Số 29, Ngày 04-12-2004

 

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Sám Hối Đích Thực Đòi Hỏi Sự Thay Đổi Toàn Diện - Nguyễn Chính Kết

Người Con Gái Chủ Quán - Trần Duy Nhiên

Chúa ơi! Xin Hãy Đến - Thơ - Kim Lệ

Những Nhận Thức Mới về Thánh Lễ -  Hoàng Quý viết theo Scott Hahn

Lịch Sử Lễ Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội - Lm Thêôphilê

Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội - Nguyễn Đức Tuyên

Đức Maria, Một Tâm Hồn Trong Sạch - Huyền Vi

Vô Nhiễm Nguyên Tội Theo Ánh Mắt Tâm Linh - Khổng Nhuận

Đức Trinh Khiết, Một Hồng Ân cho Tất Cả Mọi Người - Thái Văn Hiến

Yêu Người Sida - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Tâm Tình Bạn Đọc  -  Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Ngày 8-12-2004, Giáo Hội sẽ mừng kính lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm một cách long trọng đặc biệt, bởi lẽ đấy là kỷ niệm 150 năm ngày công bố tín điều này. Quả vậy, cách đây đúng 150 năm, ngày 8-12-1854, Đức Piô IX, với sắc chỉ Ineffabilis Deus, đã công bố rằng Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria ngay từ giây phút đầu tiên được thọ thai – nhờ ân ban và đặc sủng vô song của Thiên Chúa toàn năng , nhằm vào công trạng của Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu chuộc nhân loại – đã được gìn giữ tinh tuyền khỏi mọi vết nhơ của tội nguyên tổ.” Trước đó bốn năm, ngày 2-2-1849, Ngài đã tham khảo ý kiến của 603 giám mục để công bố tín điều này. 546 vị đã ủng hộ quyết định của Ngài. Sở dĩ như vậy, là vì 14 năm về trước, tại nguyện đường 140 Rue du Bac, Đức Mẹ đã hiện ra với một Nữ Tử Bác Ái tên là Catherine Labouré để bảo chị phải yêu cầu cha linh hướng thực hiện một ảnh vảy với lời cầu nguyện sau: “O Marie, conçue sans péché, priez pour nous qui avons recours à vous”, mà bản dịch tiếng Việt đầu tiên ghi là: “Lạy Đức Bà Maria, chẳng hề mắc tội tổ tông, xin cầu cho chúng con là kẻ chạy đến cùng Bà”. Cha Aladel đã cho thực hiện ảnh vảy, và ảnh ấy đã được mọi người gọi là ‘Ảnh Vảy hay làm phép lạ’ (la Médaille Miraculeuse), vì trong vòng 6 tháng sau đó, không biết bao nhiêu trường hợp kỳ diệu đã xảy ra đối với những người mang ảnh vảy ấy. Tuy nhiên, sau khi tín điều ấy được công bố, vẫn còn xảy ra đó đây những lời ra tiếng vào, đặc biệt là đối với những người căn cứ trên lời công bố của thánh Phaolô: mọi người, Do Thái cũng như Hy Lạp, đều bị tội lỗi thống trị. Như có lời chép rằng: Không ai là người công chính, dẫu một người cũng không (Rm 3, 9-10, cf Rm 5, 12). Thế nhưng mọi vấn nạn dần dần tan biến 4 năm sau đó, khi mà Bernadette Soubirous, một cô gái quê tại Lộ Đức không hề biết đến tín điều này, đã trình với cha linh hướng rằng ‘Bà Lớn’ hiện ra với cô với danh xưng: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Ngày 7 tháng 10 vừa qua, ngày kính nhớ Đức Mẹ Mân Côi, trong lời kết thúc tông thư khai mạc năm Thánh Thể, Đức Gioan Phaolô II lại mời gọi Giáo Hội xem Đức Mẹ là gương mẫu của mình, và ‘noi gương Mẹ trong tương quan với Mầu Nhiệm rất thánh ấy.

Đáp lời kêu gọi của Đức Thánh Cha, Maranatha_29 tiếp tục hành trình Mùa Vọng trong tinh thần học hỏi về Đức Mẹ Vô Nhiễm, mà không quên Bí Tích cao trọng mà Giáo Hội đang kính nhớ trong năm nay.

Mặt khác, sống trong thế giới con người, thì ‘không có gì thuộc về con người mà không vang dội trong lòng người theo Chúa Kitô’ (Gaudium et Spes, số 1); vì thế, Maranatha cũng nhớ rằng ngày 1 tháng 12 là ngày Thế Giới Phòng Chống Bệnh Aids (World Aids Day). Năm nay, chủ đề của ngày phòng chống Aids là ‘Phụ nữ và Aids’ (Women, girls, HIV and AIDS), bởi lẽ hiện nay số phụ nữ nhiễm HIV-AIDS đã lên đến 57% tổng số những người bị nhiễm, trong khi vào năm 2000, sĩ số người nữ chỉ là 20%. Tuy nhiên, vì không phải là một tờ báo hướng về những vấn đề ‘nhân đạo’, nên Maranatha chỉ nhắc đến khía cạnh yêu thương khi nhìn về căn bệnh này qua bài viết: “Yêu người Sida” của Lm. Vũ Xuân Hạnh.

Và với những thao thức này, chúng ta cùng hướng đến biến cố Giáng Trần với lời cầu nguyện tích cực: “Maranatha, Lạy Chúa Kitô, xin ngự đến!”

MARANATHA.

Trở về mục lục >>


 MÙA VỌNG

SÁM HỐI ĐÍCH THỰC
ĐÒI HỎI SỰ THAY ĐỔI TOÀN DIỆN

Nguyễn Chính Kết

1. Gioan Tẩy giả kêu gọi sám hối

Gioan Tẩy giả xuất hiện để dọn đường cho Đức Giêsu. Ông chuẩn bị tâm hồn dân chúng để họ xứng đáng đón nhận Nước Trời do Đức Giêsu sắp đến khai mạc. Theo ông, điều tiên quyết phải làm để đón nhận Nước Trời là sám hối: «Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần» (Mt 3,2).

Sám hối là nhận ra sự sai trái của mình đối với đường lối của Thiên Chúa và quyết tâm sửa sai. Sám hối đích thực phải dẫn đến một sự thay đổi toàn diện, một đời sống mới, với quan niệm mới, nhìn mọi sự và suy nghĩ mọi vấn đề theo cung cách mới, phù hợp với cách nhìn .và đường lối của Thiên Chúa. Người nào nói mình sám hối mà đời sống không hề thay đổi, người ấy là người nói dối.

2. Coi chừng! những người tưởng mình là công chính nhiều khi lại cần sám hối hơn ai hết

Điều khiến ta phải lấy làm lạ là thái độ của Gioan Tẩy giả đối với những người Pharisêu và Xađốc. Họ là những người dạy dỗ dân chúng về tôn giáo, về lề luật của Chúa. Họ nắm giữ những giềng mối của tôn giáo Do Thái, và được coi là mô phạm, là gương mẫu cho dân chúng. Họ là những người giữ lề luật một cách rất nhiệm nhặt, chi ly đến từng chi tiết. Vì thế, dưới con mắt loài người, họ rất có lý khi tự hào về sự đạo đức, thánh thiện của mình.

Ta không hề thấy Gioan Tẩy giả nặng lời với bọn gái điếm, thu thuế, vốn bị coi là hạng tội lỗi. Nhưng ông lại rất nặng lời với những người thuộc hai phái đạo đức này. Ông gọi họ là: «nòi rắn độc!» Sự kiện này rất đáng cho chúng ta suy nghĩ. Thông thường, mọi người đều nghĩ: nếu phải dùng từ «nòi rắn độc» để chỉ ai đó, thì bọn thu thuế và gái điếm xứng đáng với từ này nhất. Nhưng Gioan Tẩy giả không nghĩ như vậy. Ông dùng từ độc địa này để gọi chính những người được mọi người coi là đạo đức nhất trong dân chúng. Ông sai lầm chăng? Nếu cho rằng Gioan sai lầm, thì cũng phải cho rằng Đức Giêsu sai lầm luôn khi Ngài nói thẳng với hai nhóm người đạo đức này: «Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông» (Mt 21,31). Rõ ràng hai vị đồng quan điểm với nhau!

3.    Đức Giêsu nhìn và đánh giá con người dựa trên tình yêu

Đức Giêsu – cũng như Gioan Tẩy giả – không đánh giá con người theo cách của chúng ta. Ngài nhìn thẳng vào chính tâm hồn con người để đánh giá, chứ không chỉ nhìn vào chức vụ, vào những việc làm tốt đẹp, những nhân đức được tỏ lộ ra bên ngoài ai cũng thấy như chúng ta. Vì thế, rất có thể những người bị chúng ta cho là tội lỗi vì những hành động xấu xa bên ngoài, lại được Ngài đánh giá cao hơn những con người được chúng ta cho là thánh thiện, đạo đức vì những nhân đức hay việc làm tốt lành của họ. Chính vì Ngài đánh giá khác con người, nên Ngài mới báo trước một sự đảo lộn không ngờ vào ngày chung cuộc: «Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống chót, còn những kẻ đứng chót sẽ được lên đầu» (Mc 10,31; xem thêm Mt 7,22-23; 8,11-12).

Đức Giêsu đánh giá con người như thế nào? Tiêu chuẩn đánh giá của Ngài chính là tình yêu, tình yêu đích thực, vì bản chất của Ngài chính là tình yêu (x.1Ga 4,8.16). Ai càng có nhiều tình yêu thì càng giống Ngài và càng có giá trị trước mặt Ngài. Do đó, sự thánh thiện hệ tại tình yêu mà con người có trong lòng mình, chứ không hệ tại những nhân đức hay những việc tốt đẹp mà con người làm được. Những thứ này chỉ là biểu hiện tất yếu của tình yêu chứ không phải là tình yêu. Nếu là tình yêu đích thực thì đương nhiên phải được thể hiện thành những nhân đức hay việc làm tốt đẹp. Ai nghĩ hay nói rằng mình có tình yêu, nhưng lại không hề thể hiện tình yêu ấy thành việc làm, thành nhân đức, thì đó là kẻ nói dối hay ảo tưởng.

