Thư Tòa Soạn
Sám Hối Đích Thực Đòi Hỏi Sự Thay Đổi Toàn Diện
- Nguyễn
Chính Kết
Người Con Gái Chủ Quán -
Trần Duy Nhiên
Chúa ơi! Xin Hãy Đến -
Thơ - Kim Lệ
Những Nhận Thức Mới về Thánh Lễ
-
Hoàng
Quý viết theo Scott Hahn
Lịch Sử Lễ Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội
- Lm Thêôphilê
Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội -
Nguyễn Đức Tuyên
Đức Maria, Một Tâm Hồn Trong Sạch -
Huyền Vi
Vô Nhiễm Nguyên Tội Theo Ánh Mắt Tâm Linh
-
Khổng Nhuận
Đức Trinh Khiết, Một Hồng Ân cho Tất Cả Mọi Người
-
Thái Văn Hiến
Yêu Người Sida
- Lm. Vũ Xuân Hạnh
Tâm Tình Bạn Đọc -
Thư
Bạn Đọc

Trở về các số báo
Thư Tòa Soạn
Ngày 8-12-2004, Giáo Hội sẽ
mừng kính lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm một cách long trọng đặc biệt, bởi lẽ đấy là
kỷ niệm 150 năm ngày công bố tín điều này. Quả vậy, cách đây đúng 150 năm,
ngày 8-12-1854, Đức Piô IX, với sắc chỉ
Ineffabilis Deus, đã công bố rằng “Đức
Trinh Nữ Rất Thánh Maria ngay từ giây phút đầu tiên được thọ thai – nhờ ân
ban và đặc sủng vô song của Thiên Chúa toàn năng , nhằm vào công trạng của
Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu chuộc nhân loại – đã được gìn giữ tinh tuyền khỏi
mọi vết nhơ của tội nguyên tổ.” Trước đó bốn năm, ngày
2-2-1849, Ngài đã tham khảo ý kiến của 603 giám mục để công bố tín điều
này. 546 vị đã ủng hộ quyết định của Ngài. Sở dĩ như vậy, là vì 14 năm về
trước, tại nguyện đường 140 Rue du Bac, Đức Mẹ đã hiện ra với một Nữ Tử
Bác Ái tên là Catherine Labouré để bảo chị phải yêu cầu cha linh hướng
thực hiện một ảnh vảy với lời cầu nguyện sau: “O
Marie, conçue sans péché,
priez pour nous qui avons recours à vous”, mà bản dịch tiếng Việt
đầu tiên ghi là: “Lạy Đức Bà Maria,
chẳng hề mắc tội tổ tông,
xin cầu cho chúng con là kẻ chạy đến cùng Bà”. Cha Aladel đã cho
thực hiện ảnh vảy, và ảnh ấy đã được mọi người gọi là ‘Ảnh Vảy hay làm
phép lạ’ (la Médaille Miraculeuse), vì trong vòng 6 tháng sau đó, không
biết bao nhiêu trường hợp kỳ diệu đã xảy ra đối với những người mang ảnh
vảy ấy. Tuy nhiên, sau khi tín điều ấy được công bố, vẫn còn xảy ra đó đây
những lời ra tiếng vào, đặc biệt là đối với những người căn cứ trên lời
công bố của thánh Phaolô: “mọi người, Do
Thái cũng như Hy Lạp, đều bị tội lỗi thống trị. Như có lời chép rằng:
Không ai là người công chính, dẫu một người cũng không” (Rm 3,
9-10, cf Rm 5, 12). Thế nhưng mọi vấn nạn dần dần tan biến 4 năm sau đó,
khi mà Bernadette Soubirous, một cô gái quê tại Lộ Đức không hề biết đến
tín điều này, đã trình với cha linh hướng rằng ‘Bà Lớn’ hiện ra với cô với
danh xưng: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.”
Ngày 7 tháng 10 vừa qua,
ngày kính nhớ Đức Mẹ Mân Côi, trong lời kết thúc tông thư khai mạc năm
Thánh Thể, Đức Gioan Phaolô II lại mời gọi Giáo Hội xem Đức Mẹ là gương
mẫu của mình, và ‘noi gương Mẹ trong tương
quan với Mầu Nhiệm rất thánh ấy.’
Đáp lời kêu gọi của Đức
Thánh Cha, Maranatha_29 tiếp
tục hành trình Mùa Vọng trong tinh thần học hỏi về Đức Mẹ Vô Nhiễm, mà
không quên Bí Tích cao trọng mà Giáo Hội đang kính nhớ trong năm nay.
Mặt khác, sống trong thế
giới con người, thì ‘không có gì thuộc về con
người mà không vang dội trong lòng người theo Chúa Kitô’
(Gaudium et Spes, số 1); vì thế, Maranatha
cũng nhớ rằng ngày 1 tháng 12 là ngày Thế Giới Phòng Chống Bệnh Aids
(World Aids Day). Năm nay, chủ đề của ngày phòng chống Aids là ‘Phụ nữ và
Aids’ (Women, girls, HIV and AIDS), bởi lẽ hiện nay số phụ nữ nhiễm
HIV-AIDS đã lên đến 57% tổng số những người bị nhiễm, trong khi vào năm
2000, sĩ số người nữ chỉ là 20%. Tuy nhiên, vì không phải là một tờ báo
hướng về những vấn đề ‘nhân đạo’, nên
Maranatha chỉ nhắc đến khía cạnh yêu thương khi nhìn về căn
bệnh này qua bài viết: “Yêu người Sida” của Lm. Vũ Xuân Hạnh.
Và với những thao thức này,
chúng ta cùng hướng đến biến cố Giáng Trần với lời cầu nguyện tích cực:
“Maranatha, Lạy Chúa Kitô, xin ngự đến!”
MARANATHA.
Trở về mục lục >>

MÙA VỌNG
SÁM HỐI ĐÍCH THỰC
ĐÒI HỎI SỰ THAY ĐỔI TOÀN DIỆN
Nguyễn
Chính Kết
1. Gioan Tẩy giả kêu gọi sám hối
Gioan Tẩy giả xuất hiện để dọn đường cho
Đức Giêsu. Ông chuẩn bị tâm hồn dân chúng để họ xứng đáng đón nhận Nước
Trời do Đức Giêsu sắp đến khai mạc. Theo ông, điều tiên quyết phải làm để
đón nhận Nước Trời là sám hối:
«Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã
đến gần» (Mt 3,2).
Sám hối là nhận ra sự sai trái của mình
đối với đường lối của Thiên Chúa và quyết tâm sửa sai. Sám hối đích thực
phải dẫn đến một sự thay đổi toàn diện, một đời sống mới, với quan niệm
mới, nhìn mọi sự và suy nghĩ mọi vấn đề theo cung cách mới, phù hợp với
cách nhìn .và đường lối của Thiên Chúa. Người nào nói mình sám hối mà đời
sống không hề thay đổi, người ấy là người nói dối.
2. Coi chừng! những người tưởng
mình là công chính nhiều khi lại cần sám hối hơn ai hết
Điều khiến ta phải lấy làm lạ là thái độ
của Gioan Tẩy giả đối với những người Pharisêu và Xađốc. Họ là những người
dạy dỗ dân chúng về tôn giáo, về lề luật của Chúa. Họ nắm giữ những giềng
mối của tôn giáo Do Thái, và được coi là mô phạm, là gương mẫu cho dân
chúng. Họ là những người giữ lề luật một cách rất nhiệm nhặt, chi ly đến
từng chi tiết. Vì thế, dưới con mắt loài người, họ rất có lý khi tự hào về
sự đạo đức, thánh thiện của mình.
Ta không hề thấy Gioan Tẩy giả nặng lời
với bọn gái điếm, thu thuế, vốn bị coi là hạng tội lỗi. Nhưng ông lại rất
nặng lời với những người thuộc hai phái đạo đức này. Ông gọi họ là: «nòi
rắn độc!» Sự kiện này rất đáng cho chúng ta suy nghĩ. Thông
thường, mọi người đều nghĩ: nếu phải dùng từ «nòi rắn độc» để chỉ
ai đó, thì bọn thu thuế và gái điếm xứng đáng với từ này nhất. Nhưng Gioan
Tẩy giả không nghĩ như vậy. Ông dùng từ độc địa này để gọi chính những
người được mọi người coi là đạo đức nhất trong dân chúng. Ông sai lầm
chăng? Nếu cho rằng Gioan sai lầm, thì cũng phải cho rằng Đức Giêsu sai
lầm luôn khi Ngài nói thẳng với hai nhóm người đạo đức này:
«Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào
Nước Thiên Chúa trước các ông» (Mt 21,31). Rõ ràng hai vị đồng
quan điểm với nhau!
3. Đức Giêsu
nhìn và đánh giá con người dựa trên tình yêu
Đức Giêsu – cũng như Gioan Tẩy giả –
không đánh giá con người theo cách của chúng ta. Ngài nhìn thẳng vào chính
tâm hồn con người để đánh giá, chứ không chỉ nhìn vào chức vụ, vào những
việc làm tốt đẹp, những nhân đức được tỏ lộ ra bên ngoài ai cũng thấy như
chúng ta. Vì thế, rất có thể những người bị chúng ta cho là tội lỗi vì
những hành động xấu xa bên ngoài, lại được Ngài đánh giá cao hơn những con
người được chúng ta cho là thánh thiện, đạo đức vì những nhân đức hay việc
làm tốt lành của họ. Chính vì Ngài đánh giá khác con người, nên Ngài mới
báo trước một sự đảo lộn không ngờ vào ngày chung cuộc:
«Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống chót, còn
những kẻ đứng chót sẽ được lên đầu» (Mc 10,31; xem thêm Mt
7,22-23; 8,11-12).
Đức Giêsu đánh giá con người như thế
nào? Tiêu chuẩn đánh giá của Ngài chính là
tình yêu, tình yêu đích
thực, vì bản chất của Ngài chính là tình yêu (x.1Ga 4,8.16). Ai càng có
nhiều tình yêu thì càng giống Ngài và càng có giá trị trước mặt Ngài. Do
đó, sự thánh thiện hệ tại tình yêu mà con người có trong lòng mình, chứ
không hệ tại những nhân đức hay những việc tốt đẹp mà con người làm được.
Những thứ này chỉ là biểu hiện tất yếu của tình yêu chứ không phải
là tình yêu. Nếu là tình yêu đích thực thì
đương nhiên phải được thể hiện thành những nhân đức hay việc làm tốt đẹp.
