Số 27, Ngày 20-11-2004

 

 MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Kính Nhớ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Chúa Giêsu Thánh Thể Trong Đời Sống Thánh Tử Đạo VN - Lm. Trần Anh Thụ

Danh Sách & Tiểu Sử Sơ Lược các Thánh Tử Đạo Việt Nam - Trần Duy Nhiên st

Đức Kitô là Vua hay là Trưởng Tử - Khổng Nhuận

Đức Giêsu Đã Là Vua Của Chính Bạn Chưa? - Huyền Vi

Việc Độ Vong Trong Kitô Giáo và Phật Giáo - Nguyễn Chính Kết

Thư Gửi Bạn - Nguyễn Hoài Hương

Tâm Tình Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa Quý độc giả,

Chúa Nhật này, tín hữu Công giáo Việt nam trên quê hương và toàn thế giới cùng hiệp thông với Giáo Hội hoàn vũ hân hoan kính nhớ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Các ngài đã chọn cái chết để thể hiện niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô trước những chọn lựa và đòi hỏi gắt gao đến cùng. Các ngài đã tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là Vua, Đấng là Vua của vũ trụ cũng như của lòng người, không phải theo hình ảnh của một Đấng Mêssia đến trần gian chiêu tập binh mã hùng mạnh, trái lại, Ngài làm Vua trên thập giá nhục nhã giữa hai người ‘cận thần’ là những tên tử tội.

Trên thập giá, Chúa Giêsu đã trở thành lễ vật hiến tế và đồng thời cũng là vị thượng tế dâng lên Chúa Cha chính bản thân mình. Ngài đã hoàn thành công cuộc cứu thế, không phải trên ngai vàng vinh hiển, nhưng trên ngai thập giá thương đau. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, những vị đã tin vào Ngài và noi gương Ngài, các ngài cũng đã hiến tế chính mạng sống mình để đem lại hạt giống đức tin và sức sống mãnh liệt cho Giáo Hội Việt Nam. Và các ngài đã được đón vào Nước vinh quang với Chúa Kitô như người trộm lành.

Sở dĩ các Thánh Tử Đạo Việt Nam tìm được sức mạnh phi thường để đón nhận những thương đau kinh hoàng và ngay cả cái chết, chính vì các ngài đã nuôi duỡng đời sống tâm linh của mình qua việc thường xuyên tham dự bàn tiệc Thánh Thể. Sức mạnh của các ngài phát xuất từ việc gắn bó và tin tưởng vào tình yêu của Chúa Giêsu thể hiện trong Bí tích cao trọng này.

Maranatha tuần này gửi đến quý độc giả những tâm tình theo hướng ấy. Bổn phận của chúng ta, những con cháu của các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta có đi theo con đường của các ngài là đi theo con đường của Chúa Giêsu chưa? Vương quốc của Chúa Giêsu thành lập, Giáo Hội Việt Nam được các Thánh Tử Đạo đặt nền móng, đã được xây dựng bằng thập giá, thế thì cuộc sống của mỗi chúng ta, của Giáo Hội ngày nay đang được xây dựng thế nào? Phải chăng câu hỏi này không đặt ra cho mỗi một người trong chúng ta, khi mừng lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam và khi tham dự Thánh Lễ? Chúng ta có tuyên tín Chúa Giêsu là Vua, là Đấng Cứu Chúa trên thập giá trong chọn lựa hàng ngày của cuộc sống người tín hữu không?

Tháng này chúng ta cũng đặc biệt nhớ đến các đẳng linh hồn. Giáo Hội mời gọi chúng ta hiệp thông không những với Giáo Hội vinh hiển trên thiên quốc, nhưng cả với Giáo Hội thầm lặng nơi luyện tội. Bằng những lời cầu nguyện, bằng những lần tham dự Thánh Lễ, bằng những hy sinh âm thầm nhỏ nhặt, chúng ta nài xin Máu Chúa Giêsu thanh tẩy các linh hồn còn trong nơi thanh luyện, nhất là những linh hồn không ai thân thuộc tưởng nhớ.

Nguyện xin Chúa Giêsu Kitô là Vua của vương quốc tâm linh - Đấng đã ban sức mạnh phi thường cho các Thánh Tử Đạo Việt Nam - cũng ban cho từng người trong chúng ta ân sủng và sức mạnh của Ngài, để chúng ta chiến thắng được những yếu đuối, giới hạn của bản thân mình, vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống và trong Giáo Hội khi còn đang lữ hành, không phải bằng những thành quả vật chất, bên ngoài, nhưng chính yếu là do những lần vác thập giá và chết như Ngài trên thập giá. Có thế, chúng ta mới là những tín hữu đích thực của Ngài, khi chúng ta nối gót bước chân các tiền nhân là các Thánh Tử Đạo Việt Nam.

Tại vì, để có thể tử vì đạo một cách anh dũng và bình an đến như thế, các ngài hẳn đã mặc nhiên hướng về Chúa Kitô để khấn xin: Maranatha, Lạy Chúa xin ngự đến!

MARANATHA.

Trở về mục lục >>

MỪNG KÍNH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM 

KÍNH NHỚ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Đừng sợ!

«Anh em đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn» (Mt 28, 33). Nếu có ai giết được linh hồn thì Đấng đó phải là Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa không bao giờ làm như vậy. Người chỉ cứu rỗi chứ không bao giờ hành hạ con người. Chỉ có con người mới tàn sát nhau thôi. Mà con người dẫu có hành hạ nhau dã man cách mấy, vẫn chỉ là hành hạ nhau trên thân xác.

Lời Chúa dạy «Đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn», trở thành lời an ủi, động viên niềm tin, niềm hy vọng của ta vào Chúa Giêsu: Người là Thiên Chúa, đến trần gian cứu chuộc và loan báo cho họ biết chính Người là Đấng Cứu Thế Thiên Chúa ban cho họ, vậy mà loài người còn không tha, thì huống hồ là loài người với nhau. Người Do thái nghĩ rằng, khi giết Chúa Giêsu, họ đã khử trừ được một thứ tôn giáo mới. Và do cái chết thê thảm đó, sẽ làm cho các môn đệ thoái chí, buộc lòng phải giải tán. Nhưng họ lầm. Họ lầm vì họ không biết rằng, họ chỉ có thể giết được thân xác của Giêsu, chứ không giết được linh hồn Người. Họ lầm vì họ chỉ có thể giết được thân xác Giêsu, nhưng chính Thiên Chúa nơi con người Giêsu ấy, làm sao giết được! Họ lầm vì họ không ngờ rằng, cái thân xác mà họ treo trên cây thập giá đó đã sống lại chỉ trong một thời gian ngắn: trên dưới 40 tiếng đồng hồ. Bởi loài người không thể giết Thiên Chúa, nên Kitô giáo vẫn tồn tại, đạo Chúa Kitô vẫn không ngừng phát triển.