4.    Không có tình yêu, mọi việc tốt đẹp đều vô giá trị trước mặt Thiên Chúa

Tuy nhiên người ta vẫn có thể có những nhân đức hay việc làm hết sức tốt đẹp mà chẳng hề có tình yêu ở bên trong. Những nhân đức hay việc làm tốt đẹp ấy có thể phát xuất:

– từ tham vọng cá nhân: một người có tham vọng làm tổng thống, bộ trưởng hay làm một chức sắc cao cấp trong một tôn giáo vẫn có thể tập luyện để có những nhân đức, hay làm được những việc rất tốt đẹp chủ yếu để đạt được những địa vị cao cả đó.

– từ chức năng: một cán sự xã hội, một nhân viên tiếp thị, một đại lý bảo hiểm… phải có những lời nói thật dễ thương, đầy vẻ khiêm nhường và vị tha, phải có thái độ sẵn sàng giúp đỡ… (mà bình thường mình không có) thì mới có thể thành công trong nghề nghiệp mình. Làm chức sắc tôn giáo cũng phải ăn nói hay hành động thế nào để tỏ ra có tình yêu đúng như chức vụ mình đòi hỏi. Tình yêu này là thứ «tình yêu do chức năng» hay «tình yêu vì mục vụ».

– từ tính sĩ diện, ham được ca tụng, thích được bái phục, hoặc sợ bị chê cười, trách móc: biết bao hành động tốt đẹp trên đời được thành tựu do sự thúc đẩy của động lực rất phổ biến này.

Như vậy, «yêu thật sự» và «có vẻ yêu» thì bề ngoài rất giống nhau đến nỗi con người nhiều khi không thể phân biệt được, nên trước mặt con người, giá trị của chúng có thể như nhau, nhưng trước mặt Thiên Chúa lại rất khác nhau. Thánh Phaolô cho chúng ta biết về sự vô giá trị trước mặt Thiên Chúa của những hành động tốt đẹp nhưng không phát xuất từ tình yêu, cũng như những đặc sủng không phục vụ cho tình yêu: «Giả như tôi nói được các thứ tiếng của loài người và các thiên thần (…) có ơn nói tiên tri và biết hết mọi bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có đức tin chuyển núi dời non (…) có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi» (1Cr 13,1-3). Không có tình yêu, thì trước mặt Thiên Chúa, mọi nhân đức, đặc sủng, việc làm tốt đẹp, thậm chí đức tin, chỉ là một dãy số không với chữ số to nhỏ khác nhau mà thôi. Có ai hãnh diện vì số không của mình to hơn, đẹp hơn, hay dãy số không của mình dài hơn của người khác không? Đã là số không, thì dù to hay nhỏ, dù đẹp hay xấu, dù là một chữ số hay nhiều chữ số kết hợp lại, thì cũng đều có giá trị bằng không.

Dãy số không – tượng trưng cho những nhân đức hay việc làm tốt đẹp – dù dài hay ngắn, dù to hay nhỏ, đều không có giá trị gì. Nhưng nếu thêm vào đầu dãy số ấy con số 1, thì giá trị của dãy số hoàn toàn biến đổi. Tình yêu chính là số 1 đứng ở đầu dãy số không ấy, biến tất cả những số không vô giá trị kia thành một giá trị lớn lao.

Mà tình yêu đích thực lại đặt nền tảng trên tinh thần tự hủy, nghĩa là coi nhẹ «cái tôi» của mình. Đấy chính là ý nghĩa đích thực và chủ yếu của hai chữ «từ bỏ» trong Tin Mừng. Mọi công trình của con người mà bị đổ bể thường chỉ vì thiếu tinh thần «từ bỏ» này của Tin Mừng. Một người coi «cái tôi» của mình quá quan trọng khó có thể có được tình yêu đích thực.

Vậy, để sám hối hầu đón Chúa đến trong tâm hồn mình, thiết tưởng ta cần nghiêm túc xét xem sự thánh thiện và đạo đức của chúng ta xây dựng trên nền tảng nào: trên tình yêu? hay trên tham vọng cá nhân, trên chức vụ, trên sĩ diện? Nếu sự đạo đức thánh thiện ấy không được xây dựng trên tình yêu, thì chính chúng ta mới là những người phải sám hối trước tiên. Vì rất có thể những kẻ có vẻ tội lỗi hơn chúng ta lại có nhiều tình yêu hơn chúng ta, họ đối xử với tha nhân có tình có nghĩa hơn chúng ta. Nên trước mặt Thiên Chúa, chúng ta không giá trị bằng họ

Trở về mục lục >>

CHIA SẺ MÙA VỌNG

Lts: Mùa Vọng năm nay, Maranatha lần lượt cho đăng những bài trích từ tập ‘Chia Sẻ Giáng Sinh’ của tác giả Trần Duy Nhiên. Trong tập ấy, tác giả đề nghị độc giả thử đặt mình vào một nhân vật có mặt trong đêm Giáng Sinh đầu tiên, và chia sẻ cảm nhận của mình. Người đầu tiên tưởng tượng rằng ông chủ quán trọ, từng không cho thánh Giuse tá túc, có một người con gái. Và đây là lời kể của bé gái ấy.

NGƯỜI CON GÁI CHỦ QUÁN

Trần Duy Nhiên

       Tôi sẽ kể cho các bạn nghe những gì tôi chứng kiến và cảm nhận trong đêm Noel đầu tiên ấy. Tôi có thể giới thiệu bằng tên của mình, nhưng tên tôi sẽ không nói lên được gì. Các bạn sẽ thấy gần gũi tôi hơn nếu tôi bảo rằng tôi chính là đứa con gái người chủ quán trọ mà ông Giuse và bà Maria đến xin tá túc đêm đó. Năm ấy, tôi độ 7, 8 tuổi.

Tôi đang ở vào lứa tuổi vừa đủ trí khôn để hiểu rằng thế giới người lớn là một thế giới tôi không thể nào hiểu nổi. Cha mẹ tôi suốt ngày bận bịu với những người lạ mặt. Họ đến, ăn uống, ca hát, gây gỗ một vài đêm, rồi ra đi. Cha mẹ tôi nhẹ nhàng tươi cười với họ, kể cả những khi họ tỏ ra thô lỗ cộc cằn. Sau những lần như vậy, cha mẹ tôi lại giận dữ cau có sau lưng họ, và trút lên đầu tôi những bực dọc vô lý đó. Có lần mẹ tôi thấy tôi khóc vì oan ức, bà an ủi tôi bằng cách cho tôi biết rằng cha mẹ cần đến những người ấy vì họ có tiền, cha mẹ cần có thật nhiều tiền để cho tôi vui sống. Tôi không hiểu gì nhiều ... Tôi chỉ thấy rằng cha mẹ ít khi tươi cười với tôi, và tôi chẳng có ai để trò chuyện.

Tóm lại từ khi 7 tuổi, tôi đã là một đứa bé hiểu được quá sớm rằng mình đang thiếu một cái gì đó, một cái gì thật căn bản để tạo ra niềm vui trong cuộc sống, và cái gì đó chắc chắn không phải là tiền. Cuộc sống của tôi trôi đều đều như thế cho đến đêm hôm ấy.

Những ngày vừa qua, lữ khách đến quán trọ của chúng tôi tấp nập hơn, xa lạ hơn. Hình như họ đã đổ xô từ khắp nơi về đây. Cha mẹ tôi bận rộn suốt ngày. Cha mẹ tôi càng niềm nở với khách lạ bao nhiêu thì càng gắt gỏng với tôi bấy nhiêu. Vì thế tối hôm đó, tôi lánh mặt trên gác một mình.

Đã hơn 8 giờ tối rồi mà khách lạ vẫn còn tuôn đến. Mẹ tôi dọn cho khách ăn trong nhà, còn cha tôi đứng ở cửa chờ khách. Cha tôi chỉ nhận vào quán trọ những người khách có dáng giàu sang, còn những người có vẻ nghèo hèn thì ông khéo léo xua đuổi. Tôi cảm thấy buồn vô hạn khi nhìn thấy những người khách nghèo cúi mặt quay đi.

Bỗng nhiên tôi chú ý đến hai người nãy giờ đứng thật lâu trong bóng tối. Họ có vẻ nghèo nàn và mệt mỏi. Hình như là hai vợ chồng trẻ, nhưng chỉ có một con lừa cũng mệt mỏi như họ. Có lẽ họ đã đi từ nơi nào xa lắm. Họ do dự một lúc lâu, rồi người chồng bước đến gặp cha tôi. Ông ta nói điều gì đó tôi không nghe rõ. Cha tôi nhìn người khách từ đầu đến chân rồi trả lời: Xin cảm phiền nhé, quán tôi hết chỗ rồi”.

Người đàn ông đưa mắt nhìn cha tôi với cái nhìn van xin, tay chỉ về phía người vợ, ông ấp úng một câu gì đó. Tôi nghe cha tôi nói tiếp: Tôi rất thông cảm, nhưng không biết làm sao. Vợ ông không đủ sức đi xa hơn nữa, nhưng quán tôi quả thật không còn chỗ”.

Tôi muốn chạy ngay xuống và la lên với cha tôi rằng quán vẫn còn chỗ, rằng tôi sẵn sàng xuống bếp ngủ đêm nay, dành phòng cho hai vợ chồng ấy. Nhưng tôi biết có nói cũng vô ích, vì chắc chắn cha tôi sẽ nạt rằng con nít không được xen vào chuyện người lớn.

