CHÚA GIÊSU THÁNH
THỂ
TRONG ĐỜI SỐNG CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM
Lm. Giuse Têrêsa Trần Anh Thụ
"Tôi là Bánh Hằng Sống từ trời xuống.
Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.
Và bánh tôi sẽ ban tặng,
chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống. "(Ga 6, 51)
Sáng ngày 30-11-1835, trước khi
hành hình tại Tòa Tam Pháp, cha Marchand Du bị tra khảo:
§
Tại sao đạo Giatô móc mắt mấy người gần chết?
Ø
Không có, không bao giờ tôi thấy điều đó.
§
Tại sao mấy người kết hôn lại phải đến các thầy đạo trước bàn
thờ?
Ø
Họ đến để thầy cả chúc phúc và chứng nhận trước mặt các tín hữu
ở đó.
§
Khi làm yến tiệc trong nhà thờ, bay làm những sự gì quái gở lắm
phải không?
Ø
Không, chẳng có những điều quái gở.
§
Vậy sao có thứ bánh dùng làm bùa mê thuốc lú để phát cho những
đứa đã xưng tội mà nó mê đạo đến thế?
Giáo Hội, ngay
từ những thế kỷ đầu, khi kết án các vị tử đạo, niềm tin vào Chúa Giêsu Thánh
Thể luôn bị thẩm vấn bởi các nhà cầm quyền. Cuộc bách hại tại Việt Nam cũng
như thế. Nhà cầm quyền chẳng thể hiểu nổi sức mạnh thần linh của "thứ bánh"
này. Nhưng đối với các vị tử đạo, các ngài cảm nghiệm rất rõ:
Chúa Giêsu Thánh Thể chính là sức mạnh của các ngài. Thánh thể chính là nguồn
linh dược giúp các Ngài chiến thắng.
1. Từ những tâm hồn trẻ thơ yêu
mến Thánh Thể.
Giữa một giai
đọan lịch sử đầy khó khăn, cùng với nền văn hóa đương thời, việc lưu trữ tiểu
sử cá nhân không được chú ý nhiều. Vì thế, việc tìm hiểu đời sống của các vị
tử đạo - nhất là thời thơ ấu - hoàn toàn không dễ dàng.
Tuy thế, với
những chứng nhân và tài liệu ít ỏi, chúng ta cũng có thể khám phá ra những tâm
hồn "trẻ thơ" yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể của các ngài.
Nơi các vị tử
đạo, ngay từ khi còn nhỏ, các ngài đã bày tỏ tấm lòng yêu mến Chúa Giêsu Thánh
Thể đặc biệt. Nữ tu Madalena Yến kể về Thánh Tôma Thiện: "Chú Thiện có một
người dì, gọi là bà Nghị, làm bà nhất nhà phước Trung Quán. Chú thường lui tới
thăm dì và tỏ ra rất ngoan ngoãn, nhu mì, lễ phép. Khi linh mục đến dâng lễ ở
họ nhà, chú thường quỳ dự lễ cách nghiêm trang." Thánh Micae Nguyễn Huy Mỹ
cũng được sử sách ghi nhận rằng, ngay từ nhỏ đã siêng năng đọc kinh sớm tối,
tham dự và lãnh nhận các bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể.
Lòng yêu mến đó
không chỉ bộc lộ trong việc thờ kính Chúa Giêsu Thánh Thể trong khi cử hành Bí
tích, nhưng còn là một thái độ rất đời thường của trẻ con: thích được cử hành
Thánh lễ như các linh mục. Chuyện kể, đầu thế kỷ 19, tại làng Passavant, nước
Pháp, nhiều người đã phải ngạc nhiên khi thấy hành vi của một cậu bé chưa đầy
mười tuổi: sau giờ học, cậu rủ các bạn hữu về nhà, khiêng bàn, trải khăn làm
bàn thờ, trang hoàng hoa nến, đặt cây thánh giá, rồi bắt chước các cử điệu như
khi linh mục dâng lễ Missa cho các bạn xem. Đó là cậu Giuse Marchand (Thánh
Du).
Có thể ai đó cho
rằng, việc làm trên chỉ là việc làm trẻ con như bao đứa trẻ khác vẫn chơi trò
chơi với nhau. Nhưng chúng ta không quên rằng, ở tuổi của cậu bé Giuse
Marchad, tuổi để chơi trò chơi "đóng kịch" đã qua từ lâu rồi. Nó cũng không
phải là tuổi của những mộng tưởng tôn giáo như một số người nghĩ.