Các thánh Tử Đạo Việt Nam cũng vậy. Một lòng trung kiên kính thờ Thiên Chúa. Sợ Thiên Chúa chứ không sợ «những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn». Trước mặt vua quan, các ngài đã khẳng khái tuyên xưng đức tin của mình, sẵn sàng chấp nhận mọi thiệt thòi, quyết không để đức tin bị khinh miệt, bị xúc phạm. Các thánh Tử Đạo biết rõ mất mạng sống là không còn có mặt trong cuộc đời nữa, nhưng vì đức tin: tin vào Chúa Giêsu, Đấng đã chết và sống lại, các thánh không sợ chết, quyết tâm dâng hiến mạng sống để tôn thờ Chúa đến cùng.

Còn vua quan, cũng giống những người Do thái trước kia: tưởng giết Chúa Giêsu là xong chuyện. Vua quan tưởng rằng bách hại và giết chết người có đạo là xóa được một tôn giáo mới, nhưng họ cũng lầm y như những người Do thái vậy: Vì họ chỉ có thể giết được thân xác chứ không giết được linh hồn người có đạo. Họ chỉ có thể giết được người có đạo chứ không thể giết chính Thiên Chúa của người có đạo. Các vua, các quan càng ra sức bách hại và cấm đạo triệt để bao nhiêu, thì trong hoàn cảnh trốn tránh hết sức khó khăn, đức tin của người tín hữu càng mạnh mẽ, càng kiên vững bấy nhiêu.

Gần 3 thế kỷ bắt đạo, có lúc gay gắt, có lúc nới lỏng, thì 3 thế kỷ hãi hùng ấy đã giết chết khoảng từ 130 ngàn đến trên dưới 250 ngàn người Việt Nam Công giáo. Điều đó chứng tỏ trong khó khăn, đức tin không lùi bước mà sẵn sàng đương đầu với khó khăn đó. Con số 118 vị tử đạo được tuyên phong trên bàn thờ chỉ là một phần nhỏ, chỉ là con số tượng trưng. Ba thế kỷ bắt đạo, đạo Công giáo không mất mà vẫn tồn tại, và đang phát triển. Cho nên Lời Chúa nói: «Anh em đừng sợ» đúng vô cùng, bởi lời ấy trở nên lời hy vọng, niềm tin tưởng, sức mạnh và tình yêu để mỗi người Việt Nam nói chung và người Công giáo Việt Nam trong hiện tại nói riêng hãnh diện bước tới và trung kiên gìn giữ đức tin, cũng như sống đức tin của mình.

Mừng lễ các thánh tử đạo hôm nay, bạn và tôi tự hào vì mình là con cháu các thánh, các thánh là tổ tiên của mình. Tự hào là con cháu các thánh, bạn và tôi càng phải sống đức tin trung kiên như lời Chúa dạy: «Anh em đừng sợ». Cái «đừng sợ» của chúng ta hôm nay đó là ý thức đức tin từ những việc làm hết sức nhỏ nhặt hằng ngày. Ví dụ làm dấu thánh giá trang nghiêm. Tôi thử hỏi một câu hỏi nhỏ để mọi người suy nghĩ: mỗi khi vào tiệm ăn, mình có dám tuyên xưng đức tin bằng dấu thánh giá trước khi bưng một tô phở hay cầm một dĩa cơm không? Từ những việc xem ra rất nhỏ nhặt ấy lại là hành động tuyên xưng đức tin rất quí giá! Tại sao có những việc lớn lao ta lại làm được, còn những việc rất nhỏ bé như thế lại không thể được? Bao hàm trong cái không thể đó, là sự sợ hãi: sợ người khác thấy, sợ người khác biết mình có đạo, sợ bị chê cười… Những cái sợ không đáng sợ lại là thực tế của người Công giáo hôm nay. Ngày xưa tuyên xưng đức tin như thế, các thánh Tử Đạo đã trả bằng giá máu, nhưng các ngài vẫn kiên tâm, không sợ những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh hồn. Ngày nay có ai giết ta đâu tại sao ta lại không giữ nổi những điều căn bản nhất mà cha ông đã làm?

Ví dụ về dấu Thánh giá chỉ là một ví dụ đại diện cho biết bao nhiêu lời nói, việc làm, suy tư, hình thức biểu lộ đức tin của từng người Công giáo hôm nay. Qua tất cả những gì ta có thể thể hiện đức tin từ việc nhỏ nhất như hành vi tuyên xưng đức tin bằng dấu Thánh giá, đến việc sống đức tin trong suốt cuộc đời của mình, bạn và tôi đã làm được điều mà các thánh Tử Đạo đã từng làm: chọn đức tin làm lẽ sống và chọn Chúa Kitô làm gia nghiệp đời mình. Bởi chọn lựa ấy là chọn lựa quan trọng và cần thiết. Vì giữa bao nhiêu cạm bẫy và cám dỗ trong cuộc đời, ta sẽ dễ mất phương hướng, nghi nan, chao đảo, có khi còn mất cả đức tin, nếu mình không có một chọn lựa dứt khoát đứng về phía đức tin chẳng những để bảo vệ mình khỏi ngã nhào mà còn đứng vững trong đức tin của mình.

Đặc biệt sống đức tin của hôm nay còn là chuyển tải đức tin cho anh chị em xung quanh. Với ý thức này, người Công giáo Việt Nam vô cùng ao ước được đồng hành với dân tộc mình. Họ mong muốn sống giữa lòng dân tộc để phục vụ, để yêu thương và được đón nhận, được yêu thương như tất cả mọi anh chị em không có hoặc không cùng lòng tin của mình. Niềm khắc khoải này được Hội Đồng Giám mục Việt Nam trình bày trong quyển «Giáo Hội Công Giáo Việt Nam - Niên Giám 2004»: «Ý thức được điều này, người Công giáo Việt Nam càng muốn hòa nhập vào lòng dân tộc để thể hiện sứ mạng đã được Cha trên trời trao phó: xây dựng dựng tình huynh đệ chân thành nơi địa phương mình sống. Trong đại gia đình dân tộc hiện nay có nhiều nền văn hóa khác nhau nên người tín hữu cần tìm hiểu và đối thoại với anh em để cùng xây dựng một nền văn minh tình thương và hòa bình» (Lm.Ant. Nguyễn Ngọc Sơn - Lược Sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam - trang 202). Đó là ước nguyện lớn lao, tha thiết, cháy bỏng của người Công Giáo Việt Nam hôm nay. Đó cũng chính là tương lai của Giáo Hội Công giáo Việt Nam. Vì nếu giáo Hội không ra khỏi chính mình, đến với anh chị em, Giáo Hội đánh mất căn tính của mình.

Sau khi đã suy niệm về tấm gương anh dũng của các thánh Tử Đạo và ý thức bổn phận của người Kitô hữu hôm nay, chúng ta cùng dâng lời cầu nguyện:

Lạy các thánh Tử Đạo Việt Nam,

Các ngài đã dám sống đến cùng ơn gọi Kitô hữu

Trong một hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm.

Sự hy sinh của các ngài

Cho thấy tình yêu mạnh hơn sự chết

Và chết là cửa mở vào cuộc sống bất diệt.

Dù mang phận người yếu đuối,

Nhưng nhờ ơn Chúa nâng đỡ,

Các ngài đã chiến thắng khải hoàn.

Xin cầu cho chúng con là con cháu các ngài

Biết can trường sống đức tin của bậc cha anh

Trong một thế giới vắng bóng Thiên Chúa,

Biết nhiệt thành làm chứng về tình yêu

Bằng một đời hiến thân phục vụ.

