là luật nhân quả tác động một cách khách quan như bao định luật khác. Việc độ vong cũng chỉ dựa vào định luật mà cứu, chứ không cầu khần ai được cả. Cũng như muốn cứu một người bị điện giật, bị bệnh ung thư… điều quan trọng là có biết cách cứu hay không, có biết những định luật về điện hay về bệnh tật hay không. Định luật có nhiều thứ, vật lý, tâm lý, siêu vật lý, siêu tâm lý…

Quan niệm của người Phật tử về việc độ vong căn cứ trên câu chuyện trong kinh Vu Lan: Mục Kiền Liên được Đức Phật chỉ dạy cách cứu mẹ mình - là bà Thanh Đề - thoát khỏi kiếp ngạ quỷ. Phật dạy ông mời những vị cao tăng vừa «an cư kiết hạ» (13) suốt ba tháng xong, tới chú nguyện để vong linh mẹ ông chuyển tâm địa độc ác thành tâm địa lành, nhờ đó mà thoát khỏi kiếp ngạ quỉ, sinh vào cảnh giới hạnh phúc hơn.

Trong việc cứu bà Thanh Đề, mẹ của Mục Kiền Liên, Phật đã áp dụng tới sức mạnh của sự chú nguyện (14) của rất nhiều người có năng lực tinh thần rất mạnh (các cao tăng sau thời gian tinh tấn tu hành - ba tháng «linh thao») để tác động vào bản thân của Bà Thanh Đề khiến bà thay đổi tâm địa (từ tâm ích kỷ bỏn xẻn độc ác, thành tâm vị tha quảng đại từ bi). Tâm thay đổi thì sướng khổ cũng thay đổi theo như câu: «Tội tùy tâm sinh, tội tùng tâm diệt», hay «Khổ tùy tâm sinh, khổ tùng tâm diệt». Nhờ vậy bà thoát khỏi cảnh giới ngạ quỷ sinh vào cảnh giới lành, không có sự can thiệp của thần linh nào vào đây cả.

Lễ Vu Lan cũng như tháng 7 âm lịch là dịp để cho người Phật tử đặc biệt làm công việc cứu độ ấy bằng sự chú nguyện, không những cho cha mẹ ông bà tổ tiên mình, mà còn cho nhiều người khác nữa.

        Sự đồng dị giữa hai quan niệm

Những điểm tương đồng

· Điểm căn bản nhất là cả hai tôn giáo đều cho rằng các tín đồ còn sống đều có thể cứu độ những vong linh quá cố.

· Những đau khổ sau khi chết đều là kết quả của những việc làm sai trái, không hoàn hảo của đương sự khi còn sống. Vì điều thiện sinh quả lành là hạnh phúc, điều dữ sinh quả dữ là đau khổ.

· Mỗi năm, cả hai tôn giáo đều có một ngày lễ đặc biệt để tưởng nhớ và cứu độ người quá cố, thậm chí dành ra cả tháng để làm công việc này.

· Việc cầu nguyện của Kitô hữu, hay việc chú nguyện của Phật tử để độ vong có hữu hiệu hay không thì tùy thuộc vào lòng thành tâm, sự trong sạch, thánh thiện hay mức độ tu luyện tâm linh của tín hữu còn sống. Và nhiều người cùng họp nhau cầu nguyện hay chú nguyện thì việc độ vong có kết quả hơn.

· Việc độ vong trong cả hai tôn giáo đều được coi là bổn phận của những người còn sống, để tỏ lòng thảo hiếu đối với ông bà cha mẹ cũng như cửu huyền thất tổ, để tỏ lòng biết ơn đối với các ân nhân, và lòng từ bi bác ái đối với những vong linh khác, nhất là những vong linh mồ côi.

 Những điểm dị biệt

· Theo Phật giáo, mọi việc lành dữ của con người đều gây ra những hậu quả tốt xấu theo định luật tự nhiên trong vũ trụ, không có ai xét xử hay luận phạt cả. –– Còn theo Kitô giáo, Thiên Chúa là Đấng xét xử mọi việc làm và thưởng phạt công bằng. Như thế, một đằng chỉ có định luật tự nhiên tác động một cách máy móc, một đằng là có Đấng cầm cân nảy mực.