Ai nghĩ hay nói rằng mình có tình yêu, nhưng lại không hề thể hiện tình
yêu ấy thành việc làm, thành nhân đức, thì đó là kẻ nói dối hay ảo tưởng.
4. Không có
tình yêu, mọi việc tốt đẹp đều vô giá trị trước mặt Thiên Chúa
Tuy nhiên người ta vẫn có thể có những
nhân đức hay việc làm hết sức tốt đẹp mà chẳng hề có tình yêu ở bên trong.
Những nhân đức hay việc làm tốt đẹp ấy có thể phát xuất:
– từ tham
vọng cá nhân: một người có tham vọng làm tổng thống, bộ trưởng
hay làm một chức sắc cao cấp trong một tôn giáo vẫn có thể tập luyện để có
những nhân đức, hay làm được những việc rất tốt đẹp chủ yếu để đạt được
những địa vị cao cả đó.
– từ chức
năng: một cán sự xã hội, một nhân viên tiếp thị, một đại lý bảo
hiểm… phải có những lời nói thật dễ thương, đầy vẻ khiêm nhường và vị tha,
phải có thái độ sẵn sàng giúp đỡ… (mà bình thường mình không có) thì mới
có thể thành công trong nghề nghiệp mình. Làm chức sắc tôn giáo cũng phải
ăn nói hay hành động thế nào để tỏ ra có tình yêu đúng như chức vụ mình
đòi hỏi. Tình yêu này là thứ «tình yêu do
chức năng» hay «tình yêu vì mục
vụ».
– từ tính
sĩ diện, ham được ca tụng, thích được bái phục, hoặc sợ bị chê cười, trách
móc: biết bao hành động tốt đẹp trên đời được thành tựu do sự
thúc đẩy của động lực rất phổ biến này.
Như vậy, «yêu thật sự» và «có
vẻ yêu» thì bề ngoài rất giống nhau đến nỗi con người nhiều khi không
thể phân biệt được, nên trước mặt con người, giá trị của chúng có
thể như nhau, nhưng trước mặt Thiên Chúa lại rất khác nhau. Thánh
Phaolô cho chúng ta biết về sự vô giá trị trước mặt Thiên Chúa của
những hành động tốt đẹp nhưng không phát xuất từ tình yêu, cũng như những
đặc sủng không phục vụ cho tình yêu: «Giả như
tôi nói được các thứ tiếng của loài người và các thiên thần (…) có ơn nói
tiên tri và biết hết mọi bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có đức tin chuyển
núi dời non (…) có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân
xác để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích
gì cho tôi» (1Cr 13,1-3).
Không có tình yêu,
thì trước mặt Thiên Chúa, mọi nhân
đức, đặc sủng, việc làm tốt đẹp, thậm chí đức tin, chỉ là một dãy số
không với chữ số to nhỏ khác nhau mà thôi. Có ai hãnh diện
vì số không của mình to hơn, đẹp hơn, hay dãy số không của mình dài hơn
của người khác không? Đã là số không, thì dù to hay nhỏ, dù đẹp hay xấu,
dù là một chữ số hay nhiều chữ số kết hợp lại, thì cũng đều có giá trị
bằng không.
Dãy số không – tượng trưng cho những nhân đức hay việc
làm tốt đẹp – dù dài hay ngắn, dù to hay nhỏ, đều không có giá trị gì.
Nhưng nếu thêm vào đầu dãy số ấy con số 1, thì giá trị của dãy số hoàn
toàn biến đổi. Tình yêu chính là số 1 đứng ở đầu dãy số không ấy, biến tất
cả những số không vô giá trị kia thành một giá trị lớn lao.
Mà tình yêu đích thực lại đặt nền tảng trên tinh thần tự
hủy, nghĩa là coi nhẹ «cái tôi»
của mình. Đấy chính là ý nghĩa đích thực và chủ yếu của hai chữ
«từ bỏ» trong Tin Mừng. Mọi công trình của con người mà
bị đổ bể thường chỉ vì thiếu tinh thần «từ bỏ» này của Tin Mừng.
Một người coi «cái tôi» của mình quá quan trọng khó có thể có được
tình yêu đích thực.
Vậy, để sám hối hầu đón Chúa đến trong tâm hồn mình,
thiết tưởng ta cần nghiêm túc xét xem sự thánh thiện và đạo đức của chúng
ta xây dựng trên nền tảng nào: trên tình yêu? hay trên tham vọng cá nhân,
trên chức vụ, trên sĩ diện? Nếu sự đạo đức thánh thiện ấy không được xây
dựng trên tình yêu, thì chính chúng ta mới là những người phải sám hối
trước tiên. Vì rất có thể những kẻ có vẻ tội lỗi hơn chúng ta lại có nhiều
tình yêu hơn chúng ta, họ đối xử với tha nhân có tình có nghĩa hơn chúng
ta. Nên trước mặt Thiên Chúa, chúng ta không giá trị bằng họ●
Trở về mục lục >>

CHIA SẺ MÙA VỌNG
Lts: Mùa Vọng năm nay, Maranatha
lần lượt cho đăng những bài trích từ tập ‘Chia Sẻ Giáng Sinh’ của tác
giả Trần Duy Nhiên. Trong tập ấy, tác giả đề nghị độc giả thử đặt mình
vào một nhân vật có mặt trong đêm Giáng Sinh đầu tiên, và chia sẻ cảm
nhận của mình. Người đầu tiên tưởng tượng rằng ông chủ quán trọ, từng
không cho thánh Giuse tá túc, có một người con gái. Và đây là lời kể của
bé gái ấy.
NGƯỜI CON GÁI CHỦ QUÁN
Trần Duy Nhiên
Tôi sẽ kể cho các bạn nghe những gì tôi chứng kiến và cảm nhận
trong đêm Noel đầu tiên ấy. Tôi có thể giới thiệu bằng tên của mình, nhưng
tên tôi sẽ không nói lên được gì. Các bạn sẽ thấy gần gũi tôi hơn nếu tôi
bảo rằng tôi chính là đứa con gái người chủ quán trọ mà ông Giuse và bà
Maria đến xin tá túc đêm đó. Năm ấy, tôi độ 7, 8 tuổi.
Tôi đang ở vào lứa tuổi vừa
đủ trí khôn để hiểu rằng thế giới người lớn là một thế giới tôi không thể
nào hiểu nổi. Cha mẹ tôi suốt ngày bận bịu với những người lạ mặt. Họ đến,
ăn uống, ca hát, gây gỗ một vài đêm, rồi ra đi. Cha mẹ tôi nhẹ nhàng tươi
cười với họ, kể cả những khi họ tỏ ra thô lỗ cộc cằn. Sau những lần như
vậy, cha mẹ tôi lại giận dữ cau có sau lưng họ, và trút lên đầu tôi những
bực dọc vô lý đó. Có lần mẹ tôi thấy tôi khóc vì oan ức, bà an ủi tôi bằng
cách cho tôi biết rằng cha mẹ cần đến những người ấy vì họ có tiền, cha mẹ
cần có thật nhiều tiền để cho tôi vui sống. Tôi không hiểu gì nhiều ...
Tôi chỉ thấy rằng cha mẹ ít khi tươi cười với tôi, và tôi chẳng có ai để
trò chuyện.
Tóm lại từ khi 7 tuổi, tôi
đã là một đứa bé hiểu được quá sớm rằng mình đang thiếu một cái gì đó, một
cái gì thật căn bản để tạo ra niềm vui trong cuộc sống, và cái gì đó chắc
chắn không phải là tiền. Cuộc sống của tôi trôi đều đều như thế cho đến
đêm hôm ấy.
Những ngày vừa qua, lữ
khách đến quán trọ của chúng tôi tấp nập hơn, xa lạ hơn. Hình như họ đã đổ
xô từ khắp nơi về đây. Cha mẹ tôi bận rộn suốt ngày. Cha mẹ tôi càng niềm
nở với khách lạ bao nhiêu thì càng gắt gỏng với tôi bấy nhiêu. Vì thế tối
hôm đó, tôi lánh mặt trên gác một mình.
Đã hơn 8 giờ tối rồi mà
khách lạ vẫn còn tuôn đến. Mẹ tôi dọn cho khách ăn trong nhà, còn cha tôi
đứng ở cửa chờ khách. Cha tôi chỉ nhận vào quán trọ những người khách có
dáng giàu sang, còn những người có vẻ nghèo hèn thì ông khéo léo xua đuổi.
Tôi cảm thấy buồn vô hạn khi nhìn thấy những người khách nghèo cúi mặt
quay đi.
Bỗng nhiên tôi chú ý đến
hai người nãy giờ đứng thật lâu trong bóng tối. Họ có vẻ nghèo nàn và mệt
mỏi. Hình như là hai vợ chồng trẻ, nhưng chỉ có một con lừa cũng mệt mỏi
như họ. Có lẽ họ đã đi từ nơi nào xa lắm. Họ do dự một lúc lâu, rồi người
chồng bước đến gặp cha tôi. Ông ta nói điều gì đó tôi không nghe rõ. Cha
tôi nhìn người khách từ đầu đến chân rồi trả lời:
“Xin cảm phiền nhé, quán tôi hết chỗ rồi”.
Người đàn ông đưa mắt nhìn
cha tôi với cái nhìn van xin, tay chỉ về phía người vợ, ông ấp úng một câu
gì đó. Tôi nghe cha tôi nói tiếp: “Tôi rất
thông cảm, nhưng không biết làm sao. Vợ ông không đủ sức đi xa hơn nữa,
nhưng quán tôi quả thật không còn chỗ”.
Tôi muốn chạy ngay xuống và
la lên với cha tôi rằng quán vẫn còn chỗ, rằng tôi sẵn sàng xuống bếp ngủ
đêm nay, dành phòng cho hai vợ chồng ấy. Nhưng tôi biết có nói cũng vô
ích, vì chắc chắn cha tôi sẽ nạt rằng con nít không được xen vào chuyện
người lớn.
Người đàn ông không nói
thêm gì nữa, nhưng tôi thấy đôi mắt của ông ta long lên trong bóng đêm.