Ước gì ngọn lửa đức tin

Mà các ngài đã thắp lên bằng cuộc sống và cái chết,

Được bừng tỏa trên Tổ quốc Việt Nam.

Ước gì máu thắm của các ngài

Thấm vào mảnh đất quê hương

Để công cuộc truyền giáo sinh nhiều hoa trái.

Trở về mục lục >>

CHÚA GIÊSU THÁNH THỂ
TRONG ĐỜI SỐNG CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Lm. Giuse Têrêsa Trần Anh Thụ

"Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống.
Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.
Và bánh tôi sẽ ban tặng,
chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống. "
(Ga 6, 51)

Sáng ngày 30-11-1835, trước khi hành hình tại Tòa Tam Pháp, cha Marchand Du bị tra khảo:

§         Tại sao đạo Giatô móc mắt mấy người gần chết?

Ø      Không có, không bao giờ tôi thấy điều đó.

§         Tại sao mấy người kết hôn lại phải đến các thầy đạo trước bàn thờ?

Ø      Họ đến để thầy cả chúc phúc và chứng nhận trước mặt các tín hữu ở đó.

§         Khi làm yến tiệc trong nhà thờ, bay làm những sự gì quái gở lắm phải không?

Ø      Không, chẳng có những điều quái gở.

§         Vậy sao có thứ bánh dùng làm bùa mê thuốc lú để phát cho những đứa đã xưng tội mà nó mê đạo đến thế?

 

Giáo Hội, ngay từ những thế kỷ đầu, khi kết án các vị tử đạo, niềm tin vào Chúa Giêsu Thánh Thể luôn bị thẩm vấn bởi các nhà cầm quyền. Cuộc bách hại tại Việt Nam cũng như thế. Nhà cầm quyền chẳng thể hiểu nổi sức mạnh thần linh của "thứ bánh" này. Nhưng đối với các vị tử đạo, các ngài cảm nghiệm rất rõ: Chúa Giêsu Thánh Thể chính là sức mạnh của các ngài. Thánh thể chính là nguồn linh dược giúp các Ngài chiến thắng.

1. Từ những tâm hồn trẻ thơ yêu mến Thánh Thể.

Giữa một giai đọan lịch sử đầy khó khăn, cùng với nền văn hóa đương thời, việc lưu trữ tiểu sử cá nhân không được chú ý nhiều. Vì thế, việc tìm hiểu đời sống của các vị tử đạo - nhất là thời thơ ấu - hoàn toàn không dễ dàng.

Tuy thế, với những chứng nhân và tài liệu ít ỏi, chúng ta cũng có thể khám phá ra những tâm hồn "trẻ thơ" yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể của các ngài.

Nơi các vị tử đạo, ngay từ khi còn nhỏ, các ngài đã bày tỏ tấm lòng yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể đặc biệt. Nữ tu Madalena Yến kể về Thánh Tôma Thiện: "Chú Thiện có một người dì, gọi là bà Nghị, làm bà nhất nhà phước Trung Quán. Chú thường lui tới thăm dì và tỏ ra rất ngoan ngoãn, nhu mì, lễ phép. Khi linh mục đến dâng lễ ở họ nhà, chú thường quỳ dự lễ cách nghiêm trang." Thánh Micae Nguyễn Huy Mỹ cũng được sử sách ghi nhận rằng, ngay từ nhỏ đã siêng năng đọc kinh sớm tối, tham dự và lãnh nhận các bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể.

Lòng yêu mến đó không chỉ bộc lộ trong việc thờ kính Chúa Giêsu Thánh Thể trong khi cử hành Bí tích, nhưng còn là một thái độ rất đời thường của trẻ con: thích được cử hành Thánh lễ như các linh mục. Chuyện kể, đầu thế kỷ 19, tại làng Passavant, nước Pháp, nhiều người đã phải ngạc nhiên khi thấy hành vi của một cậu bé chưa đầy mười tuổi: sau giờ học, cậu rủ các bạn hữu về nhà, khiêng bàn, trải khăn làm bàn thờ, trang hoàng hoa nến, đặt cây thánh giá, rồi bắt chước các cử điệu như khi linh mục dâng lễ Missa cho các bạn xem. Đó là cậu Giuse Marchand (Thánh Du).

Có thể ai đó cho rằng, việc làm trên chỉ là việc làm trẻ con như bao đứa trẻ khác vẫn chơi trò chơi với nhau. Nhưng chúng ta không quên rằng, ở tuổi của cậu bé Giuse Marchad, tuổi để chơi trò chơi "đóng kịch" đã qua từ lâu rồi. Nó cũng không phải là tuổi của những mộng tưởng tôn giáo như một số người nghĩ.

Ở tuổi lớn hơn, Đức cha Melchor Xuyên, "khi còn làm thầy đã say mê Chúa Giêsu Thánh Thể, trong các kỳ nghỉ hè, thầy dạy giáo lý cho trẻ em chuẩn bị rước lễ lần đầu và thêm sức. Dân chúng trong vùng yêu mến thầy, và đặt cho thầy cái tên "ông cầu nguyện", vì thầy năng quỳ cầu nguyện trước Thánh thể lâu giờ, và suy niệm 15 mầu nhiệm kinh mân côi mỗi ngày".

Không chỉ là những cậu bé lớn lên trong những gia đình đạo đức, được huấn luyện nghiêm ngặt mà thôi. Thánh giám mục Phêrô Borie Cao, từ nhỏ đã là một đứa trẻ cẩu thả, vào chủng viện vì cha mẹ ép buộc nên không hứng thú gì và thường xuyên phạm luật. Trong cơn bệnh nặng, cậu có dịp gẫm lại cuộc đời mình. Khi trở lại, Borie đã lấy Chúa Giêsu làm lẽ sống, siêng năng đến gặp Chúa Giêsu Thánh Thể. Và trong những giờ gặp gỡ ấy, cậu nghe như Ngài kêu gọi cậu lãnh nhận một sứ mạng cao quý hơn: sứ mạng truyền giáo.

2. Thành những Tông Đồ Thánh Thể giữa gian nan.

Chính lòng yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể đã dẫn những con người vốn yếu đuối, nhỏ bé đó đi vào con đường của chứng nhân, những tông đồ Thánh Thể không mệt mỏi và không hề chùn bước trong gian nan.

Là mục tử, các ngài biết các tín hữu và cả bản thân các ngài cần được sự trợ giúp từ sức mạnh Thánh Thể. Các ngài biết rằng việc làm của các ngài sẽ là một nguy hiểm cho bản thân mình, các ngài vẫn không thể lẩn tránh.

Chẳng hạn, vì thương giáo dân bơ vơ, thánh Vinh Sơn Yến, chấp nhận ẩn trú lén lét để ban ngày thăm viếng khuyên bảo và ban đêm dâng lễ cho giáo dân. Cha Phêrô Tự, mỗi sáng dâng lễ ngay trong vườn nơi cha trú ẩn. Cha Phaolo Phạm Khắc Khoan, mỗi tháng đều đến dâng lễ cho các họ lẻ. Cha bề trên Isidoro Gagelin Kính, đi bộ từ họ này sang họ khác, dầu xa hay gần, dầu lớn hay nhỏ để giảng dạy, dâng lễ, giải tội và ban phép thêm sức cho giáo dân.