· Kitô giáo quan niệm chỉ có hai «đời»: đời này và đời đời (vĩnh cửu). Đối với những người tốt lành nhưng chưa hoàn hảo thì còn một giai đoạn trung gian để chịu những đau khổ thanh luyện. Việc độ vong chỉ nhắm đối tượng là những người này, chứ không độ vong cho những người đã hưởng mặt Chúa hay vĩnh viễn phải xa lìa Chúa. –– Còn Phật giáo quan niệm có vô số kiếp liên tục tiếp theo nhau, không có giai đoạn trung gian (15). Trừ những người tu giải thoát hay thành Phật, tất cả mọi người đều phải đầu thai lại vào một trong sáu nẻo của lục đạo. Việc độ vong chỉ nhắm tới những người đang đau khổ từ kiếp người trở xuống. Không có một sinh linh nào đáng thất vọng vì bị hư mất đời đời đến nỗi không độ vong được.

· Việc độ vong của Phật giáo là dùng sức mạnh tinh thần của việc chú nguyện để ảnh hưởng trực tiếp tới tâm địa của những người đang bị đau khổ trong kiếp sau của họ, hầu trợ thêm sức lực tâm linh cho họ để họ thay đổi tâm địa từ xấu thành tốt. Nhờ vậy họ thay đổi được số phận. Như vậy cũng là áp dụng những định luật tâm linh vốn tác động một cách máy móc để đạt mục đích. Người sống cũng có thể nhờ những người khác có nhiều năng lực tinh thần hơn - càng đông càng tốt - để chú nguyện thay cho mình. Những người khác đó có thể là những người đang cùng sống với mình, mà cũng có thể là những vị Phật hay Bồ Tát hoặc đang ở một cõi nào đó hoặc đang hiện thân làm người đồng thời với mình. Việc cầu siêu chính là nhờ những vị «thánh» ấy chú nguyện dùm. –– Còn người Kitô hữu dùng lời cầu nguyện, những việc đạo đức, những việc thiện, sự hy sinh hãm mình, và nhất là dâng thánh lễ hay xin lễ để cầu xin Thiên Chúa, hoặc gián tiếp nhờ các thánh cầu bầu cùng Chúa. Thiên Chúa sẽ tác động tới các linh hồn đang thanh luyện cách nào đó để họ vẫn trở nên hoàn hảo xứng đáng hưởng hạnh phúc bên Thiên Chúa, nhưng được giảm phần đau khổ do thanh luyện. Mọi sự đều hoàn toàn tùy thuộc vào tình thương của Thiên Chúa chứ không theo định luật tự nhiên nào tác động cách máy móc cả. Người sống không thể tác động trực tiếp tới các linh hồn được.

               Để kết luận

Việc độ vong trong Kitô giáo và Phật giáo có những nét tương đồng và dị biệt: tương đồng ở những nét rất căn bản, còn khác biệt ở những nét phụ thuộc. Cả hai bên đều tin tưởng rằng chết không phải là hết, mà là bước vào một cuộc sống khác. Cả hai đều nói lên sự liên hệ giữa người sống và người chết. Người còn sống và người đã chết tuy sống trong hai cảnh giới khác biệt, nhưng vẫn có thể lo lắng cho nhau, biểu lộ tình yêu thương, sự quan tâm lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, làm lợi cho nhau.

Chính nhờ niềm tin ấy, mà trong tâm tư người còn sống, thì người đã chết dường như vẫn sống, vẫn hiện diện một cách nào đó bên người sống. Vì thế, người còn sống nhiều khi vẫn nói chuyện với người đã khuất, và tin tưởng rằng người đã khuất kia vẫn nghe được lời của họ. Nhiều người chết đã lâu, cả hàng mấy chục năm, nhưng người sống vẫn luôn luôn nhớ tới trong kinh nguyện, trong lời nguyện cầu. Nhờ vậy mà người chết vẫn cứ sống mãi trong lòng người còn ở lại trần thế. Chính tình yêu giữa người sống và người chết đã làm được như thế.

Chỉ có sự quên lãng, do thiếu tình yêu, hay do tình yêu quá phai lạt của người còn sống đối với người đã chết, mới làm cho người chết chết thật sự. Nghĩa là làm cho người chết không còn hiện diện trong tư tưởng của người sống nữa. Vì thế, sự hờ hững, quên lãng của người còn sống đối với người đã khuất khiến cho người chết chết thêm một lần nữa.

          Chú thích:

(11) Nguyên nghĩa là quỉ đói.

(12) Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Phật Đạo (phẩm 8) nói rõ điều đó.