Người đàn ông không nói thêm gì nữa, nhưng tôi thấy đôi mắt của ông ta long lên trong bóng đêm. Trước cảnh đó, mắt tôi bỗng nhòa đi trong màn lệ, tôi không còn nghe gì, thấy gì nữa. Khi tôi trấn tĩnh lại để có thể nhìn rõ mọi vật, tôi thấy người đàn ông dắt lừa chậm rãi bước về phía chuồng bò. Các bạn phải hiểu là tối hôm đó tôi không tài nào chợp mắt được. Trằn trọc mãi cho tới khuya, tôi khẽ bước xuống giường và lén ra khỏi nhà. Tôi không dám sờ soạng tìm áo lạnh vì sợ gây tiếng động làm cha mẹ tôi thức giấc. Tôi vẫn nhát gan, nhất là trước bóng đêm, nhưng không biết sao đêm nay có một cái gì thúc bách khiến tôi không thể nào nằm yên được. Tôi ra khỏi nhà, lần mò xuống chuồng bò xem hai vợ chồng lúc tối ngủ thế nào.

Nhưng kìa, họ vẫn còn thức, và chuồng bò lại sáng như ban ngày, sáng hơn cả phòng ăn trong quán trọ của chúng tôi. Lạ một điều là trong chuồng bò không có ngọn đèn nào cả, chỉ có một đám lửa rơm sắp tàn. Rồi vẳng nghe ở đâu đó có một loại âm thanh nhẹ nhàng như tiếng suối, như tiếng chim, như tiếng gió vờn trên hoa dại mùa xuân. Một âm thanh tôi chưa bao giờ nghe qua. Ngỡ mình ngủ mê, tôi thử cắn vào tay, vẫn cảm thấy đau. Nhưng sao tôi vẫn không thấy lạnh, cũng không cảm thấy sợ hãi.

Nhìn vào trong, tôi thấy người phụ nữ ngồi bên máng cỏ, trên đó có một cậu bé đang nhắm mắt ngủ yên, bên cạnh, người chồng đưa tay vuốt ve đầu con lừa chăm chú nhìn cậu bé con. Đúng là một cậu bé. Hồi tối tôi đâu có thấy cậu bé này!

Tôi chẳng có thì giờ suy nghĩ, vì cậu bé đã thức giấc. Cậu đưa mắt nhìn mẹ và mỉm cười. Người vợ đưa mắt nhìn chồng, rồi cả hai cùng mỉm cười. Và điều lạ đã xảy ra: con lừa cũng mỉm cười. Tôi cam đoan với các bạn là lừa cũng biết cười, vì rõ ràng tôi nhìn thấy. Chuồng bò như rạng rỡ vì những nụ cười ấy.

Và tôi chợt hiểu rằng sở dĩ cuộc đời tôi u buồn vì chưa hề đón nhận được nụ cười nào như thế. Đồng thời tôi cảm thấy sung sướng, vì biết rằng vẫn có những nụ cười chân tình trên cuộc đời này.

Tôi đứng đó thật lâu, rồi im lặng trở về phòng. Cha mẹ tôi vẫn còn ngủ. Chỉ có một mình tôi đang thức trong căn nhà này. Tôi có cảm giác cha mẹ tôi đã ngủ lâu lắm rồi.

Vì ngủ mê, nên không biết rằng có một thứ nghèo đáng sợ hơn nghèo tiền nghèo bạc, đó là nghèo tình thương.

Vì ngủ mê, nên cha tôi không còn chỗ trong lòng mình để chấp nhận người khác mà ông lại bảo rằng quán trọ không còn chỗ.

Và chỉ có những người ngoài kia là thức.

Vì thức tỉnh, nên cho dù trong chuồng bò giá buốt họ vẫn có nụ cười trên môi.

Vì họ thức, nên mới đánh thức tôi đêm nay.

Và vì tôi thức, nên tôi nghĩ rằng đã đến lúc phải đánh thức người khác, bắt đầu từ cha mẹ tôi

 

Trích: Chia Sẻ Giáng Sinh

Trở về mục lục >>

  THƠ

CHÚA ƠI!  XIN HÃY ĐẾN!

Kim Lệ

Những năm dài trong sa mạc hoang vu

Kiếp đọa đầy vấn vương nhiều thống khổ

Ngày lê thê và đêm về lạnh lẽo

Lạy Gia Vê ! nghe thấu tiếng con kêu !

 

Trong tăm tối con chờ mong Chúa đến

Mấy mươi năm sao cứ mãi lênh đênh

Gia Vê hỡi ! từ ngàn xưa đã hứa

Đấng Cứu Tinh sẽ đến với nhân loài

 

Trong máng cỏ, trong hang lừa tăm tối

Chúa Chiên Lành Đấng gánh tội trần gian

Sẽ sinh ra khiêm nhu và lặng lẽ

Nơi Bê Lem miền đất của Giu Đê

 

Ngàn năm trước và bao nhiêu năm nữa

Con chờ mong trong khao khát mỏi mòn

Trong âm thầm, trong tuyệt vọng héo hon

Trong tội lỗi con vẫn hoài ngóng đợi

 

Chúa sẽ đến mang tin mừng cứu rỗi

Ban Hồng  Ân cho khắp cả muôn dân

Và hy sinh chuộc tội cho thế trần

Tình yêu ấy ngàn đời vang vọng mãi

 

Nhưng Chúa hỡi biết khi nào Ngài đến ?

Để lòng con thôi mãi ngóng trông hoài

Để trần gian dù bao kiếp đổi thay

Hồn con vẫn âm thầm chờ mong Chúa


Trở về mục lục >>

HỌC HỎI VỀ THÁNH LỄ

 NHỮNG NHẬN THỨC MỚI VỀ THÁNH LỄ:
CÂU CHUYỆN VỀ HY LỄ

(tiếp theo Maranatha_28)

Hoàng Quý
(viết theo Tiến sĩ Scott Hahn)

Giêrusalem như một kinh thành vương đế

Sau khi đã xây dựng xong Đền Thánh Giêrusalem vào năm 960 trước Công nguyên, hàng ngày dân Do Thái dâng hiến các lễ hy tế lên Thiên Chúa Toàn Năng trong một nghi lễ trang trọng. Mỗi ngày, các tư tế sát tế hai con chiên, một con vào buổi sáng và một con buổi chiều như lễ đền tội cho toàn dân. Đó là những nghi lễ chính yếu nhất, tuy nhiên trong suốt ngày các làn khói còn lan tỏa từ nhiều lễ sát tế tư riêng khác của nhiều người. Thôi thì đủ thứ loài vật dê, bò, chim bồ câu và lừa được hiến dâng trên chiếc bàn bằng đồng đặt ngoài sân ngay lối dẫn vào sân trong của Đền Thánh. Bên trong Đền Thánh bắt đầu là Nơi Thánh Địa (Holy Place) gồm có bàn thờ, chậu nuớc rửa, các bàn đặt bánh, các chân đèn, bàn dâng hương và trong cùng như một nơi thẩm cung được gọi là Nơi Cực Thánh (Holy of Holies) chính là nơi Thiên Chúa ngự trị. Chỉ có các tư tế mới được phép bước vào sân trong của Đền Thánh; và cũng chỉ có vị thượng tế một năm một lần mới được tiến vào nơi Cực Thánh cử hành Ngày Đền Tội trong một thời gian thật ngắn ngủi. Vì dù là thượng tế đó, nhưng cũng là một tội nhân, do đó không xứng đáng đứng trước nhan Thiên Chúa.

Đền Thánh Giêrusalem quy tụ tất cả các loài vật được dùng làm lễ sát tế từ trước tới nay. Đền Thánh nằm ngay trên lãnh địa trước đây ông Menkisêđê đã dâng bánh và rượu và cũng là nơi chính tổ phụ Abraham đã dẫn con là Isaác tới để hiến tế con. Thêm vào đó, nơi đây cũng chính là nơi Thiên Chúa đã ban lời thề giao ước cứu độ các dân tộc. Đền Thánh được sử dụng như nơi thường hằng dâng tiến lễ vật và lễ vật chính yếu được đồng hóa với lễ hy tế cổ đại nhất của Aben, chính là con chiên.

Nghi lễ hy tế trọng đại nhất trong lịch sử Do Thái vẫn chính là Lễ Vượt Qua, khi có đến hai triệu rưởi khách hành hương từ khắp nới trên thế giới đổ về chật ních Giêrusalem. Nhà sử học nổi danh thuộc thế kỷ thứ nhất, ông Josephus đã ghi nhận lễ Vượt Qua vào năm 70 sau Công nguyên, chỉ trước một ít tháng khi quân La Mã tới đây phá hủy Đền Thánh, tức  khoảng bốn mươi năm sau Lễ Thăng Thiên, các tư tế đã dâng hiến khoảng 256,500 con chiên trên bàn thờ trong Đền Thánh.

Từ bên trong và bên ngoài

Phải chăng nghi lễ hiến tế chỉ là những những nghi thức bề ngoài? Chắc chắn điều đó chưa thể đủ được, vì Thiên Chúa đòi hỏi thái độ hiến tế bên trong nữa. Sách Thánh Vịnh diễn tả điều đó thật rõ rệt: «Lễ hiến tế được Thiên Chúa ưng nhận chính là tấm lòng tan nát dầy vò» (Tv 51: 19). Tiên tri Hôsêa cũng diễn tả mong muốn của Thiên Chúa, «Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu» (Hs 6:6).

Tuy thế, tuân giữ việc cử hành các nghi thức bề ngoài vẫn cần thiết. Chính Chúa Giêsu đã tuân giữ các luật lệ của dân Do Thái liên quan đến việc hiến tế. Hàng năm Ngài vẫn tham dự Lễ Vượt Qua tại Giêrusalem. Nghi lễ này đối với những người Do Thái sùng đạo biểu lộ tâm tình họ muốn nhắc lại lời giao ước của họ với Thiên Chúa. Và thực sự Chúa Giêsu đã ăn thịt chiên hiến tế với các môn đệ trong dịp lễ này.