Ở tuổi lớn hơn,
Đức cha Melchor Xuyên, "khi còn làm thầy đã say mê Chúa Giêsu Thánh Thể, trong
các kỳ nghỉ hè, thầy dạy giáo lý cho trẻ em chuẩn bị rước lễ lần đầu và thêm
sức. Dân chúng trong vùng yêu mến thầy, và đặt cho thầy cái tên "ông cầu
nguyện", vì thầy năng quỳ cầu nguyện trước Thánh thể lâu giờ, và suy niệm 15
mầu nhiệm kinh mân côi mỗi ngày".
Không chỉ là
những cậu bé lớn lên trong những gia đình đạo đức, được huấn luyện nghiêm ngặt
mà thôi. Thánh giám mục Phêrô Borie Cao, từ nhỏ đã là một đứa trẻ cẩu thả, vào
chủng viện vì cha mẹ ép buộc nên không hứng thú gì và thường xuyên phạm luật.
Trong cơn bệnh nặng, cậu có dịp gẫm lại cuộc đời mình. Khi trở lại, Borie đã
lấy Chúa Giêsu làm lẽ sống, siêng năng đến gặp Chúa Giêsu Thánh Thể. Và trong
những giờ gặp gỡ ấy, cậu nghe như Ngài kêu gọi cậu lãnh nhận một sứ mạng cao
quý hơn: sứ mạng truyền giáo.
2. Thành những
Tông Đồ Thánh Thể giữa gian nan.
Chính lòng yêu
mến Chúa Giêsu Thánh Thể đã dẫn những con người vốn yếu đuối, nhỏ bé đó đi vào
con đường của chứng nhân, những tông đồ Thánh Thể không mệt mỏi và không hề
chùn bước trong gian nan.
Là mục tử, các
ngài biết các tín hữu và cả bản thân các ngài cần được sự trợ giúp từ sức mạnh
Thánh Thể. Các ngài biết rằng việc làm của các ngài sẽ là một nguy hiểm cho
bản thân mình, các ngài vẫn không thể lẩn tránh.
Chẳng hạn, vì
thương giáo dân bơ vơ, thánh Vinh Sơn Yến, chấp nhận ẩn trú lén lét để ban
ngày thăm viếng khuyên bảo và ban đêm dâng lễ cho giáo dân. Cha Phêrô Tự, mỗi
sáng dâng lễ ngay trong vườn nơi cha trú ẩn. Cha Phaolo Phạm Khắc Khoan, mỗi
tháng đều đến dâng lễ cho các họ lẻ. Cha bề trên Isidoro Gagelin Kính, đi bộ
từ họ này sang họ khác, dầu xa hay gần, dầu lớn hay nhỏ để giảng dạy, dâng lễ,
giải tội và ban phép thêm sức cho giáo dân.
Rất nhiều cha đã
bị bắt ngay sau khi dâng thánh lễ như: cha Gioan Đạt trốn trên rừng nhưng khi
thấy tình hình lắng dịu, cha thường lẻn về các giáo xứ ban phát bí tích. Cha
bị bắt khi vừa dâng lễ xong tại một tư gia. Cha Jean Louis Hương bị bắt ngay
khi vừa dâng lễ xong đang rửa tội cho trẻ em…có vị bị bắt ngay khi đang cử
hành thánh lễ như Thánh Matthew Alonso Liciniana Đậu: ngày 29/11/1743, đang
lúc cha dâng lễ, quân lính vây bắt. Các giáo hữu bỏ chạy tán lọan. Cha Đậu vì
bất ngờ cũng hoảng hốt bỏ chạy, tay ôm Bình Thánh và rước hết Bánh Thánh.
Các ngài ý thức
rất rõ, đời sống linh mục là dâng hiến tế cùng Chúa Giêsu. Dù trong hoàn cảnh
khó khăn, thánh lễ vẫn phải được dâng một cách sốt sắng. Chính cử hành của các
ngài trở thành những gương mẫu, những bài giảng sống động cho giáo dân về lòng
yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể.
Cha Luca Vũ Bá
Loan, khi giảng dạy ít dùng lý luận, cha nói bằng cảm nghiệm bản thân mình về
Đấng cha đã gặp gỡ thực sự trong kinh nguyện và thánh lễ. Khi cầu nguyện cha
như xuất thần, quên hết mọi chuyện chung quanh, dù ai gây tiếng động sát bên
cũng không làm cho cha gián đoạn cụôc tiếp xúc với Đấng Linh Thiêng được. Hầu
như cha không bỏ dâng lễ bao giờ. Thánh lễ cha cử hành có mầu sắc trang nghiêm
khoan thai, cung kính đặc biệt. Một thầy giảng góp ý xin cha dâng lễ nhanh lên
như các linh mục khác, cha giải thích: "Không được
con ạ. Lễ Missa là việc cao trọng nhất trên trần gian. Không có gì đáng để
chúng ta cử hành thánh lễ cách vội vã cả. Việc thờ phượng Chúa cần phải làm
cho trang nghiêm sốt sắng". Và thánh lễ của cha chưa kết thúc ở lời
chúc bình an, cha thường quỳ lại lâu giờ trước Thánh Thể để tạ ơn Chúa.
