|
|
Số 28, Ngày 27-11-2004
Tỉnh Thức Đón Chúa Đến - Giao Duyên Thức Dậy Theo Ánh Mắt Tâm Linh - Khổng Nhuận Tỉnh Thức và Sẵn Sàng - Một Thái Độ Sống Đạo Tốt Đẹp - Nguyễn Chính Kết Những Nhận Thức Mới về Thánh Lễ - Hoàng Quý viết theo Scott Hahn Người Việt và Lễ Tạ Ơn tại Hoa Kỳ - Kim Khánh Và Lễ Tạ Ơn Tới… - Lm. Nguyễn Trung Tây, SVD Tâm Tình Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc
Kính thưa Quý độc giả, Tháng 11 kết thúc tháng các linh hồn để khởi đầu cho một Năm Phụng Vụ mới với Mùa Vọng hướng đến Giáng Sinh. Tại Hoa Kỳ, bản lề cho sự chuyển tiếp này là lễ Thanksgiving (Lễ Tạ Ơn). Dù khởi thủy là một lễ tạ ơn Thiên Chúa, nghĩa là một lễ đạo, Thanksgiving hiện nay đã trở thành một lễ đời, được hiến pháp Hoa Kỳ công nhận từ năm 1863, dưới thời tổng thống Abraham Lincoln, và chỉ thực sự biến thành một ngày lễ nghỉ của Hoa Kỳ từ năm 1941, dưới thời của tổng thống Franklin D. Roosevelt, và được ấn định vào ngày thứ năm (Thursday) tuần thứ tư tháng 11. Dù sao đi nữa, đối với người Công giáo, đây là dịp hằng năm để nhớ lại một cách đặc biệt những hồng ân mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta trong suốt năm qua, và cảm tạ Người. Điều ít người để ý hơn trong dịp lễ này là chúng ta ý thức rằng hồng ân Thiên Chúa không ban cho mình một cách ‘thiêng liêng’ mà luôn luôn qua bàn tay của bao nhiêu người chung quanh, đặc biệt là những người yêu thương mình và cũng là bàn tay nối dài của Thiên Chúa. Vì thế, Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) cũng phải là dịp để mọi người cám ơn nhau. Chúng ta thường xuyên cám ơn một người bán hàng, một người phục vụ bàn ăn, một người trao hàng bưu điện - nghĩa là những người giúp đỡ chúng ta những việc rất nhỏ nhặt -, thế nhưng cũng lại thường quên cám ơn những người hy sinh hết lòng để đem đến ý nghĩa cho cuộc đời mình: cha mẹ, vợ chồng, bằng hữu; và xét về mặt thiêng liêng, những linh mục, tu sĩ nam nữ, là những vị đem đến cho chúng ta những ân sủng mà Thiên Chúa ban qua Hội Thánh. Có lẽ đây là thời gian thích hợp nhất để nhìn vào mắt nhau mà lặp lại câu nói của Dag Hammarskjold: For all that has been, Thanks! For all that will be, Yes! Đối với những gì đã qua, xin cảm tạ! Đối với những gì sắp đến, xin vâng! Cùng với niềm biết ơn và cam kết đó, chúng ta bước vào Năm Phụng Vụ mới với quyết tâm đón nhận Thánh Ý Chúa một cách trọn vẹn hơn, trong tinh thần khiêm tốn đích thực của Đấng Thiên Chúa làm người để chia sẻ thân phận thấp hèn của chúng ta Dag Hammarskjold là vị tổng thư ký thứ hai của Liên Hiệp Quốc (1953-1961) và đã qua đời trong một tai nạn máy bay trong khi đi làm nhiệm vụ xây dựng hòa bình cho Congo. Cuốn nhật ký Markings của ông cho thấy chiều kích của sự khiêm nhường Kitô giáo. Khiêm nhường chính là tự xóa mình hơn là tự hạ mình xuống. Tự xóa mình, theo ông, không có nghĩa là rụt rè, lẩn trốn, và tránh nổi bật. Ông nghĩ rằng “khiêm nhường là không so sánh”, là thấy an toàn về bản thân mình, do đó không nhìn mình tốt hơn hay tệ hơn con người thật của mình. Và khi được đức khiêm nhường đó, thì ta có thể đem hết năng lực của mình để phục vụ tha nhân. Trong đường hướng đó, Maranatha_28 sẽ bàn về một sự thức tỉnh tâm linh để đạt được khiêm nhường như thế trong tâm tình biết ơn Thiên Chúa và cám ơn cuộc đời. Từ đấy, chúng ta bước vào năm phụng vụ mới với niềm vui đợi chờ của Mùa Vọng. Và Mùa Vọng là mùa cao điểm mà mỗi tâm hồn mặc nhiên thốt lên tự đáy lòng mình lời nguyện thiết tha nhất: Maranatha, lạy Chúa Kitô, xin ngự đến!
MARANATHA.
MÙA VỌNG Giao Duyên Qua bài Tin Mừng Mt 24,37-44, Đức Giêsu cho biết Ngài sẽ trở lại trần gian để xét xử nhân loại và cho biết một số điều về ngày ấy như sau: 1. Ngài đến bất ngờ như kẻ trộm: Đức Giêsu cho biết: «Chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến» (Mt 24,44; Lc 12,40), «Ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm» (1 Tx 5,2; 2 Pr 3,10). Sự bất ngờ của kẻ trộm có thể về mặt thời gian – nghĩa là không thể xác định được ngày nào, giờ nào – mà cũng có thể bất ngờ về cách thức: không biết được trộm đến theo cách thức nào, vô nhà bằng lối nào, lấy trộm thứ của cải nào, trộm sẽ giả dạng như thế nào, v.v… rất có thể kẻ trộm lại là người rất quen thuộc với ta, thậm chí là người nhà của ta nữa. Hãy rút ra bài học từ quá khứ. Mặc dù việc Đức Giêsu đến trần gian đã được báo trước cả mấy trăm năm trước, và được toàn dân Ítraen mong đợi, thế mà khi Ngài đến, chẳng mấy ai nhận ra Ngài. Tệ hơn nữa, họ còn kết án và giết chết Ngài một cách tàn ác. Cách Ngài đã đến khác hẳn với cách mà hầu hết mọi người nghĩ tới trước đó. Cách Ngài đến thật bất ngờ mà người thường không ai có thể tưởng tượng ra nổi. Lời Kinh Thánh báo trước cả mấy trăm năm đều được ứng nghiệm, nhưng ứng nghiệm cách khác hẳn với cách giải thích hay cách hiểu truyền thống. Ngày Chúa đến lần thứ hai để xét xử nhân loại cũng có thể có nhiều điều hết sức bất ngờ mà con người không thể đoán trước được, không chỉ về thời gian, mà còn về nhiều mặt khác nữa. Có như thế, sự công chính hay gian tà mới lộ diện rõ rệt, vì ở thế gian, sự gian tà rất nhiều trường hợp lại được ngụy trang bằng sự công chính, và tội lỗi lại mang những bộ mặt hết sức thánh thiện. Con mắt thế gian không thể nào khám phá được, nhưng không ai qua mặt được Thiên Chúa. Đức Giêsu đã từng nói về «các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi» (Mt 7,15). Thánh Phaolô đã từng vạch mặt những hạng người ấy: «Những kẻ đó là tông đồ giả, là thợ gian xảo, đội lốt tông đồ của Đức Kitô. Lạ gì đâu! Vì chính Xatan cũng đội lốt thiên thần sáng láng! Vậy có gì là khác thường khi kẻ phục vụ nó đội lốt người phục vụ sự công chính. Chung cục, chúng sẽ lãnh nhận hậu quả công việc chúng đã làm» (2 Cr 11,13-15). 2. Cách phán xử của Ngài công minh không ai ngờ trước được Nếu Đức Giêsu đến để xét xử trần gian mà không vạch mặt được những giả hình gian dối ấy, nếu Ngài cũng bị hạng người này qua mặt như đã từng qua mặt mọi người trần, thì sự phán xử của Ngài còn gì là công minh nữa? Với tư cách là vị phán trần gian, cách xét đoán của Ngài sẽ phải hết sức công minh, công minh vượt hẳn và khác hẳn cách suy đoán của mọi người. Ngày ấy, biết bao điều bị che dấu thật khôn khéo và kỹ lưỡng, đến nỗi chưa hề có ai biết, sẽ bị đưa ra ánh sáng: «Không có gì che giấu mà sẽ không bị lộ ra, không có gì bí mật mà người ta sẽ không biết» (Lc 12,2), và «những việc tốt thì đã rành rành; mà cả những việc không tốt cũng chẳng che giấu được» (1 Tt 5,25). Chính vì thế mới có những chuyện bất ngờ như: «nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, còn những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu» (Mc 10,31; x. Mt 20,16; Lc 13,30). Nhiều kẻ tưởng mình là công chính hoặc được mọi người tưởng là như thế nhưng lại bị Ngài xét là gian ác, ngược lại có nhiều kẻ tưởng mình thuộc loại xấu đáng kết án hoặc bị mọi người tưởng là như thế, nhưng lại được Ngài xét là công chính. Dụ ngôn người biệt phái và người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện (x. Lc 18,9-14) là một thí dụ điển hình cho sự trái ngược ấy. Còn bao nhiêu chuyện trái ngược như thế được biểu lộ trong Thánh Kinh: «Tôi nói cho các ông hay : Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Giacóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 8,11-12; nên xem thêm Rm 9,30-32; 10,20). Vì thế, tới lúc ấy, chẳng ai dám tự hào mình công chính, vì càng tự hào thì càng dễ trở nên bất chính do chính sự tự hào ấy: «Ai tưởng mình đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã» (1 Cr 10,12). Ngày ấy, sẽ có rất nhiều người tưởng mình công chính vì tự thấy mình chưa bao giờ làm một điều gì xấu, lại làm được biết bao việc phúc đức, nhưng lại không được coi là công chính, mà thậm chí ngược lại, vì: – biết bao nhiêu lần họ đã bỏ qua không làm những việc quan trọng và cần thiết mà đấng bậc họ buộc phải làm – họ có thói quen thờ ơ trước những đau khổ cùng quẫn của người chung quanh, họ không làm gì cả mà lương tâm chẳng hề cắn rứt – họ thường xuyên nhắm mắt làm ngơ để mặc bất công hoành hành đang khi mình có khả năng can thiệp hoặc chặn đứng lại được – họ hay tự hào về những việc tốt lành của mình đồng thời lên mặt khinh chê người khác Và cũng biết bao người tỏ ra khô khan nguội lạnh nên tưởng mình là bất chính nhưng lại được Chúa xét là công chính, vì: – đã thực tình sám hối và quyết tâm không bao giờ tái phạm – khi đụng chuyện cần phải hy sinh cho tha nhân thì đã hy sinh một cách quảng đại, không tính toán, biết quên mình thật sự. – biết mình yếu đuối, nên luôn luôn tỏ ra khiêm nhường, biết cảm thông với những yếu đuối, sai lầm của mọi người. 