Rất nhiều cha đã bị bắt ngay sau khi dâng thánh lễ như: cha Gioan Đạt trốn trên rừng nhưng khi thấy tình hình lắng dịu, cha thường lẻn về các giáo xứ ban phát bí tích. Cha bị bắt khi vừa dâng lễ xong tại một tư gia. Cha Jean Louis Hương bị bắt ngay khi vừa dâng lễ xong đang rửa tội cho trẻ em…có vị bị bắt ngay khi đang cử hành thánh lễ như Thánh Matthew Alonso Liciniana Đậu: ngày 29/11/1743, đang lúc cha dâng lễ, quân lính vây bắt. Các giáo hữu bỏ chạy tán lọan. Cha Đậu vì bất ngờ cũng hoảng hốt bỏ chạy, tay ôm Bình Thánh và rước hết Bánh Thánh.

Các ngài ý thức rất rõ, đời sống linh mục là dâng hiến tế cùng Chúa Giêsu. Dù trong hoàn cảnh khó khăn, thánh lễ vẫn phải được dâng một cách sốt sắng. Chính cử hành của các ngài trở thành những gương mẫu, những bài giảng sống động cho giáo dân về lòng yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể.

Cha Luca Vũ Bá Loan, khi giảng dạy ít dùng lý luận, cha nói bằng cảm nghiệm bản thân mình về Đấng cha đã gặp gỡ thực sự trong kinh nguyện và thánh lễ. Khi cầu nguyện cha như xuất thần, quên hết mọi chuyện chung quanh, dù ai gây tiếng động sát bên cũng không làm cho cha gián đoạn cụôc tiếp xúc với Đấng Linh Thiêng được. Hầu như cha không bỏ dâng lễ bao giờ. Thánh lễ cha cử hành có mầu sắc trang nghiêm khoan thai, cung kính đặc biệt. Một thầy giảng góp ý xin cha dâng lễ nhanh lên như các linh mục khác, cha giải thích: "Không được con ạ. Lễ Missa là việc cao trọng nhất trên trần gian. Không có gì đáng để chúng ta cử hành thánh lễ cách vội vã cả. Việc thờ phượng Chúa cần phải làm cho trang nghiêm sốt sắng". Và thánh lễ của cha chưa kết thúc ở lời chúc bình an, cha thường quỳ lại lâu giờ trước Thánh Thể để tạ ơn Chúa.

Với cha Phêrô Khanh, bên cạnh những lời giáo huấn, chính đời sống là một gương sống động cho giáo dân. Khi cha dâng lễ, mọi người đều thấy sốt sắng thêm lên.

Cha Phêrô Thi được dân chúng làm chứng: "rất nhân đức, mỗi ngày đọc kinh nguyện lâu giờ ba bốn lần, cử hành thánh lễ trang nghiêm,.. Đi đâu ngài cũng mang theo đồ lễ".

Về phía các thánh giáo dân, các ngài không hề run sợ trước chiếu chỉ của Vua Tự Đức vào tháng 3/1851 lên án xử tử: "chặt làm hai ném xuống sông các kẻ chứa chấp Tây dương Đạo trưởng".

Biết trước những nguy cơ đến tính mạng, các ngài vẫn tìm cách để các linh mục có nơi ẩn náu, hầu có thể cử hành thánh lễ và trao ban bí tích. Chẳng hạn như: Thánh Trùm Lựu, Bà Thánh Đê, Thánh Chánh Tổng Luca Thìn. . . : lưu trữ ảnh tượng, áo lễ, . . . trong nhà.

Các ngài cũng ý thức rất rõ việc làm Tông đồ Thánh Thể của giáo dân. Cô gái út của bà Đê là Lucia Nụ đã khai trước tòa: "Mẹ chúng con rất chăm lo việc giáo dục con cái. Chính bà dạy chúng con biết đọc sách và học giáo lý, sau lại dạy cách tham dự thánh lễ và xưng tội rước lễ. Bà không để chúng con lơ là, bà thúc giục chúng con bằng được mới thôi. . ".

Con Thánh Đích cũng làm chứng: "Bố tôi luôn quan tâm đến đời sống đạo đức của mười người con và của những gia nhân giúp việc. Mỗi ngày, ông chỉ định một hay hai người coi nhà, còn những người khác đi lễ". Ông chuyên chú đọc kinh cầu nguyện, xưng tội và rước lễ sốt sắng ngay trong nhà giam.

Bà Lý Mỹ kể: "gia đình tôi sống trong hòa thuận yêu thương. Ông Micae chuyên chăm việc đạo đức, dự lễ hàng ngày, nếu vợ con hay người giúp việc bận rộn không đi lễ được, ông bắt phải đọc kinh chung và nghe sách thiêng liêng để suy niệm. . . "

3. Đến việc cảm nghiệm sức mạnh của Thánh Thể.

Nếu như trong gian nan, các ngài luôn trung tín với sứ vụ tông đồ Thánh Thể; thì trong lao tù, các ngài lại, hơn bao giờ hết, cảm nghiệm sức mạnh thần linh của Của Ăn Thiêng Liêng.

Bằng cách này hay cách khác, khi có dịp, các ngài cử hành Thánh Thể để bản thân mình và anh em được dưỡng nuôi bằng Bánh Hằng Sống.

Cha Cha Jaccard Phan và cha Odorico bị giam lỏng trong cung quán vẫn thường lén lút dâng lễ và cất giấu Mình Thánh Chúa trao cho cha Gagelin Kính.

Ba năm ở Cam Lộ, niềm vui lớn hơn cả của cha Francois Jaccard Phan là được dâng lễ trong trại giam. Một tấm ván bắc qua hai chiếc ghế làm bàn thờ, cha dâng thánh lễ vào giữa đêm khuya, rồi thu xếp dọn dẹp ngay sau đó.

Lễ Chúa ba Ngôi 1744, cha Tế dâng thánh lễ, cha Đậu giúp lễ. Ngày 4 tháng 6, lễ Mình Thánh Chúa, Cha Đậu cũng được dâng lễ, và đấy là lần thứ nhất kể từ khi cha bị bắt, có 130 giáo dân tham dự ngay trong tù.

Cha Ven, trong ngục được cha Thịnh chuyển cho ngài một hộp nhỏ đựng Mình Thánh Chúa. Ngài cung kính chầu Thánh Thể cho đến nửa đêm, rồi mới rước vào lòng.

Rất nhiều linh mục, dầu hoàn cảnh khó khăn hiểm nguy, các vị đã can đảm hiện diện, hoặc hóa trang vào thăm giáo hữu ở trong tù, ban các Bí tích Hòa giải và trao Mình Thánh Chúa. Trong số các Ngài, đã không ít vị cũng lãnh phúc tử đạo như:

Cha Ngôn, hai lần đã khéo léo vào tù thăm và trao Mình Thánh Chúa cho thánh Phêrô Tự. Cha Thán 3 lần vào tù giải tội và đem Mình Thánh Chúa cho thánh Gẫm.