Trước cảnh đó, mắt tôi bỗng nhòa đi trong màn lệ, tôi không còn nghe gì,
thấy gì nữa. Khi tôi trấn tĩnh lại để có thể nhìn rõ mọi vật, tôi thấy
người đàn ông dắt lừa chậm rãi bước về phía chuồng bò. Các bạn phải hiểu
là tối hôm đó tôi không tài nào chợp mắt được. Trằn trọc mãi cho tới
khuya, tôi khẽ bước xuống giường và lén ra khỏi nhà. Tôi không dám sờ
soạng tìm áo lạnh vì sợ gây tiếng động làm cha mẹ tôi thức giấc. Tôi vẫn
nhát gan, nhất là trước bóng đêm, nhưng không biết sao đêm nay có một cái
gì thúc bách khiến tôi không thể nào nằm yên được. Tôi ra khỏi nhà, lần mò
xuống chuồng bò xem hai vợ chồng lúc tối ngủ thế nào.
Nhưng kìa, họ vẫn còn thức,
và chuồng bò lại sáng như ban ngày, sáng hơn cả phòng ăn trong quán trọ
của chúng tôi. Lạ một điều là trong chuồng bò không có ngọn đèn nào cả,
chỉ có một đám lửa rơm sắp tàn. Rồi vẳng nghe ở đâu đó có một loại âm
thanh nhẹ nhàng như tiếng suối, như tiếng chim, như tiếng gió vờn trên hoa
dại mùa xuân. Một âm thanh tôi chưa bao giờ nghe qua. Ngỡ mình ngủ mê, tôi
thử cắn vào tay, vẫn cảm thấy đau. Nhưng sao tôi vẫn không thấy lạnh, cũng
không cảm thấy sợ hãi.
Nhìn vào trong, tôi thấy
người phụ nữ ngồi bên máng cỏ, trên đó có một cậu bé đang nhắm mắt ngủ
yên, bên cạnh, người chồng đưa tay vuốt ve đầu con lừa chăm chú nhìn cậu
bé con. Đúng là một cậu bé. Hồi tối tôi đâu có thấy cậu bé này!
Tôi chẳng có thì giờ suy
nghĩ, vì cậu bé đã thức giấc. Cậu đưa mắt nhìn mẹ và mỉm cười. Người vợ
đưa mắt nhìn chồng, rồi cả hai cùng mỉm cười. Và điều lạ đã xảy ra: con
lừa cũng mỉm cười. Tôi cam đoan với các bạn là lừa cũng biết cười, vì rõ
ràng tôi nhìn thấy. Chuồng bò như rạng rỡ vì những nụ cười ấy.
Và tôi chợt hiểu rằng sở dĩ
cuộc đời tôi u buồn vì chưa hề đón nhận được nụ cười nào như thế. Đồng
thời tôi cảm thấy sung sướng, vì biết rằng vẫn có những nụ cười chân tình
trên cuộc đời này.
Tôi đứng đó thật lâu, rồi
im lặng trở về phòng. Cha mẹ tôi vẫn còn ngủ. Chỉ có một mình tôi đang
thức trong căn nhà này. Tôi có cảm giác cha mẹ tôi đã ngủ lâu lắm rồi.
Vì ngủ mê, nên không biết
rằng có một thứ nghèo đáng sợ hơn nghèo tiền nghèo bạc, đó là nghèo tình
thương.
Vì ngủ mê,
nên cha tôi không còn chỗ trong lòng mình để chấp nhận người khác mà ông
lại bảo rằng quán trọ không còn chỗ.
Và chỉ có những người ngoài
kia là thức.
Vì thức
tỉnh, nên cho dù trong chuồng bò giá buốt họ vẫn có nụ cười trên môi.
Vì họ
thức, nên mới đánh thức tôi đêm nay.
Và vì tôi
thức, nên tôi nghĩ rằng đã đến lúc phải đánh thức người khác, bắt đầu từ
cha mẹ tôi●
Trích: Chia Sẻ Giáng Sinh
Trở về mục lục >>

THƠ
CHÚA ƠI! XIN HÃY ĐẾN!
Kim Lệ
Những năm dài trong sa mạc hoang vu
Kiếp đọa đầy vấn vương nhiều thống khổ
Ngày lê thê và đêm về lạnh lẽo
Lạy Gia Vê ! nghe thấu tiếng con kêu !
Trong tăm tối con chờ mong Chúa đến
Mấy mươi năm sao cứ mãi lênh đênh
Gia Vê hỡi ! từ ngàn xưa đã hứa
Đấng Cứu Tinh sẽ đến với nhân loài
Trong máng cỏ, trong hang lừa tăm tối
Chúa Chiên Lành Đấng gánh tội trần gian
Sẽ sinh ra khiêm nhu và lặng lẽ
Nơi Bê Lem miền đất của Giu Đê
Ngàn năm trước và bao nhiêu năm nữa
Con chờ mong trong khao khát mỏi mòn
Trong âm thầm, trong tuyệt vọng héo hon
Trong tội lỗi con vẫn hoài ngóng đợi
Chúa sẽ đến mang tin mừng cứu rỗi
Ban Hồng Ân cho khắp cả muôn dân
Và hy sinh chuộc tội cho thế trần
Tình yêu ấy ngàn đời vang vọng mãi
Nhưng Chúa hỡi biết khi nào Ngài đến ?
Để lòng con thôi mãi ngóng trông hoài
Để trần gian dù bao kiếp đổi thay
Hồn con vẫn âm thầm chờ mong Chúa●
Trở về mục lục >>

HỌC
HỎI VỀ THÁNH LỄ
NHỮNG
NHẬN THỨC MỚI VỀ THÁNH LỄ:
CÂU CHUYỆN VỀ HY LỄ
(tiếp theo Maranatha_28)
Hoàng Quý
(viết theo Tiến sĩ Scott Hahn)
Giêrusalem như một kinh thành vương
đế
Sau khi đã xây dựng xong Đền
Thánh Giêrusalem vào năm 960 trước Công nguyên, hàng ngày dân Do Thái dâng
hiến các lễ hy tế lên Thiên Chúa Toàn Năng trong một nghi lễ trang trọng.
Mỗi ngày, các tư tế sát tế hai con chiên, một con vào buổi sáng và một con
buổi chiều như lễ đền tội cho toàn dân. Đó là những nghi lễ chính yếu
nhất, tuy nhiên trong suốt ngày các làn khói còn lan tỏa từ nhiều lễ sát
tế tư riêng khác của nhiều người. Thôi thì đủ thứ loài vật dê, bò, chim bồ
câu và lừa được hiến dâng trên chiếc bàn bằng đồng đặt ngoài sân ngay lối
dẫn vào sân trong của Đền Thánh. Bên trong Đền Thánh bắt đầu là Nơi Thánh
Địa (Holy Place) gồm có bàn thờ, chậu nuớc rửa, các bàn đặt bánh, các chân
đèn, bàn dâng hương và trong cùng như một nơi thẩm cung được gọi là Nơi
Cực Thánh (Holy of Holies) chính là nơi Thiên Chúa ngự trị. Chỉ có các tư
tế mới được phép bước vào sân trong của Đền Thánh; và cũng chỉ có vị
thượng tế một năm một lần mới được tiến vào nơi Cực Thánh cử hành Ngày Đền
Tội trong một thời gian thật ngắn ngủi. Vì dù là thượng tế đó, nhưng cũng
là một tội nhân, do đó không xứng đáng đứng trước nhan Thiên Chúa.
Đền Thánh Giêrusalem quy tụ
tất cả các loài vật được dùng làm lễ sát tế từ trước tới nay. Đền Thánh
nằm ngay trên lãnh địa trước đây ông Menkisêđê đã dâng bánh và rượu và
cũng là nơi chính tổ phụ Abraham đã dẫn con là Isaác tới để hiến tế con.
Thêm vào đó, nơi đây cũng chính là nơi Thiên Chúa đã ban lời thề giao ước
cứu độ các dân tộc. Đền Thánh được sử dụng như nơi thường hằng dâng tiến
lễ vật và lễ vật chính yếu được đồng hóa
với lễ hy tế cổ đại nhất của Aben, chính là con chiên.
Nghi lễ hy tế trọng đại nhất
trong lịch sử Do Thái vẫn chính là Lễ Vượt Qua,
khi có đến hai triệu rưởi khách hành hương từ khắp nới trên thế giới đổ về
chật ních Giêrusalem. Nhà sử học nổi danh thuộc thế kỷ thứ nhất, ông
Josephus đã ghi nhận lễ Vượt Qua vào năm 70 sau Công nguyên, chỉ trước một
ít tháng khi quân La Mã tới đây phá hủy Đền Thánh, tức khoảng bốn
mươi năm sau Lễ Thăng Thiên, các tư tế đã dâng hiến khoảng 256,500 con
chiên trên bàn thờ trong Đền Thánh.
Từ bên trong và bên ngoài
Phải chăng nghi lễ hiến tế chỉ
là những những nghi thức bề ngoài? Chắc chắn điều đó chưa thể đủ được, vì
Thiên Chúa đòi hỏi thái độ hiến tế bên
trong nữa. Sách Thánh Vịnh diễn tả điều
đó thật rõ rệt: «Lễ hiến tế được Thiên
Chúa ưng nhận chính là tấm lòng tan nát dầy vò»
(Tv 51: 19). Tiên tri Hôsêa cũng diễn tả mong muốn của Thiên Chúa,
«Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ,
thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu»
(Hs 6:6).
Tuy thế, tuân giữ
việc cử hành các nghi thức bề ngoài vẫn cần
thiết. Chính Chúa Giêsu đã tuân giữ các
luật lệ của dân Do Thái liên quan đến việc hiến tế. Hàng năm Ngài vẫn tham
dự Lễ Vượt Qua tại Giêrusalem. Nghi lễ này đối với những người Do Thái
sùng đạo biểu lộ tâm tình họ muốn nhắc lại lời giao ước của họ với Thiên
Chúa. Và thực sự Chúa Giêsu đã ăn thịt chiên hiến tế với các môn đệ trong
dịp lễ này.
Lần cuối cùng Ngài ăn thịt
chiên Vượt Qua tại Giêrusalem không phải theo nghi thức bình thường nữa,
nhưng đây là trung tâm điểm của sứ mệnh nơi Ngài, là thời điểm định mệnh
của Ngài. Ngài trở thành chính Con Chiên bị sát tế. Thời điểm Ngài đứng
trước mặt Philatô, «Hôm ấy là ngày áp lễ Vượt Qua, vào khoảng giờ thứ
sáu» (Ga 19:14). Gioan Thánh Sử đã biết rằng giờ thứ sáu là giờ các tư
tế bắt đầu sát tế các con chiên
Vượt Qua. Và như vậy, đây là thời điểm
sát tế Con Chiên Thiên Chúa.