3. Số phận con người khi ấy được định đoạt khác nhau Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu cho biết: «Bấy giờ, hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại; hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại». Chúng ta chưa biết ý nghĩa chắc chắn của hai từ «được đem đi» và «bị bỏ lại», nhưng qua đó, ta biết được số phận mỗi người lúc ấy được định đoạt một cách khác nhau: kẻ «bị» người «được», kẻ khổ người sướng. Tất cả đều tùy thuộc vào cách sống, cách cư xử và hành động của mỗi người ở trần gian: Ngài «cứ theo công việc mỗi người mà xét xử» (1 Pr 1,17; Kh 20,12-13), «sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm» (Mt 16,27; x. Rm 2,6). Thánh Giacôbê còn cho biết: «Đừng ham làm thầy thiên hạ, vì anh em sẽ bị xét xử nghiêm khắc hơn» (Gc 3,1). Đó là ngày của công lý. Những kẻ gây bất công sẽ phải đền tội: «Thiên Chúa sẽ trả báo, nghĩa là bắt những kẻ gây gian truân cho anh em phải chịu gian truân» (2 Tx 1,6), «Ai ăn ở bất công sẽ được trả theo điều bất công mình làm; không có chuyện thiên vị» (Cr 3,25). Còn những kẻ đã phải đau khổ và chịu bất công vì Thiên Chúa, vì tha nhân, sẽ được đền đáp: «Anh em sẽ được coi là xứng đáng tham dự Nước Thiên Chúa, chính vì Nước Thiên Chúa mà anh em chịu đau khổ» (2 Tx 1,5). 4. Cần phải tỉnh thức Vì không ai biết được ngày quang lâm của Chúa xảy đến lúc nào, và xảy ra thế nào, nhưng có điều chắc chắn là sẽ có nhiều điều rất bất ngờ, không ai dè trước được. Chính vì thế, Đức Giêsu đề nghị với chúng ta một thái độ khôn ngoan, đó là phải tỉnh thức. Tỉnh thức có nghĩa là phải sống làm sao để dù Chúa đến vào bất kỳ lúc nào, dưới bất kỳ hình thức nào, hoặc xét xử công minh đến đâu, thì ta vẫn có thể đứng vững trước mặt Ngài. Vậy cần phải tỉnh thức cách nào? Thái độ tốt nhất trước mặt Thiên Chúa là thái độ tự hủy và yêu thương. Tự hủy là coi nhẹ cái tôi của mình, không coi mình là cái gì quan trọng, không tự hào, không tự cho mình hơn ai, không kết án ai, và cũng không coi ý riêng của mình là sáng suốt, khôn ngoan hơn người. Yêu thương là thể hiện tinh thần tự hủy một cách tích cực hơn, ích lợi hơn cho tha nhân: sẵn sàng hy sinh bản thân vì lợi ích và hạnh phúc của tha nhân. Yêu thương đòi hỏi phải tự hủy như một điều kiện cần thiết. Không thể yêu thương đích thực nếu không tự hủy. Sống tinh thần tự hủy và yêu thương như thế là cầu nguyện đúng nghĩa nhất: cầu nguyện bằng chính cuộc sống, là kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa nơi tha nhân, một sự kết hiệp thực tế và bằng hành động cụ thể. Đó là cách tích cực để ta nên công chính trước mặt Thiên Chúa. Thiên Chúa xét xử ta khoan hay nghiêm tùy thuộc rất nhiều vào sự khoan nghiêm của ta đối với tha nhân: «Thiên Chúa không thương xót khi xét xử kẻ không biết thương xót. Còn với ai biết thương xót, thì Người chẳng quan tâm đến việc xét xử» (Gc 2,13). Ngài không thể không tha thứ cho những ai luôn luôn tha thứ. Ngài sẽ phải tha thứ vô điều kiện cho những kẻ luôn luôn tha thứ vô điều kiện. Chắc chắn Ngài không thể thua con người về lòng khoan dung. Vả lại chúng ta đã hợp đồng với Chúa như thế khi đọc kinh Lạy Cha, theo sự chỉ dạy của Đức Giêsu: «Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con» (Mt 6,12; x. Lc 11,4). Khốn cho chúng ta nếu đã hợp đồng với Chúa như thế mà lại không biết tha thứ: «Nếu anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như vậy» (Mt 18,35). Như thế, luôn luôn tha thứ cho mọi người một cách vô điều kiện, dù lỗi họ có nặng đến đâu, không cần họ phải hối hận hay xin lỗi, là một bí quyết giúp ta hoàn toàn trắng án trong ngày đó, cho dù tội lỗi ta có nặng đến đâu●
THỨC DẬY THEO ÁNH MẮT TÂM LINH Khổng Nhuận Mở đầu năm phụng vụ, thánh Phaolô đã gởi cho chúng ta lời nhắn nhủ hết sức cấp bách qua thư Roma, chương 13: “Đã đến lúc anh em phải thức dậy. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. Anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng.” PHẢI THỨC DẬY Ủa ?! sao lại phải thức dậy, tôi là một trong những Kitô Hữu đàng hoàng, đã từng ăn cơm nhà Chúa cả chục năm trời, đã từng là một thầy giáo xứ, đã từng đóng vai trò giáo dục hướng dẫn con nít lẫn một số giáo dân khác trong cộng đoàn, thế thì cần gì phải thức dậy? Vấn đề thức dậy này chỉ dành cho những kẻ khô khan nguội lạnh, bê bối, chè chèn, say sưa, chơi bời, dâm đãng. Tôi đi lễ, đọc kinh tối sáng ngày thường, ăn chay đúng theo luật Giáo hội, hơn thế nữa, tôi còn là ca trưởng, giáo lý viên, ông trùm, làm huynh trưởng trong cộng đoàn giáo dân….. Đủ quá rồi, tôi tự đánh giá mình tệ nhất cũng vào hạng trung bình khá. Đủ chuẩn để không bị xuống hỏa ngục là tốt rồi, còn mong gì hơn. Thức dậy để làm gì mới được chứ?!!! Và tôi cứ vui vẻ tự hào, hãnh diện về con người có vẻ đạo đức của mình …...cho tới khi…. Cho tới khi tôi bắt đầu nghiên cứu Kinh Thánh một cách nghiêm chỉnh thì tôi mới đâm ra nghi ngờ việc tự đánh giá theo vẻ bên ngoài đạo đức của mình. Khi tôi suy tư về lời khuyên của thánh Phaolô: cầm lấy vũ khí của sự sáng, tôi chẳng hiểu mô tê gì. Như vậy, chứng tỏ tôi đang ngủ mê, bởi vì nếu thực sự thức tỉnh thì ắt là tôi phải hiểu tường tận vũ khí sự sáng là gì, tôi phải biết rõ mình đang cầm vũ khí đó trong tay và quan trọng là tôi phải biết sử dụng vũ khí đó một cách nhuần nhuyễn như Trương Vô Kỵ phát huy chưởng lực kinh hồn của Cửu Dương Chân Kinh. Thế mà đáng tiếc thay, đường đường là một Kitô Hữu có vẻ đạo đức mà lại mù tịt về vũ khí của sự sáng. Chính vì thế, tôi quyết tâm tìm hiểu cho ra mới được vì đã đến lúc phải thức dậy rồi, tôi không thể mãi ngủ mê trong tâm tưởng người Kitô Hữu trên trung bình. LOẠI BỎ NHỮNG VIỆC ĐEN TỐI Khi còn trẻ, tôi chỉ hiểu đơn giản như sau: mỗi khi tới mùa vọng thì tôi phải sửa đổi một vài thói quen xấu và mỗi ngày dâng lên Chúa Hài Nhi một vài Hy Sinh nho nhỏ như những cọng rơm để làm máng cỏ thiêng liêng cho Chúa nằm vào đêm giáng sinh. Rồi đêm giáng sinh tưng bừng rộn rã qua đi, phong trào hy sinh, hãm mình xẹp xuống như chiếc bong bóng xì hơi, tôi lại trở về con người cũ rích của mình. Chờ tới mùa chay, tôi lại được dịp hy sinh hãm mình theo phong trào để đón mừng Chúa phục sinh. Sau đó là Mùa Thường Niên buồn tẻ kéo dài lê thê cho tới mùa vọng…Đời sống tâm linh của tôi giống như chiếc đèn kéo quân quay tít mù theo chu kỳ phụng vụ, hết năm này qua năm khác - như một người mộng du - mà không biết cách nào thức dậy. Hoá ra những hy sinh hãm mình - từ bỏ những thói hư, tật xấu kiểu phong trào theo chu kỳ phụng vụ ắt không phải là từ bỏ đúng như ý thánh Phaolô đã từng khuyên. Lớn lên, tôi được dạy rằng loại bỏ những việc đen tối, chính là từ bỏ ma quỷ và mọi sự sang trọng của ma quỷ. Satan là thủ lãnh thế gian với quyền lực kinh hồn và mưu mô tinh vi. Nó cám dỗ nhân loại bằng những lời đường mật, dụ dỗ con người lọt vào tròng của nó. Một khi lọt vào trong vòng tay của nó rồi, con người khó có thể thoát khỏi ách nô lệ kìm kẹp ma quái, giống như Đường Tăng vùng vẫy tuyệt vọng trong những sợi tơ nhền nhện mong manh nhưng lại rất bền chặt của lũ yêu tinh cực kỳ xinh đẹp. Tôi cũng đã từng một thời nghe lời ma quỷ mà ăn thử một trái táo cám dỗ, tôi ghé rằng cắn vào thử một miếng, quả nhiên, miệng nghe ngọt đắng. Thực vậy, thời gian đó, tôi như một người lỡ trượt chân xuống ao đầy bùn. Tôi leo lên bờ vội vàng dội một sô nước Bí tích Giải tội nhưng trong lòng biết chắc chắn chỉ vài ngày sau, tôi sẽ lại trượt chân lần nữa. Đúng như thế, tôi không những trượt một lần mà tới mấy chục lần. Lúc đó, tôi thừa biết rằng bùn đen chắc chắn dơ bẩn nhưng mùi của nó quả là thơm tho ngào ngạt quyến rũ. Khổ là ở chỗ đó. Giả sử tôi thấy Satan dữ dằn như quái vật trong lâu đài cổ tích và trái cấm của nó thối hoăng cả lên thì làm gì có chuyện sa chước ma quỷ cám dỗ một cách dễ dàng như vậy… Trái lại, nó dễ thương như thiên thần với lời mật ngọt rót vào tai và trái táo từ thời nguyên thủy ở vườn địa đàng ngày xưa… cho tới bây giờ vẫn còn mọng chín hấp dẫn thơm hương - trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý (St 3:6). Chính vì thế thay vì loại bỏ Satan, tôi lại quay ra làm tôi mọi cho nó. Ngoài những thời gian vấp ngã kể trên, đời sống hàng ngày của tôi giống như bất cứ một người bình thường nào khác: tối ngày lo kiếm tiền, ăn uống, ngủ nghỉ, vui chơi giải trí… còn việc Chúa hay ma quỷ tôi chẳng quan tâm lắm. Như vậy, bình thường, chuyện từ bỏ ma quỷ chỉ thuần tuý là những câu đối đáp vô nghĩa. Tôi còn nhớ hôm đỡ đầu cho một em bé lãnh nhận bí tích Thanh tẩy, gần hai chục người tham dự. Cha hỏi: Anh chị em có từ bỏ…Thưa từ bỏ. Lần thứ tư cha hỏi: Anh chị em có tin Thiên Chúa… Thưa từ bỏ !!! Cha sở trợn mắt nhìn !!! Rõ ràng là chỉ nói ở ngoài miệng một cách vô thức. Rõ ràng là đời sống thường ngày của tôi dường như chẳng liên quan tới ma quỷ bao nhiêu, nhưng thỉnh thoảng tên cám dỗ xuất hiện, thay vì tôi loại bỏ những việc tối tăm của ma quỷ, tôi lại chiều theo nó một cách ngu muội. Như vậy chứng tỏ việc loại bỏ những việc đen tối của ma quỷ cực kỳ khó khăn. ĐỪNG CHIỀU THEO TÍNH XÁC THỊT QUAN NIỆM THÔNG THƯỜNG Tính xác thịt được tóm gọn trong 7 mối tội đầu: kiêu ngạo, hà tiện, mê dâm dục, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét, làm biếng – quen gọi là khô khan nguội lạnh việc thờ phượng Đức Chúa Trời. Trong 7 mối tội đầu này, đứng đầu và là nền tảng chính là kiêu ngạo – chỉ thấy và phục vụ cho cái tôi. Tất cả những tính xác thịt này gắn bó với con người gần như là một bản chất, như hình với bóng. Và xác thịt chính là mảnh đất lý tưởng cho Satan dụng võ với sự hỗ trợ đắc lực của đam mê thế gian. Xác thịt đã từng bị coi là kẻ nội thù trong hàng mấy thế kỷ, phải coi khinh nó. Hiện nay, tuy không còn kết án xác thịt nữa, nhưng người ta vẫn dựa vào yếu đuối của xác thịt để chạy tội. Nếu tôi lỡ yếu đuối chiều theo tính xác thịt tôi đã có sẵn bửu bối : Vì Chúa đã biết từ ngàn xưa rằng thân con bởi tro bụi và được cưu mang trong tội lỗi. Kết quả là chuyện đừng chiều theo tính xác thịt khó còn hơn lên sao Hoả. QUAN NIỆM TÍCH CỰC HƠN Có người đã tìm ra cách chiến thắng xác thịt khá hay và khá bài bản. Quan niệm: Xác thịt không phải là thân xác, cảm xúc , ham muốn tình dục. Xác thịt liên quan tới bản tính con người tách biệt khỏi Thiên Chúa, hoạt động cách xa Thiên Chúa và như thế là chống lại Ngài, cản trở người Kitô Hữu lớn lên trong đời sống tâm linh. Chiến lược: Nếu ra sức làm trọn lề luật Chúa thì không kết quả lắm và thường sinh ra bất mãn. điều cần thiết là có sự thay đổi bản tính của chúng ta, một sự thay đổi vượt trên khả năng con người. Vì thế phải dựa vào khả năng biến đổi trong của Thánh Thần bằng cách tiếp cận giao ước mới trong Đức Kitô Điều mà Lề Luật không thể làm được, vì bị tính xác thịt làm cho ra suy yếu, thì Thiên Chúa đã làm: khi sai chính Con mình đến mang thân xác giống như thân xác tội lỗi chúng ta để đền tội chúng ta, Thiên Chúa đã lên án tội trong thân xác Con mình.4 Thiên Chúa làm như vậy, để sự công chính mà Luật đòi hỏi được hoàn toàn thực hiện nơi chúng ta, là những người không sống theo tính xác thịt, nhưng theo Thần Khí.(Rm 8:3-4). Chúng ta phải trung thành suy phục Chúa Thánh Thần. Giải pháp: Chiến lược đưa ra thật tuyệt vời nhưng tiếc một điều là giải pháp để thực hiện lại nửa vời. Khi đưa ra chiến lược là suy phục Chúa Thánh Thần, nhưng khi khai triển 4 phương thế lại chẳng thấy dính dáng gì lắm tới chuyện suy phục Chúa Thánh Thần. Tôi xin tóm tắt 4 phương thế thực hiện sau đây: - Quyết định để Chúa Giêsu làm Chúa trong mọi lãnh vực cuộc sống với thái độ vâng lời tích cực - Tạ ơn, vui mừng giữa những khó khăn - Chấp nhận Thánh giá để Thiên Chúa thanh luyện và củng cố mình. - Bỏ qua mọi nỗi tức tối: viết tên những người bạn với những điều mình khó chịu, cầu nguyện và trao hết những thứ đó cho Chúa. Tôi nhận thấy quan niệm về thân xác và chiến lược quả thực là một khám phá mới và tích cực so với quan niệm thông thường, nhưng khi đề nghị phương pháp để thực hiện thì lại tỏ ra lúng túng theo kiểu: con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt leo ra leo vào - vì vẫn còn mang cặp mắt nhận loại với thân xác nặng nề và cái tôi to đùng. Thực vậy, nếu quyết định để Chúa Giêsu làm Chúa và vui mừng giữa những khó khăn thì khó khăn sẽ trở nên nhẹ như lồng hồng, lúc đó làm gì còn thánh giá để cái tôi è cổ ra để vác?!? Chắc hẳn quý độc giả đã nhận ra sự mâu thuẫn giữa những ý niệm: để Chúa Giêsu làm Chúa sẽ mang lại hiệu quả: Vui mừng giữa những khó khăn; thế mà vẫn còn phải: Chấp nhận Thánh giá (tượng trưng cho những nặng nề, khổ sở) và bỏ qua mọi nỗi tức tối (cũng là hệ quả của những nặng nề, khổ sở) Tóm lại, theo ánh mắt nhân loại, tôi nhận thấy từ bỏ ma quỷ và đừng chiều theo tính xác thịt hầu như không tưởng vì não trạng phân biệt tôi và Chúa quá rõ ràng và dứt khoát. Thành ra thế đối lập dường như không thể hoà hợp được dù ngoài miệng vẫn cứ ra rả loan báo: chúng ta hãy sống kết hợp với Chúa mà trong thâm tâm lại cứ tự nhủ Chúa Giêsu khác, tôi khác – xác tín mạnh mẽ như đính đóng cột. Nếu thế thì việc thức dậy chắc chắn sẽ mãi mãi như đèn kéo quân quay tít mù theo chu kỳ phụng vụ hết năm này tới năm khác mà vẫn không thức dậy nổi. THỨC DẬY - THEO ÁNH MẮT TÂM LINH Để thức dậy, theo ánh mắt tâm linh, tôi xin mạn phép dùng lý luận liên hoàn rất quen thuộc với độc giả Muốn thức dậy Ta phải loại bỏ những việc làm đen tối Và đừng chiều theo tính xác thịt Muốn loại bỏ những việc làm đen tối Và đừng chiều theo tính xác thịt Thì điều kiện là phải cầm lấy vũ khí của sự sáng Bằng cách mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô Như vậy rõ ràng là tôi phải bắt dầu bằng việc mặc lấy Đức Giêsu Kitô. Giải quyết được vấn đề này cho tận gốc thì lập tức tôi sẽ thấu hiểu vũ khí của sự sáng là gì; tiếp theo là loại những việc đen tối và đừng chiều theo tính xác thịt sẽ dễ như ăn cơm sườn, tất nhiên là lúc đó tôi biết mình đã thực sự thức dậy, không còn ngủ mê nữa. MẶC LẤY CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ Theo tôi, có 4 cách mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô hay đi theo Chúa Giê-su Ki-tô Theo Chúa Giê-su Ki-tô hình thức Đây là mẫu người Kitô Hữu hình thức, họ mang danh là Kitô Hữu nhưng họ hoà mình vào trong đám đông láo nháo lũ lượt đi theo Ngài. Ai làm gì họ làm theo không cần hiểu, không thắc mắc. Họ giữ đạo như người máy: đi lễ như người máy, rước lễ như người máy, đọc kinh như người máy theo thói quen từ đời ông bà, cha mẹ để lại năm này qua năm khác. Theo Chúa Giê-su Ki-tô để lập công Họ quan tâm tới những hy sinh, những làm việc đạo đức và những việc tông đồ, bác ái mà họ gọi có vẻ dao to búa lớn: công trình của Chúa mục đích như thầm bảo: Chúa nhớ ghi sổ đấy nhé, để đời sau giảm hình phạt nơi luyện ngục và thưởng trên thiên đàng cao cao một chút Theo Chúa Giê-su Ki-tô để Ngài ban Thánh Thần Nghe có vẻ hấp dẫn đấy, nhưng thực tế rất chua chát. Tôi biết rất nhiều thành viên trong những cộng đoàn kể cả các huynh trưởng cấp cao nhất, lẽo đẽo theo Chúa cả chục năm trời mà vẫn lờ mờ về Thánh Thần. Xin quý vị đừng nóng máu nghĩ là tôi huênh hoang láo khoét làm như chỉ một mình có Thánh Thần còn những người khác không có. Xin thưa, xin thưa, hoàn toàn không phải vậy. Thực ra ai cũng tràn ngập Thánh Thần - Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta - God has been poured out into our hearts - has been poured out: đã, đang và sẽ tuôn đổ hết sạch (Rm 5:5) - Vấn đề là ở chỗ: tôi có nhận ra và sống trong Thánh Thần hay không mà thôi. Thực đáng tiếc!! thay vì tìm hiểu con người đích thực của Đức Kitô để mà bắt chước sống cuộc đời tâm linh dồi dào, bình an, hạnh phúc trong tình yêu thương vô biên của Chúa Cha; họ lại quay ra chạy đến với Đức Kitô với tâm hồn rỗng tuếch, để năn nỉ Đức Kitô ban Thánh Thần cho họ. Còn Thánh Thần do Chúa Cha ban cho - vốn ở trong lòng mình (into our hearts), ít nhất là từ khi họ lãnh nhận Bí tích Thanh tảy - không biết bây giờ họ bỏ bê Thánh Thần ỏ nơi nào??? Theo Chúa Giê-su Ki-tô để sống nên một với Ngài Nhờ đọc Kinh Thánh với phương pháp cá nhân hóa và nội tâm hoá, (xin vui lòng xem lại Maranatha số 22 : Đọc Kinh Thánh theo ánh mắt tâm linh ) Tôi khám phá ra con người đích thực của Đức Giêsu Kitô.( xin vui lòng xem lại Maranatha số 27 : Đức Kitô là vua hay là trưởng tử). Một khi tôi nhận ra tôi giống Đức Kitô như đúc : con Thiên Chúa, tràn đầy Thần Khí Thiên Chúa, đồng hình đồng dạng với Ngài, tôi chắc chắn nhận ra bản tánh tuyệt vời của mình. Tôi bắt đầu sống một cuộc đời đích thực bình an hạnh phúc, và lúc đó tôi mới cảm nghiệm được tôi sống, không còn là tôi sống mà là chính Đức Kitô sống trong tôi. Từ cảm nghiệm ngọt nào này, tôi khám phá ra vũ khí của sự sáng chính là Thần Khí Thiên Chúa vốn sẵn trong tôi vì thế tôi cũng nhận ra thân xác tôi không còn là kẻ nội thù mà đã biến thành đền thờ Chúa Thánh Thần, cùng vui hưởng hạnh phúc với tâm hồn vui vẻ bình ban, thoải mái. Dù khó khăn bên ngoài vẫn còn giăng mắc khắp nơi trên đường đời, nhưng trong lòng tôi không thấy nặng nề, khổ sở như thời còn ngủ mê. Tôi đón nhận với tâm hồn thoải mái, thì lập tức nỗi khó khăn dần dần trở nên nhẹ tênh – Đã lâu rồi tôi không còn thấy thánh giá để vác nữa, bởi vì thánh giá đã trở nên nhẹ như lông hồng. Thỉnh thoảng tên cám dỗ ló mặt tới, tôi liền dùng vũ khí ánh sáng chính là sức mạnh đầy quyền năng của Thần Khí Thiên Chúa bằng cách trầm mình xuống một chút để ‘thấy Thánh Thần’ trong mình, rồi đùa với nó rằng: “Này anh bạn, tớ bận lắm, không có giờ để tiếp bạn đâu nhé”. Tên Satan liền tiu nghỉu tẽn tò ra đi không kèn không trống. Nói cách khác, dù Satan suốt ngày bên tôi, thì thây kệ hắn – makeno - hắn chẳng liên quan gì tới tôi, bởi vì điều choán hết toàn bộ đời sống tâm linh của tôi lúc này là cố gắng sống kết hợp với Chúa ngay trong lòng mình, đâu còn thời gian dành cho Satan nữa. Quả vậy, từ ngày mặc lấy Đức Kitô, tôi đã biết sử dụng vũ khí của sự sáng là Thần Khí Thiên Chúa. với vũ khí sắc bén này, tôi loại bỏ những việc làm đen tối một cách khá dễ dàng. Ngoài ra tôi đã biến kẻ nội thù thân xác làm người bạn lý tưởng để cùng vui hưởng hạnh phúc trong tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa. Trong niềm vui tuyệt vời này, tôi biết mình đã thực sự THỨC DẬY. Nhân dịp mùa Vọng 2004 lại về, tôi xin gom góp một chút cảm nghiệm về chủ đề PHẢI THỨC DẬY, như là một món quà nho nhỏ với lời thì thầm ngọt ngào đầy tình mến: Trước hết, hãy mặc lấy Đức Kitô●
TỈNH THỨC
VÀ SẴN
SÀNG, Nguyễn Chính Kết 1. Nhiều Kitô hữu nghĩ rằng ngày tận thế sắp đến Hiện nay, rất nhiều Kitô hữu đang quan tâm đến ngày tận thế. Nhiều người đoán rằng ngày ấy gần đến rồi. Thực ra, ngay từ thời các tông đồ, rồi thời gian ngay trước năm 1000, rồi mới đây ngay trước năm 2000, và hiện nay khi thấy chiến tranh thế giới có nguy cơ xảy ra, các Kitô hữu nghĩ ngày tận thế sắp đến ngay tức thời. Vào những thời điểm kể trên, có rất nhiều dấu hiệu phù hợp với những lời tiên tri của Đức Giêsu về ngày tận thế: chiến tranh, thiên tai, động đất, lòng người nguội lạnh, sự ác lan tràn… Những thời điểm ấy, thời điểm nào các Kitô hữu cũng đều thấy rằng từ trước đến lúc ấy, chưa bao giờ những sự kiện được coi là điềm của tận thế lại dồn dập đến như những thời điểm ấy. Nhưng rồi những thời điểm ấy qua đi, và ngày tận thế vẫn chưa tới. Hiện nay, tâm lý người Kitô hữu vẫn y như vậy. Đó cũng là một điều tốt để cảnh tỉnh người Kitô hữu. 2. Coi chừng kẻo bị lường gạt Đúng ra, khi nghĩ đến tận thế và chuẩn bị cho tận thế, người Kitô hữu phải tỉnh thức như Đức Giêsu khuyên nhủ, bằng cách sống tích cực tinh thần Tin Mừng của Ngài, cụ thể bằng sự yêu thương nhau. Nhưng trong thực tế, thay vì sống tinh thần tỉnh thức, họ bị lôi cuốn vào việc tìm những điềm thiêng dấu lạ, sưu tầm những lời khuyên nhủ mới nhất của đấng này đấng kia hiện ra… Lòng họ vì thế bị chao đảo, sợ hãi: thay vì cứ an tâm sống cho đúng tinh thần Tin Mừng, thì họ lại tìm cách đối phó với ngày ấy, hoặc tìm những phương cách dễ dàng do người này chỉ người kia bảo, những phương cách khôn ngoan kiểu thế gian… miễn sao được cứu rỗi vào ngày đó. Vì thế, họ dễ bị thần khí xấu lường gạt. Theo tôi, ta nên nghe lời thánh Phaolô: «nếu có ai bảo rằng chúng tôi đã được thần khí mặc khải… quả quyết rằng ngày của Chúa gần đến, thì anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ. Đừng để ai lừa dối anh em bất cứ cách nào» (2Tx 2,2-3). Và cũng nên lưu ý lời thánh Gioan: «Anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian» (1Ga 4,1). Thần khí giả thời nay rất khôn khéo, không hề nói điều gì xấu hay sai trái, toàn nói những điều hay lẽ thật, nhưng lại chỉ nhấn mạnh đến những điều tương đối phụ thuộc hầu làm người ta quên đi điều cốt yếu của Tin Mừng. Hoặc cứ nhấn mạnh đến việc sử dụng những phương tiện để làm người ta quên đi mục đích: dùng phương tiện thật hay mà không xác định rõ ràng mục đích phải tới, thì mục đích ấy làm sao đạt được? Mục đích không đạt được thì phương tiện có ích lợi gì? Nhờ khôn khéo như thế, thần khí xấu ấy dối gạt được rất nhiều người (x. Mt 24,11), kể cả những người được chọn (x. Mt 24,24). Chỉ cần làm người ta lạc hướng Tin Mừng như thế là ma quỉ đã thành công lớn rồi! Chính Đức Giêsu cũng đã cảnh báo: «Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng: “Chính ta đây”, và: “Thời kỳ đã đến gần”; anh em chớ có theo họ» (Lc 21,8). Thần khí xấu có thể không xưng mình là Đức Giêsu, vì như thế sống sượng quá, không lừa gạt được ai, mà xưng mình là một nhân vật uy tín nào đó! Vì thế, thay vì quan tâm sống cho đúng tinh thần của Đức Giêsu, thì nhiều Kitô hữu chuẩn bị đón Chúa đến bằng sự gia tăng đọc kinh cầu nguyện cho nhiều và cho sốt sắng hơn, tham dự các bí tích thường xuyên hơn, đồng thời hối thúc người khác cũng chuẩn bị giống như họ, v.v… Quả thật, tất cả những việc ấy đều rất tốt, rất đáng làm, nhưng lại không phải là việc chính yếu cần phải làm để chuẩn bị ngày Chúa đến. Nhiều người còn nghĩ tới chuyện phải đối phó làm sao với cảnh tối ba ngày ba đêm bằng cách mua thật nhiều đèn cầy rồi đem đến xin linh mục làm phép để đốt trong những ngày ấy! Chỉ cần làm cho người ta quá quan tâm đến việc đối phó với tận thế mà quên đi việc sống đạo hay những bổn phận trước mắt là ma quỉ đã thắng lợi rồi! 3. Hãy chuẩn bị đón Chúa đến một cách khôn ngoan, đúng ý Thiên Chúa muốn Đúng ra, theo tinh thần bài Tin Mừng trên, thì việc cần làm nhất là tỉnh thức và sẵn sàng, nghĩa là phải từng giây từng phút sống sao cho đúng thánh ý của Thiên Chúa, đúng tinh thần của Đức Giêsu. Cụ thể là: – yêu mến Thiên Chúa bằng cách sống cho có tình có nghĩa với mọi người chung quanh, nhất là những người gần gũi mình nhất. Chính Đức Giêsu đã dùng tình yêu đối với loài người, được biểu lộ hùng hồn nhất qua cái chết của Ngài, để thờ phượng và thể hiện tình yêu của mình đối với Thiên Chúa. – nhận ra tha nhân là hình ảnh và là hiện thân của Thiên Chúa mà mình phải yêu thương. Làm sao ta dám cho rằng mình yêu mến Thiên Chúa vô hình khi mà những hình ảnh hay hiện thân hữu hình của Ngài thì mình lại chẳng yêu thương? – thể hiện tình yêu thương ấy bằng hành động cụ thể là sự quan tâm, giúp đỡ, hy sinh thật sự cho họ. Tình yêu không được biểu lộ thành hành động cụ thể chỉ là thứ tình yêu giả dối, ngoài môi miệng. Cách chuẩn bị cho ngày tận thế hay nhất vẫn là tỉnh thức theo kiểu thánh Louis Gonzaga, một vị thánh chết khi còn rất trẻ tuổi. Một hôm, vào giờ chơi, Louis đang chơi banh ngoài sân, cha linh hướng đến hỏi Louis: «Nếu một lát nữa Chúa gọi con về với Ngài, thì bây giờ con làm gì?» Câu trả lời của Louis làm cha linh hướng rất hài lòng: «Con sẽ tiếp tục chơi, vì bây giờ là giờ chơi, thánh ý của Thiên Chúa đối với con vào giờ này là muốn con chơi». Điều đó cho thấy Louis lúc nào cũng cố gắng sống đúng thánh ý Chúa, đúng theo đòi hỏi của tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân, nên Louis có thể sẵn sàng về với Chúa bất kỳ lúc nào. Nếu ta là Louis lúc đó, chắc hẳn ta sẽ trả lời: «Con sẽ đi gặp một linh mục để xưng tội, và vào nhà thờ cầu nguyện để chết trong khi cầu nguyện». Trả lời như thế chứng tỏ ta không thường xuyên sống trong tình trạng tỉnh thức chuẩn bị Chúa đến, mà đợi «nước đến chân mới nhảy». Như vậy, giả như Thiên Chúa gọi ta về với Ngài ngay lúc này, khiến ta không có một phút nào để kịp ăn năn hay xưng tội, thì số phận ta sẽ thế nào? Nếu lúc nào ta cũng sống đúng theo thánh ý Thiên Chúa, sống đẹp lòng Thiên Chúa, thì dù Chúa sắp đến hay còn lâu mới đến, ta không có gì phải bận tâm. Đấy là cách chuẩn bị đón Chúa đến hay nhất, cách mà Đức Giêsu muốn ta thực hiện nhất. Nghĩa là lúc nào ta cũng sẵn sàng đến trình diện Chúa như Louis Gonzaga, nên luôn luôn làm mọi việc như bình thường, có vẻ như chẳng chuẩn bị gì cả, cho dù biết Chúa sẽ đến ngay ngày mai, hay chỉ trong chốc lát nữa! Đối với người luôn tỉnh thức và sẵn sàng, Chúa đến lúc nào cũng vậy thôi 4. Sống giây phút hiện tại như giây phút cuối cùng đời mình Một danh nhân nọ nói: «Ngày nào tôi cũng tự nhủ: “tôi sống như thể hôm nay là ngày đầu tiên và cũng là ngày cuối cùng cuộc đời tôi». Đó cũng là một cách sống tỉnh thức và sẵn sàng, rất phù hợp với tinh thần bài Tin Mừng hôm nay. Sống như thế, cuộc sống mỗi ngày sẽ trở nên tràn đầy, ý vị, vì không bị những buồn phiền, rắc rối, hối tiếc về quá khứ và những nỗi lo lắng cho tương lai làm bận tâm, làm mất năng lực. Sáng dậy, nếu ta nghĩ như thể ngày hôm nay là ngày duy nhất của cuộc đời ta, coi như không có quá khứ, cũng không có tương lai, chỉ có hiện tại, thì ta dễ tập trung mọi năng lực để sống thật tốt, sống thật đẹp lòng Chúa, để làm cho ngày hôm nay thành một của lễ sống động, thật giá trị dâng lên Thiên Chúa. Cuộc đời ta cứ dệt bằng những ngày như vậy thì cần gì phải lo tận thế! Đừng quan tâm hay thắc mắc bao giờ sẽ tận thế, nhưng hãy sống mỗi ngày như thể cuối ngày đó là tận thế! Cứ sống thử như thế đi, bạn sẽ thấy cuộc đời bạn đổi mới từ đây, với nhiều sức mạnh và hạnh phúc hơn●
HỌC HỎI VỀ
THÁNH LỄ
NHỮNG
NHẬN THỨC MỚI VỀ THÁNH LỄ: Hoàng Quý Tháng 10 năm 2004, Giáo Hội Việt Nam cử hành năm Thánh Thể. Để giúp các tín hữu thấu hiểu ý nghĩa của Thánh Thể và sống với huyền nhiệm diệu vợi này, chúng tôi đã bắt đầu giới thiệu cuốn sách nổi tiếng hiện nay trong Giáo Hội hoàn vũ viết về Thánh Thể của Tiến sĩ Scott Hahn mang tựa đề «The Lamps” Supper» (Bữa ăn tối của Con Chiên). Cuốn sách này đã được Giám mục Giáo phận Steubenville cho phép ấn hành (imprimatur). Trong bài lần trước, chúng tôi đã trình bầy cái nhìn của tác giả khi đến dự Thánh Lễ đầu tiên trong đời, tác giả đã nhìn thấy khung cảnh Thiên Cung ngay trong Thánh Lễ trên trái đất này. Chính từ cái nhìn thâm sâu và độc đáo này, tác giả hướng dẫn chúng ta đi vào thấu hiểu ý nghĩa tuyệt vời của Thánh Lễ, của Thánh Thể. Và trong chương thứ hai, tác giả bắt đầu khai triển về hình ảnh Con Chiên trở thành Hy Lễ, chính là trọng tâm của Thánh Lễ. Đây, chúng ta hãy theo dõi lối trình bầy của tác giả về Con Chiên Hiến Tế trong Thánh Lễ. Sau phần trình bầy về Thánh Lễ của tác giả qua bài lần trước và lần này, chúng ta sẽ đi vào phần cầu nguyện với Thánh Lễ hay với Thánh Thể. Hy vọng với những nhận thức mới về Thánh Lễ này, chúng ta sẽ đi vào cầu nguyện phong phú, thâm sâu và rung động hơn. Nguyện xin Chúa Thánh Linh đến tác động chúng ta hiểu biết và sống Thánh Lễ một cách sống động và hữu hiệu hơn. Thật vậy, câu xưng tụng «Chiên Thiên Chúa» trong Thánh Lễ đã gây chấn động nơi ông, bởi vì hơn bao giờ hết, giờ đây ông đã hiểu được Con Chiên này là chính Đức Giêsu Kitô. Không cần ai phải nói với bạn điều đó cả. Có lẽ bạn đã hát hoặc đã đọc cả ngàn lần câu: «Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian, xin thương xót chúng con». Và cũng cả ngàn lần bạn nhìn thấy linh mục nâng cao Tấm Bánh Thánh đã bị bẻ ra và công bố: «Đây Chiên Thiên Chúa…» Con Chiên ở đây không ai khác hơn là Đức Giêsu. Thực ra chẳng có gì mới mẻ ở đây cả. Chúng ta vẫn thường nhìn ra nơi Đức Giêsu qua nhiều tước hiệu: Ngài là Chúa, là Thiên Chúa, là Đấng Cứu Chúa, là Đấng Mêsia, là Vua, là Linh mục, là Ngôn Sứ… và là Con Chiên. Tuy nhiên, ở đây chúng ta dừng lại nơi tước hiệu cuối cùng: Con Chiên. Với bẩy tước hiệu kể trên được ứng dụng thích đáng cho Đức Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là Con Người với những gì xứng hợp, bao gồm khôn ngoan, quyền năng, nhân cách. Nhưng còn danh hiệu cuối cùng là Con Chiên mang ý nghĩa gì đây? Về Con Chiên Tước hiệu Con Chiên xem ra có vẻ hài hước vì không tương xứng khi ứng dụng cho Đức Kitô. Con chiên không thuộc đẳng loại cao cấp trong các loài vật được quý trọng. Loài chiên chả có gì là tài khéo, lanh lợi, dũng mãnh hoặc lịch lãm cả. Nhiều con vật khác xem ra tương xứng hơn nhiều. Thí dụ người ta có thể hình dung ra Đức Kitô là con Sư Tử của Giuđa như trong sách Khải Huyền đã sánh ví (Kh 5: 5). Tuy nhiên hình ảnh này chỉ được nhắc thoáng qua trong sách Khải Huyền, trong khi đó hình ảnh Con Chiên được lặp đi lặp lại tới hai mươi tám lần thật nổi bật. Con Chiên bị sát tế này trở thành Con Chiên Cai Trị, ngồi trên ngai vương đế, thống lãnh hàng hàng lớp lớp đạo binh loài người và thiên thần. Hình ảnh Con Chiên trong chương thứ 6 của sách Khải Huyền là hình ảnh Con Chiên oai phong gây kinh hãi cho mọi loài (Kh 6: 15-16). Hình ảnh Con Chiên vừa rồi không phải là hình ảnh Thánh Sử Gioan muốn đề cập tới trong Tin Mừng thứ tư cũng như trong sách Khải Huyền. Thánh Gioan muốn đề cập về Con Chiên là chính Đức Giêsu Kitô, như ông Gioan Tẩy Giả giới thiệu Đức Giêsu cho hai môn đệ của mình: «Đây là Chiên Thiên Chúa» (Ga 1: 36). Chúng ta đã hay biết Con Chiên trở thành trung tâm cho cả Thánh Lễ lẫn sách Khải Huyền. Và như vậy, chúng ta đã nhận ra Con Chiên là Ai (who) rồi. Tuy nhiên để cảm nghiệm được Thánh Lễ trên thiên cung cũng như dưới trái đất một cách thâm sâu và rốt ráo, chúng ta cần hiểu biết thêm nhiều nữa. Chúng ta cần hiểu biết Con Chiên là Gì (what) và Tại sao (why) chúng ta gọi Ngài là Con Chiên. Muốn khám phá được những điều đó, chúng ta cần trở lại với Cựu Ước. Ổ Bánh Với dân Do Thái khi xưa, con chiên được đồng hóa với hy lễ và hy lễ là một trong những thể thức tôn thờ đầu tiên. Ngay trong đầu sách Khởi Nguyên, chúng ta đã nhìn thấy hai anh em Cain và Aben là những người đầu tiên dâng hy lễ lên Thiên Chúa, «Sau một thời gian, Ca-in lấy hoa màu của đất đai làm lễ vật dâng lên ĐỨC CHÚA. A-ben cũng dâng những con đầu lòng của bầy chiên cùng với mỡ của chúng» (Kn 4: 3-4). Cũng tương tự thế, chúng ta gặp được những hình ảnh các vật hiến dâng được đốt cháy như trong chuyện ông Noe (Kn 8: 20-21), Abraham (Kn 15: 8-10; 22: 13), Giacóp (Kn 46: 1) và còn nhiều nữa. Trong sách Khởi Nguyên, các tổ phụ thường xây dựng các bàn thờ và các bàn thờ được xử dụng ưu tiên làm nơi hiến tế. Không những chỉ đốt cháy vật dâng hiến, đôi khi các cổ nhân còn đổ rượu trên đó nữa. Hai hình ảnh đáng chúng ta quan tâm hơn cả, đó là hy lễ của Menkisêđê (Kn 14: 18-20) và của hai cha con ông Abraham và Isaác (Kn 22). Menkisêđê xuất hiện như một vị tư tế đầu tiên trong Kinh Thánh và nhiều người đã nhìn xem ông như một biểu tượng cho Đức Giêsu Kitô sau này. Ông Menkisêđê vừa là vị tư tế vừa là vua. Menkisêđê là vua của đất Salem và sau này trở thành «Giêru-salem» có nghĩa là «Kinh Thành của Hòa Bình» (xem Tv 76: 2). Một ngày nào đó Chúa Giêsu sẽ nổi bật như vị vua của Giêrusalem trên trời, và một lần nữa giống như ông Menkisêđê, Ngài trở thành «Hoàng Tử của Hoà Bình». Sau cùng, chúng ta nhìn thấy hy lễ của ông Menkisêđê thật phi thường vì không thấy hình dáng con vật nào trong đó. Ông dâng lên Thiên Chúa bánh mì và rượu nho y hệt như Chúa Giêsu dâng hiến lễ vật trong Bữa Ăn Tối khi Ngài thiết lập Phép Thánh Thể. Núi Môrigia Có lẽ tổ phụ Abraham đã trở lại đất Salem một thời gian sau đó, khi Thiên Chúa bảo ông hãy đến đây dâng lễ hy tế thờ phượng Ngài, «Hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của ngươi là I-xa-ác, hãy đi đến xứ Mô-ri-gia mà dâng nó làm lễ toàn thiêu ở đấy, trên một ngọn núi Ta sẽ chỉ cho» (Kn 22: 2). Theo truyền thuyết Do Thái được ghi lại trong sách Sử Biên (2Sb 3: 1), thì đất Morigia chính là nơi Đền Thánh tương lai tại Giêrusalem. Chính nơi đây ông Abraham dắt con là Isaác vác củi tơi để dâng lễ hy tế (Kn 22: 6). Khi Isaác hỏi cha vật hiến tế đâu? Ông Abraham trả lời, «Con ơi, chính Thiên Chúa sẽ cung ứng con chiên làm của lễ hiến tế bốc cháy» (Kn 22: 8). Và sau cùng thì chính thiên thần cản tay ông Abraham không sát tế con mình và cung cấp cho ông con cừu đực để sát tế. Trong câu chuyện này, dân Do Thái quan tâm tới lời thề giao ước của Thiên Chúa sẽ biến con cháu của Abraham thành một quốc gia hùng mạnh, «Ta lấy chính danh Ta mà thề: bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển. Dòng dõi ngươi sẽ chiếm được thành trì của địch» (Kn 22: 16-17). Đó là lời giao ước của Thiên Chúa với Abraham và như vậy trở thành như một chính sách bảo hiểm đời sống (life-insurance policy) cho dân Do Thái. Và quả thực thế, trong sa mạc Sinai, khi dân được tuyển chọn này quay ra tôn thờ con bê vàng, họ liền bị Thiên Chúa muốn giáng hình phạt tiêu diệt hết, lúc đó ông Môsê nài xin Ngài hãy nhớ lại lời thề giao ước với Abraham, để xin Ngài cứu thoát họ khỏi án phạt này (xem Xh 32: 1-14). Sau này các Kitô hữu nhìn vào câu chuyện của Abraham và Isaác này như một biểu tượng thâm sâu về lễ hy tế của Đức Giêsu trên thập giá. Có nhiều điểm thật tương đồng. Trước tiên, Đức Giêsu giống như Isaác khi Ngài cũng là người con trai yêu quý duy nhất của người cha. Tiếp tới, Ngài cũng giống như Isaác khi vác củi leo lên núi cho lễ hy tế chính mình trên một ngọn đồi tại Giêrusalem. Trên thực tế, ngọn đồi Calvariô nơi Đức Giêsu bị hành hình chính là một trong những ngọn đồi thuộc dẫy núi Morigia. Thêm vào đó, ngay trong hàng chữ đầu tiên của Tân Ước đã đồng hoá Đức Giêsu với Isaác là «con của Abraham» (Mt 1: 1). Trong câu trả lời của Abraham với Isaác theo cách chấm câu của nguyên bản Do Thái: «Thiên Chúa sẽ cung ứng chính Mình, là con chiên, làm lễ hiến tế» (Kn 22: 8), thì con chiên ở đây chính là biểu tượng của Đức Giêsu Kitô, chính Ngài là Thiên Chúa - «Như thế là để nhờ Đức Giê-su Ki-tô, các dân ngoại cũng được hưởng phúc lành dành cho ông Áp-ra-ham» (Gal 3: 14; Kn 22: 16-18), và phải chăng chúng ta cũng là thành phần trong dân ngoại ấy? Lễ hiến tế bằng con vật Trong thời gian dân Do Thái bị làm nô lệ tại Ai Cập, thật rõ ràng lễ hiến tế trở thành phần nghi thức chính yếu và trung tâm của Do Thái giáo. Các quan cai của vua Pharaô quở trách dân Do Thái lạm dụng các nghi lễ hiến tế thường xuyên để tránh né làm việc (Xh 5: 17). Sau này, khi ông Môsê ra diện kiến trước vua Pharaô, một trong những lời yêu cầu chính yếu của ông là xin nhà vua cho người Do Thái được quyền dâng lễ hiến tế lên Thiên Chúa (Xh 10: 25). Như vậy tất cả những lễ dâng hiến này mang ý nghĩa gì? Lễ hiến tế loài vật mang nhiều ý nghĩa với dân Do Thái cổ xưa: 1/ Đó là sự nhận biết quyền năng tối thượng của Thiên Chúa trên loài thụ tạo: «Trái đất là của Thiên Chúa» (Tv 24: 1). Con người nhận thức được thực tế này nên phải dâng lên Ngài những gì thuộc về Ngài. Như vậy, lễ hiến tế chúc tụng Ngài là Đấng tuôn trào mọi phúc lộc cho con người. 2/ Lễ hiến tế là một hành động tạ ơn. Việc tạo dựng được ban cho con người như một hồng ân và như vậy con người phải đền đáp thế nào (Tv 116: 12) Chúng ta mới chỉ đền đáp những gì mình đã nhận lãnh. 3/ Đôi khi, lễ hiến tế được vận dụng như một phương thức đóng ấn một cách long trọng lời thề hứa hay lời giao ước trước Thiên Chúa (xem Kn 21: 22-32). 4/ Lễ hiến tế cũng còn diễn đạt như một hành vi từ bỏ mình hay hối hận vì bao tội lỗi đã phạm. Người dâng lễ hiến tế đã nhận biết tội lỗi của mình đáng chết, do đó họ hy sinh đời sống con vật để thế chỗ cho họ. Con chiên Vượt Qua Nhưng lễ hy tế chủ chốt trong lịch sử dân Do Thái chính là Lễ Vượt Qua đánh dấu cuộc xuất hành của dân Do Thái thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập. Chính trong lễ Vượt Qua này Thiên Chúa chỉ bảo mỗi gia đình Do Thái phải giết một con chiên không tì vết, không gẫy xương, rồi rẩy máu lên ngưỡng cửa. Vào đêm hôm đó, người Do Thái phải ăn thịt chiên. Nếu họ ăn thịt chiên, con đầu lòng của họ sẽ thoát chết. Nếu họ không ăn, con đầu lòng của họ sẽ bị giết trong đêm đó (Xh 12: 1-23). Con chiên bị sát tế trở thành vật đền tội thế chỗ cho đứa con đầu lòng trong gia đình. Và như vậy, lễ Vượt Qua chính là một hành động cứu chuộc. Tuy nhiên Thiên Chúa không chỉ cứu thoát các con trai đầu lòng của dân Do Thái, nhưng Ngài còn muốn cúng tiến họ như «một vương quốc tư tế, một dân tộc thánh thiện» (Xh 19: 6) - một quốc gia Ngài gọi là «con trai đầu lòng» của Ngài (Xh 4: 22). Rồi Ngài truyền lệnh cho họ hàng năm phải cử hành Lễ Vượt Qua và Ngài ban phát cho họ những lời chỉ dậy họ phải truyền lại cho con cháu của họ sau này: «Khi con cháu anh em hỏi anh em: “Nghi lễ này có ý nghĩa gì đối với quý vị? Anh em sẽ trả lời: Đó là lễ tế Vượt Qua mừng Đức Chúa, Đấng đã vượt qua các nhà của con cái Ít-ra-en tại Ai-cập, khi Người đánh phạt Ai-cập và cho các nhà chúng ta thoát nạn”» (Xh 12: 26-27). Và khi tiến vào được Đất Hứa rồi, dân Do Thái tiếp tục dâng lên Thiên Chúa các lễ hiến tế hàng ngày, và đã được ghi chép lại thành nhiều khoản luật trong các sách Lêvi, Dân Số và Đệ Nhị Luật (xem Lv 7-9; Ds 28; Đnl 26)● (Còn tiếp)
LỄ TẠ ƠN NGƯỜI VIỆT và LỄ TẠ ƠN tại HOA KỲ Kim Khánh Một phần trong di sản văn hoá của Hoa Kỳ là ngày lễ Tạ Ơn, ngày mà người ta thường quen gọi là “Thanksgiving Day.” Không như những ngày lễ truyền thống khác tại Hoa Kỳ, thường mang nặng sắc thái tôn giáo, ngày “cảm tạ” chứa đựng nhiều ý nghĩa lịch sử vì đất nước này đã được hình thành từ những di dân. Ngày lễ Tạ Ơn cũng mang một ý nghĩa trang trọng vì nó gợi lên trong ta, những người di dân, một tâm trạng hết sức đặt biệt. Ngày Lễ Tạ Ơn nhắc ta nhớ lại nguồn gốc tổ tiên, những ngày gian khó nơi xứ lạ quê người, và những ơn phước mà Thượng Đế đã ban cho trong đời sống. Ngày nay, nhiều người Mỹ còn gọi là Ngày Lễ Tạ Ơn là “Turkey Day” (ngày gà Tây) bởi vì tục lệ đặc sắc bắt nguồn từ trong những ngày nước Mỹ mới hình thành. Vài nét về truyền thống và nguồn gốc ngày lễ Tạ Ơn Có bốn mốc thời gian quan trọng trong lịch sử của sự hình thành Ngày Lễ Tạ Ơn ở Hoa Kỳ: thời khai khẩn, thời kỳ của cuộc cách mạng chống Anh Quốc, thời nội chiến, và Hoa Kỳ trong Đệ Nhị Thế Chiến. 1- Ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên của nước Mỹ được cử hành vào tháng 12 năm 1621, tại tiểu bang Massachusetts. Theo tài liệu lịch sử của Hoa Kỳ, những người Mỹ đầu tiên đến khai phá phần đất mới này phải chịu nhiều gian nan cực nhọc do khí hậu khắc nghiệt, bệnh hoạn và đất hoang chưa bao giờ khai phá. Không chịu nổi đói rét qua một mùa đông lạnh giá, phân nửa những người di dân chết vào khoảng tháng 11 năm 1620. Cho đến khoảng đầu Mùa Xuân của năm 1621, họ được thổ dân da đỏ Wampanoag giúp đỡ trong việc trồng trọt, cách bắt cá và săn thú rừng. Nhóm người Mỹ đầu tiên, còn được gọi là người hành hương (Pilgrims) dần dà khắc phục được khó khăn và do sự giúp đỡ chỉ bảo kinh nghiệm trồng hoa màu như khoai lang, bắp ngô, và bí đỏ của dân địa phương, và họ đã được mùa. Để tỏ lòng biết ơn đất trời và những người bạn mới, họ đã mời thổ dân da đỏ trong vùng cùng tham dự bữa ăn với những món ăn do chính họ trồng như khoai tây, bắp ngô, bí đỏ và gà Tây rừng. Và từ đó, các món gà Tây, bí đỏ, bắp, và khoai tây là những thức không thể thiếu trong các bữa tiệc của Ngày Lễ Tạ Ơn. 2- Với mục đích tạo dựng tinh thần đoàn kết giữa các di dân chống lại ngoại xâm, tháng 10 năm 1789, Tổng Thống Washington đã công bố Ngày Lễ Tạ Ơn toàn quốc đầu tiên vào ngày 26 tháng 11. Điều nầy xác định được tính chất đặc thù của Ngày Lễ Tạ Ơn trong khi dân Mỹ đang phát động cuộc cách mạng để giải phóng dân tộc ra khỏi sự đô hộ của Anh Quốc. 3- Vào những năm 1830, khi tình hình nước Mỹ bắt đầu bị chia rẽ, và các tiểu bang Miền Nam đòi ly khai. Tổng Thống Lincoln tuyên bố chọn ngày Thứ Năm của tuần cuối tháng 11 năm 1863, làm Ngày Lễ Tạ Ơn nhằm tạo nên tình đoàn kết dân tộc trong lúc cuộc nội chiến Nam-Bắc nước Mỹ đang vào thời kỳ tương tàn và ác liệt nhất. Ông nhận thức được tầm quan trọng của Ngày Lễ Tạ Ơn, và cũng muốn nhắc nhở dân Mỹ nhớ đến những công ơn của những người di dân đầu tiên đã xây dựng nên đất nước Hoa Kỳ. 4- Mãi đến năm 1941, Quốc Hội Hoa Kỳ mới biểu quyết chọn ngày Thứ Năm trong tuần thứ 4 của tháng 11 hàng năm là Ngày Lễ Tạ Ơn, là ngày quốc lễ của toàn liên bang Hoa Kỳ. Thời gian nầy, Quốc Hội đang trong thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến. Người dân Mỹ cũng không quên công lao của bà Sarah J. Hale, là người đã đi cổ động khắp nước Mỹ trong những năm 1830, để Hoa Kỳ ngày nay có ngày lễ Tạ Ơn đồng nhất trong các tiểu bang Theo tập quán của người Mỹ, con cái trong gia đình sau khi trưởng thành thì có cuộc sống riêng, nhưng thường sum họp lại vào ngày này hàng năm để dự lễ Tạ Ơn với nhau. Trong ngày nầy, thông thường người ta chia sẻ những thành công và những kinh nghiệm khó khăn trong năm qua và ăn chung một bữa tiệc rất lớn. Bữa tiệc sẽ có các món quen thuộc như gà tây, mứt, bánh bí đỏ, khoai tây, bắp ngô, bắp và nhiều loại rau trái. Cũng vì Ngày Lễ Tạ Ơn vào ngày Thứ Năm trong tuần, nên hầu hết dân Mỹ đều được nghỉ luôn ngày Thứ Sáu và có một cuối tuần dài. Người ta thường tổ chức những cuộc liên hoan lớn sau ngày lễ và đi mua sắm đồ đại hạ giá trong ngày “Black Friday”(Thứ Sáu Đen.) Nếu khách du lịch nước ngoài đến các trung tâm thương mại của các thành phố lớn tại Hoa Kỳ chắc không khỏi ngạc nhiên vì thấy nhiều người sắp hàng từ sáng sớm trước các cửa tiệm. Một, họ trả lại quà tặng đã nhận hôm lễ Tạ Ơn mà không thích. Hai, là chờ mua hàng bách hoá hay điện tử với giá rẻ nhất trong năm. Vài suy nghĩ về Ngày Lễ Tạ Ơn Khi nói đến Ngày Lễ Tạ Ơn, người ta lại hỏi: tại sao cần phải bày tỏ lòng biết ơn, cảm tạ ai, có ý nghĩa gì, và với thái độ nào? - Truyền thống Ngày Lễ Tạ Ơn của người Mỹ rất hay vì nó không là ngày lễ riêng biệt của một tôn giáo nào. Nó rất đáng được chúng ta, những người Việt tị nạn, trân quý và áp dụng.Nó không mang tính chất chính trị, hay để tưởng niệm một cá nhân. Hơn thế nữa, Ngày Lễ Tạ Ơn không ca ngợi một dân tộc hoặc một biến cố lịch sử. Ý nghĩa Ngày Lễ Tạ Ơn gắn liền với lòng biết ơn của con người. Người Việt cũng gặp rất nhiều khó khăn trong giai đoạn đầu tiên định cư nơi xứ sở này, nhưng dân tộc và đất nước Hoa Kỳ đã giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn và chúng ta đã thành công. Nhiều người trong chúng ta có được việc tốt, làm ăn thịnh vượng, từ tiểu thương, đến thị trường chứng khoán, và cả trong chính trường.Số đông người Việt chưa quen với các tục lệ của người Mỹ, trong đó có Ngày Lễ Tạ Ơn và cho rằng ngày lễ này có tính chất tôn giáo hoặc là một ngày lễ riêng của dân Mỹ. Chúng ta nên tìm hiểu về ý nghĩa cao quý của ngày lễ đặc biệt này, nhất là người Việt. Giống như hoàn cảnh của những người hành hương đầu tiên đến nước Mỹ, người Việt vì phải chịu cảnh bắt bớ về tư tưởng và văn hoá mà phải bỏ nước ra đi. Vì thế chúng ta rất nên tổ chức lễ Tạ Ơn, sum họp gia đình, tùy theo tôn giáo, và phong tục của mình. - Người Việt xa đất nước nhớ về quê cũ trong những ngày làm quen với tập tục xứ người. Lễ Tạ Ơn là ngày lễ dành cho tất cả những người di dân, bỏ quê ra đi sống đời viễn xứ. Không chỉ riêng cho người tị nạn tại Hoa Kỳ, mà cũng là tâm trạng chung của hơn hai triệu người Việt đang sống tha hương. Nó gợi lên trong lòng ta nổi nhớ nhung ray rứt khi nói đến ân tình trong mùa cảm tạ. Có thể nơi bạn định cư không có ngày quốc lễ Tạ Ơn, nhưng bạn chắc sẽ không bao giờ quên cảm tạ ơn trời đã che trở và mang lại sự bình an và phước hạnh trong đời sống. Dĩ nhiên, chúng ta cũng không thể nào quên được những ân tình của những người bạn tốt chưa từng quen biết, những cơ quan thiện nguyện đã mở rộng vòng tay đón tiếp và giúp đỡ chúng ta xây dựng lại cuộc đời trong những ngày đầu trên xứ lạ quê người. - Nguồn gốc Ngày Lễ Tạ Ơn mà nhiều người được biết không quan trọng bằng ý nghĩa thật và triết lý của nền văn hoá. Lòng biết ơn của người Mỹ đã bắt nguồn từ những năm đầu lập địa đầy những gian nan. Người Thiên Chúa Giáo nặng lòng tin kính, đặt Thượng Đế lên trên thứ tự ưu tiên trong đời sống khi nói đến lòng biết ơn. Nước Mỹ, qua hơn ba trăm năm với nhiều tiến triển trong nền chính trị và xã hội, và Ngày Lễ Tạ Ơn đã trở thành một ngày lễ được dân Mỹ tôn trọng nhiều nhất, bất kể tôn giáo, nguồn gốc dân tộc. Qua đó, người ta coi sự cảm tạ lòng tốt của người xung quanh là điều cần thiết trong sinh hoạt. Với cái nhìn sâu rộng, người ta muốn mang trọn vẹn ý nghĩa cảm tạ vào trong mùa “Thanksgiving.” Nó không đơn giản chỉ là một ngày quốc lễ, mà là một phần văn hoá của người Mỹ. Có lẽ ngày lễ Cảm Tạ là cơ hội thuận tiện cho người ta bày tỏ lòng biết ơn, không chỉ riêng với Thượng Đế, mà với mọi người thân như: cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, bạn bè, và những người gần gũi trong sinh hoạt hằng ngày. Nếu được, hãy trao nhau một món quà nhỏ biểu lộ lòng biết ơn, một cánh thiệp với lòng tri ân, hay chỉ cần một câu nói cám ơn chân tình. Những nghĩa cử cao đẹp nầy sẽ mang lại cho người quanh ta sự hạnh phúc, và niềm vui trong cuộc sống - Thái độ cảm tạ là yếu tố quan trọng trong mùa tạ ơn và là ưu điểm tuyệt vời của văn hoá Phương Tây. Một biểu hiện thiếu vắng trong văn hóa Việt Nam. Người Việt trọng nghĩa, nhưng ít khi bày tỏ lòng biết ơn. Nhiều khi chúng ta thấy rườm rà và trở nên khách sáo khi phải nói cám ơn, nhưng đây là một trong những thái độ của lòng biết ơn mà người Việt đã học được trong những năm di cư nơi đất lạ. Thái độ biết ơn khác hẳn với với sự trả ơn theo cách nhìn của người Việt "có qua có lại". Thái độ biết ơn là sự bày tỏ qua lời nói và cử chỉ, không cần phải trả ơn để "toại lòng nhau". Vì trên đời nầy có những thứ ân tình mà ta không thể nào trả được, và nếu không bày tỏ thái độ biết ơn, ta sẽ trở thành người vô ơn. Ngày Lễ Tạ Ơn tại Hoa Kỳ không dành riêng cho một tôn giáo nào. Nó là ngày lễ cho tất cả các dân tộc trên nước Mỹ, những người di dân, để họ bày tỏ lòng biết ơn của họ với đất nước, dân tộc, văn hoá và nền tự do dân chủ của Hoa Kỳ. Ngày Lễ Tạ Ơn giúp người di dân có cơ hội nói lên lòng biết ơn đến các bậc tiền nhânvà những sự hy sinh của nhữngngười có công xây dựng đất nước. Mùa lễ Tạ Ơn nhắc nhở chúng ta dành ra một ngày để bày tỏ lòng biết ơn, nhưng ý nghĩa thật sự của sự cảm tạ là: luôn bày tỏ lòng biết ơn đến những người xung quanh, nhất là những người thân trong gia đình Hãy cảm tạ Thượng Đế đã cho bạn những ngày bình an và những ngày sẽ được bình an và sung mãn trong tương lai. Hãy nói với người bạn yêu mến lời cám ơn – vì nó là món quà quý nhất trong mùa cảm tạ. Xin chúc bạn một Ngày Lễ Tạ Ơn vui vẻ và đầy ý nghĩa• Trích Nhật Báo Người Việt. lm. nguyễn trung tây, svd Và lễ Tạ Ơn tới. Bây giờ đang là một ngày lễ, một ngày Lễ Tạ Ơn.[1] Lễ Tạ Ơn tới, có rất nhiều điều để mà tạ ơn. Tạ ơn cho lá xanh đậm và bầu không khí nóng hừng hực khi mùa hè tới với những con số 100 đỏ chói trên hàn thử biểu. Tạ ơn cho làn gió êm dịu khi mùa thu về, lá đổi màu rực rỡ trên hàng cây. Tạ ơn cho tuyết trắng, tuyết trắng buông rơi thả nhẹ, tuyết trắng bám chặt cây khô bơ vơ trụi lá. Tạ ơn cho những nụ hoa đâm chồi nẩy lộc trong sân vườn lún phún mầu xanh, mầu xanh xanh mới, mầu xanh hy vọng. Tạ ơn cho gió nóng và gió lạnh. Tạ ơn cho gió hè và gió thu. Tạ ơn cho bốn mùa, bốn mùa luân phiên thay đổi. Tạ ơn cho những thăng trầm trôi nổi trong một năm vừa qua. Tạ ơn cho hạnh phúc. Tạ ơn cho thanh bình. Tạ ơn cho bầu không khí đầm ấm trong căn nhà. Tạ ơn cho tiếng cười tiếng nói. Tạ ơn cho gạo trắng cơm ngon. Tạ ơn cho những bữa cơm thơm nồng được nấu bởi bàn tay của ông của bà, của bố của mẹ, của chị của anh, và của cả những người em, em trai và em gái. Tạ ơn cho những thân hình lực lưỡng của những đứa con, con trai, mới ngày nào còn nhỏ xíu, nay vươn vai đứng dậy hóa ra thanh niên với những sợi râu mọc lưa thưa trên mép. Tạ ơn cho những đứa con, con gái, ngày nào tóc còn ngắn ngang vai, giờ này tóc dài đen nhánh êm đềm bước đi những gót hài sen đầu tiên của tuổi thanh xuân, tuổi của đẹp, đẹp rực rỡ, đẹp huy hoàng. Tạ ơn cho những người chị, người anh, người em, em trai và em gái. Tạ ơn cho những lời ngon ngọt rì rào anh chị em thủ thỉ với nhau, và cũng tạ ơn cho những lời cay đắng buông ra không kịp kềm hãm. Tạ ơn cho những khuôn mặt tươi cười ngọt ngào, và những giận hờn nước mắt tuôn rơi. Tạ ơn cho những quây quần xum họp, và ngay cả những lúc không ai nhìn ai. Tạ ơn cho những lần cửa phòng rộng mở, và cũng tạ ơn cho những lần cửa đóng then cài. Tạ ơn cho những người bố, những người mẹ. Tạ ơn cho những sáng sớm vất vả với dòng xe cộ đỏ chói và đen đặc trên xa lộ. Tạ ơn cho tháng tháng ngược xuôi mang tiền về nuôi chồng, nuôi vợ, và nuôi con. Tạ ơn cho những người cha người mẹ một đời khổ vì con, một đời cực vì cháu. Tạ ơn cho những người bố, những người mẹ sớm chiều lặn lội thân cò khi quãng vắng, kiếm gạo nuôi chồng nuôi vợ nuôi con. Tạ ơn cho những thiên đàng đã được tạo ra trong căn phòng khách, và ngay cả những ngọn lửa vẫn còn đang âm ỷ cháy. Tạ ơn cho những giọt nước mát lạnh từ trời cao đã tuôn đổ, những hạt nước mắt rớt xuống dập tắt đi mầm lửa của giận và của hờn. Tạ ơn cho tình thương, tình thương mến vô điều kiện. Không phải bởi học giỏi, đỗ đạt vinh quy, tình thương mới được trao ban gửi tặng. Không phải! Không phải bởi nói tiếng Việt, hay tiếng Anh, hay tiếng Pháp, hay tiếng Đức giỏi, tình thương mới ngọt ngào tuôn đổ. Không phải! Không phải bởi biết đối đáp, biết ăn biết nói, biết làm ăn buôn bán, biết giao tiếp lanh lẹ, tình thương mới được trao ban. Không phải! Không phải bởi cao lớn lực lưỡng, tóc dài đen mượt, khuôn mặt xinh đẹp, nụ cười tươi thắm, dịu dàng thướt tha, da mầu trắng ngà, hay da mầu rám nắng, tình thương mới bộc phát. Không phải! Không phải bởi lương cao, nhà cửa thênh thang, 5 hoặc 6 phòng, bởi học thành tài, có bằng cử nhân, văn bằng bác sĩ, tình thương mới ngọt ngào tuôn đổ trên đầu lưỡi. Không phải! Không phải bởi vì điều kiện này điều kiện kia, tình thương mới lấp ló nơi khóe miệng. Không phải! Mà bởi vì bố là bố, mẹ là mẹ, chị là chị, anh là anh, em là em. Bởi vì bố là bố của con, bởi vì mẹ là mẹ của con, bởi vì em là em của anh, bởi vì em là em của chị, cho nên lúc nào tình thương cũng tràn đầy tuôn đổ trên hai bàn tay; và khi cần đến, tình thương ngọt ngào tuôn đổ, tình thương sung mãn, tình thương thánh thót, tình thương ngập tràn, tình thương lai láng, tình thương viên mãn, tình thương tuôn rơi. Tạ ơn cho những sức khỏe sung mãn trong gia đình. Tạ ơn cho những đau ốm liệt giường, sụt sùi cảm cúm. Tạ ơn cho những giấc mơ chưa đạt tới, và không biết bao giờ mới đạt tới. Tạ ơn cho những lần không trở thành gánh nặng cho chính mình và cho những người thân chung quanh. Tạ ơn cho những vết thương tâm hồn từ bao lâu nay đã thôi không sưng đỏ, đã chịu lên da non. Tạ ơn cho những khuôn mặt trong gia đình đang dần dần biến dạng trở nên cằn cỗi, và tạ ơn cho những khuôn mặt vẫn còn đang căng tràn nhựa sống. Tạ ơn cho những lầm lỗi. Tạ ơn cho những lần được thứ tha, được bỏ qua, được quên đi, được xóa nhòa. Tạ ơn cho những chịu đựng âm thầm, không cằn nhằn, không đi ra đi vào đá thúng đụng nia. Tạ ơn cho những người tình của gia đình. Tạ ơn cho những khuôn mặt mới thường xuyên xuất hiện trong căn phòng khách đợi chờ những khuôn mặt cũ. Tạ ơn cho những người thanh niên kiên nhẫn ngồi im lìm đọc báo coi TV đợi chờ trong căn phòng khách trong khi những người con gái vẫn đang đi tới đi lui trước gương. Tạ ơn cho những đám cưới tưng bừng với bao nhiêu quan khách. Tạ ơn cho những tà áo dài trắng thướt tha, những khuôn mặt đỏ hồng, những đôi mi e lệ dưới khăn voan cô dâu trắng toát. Tạ ơn cho những đứa con đang hình thành trong bụng. Tạ ơn cho những mái ấm gia đình hạnh phúc, và cũng tạ ơn cho những căn nhà bắt đầu nóng, nóng như lửa. Tạ ơn cho những buổi lễ Tạ Ơn trên vùng đất mới với thịt gà tây chiên vàng theo kiểu Văn Lang. Tạ ơn cho những bữa tiệc Giáng Sinh với khăn bàn đỏ rực, với những ly rượu đỏ nồng, và những khuôn mặt đỏ thắm. Tạ ơn cho những đêm Giao Thừa im lìm trên những vùng đất mới với không pháo đỏ hồng, không quần áo mới. Tạ ơn cho những đêm Trung Thu trăng tròn rực rỡ, không đèn con thỏ, không đèn con cá, không đèn kéo quân, cả nhà ngồi sau vườn ngắm trăng với trà ướp sen, trà hoa lài, và với bánh nướng, bánh dẻo. Tạ ơn cho những buổi kinh tối, cả gia đình quây quần đọc kinh Mân Côi. Tạ ơn cho những con thuyền, những chuyến bay đã mang gia đình tới đất mới, trời mới. Tạ ơn cho những lần thất nghiệp đi ra đi vào chẳng biết làm chi khác hơn ngoài luyện chưởng. Tạ ơn cho bầu không khí lành lạnh mát dịu của một ngày cuối tháng Mười Một. Tạ ơn cho Mùa Vọng, cho Lễ Giáng Sinh. Tạ ơn cho nước mắm, mắm tôm, mắm ruốc bay thơm lừng nguyên cả một khu phố có người gốc Văn Lang quây quần xum họp. Tạ ơn cho Bún Bò Huế, Bún Vịt Sáo Măng, Bún Mọc, Cháo Gà, Cháo Vịt, Cháo Lòng Heo và Phở. Tạ ơn cho Bánh Cuốn, Bánh Bèo, Bánh Đúc, Bánh Phồng Tôm. Có rất nhiều điều để Tạ Ơn. Có muốn kể ra, kể ra cũng không hết. Tạ ơn cho một ngày Lễ Tạ Ơn, một ngày người thân nhớ tới người thân, một ngày gia đình quây quần xum họp tạ ơn trời cao. Tạ ơn Thiên Chúa, tạ ơn Ông Trời cho một năm vừa trôi qua, trôi qua trong hạnh phúc, trôi qua trong thanh bình, trôi qua trong an lạc, trôi qua trong hồng ân• Con tạ ơn Cha vì những ơn Cha ban cho con,
Con biết rằng
Con thường đau khổ vì những gì
Tạ ơn Cha vì những gì
Xin cho con vững tin vào tình yêu Cha
RABBOUNI
Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý độc giả dành cho Maranatha. Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. Trân trọng, MARANATHA Xin kính gửi đến một số thư độc gỉả trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau
[1] Hằng năm vào ngày thứ Năm của tháng 11, tất cả mọi người dân sống trên vùng đất mới của Hoa Kỳ tổ chức bữa ăn Tạ Ơn Thiên Chúa cho những hồng ân đã được ban tặng từ trời cao trong một năm vừa qua.
Trang Nhà (website) http://www.maranatha-vietnam.net Thư từ, ý kiến, xin gửi về maranatha@saintly.com Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về Chân thành cám ơn
|