(13) An cư kiết hạ: là thời gian Phật qui định cho chư tăng ở mỗi địa phương phải hội về một nơi thuận tiện để chuyên tu mỗi năm, từ 16-4 đến 15-7 âm lịch. Tương tự như tĩnh tâm, cấm phòng, hay linh thao bên Kitô giáo.

(14) Chú nguyện: (chú: chú ý, tâp trung tư tưởng hay năng lực tinh thần vào việc gì; nguyện: cầu mong, ước muốn) Khác với cầu nguyện ở bên Kitô giáo, chú nguyện là tập trung hết năng lực tinh thần của mình để ước muốn điều gì, năng lực được tập trung lại đó nếu đủ có thể làm biến chuyển, thay đổi tình thế. Đây là vấn đề sức mạnh của tư tưởng mà các nhà tâm lý học hiện đại đều công nhận.

(15) Tuy nhiên, cũng có những giáo phái Phật giáo tin có giai đoạn trung gian giữa lúc chết và lúc đi đầu thai. Giai đoạn này lâu hay mau tùy theo từng trường hợp.

Trở về mục lục >>

 THÁNG 11 CẦU CHO CÁC LINH HỒN – CHIA SẺ


THƯ GỬI BẠN…

Nguyễn Hoài Hương

Hoàng Ngâu thân nhớ,

Bây giờ là mùa thu ở đây, miền Cali nắng ấm, không có nhiều lá đổi mầu như ở miền Đông, mà mình nghe rằng đẹp lắm. Cũng thỉnh thoảng đâu đó vài chiếc lá vàng nâu lìa cành, nhưng thời tiết mùa thu thì đang hiện diện nơi đây rồi bạn ạ. Buổi sáng trời còn đẫm sương mù, chút se lạnh làm mình co ro khi ra khỏi nhà và trời vẫn còn tối lắm dù đã đến giờ phải bắt đầu một ngày mới với bao công việc chực chờ. Đồng hồ cũng đã đổi lại một giờ muộn hơn cho phù hợp với sự thay đổi của tiết mùa.

Giờ này bạn đang làm gì? Thành phố cũ có nhiều đổi thay, nghe rằng con người cũng bận rộn hơn với những tiến bộ văn minh. Bạn có còn thì giờ để ngồi lại với chính mình và những điều trăn trở của tâm linh?

Mình nhớ lại những ngày còn ở bên nhà, vào tháng này là chúng mình thường kéo nhau đi viếng nghĩa trang, đọc các kinh Tin Kính, kinh Lạy Cha…để xin ơn toàn xá, đại xá cho các linh hồn. Nhớ hồi đó sao siêng năng đến thế, mình đã đọc nhiều, có khi sốt sắng, nhưng cũng có lúc vội vàng cho xong bổn phận để được thêm một ơn toàn xá cho các linh hồn. Nhưng cảm giác của mình lúc bấy giờ vẫn là một sự sợ hãi bao trùm khi bước vào các nghĩa trang hoặc lễ cầu hồn với các cha mặc áo màu tím hoặc đen tuyền tang tóc với bầu khí thê lương, buồn thảm. Những chiếc áo sô và vành khăn tang trắng là biểu hiện một sự mất mát, đau buồn.  Lúc ấy, và mãi nhiều năm nữa trong thời thơ ấu, thiếu niên của chúng mình, hình như Chúa Kitô Phục Sinh vẫn còn xa vời lắm khi đứng trước một linh cửu, đám tang đưa tiễn một người thân ra nghĩa trang. Chúng mình vẫn tin tưởng dâng lễ, cầu nguyện khi đọc kinh Vực Sâu, Cầu Hồn. Bài ca quen thuộc Khi Chúa thương gọi tôi về, hồn tôi hân hoan như trong một giấc mơ...miệng tôi nức vui tiếng cười, lưỡi tôi vang lời ca hát, toàn dân tung hô tôi thật vinh phúc… thường được hát trong phần nhập lễ hoặc ở nghĩa trang như một sự khôi hài so với những lời Cáo Phó hoặc Phân Ưu của tang gia hoặc bạn hữu, “Chúng tôi vô cùng đau đớn báo tin…Ông (Bà) đã được Chúa gọi về…” Có một cái gì đó chưa thông hoặc chưa trọn vẹn trong cách sống và thể hiện lòng tin của mình, phải không bạn?