Cũng trong đoạn Tin Mừng này,
Thánh Gioan tường thuật lại các lý hình cho Chúa Giêsu nhấm rượu chua từ
miếng bọt biển treo trên đầu cành hương thảo (xem Ga 19:29; Xh 12:22).
Trong Lễ Vượt Qua tại Ai Cập trước khi vượt qua Biển Đỏ, dân Do Thái được
lệnh lấy bó hương thảo nhúng vào chậu máu con chiên rồi quét lên trên
khung cửa. Và trên thập giá, khi người ta cho Chúa Giêsu nhấm rượu chua từ
ngành hương thảo, Ngài đã thưa lên: «Mọi
sự đã hoàn tất». Phải,
Ngài đã hoàn thành việc cứu độ tân kỳ và hoàn
hảo nhất trên thập giá.
Những nghi thức của vật hiến tế
Chúng ta có thể kết luận gì về
ý nghĩa vừa nêu trên? Và Thánh Gioan soi sáng cho chúng ta rằng
trong lễ hy tế Vượt Qua mới vẻ và quyết đáp này,
chính Chúa Giêsu là vị tư tế và đồng thời cũng là vật hiến tế.
Cả ba Thánh Sử khác cũng đề cập về Bữa Ăn Cuối Cùng, khi Chúa Giêsu sử
dụng ngôn ngữ tư tế liên quan đến lễ hy tế và việc uống rượu. Ngài diễn tả
chính Ngài là vật hiến tế: «Đây là mình
Thầy, hiến tế vì anh em... Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy,
máu đổ ra vì anh em» (Lc 22:19-20).
Lễ hy tế của Chúa Giêsu trở
thành vô địch khi máu của cả hàng triệu con chiên, dê hoặc bò cũng chẳng
thể thay thế được:
«Thật thế, máu các con bò, con dê không thể
nào xoá được tội lỗi» (Dt 10:4). Để
đền tội hoặc phạt tạ cho những xúc phạm của con người trước Thiên Chúa
toàn hảo, thánh thiện, nhân hậu, phải cần
đến một lễ hy tế hoàn hảo nhất: đó là lễ hy tế cũng toàn hảo, không tì vết
và vô song như Chính Thiên Chúa. Và
Đấng đó không ai khác là chính Chúa Giêsu,
Đấng chỉ một mình Ngài «... tiêu diệt
tội lỗi bằng việc hiến tế chính mình»
(Dt 9:26).
Chúng ta còn nhớ ông Gioan Tẩy
Giả chỉ cho hai môn đệ của mình về một nhân vật đi từ đàng xa:
«Kìa, Chiên Thiên Chúa»
(Ga 1:36). Tại sao Chúa Giêsu lại là Con Chiên và không là con cọp hoặc
con ngựa hoặc con bò? Tại sao sách Khải Huyền cũng mô tả Chúa Giêsu như «một
Con Chiên, trông như thể đã bị giết» (Kh 5:6)? Tại sao Thánh Lễ cũng
xưng tụng Ngài là «Đây, Chiên Thiên Chúa»? Bởi vì
chỉ có con chiên bị sát tế mới xứng hợp với
khuôn mẫu Thiên Chúa cứu độ chúng ta: con chiên hiền lành, trong sạch,
nhẫn nhục, chịu đựng.
Là vị tư tế, Chúa Giêsu thực
hiện được những chuyện mà không một vị thượng tế nào có thể làm được như
Ngài. Vị thượng tế hàng năm chỉ được phép vào nơi Cực Thánh một lần
với máu không phải là máu của mình
(xem Dt 9:25) và chỉ được nán lại trong một thời gian thật ngắn vì không
xứng đáng đứng trước Nhan Thánh Đấng Tối Cao. Nhưng Chúa Giêsu bước vào
chốn cực thánh là thiên cung - một lần thay cho tất cả - để
dâng hiến chính mình làm lễ hy tế thay cho chúng
ta. Nhờ Lễ Vượt Qua mới của chính Chúa
Giêsu, chúng ta cũng được trở thành công dân của vương quốc các tư tế và
thuộc về Giáo hội những con đầu lòng (xem Kh 1:6; Dt 12:23). Nhờ Ngài,
chúng ta được bước vào cung điện thiên đàng bất cứ khi nào chúng ta cử
hành Thánh Lễ.
Hãy ghi nhớ đại lễ này
Điều này mang lại ý nghĩa gì
cho chúng ta ngày hôm nay? Chúng ta có được cử hành Lễ Vượt Qua của chính
chúng ta không? Thật may mắn, Thánh Phalô trả lời:
«Đức Ki-tô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt
Qua của chúng ta. Vì thế, chúng ta ăn mừng đại lễ bằng bánh không men,
là lòng tinh tuyền và chân thật»
(1Cor 5:7-8). Như vậy Con Chiên Vượt Qua
ở đây là bánh không men. Đại lễ của chúng ta chính là Thánh Lễ
(xem 1Cor 10:15-21; 11:23-32).
Trước ánh sáng rõ ràng như thế
của Tân Ước, những hy tế trong Cựu Ước
mang ý nghĩa chuẩn bị cho lễ hy tế của chính Chúa Giêsu,
vị thượng tế thuộc hoàng gia thiên cung. Và chính giờ đây chúng ta cũng
được dâng hiến cùng một lễ hy tế này
với Chúa Giêsu trong Thánh Lễ.
Trước ánh sáng huyền diệu này, giờ đây chúng ta hiểu rõ ràng và thấm thía
những lời nguyện trong Thánh Lễ. Đây, chúng ta hãy đọc lại những lời cầu
nguyện Thánh Thể:
«Chúng con dâng lên Cha
thân xác và máu Ngài,
hy lễ đáng được chấp nhận đang đem đến ơn
cứu độ cho toàn thế giới. Lạy Cha, xin
Cha hãy nhìn xem lễ hiến tế này mà Cha đã ban cho Giáo hội...»
(Lời nguyện Thánh Thể IV).
«Với bao nhiêu ân huệ Cha
đã ban cho chúng con, chúng con xin dâng lên Cha, Thiên Chúa vinh quang và
cao cả, lễ hiến tế thánh thiện và toàn hảo này... Xin Cha hãy khấng nhìn
xem những lễ hiến dâng này và chấp nhận như Cha đã một lần chấp nhận lễ
dâng Aben tôi tớ Cha là lễ hiến tế của Abraham, tổ phụ của niềm tin, và
bánh cùng rượu do tư tế Menkisêđê dâng lên. Lạy Cha toàn năng, chúng con
nguyện xin thiên thần của Cha đem lễ hiến tế này lên bàn thờ của Cha trên
thiên cung» (Lời nguyện Thánh Thể I).
Chúa Giêsu đã đổ máu và chết
để cứu độ chúng ta vẫn chưa đủ. Giờ đây
đến lượt chúng ta cũng phải đóng vai trò của chúng ta.
Nếu chúng ta muốn đánh dấu giao ước của
chúng ta với Thiên Chúa, muốn đóng dấu
giao ước với Ngài, muốn canh tân giao ước với Ngài,
chúng ta phải ăn thịt Con Chiên
- con chiên Phục Sinh chính là bánh không
men của chúng ta. Chính bánh này đem đến cho chúng ta sự sống sung mãn:
«Nếu các ông không ăn thịt và uống máu
Con Người, các ông không có sự sống nơi mình»
(Ga 6:53).
Đền đáp
Nhu cầu trước tiên của con
người khi đến tôn thờ Thiên Chúa luôn luôn
được diễn đạt bằng lễ hy tế:
tôn thờ cùng một lúc là hành động ngợi khen, đền tạ, hiến mình, nối giao
ước và tạ ơn (tiếng Hy Lạp là eucharistia). Tất các thể thức hy tế
ấy có cùng chung một ý nghĩa tích cực:
quy phục đời sống để được biến hóa và chia sẻ.
Như vậy, khi Chúa Giêsu đề cập về đời sống Ngài như lễ hy tế, Ngài khai mở
thành một dòng nước chảy sâu vào lòng các môn đệ của Ngài - chảy sâu
vào lòng người Do Thái - chảy sâu vào lòng mỗi con người.
Hành động tối thượng của việc tôn thờ chính là
hành động tối thượng của lễ hy tế: Bữa Ăn Tối của Con Chiên là chính Thánh
Lễ.
Hy tế là nhu cầu của trái tim
con người. Nhưng cho tới thời Chúa Giêsu, chẳng lễ hy tế nào đầy đủ được
cả. Chúng ta hãy đọc lại Thánh Vịnh 116:12 như sau: «Biết lấy chi đền
đáp Chúa bây giờ, vì mọi ơn lành Ngài đã ban cho tôi». Quả thực, chúng
ta biết lấy gì để đền đáp đây?
Thiên Chúa biết chúng ta phải
trả lời thế nào? Chỉ còn một cách, «Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và
kêu cầu thánh danh Đức Chúa» (Tv 116:13).
Cử hành Thánh Lễ trên bàn thờ
trong thánh đường
hay trên bàn thờ của cuộc sống mỗi ngày,
trong đó chúng ta nâng chén cứu độ và ca ngợi danh Ngài,
chính là cách thức chúng ta đền đáp Ngài xứng
hợp nhất●
Trở về mục lục >>

MỪNG KÍNH MẸ MARIA VÔ NHIỄM
LỊCH
SỬ LỄ ĐỨC MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI
Lm Thêôphilê
Từ thế kỷ thứ VIII, bên Giáo hội Đông Phương đã mừng lễ
“Thánh Anna thụ thai, mẹ của Theotokos (Mẹ
Thiên Chúa)” vào ngày 9 tháng 12 hàng năm. Ý nghĩa lễ này dựa
vào Ngụy Thư “Tiền Tin Mừng của
thánh Giacôbê”. Bà Anna sau một thời gian dài son sẻ đã
được thiên thần báo tin thụ thai như dấu chỉ tình thương của Thiên Chúa.
Ý lễ được lan qua Tây phương nhất là tại Ý, Aùi Nhĩ Lan và Anh thành lễ “Đức
Maria thụ thai”. Tại thành Naples (Ý) vào thế kỷ thứ IX, ngày lễ được
khắc vào lịch bằng đá hoa cương. Và năm 1050, Đức Giáo Hoàng Léon IX
huấn dụ các tín hữu mừng kính Đức Trinh nữ thụ thai như Giáo Hội Đông
phương đã làm.