Các tín hữu coi cha Phêrô Lựu như thiên thần Chúa gửi đến đem cho họ lương thực Thánh Thể, ân sủng và bình an. Để thực hiện điều đó, có lúc cha phải bỏ tiền mua chuộc lính canh và thận trọng lời nói với cấp trên của họ. Ngài bị bắt khi thăm tù.

Trong lao tù, cha già Hoan dành rất nhiều giờ để giải tội, chúc lành và khích lệ các tín hữu. Nhận được Mình Thánh Chúa ở ngoài gửi vào, cha rước lễ và chia sẻ cho anh em. Chính cảm nghiệm: Bánh Trường Sinh, Lương thực Thiêng liêng sẽ ban sức mạnh cho mọi người mà người cha già, tay chân cũng mang xiềng, cổ cũng đeo gông và nắm chắc bản án vì đức tin, đã đến gặp từng người bạn sắp ra pháp trường để nói lời ủy lạo và ban cho họ "của ăn đàng".

Các ngài cũng tin rằng, việc cử hành Thánh lễ và rước lễ của người thân cũng là lời cầu nguyện cho sự tín trung của các ngài. Chính Cô Nụ khi đến thăm mẹ là Bà Đê đã được mẹ nhắc nhở: "con hãy về chuyển lời mẹ bảo anh chị con săn sóc việc nhà, vững tâm giữ đạo, sáng tối đọc kinh dâng lễ, cầu nguyện cho mẹ vác thánh giá đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con ta đoàn tụ trên Nước Thiên Đàng."

Cha Vinh Sơn Liêm đã viết cho giám mục Votaris: "con xin đức cha (và cha bề trên) cầu Thiên Chúa cho con trong thánh lễ và kinh nguyện, để mọi ngày con được nên hoàn thiện hơn và vui lòng nhận mọi sự khốn khó theo Thánh Ý Chúa."

4. Để lên đường hiến tế.

Đứng trước thập giá, bên cạnh nhiều người đã bỏ cuộc vẫn còn đó hàng trăm ngàn con người đã trung kiên đến cùng với niềm tin vào Chúa Kitô. Các ngài là những anh hùng của niềm tin. Không ai trong chúng ta phủ nhận điều đó. Nhưng, để làm nên chứng tích anh hùng, các ngài đã trải qua kinh nghiệm của những yếu đuối con người và Bánh Hằng Sống chính là sức mạnh giúp các ngài đi đến tận cùng hiến lễ.

Thánh Phaolo Đạt đã có lần quá khóa. Sau khi ăn năn trở lại, biết đến lúc bị bắt, ngài đã lánh mặt ít giờ để xưng tội và rước lễ lần cuối, rồi thản nhiên đi theo lính lên tỉnh. Hoặc Cha Giuse Hiển, tối ngày 20-12-1839, đi xức dầu cho ông đội đang hấp hối, bị một người ngoại giáo phát giác tố cáo. Thấy khó trốn thoát, cha cử hành một thánh lễ sốt sắng để chuẩn bị lãnh nhận phúc tử đạo.

Phần lớn các ngài, trong ngục tù, bằng cách này cách khác đều được nâng đỡ bởi Bánh Hằng sống: cha Laurensô Hưởng, Cha Loan, Thánh Phaolo Tống Viết Bường, Thánh Giuse Lê Đăng Thị, Cha Gioan Đạt, Thánh Cần, thánh Phêrô Qúy, Cha Federich Tế. . . được các linh mục đến giải tội cho rước lễ trước những ngày chịu hành hình.

Cũng có những trường hợp thật đặc biệt như thánh Anrê Trông. Khi biết tin có cha Ngôn đang hoạt động ở Phú Xuân, anh Trông liền xin viên cai ngục và được phép về nhà một ngày dưới sự giám sát của một người lính. Nhờ đã dò hỏi rõ nơi ở của vị linh mục, Anrê Trông và người lính chèo thuyền đến bến đò kia vào giữa trưa. Lúc đó, mọi người dân chài đã lên bờ ăn uống nghỉ ngơi. Anh Trông liền bước qua thuyền của cha Ngôn, đẩy thuyền trôi nhẹ ra giữa dòng. Hai người nhỏ to "tâm sự" và anh quỳ xuống lãnh phép lành tha tội. Xưng tội xong, anh xin ngỏ ý xin rước lễ. Cha Ngôn hẹn anh sáng hôm sau tại Kẻ Văn. Thế rồi anh và người lính tiếp tục chèo thuyền về Kim Long. Hai người lên bờ và ngủ tại nhà mẹ một đêm. . . . Tảng sáng hôm sau, anh Trông và người lính gác vội vã chèo thuyền đến điểm hẹn. Gặp lại vị khách quý, anh liền quỳ xuống lãnh nhận Mình Thánh Chúa. Cha Ngôn chúc lành: "Ước gì Mình Thánh Chúa Giêsu Kitô sẽ gìn giữ con đến cuộc sống muôn đời" anh thưa: "Amen". Rồi trong niềm hân hoan vì hồng phúc lãnh nhận, anh vui vẻ trở về trại giam như lời hứa với viên cai ngục.

Đối với các vị tử đạo, Thánh Thể chính là lương thực đích thực của các ngài. Các ngài ước ao, mong đợi lương thực từng ngày. Ngày lễ Các Thánh 1839, Cha Trân đưa Mình Thánh Chúa vào ngục. Vừa thấy ngài, cha Lạc đã ra chào đón: "xin chào bác, tôi đợi bác đã lâu vì hết lương thực rồi". Sau đó, cha cung kính rước lễ, và trao Mình Thánh Chúa cho cha già Thi. Ngày 21-12-1839, lần thứ hai khi cha Trân đưa Mình Thánh Chúa vào, cha Thi đã liệt giường, phải nhờ cha Dũng Lạc ra nhận và trao Thánh Thể. Ngày hôm đó là ngày cuối cùng cuộc đời dương thể của các ngài.

Khi đã có thứ lương thực tuyệt vời này, các ngài cảm nhận được niềm vui và sức mạnh thật sự để lên đường. Cha Triệu giả làm thường dân mang Mình Thánh Chúa cho thầy Phêrô Vũ Truật, thầy Đường và các bạn. Thầy Đường đã viết cho cha Marette trong thư: "Hôm nay là ngày trọng đại, chúng con được rước Mình Thánh Chúa. Xin tạ ơn Chúa đã viếng thăm và làm vơi nhẹ những xiềng xích của chúng con. . . cửa thiên đàng đã gần kề, nghĩ đến hạnh phúc đang chờ đợi, chúng con chẳng còn ước ao sự gì khác nữa. . . ".

Ba thánh Mai Năm, Nguyễn Đích Và Nguyễn Huy Mỹ, ngày 12-8-1838, khi biết vua Minh Mạng đã y án. Cả ba vui mừng hớn hở chuẩn bị tâm hồn lãnh nhận bí tích hòa giải và rước Mình Thánh Chúa cách sốt sắng để lên đường hiến tế.

Ngày 2-4-1839, cha Thánh Đaminh Tước đang dâng lễ, nghe tiếng động liền vội vàng cởi áo lễ, dự định chạy sang vườn tới một nhà khác. . . cha bị bắt, bị tra tấn dã man và ngày chiều hôm đó, cử hành Thánh Thể dở dang buổi sáng đã được kết thúc bằng chính hy lễ mạng sống của cha.