Với cha Phêrô
Khanh, bên cạnh những lời giáo huấn, chính đời sống là một gương sống động cho
giáo dân. Khi cha dâng lễ, mọi người đều thấy sốt sắng thêm lên.
Cha Phêrô Thi
được dân chúng làm chứng: "rất nhân đức, mỗi ngày đọc kinh nguyện lâu giờ ba
bốn lần, cử hành thánh lễ trang nghiêm,.. Đi đâu ngài cũng mang theo đồ lễ".
Về phía các
thánh giáo dân, các ngài không hề run sợ trước chiếu chỉ của Vua Tự Đức vào
tháng 3/1851 lên án xử tử: "chặt làm hai ném xuống sông các kẻ chứa chấp Tây
dương Đạo trưởng".
Biết trước những
nguy cơ đến tính mạng, các ngài vẫn tìm cách để các linh mục có nơi ẩn náu,
hầu có thể cử hành thánh lễ và trao ban bí tích. Chẳng hạn như: Thánh Trùm
Lựu, Bà Thánh Đê, Thánh Chánh Tổng Luca Thìn. . . : lưu trữ ảnh tượng, áo lễ,
. . . trong nhà.
Các ngài cũng ý
thức rất rõ việc làm Tông đồ Thánh Thể của giáo dân. Cô gái út của bà Đê là
Lucia Nụ đã khai trước tòa: "Mẹ chúng con rất chăm lo việc giáo dục con cái.
Chính bà dạy chúng con biết đọc sách và học giáo lý, sau lại dạy cách tham dự
thánh lễ và xưng tội rước lễ. Bà không để chúng con lơ là, bà thúc giục chúng
con bằng được mới thôi. . ".
Con Thánh Đích
cũng làm chứng: "Bố tôi luôn quan tâm đến đời sống đạo đức của mười người con
và của những gia nhân giúp việc. Mỗi ngày, ông chỉ định một hay hai người coi
nhà, còn những người khác đi lễ". Ông chuyên chú đọc kinh cầu nguyện, xưng tội
và rước lễ sốt sắng ngay trong nhà giam.
Bà Lý Mỹ kể:
"gia đình tôi sống trong hòa thuận yêu thương. Ông Micae chuyên chăm việc đạo
đức, dự lễ hàng ngày, nếu vợ con hay người giúp việc bận rộn không đi lễ được,
ông bắt phải đọc kinh chung và nghe sách thiêng liêng để suy niệm. . . "
3. Đến việc cảm
nghiệm sức mạnh của Thánh Thể.
Nếu như trong
gian nan, các ngài luôn trung tín với sứ vụ tông đồ Thánh Thể; thì trong lao
tù, các ngài lại, hơn bao giờ hết, cảm nghiệm sức mạnh thần linh của Của Ăn
Thiêng Liêng.
Bằng cách này
hay cách khác, khi có dịp, các ngài cử hành Thánh Thể để bản thân mình và anh
em được dưỡng nuôi bằng Bánh Hằng Sống.
Cha Cha Jaccard
Phan và cha Odorico bị giam lỏng trong cung quán vẫn thường lén lút dâng lễ và
cất giấu Mình Thánh Chúa trao cho cha Gagelin Kính.
Ba năm ở Cam Lộ,
niềm vui lớn hơn cả của cha Francois Jaccard Phan là được dâng lễ trong trại
giam. Một tấm ván bắc qua hai chiếc ghế làm bàn thờ, cha dâng thánh lễ vào
giữa đêm khuya, rồi thu xếp dọn dẹp ngay sau đó.
Lễ Chúa ba Ngôi
1744, cha Tế dâng thánh lễ, cha Đậu giúp lễ. Ngày 4 tháng 6, lễ Mình Thánh
Chúa, Cha Đậu cũng được dâng lễ, và đấy là lần thứ nhất kể từ khi cha bị bắt,
có 130 giáo dân tham dự ngay trong tù.
Cha Ven, trong
ngục được cha Thịnh chuyển cho ngài một hộp nhỏ đựng Mình Thánh Chúa. Ngài
cung kính chầu Thánh Thể cho đến nửa đêm, rồi mới rước vào lòng.