Cho đến thế kỷ thứ XII, những vị thánh như Albert Cả,
Bonaventura, Tôma d’Aquin cũng cho rằng vì Đức Maria thừa kế di nghiệp
Ađam nên vướng mắc nguyên tội, nhưng Mẹ được thánh hóa ngay từ trong thai
mẫu.
Tuy vậy, vấn đề vẫn còn gây tranh cãi cho đến thế kỷ
XIII. Một thần học gia lỗi lạc dòng Phanxicô là Duns Scott (1308) đã nghĩ
ra một lối giải thích độc đáo bênh vực Đức Maria đã được sung mãn ân sủng
ngay từ giây phút đầu tiên cuộc đời. Tác giả minh chứng đặc ân vô nhiễm
tuyệt đối gìn giữ Đức Maria khỏi mọi tội lỗi kể cả nguyên tội không hề đi
trệch ra ngoài trật tự ơn cứu chuộc, mà còn là thành quả vinh quang nhất
trong công trình cứu độ của Chúa Kitô.
Đến thời Công đồng họp tại thành Bâle (Thụy sĩ) năm 1439
cũng đồng ý về vấn đề Đức Maria Vô Nhiễm, và mãi tới thời Đức Giáo Hoàng
Piô IX, mới công bố ý tưởng Đức Maria Vô Nhiễm nguyên tội thành tín điều
vào ngày 8 tháng 12 năm 1854 trong thông điệp Ineffabilis Deus :
“Ta tuyên xưng, công bố và xác quyết rằng tín
điều này đã được Thiên Chúa mặc khải và vì thế phải được mọi tín hữu tin
nhận cách chắc chắn, không được rút lại. Cụ thể, tín điều này xác quyết
rằng Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria ngay từ giây phút đầu tiên được tượng
thai – nhờ ân ban và đặc sủng vô song Thiên Chúa toàn năng ban cho và nhờ
công trạng của Đức Giêsu Kitô – đã được gìn giữ khỏi mọi vương vấn nguyên
tội”●
Trở về mục lục >>

ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI
Nguyễn Đức Tuyên
Mọi tạo vật đều được tạo thành bởi Thiên Chúa và Đức
Maria cũng không phải là ngoại lệ. Cũng như mọi người chúng ta, Mẹ cũng
được tạo dựng để nên tinh tuyền thánh thiện và ca tụng, vinh danh Thiên
Chúa cùng trở nên thánh thiện tinh tuyền (Ep 1,4-12). Bởi đâu Mẹ ca tụng
và vinh danh Chúa Cha? Bằng cách trở nên dụng cụ cho Đấng Cứu Chuộc, nơi
mà Ngài có thể trở nên con người, nơi không vướng mắc tội nguyên thủy.
Làm sao ta có thể nghĩ tới những điều Đức Maria đã làm
để xứng đáng đón nhận ưu quyền không vướng mắc tội tổ tông. Dầu cố gắng
suy nghĩ tới đâu chúng ta cũng luôn đi đến kết luận rằng đây là một sự tự
do tuyệt đối đặc ân siêu việt của Thiên Chúa cao cả – một đặc ân Mẹ không
chiếm được nhưng được Chúa ban cho.
Trong ngày hôm nay chúng ta vinh danh trái tim vô nhiễm
nguyên tội của Đức Maria. Cũng là dịp nhắc nhở chúng ta rằng điều rất
tương tự đã tránh cho Mẹ khỏi mắc nguyên tội – những công đức nhờ sự chết
và sự sống lại của Đức Giêsu – cũng đã mang đế cho chúng ta nhờ phép Thánh
Tẩy. Khi chúng ta chịu phép Thánh Tẩy, chúng được rửa sạch mọi vết nhơ tội
lỗi, và cửa thiên đàng đã mở ra cho chúng ta. Chúa Thánh Thần phủ rợp trên
ta và Chúa Giêsu đến sống trong trái tim chúng ta. Chúng ta trở nên xứng
đáng vị trí tin yêu Thiên Chúa giống như Mẹ Maria đã làm. Tất cả mọi người
chúng ta, một cách nào đó, cũng có thể có được trái tim tinh khiết.
Dĩ nhiên, điều này không phải là đương nhiên. Một vị trí
như Mẹ Maria phải đuợc tôi luyện trong ta qua thời gian khi ta biết thống
hối và tự đặt mình vào việc phụng sự Thiên Chúa. Mỗi ngày chúng ta cần
nuôi dưỡng để gặp gỡ Chúa Giêsu trong các Bí tích và trong cầu nguyện. Mỗi
ngày chúng ta cần tăng thêm nỗ lực gặp gỡ Chúa Giêsu trong những người khó
nghèo và những người cần đến sự giúp đỡ của ta.
Chúng ta phải cố gắng dẹp bỏ những ý tưởng và khuynh
hướng tội lỗi. Chúng ta cũng cần có trái tim hướng về sự vâng phục Thiên
Chúa và nhắm tới kế hoạch cứu độ của Ngài. Càng bước theo con đường Chúa
Giêsu chỉ dẫn, chúng ta càng trở nên thân mật với Ngài giống như Đức Maria
vậy.
Đừng quên những gì mang đến cho chúng ta khi ta đã chịu
phép Thánh Tẩy. Đừng quên sức mạnh Thiên Chúa ở trong ta. Một trái tim
trong sạch như trái tim Đức Maria cần giữ bền chặt. Khi chúng ta muốn và
theo đuổi sự tinh tuyền này,Thiên Chúa Cha sẽ hoàn thiện trong ta.
Lạy Chúa Giêsu, con ngợi khen Ngài! Ngài đã cho
con một trái tim mới, chẳng bao giờ tối tăm vì tội lỗi nhưng được thanh
tẩy nhờ máu thánh Ngài. Qua Thánh Thần Chúa, xin cho con sức mạnh và can
đảm để hiệp nhất với Chúa như Chúa đã đổi mới con giống hình ảnh Ngài●
Trở về mục lục >>

ĐỨC MARIA, MỘT TÂM HỒN TRONG SẠCH
Huyền Vi
1. Đức Maria vô
nhiễm nguyên tội
Đức Maria được một ơn hết sức
đặc biệt hầu xứng đáng làm Mẹ của đấng Cứu Thế, đó là ơn không mắc tội tổ
tông. Trong nhân loại, nghĩa là trong tất cả đám con cháu Ađam và Eva,
ngoài Đức Giêsu vốn cũng là Thiên Chúa ra, thì chỉ duy nhất một mình Đức
Maria được ơn ấy. Chúng ta biết được điều ấy qua giáo huấn của Giáo Hội.
Giáo huấn ấy đã được chính Đức Maria xác nhận khi hiện ra nhiều lần với cô
Becnađét tại Lộ Đức (Pháp) năm 1858. Tuy nhiên, Đức Maria vẫn là con
người, vẫn phải chịu những đau khổ, lo lắng, sợ sệt và cũng bị cám dỗ y
như chúng ta. Nếu có khác thì chỉ khác chúng ta ở chỗ Ngài không bao giờ
phạm tội mà thôi.
2. Tâm hồn trong
sạch, một vẻ đẹp trước mặt Thiên Chúa
Việc Thiên Chúa gìn giữ Đức
Maria không mắc tội tổ tông cho thấy Thiên Chúa rất yêu quí sự trong sạch
tâm linh, nghĩa là không bị nhơ bẩn vì tội lỗi, không bị thần ô uế thống
trị, không nhượng bộ trước sự ác. Vì thế, để có giá trị trước mặt Thiên
Chúa, chúng ta cần giữ tâm hồn mình cho trong sạch. Chúng ta tuy không
được ân đặc biệt như Đức Maria là không mắc tội tổ tông, nhưng chúng ta đã
được rửa tội để xóa bỏ tội ấy. Vấn đề còn lại là chúng ta hãy cố giữ tâm
hồn cho trong sạch, không phạm tội trong tư tưởng, lời nói cũng như việc
làm, và cả những tội thiếu sót, do không làm những việc mà lương tâm buộc
phải làm.
Để giữ cho tâm hồn trong sạch
không vướng mắc những tội riêng, Mẹ Maria cũng phải cố gắng thắng lướt
những cơn cám dỗ, những khuynh hướng tự nhiên có thể lôi kéo con người xa
Thiên Chúa. Chẳng hạn khi phải chọn lựa giữa hai điều tốt, bản tính tự
nhiên của con người có khuynh hướng chọn lựa điều có lợi cho mình hơn,
điều đỡ vất vả khổ cực hơn, điều đỡ gây thiệt hại hơn, thay vì phải chọn
lựa điều tốt hơn,
3 .Làm sao giữ
được tâm hồn trong sạch?
Nếu ta hiểu được tội lỗi là gì,
thì ta sẽ hiểu ngay được cách gìn giữ tâm hồn trong sạch, không vướng mắc
tội lỗi. Tội lỗi là một cái gì đi ngược lại bản chất của Thiên Chúa, mà
bản chất của Thiên Chúa là Tình Yêu (xem
1Ga 4,7-8). Do đó, khi nào chúng ta có tình yêu của Thiên Chúa trong tâm
hồn, nghĩa là ta thật sự yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, và sẵn sàng hành
động theo sự đòi hỏi của tình yêu ấy, thì tâm hồn ta được kể là trong sạch
trước mặt Thiên Chúa. Ngược lại, nếu chúng ta không có tình yêu, chúng ta
ích kỷ, đặt nặng cái tôi của mình, thì tâm hồn ta đã có khuynh hướng tội
lỗi, và lúc nào sẵn sàng làm điều tội lỗi. Hễ có tình yêu đích thực –
nghĩa là yêu Thiên Chúa và tha nhân – thì hành động nào do tình yêu
đó thúc đẩy cũng đẹp lòng Thiên Chúa. Vì thế, thánh ÂuTinh nói:
“Cứ yêu đi đã rồi muốn làm gì thì làm”
(Ama et fac quod vis).
Tâm hồn của Đức Maria luôn luôn
trong sạch vì Mẹ luôn luôn yêu mến Thiên Chúa và dành trọn tình yêu cho
Thiên Chúa. Người yêu Chúa thật lòng như Mẹ thì không thể phạm tội được.