Nhớ dạo đó, sau giờ học Anh Văn ở Hội Việt Mỹ, hai đứa mình rủ nhau lang thang dọc theo con đường Mạc Đĩnh Chi, thỉnh thoảng vào thăm nghĩa trang nổi tiếng này. Hai chúng mình đã lần mò đến ngắm nghía công trình xây dựng, chạm trổ công phu và mỹ thuật của những ngôi mộ của các nhân vật nổi tiếng ở Sàigòn thời bấy giờ. Truyền thống văn hóa Việt nam vẫn tin rằng: ‘Sống gửi thác về’, vì thế, khi còn sống thì lo làm ăn để có căn nhà to rộng, đẹp đẽ, khang trang cho bằng (hoặc hơn) bạn bằng bè. Đến khi nằm xuống, thì gia đình, tùy theo hoàn cảnh, tiếng tăm, và quan hệ, cũng phải lo cho được một ngôi mộ xứng đáng với gia phong, tên tuổi và tầm vóc của người đã khuất. Biết bao ngôi mộ tốn cả tiền ngàn, tiền vạn, bao nhiêu lạng vàng cho nở mặt nở mày với dòng họ, bà con.  Nhớ lại thời ấy, dù còn rất trẻ, vậy mà lần nào đi vào nghĩa trang mình cũng ngậm ngùi và nghĩ suy…sao thế nhỉ? Tưởng rằng khi còn sống mới tranh đua hơn thiệt tiếng tăm, giờ này thân xác đã trở về với cát bụi đất trời mà vẫn còn tranh đua, so bì sao? Còn phải kể đến những gia đình giàu có, còn thuê cả đội kèn, đội người khóc mướn để tang lễ thêm phần trang trọng, lễ nghi. Nhớ khoảng những năm 1990, tình hình đã khá hơn chút, nhân một lần lái xe đi ngang nhà có đám tang, nghe đội kèn xập xình vang cả góc phố bài Besame Mucho, một lần khác được nghe Sealed with A Kiss và những bài hát về tình yêu mà choáng cả người. Đến giây phút cuối đời vẫn còn có những chuyện đến “buồn cười” 

Này bạn, mình sắp kể cho bạn về những gì mình cảm nghiệm khi đã lớn khôn và gặp được ở bên này, đừng cho rằng mình vọng ngoại, mình chỉ muốn chia sẻ với bạn những điều đã giúp cho mình thanh thản hơn khi nghĩ về cái chết và lòng tin của mình trong tháng các Linh Hồn khi cuộc sống với nhiều trăn trở lo toan.

Bạn có biết rằng ở giữa thành phố ồn ào bụi bặm của một đất nước giàu có, và đầy những quyến rũ vật chất, quyền lực này, thì nghĩa trang lại là một nơi chốn bình an, thơ mộng và đôi khi mang lại cho mình nhiều điều thú vị nữa.  Ở đó, các mộ phần được đánh dấu bằng những thánh giá màu trắng nhỏ, đơn sơ và bằng nhau. Đất hẹp người đông, hình như vì lý do đó, nên các phần mộ được chia rất nhỏ và như nhau với một hoặc hai bình hoa chôn sẵn sâu chìm dưới cỏ để người thân đến cắm hoa tưởng niệm. Mỗi ngôi mộ có số hiệu ở văn phòng thường trực tại nghĩa trang với tên tuổi của người quá cố. Thậm chí, và phần đông các nghĩa trang ở đây cũng không dựng thánh giá mà chỉ là những tấm bia đặt sát đất. Người hiền lương, kẻ gian ác, người giàu có, kẻ nghèo hèn, người tên tuổi, kẻ vô danh…tất cả cũng chỉ được một vị trí và có chỗ vừa đủ để đặt một bia nhỏ như nhau, và đều đặn như thế, cho mỗi phần mộ. Đến nỗi, nếu bạn không để ý thì sẽ không nhận ra  được đó là một nghĩa trang với hàng ngàn bia mộ nằm khắp nơi, mà chỉ thấy một thảm cỏ xanh tươi với những hàng gạch đều đặn sắp cạnh nhau. Vào những ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong hay Lễ Các Đẳng Linh Hồn vào tháng 11 hàng năm, các chủ chăn (thường là Giám Mục vùng hay Linh Mục Quản Hạt) dâng lễ ở nghĩa trang thuộc giáo phận hay hạt của mình theo lịch trình đã được Giáo Phận thông báo trước. Chương trình thánh lễ chuẩn bị thật chu đáo và trang trọng, cộng đồng dân Chúa tham dự thật đông ngay tại nơi người thân của mình an nghỉ để cầu nguyện cho các linh hồn và nhắc nhở lại niềm tin vào mầu nhiệm hiệp thông của Hội Thánh Thông Công.