Rất nhiều linh
mục, dầu hoàn cảnh khó khăn hiểm nguy, các vị đã can đảm hiện diện, hoặc hóa
trang vào thăm giáo hữu ở trong tù, ban các Bí tích Hòa giải và trao Mình
Thánh Chúa. Trong số các Ngài, đã không ít vị cũng lãnh phúc tử đạo như:
Cha Ngôn, hai
lần đã khéo léo vào tù thăm và trao Mình Thánh Chúa cho thánh Phêrô Tự. Cha
Thán 3 lần vào tù giải tội và đem Mình Thánh Chúa cho thánh Gẫm.
Các tín hữu coi
cha Phêrô Lựu như thiên thần Chúa gửi đến đem cho họ lương thực Thánh Thể, ân
sủng và bình an. Để thực hiện điều đó, có lúc cha phải bỏ tiền mua chuộc lính
canh và thận trọng lời nói với cấp trên của họ. Ngài bị bắt khi thăm tù.
Trong lao tù,
cha già Hoan dành rất nhiều giờ để giải tội, chúc lành và khích lệ các tín
hữu. Nhận được Mình Thánh Chúa ở ngoài gửi vào, cha rước lễ và chia sẻ cho anh
em. Chính cảm nghiệm: Bánh Trường Sinh, Lương thực Thiêng liêng sẽ ban sức
mạnh cho mọi người mà người cha già, tay chân cũng mang xiềng, cổ cũng đeo
gông và nắm chắc bản án vì đức tin, đã đến gặp từng người bạn sắp ra pháp
trường để nói lời ủy lạo và ban cho họ "của ăn đàng".
Các ngài cũng
tin rằng, việc cử hành Thánh lễ và rước lễ của người thân cũng là lời cầu
nguyện cho sự tín trung của các ngài. Chính Cô Nụ khi đến thăm mẹ là Bà Đê đã
được mẹ nhắc nhở: "con hãy về chuyển lời mẹ bảo anh chị con săn sóc việc nhà,
vững tâm giữ đạo, sáng tối đọc kinh dâng lễ, cầu nguyện cho mẹ vác thánh giá
đến cùng. Chẳng bao lâu mẹ con ta đoàn tụ trên Nước Thiên Đàng."
Cha Vinh Sơn
Liêm đã viết cho giám mục Votaris: "con xin đức cha (và cha bề trên) cầu Thiên
Chúa cho con trong thánh lễ và kinh nguyện, để mọi ngày con được nên hoàn
thiện hơn và vui lòng nhận mọi sự khốn khó theo Thánh Ý Chúa."
4. Để lên đường
hiến tế.
Đứng trước thập
giá, bên cạnh nhiều người đã bỏ cuộc vẫn còn đó hàng trăm ngàn con người đã
trung kiên đến cùng với niềm tin vào Chúa Kitô. Các ngài là những anh hùng của
niềm tin. Không ai trong chúng ta phủ nhận điều đó. Nhưng, để làm nên chứng
tích anh hùng, các ngài đã trải qua kinh nghiệm của những yếu đuối con người
và Bánh Hằng Sống chính là sức mạnh giúp các ngài đi đến tận cùng hiến lễ.
Thánh Phaolo Đạt
đã có lần quá khóa. Sau khi ăn năn trở lại, biết đến lúc bị bắt, ngài đã lánh
mặt ít giờ để xưng tội và rước lễ lần cuối, rồi thản nhiên đi theo lính lên
tỉnh. Hoặc Cha Giuse Hiển, tối ngày 20-12-1839, đi xức dầu cho ông đội đang
hấp hối, bị một người ngoại giáo phát giác tố cáo. Thấy khó trốn thoát, cha cử
hành một thánh lễ sốt sắng để chuẩn bị lãnh nhận phúc tử đạo.
Phần lớn các
ngài, trong ngục tù, bằng cách này cách khác đều được nâng đỡ bởi Bánh Hằng
sống: cha Laurensô Hưởng, Cha Loan, Thánh Phaolo Tống Viết Bường, Thánh Giuse
Lê Đăng Thị, Cha Gioan Đạt, Thánh Cần, thánh Phêrô Qúy, Cha Federich Tế. . .
được các linh mục đến giải tội cho rước lễ trước những ngày chịu hành hình.