Vậy để giữ tâm hồn mình trong sạch, không gì tích cực và bảo đảm bằng việc
củng cố tình yêu của mình đối với Thiên Chúa và tha nhân. Và đã là tình
yêu đích thực thì nó luôn luôn tự biểu lộ thành hành động●
Trở về mục lục >>

VÔ NHIỄM NGUYÊN
TỘI
THEO ÁNH MẮT TÂM LINH
Khổng Nhuận
Nhân ngày lễ Đức Mẹ Maria
Vô Nhiễm Nguyên Tội, trong một bài giảng
cho giới trẻ, một linh mục nhắc đi nhắc lại nhiều lần ý tưởng
Đức mẹ là tác phẩm tuyệt
vời của Thiên Chúa.
Sau đó là phẩn giải đáp thắc mắc, tôi nêu vấn nạn.
Nếu nói Đức mẹ Maria là tác
phẩm tuyệt vời của Thiên Chúa vậy mỗi người chúng ta ở đây là tác phẩm như
thế nào? là thứ phẩm,
hoặc tệ hơn nữa là vật phế thải.
Linh mục hướng dẫn khựng lại một chút – có lẽ ngài chưa bao giờ nghe ai
hỏi như thế. Nhưng ngài cố gằng trả lời:
Chúng ta cũng là tác
phẩm của Chúa nhưng Đức Mẹ là tác phẩm hoàn hảo nhất, tuyệt vời nhất,
không tỳ vết, vô nhiễm nguyên tội, trong khi chúng ta đủ thứ tội, tội tổ
tông, tội riêng của mình.
Sau đó, anh phụ trách giới trẻ gặp tôi ở cuối nhà thờ nói với tôi:
Cám ơn Nhuận, anh đã đặt
câu hỏi rất hay và có lẽ câu giải đáp chưa thoả mãn phải không?
Chưa thỏa mãn. Lẽ ra tôi
tính đặt thêm câu hỏi tiếp theo, nhưng tôi không muốn gây khó dễ cho linh
mục hướng dẫn.
Vậy anh tính đặt câu hỏi
gì?
Mục đích chúng ta mừng lễ
Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội để làm gì?
Chà! câu hỏi đơn giản mà
khó trả lời nghe.
Bạn thử trả lời coi.
Chúng ta mừng lễ Mẹ Vô
Nhiễm Nguyên Tội để mừng kính Mẹ và nhất là để bắt chước nhân đức của Mẹ.
Làm sao bạn có thể bắt
chước Mẹ được, trong khi Mẹ thì Vô Nhiễm Nguyên Tội còn bạn thì tội lỗi
ngập đầu - giống như người què đòi bắt chước vận động viên chạy đua đang
giữ chức vô địch chạy nhanh nhất thế giới.
Vậy quan niệm của anh thế
nào?
Nếu chỉ để mừng kính suông
thì tôi chắc chắn Đức Mẹ không quan tâm, vì nếu Đức Mẹ cũng
khoái chí
khi chúng ta mừng kính Mẹ thì
hoá ra Mẹ cũng ham danh
ham lợi
như chúng ta sao!
Còn nếu muốn noi gương Mẹ mà lại mang trong đầu não trạng tôi ngập ngụa
tội lỗi thì vô phương. Vì thế, theo tôi, nhân dịp mừng kính Mẹ Vô Nhiễm
Nguyên Tội, chúng ta cùng nhau nhìn
lại con người đích thực của mình
xem có chút nào
tương đồng với mẹ Maria không.
Như tôi đã chia sẻ trong
bài Đức Kitô, trưởng tử của một đàn em đông đức. Tất cả đều là con yêu dấu
của Cha, tràn đầy Thần Khí của Cha -
Thiên Chúa đã
tuôn đổ tình yêu
của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh
Thần mà Người
ban cho chúng ta.(Rm
5:5tha - The love of God has been
poured out
into our hearts through the Holy Spirit that has been given to us.
Để minh hoạ rõ hơn, chúng
ta con thấy Căn cứ
vào điều này, chúng ta biết được Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, đó là
nhờ Thần Khí, Thần Khí Người đã ban
cho chúng ta.(1Ga
3:24).
- The way we know that he
remains in us is from the Spirit that
he gave us.
Và nhờ đó
Chính Thần Khí chứng thực
cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là
con cái Thiên Chúa
(Rm 8:16)
Với ánh mắt tâm linh, tôi
nhận ra Đức Mẹ cũng là một người trong đàn em đông đúc của trưởng tử
Giêsu.
Tôi nghe hơi chói tai rồi
đấy. Đức Maria đường đường là mẹ Thiên Chúa sao lại là một trong những kẻ
tội lỗi như chúng ta?
Bạn lại nhìn theo con mắt
nhân loại rồi. Với ánh mắt tâm linh tôi cũng là mẹ Đức Giêsu như Đức
Maria. Chắc bạn còn nhớ lời Đức Giêsu khẳng định
: "Ai là mẹ tôi? Ai là anh
em tôi? " Rồi Người giơ tay chỉ các
môn đệ và nói: "Đây
là mẹ tôi, đây là anh em tôi.
Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là
anh chị em tôi, là mẹ tôi." (Mt 48:50)
Thôi, trở về chủ đề chính
hôm nay: Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, anh có được vô nhiễm nguyên tội
như Đức Maria không mà đòi sánh với Đức Mẹ?
Tôi cũng được vô nhiễm
nguyên tôi chứ!
Nghe chói tai quá!!Lần này
tôi muốn ra sông Cửu Long rửa tai đây,
Bạn lại nhìn theo con mắt
nhân loại nữa rồi. Nếu bình tĩnh nhìn theo con mắt tâm linh, bạn sẽ
thấy tình yêu Chúa bao la, sâu rộng như thế nào. Tôi đã chia sẻ nhiều lần
lời ngôn sứ Jeremia 1:5
"Trước khi cho ngươi thành
hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi;
trước khi ngươi lọt lòng mẹ,
Ta đã thánh hoá ngươi,
Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân." (Gr 1:5).
Phaolô cũng xác tín trong thư Epheso:
Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta
trước cả khi tạo thành vũ trụ,
để trước thánh nhan Người, ta trở nên
tinh tuyền thánh thiện,
nhờ tình thương của Người.
(Ep 1:4) .
Đó, bạn thấy rồi chứ,
Trước khi ta hình thành
trong dạ mẹ,
Chúa đã thánh hóa ta.
Hơn nữa, Trước cả khi tạo thành trời đất,
nhờ tình thương của
Người, ta trở nên
tinh tuyền thánh thiện.
Qua 2 Lời Chúa này bạn có thấy
dấu vết gì của tội nguyên
tổ không?
Vậy tôi hỏi lại anh: giáo
hội mừng kính lễ Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội để làm gì?
Theo tôi, tôi phải cảm tạ
Chúa vì Thánh Thần Chúa đã soi sáng cho Giáo Hội mừng kính lễ Mẹ Vô Nhiễm
Nguyên Tội để cho mỗi người Kitô Hữu chúng ta có dịp để noi gương bắt
chước Mẹ bẳng cách nhìn lại con người
đích thực của mình
- một con người vốn là con yêu dấu của
Chúa, được Chúa
quan tâm chăm sóc ngay từ trong lòng mẹ, hơn nữa ngay cả trước cả khi tạo
thành vũ trụ, để chúng ta sống trong
tâm tình của một người con
chứ không phải trong tâm tưởng của một
đầy tớ luôn sợ hãi ông chủ
hay tệ hơn nữa như tên thảo dân hạng
bét đối với
vua cả nước trời
quá cao sang đến nỗi tương quan giữa ta và Chúa không có một chút tình
yêu.
Tư tưởng của anh cách mạng
quá, không biết những người Kitô Hữu khác có chấp nhận được không?
Ngày xưa tôi đã từng tự
hào về Đức Mẹ của đạo mình có những đặc điểm mà không một thánh nữ, hay
tiên nữ nào trong các đạo khác sánh được. Tôi cũng đã một lần quyết
ăn thua đủ với một người anh em Tin Lành rằng: Mẹ Maria của Công giáo rất
độc đáo với những danh hiệu rất ư là oai phong:
Mẹ Thiên Chúa
, Vô Nhiễm Nguyên Tội,
Trinh Thai. Quả là
Đức Maria có phúc lạ hơn mọi người nữ trên trần gian này. Nhưng từ khi tôi
khám phá ra sự xuất phát tuyệt
vời của mình -
được Chúa thánh hóa - trở nên thánh
thiện, tinh tuyền -
thì tôi sống đời sống phụng vụ tích cực hơn nhiều. Cụ thể như nhân dịp
mừng kính lễ Đức Mẹ Maria Vô Nhiễm
Nguyên Tội, tôi
noi gương Đức Mẹ
sống xứng đáng với món quà quý báu mà Chúa Cha đã thương ban cho tôi ngay
từ khi tôi còn trong lòng mẹ, đó là - tôi
được Chúa thánh hóa - trở nên thánh
thiện, tinh tuyền
như Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội
của tôi cũng như
của mỗi người Kitô Hữu trên trần gian này●
Trở về mục lục >>

ĐỨC TRINH KHIẾT: MỘT HỒNG ÂN,
MỘT ƠN GỌI CHO HẾT THẢY MỌI NGƯỜI
Cantalamessa
-
Thái Văn Hiến dịch
Đức Trinh Khiết hay đời sống độc
thân, theo cách khác nhau, vừa là một “lời khuyên”dành cho một số người,
lại vừa là một “lời giáo huấn” dành cho hết thảy mọi người. Thật vậy, đó
là một bậc sống tự chọn để sống cả một đời người, đồng thời đó còn là một
bổn phận, hay nói đúng hơn, là một mục tiêu để sống, khi đến một giai đoạn
quyết định nào đó trong cuộc đời, giai đoạn mà người ta phải trải qua
trước khi có chọn lựa dứt khoát đối với ơn gọi của bản thân.
Theo nghĩa ấy, thì ơn gọi sống đức Trinh Khiết không
nhất thiết chỉ dành riêng cho các tu sĩ và cho những ai dọn mình làm Linh
Mục, nhưng còn dành cho tất thảy những người đã được Thánh tẩy. Những lý
do để sống đời khiết tịnh vì Nước Trời, mà chúng ta sẽ cùng nhau khám phá,
có thể nâng đỡ và “làm thành cớ” cho nỗ lực của một nam hay một nữ tín hữu
giữ gìn sự trinh khiêt và sự trọn vẹn thể lý cũng như tâm linh của mình
cho đến ngày thành hôn. Nếu đức Trinh Khiết là điều giúp cho người tận
hiến có thể nói được với Chúa Kitô rằng :
“Tất cả hoa trái ngon ngọt của con, con đã để dành cho
Ngài, lạy Đấng Chí Ái của con.” (xem Diễm ca 14),
thì việc gìn giữ sự trọn vẹn cho hôn nhân giúp người ta
dâng hiến được cho người mình yêu dấu, trong ngày tân hôn, quà tặng vô giá
mà cả hai người đều thầm mong ước, để cùng nghe
nói với nhau chính những lời kia, theo nghĩa “cụ thể” hơn :
“Hỡi người yêu dấu, tất cả hoa trái ngon ngọt
của tôi, tôi đã giữ gìn cho người.”