Cùng suy nghĩ:

1. Là con cháu của các Thánh Tử Đạo Việt nam, bạn và tôi, chúng ta có đang là những tông đồ Thánh Thể?

2. Giữa những kiếm tìm bánh đời thường hôm nay, tôi có cảm nghiệm được sự cần thiết của "Bánh Hằng sống"?

3. Thánh Thể - sức mạnh của chứng nhân Tin Mừng - tôi có cảm nghiệm được điều đó trong hành trình Loan báo Tin mừng hôm nay?

Tài liệu tham khảo:

1. Lm. Vinh Sơn Bùi Đức Sinh OP. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo, San Jose California-USA 2002.

2. Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam San Jose California -Hoa Kỳ, Thiên Hùng Sử, San Jose, CA-USA 1990.

Trích Website Người Tín Hữu

Trở về mục lục >>

 

DANH SÁCH và TIỂU SỬ SƠ LƯỢC

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Phong thánh: 19-06-1988 * Lễ Kính: 24 – 11 hằng năm

 

Trần Duy Nhiên sưu tầm

1. Giu-se Túc, Thiếu niên. Sinh năm 1852 tại Hoàng Xá, Bắc Ninh.

Tử Đạo 1.6.1862, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

 2.  Mát-thêu Lê Văn Gẫm, Thương gia. Sinh năm 1813 tại Gò Công, Biên Hòa.

Tử Đạo ngày 11.5.1847 tại Chợ Đũi, bị xử trảm đời vua Minh Mạng. 

 

3. Melchior Garcia Sampedro Xuyên, Giám Mục Dòng Đa-minh. Sinh 1821 tại Cortes, Asturias, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 28.7.1858 tại Nam Định, bị xử lăng trì đời vua Tự Đức. 

 

 4.  Francois Gil de Fedrich Tế, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1702 tại Tortosa, Cataluna, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 22.1.1745 tại Thăng Long, bị xử trảm đời chúa Trịnh Doanh. 

 

 5.  Đa-minh Nguyễn Văn Hạnh – Diệu, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1772 tại Năng A, Nghệ An. Tử Đạo ngày 1.8.1838 tại Ba Tòa, bị xử trảm đời vua Minh Mạng. 

 

 6.  Phao-lô Hạnh, Giáo Dân. Sinh năm 1826 tại chợ Quán, Gia Định.

Tử Đạo ngày 28.5.1859 tại Sài-gòn, bị xử trảm đời vua Tự Đức. 

 

7.  Đa-minh Henares Minh, Giám Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1765 tại Baena, Cordova, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 25.6.1838 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Minh Mạng. 

 

8.  Jeronimo Hermosilla Liêm, Giám Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1880 tại S. Domingo de la Calzadar, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 1.11.1861 tại Hải Dương, bị xử trảm đời vua Tự Đức. 

 

9.  Giu-se Đỗ Quang Hiển, Thầy Giảng. Sinh năm 1775 tại Đồng Chuối, Ninh Bình.

Tử Đạo ngày 9.5.1840 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Minh Mạng. 

 

10.  Phê-rô Nguyễn Văn Hiển, Thầy Giảng. Sinh năm 1783 tại Đồng Chuối, Ninh Bình.

Tử Đạo ngày 28.4.1840 tại Ninh Bình, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

11. Si-mon Phan Đắc Hòa, Y sĩ. Sinh năm 1878 tại Mai Vinh, Thừa Thiên.

Tử Đạo ngày 12.12.1840 tại An Hòa, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

12.  Gio-an Đoàn Trinh Hoan, Linh Mục. Sinh năm 1798 tại Kim Long, Thừa Thiên.

Tử Đạo ngày 26.5.1861 tại Đồng Hới, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

13.  Âu-tinh Phan Viết Huy, Binh Sĩ. Sinh năm 1795 tại Hạ Linh, Nam Định.

Tử Đạo ngày 12.6.1839 tại Thừa Thiên, bị xử lăng trì đời vua Minh Mạng. 

 

14.  Đa-minh Huyện, Giáo Dân.  Sinh năm 1817 tại Đông Thành, Thái Bình.

Tử Đạo ngày 5.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sinh đời vua Tự Đức.

 

15.  Lô-ren-sô Nguyễn Văn Hưởng, Linh Mục. Sinh năm 1802 tại Kẻ Sài, HàNội.

Tử Đạo ngày 13.2.1856 tại Ninh Bình, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

16.  Mi-ca-e Hồ Đình Hy, quan Thái Bộc. Sinh năm 1808 tại Như Lâm, Thừa Thiên.

Tử Đạo ngày 22.5.1857 tại An Hòa, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

17.  Francois Jaccard Phan, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris. Sinh năm 1799 tại Onnion, Annecy, Pháp. Tử Đạo ngày 21.9.1838 tại Nhan Biều, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

18.  Đa-minh Phạm Viết Khảm, quan Án, Dòng Ba Đa-minh. Sinh năm 1779 tại Quần Cống, Nam Định. Tử Đạo ngày 13.1.1859 tại Nam Định, bị xử giảo đời vua Tự Đức.

 

19.  Giu-se Nguyễn Duy Khang, Thầy Giảng, Dòng Ba Đa-minh. Sinh năm 1832 tại Trà Vinh, Nam Định. Tử Đạo ngày 6.12.1861 tại Hải Dương, bị xử trảm đời vua Tự Đức. 

 

20.  Phê-rô Phạm Khanh, Linh Mục. Sinh năm 1780 tại Hòa Huệ, Nghệ An.

Tử Đạo ngày 12.7.1842 tại Hà Tĩnh, bị xử trảm đời vua Thiệu Trị.

 

21.  Phê-rô Võ Đăng Khoa, Linh Mục. Sinh năm 1790 tại Thuận Nghĩa, Nghệ An.

Tử Đạo ngày 24.11.1840 tại Đồng Hới, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

22.  Phao-lô Phạm Khắc Khoan, Linh Mục. Sinh năm 1771 tại Duyên Mậu, Ninh Bình.

Tử Đạo ngày 28.4.1840 tại Ninh Bình, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

23.  Tô-ma Khuông, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1789 tại Nam Hào, Hưng Yên.

Tử Đạo ngày 30.1.1860 tại Hưng Yên, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

24.  Vinh-sơn Lê Quang Liêm, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1732 tại Trà Lũ, Nam Định.

Tử Đạo ngày 7.11.1773 tại Đồng Mơ, bị xử trảm đời chúa Trịnh Sâm.

 

25.  Lu-ca Vũ Bá Loan, Linh Mục. Sinh năm 1756 tại Trại Bút, Phú Đa.

Tử Đạo ngày 5.6.1840 tại Ô Cầu Giấy, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

26.  Pedro Almato Bình, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1830 tại San Feliz Saserra, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 1.11.1861 tại Hải Dương, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

27.  Matteo Alonzo Leciniana Đậu, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1702 tại Nava del Rey, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 22.1.1745 tại Thăng Long, bị xử trảm đời chúa Trịnh Doanh.