Điều ngạc nhiên nhất mình khám phá ra rằng, trong các dịp lễ lớn, nghĩa trang Công giáo ở Hoa Kỳ vui như ngày hội. Cứ vào ngày đặc biệt như Lễ Các Đẳng, sau khi các giám mục, linh mục dâng lễ xong là gia đình thân nhân ở lại viếng thăm, đặt hoa lên mộ, và tổ chức picnic tại chỗ. Nghĩa là họ đã chuẩn bị và mang theo ghế xếp, khăn trải, thức ăn, báo chí và cả gia đình quây quần, trò chuyện bên phần mộ ấy và bên nhau cả buổi. Mùa Giáng Sinh sắp đến, hầu hết các gia đình có người thân chôn ở đó, cùng nhau ra mộ để trang trí mộ phần của người thân như trang trí ở nhà. Bước vào nghĩa trang những ngày trước và sau Giáng Sinh, mình cảm thấy vui và được an ủi thật nhiều. Dù chỉ một khoảnh đất rất nhỏ cho từng bia mộ, nhưng ở đó một cây thông nhỏ cũng được dựng lên, hoặc một hàng rào vây quanh, một số vật dụng đơn sơ, đèn đóm trang trí cho mùa lễ được trưng bày thật đẹp mắt, thậm chí có cả nhạc Giáng sinh điện tử phát ra từ các tấm thiệp hay đồ chơi. Thú vị biết chừng nào khi đến vùng đất tưởng như là nơi của buồn đau và cái chết mà tiếng nhạc, màu sắc, ánh sáng và sự hiện diện của nhiều người làm ấm lòng và an ủi cho người đang an nghỉ ở đó và những người ở lại biết bao. Mình không biết ở Châu Âu thế nào, nhưng gần đây, nghe rằng ở Việt Nam chúng ta đã có những thánh lễ tại các nhà Hài Cốt vào lễ Các Đẳng.

Thánh lễ an táng ở đây cũng trang nghiêm với những giọt lệ tiếc thương người đã khuất, tang gia thường mặc trang phục màu đen để bày tỏ sự đau buồn vì sự ra đi mất mát người thân, nhưng các linh mục dâng lễ mặc phẩm phục trắng của niềm hy vọng phục sinh (mà trước đây ở Nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Kỳ đồng, Sài gòn cũng đã có truyền thống tốt đẹp này). Thánh lễ an táng không còn gọi là thánh lễ đưa chân hay tiễn biệt, nhưng gọi là thánh lễ tán dương, ca tụng và tạ ơn Thiên Chúa vì những hồng ân Ngài ban cho người đã khuất và tưởng nhớ đến sự cống hiến của họ đối với gia đình và xã hội khi còn sinh thời. Thánh lễ được bắt đầu bằng việc chủ tế tiến ra cửa thánh đường rước linh cửu vào. Tất cả hoa nến trang trí trên linh cửu được thay thế bằng một tấm phủ trắng đơn sơ thêu hàng chữ “Ta là Sự Sống Lại và Là Sự Sống” hoặc một câu Kinh Thánh phù hợp tùy theo giáo xứ. Linh cửu được chủ tế và đoàn rước đưa đến bên cạnh giếng nước rửa tội để nhắc nhở ngày được thánh tẩy làm con Thiên Chúa. Và như thế người quá cố được đến thánh đường để cùng với cộng đoàn và người thân hiệp thông thánh lễ cuối cùng ở chính nơi mà họ đã từng dâng lời tạ ơn và ngợi khen Thiên Chúa khi còn sinh thời. Thánh lễ được cử hành trong nghiêm trang và sốt sắng, vẫn còn buồn đấy, nhưng đã mặc thêm tâm tình và niềm tin mang đầy hy vọng.