Lần cuối cùng Ngài ăn thịt chiên Vượt Qua tại Giêrusalem không phải theo nghi thức bình thường nữa, nhưng đây là trung tâm điểm của sứ mệnh nơi Ngài, là thời điểm định mệnh của Ngài. Ngài trở thành chính Con Chiên bị sát tế. Thời điểm Ngài đứng trước mặt Philatô, «Hôm ấy là ngày áp lễ Vượt Qua, vào khoảng giờ thứ sáu» (Ga 19:14). Gioan Thánh Sử đã biết rằng giờ thứ sáu là giờ các tư tế bắt đầu sát tế các con chiên Vượt Qua. Và như vậy, đây là thời điểm sát tế Con Chiên Thiên Chúa.

Cũng trong đoạn Tin Mừng này, Thánh Gioan tường thuật lại các lý hình cho Chúa Giêsu nhấm rượu chua từ miếng bọt biển treo trên đầu cành hương thảo (xem Ga 19:29; Xh 12:22). Trong Lễ Vượt Qua tại Ai Cập trước khi vượt qua Biển Đỏ, dân Do Thái được lệnh lấy bó hương thảo nhúng vào chậu máu con chiên rồi quét lên trên khung cửa. Và trên thập giá, khi người ta cho Chúa Giêsu nhấm rượu chua từ ngành hương thảo, Ngài đã thưa lên: «Mọi sự đã hoàn tất». Phải, Ngài đã hoàn thành việc cứu độ tân kỳ và hoàn hảo nhất trên thập giá.

Những nghi thức của vật hiến tế

Chúng ta có thể kết luận gì về ý nghĩa vừa nêu trên? Và Thánh Gioan soi sáng cho chúng ta rằng trong lễ hy tế Vượt Qua mới vẻ và quyết đáp này, chính Chúa Giêsu là vị tư tế và đồng thời cũng là vật hiến tế. Cả ba Thánh Sử khác cũng đề cập về Bữa Ăn Cuối Cùng, khi Chúa Giêsu sử dụng ngôn ngữ tư tế liên quan đến lễ hy tế và việc uống rượu. Ngài diễn tả chính Ngài là vật hiến tế: «Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em... Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em» (Lc 22:19-20).

Lễ hy tế của Chúa Giêsu trở thành vô địch khi máu của cả hàng triệu con chiên, dê hoặc bò cũng chẳng thể thay thế được: «Thật thế, máu các con bò, con dê không thể nào xoá được tội lỗi» (Dt 10:4). Để đền tội hoặc phạt tạ cho những xúc phạm của con người trước Thiên Chúa toàn hảo, thánh thiện, nhân hậu, phải cần đến một lễ hy tế hoàn hảo nhất: đó là lễ hy tế cũng toàn hảo, không tì vết và vô song như Chính Thiên Chúa. Và Đấng đó không ai khác là chính Chúa Giêsu, Đấng chỉ một mình Ngài «... tiêu diệt tội lỗi bằng việc hiến tế chính mình» (Dt 9:26).

Chúng ta còn nhớ ông Gioan Tẩy Giả chỉ cho hai môn đệ của mình về một nhân vật đi từ đàng xa: «Kìa, Chiên Thiên Chúa» (Ga 1:36). Tại sao Chúa Giêsu lại là Con Chiên và không là con cọp hoặc con ngựa hoặc con bò? Tại sao sách Khải Huyền cũng mô tả Chúa Giêsu như «một Con Chiên, trông như thể đã bị giết» (Kh 5:6)? Tại sao Thánh Lễ cũng xưng tụng Ngài là «Đây, Chiên Thiên Chúa»? Bởi vì chỉ có con chiên bị sát tế mới xứng hợp với khuôn mẫu Thiên Chúa cứu độ chúng ta: con chiên hiền lành, trong sạch, nhẫn nhục, chịu đựng.

Là vị tư tế, Chúa Giêsu thực hiện được những chuyện mà không một vị thượng tế nào có thể làm được như Ngài. Vị thượng tế hàng năm chỉ được phép vào nơi Cực Thánh một lần với máu không phải là máu của mình (xem Dt 9:25) và chỉ được nán lại trong một thời gian thật ngắn vì không xứng đáng đứng trước Nhan Thánh Đấng Tối Cao. Nhưng Chúa Giêsu bước vào chốn cực thánh là thiên cung - một lần thay cho tất cả - để dâng hiến chính mình làm lễ hy tế thay cho chúng ta. Nhờ Lễ Vượt Qua mới của chính Chúa Giêsu, chúng ta cũng được trở thành công dân của vương quốc các tư tế và thuộc về Giáo hội những con đầu lòng (xem Kh 1:6; Dt 12:23). Nhờ Ngài, chúng ta được bước vào cung điện thiên đàng bất cứ khi nào chúng ta cử hành Thánh Lễ.

Hãy ghi nhớ đại lễ này

Điều này mang lại ý nghĩa gì cho chúng ta ngày hôm nay? Chúng ta có được cử hành Lễ Vượt Qua của chính chúng ta không? Thật may mắn, Thánh Phalô trả lời: «Đức Ki-tô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta. Vì thế, chúng ta ăn mừng đại lễ bằng bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật» (1Cor 5:7-8). Như vậy Con Chiên Vượt Qua ở đây là bánh không men. Đại lễ của chúng ta chính là Thánh Lễ (xem 1Cor 10:15-21; 11:23-32).

Trước ánh sáng rõ ràng như thế của Tân Ước, những hy tế trong Cựu Ước mang ý nghĩa chuẩn bị cho lễ hy tế của chính Chúa Giêsu, vị thượng tế thuộc hoàng gia thiên cung. Và chính giờ đây chúng ta cũng được dâng hiến cùng một lễ hy tế này với Chúa Giêsu trong Thánh Lễ. Trước ánh sáng huyền diệu này, giờ đây chúng ta hiểu rõ ràng và thấm thía những lời nguyện trong Thánh Lễ. Đây, chúng ta hãy đọc lại những lời cầu nguyện Thánh Thể:

«Chúng con dâng lên Cha thân xác và máu Ngài, hy lễ đáng được chấp nhận đang đem đến ơn cứu độ cho toàn thế giới. Lạy Cha, xin Cha hãy nhìn xem lễ hiến tế này mà Cha đã ban cho Giáo hội...» (Lời nguyện Thánh Thể IV).

«Với bao nhiêu ân huệ Cha đã ban cho chúng con, chúng con xin dâng lên Cha, Thiên Chúa vinh quang và cao cả, lễ hiến tế thánh thiện và toàn hảo này... Xin Cha hãy khấng nhìn xem những lễ hiến dâng này và chấp nhận như Cha đã một lần chấp nhận lễ dâng Aben tôi tớ Cha là lễ hiến tế của Abraham, tổ phụ của niềm tin, và bánh cùng rượu do tư tế Menkisêđê dâng lên. Lạy Cha toàn năng, chúng con nguyện xin thiên thần của Cha đem lễ hiến tế này lên bàn thờ của Cha trên thiên cung» (Lời nguyện Thánh Thể I).

Chúa Giêsu đã đổ máu và chết để cứu độ chúng ta vẫn chưa đủ. Giờ đây đến lượt chúng ta cũng phải đóng vai trò của chúng ta. Nếu chúng ta muốn đánh dấu giao ước của chúng ta với Thiên Chúa, muốn đóng dấu giao ước với Ngài, muốn canh tân giao ước với Ngài, chúng ta phải ăn thịt Con Chiên - con chiên Phục Sinh chính là bánh không men của chúng ta. Chính bánh này đem đến cho chúng ta sự sống sung mãn: «Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình» (Ga 6:53).

Đền đáp

Nhu cầu trước tiên của con người khi đến tôn thờ Thiên Chúa luôn luôn được diễn đạt bằng lễ hy tế: tôn thờ cùng một lúc là hành động ngợi khen, đền tạ, hiến mình, nối giao ước và tạ ơn (tiếng Hy Lạp là eucharistia). Tất các thể thức hy tế ấy có cùng chung một ý nghĩa tích cực: quy phục đời sống để được biến hóa và chia sẻ. Như vậy, khi Chúa Giêsu đề cập về đời sống Ngài như lễ hy tế, Ngài khai mở thành một dòng nước chảy sâu vào lòng các môn đệ của Ngài  - chảy sâu vào lòng người Do Thái - chảy sâu vào lòng mỗi con người. Hành động tối thượng của việc tôn thờ chính là hành động tối thượng của lễ hy tế: Bữa Ăn Tối của Con Chiên là chính Thánh Lễ.

Hy tế là nhu cầu của trái tim con người. Nhưng cho tới thời Chúa Giêsu, chẳng lễ hy tế nào đầy đủ được cả. Chúng ta hãy đọc lại Thánh Vịnh 116:12 như sau: «Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ, vì mọi ơn lành Ngài đã ban cho tôi». Quả thực, chúng ta biết lấy gì để đền đáp đây?

Thiên Chúa biết chúng ta phải trả lời thế nào? Chỉ còn một cách, «Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Đức Chúa» (Tv 116:13). Cử hành Thánh Lễ trên bàn thờ trong thánh đường hay trên bàn thờ của cuộc sống mỗi ngày, trong đó chúng ta nâng chén cứu độ và ca ngợi danh Ngài, chính là cách thức chúng ta đền đáp Ngài xứng hợp nhất●

Trở về mục lục >>

  MỪNG KÍNH MẸ MARIA VÔ NHIỄM

LỊCH SỬ LỄ ĐỨC MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

Lm Thêôphilê

Từ thế kỷ thứ VIII, bên Giáo hội Đông Phương đã mừng lễ Thánh Anna thụ thai, mẹ của Theotokos (Mẹ Thiên Chúa) vào ngày 9 tháng 12 hàng năm. Ý nghĩa lễ này dựa vào Ngụy Thư  Tiền Tin Mừng của thánh Giacôbê. Bà Anna sau một thời gian dài son sẻ đã được thiên thần báo tin thụ thai như dấu chỉ tình thương của Thiên Chúa.  Ý lễ được lan qua Tây phương nhất là tại Ý, Aùi Nhĩ Lan và Anh thành lễ “Đức Maria thụ thai”. Tại thành Naples (Ý) vào thế kỷ thứ IX, ngày lễ được khắc vào lịch bằng đá hoa cương. Và năm 1050, Đức Giáo Hoàng Léon IX  huấn dụ các tín hữu mừng kính Đức Trinh nữ thụ thai như Giáo Hội Đông phương đã làm.