Như thế, người ta sẽ không thể nói về đức Trinh Khiết
hay đời sống độc thân mà lại không có một so chiếu thường xuyên vào hôn
nhân. Vì vậy, một vấn nạn được đặt ra cho chủ đề ấy cũng là câu hỏi liên
quan đến hôn nhân, thậm chí trên một số phương diện, còn là cách tốt nhất
để khám phá, qua việc so sánh, bản chất và sự tốt lành của đặc sủng hôn
nhân.
Hiện nay chúng ta đang chứng kiến một làn sóng công
kích thực sự, từ phía đời sống văn hoá chung quanh, chống lại giá trị của
đức Trinh Khiết. Khuynh hướng rất thường gặp thấy là coi rẻ những gì mà
người ta đã đánh mất hoặc không đạt được (tương tự như điều đã khiến cho
con cáo trong truyện ngụ ngôn viện cớ chê bai các chùm nho : Nondum mature
est = Còn xanh quá !). Nền văn hoá tục lụy đang ném sự hoài nghi, thậm chí
có cả sự chế giễu, lên trên giá trị truyền thống vốn được chính thiên
nhiên bảo vệ, bao bọc qua việc gìn giữ tinh tế nhưng kiên quyết sự ngây
thơ trong trắng. Các cậu trai và cô gái, bị thôi thúc bởi
môi trường sống - thường là ngay cả môi trường học đường, nơi
mà vốn là một trợ lực giúp cho họ đạt đến
được sự chín chắn - lấy làm xấu hổ về sự ngây thơ của chính mình, đề rồi
từ đó tìm mọi cách để che giấu nó đi, thậm chí có lúc còn bịa ra những
kinh nghiệm giả tạo mà mình không có, chẳng qua là chỉ vì không muốn là
một kẻ khác người. “Tính đao đức giả - cổ nhân đã nói - ngày xưa là món nợ
mà thói xấu phải trả cho đức hạnh, thì hôm nay lại chính là món nợ mà đức
hạnh phải trả cho thói xấu !”
Sự công kích vô lý như thế cũng được gặp thấy trong Giáo
Hội; và, chẳng còn cách nào khác hơn là chúng ta đành phải sống và hít thở
cái không khí của thế giới đang tấn công chúng ta, đang chống
lại công cuộc Phúc Aâm hoá của chúng ta, bằng mọi phương tiện bên ngoài
cũng như bên trong ngôi nhà mà chúng ta đang cư ngụ. Đôi khi người ta còn
nghe nói rằng đời sống độc thân và đức Trinh Khiết không cho phép có một
sự phát triển lành mạnh và hoàn chỉnh về con người : kiểu sống ấy không
cho phép người nam được làm một người nam trọn vẹn và người nữ làm một
người nữ trọn vẹn. Tôi đã từng thấy hậu quả của kiểu nói ấy trong cách
người ta chuẩn bị cho việc nhận định về ơn gọi.
Một đôi lần, trong khi tham dự các cuộc gặp gỡ trao đổi
về các ơn gọi, tôi có cảm tưởng là sau lời kêu gọi sống đời tận hiến
cách đặc biệt, thì lời mời gọi tiếp theo được hiểu ngầm một cách hiển
nhiên là :”Các
bạn thân mến, hãy chọn đi theo cách sống của chúng tôi. Mặc dù là các bạn
phải sống độc thân và khiết tịnh, nhưng như vậy, các bạn mới có thể
thực sự đóng góp vào việc làm cho Nước Cha trị đến, giúp đỡ người
nghèo, làm cho người khác sống có ý
thức, sống một cách tự do không bị lệ thuộc vào của cải vật chất, để
xúc tiến công bằng xã hội...” Tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải
củng cố lại niềm tin của mình và phải có can đảm mời gọi các thanh niên
bước theo đời sống tận hiến của chúng ta, không phải là “mặc dù”
phải sống độc thân và trinh khiết, sống là “vì”
hay chí ít là “cũng vì” như thế. Có thể, cũng như trong quá khứ và vào lúc
khai sinh Giáo Hội, đó đúng là một lý tưởng đã khiến cho nhiều người trẻ
say mê và được lôi kéo đến với đời sống tu trì và làm Linh mục thay vì xa
lánh.
Đức Trinh Khiết vì Nước Trời đích thực là một giá trị
ngời sáng mà trào lưu sống và thời đại không thể làm thay đổi được. Cho
dẫu tất cả các quyền lực có thể liên kết lại, kể cả sự
khôn ngoan của thế gian và những khoa học gọi là của
nhân loại, nhằm phản kháng chống lại kiểu thức sống ấy, đến độ định nghĩa
nó là : “Một vết ô nhục của quá khứ”, và ném lên nó đủ thứ nghi hoặc; thậm
chí còn có thể kể thêm vào đó tất cả các thứ tội lỗi và bất trung
của chính những người đã chọn bậc sống ấy đi nữa, thì kiểu thức sống ấy sẽ
vẫn tồn tại vì chính Đức Giêsu đã lập ra nó. Không một ai có thể nhổ
bật được khỏi mặt đất nầy thân cây mà Con Thiên Chúa đã tận tay vun trồng
khi đến giữa thế gian.
Thế gian không nhận thấy là chính mình đang phải bồi
thường danh dự cho giá trị ấy, khi làm cho tiếng “đồng trinh” trở thành
một trong những biểu tượng được quần chúng biết đến nhiều nhất. Len tốt là
thứ len tinh ròng, không pha trộn; Đức Trinh Khiết còn chỉ về những gì tốt
đẹp nhất và không bị vấy bẩn giữa những sản phẩm con người trên trái đất.
Chúng ta cần phải tẩy sạch cho những từ ngữ và biểu tượng, mà nền văn hoá
thế tục đã mượn từ Kinh Thánh và Truyền Thống Kitô giáo, rồi biêu riếu làm
mất đi hoàn toàn ý nghĩa đạo đức của chúng. “Trinh khiết”
chính là một trong những từ ngữ ấy●
(Lời
dẫn nhập cho cuốn La Virginité)
Raniero Cantalamessa, Linh mục Dòng
Capucin, ‘nhà rao giảng tông đồ’, người phụ trách giảng trong các cuộc
tĩnh tâm của Đức Thánh Cha và các thành viên hàng Giáo sĩ Rôma. Là tác
giả của nhiều cuốn sách, ngài còn là một trong những người lãnh đạo
phong trào Thần Khí Canh Tân ở Ý, và được đánh giá là một thuyết trình
gia lỗi lạc trong các hội nghị Quốc tế.
Trở về mục lục >>

YÊU NGƯỜI SIDA
(Nhân ngày thế giới phòng
chống AIDS)
Lm. Vũ Xuân Hạnh
“Hãy yêu mến Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết
linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi” Ngươi hãy yêu mến tha nhân như
chính mình ngươi. Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó”
(Mc 12, 29-31).
I. NỖI SỢ SIDA
Vào những năm 1980, tại Việt Nam, nghe
nói đến SIDA (AIDS), người ta còn hững hờ lắm. Cứ tưởng nó chỉ ở tận trời
Âu, trời Phi nào đó. Dân chúng Việt Nam hình như lạnh lùng và lạ lùng với
tên giết người khủng khiếp mang danh SIDA này. Mãi đến đầu thập niên 1990,
khi mà cuộc sống con người vẫn bận rộn; luân lý đối với một số người dường
như vẫn là xa xỉ phẩm, thì người ta phải giật mình thảng thốt, không dấu
nổi sự bàng hoàng khi báo chí đưa tin: Bệnh nhân SIDA đầu tiên đã được
phát hiện tại Việt Nam!
Mãi đến hôm nay, qua các phương tiện
truyền thông, SIDA không còn xa lạ nữa. Nhưng khi không còn xa lạ, thì
cũng chính là lúc SIDA đã lan tràn. Nó xuất hiện trên khắp hành tinh. Đã
đến lúc nó hiện nguyên hình là một con ác quỷ dữ tợn nhất đối với cuộc
sống nhân loại trong hiện tại này. Nạn nhân của nó ngày một gia tăng không
ngừng. Trên thực tế, nó đã cướp đi hàng triệu mạng sống và còn đó hàng
chục triệu (trên 20 triệu) sinh linh đang dần nhích tới hố sâu của sự chết
vì mang mầm giống SIDA trong cơ thể của mình, thì mọi người, dù là ít học
nhất, ít nhiều sợ hãi.
Nhưng bạn ạ, đứng trước nạn nhân SIDA,
dẫu là do chính họ phải trả giá cho lối sống bạt mạng của mình, hay chồng
lây cho vợ, cha mẹ lây cho con, hoặc bị lây nhiễm do bất cứ lý do nào,
lòng thương yêu, sự thông cảm của bạn, của tôi và của mọi người sẽ là liều
thuốc tốt nhất để chữa trị, không phải giúp thoát khỏi bệnh tật nhưng là
trả lại sự sống con người cho họ.
II. YÊU NGƯỜI SIDA
Từ những suy nghĩ ấy, rồi đọc Lời Chúa
trong Tin Mừng, tôi càng cảm nhận lời dạy của Chúa Giêsu:
hãy YÊU CHÚA và YÊU ANH EM thật gần gũi và cần thiết vô cùng. Nhất
là những anh chị em đang mang mầm giống của sự chết là chính căn bệnh SIDA
tai ác nơi chính bản thân họ, lại càng cần thiết hơn để chúng ta áp dụng
lời dạy yêu thương của Chúa cho mình mà đối xử với họ. Nhờ lắng nghe và
sống Lời Chúa, ta không kỳ thị, nhưng dám đến gần họ bằng tất cả lòng
thương yêu, sự cảm thông sâu lắng của mình. Nhìn trong viễn tượng nguy cơ
của thời đại như thế, ta thấy, dẫu Lời của Chúa đã xưa, đã cũ, nhưng sao
cứ mới, mới nguyên. Đó là những điều ta rất quen thuộc, bởi đã nghe rất
nhiều lần, nhưng mãi mãi vẫn là lời dạy thấm thía nhất, đáng chú ý nhất.