Cũng có những
trường hợp thật đặc biệt như thánh Anrê Trông. Khi biết tin có cha Ngôn đang
hoạt động ở Phú Xuân, anh Trông liền xin viên cai ngục và được phép về nhà một
ngày dưới sự giám sát của một người lính. Nhờ đã dò hỏi rõ nơi ở của vị linh
mục, Anrê Trông và người lính chèo thuyền đến bến đò kia vào giữa trưa. Lúc
đó, mọi người dân chài đã lên bờ ăn uống nghỉ ngơi. Anh Trông liền bước qua
thuyền của cha Ngôn, đẩy thuyền trôi nhẹ ra giữa dòng. Hai người nhỏ to "tâm
sự" và anh quỳ xuống lãnh phép lành tha tội. Xưng tội xong, anh xin ngỏ ý xin
rước lễ. Cha Ngôn hẹn anh sáng hôm sau tại Kẻ Văn. Thế rồi anh và người lính
tiếp tục chèo thuyền về Kim Long. Hai người lên bờ và ngủ tại nhà mẹ một đêm.
. . . Tảng sáng hôm sau, anh Trông và người lính gác vội vã chèo thuyền đến
điểm hẹn. Gặp lại vị khách quý, anh liền quỳ xuống lãnh nhận Mình Thánh Chúa.
Cha Ngôn chúc lành: "Ước gì Mình Thánh Chúa Giêsu Kitô sẽ gìn giữ con đến cuộc
sống muôn đời" anh thưa: "Amen". Rồi trong niềm hân hoan vì hồng phúc lãnh
nhận, anh vui vẻ trở về trại giam như lời hứa với viên cai ngục.
Đối với các vị
tử đạo, Thánh Thể chính là lương thực đích thực của các ngài. Các ngài ước ao,
mong đợi lương thực từng ngày. Ngày lễ Các Thánh 1839, Cha Trân đưa Mình Thánh
Chúa vào ngục. Vừa thấy ngài, cha Lạc đã ra chào đón: "xin chào bác, tôi đợi
bác đã lâu vì hết lương thực rồi". Sau đó, cha cung kính rước lễ, và trao Mình
Thánh Chúa cho cha già Thi. Ngày 21-12-1839, lần thứ hai khi cha Trân đưa Mình
Thánh Chúa vào, cha Thi đã liệt giường, phải nhờ cha Dũng Lạc ra nhận và trao
Thánh Thể. Ngày hôm đó là ngày cuối cùng cuộc đời dương thể của các ngài.
Khi đã có thứ
lương thực tuyệt vời này, các ngài cảm nhận được niềm vui và sức mạnh thật sự
để lên đường. Cha Triệu giả làm thường dân mang Mình Thánh Chúa cho thầy Phêrô
Vũ Truật, thầy Đường và các bạn. Thầy Đường đã viết cho cha Marette trong thư:
"Hôm nay là ngày trọng đại, chúng con được rước Mình Thánh Chúa. Xin tạ ơn
Chúa đã viếng thăm và làm vơi nhẹ những xiềng xích của chúng con. . . cửa
thiên đàng đã gần kề, nghĩ đến hạnh phúc đang chờ đợi, chúng con chẳng còn ước
ao sự gì khác nữa. . . ".
Ba thánh Mai
Năm, Nguyễn Đích Và Nguyễn Huy Mỹ, ngày 12-8-1838, khi biết vua Minh Mạng đã y
án. Cả ba vui mừng hớn hở chuẩn bị tâm hồn lãnh nhận bí tích hòa giải và rước
Mình Thánh Chúa cách sốt sắng để lên đường hiến tế.
Ngày 2-4-1839,
cha Thánh Đaminh Tước đang dâng lễ, nghe tiếng động liền vội vàng cởi áo lễ,
dự định chạy sang vườn tới một nhà khác. . . cha bị bắt, bị tra tấn dã man và
ngày chiều hôm đó, cử hành Thánh Thể dở dang buổi sáng đã được kết thúc bằng
chính hy lễ mạng sống của cha.
Cùng suy nghĩ:
1. Là con cháu của các Thánh Tử Đạo Việt
nam, bạn và tôi, chúng ta có đang là những tông đồ Thánh Thể?
2. Giữa những kiếm tìm bánh đời thường hôm
nay, tôi có cảm nghiệm được sự cần thiết của "Bánh Hằng sống"?
3. Thánh Thể - sức mạnh của chứng nhân Tin
Mừng - tôi có cảm nghiệm được điều đó trong hành trình Loan báo Tin mừng hôm
nay?
Tài liệu tham khảo:
1. Lm. Vinh Sơn Bùi Đức Sinh OP. Các Thánh Tử
Đạo Việt Nam trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo, San Jose California-USA 2002.
2. Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam San Jose
California -Hoa Kỳ, Thiên Hùng Sử, San Jose, CA-USA 1990.
Trích Website Người Tín Hữu
Trở về Muc Lục