Cho đến thế kỷ thứ XII, những vị thánh như Albert Cả, Bonaventura, Tôma d’Aquin cũng cho rằng vì Đức Maria thừa kế di nghiệp Ađam nên vướng mắc nguyên tội, nhưng Mẹ được thánh hóa ngay từ trong thai mẫu.

Tuy vậy, vấn đề vẫn còn gây tranh cãi cho đến thế kỷ XIII. Một thần học gia lỗi lạc dòng Phanxicô là Duns Scott (1308) đã nghĩ ra một lối giải thích độc đáo bênh vực Đức Maria đã được sung mãn ân sủng ngay từ giây phút đầu tiên cuộc đời. Tác giả minh chứng đặc ân vô nhiễm tuyệt đối gìn giữ Đức Maria khỏi mọi tội lỗi kể cả nguyên tội không hề đi trệch ra ngoài trật tự ơn cứu chuộc, mà còn là thành quả vinh quang nhất trong công trình cứu độ của Chúa Kitô.

Đến thời Công đồng họp tại thành Bâle (Thụy sĩ) năm 1439 cũng đồng ý về vấn đề Đức Maria Vô Nhiễm, và mãi tới thời Đức Giáo Hoàng Piô IX, mới công bố ý tưởng Đức Maria Vô Nhiễm nguyên tội thành tín điều vào ngày 8 tháng 12 năm 1854 trong thông điệp Ineffabilis Deus : Ta tuyên xưng, công bố và xác quyết rằng tín điều này đã được Thiên Chúa mặc khải và vì thế phải được mọi tín hữu tin nhận cách chắc chắn, không được rút lại. Cụ thể, tín điều này xác quyết rằng Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria ngay từ giây phút đầu tiên được tượng thai – nhờ ân ban và đặc sủng vô song Thiên Chúa toàn năng ban cho và nhờ công trạng của Đức Giêsu Kitô – đã được gìn giữ khỏi mọi vương vấn nguyên tội”●

Trở về mục lục >>

ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

Nguyễn Đức Tuyên

 

Mọi tạo vật đều được tạo thành bởi Thiên Chúa và Đức Maria cũng không phải là ngoại lệ. Cũng như mọi người chúng ta, Mẹ cũng được tạo dựng để nên tinh tuyền thánh thiện và ca tụng, vinh danh Thiên Chúa cùng trở nên thánh thiện tinh tuyền (Ep 1,4-12). Bởi đâu Mẹ ca tụng và vinh danh Chúa Cha? Bằng cách trở nên dụng cụ cho Đấng Cứu Chuộc, nơi mà Ngài có thể trở nên con người, nơi không vướng mắc tội nguyên thủy.

Làm sao ta có thể nghĩ tới những điều Đức Maria đã làm để xứng đáng đón nhận ưu quyền không vướng mắc tội tổ tông. Dầu cố gắng suy nghĩ tới đâu chúng ta cũng luôn đi đến kết luận rằng đây là một sự tự do tuyệt đối đặc ân siêu việt của Thiên Chúa cao cả – một đặc ân Mẹ không chiếm được nhưng được Chúa ban cho.

Trong ngày hôm nay chúng ta vinh danh trái tim vô nhiễm nguyên tội của Đức Maria. Cũng là dịp nhắc nhở chúng ta rằng điều rất tương tự đã tránh cho Mẹ khỏi mắc nguyên tội – những công đức nhờ sự chết và sự sống lại của Đức Giêsu – cũng đã mang đế cho chúng ta nhờ phép Thánh Tẩy. Khi chúng ta chịu phép Thánh Tẩy, chúng được rửa sạch mọi vết nhơ tội lỗi, và cửa thiên đàng đã mở ra cho chúng ta. Chúa Thánh Thần phủ rợp trên ta và Chúa Giêsu đến sống trong trái tim chúng ta. Chúng ta trở nên xứng đáng vị trí tin yêu Thiên Chúa giống như Mẹ Maria đã làm. Tất cả mọi người chúng ta, một cách nào đó, cũng có thể có được trái tim tinh khiết.

Dĩ nhiên, điều này không phải là đương nhiên. Một vị trí như Mẹ Maria phải đuợc tôi luyện trong ta qua thời gian khi ta biết thống hối và tự đặt mình vào việc phụng sự Thiên Chúa. Mỗi ngày chúng ta cần nuôi dưỡng để gặp gỡ Chúa Giêsu trong các Bí tích và trong cầu nguyện. Mỗi ngày chúng ta cần tăng thêm nỗ lực gặp gỡ Chúa Giêsu trong những người khó nghèo và những người cần đến sự giúp đỡ của ta.

Chúng ta phải cố gắng dẹp bỏ những ý tưởng và khuynh hướng tội lỗi. Chúng ta cũng cần có trái tim hướng về sự vâng phục Thiên Chúa và nhắm tới kế hoạch cứu độ của Ngài. Càng bước theo con đường Chúa Giêsu chỉ dẫn, chúng ta càng trở nên thân mật với Ngài giống như Đức Maria vậy.

Đừng quên những gì mang đến cho chúng ta khi ta đã chịu phép Thánh Tẩy. Đừng quên sức mạnh Thiên Chúa ở trong ta. Một trái tim trong sạch như trái tim Đức Maria cần giữ bền chặt. Khi chúng ta muốn và theo đuổi sự tinh tuyền này,Thiên Chúa Cha sẽ hoàn thiện trong ta.

Lạy Chúa Giêsu, con  ngợi khen Ngài! Ngài đã cho con một trái tim mới, chẳng bao giờ tối tăm vì tội lỗi nhưng được thanh tẩy nhờ máu thánh Ngài. Qua Thánh Thần Chúa, xin cho con sức mạnh và can đảm để hiệp nhất với Chúa như Chúa đã đổi mới con giống hình ảnh Ngài

Trở về mục lục >>

 

ĐỨC MARIA, MỘT TÂM HỒN TRONG SẠCH

Huyền Vi

1. Đức Maria vô nhiễm nguyên tội

Đức Maria được một ơn hết sức đặc biệt hầu xứng đáng làm Mẹ của đấng Cứu Thế, đó là ơn không mắc tội tổ tông. Trong nhân loại, nghĩa là trong tất cả đám con cháu Ađam và Eva, ngoài Đức Giêsu vốn cũng là Thiên Chúa ra, thì chỉ duy nhất một mình Đức Maria được ơn ấy. Chúng ta biết được điều ấy qua giáo huấn của Giáo Hội. Giáo huấn ấy đã được chính Đức Maria xác nhận khi hiện ra nhiều lần với cô Becnađét tại Lộ Đức (Pháp) năm 1858. Tuy nhiên, Đức Maria vẫn là con người, vẫn phải chịu những đau khổ, lo lắng, sợ sệt và cũng bị cám dỗ y như chúng ta. Nếu có khác thì chỉ khác chúng ta ở chỗ Ngài không bao giờ phạm tội mà thôi.

2. Tâm hồn trong sạch, một vẻ đẹp trước mặt Thiên Chúa

Việc Thiên Chúa gìn giữ Đức Maria không mắc tội tổ tông cho thấy Thiên Chúa rất yêu quí sự trong sạch tâm linh, nghĩa là không bị nhơ bẩn vì tội lỗi, không bị thần ô uế thống trị, không nhượng bộ trước sự ác. Vì thế, để có giá trị trước mặt Thiên Chúa, chúng ta cần giữ tâm hồn mình cho trong sạch. Chúng ta tuy không được ân đặc biệt như Đức Maria là không mắc tội tổ tông, nhưng chúng ta đã được rửa tội để xóa bỏ tội ấy. Vấn đề còn lại là chúng ta hãy cố giữ tâm hồn cho trong sạch, không phạm tội trong tư tưởng, lời nói cũng như việc làm, và cả những tội thiếu sót, do không làm những việc mà lương tâm buộc phải làm.

Để giữ cho tâm hồn trong sạch không vướng mắc những tội riêng, Mẹ Maria cũng phải cố gắng thắng lướt những cơn cám dỗ, những khuynh hướng tự nhiên có thể lôi kéo con người xa Thiên Chúa. Chẳng hạn khi phải chọn lựa giữa hai điều tốt, bản tính tự nhiên của con người có khuynh hướng chọn lựa điều có lợi cho mình hơn, điều đỡ vất vả khổ cực hơn, điều đỡ gây thiệt hại hơn, thay vì phải chọn lựa điều tốt hơn,

3 .Làm sao giữ được tâm hồn trong sạch?

Nếu ta hiểu được tội lỗi là gì, thì ta sẽ hiểu ngay được cách gìn giữ tâm hồn trong sạch, không vướng mắc tội lỗi. Tội lỗi là một cái gì đi ngược lại bản chất của Thiên Chúa, mà bản chất của Thiên Chúa là Tình Yêu (xem 1Ga 4,7-8). Do đó, khi nào chúng ta có tình yêu của Thiên Chúa trong tâm hồn, nghĩa là ta thật sự yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, và sẵn sàng hành động theo sự đòi hỏi của tình yêu ấy, thì tâm hồn ta được kể là trong sạch trước mặt Thiên Chúa. Ngược lại, nếu chúng ta không có tình yêu, chúng ta ích kỷ, đặt nặng cái tôi của mình, thì tâm hồn ta đã có khuynh hướng tội lỗi, và lúc nào sẵn sàng làm điều tội lỗi. Hễ có tình yêu đích thực – nghĩa là yêu Thiên Chúa và tha nhân –  thì hành động nào do tình yêu đó thúc đẩy cũng đẹp lòng Thiên Chúa. Vì thế, thánh ÂuTinh nói: Cứ yêu đi đã rồi muốn làm gì thì làm (Ama et fac quod vis).