Bạn ơi, những điều mình vừa kể chỉ là một vài điều thấy được và muốn chia sẻ với bạn rằng, ở đất nước cờ hoa và vật chất này, con người cũng phải ý thức một điều là rồi tất cả cũng chỉ là hư vô và trở về với trần trụi của thân phận con người khi nhắm mắt xuôi tay. Một phần mộ đơn sơ, nhỏ bé cho mỗi con người cũng như chính thân phận bé nhỏ, trần trụi khi vào đời với hai bàn tay trắng, chẳng ai hơn ai. Cuộc đời với nhiều dâu bể, bon chen, và chúng ta thường tìm kiếm, đánh giá, quan hệ với nhau bằng bề ngoài, danh vọng, tiền bạc …nhưng thật ra cuối cùng, con người cũng là những sinh linh đón nhận ân sủng từ Thiên Chúa và quà tặng của cuộc đời. Thế mà chúng ta lại mệt mỏi tranh giành, bon chen với những gì không tưởng… và đã tranh đấu, chà đạp nhau như thể mình sẽ sống muôn đời.

Tháng 11 đang dần qua đi, những ngày cuối tháng rồi lại cuối năm, có một chút ngậm ngùi khi vẫy tay chào năm cùng tháng hết như nhắc nhở chúng ta về mọi sự rồi cũng sẽ đến hồi chung cuộc. Thế sự và phù vân, suy tư này giúp cho mình nhận ra một điều là càng trân trọng sự sống bao nhiêu, yêu mến cuộc đời này đến chừng nào, thì rồi chúng ta cũng sẽ có lúc phải ra đi bỏ lại tất cả cho những người ở lại. Có xây dựng những công trình cao đẹp thế nào đi nữa, có quyền uy, tăm tiếng lừng danh đến đâu, giàu có thế nào thì rồi chúng ta cũng phải lìa bỏ tất cả và trở về lòng đất với hai bàn tay trắng, phải không bạn thân?

Bạn ơi, lời cuối thư này là nguyện xin cho nhau luôn được sống lòng tin vào Đức Kitô Phục Sinh, để trong Ngài và nhờ Ngài, chúng ta đón nhận cuộc sống này với muôn ngàn dời đổi, biến thay trong hạnh phúc và tin yêu. Dù phải đối diện với những mất mát, chia lìa của những người thân yêu hoặc khi nghĩ tưởng cái chết sẽ đến với chính mình, xin cho chúng ta có được tâm tình bình an và phó thác của những người con của niềm hy vọng.

Thăm bạn và chia sẻ trong tâm tình thương nhớ. Cầu mong bạn luôn mạnh khoẻ, an vui và nguyện xin Chúa chúc lành cho bạn. Chúng ta cầu cho nhau, bạn nhé.

Trở về mục lục >>

 TÂM TÌNH BẠN ĐỌC

LTS: Trong hai tuần qua, Maranatha đã nhận được điện thư xin đổi địa chỉ email, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của quý độc giả: Trần Việt Khoái, Tam Khong, Thái Văn Hiến, Lm. Trần Dũng SSS, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Trần Kim Hạnh Trúc, Khổng Kim Ngân, Đặng Cẩm Tú, Nguyễn Qưới Phước, Lm. Đỗ Xuân Quế, Francis Khúc, Lm. Nguyễn Trung Tây SVD, MariaCecilia, Khổng Nhuận, Lm. Banabe Nguyễn Văn Phương, Vũ Hoàng, Nguyễn Đức Tuyên, Phúc Phạm (Sydney), Kim Ngân, Vinhsơn Linh, Nguyễn Vy Đức…

1. Fonts chữ: Maranatha hiện đang sử dụng font Times New Roman (Unicode) để viết và nhận bài. Nếu quý vị sử dụng Windows trước 98SE, xin install font Unicode này vào máy. Viết bài cho Maranatha xin quý vị cũng sử dụng font này.

2. Báo cũ: Đối với những độc giả nhận báo lần đầu tiên hoặc độc giả nào còn thiếu một vài số báo cũ, xin quý vị vui lòng vào hai trang websites http://maranatha-vn.net hoặc http://tiengnoigiaodan.net để download những số báo mình cần. Hiện nay, các số báo từ 1 đến 26 đã được lưu trên hai websites trên. Nếu vì lý do trục trặc kỹ thuật, xin liên lạc về địa chỉ: maranatha@saintly.com

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích    lệ của Quý độc giả dành cho Maranatha.