 

28.  Valentino Berrio Ochoa Vinh, Giám Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1827 tại Elorrio Vizcaya, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 1.11.1861 tại Hải Dương, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

29.  Jean Louis Bonnard Hương, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris. Sinh 1824 tại Saint-Christo-em-Jarez, Pháp. Tử Đạo ngày 1.5.1852 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

30.  Phao-lô Tống Viết Bường, quan Thị Vệ. Sinh tại Phủ Cam, Huế.

Tử Đạo ngày 23.10.1883 tại Thở Đúc, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

31.  Đa-minh Cẩm, Linh Mục Dòng Ba Đa-minh. Sinh tại Cẩm Chương, Bắc Ninh.

Tử Đạo ngày 11.3.1859 tại Hưng Yên, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

32.  Phan-xi-cô Xa-vi-ê Cần, Thầy Giảng. Sinh năm 1803 tại Sơn Miêng, Hà Đông.

Tử Đạo ngày 20.11.1837 tại Ô Cầu Giấy, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

33.  Giu-se Hoàng Lương Cảng, y sĩ, Trùm Họ, Dòng Ba Đa-minh. Sinh năm 1763 Làng Văn, Bắc Giang. Tử Đạo ngày 5.9.1838 tại Bắc Ninh, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

34.  Jacinto Castaneda Gia, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1743 tại Javita, Tây Ban Nha.

Tử Đạo ngày 7.11.1773 tại Đồng Mơ, bị xử trảm đời chúa Trịnh Sâm.

 

35.  Phan-xi-cô Đỗ Văn Chiểu, Thầy Giảng. Sinh năm 1797 tại Trung Lễ, Liên Thùy, Nam Định.

Tử Đạo ngày 12.6.1838 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

36.  Gio-an Bao-ti-xi-ta Còn, Lý trưởng. Sinh năm 1805 tại Kẻ Báng, Nam Định.

Tử Đạo ngày 8.11.1840 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

37.  Jean Charles Cornay Tân, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris. Sinh năm 1809 tại Loudun, Poitiers, Pháp. Tử Đạo ngày 20.9.1837 tại Sơn Tây, bị xử lăng trì đời vua Minh Mạng.

 

38.  Etienne Théodore Cuénot Thể, Giám Mục Hội Thừa Sai Paris.Sinh năm 1802 tại Bélieu, Besancon, Pháp. Tử Đạo ngày 14.11.1861 tại Bình Định, chết rũ tù đời vua Tự Đức.

 

39.  Clemente Ignatio Delgaho Hy, Giám Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1761 tại Villa Felice, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 21.7.1838 tại Nam Định, chết rũ tù đời vua Minh Mạng.

 

40.  Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng – Đắc, Trùm Họ. Sinh năm 1808 tại Kẻ Lái, Quảng Bình

Tử Đạo ngày 26.5.1861 tại Đồng Hới, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

41.  Jose Maria Diaz Sanjuro An, Giám Mục Dòng Đa-minh. Sinh 1818 tại Santa Eulalia de Suegos, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 20.7.1857 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

42.  Bê-na-đô Võ Văn Duệ, Linh Mục. Sinh năm 1755 tại Quần Anh, Nam Định.

Tử Đạo ngày 26.11.1839 tại Ba Tòa, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

43.  Pierre Dumoulin-Borie Cao, Giám Mục Hội Thừa Sai Paris. Sinh năm 1808 tại Beynat, Tulle, Pháp. Tử Đạo ngày 24.11.1838 tại Đồng Hới, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

44.  An-rê Trần An Dũng – Lạc, Linh Mục. Sinh năm 1795 tại Bắc Ninh.

Tử Đạo ngày 21.12.1839 tại Ô Cầu Giấy, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

45.  Phê-rô Dũng, Giáo Dân. Sinh tại Đông Hào, Thái Bình.

Tử Đạo ngày 6.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sống đời vua Tự Đức.

 

46.  Vinh-sơn Dương, Giáo Dân. Sinh tại Doãn Trung, Thái Bình.

Tử Đạo ngày 6.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sống đời vua Tự Đức.

 

47.  Phao-lô Vũ Văn Dương – Đổng, Giáo Dân. Sinh năm 1792 tại Vực Đường, Hưng Yên.

Tử Đạo ngày 3.6.1862 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

48.  Phê-rô Đa, Giáo Dân. Sinh tại Ngọc Cục, Nam Định.

Tử Đạo ngày 17.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sống đời vua Tự Đức.

 

49.  Đa-minh Đinh Đạt, Binh sĩ. Sinh năm 1803 tại Phú Nhai, Nam Định.

Tử Đạo ngày 18.7.1839 tại Nam Định, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

50.  Gio-an Đạt, Linh Mục. Sinh năm 1765 tại Đồng Chuối, Thanh Hóa.

Tử Đạo ngày 28.10.1798 tại chợ Rạ, bị xử trảm đời vua Cảnh Thịnh.

 

51.  Mát-thêu Nguyễn Văn Đắc-Phượng, Trùm Họ. Sinh tại Kẻ Lai, Quảng Bình.

Tử Đạo ngày 26.5.1861, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

52.  Tô-ma Nguyễn Văn Đệ, Giáo Dân. Sinh năm 1810 tại Bồ Trang, Nam Định.

Tử Đạo ngày 19.12.1839 tại Cổ Mê, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

53.  An-tôn Nguyễn Đích, Giáo Dân. Sinh tại Chi Long, Hà Nội.

Tử Đạo ngày 12.8.1838 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

54.  Vinh-sơn Nguyễn Thế Điểm, Linh Mục. Sinh năm 1761 tại Ân Đô, Quảng Trị.

Tử Đạo ngày 24.11.1838 tại Đồng Hới, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

55.  Phê-rô Trương Văn Đường, Thầy Giảng. Sinh năm 1808 tại Kẻ Sở, Hà Nam.

Tử Đạo ngày 18.12.1838 tại Sơn Tây, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

56. Jose Fernandez Hiền, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1775 tại Ventosa de la Cueva, Tây Ban Nha. Tử Đạo ngày 24.7.1838 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

57.  Francois Isidore Gagelin Kính, Linh Mục Thừa Sai Paris. Sinh năm 1799 tại Montperreux, Besancon, Pháp. Tử Đạo ngày 17.10.1833 tại Bãi Dâu, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

58.  Phao-lô Lê Văn Lộc, Linh Mục. Sinh năm 1830 tại An Nhơn, Gia Định.

Tử Đạo ngày 13.2.1859 tại Gia Định, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

59.  Giu-se Nguyễn Văn Lựu, Trùm Họ. Sinh năm 1790 tại Cái Nhum, Vĩnh Long.

Tử Đạo ngày 2.5.1854 tại Vĩnh Long, chết rũ tù đời vua Tự Đức.

 

60.  Phê-rô Nguyễn Văn Lựu, Linh Mục. Sinh năm 1812 tại Gò Vấp, Gia Định.

Tử Đạo ngày 7.4.1861 tại Mỹ Tho, bị xử trả đời vua Tự Đức.

 

61.  Đa-minh Mạo, Giáo Dân. Sinh năm 1818 tại Ngọc Cục, Nam Định.

Tử Đạo ngày 16.6.1862 tại Làng Cốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

62.  Joseph Marchand Du, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris. Sinh năm 1803 tại Passavaut, Besancon, Pháp. Tử Đạo ngày 30.11.1835 tại Thợ Đúc, xử bá đao đời vua Minh Mạng.