Tâm hồn của Đức Maria luôn luôn trong sạch vì Mẹ luôn luôn yêu mến Thiên Chúa và dành trọn tình yêu cho Thiên Chúa. Người yêu Chúa thật lòng như Mẹ thì không thể phạm tội được. Vậy để giữ tâm hồn mình trong sạch, không gì tích cực và bảo đảm bằng việc củng cố tình yêu của mình đối với Thiên Chúa và tha nhân. Và đã là tình yêu đích thực thì nó luôn luôn tự biểu lộ thành hành động

Trở về mục lục >>

VÔ NHIỄM NGUYÊN  TỘI
THEO ÁNH MẮT TÂM LINH

Khổng Nhuận

Nhân ngày lễ Đức Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, trong một bài giảng cho giới trẻ, một linh mục nhắc đi nhắc lại nhiều lần ý tưởng Đức mẹ là tác phẩm tuyệt vời của Thiên Chúa.

Sau đó là phẩn giải đáp thắc mắc, tôi nêu vấn nạn.

Nếu nói Đức mẹ Maria là tác phẩm tuyệt vời của Thiên Chúa vậy mỗi người chúng ta ở đây là tác phẩm như thế nào? là thứ phẩm, hoặc tệ hơn nữa là vật phế thải.

Linh mục hướng dẫn khựng lại một chút – có lẽ ngài chưa bao giờ nghe ai hỏi như thế. Nhưng ngài cố gằng trả lời:

Chúng ta cũng là tác phẩm của Chúa nhưng Đức Mẹ là tác phẩm hoàn hảo nhất, tuyệt vời nhất, không tỳ vết, vô nhiễm nguyên tội, trong khi chúng ta đủ thứ tội, tội tổ tông, tội riêng của mình.

Sau đó, anh phụ trách giới trẻ gặp tôi ở cuối nhà thờ nói với tôi:

Cám ơn Nhuận, anh đã đặt câu hỏi rất hay và có lẽ câu giải đáp chưa thoả mãn phải không?

Chưa thỏa mãn. Lẽ ra tôi tính đặt thêm câu hỏi tiếp theo, nhưng tôi không muốn gây khó dễ cho linh mục hướng dẫn.

Vậy anh tính đặt câu hỏi gì?

Mục đích chúng ta mừng lễ Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội để làm gì?

Chà! câu hỏi đơn giản mà khó trả lời nghe.

Bạn  thử trả lời coi.

Chúng ta mừng lễ Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội để mừng kính Mẹ và nhất là để bắt chước nhân đức của Mẹ.

Làm sao bạn có thể bắt chước Mẹ được, trong khi Mẹ thì Vô Nhiễm Nguyên Tội còn bạn thì tội lỗi ngập đầu - giống như người què đòi bắt chước vận động viên chạy đua đang giữ chức vô địch chạy nhanh nhất thế giới.

Vậy quan niệm của anh thế nào?

Nếu chỉ để mừng kính suông thì tôi chắc chắn Đức Mẹ không quan tâm, vì nếu Đức Mẹ cũng khoái chí khi chúng ta mừng kính Mẹ thì hoá ra Mẹ cũng ham danh ham lợi như chúng ta sao! Còn nếu muốn noi gương Mẹ mà lại mang trong đầu não trạng tôi ngập ngụa tội lỗi thì vô phương. Vì thế, theo tôi, nhân dịp mừng kính Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng ta cùng nhau nhìn lại con người đích thực của mình xem có chút nào tương đồng với mẹ Maria không.

Như tôi đã chia sẻ trong bài Đức Kitô, trưởng tử của một đàn em đông đức. Tất cả đều là con yêu dấu của Cha, tràn đầy Thần Khí của Cha - Thiên Chúa đã tuôn đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.(Rm 5:5tha - The love of God has been poured out into our hearts through the Holy Spirit that has been given to us. Để minh hoạ rõ hơn, chúng ta con thấy Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, đó là nhờ Thần Khí, Thần Khí Người đã ban cho chúng ta.(1Ga 3:24). - The way we know that he remains in us is from the Spirit that he gave us. Và nhờ đó Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa (Rm 8:16)

Với ánh mắt tâm linh, tôi nhận ra Đức Mẹ cũng là một người trong đàn em đông đúc của trưởng tử Giêsu.

Tôi nghe hơi chói tai rồi đấy. Đức Maria đường đường là mẹ Thiên Chúa sao lại là một trong những kẻ tội lỗi như chúng ta?

Bạn lại nhìn theo con mắt nhân loại rồi. Với ánh mắt tâm linh tôi cũng là mẹ Đức Giêsu như Đức Maria.  Chắc bạn còn nhớ lời Đức Giêsu khẳng định : "Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi? " Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói: "Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi." (Mt 48:50)

Thôi, trở về chủ đề chính hôm nay: Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, anh có được vô nhiễm nguyên tội như Đức Maria  không mà đòi sánh với Đức Mẹ?

Tôi cũng được vô nhiễm nguyên tôi chứ!

Nghe chói tai quá!!Lần này tôi muốn ra sông Cửu Long rửa tai đây,

Bạn lại nhìn theo con mắt nhân loại nữa rồi. Nếu bình tĩnh nhìn theo con mắt tâm linh,  bạn sẽ thấy tình yêu Chúa bao la, sâu rộng như thế nào. Tôi đã chia sẻ nhiều lần lời  ngôn sứ Jeremia 1:5 "Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân." (Gr 1:5). Phaolô cũng xác tín trong thư Epheso: Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người. (Ep 1:4) .  Đó, bạn thấy rồi chứ, Trước khi ta hình thành trong dạ mẹ, Chúa đã thánh hóa ta. Hơn nữa, Trước cả khi tạo thành trời đất, nhờ tình thương của Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện. Qua 2 Lời Chúa này bạn có thấy dấu vết gì của tội nguyên tổ không?

Vậy tôi hỏi lại anh: giáo hội mừng kính lễ Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội để làm gì?

Theo tôi, tôi phải cảm tạ Chúa vì Thánh Thần Chúa đã soi sáng cho Giáo Hội mừng kính lễ Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội để cho mỗi người Kitô Hữu chúng ta có dịp để noi gương bắt chước Mẹ bẳng cách nhìn lại con người đích thực của mình - một con người vốn là con yêu dấu của Chúa, được Chúa quan tâm chăm sóc ngay từ trong lòng mẹ, hơn nữa ngay cả trước cả khi tạo thành vũ trụ, để chúng ta sống trong tâm tình của một người con chứ không phải trong tâm tưởng của một đầy tớ luôn sợ hãi ông chủ hay tệ hơn nữa như tên thảo dân hạng bét đối với vua cả nước trời quá cao sang đến nỗi tương quan giữa ta và Chúa không có một chút tình yêu.

Tư tưởng của anh cách mạng quá, không biết những người Kitô Hữu khác có chấp nhận được không?

Ngày xưa tôi đã từng tự hào về Đức Mẹ của đạo mình có những đặc điểm mà không một thánh nữ, hay tiên nữ  nào trong các đạo khác sánh được. Tôi cũng đã một lần quyết ăn thua đủ với một người anh em Tin Lành rằng: Mẹ Maria của Công giáo rất độc đáo với những danh hiệu rất ư là oai phong: Mẹ Thiên Chúa , Vô Nhiễm Nguyên Tội, Trinh Thai. Quả là Đức Maria có phúc lạ hơn mọi người nữ trên trần gian này. Nhưng từ khi tôi khám phá ra sự xuất  phát tuyệt vời của mình - được Chúa thánh hóa  - trở nên thánh thiện, tinh tuyền -  thì tôi sống đời sống phụng vụ tích cực hơn nhiều. Cụ thể như nhân dịp mừng kính lễ Đức Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, tôi noi gương Đức Mẹ sống xứng đáng với món quà quý báu mà Chúa Cha đã thương ban cho tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, đó là - tôi được Chúa thánh hóa  - trở nên thánh thiện, tinh tuyền như Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội của tôi cũng như của mỗi người Kitô Hữu trên trần gian này

Trở về mục lục >>

ĐỨC TRINH KHIẾT: MỘT HỒNG ÂN,
MỘT ƠN GỌI CHO HẾT THẢY MỌI NGƯỜI

                                                                                      Cantalamessa -

Thái Văn Hiến dịch

  Đức Trinh Khiết hay đời sống độc thân, theo cách khác nhau, vừa là một “lời khuyên”dành cho một số người, lại vừa là một “lời giáo huấn” dành cho hết thảy mọi người. Thật vậy, đó là một bậc sống tự chọn để sống cả một đời người, đồng thời đó còn là một bổn phận, hay nói đúng hơn, là một mục tiêu để sống, khi đến một giai đoạn quyết định nào đó trong cuộc đời, giai đoạn mà người ta phải trải qua trước khi có chọn lựa dứt khoát đối với ơn gọi của bản thân.

Theo nghĩa ấy, thì ơn gọi sống đức Trinh Khiết không nhất thiết chỉ dành riêng cho các tu sĩ và cho những ai dọn mình làm Linh Mục, nhưng còn dành cho tất thảy những người đã được Thánh tẩy. Những lý do để sống đời khiết tịnh vì Nước Trời, mà chúng ta sẽ cùng nhau khám phá, có thể nâng đỡ và “làm thành cớ” cho nỗ lực của một nam hay một nữ tín hữu giữ gìn sự trinh khiêt và sự trọn vẹn thể lý cũng như tâm linh của mình cho đến ngày thành hôn. Nếu đức Trinh Khiết là điều giúp cho người tận hiến có thể nói được với Chúa Kitô rằng : “Tất cả hoa trái ngon ngọt của con, con  đã để  dành  cho Ngài,  lạy  Đấng Chí Ái của con.” (xem Diễm ca 14), thì  việc gìn giữ  sự trọn vẹn  cho hôn nhân giúp người ta dâng hiến được cho người mình yêu dấu, trong ngày tân hôn, quà tặng vô giá mà cả  hai  người đều thầm mong ước,  để  cùng nghe nói  với nhau chính những lời kia, theo nghĩa “cụ thể” hơn : “Hỡi người yêu dấu, tất cả hoa trái ngon ngọt của tôi, tôi đã giữ gìn cho người.”