Chúa nói: “Hãy yêu mến Thiên Chúa của
ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi.” “Ngươi
hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi. Không có giới răn nào trọng hơn
hai giới răn đó.” (Mc 12, 29-31).
Bạn ạ, Chúa đã không dạy một điều gì xa
xôi. Tất cả những gì Chúa dạy, đều gồm tóm trong một động từ duy nhất:
YÊU. Yêu
Chúa và yêu người. Hai giới răn này, gọi là hai, nhưng hóa ra
là một. Vì yêu Chúa đòi buộc phải yêu người. Và yêu người chính là thể
hiện của lòng yêu mến Chúa. Bởi vậy, để sống giới răn này, có rất nhiều
những việc làm cụ thể để ta có thể thực hiện trong đời sống của mình.
Nhưng hôm nay, tôi muốn bạn cùng tôi dừng lại trên nỗi khổ của nhiều người
mắc phải căn bệnh thế kỷ: SIDA.
Họ là anh em của ta, là những người đang
sống quanh ta. Nếu sống trong đời, người bình thường đã cần đến tình yêu,
thì những anh chị em SIDA càng cần gấp bội. Bởi thế, nếu bạn và tôi ý thức
lời Chúa dạy, ý thức mình phải sống Lời Chúa, chúng ta càng cảm thấy mình
có trách nhiệm nhiều hơn với biết bao anh chị em đang vướng mắc căn bệnh
này. Trước hết, vì lòng yêu mến Chúa và yêu mến anh em, từng người một hãy
ăn ở ngay lành, hãy sống luật Chúa, hãy tránh xa những cám dỗ của tội lỗi
để chính mình không là người bị bệnh, hơn thế, không là nguồn lây bệnh.
Mặt khác, cũng chính vì Lời Chúa dạy hãy yêu thương, ta không xa lánh,
không chối từ những anh chị em lỡ vướng vào căn bệnh tai ác này.
III. MỘT CHỨNG TỪ.
Tôi còn nhớ, Hôm Chúa nhật Chúa Chiên
Lành tháng 6. 2003, tại một địa điểm, Ban Đặc trách ơn gọi của một giáo
phận tổ chức ngày tìm hiểu về ơn gọi tu trì cho rất đông bạn trẻ trong
giáo phận ấy. Trong phần chia sẻ, một thanh niên bị SIDA kể về đời mình
cho các bạn trẻ nghe như một bằng chứng sống, một chứng từ cụ thể là chính
bản thân anh. Anh là con nhà giàu và quyền thế trong xã hội. Cha mẹ nuông
chiều rất mực. Đó là những lý do làm cho anh trở thành kẻ hư đốn. Cũng
được đi học như người ta, và học giỏi, nhưng anh đã sớm lêu lỏng. Được vào
đại học đã là may. Anh không xem đó là dịp may trên đường tiến thân mà lại
xem việc rời xa gia đình vào đại học là dịp may để anh thoát khỏi sự ràng
buộc của gia đình, thoát khỏi sự kềm cập (anh nghĩ thế) của mẹ cha, một
mình tự tung, tự tác khám phá thế giới đen tối của những người sợ ánh sáng
như anh. Vài năm sau, gia đình được đi Mỹ theo diện H.O., anh lại càng
nhận thấy ‘trời cho’ mình dịp may, từ nay cắt đứt hoàn toàn sự kiểm soát
của cha mẹ, nhất là không còn phải lo chuyện cha mẹ hoặch họe tiền bạc mỗi
lần anh xòe tay xin.
Thế rồi chuyện gì phải đến đã đến. Thế
giới tội lỗi mà anh yêu thích, anh trầm mình với nó, đã tặng cho anh một
cái tát tay nghiệt ngã: anh bị SIDA! Ngày nhận giấy báo kết quả dương
tính, anh thấy như cả bầu trời đổ sụp, đất dưới chân quay cuồng. Ngày nào
khi anh có tiền, bạn bè bu quanh. Bây giờ thấy anh, ai cũng tránh thật xa.
Không còn những độ nhậu, không còn những đêm trắng bên sòng bạc, không còn
cảnh tượng đen tối của những con người thích sống theo bản năng hơn tự làm
chủ chính mình. Anh đã mất tất cả. Trước mặt mọi người, hình như anh còn
dơ bẩn hơn một cọng rác thối. Anh đang sống nhưng khác gì một thây ma. Anh
đang thở nhưng hình như không còn sống nữa. Cái chết thể lý đang chiếm
đoạt anh từng giây phút đã vậy, cái chết của tâm linh, của cô đơn, của mặc
cảm, cái chết của sự khinh ghét mà mọi người dành cho anh còn lớn hơn, còn
nặng nề và khủng khiếp hơn. Anh đã thua, đã trắng tay.
Quá tuyệt vọng, anh ra đường rầy xe lửa
ngồi đấy chờ trao gởi cuộc sống đang trên bờ vực thẳm của mình cho một
chuyến tàu định mệnh nào đó. Đúng là định mệnh! Đoàn tàu xấu số mà anh lao
vào đã không chở anh sang thế giới bên kia. Anh hồi sức, dần dần nhận ra
mình đang nằm trong bệnh viện. Nếu trước khi tự tử, cuộc sống của anh đã
là địa ngục, bây giờ, sau khi từ cõi chết trở về, cuộc sống ấy còn trở nên
địa ngục gấp nhiều lần hơn. Thân thể của anh nằm gọn trên giường, chỉ còn
phần trên. Chi dưới của anh vĩnh viễn gởi lại đường ray với dấu nghiền nát
của những chiếc bánh xe bằng sắt.
Đến nông nỗi này mà trong ánh mắt mọi
người, anh vẫn là một con thú dữ, không ai dám đến gần, kể cả y bác sĩ. Có
chăng, anh chỉ nhận được nơi họ lòng thương hại mà thôi. Đau khổ tột cùng.
Anh chỉ còn biết nguyền rủa chính mình, và nguyền rủa những người đã đưa
anh trở lại cuộc sống.
Thế rồi bóng dáng của một nữ tu xuất
hiện. Chị là người đang phục vụ tại trung tâm M. ở một huyện ngoại thành
Sài Gòn, thuộc giáo phận P., chuyên lo cho người nhiễm HIV và bị bệnh AIDS
(SIDA). Quá bất mãn với cuộc đời, anh chẳng còn tin ai, kể cả họ là nữ tu
đi nữa. Nhưng sau nhiều lần được thuyết phục, anh đã xiêu lòng. Theo người
nữ tu khả ái ấy về Trung Tâm mà lòng anh vẫn còn nghi nan. Rồi thời gian
đã cho anh câu trả lời. Giờ đây, anh biết rằng, anh đã đến đúng địa chỉ.
Những con người quên cả đời mình, dám hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho lý
tưởng tu trì, với một niềm mong muốn nên giống Chúa Kitô, thì còn lý do
nào để họ có thể nghi ngại anh? Bây giờ anh mới hiểu được hai chữ
LÀM NGƯỜI.
Nó thiêng liêng và đáng yêu lắm.
Trước đây, khi ngụp lặn trong thế giới
của mây mù, anh cứ ngỡ mình là một kẻ tự do. Nhưng anh lầm. Chính khi
buông mình theo bản năng, bán mình cho sự nông cạn của lối suy nghĩ nhất
thời, là lúc anh trở thành một kẻ nô lệ tệ bạc nhất: nô lệ cho những sai
lầm đáng lên án của chính mình, nô lệ cho chính những đam mê thấp kém mà
anh yêu thích.
Giờ đây khi mà cuộc sống chỉ còn là những
ngày tháng ngắn ngũi, anh mới biết rằng con người ta chỉ cao thượng, sự
sống chất chứa muôn vàn hạnh phúc, và cuộc đời này đáng yêu, đáng quý chỉ
có thể có được khi người ta biết sống theo một kỹ cương, biết trao ban
tình yêu, biết đưa bàn tay để phục vụ. Các nữ tu mà anh đã được gặp trên
giường bệnh là những người như thế. Chính các chị đã trả lại cho anh,
không phải tất cả cuộc sống, thì cũng là tất cả ý nghĩa của sự sống, tất
cả niềm vui sống. Nhờ đó mà lúc này anh mới có đủ can đảm nói về chính
cuộc đời của mình cho mọi người trẻ đang hiện diện lắng nghe, không một
chút e dè, không còn nỗi mặc cảm, ít nữa là mắc cỡ vì phải bày tỏ sự thật
đời mình. Cảm nghiệm tất cả ý nghĩa của sự sống đã cho anh lòng quả cảm và
can đảm ấy.
IV. CAN ĐẢM NÀO GIÚP SỐNG.
Cách biện minh chung của nhiều người sống
buông thả, nhất là ở lứa tuổi thiếu niên, đó là: dẫu biết rằng sống buông
thả sẽ đến ngày trả giá, nhưng vẫn cứ sống buông thả, là một sự can đảm
(?). Chắc chắn những người đủ bình tĩnh, đủ khả năng suy nghĩ sẽ không
đồng ý với lối lý luận ngang tàng ấy. Nhưng thực tế, họ vẫn ngụy biện để
bênh vực cho lối sống sai trái của mình. Thì thôi, ít là một lần ta thử
đặt mình đứng về phía lý luận của họ để nói với họ.
Phải công bằng mà nhìn nhận rằng, nếu ai
đó thừa biết nguy hiểm, nhưng vẫn dấn thân lao vào nguy hiểm, đúng là một
can đảm. Nếu để cứu người, cứu giúp một chân lý nào đó, can đảm ấy cần
thiết, được nêu cao và cần nhân rộng. Nhưng trong trường hợp của người lao
thân vào tự do buông thả và thác loạn, sự can đảm ấy đặt sai chỗ: giết
chết chính mình đã đành, điều quan trọng không kém, đó là giết chết chính
giá trị làm người, lẽ ra mình phải có. Có khi còn giết chết anh chị em
xung quanh.
Vì thế, khi đứng trước đám đông, người
thanh niên can đảm dám nói về chính mình như một bài học sống dành cho mọi
người, anh trở thành người góp phần cứu sống con người, góp phần bài trừ
SIDA, góp phần làm cho đạo đức xã hội bớt băng hoại. Nói cho cùng, sự can
đảm của an