 

63.  Đa-minh Mầu, Linh Mục Dòng Đa-minh. Sinh năm 1808 tại Phú Nhai, Nam Định.

Tử Đạo ngày 5.11.1858 tại Hưng Yên, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

64.  Phan-xi-cô Xa-vi-ê Hà Trọng Mậu, Thầy Giảng, Dòng Ba Đa-minh. Sinh năm 1790 tại Kẻ Riền, Thái Bình. Tử Đạo ngày 19.12.1839 tại Cổ Mễ, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

65.  Phi-líp-phê Phan Văn Minh, Linh Mục. Sinh năm 1815 tại Cái Mơn, Vĩnh Long. Tử Đạo ngày 3.7.1853 tại Đinh Khao, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

66.  Âu-tinh Nguyễn Văn Mới, Giáo Dân, Dòng Ba Đa-minh. Sinh năm 1806 tại Phú Trang, Nam Định. Tử Đạo ngày 19.12.1839 tại Cổ Mễ, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

67.  Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ, Lý trưởng. Sinh năm 1804 tại Kẻ Vĩnh, Hà Nội.

12.8.1838 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

68.  Phao-lô Nguyễn Văn Mỹ, Thầy Giảng. Sinh năm 1798 tại Kẻ Non, Hà Nam.

Tử Đạo ngày 18.12.1838 tại Sơn Tây, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

69. Gia-cô-bê Đỗ Mai Năm, Linh Mục. Sinh năm 1781 Đông Biên, Thanh Hóa.

Tử Đạo ngày 12.8.1838 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

70.  Pierre Francois Néron Bắc, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris. Sinh năm 1818 tại Bornay, Saint-Claude, Pháp. Tử Đạo ngày 3.11.1860 tại Sơn Tây, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

71.  Phao-lô Nguyễn Ngân, Linh Mục. Sinh năm 1771 tại Kẻ Biên, Thanh Hóa.

Tử Đạo ngày 8.11.1840 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

72.  Giu-se Nguyễn Đình Nghi, Linh Mục. Sinh năm 1771 tại Kẻ Vồi, Hà Nội.

Tử Đạo ngày 8.11.1840 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

73.  Lô-ren-sô Ngôn, Giáo Dân. Sinh tại Lục Thủy, Nam Định.

Tử Đạo ngày 22.5.1862 tại Nam Định, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

74.  Đa-minh Nguyên, Giáo Dân. Sinh năm 1802 tại Ngọc Cục, Nam Định.

Tử Đạo ngày 16.6.1862 tại Làng Cốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

75.  Đa-minh Nhi, Giáo Dân. Sinh tại Ngọc Cục, Nam Định.

Tử Đạo ngày 16.6.1862 tại Làng Cốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

76.  Đa-minh Ninh, Giáo Dân. Sinh năm 1835 tại Trung Linh, Nam Định.

2.6.1862 tại An Triêm, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

77.  Em-ma-nu-en Lê Văn Phụng, Trùm Họ. Sinh 1796 tại Đầu Nước, Cù Lao Giêng, An Giang

Tử Đạo ngày 31.7.1859 tại Châu Đốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

78.  Phê-rô Đoàn Công Quý, Linh Mục. Sinh năm 1826 tại Búng, Gia Định.

Tử Đạo ngày 31.7.1859 tại Châu Đốc, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

79.  An-tôn Nguyễn Hữu Quynh, Y sĩ.  Sinh năm 1768 tại Mỹ Hương, Quảng Bình.

Tử Đạo ngày 10.7.1840 tại Đồng Hới, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

80.  Augustin Schoeffler Đông, Linh Mục Hội Thừa Sai Paris. Sinh năm 1822 tại Mittelbonn, Nancy, Pháp. Tử Đạo ngày 1.5.1851 tại Sơn Tây, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

81.  Giu-se Phạm Trọng Tả, Cai tổng. Sinh năm 1800 tại Quần Cống, Nam Định.

Tử Đạo ngày 13.1.1859 tại Nam Định, bị xử giảo đời vua Tự Đức.

 

82.  Gio-an Bao-ti-xi-ta Đinh Văn Thành, Thầy Giảng. Sinh năm 1796 tại Nôn Khê, Ninh Bình.

Tử Đạo ngày 28.4.1840 tại Ninh Bình, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

83.  A-nê Lê Thị Thành – Đê, Giáo Dân.  Sinh năm 1781 tại Bá Đền, Thanh Hóa.

Tử Đạo 12.7.1841 tại Nam Định, chết rủ tù đời vua Thiệu Trị.

 

84.  Ni-cô-la Bùi Đức Thể, Binh sĩ. Sinh năm 1792 tại Kiên Trung, Nam Định.

Tử Đạo ngày 12.6.1839 tại Thừa Thiên, bị xử lăng trì đời vua Minh Mạng.

 

85.  Phê-rô Trương Văn Thi, Linh Mục. Sinh năm 1763 tại Kẻ Sở, Hà Nội

Tử Đạo 21.12.1839 tại Ô Cầu Giấy, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

86.  Giu-se Lê Đăng Thi, Cai đội. Sinh năm 1825 tại Kẻ Văn, Quảng Trị.

Tử Đạo ngày 25.10.1860 tại An Hòa, bị xử giảo đời vua Tự Đức.

 

87.  Tô-ma Trần Văn Thiện, Chủng Sinh. Sinh năm 1820 tại Trung Quán, Quảng Bình.

Tử Đạo ngày 21.9.1838 tại Nhan Biều, bị xử giảo đời vua Minh Mạng.

 

88.  Lu-ca Phạm Trọng Thìn, cai tổng. Sinh năm 1819 tại Quần Cống, Nam Định.

Tử Đạo ngày 13.1.1859 tại Nam Định, bị xử giảo đời vua Tự Đức.

 

89.  Mác-ti-nô Tạ Đức Thịnh, Linh Mục. Sinh năm 1760 tại Kẻ Sặt, Hà Nội

Tử Đạo 8.11.1840 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

90.  Ma-ri-nô Thọ, Trùm Họ.  Sinh năm 1787 tại Kẻ Báng, Nam Định.

Tử Đạo 8.11.1840 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Minh Mạng.

 

91.  An-rê Nguyễn Kim Thông – Năm Thuông, Giáo Dân. Sinh năm 1790 tại Gò Thị, Bình Định. Tử Đạo 15.7.1855 tại Mỹ Tho, chết rủ trong tù đời vua Tự Đức.

 

92.  Phê-rô Thuần, Giáo Dân.  Sinh tại Đông Phú, Thái Bình.

Tử Đạo 6.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sống đời vua Tự Đức.

 

93.  Phao-lô Lê Bảo Tịnh, Linh Mục. Sinh năm 1793 tại Trịnh Hà, Thanh Hoá.

Tử Đạo 6.4.1857 tại Bảy Mẫu, bị xử trảm đời vua Tự Đức.

 

94.  Đa-minh Toái, Giáo Dân. Sinh năm 1811 tại Đông Thành, Thái Bình.

Tử Đạo 5.6.1862 tại Nam Định, bị thiêu sống đời vua Tự Đức.

 <