Như thế, người ta sẽ không thể nói về đức Trinh Khiết hay đời sống độc thân mà lại không có một so chiếu thường xuyên vào hôn nhân. Vì vậy, một vấn nạn được đặt ra cho chủ đề ấy cũng là câu hỏi liên quan đến hôn nhân, thậm chí trên một số phương diện, còn là cách tốt nhất để khám phá, qua việc so sánh, bản chất và sự tốt lành của đặc sủng hôn nhân.

 Hiện nay chúng ta đang chứng kiến một làn sóng công kích thực sự, từ phía đời sống văn hoá chung quanh, chống lại giá trị của đức Trinh Khiết. Khuynh hướng rất thường gặp thấy là coi rẻ những gì mà người ta đã đánh mất hoặc không đạt được (tương tự như điều đã khiến cho con cáo trong truyện ngụ ngôn viện cớ chê bai các chùm nho : Nondum mature est = Còn xanh quá !). Nền văn hoá tục lụy đang ném sự hoài nghi, thậm chí có cả sự chế giễu, lên trên giá trị truyền thống vốn được chính thiên nhiên bảo vệ, bao bọc qua việc gìn giữ tinh tế nhưng kiên quyết sự ngây thơ trong trắng. Các cậu trai và cô gái, bị  thôi  thúc bởi  môi  trường  sống - thường là ngay cả môi trường học đường, nơi mà vốn  là  một  trợ  lực giúp cho họ đạt  đến được sự chín chắn - lấy làm xấu hổ về sự ngây thơ của chính mình, đề rồi từ đó tìm mọi cách để che giấu nó đi, thậm chí có lúc còn bịa ra những kinh nghiệm giả tạo mà mình không có, chẳng qua là chỉ vì không muốn là một kẻ khác người. “Tính đao đức giả - cổ nhân đã nói - ngày xưa là món nợ mà thói xấu phải trả cho đức hạnh, thì hôm nay lại chính là món nợ mà đức hạnh phải trả cho thói xấu !”

Sự công kích vô lý như thế cũng được gặp thấy trong Giáo Hội; và, chẳng còn cách nào khác hơn là chúng ta đành phải sống và hít thở cái  không  khí của thế giới đang tấn công chúng ta, đang chống lại công cuộc Phúc Aâm hoá của chúng ta, bằng mọi phương tiện bên ngoài cũng như bên trong ngôi nhà mà chúng ta đang cư ngụ. Đôi khi người ta còn nghe nói rằng đời sống độc thân và đức Trinh Khiết không cho phép có một sự phát triển lành mạnh và hoàn chỉnh về con người : kiểu sống ấy không cho phép người nam được làm một người nam trọn vẹn và người nữ làm một người nữ trọn vẹn. Tôi đã từng thấy hậu quả của kiểu nói ấy trong cách người ta chuẩn bị cho việc nhận định về ơn gọi.

Một đôi lần, trong khi tham dự các cuộc gặp gỡ trao đổi về các ơn gọi, tôi có cảm tưởng là  sau lời kêu gọi sống đời tận hiến cách đặc biệt, thì lời mời gọi tiếp theo được hiểu ngầm một cách hiển nhiên là :Các bạn thân mến, hãy chọn đi theo cách sống của chúng tôi. Mặc dù là các bạn phải  sống độc thân và khiết tịnh, nhưng như vậy, các bạn mới có thể thực sự đóng góp vào việc làm cho Nước Cha trị đến, giúp đỡ  người nghèo, làm  cho người  khác  sống  có  ý  thức, sống  một cách tự do không bị lệ thuộc vào của cải vật chất, để xúc tiến công bằng xã hội...”  Tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải củng cố lại niềm tin của mình và phải có can đảm mời gọi các thanh niên bước theo đời sống tận hiến của chúng ta, không phải là “mặc dù phải sống độc thân và trinh khiết, sống là “vì hay chí ít là “cũng vì” như thế. Có thể, cũng như trong quá khứ và vào lúc khai sinh Giáo Hội, đó đúng là một lý tưởng đã khiến cho nhiều người trẻ say mê và được lôi kéo đến với đời sống tu trì và làm Linh mục thay vì xa lánh.

 Đức Trinh Khiết vì Nước Trời đích thực là một giá trị ngời sáng mà trào lưu sống và thời đại không thể làm thay đổi được. Cho dẫu tất cả các quyền lực có thể liên kết lại, kể  cả  sự  khôn  ngoan  của  thế gian và những khoa học gọi là của nhân loại, nhằm phản kháng chống lại kiểu thức sống ấy, đến độ định nghĩa nó là : “Một vết ô nhục của quá khứ”, và ném lên nó đủ thứ nghi hoặc; thậm chí  còn có thể kể thêm vào đó tất cả các thứ tội lỗi và bất trung của chính những người đã chọn bậc sống ấy đi nữa, thì kiểu thức sống ấy sẽ vẫn tồn tại vì chính Đức Giêsu đã lập ra nó.  Không một ai có thể nhổ bật được khỏi mặt đất nầy thân cây mà Con Thiên Chúa đã tận tay vun trồng khi đến giữa thế gian.

Thế gian không nhận thấy là chính mình đang phải bồi thường danh dự cho giá trị ấy, khi làm cho tiếng “đồng trinh” trở thành một trong những biểu tượng được quần chúng biết đến nhiều nhất. Len tốt là thứ len tinh ròng, không pha trộn; Đức Trinh Khiết còn chỉ về những gì tốt đẹp nhất và không bị vấy bẩn giữa những sản phẩm con người trên trái đất. Chúng ta cần phải tẩy sạch cho những từ ngữ và biểu tượng, mà nền văn hoá thế tục đã mượn từ Kinh Thánh và Truyền Thống Kitô giáo, rồi biêu riếu làm mất đi hoàn toàn ý nghĩa đạo đức của chúng. “Trinh khiếtchính là một trong những từ ngữ ấy                                                              

  (Lời dẫn nhập cho cuốn La Virginité)

    Raniero Cantalamessa, Linh mục Dòng Capucin, ‘nhà rao giảng tông đồ’, người phụ trách giảng trong các cuộc tĩnh tâm của Đức Thánh Cha và các thành viên hàng Giáo sĩ Rôma. Là tác giả của nhiều cuốn sách, ngài còn là một trong những người lãnh đạo phong trào Thần Khí Canh Tân ở Ý, và được đánh giá là một thuyết trình gia lỗi lạc trong các hội nghị Quốc tế.    

Trở về mục lục >>

 

YÊU NGƯỜI SIDA

(Nhân ngày thế giới phòng chống AIDS)

Lm. Vũ Xuân Hạnh

“Hãy yêu mến Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi” Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi. Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó” (Mc 12, 29-31).

I. NỖI SỢ SIDA

Vào những năm 1980, tại Việt Nam, nghe nói đến SIDA (AIDS), người ta còn hững hờ lắm. Cứ tưởng nó chỉ ở tận trời Âu, trời Phi nào đó. Dân chúng Việt Nam hình như lạnh lùng và lạ lùng với tên giết người khủng khiếp mang danh SIDA này. Mãi đến đầu thập niên 1990, khi mà cuộc sống con người vẫn bận rộn; luân lý đối với một số người dường như vẫn là xa xỉ phẩm, thì người ta phải giật mình thảng thốt, không dấu nổi sự bàng hoàng khi báo chí đưa tin: Bệnh nhân SIDA đầu tiên đã được phát hiện tại Việt Nam!

Mãi đến hôm nay, qua các phương tiện truyền thông, SIDA không còn xa lạ nữa. Nhưng khi không còn xa lạ, thì cũng chính là lúc SIDA đã lan tràn. Nó xuất hiện trên khắp hành tinh. Đã đến lúc nó hiện nguyên hình là một con ác quỷ dữ tợn nhất đối với cuộc sống nhân loại trong hiện tại này. Nạn nhân của nó ngày một gia tăng không ngừng. Trên thực tế, nó đã cướp đi hàng triệu mạng sống và còn đó hàng chục triệu (trên 20 triệu) sinh linh đang dần nhích tới hố sâu của sự chết vì mang mầm giống SIDA trong cơ thể của mình, thì mọi người, dù là ít học nhất,  ít nhiều sợ hãi.

Nhưng bạn ạ, đứng trước nạn nhân SIDA, dẫu là do chính họ phải trả giá cho lối sống bạt mạng của mình, hay chồng lây cho vợ, cha mẹ lây cho con, hoặc bị lây nhiễm do bất cứ lý do nào, lòng thương yêu, sự thông cảm của bạn, của tôi và của mọi người sẽ là liều thuốc tốt nhất để chữa trị, không phải giúp thoát khỏi bệnh tật nhưng là trả lại sự sống con người cho họ. 

II. YÊU NGƯỜI SIDA

Từ những suy nghĩ ấy, rồi đọc Lời Chúa trong Tin Mừng, tôi càng cảm nhận lời dạy của Chúa Giêsu: hãy YÊU CHÚA và YÊU ANH EM thật gần gũi và cần thiết vô cùng. Nhất là những anh chị em đang mang mầm giống của sự chết là chính căn bệnh SIDA tai ác nơi chính bản thân họ, lại càng cần thiết hơn để chúng ta áp dụng lời dạy yêu thương của Chúa cho mình mà đối xử với họ. Nhờ lắng nghe và sống Lời Chúa, ta không kỳ thị, nhưng dám đến gần họ bằng tất cả lòng thương yêu, sự cảm thông sâu lắng của mình. Nhìn trong viễn tượng nguy cơ của thời đại như thế, ta thấy, dẫu Lời của Chúa đã xưa, đã cũ, nhưng sao cứ mới, mới nguyên. Đó là những điều ta rất quen thuộc, bởi đã nghe rất nhiều lần, nhưng mãi mãi vẫn là lời dạy thấm thía nhất, đáng chú ý nhất. Chúa nói: “Hãy yêu mến Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi.”  “Ngươi hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi. Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó.” (Mc 12, 29-31).

Bạn ạ, Chúa đã không dạy một điều gì xa xôi. Tất cả những gì Chúa dạy, đều gồm tóm trong một động từ duy nhất: YÊU. Yêu Chúa và yêu người. Hai giới răn này, gọi là hai, nhưng hóa ra là một. Vì yêu Chúa đòi buộc phải yêu người. Và yêu người chính là thể hiện của lòng yêu mến Chúa. Bởi vậy, để sống giới răn này, có rất nhiều những việc làm cụ thể để ta có thể thực hiện trong đời sống của mình. Nhưng hôm nay, tôi muốn bạn cùng tôi dừng lại trên nỗi khổ của nhiều người mắc phải căn bệnh thế kỷ: SIDA.

Họ là anh em của ta, là những người đang sống quanh ta. Nếu sống trong đời, người bình thường đã cần đến tình yêu, thì những anh chị em SIDA càng cần gấp bội. Bởi thế, nếu bạn và tôi ý thức lời Chúa dạy, ý thức mình phải sống Lời Chúa, chúng ta càng cảm thấy mình có trách nhiệm nhiều hơn với biết bao anh chị em đang vướng mắc căn bệnh này. Trước hết, vì lòng yêu mến Chúa và yêu mến anh em, từng người một hãy ăn ở ngay lành, hãy sống luật Chúa, hãy tránh xa những cám dỗ của tội lỗi để chính mình không là người bị bệnh, hơn thế, không là nguồn lây bệnh. Mặt khác, cũng chính vì Lời Chúa dạy hãy yêu thương, ta không xa lánh, không chối từ những anh chị em lỡ vướng vào căn bệnh tai ác này. 

III. MỘT CHỨNG TỪ.

Tôi còn nhớ, Hôm Chúa nhật Chúa Chiên Lành tháng 6. 2003, tại một địa điểm, Ban Đặc trách ơn gọi của một giáo phận tổ chức ngày tìm hiểu về ơn gọi tu trì cho rất đông bạn trẻ trong giáo phận ấy. Trong phần chia sẻ, một thanh niên bị SIDA kể về đời mình cho các bạn trẻ nghe như một bằng chứng sống, một chứng từ cụ thể là chính bản thân anh. Anh là con nhà giàu và quyền thế trong xã hội. Cha mẹ nuông chiều rất mực. Đó là những lý do làm cho anh trở thành kẻ hư đốn. Cũng được đi học như người ta, và học giỏi, nhưng anh đã sớm lêu lỏng. Được vào đại học đã là may. Anh không xem đó là dịp may trên đường tiến thân mà lại xem việc rời xa gia đình vào đại học là dịp may để anh thoát khỏi sự ràng buộc của gia đình, thoát khỏi sự kềm cập (anh nghĩ thế) của mẹ cha, một mình tự tung, tự tác khám phá thế giới đen tối của những người sợ ánh sáng như anh. Vài năm sau, gia đình được đi Mỹ theo diện H.O., anh lại càng nhận thấy ‘trời cho’ mình dịp may, từ nay cắt đứt hoàn toàn sự kiểm soát của cha mẹ, nhất là không còn phải lo chuyện cha mẹ hoặch họe tiền bạc mỗi lần anh xòe tay xin.

Thế rồi chuyện gì phải đến đã đến. Thế giới tội lỗi mà anh yêu thích, anh trầm mình với nó, đã tặng cho anh một cái tát tay nghiệt ngã: anh bị SIDA! Ngày nhận giấy báo kết quả dương tính, anh thấy như cả bầu trời đổ sụp, đất dưới chân quay cuồng. Ngày nào khi anh có tiền, bạn bè bu quanh. Bây giờ thấy anh, ai cũng tránh thật xa. Không còn những độ nhậu, không còn những đêm trắng bên sòng bạc, không còn cảnh tượng đen tối của những con người thích sống theo bản năng hơn tự làm chủ chính mình. Anh đã mất tất cả. Trước mặt mọi người, hình như anh còn dơ bẩn hơn một cọng rác thối. Anh đang sống nhưng khác gì một thây ma. Anh đang thở nhưng hình như không còn sống nữa. Cái chết thể lý đang chiếm đoạt anh từng giây phút đã vậy, cái chết của tâm linh, của cô đơn, của mặc cảm, cái chết của sự khinh ghét mà mọi người dành cho anh còn lớn hơn, còn nặng nề và khủng khiếp hơn. Anh đã thua, đã trắng tay.

Quá tuyệt vọng, anh ra đường rầy xe lửa ngồi đấy chờ trao gởi cuộc sống đang trên bờ vực thẳm của mình cho một chuyến tàu định mệnh nào đó. Đúng là định mệnh! Đoàn tàu xấu số mà anh lao vào đã không chở anh sang thế giới bên kia. Anh hồi sức, dần dần nhận ra mình đang nằm trong bệnh viện. Nếu trước khi tự tử, cuộc sống của anh đã là địa ngục, bây giờ, sau khi từ cõi chết trở về, cuộc sống ấy còn trở nên địa ngục gấp nhiều lần hơn. Thân thể của anh nằm gọn trên giường, chỉ còn phần trên. Chi dưới của anh vĩnh viễn gởi lại đường ray với dấu nghiền nát của những chiếc bánh xe bằng sắt.

Đến nông nỗi này mà trong ánh mắt mọi người, anh vẫn là một con thú dữ, không ai dám đến gần, kể cả y bác sĩ. Có chăng, anh chỉ nhận được nơi họ lòng thương hại mà thôi. Đau khổ tột cùng. Anh chỉ còn biết nguyền rủa chính mình, và nguyền rủa những người đã đưa anh trở lại cuộc sống.

Thế rồi bóng dáng của một nữ tu xuất hiện. Chị là người đang phục vụ tại trung tâm M. ở một huyện ngoại thành Sài Gòn, thuộc giáo phận P., chuyên lo cho người nhiễm HIV và bị bệnh AIDS (SIDA). Quá bất mãn với cuộc đời, anh chẳng còn tin ai, kể cả họ là nữ tu đi nữa. Nhưng sau nhiều lần được thuyết phục, anh đã xiêu lòng. Theo người nữ tu khả ái ấy về Trung Tâm mà lòng anh vẫn còn nghi nan. Rồi thời gian đã cho anh câu trả lời. Giờ đây, anh biết rằng, anh đã đến đúng địa chỉ. Những con người quên cả đời mình, dám hiến dâng cả tuổi thanh xuân cho lý tưởng tu trì, với một niềm mong muốn nên giống Chúa Kitô, thì còn lý do nào để họ có thể nghi ngại anh? Bây giờ anh mới hiểu được hai chữ LÀM NGƯỜI. Nó thiêng liêng và đáng yêu lắm.

Trước đây, khi ngụp lặn trong thế giới của mây mù, anh cứ ngỡ mình là một kẻ tự do. Nhưng anh lầm. Chính khi buông mình theo bản năng, bán mình cho sự nông cạn của lối suy nghĩ nhất thời, là lúc anh trở thành một kẻ nô lệ tệ bạc nhất: nô lệ cho những sai lầm đáng lên án của chính mình, nô lệ cho chính những đam mê thấp kém mà anh yêu thích.

Giờ đây khi mà cuộc sống chỉ còn là những ngày tháng ngắn ngũi, anh mới biết rằng con người ta chỉ cao thượng, sự sống chất chứa muôn vàn hạnh phúc, và cuộc đời này đáng yêu, đáng quý chỉ có thể có được khi người ta biết sống theo một kỹ cương, biết trao ban tình yêu, biết đưa bàn tay để phục vụ. Các nữ tu mà anh đã được gặp trên giường bệnh là những người như thế. Chính các chị đã trả lại cho anh, không phải tất cả cuộc sống, thì cũng là tất cả ý nghĩa của sự sống, tất cả niềm vui sống. Nhờ đó mà lúc này anh mới có đủ can đảm nói về chính cuộc đời của mình cho mọi người trẻ đang hiện diện lắng nghe, không một chút e dè, không còn nỗi mặc cảm, ít nữa là mắc cỡ vì phải bày tỏ sự thật đời mình. Cảm nghiệm tất cả ý nghĩa của sự sống đã cho anh lòng quả cảm và can đảm ấy.

IV. CAN ĐẢM NÀO GIÚP SỐNG.

Cách biện minh chung của nhiều người sống buông thả, nhất là ở lứa tuổi thiếu niên, đó là: dẫu biết rằng sống buông thả sẽ đến ngày trả giá, nhưng vẫn cứ sống buông thả, là một sự can đảm (?). Chắc chắn những người đủ bình tĩnh, đủ khả năng suy nghĩ sẽ không đồng ý với lối lý luận ngang tàng ấy. Nhưng thực tế, họ vẫn ngụy biện để bênh vực cho lối sống sai trái của mình. Thì thôi, ít là một lần ta thử đặt mình đứng về phía lý luận của họ để nói với họ.

Phải công bằng mà nhìn nhận rằng, nếu ai đó thừa biết nguy hiểm, nhưng vẫn dấn thân lao vào nguy hiểm, đúng là một can đảm. Nếu để cứu người, cứu giúp một chân lý nào đó, can đảm ấy cần thiết, được nêu cao và cần nhân rộng. Nhưng trong trường hợp của người lao thân vào tự do buông thả và thác loạn, sự can đảm ấy đặt sai chỗ: giết chết chính mình đã đành, điều quan trọng không kém, đó là giết chết chính giá trị làm người, lẽ ra mình phải có. Có khi còn giết chết anh chị em xung quanh.

Vì thế, khi đứng trước đám đông, người thanh niên can đảm dám nói về chính mình như một bài học sống dành cho mọi người, anh trở thành người góp phần cứu sống con người, góp phần bài trừ  SIDA, góp phần làm cho đạo đức xã hội bớt băng hoại. Nói cho cùng, sự can đảm của an