 

Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

Trân trọng,  

MARANATHA

Trở về mục lục >>

THƯ BẠN ĐỌC

 

  •  Hân hạnh được đọc 1-2 số Maranatha. Tôi nhận thấy các bài phong phú và đề cập tới những ưu tư trăn trở của tôi. Kính xin Quí Báo thường xuyên gửi cho tôi từ các số tới. Hy vọng sẽ được hiểu biết về Chúa củng cố lòng tin và thêm yêu mến Giáo Hội một phần nhờ Maranatha. Xin trân trọng cám ơn và kính chúc Quí Ban biên tập nhiều sức khỏe và thành công. Vinhsơn Linh.

  • Em tên Hạnh Trúc. Vừa qua, bạn em có gởi tặng em tuần báo số 25, em đọc và thấy rất thích, rất bổ ích. Cám ơn những tác giả, những người viết những bài viết rất hay này. Hôm nay, em xin Quí Báo gởi cho em thông tin hay tuần báo kế. Em xin cám ơn. Trần Kim Hạnh Trúc. 

  •   Con xin BBT Maranatha từ số tháng 12 vui lòng gửi thêm về địa chỉ của hai linh mục sau đây thuộc Dòng SVD (Ngôi Lời) ở Hoa Kỳ theo lời yêu cầu của các Ngài, qua con giới thiệu. Francis Khuc, Chicago, IL, USA.

  •  Thăm Ban Biên Tập! Tôi vừa nhận được Bài Maranatha số 25, xin chân thành cám ơn Ban Biên Tập. Cầu chúc cho quý vị được nhiều Hồng Phúc trong Lễ các Thánh và các Linh Hồn. Cám ơn nhiều. Mariacecilia 

  • Xin cám ơn anh chị em đã dành cho mình sự đón nhận lớn.  Xin cám ơn nhiều vì đã quan tâm đến sức khoẻ và công tác của mình. Nhờ ơn Chúa, tất cả đều tốt đẹp và bình thường. 

     Cho tới nay, có một điều mình vẫn thắc mắc: Tại sao các tác giả không nói gì, không hề phản đối khi biết bài vở của mình được sử dụng nhiều bởi nhiều tờ báo và website khác nhau, lại không hề phản đối. Có những tờ báo (gồm cả báo điện tử, và báo in trên giấy) đăng không phải một bài, nhưng là nhiều bài, chưa hề một lần hỏi ý kiến tác giả (chẳng hạn báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, báo Dân Chúa Âu Châu, Dân Chúa Mỹ Châu đăng nhiều bài của mình, nhưng chưa hề liên hệ hay cám ơn mình gì cả), các tác giả lại không hề đòi tác quyền. Sự im lặng của tác giả gần như là sự đồng ý và cho phép. Trong khi đó, các báo, nếu gọi cho đúng, chỉ là những nhà quản lý bài vở của các tác giả, lại cứ đòi tác quyền??.

      Lên tiếng đòi tác quyền như thế, không biết chúng ta có thật sự làm việc vì yêu mến Chúa, vì trách nhiệm truyền giáo trong khả năng nhằm mở mang Nước Chúa hay vì một lý do nào khác? Vì sao một mặt ta vẫn nói rằng, mình làm việc vì yêu mến Chúa, vì hiến thân cho Giáo Hội, mặt khác nhiều nơi, nhiều người, nhiều tập thể làm công tác truyền thông Lời Chúa, lại tìm chỗ đứng cho mình, sợ mất ảnh hưởng của bản thân hay của phe mình?

      Đúng là luật tác quyền nhằm bảo vệ sự công bằng. Nhưng trong trường hợp làm cho công tác rao giảng Lời Chúa bị giới hạn, thì luật bảo vệ tác quyền có còn cần thiết? Chúng ta sẽ dễ thông cảm cho nhau nếu hiểu được nhưng suy nghĩ của nhau. Vì thế, mình cũng thông cảm nhiều với anh chị em. Đồng thời xin chia sẻ cùng anh chị em vài suy nghĩ như thế để làm tin. Mến chúc tất cả chúng ta bình an và hạnh phúc trong Chúa. Một linh mục - cộng tác viên. 

  •  Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời,

       Bình an dưới thế cho người thiện tâm!

Tôi là Khổng Kim Ngân hiện đang công tác tại Hà Nội. Tôi là độc giả của báo nhưng tôi chỉ được đọc báo qua người thân gửi lại cho tôi, đến nay tôi rất mong được Quý Báo điện tử gửi trực tiếp cho tôi theo địa chỉ email… Xin chân thành cám ơn Quý Báo! God be with you always! Kim Ngân.

Trở về mục lục >> 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn