NHỮNG NHẬN THỨC MỚI VỀ THÁNH LỄ:
CÂU CHUYỆN VỀ HY LỄ

Hoàng Quý
 (viết theo Tiến sĩ Scott Hahn)

Tháng 10 năm 2004, Giáo Hội Việt Nam cử hành năm Thánh Thể. Để giúp các tín hữu thấu hiểu ý nghĩa của Thánh Thể và sống với huyền nhiệm diệu vợi này, chúng tôi đã bắt đầu giới thiệu cuốn sách nổi tiếng hiện nay trong Giáo Hội hoàn vũ viết về Thánh Thể của Tiến sĩ Scott Hahn mang tựa đề «The Lamps” Supper» (Bữa ăn tối của Con Chiên). Cuốn sách này đã được Giám mục Giáo phận Steubenville cho phép ấn hành (imprimatur). Trong bài lần trước, chúng tôi đã trình bầy cái nhìn của tác giả khi đến dự Thánh Lễ đầu tiên trong đời, tác giả đã nhìn thấy khung cảnh Thiên Cung ngay trong Thánh Lễ trên trái đất này. Chính từ cái nhìn thâm sâu và độc đáo này, tác giả hướng dẫn chúng ta đi vào thấu hiểu ý nghĩa tuyệt vời của Thánh Lễ, của Thánh Thể. Và trong chương thứ hai, tác giả bắt đầu khai triển về hình ảnh Con Chiên trở thành Hy Lễ, chính là trọng tâm của Thánh Lễ. Đây, chúng ta hãy theo dõi lối trình bầy của tác giả về Con Chiên Hiến Tế trong Thánh Lễ.

Sau phần trình bầy về Thánh Lễ của tác giả qua bài lần trước và lần này, chúng ta sẽ đi vào phần cầu nguyện với Thánh Lễ hay với Thánh Thể. Hy vọng với những nhận thức mới về Thánh Lễ này, chúng ta sẽ đi vào cầu nguyện phong phú, thâm sâu và rung động hơn. Nguyện xin Chúa Thánh Linh đến tác động chúng ta hiểu biết và sống Thánh Lễ một cách sống động và hữu hiệu hơn.

Thật vậy, câu xưng tụng «Chiên Thiên Chúa» trong Thánh Lễ đã gây chấn động nơi ông, bởi vì hơn bao giờ hết, giờ đây ông đã hiểu được Con Chiên này là chính Đức Giêsu Kitô. Không cần ai phải nói với bạn điều đó cả. Có lẽ bạn đã hát hoặc đã đọc cả ngàn lần câu: «Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian, xin thương xót chúng con». Và cũng cả ngàn lần bạn nhìn thấy linh mục nâng cao Tấm Bánh Thánh đã bị bẻ ra và công bố: «Đây Chiên Thiên Chúa…» Con Chiên ở đây không ai khác hơn là Đức Giêsu. Thực ra chẳng có gì mới mẻ ở đây cả. Chúng ta vẫn thường nhìn ra nơi Đức Giêsu qua nhiều tước hiệu: Ngài là Chúa, là Thiên Chúa, là Đấng Cứu Chúa, là Đấng Mêsia, là Vua, là Linh mục, là Ngôn Sứ… và là Con Chiên.

Tuy nhiên, ở đây chúng ta dừng lại nơi tước hiệu cuối cùng: Con Chiên. Với bẩy tước hiệu kể trên được ứng dụng thích đáng cho Đức Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là Con Người với những gì xứng hợp, bao gồm khôn ngoan, quyền năng, nhân cách. Nhưng còn danh hiệu cuối cùng là Con Chiên mang ý nghĩa gì đây?

Về Con Chiên

Tước hiệu Con Chiên xem ra có vẻ hài hước vì không tương xứng khi ứng dụng cho Đức Kitô. Con chiên không thuộc đẳng loại cao cấp trong các loài vật được quý trọng. Loài chiên chả có gì là tài khéo, lanh lợi, dũng mãnh hoặc lịch lãm cả. Nhiều con vật khác xem ra tương xứng hơn nhiều. Thí dụ người ta có thể hình dung ra Đức Kitô là con Sư Tử của Giuđa như trong sách Khải Huyền đã sánh ví (Kh 5: 5). Tuy nhiên hình ảnh này chỉ được nhắc thoáng qua trong sách Khải Huyền, trong khi đó hình ảnh Con Chiên được lặp đi lặp lại tới hai mươi tám lần thật nổi bật. Con Chiên bị sát tế này trở thành Con Chiên Cai Trị, ngồi trên ngai vương đế, thống lãnh hàng hàng lớp lớp đạo binh loài người và thiên thần. Hình ảnh Con Chiên trong chương thứ 6 của sách Khải Huyền là hình ảnh Con Chiên oai phong gây kinh hãi cho mọi loài (Kh 6: 15-16).

Hình ảnh Con Chiên vừa rồi không phải là hình ảnh Thánh Sử Gioan muốn đề cập tới trong Tin Mừng thứ tư cũng như trong sách Khải Huyền. Thánh Gioan muốn đề cập về Con Chiên là chính Đức Giêsu Kitô, như ông Gioan Tẩy Giả giới thiệu Đức Giêsu cho hai môn đệ của mình: «Đây là Chiên Thiên Chúa» (Ga 1: 36).

Chúng ta đã hay biết Con Chiên trở thành trung tâm cho cả Thánh Lễ lẫn sách Khải Huyền. Và như vậy, chúng ta đã nhận ra Con Chiên là Ai (who) rồi. Tuy nhiên để cảm nghiệm được Thánh Lễ trên thiên cung cũng như dưới trái đất một cách thâm sâu và rốt ráo, chúng ta cần hiểu biết thêm nhiều nữa. Chúng ta cần hiểu biết Con Chiên là (what) và Tại sao (why) chúng ta gọi Ngài là Con Chiên. Muốn khám phá được những điều đó, chúng ta cần trở lại với Cựu Ước.

Ổ Bánh

Với dân Do Thái khi xưa, con chiên được đồng hóa với hy lễ và hy lễ là một trong những thể thức tôn thờ đầu tiên. Ngay trong đầu sách Khởi Nguyên, chúng ta đã nhìn thấy hai anh em Cain và Aben là những người đầu tiên dâng hy lễ lên Thiên Chúa, «Sau một thời gian, Ca-in lấy hoa màu của đất đai làm lễ vật dâng lên ĐỨC CHÚA. A-ben cũng dâng những con đầu lòng của bầy chiên cùng với mỡ của chúng» (Kn 4: 3-4). Cũng tương tự thế, chúng ta gặp được những hình ảnh các vật hiến dâng được đốt cháy như trong chuyện ông Noe (Kn 8: 20-21), Abraham (Kn 15: 8-10; 22: 13), Giacóp (Kn 46: 1) và còn nhiều nữa. Trong sách Khởi Nguyên, các tổ phụ thường xây dựng các bàn thờ và các bàn thờ được xử dụng ưu tiên làm nơi hiến tế. Không những chỉ đốt cháy vật dâng hiến, đôi khi các cổ nhân còn đổ rượu trên đó nữa.

Hai hình ảnh đáng chúng ta quan tâm hơn cả, đó là hy lễ của Menkisêđê (Kn 14: 18-20) và của hai cha con ông Abraham và Isaác (Kn 22).

Menkisêđê xuất hiện như một vị tư tế đầu tiên trong Kinh Thánh và nhiều người đã nhìn xem ông như một biểu tượng cho Đức Giêsu Kitô sau này. Ông Menkisêđê vừa là vị tư tế vừa là vua. Menkisêđê là vua của đất Salem và sau này trở thành «Giêru-salem» có nghĩa là «Kinh Thành của Hòa Bình» (xem Tv 76: 2). Một ngày nào đó Chúa Giêsu sẽ nổi bật như vị vua của Giêrusalem trên trời, và một lần nữa giống như ông Menkisêđê, Ngài trở thành «Hoàng Tử của Hoà Bình». Sau cùng, chúng ta nhìn thấy hy lễ của ông Menkisêđê thật phi thường vì không thấy hình dáng con vật nào trong đó. Ông dâng lên Thiên Chúa bánh mì và rượu nho y hệt như Chúa Giêsu dâng hiến lễ vật trong Bữa Ăn Tối khi Ngài thiết lập Phép Thánh Thể.

Núi Môrigia

Có lẽ tổ phụ Abraham đã trở lại đất Salem một thời gian sau đó, khi Thiên Chúa bảo ông hãy đến đây dâng lễ hy tế thờ phượng Ngài, «Hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của ngươi là I-xa-ác, hãy đi đến xứ Mô-ri-gia mà dâng nó làm lễ toàn thiêu ở đấy, trên một ngọn núi Ta sẽ chỉ cho» (Kn 22: 2). Theo truyền thuyết Do Thái được ghi lại trong sách Sử Biên (2Sb 3: 1), thì đất Morigia chính là nơi Đền Thánh tương lai tại Giêrusalem. Chính nơi đây ông Abraham dắt con là Isaác vác củi tơi để dâng lễ hy tế (Kn 22: 6). Khi Isaác hỏi cha vật hiến tế đâu? Ông Abraham trả lời, «Con ơi, chính Thiên Chúa sẽ cung ứng con chiên làm của lễ hiến tế bốc cháy» (Kn 22: 8). Và sau cùng thì chính thiên thần cản tay ông Abraham không sát tế con mình và cung cấp cho ông con cừu đực để sát tế.

Trong câu chuyện này, dân Do Thái quan tâm tới lời thề giao ước của Thiên Chúa sẽ biến con cháu của Abraham thành một quốc gia hùng mạnh, «Ta lấy chính danh Ta mà thề: bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển. Dòng dõi ngươi sẽ chiếm được thành trì của địch» (Kn 22: 16-17). Đó là lời giao ước của Thiên Chúa với Abraham và như vậy trở thành như một chính sách bảo hiểm đời sống (life-insurance policy) cho dân Do Thái. Và quả thực thế, trong sa mạc Sinai, khi dân được tuyển chọn này quay ra tôn thờ con bê vàng, họ liền bị Thiên Chúa muốn giáng hình phạt tiêu diệt hết, lúc đó ông Môsê nài xin Ngài hãy nhớ lại lời thề giao ước với Abraham, để xin Ngài cứu thoát họ khỏi án phạt này (xem Xh 32: 1-14).

Sau này các Kitô hữu nhìn vào câu chuyện của Abraham và Isaác này như một biểu tượng thâm sâu về lễ hy tế của Đức Giêsu trên thập giá. Có nhiều điểm thật tương đồng. Trước tiên, Đức Giêsu giống như Isaác khi Ngài cũng là người con trai yêu quý duy nhất của người cha. Tiếp tới, Ngài cũng giống như Isaác khi vác củi leo lên núi cho lễ hy tế chính mình trên một ngọn đồi tại Giêrusalem. Trên thực tế, ngọn đồi Calvariô nơi Đức Giêsu bị hành hình chính là một trong những ngọn đồi thuộc dẫy núi Morigia. Thêm vào đó, ngay trong hàng chữ đầu tiên của Tân Ước đã đồng hoá Đức Giêsu với Isaác là «con của Abraham» (Mt 1: 1). Trong câu trả lời của Abraham với Isaác theo cách chấm câu của nguyên bản Do Thái: «Thiên Chúa sẽ cung ứng chính Mình, là con chiên, làm lễ hiến tế» (Kn 22: 8), thì con chiên ở đây chính là biểu tượng của Đức Giêsu Kitô, chính Ngài là Thiên Chúa - «Như thế là để nhờ Đức Giê-su Ki-tô, các dân ngoại cũng được hưởng phúc lành dành cho ông Áp-ra-ham» (Gal 3: 14; Kn 22: 16-18), và phải chăng chúng ta cũng là thành phần trong dân ngoại ấy?

Lễ hiến tế bằng con vật

Trong thời gian dân Do Thái bị làm nô lệ tại Ai Cập, thật rõ ràng lễ hiến tế trở thành phần nghi thức chính yếu và trung tâm của Do Thái giáo. Các quan cai của vua Pharaô quở trách dân Do Thái lạm dụng các nghi lễ hiến tế thường xuyên để tránh né làm việc (Xh 5: 17). Sau này, khi ông Môsê ra diện kiến trước vua Pharaô, một trong những lời yêu cầu chính yếu của ông là xin nhà vua cho người Do Thái được quyền dâng lễ hiến tế lên Thiên Chúa (Xh 10: 25).

Như vậy tất cả những lễ dâng hiến này mang ý nghĩa gì? Lễ hiến tế loài vật mang nhiều ý nghĩa với dân Do Thái cổ xưa:

1/ Đó là sự nhận biết quyền năng tối thượng của Thiên Chúa trên loài thụ tạo: «Trái đất là của Thiên Chúa» (Tv 24: 1). Con người nhận thức được thực tế này nên phải dâng lên Ngài những gì thuộc về Ngài. Như vậy, lễ hiến tế chúc tụng Ngài là Đấng tuôn trào mọi phúc lộc cho con người.

2/ Lễ hiến tế là một hành động tạ ơn. Việc tạo dựng được ban cho con người như một hồng ân và như vậy con người phải đền đáp thế nào (Tv 116: 12) Chúng ta mới chỉ đền đáp những gì mình đã nhận lãnh.

3/ Đôi khi, lễ hiến tế được vận dụng như một phương thức đóng ấn một cách long trọng lời thề hứa hay lời giao ước trước Thiên Chúa (xem Kn 21: 22-32).

4/ Lễ hiến tế cũng còn diễn đạt như một hành vi từ bỏ mình hay hối hận vì bao tội lỗi đã phạm. Người dâng lễ hiến tế đã nhận biết tội lỗi của mình đáng chết, do đó họ hy sinh đời sống con vật để thế chỗ cho họ.

Con chiên Vượt Qua

Nhưng lễ hy tế chủ chốt trong lịch sử dân Do Thái chính là Lễ Vượt Qua đánh dấu cuộc xuất hành của dân Do Thái thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập. Chính trong lễ Vượt Qua này Thiên Chúa chỉ bảo mỗi gia đình Do Thái phải giết một con chiên không tì vết, không gẫy xương, rồi rẩy máu lên ngưỡng cửa. Vào đêm hôm đó, người Do Thái phải ăn thịt chiên. Nếu họ ăn thịt chiên, con đầu lòng của họ sẽ thoát chết. Nếu họ không ăn, con đầu lòng của họ sẽ bị giết trong đêm đó (Xh 12: 1-23). Con chiên bị sát tế trở thành vật đền tội thế chỗ cho đứa con đầu lòng trong gia đình. Và như vậy, lễ Vượt Qua chính là một hành động cứu chuộc.

Tuy nhiên Thiên Chúa không chỉ cứu thoát các con trai đầu lòng của dân Do Thái, nhưng Ngài còn muốn cúng tiến họ như «một vương quốc tư tế, một dân tộc thánh thiện» (Xh 19: 6) - một quốc gia Ngài gọi là «con trai đầu lòng» của Ngài (Xh 4: 22).

Rồi Ngài truyền lệnh cho họ hàng năm phải cử hành Lễ Vượt Qua và Ngài ban phát cho họ những lời chỉ dậy họ phải truyền lại cho con cháu của họ sau này: «Khi con cháu anh em hỏi anh em: “Nghi lễ này có ý nghĩa gì đối với quý vị? Anh em sẽ trả lời: Đó là lễ tế Vượt Qua mừng Đức Chúa, Đấng đã vượt qua các nhà của con cái Ít-ra-en tại Ai-cập, khi Người đánh phạt Ai-cập và cho các nhà chúng ta thoát nạn”» (Xh 12: 26-27).

Và khi tiến vào được Đất Hứa rồi, dân Do Thái tiếp tục dâng lên Thiên Chúa các lễ hiến tế hàng ngày, và đã được ghi chép lại thành nhiều khoản luật trong các sách Lêvi, Dân Số và Đệ Nhị Luật (xem Lv 7-9; Ds 28; Đnl 26)

 (Còn tiếp)

 

Trở về Muc Lục