NHỮNG NHẬN THỨC MỚI VỀ THÁNH LỄ:
CÂU CHUYỆN VỀ HY LỄ

(tiếp theo Maranatha_28)

Hoàng Quý
(viết theo Tiến sĩ Scott Hahn)

Giêrusalem như một kinh thành vương đế

Sau khi đã xây dựng xong Đền Thánh Giêrusalem vào năm 960 trước Công nguyên, hàng ngày dân Do Thái dâng hiến các lễ hy tế lên Thiên Chúa Toàn Năng trong một nghi lễ trang trọng. Mỗi ngày, các tư tế sát tế hai con chiên, một con vào buổi sáng và một con buổi chiều như lễ đền tội cho toàn dân. Đó là những nghi lễ chính yếu nhất, tuy nhiên trong suốt ngày các làn khói còn lan tỏa từ nhiều lễ sát tế tư riêng khác của nhiều người. Thôi thì đủ thứ loài vật dê, bò, chim bồ câu và lừa được hiến dâng trên chiếc bàn bằng đồng đặt ngoài sân ngay lối dẫn vào sân trong của Đền Thánh. Bên trong Đền Thánh bắt đầu là Nơi Thánh Địa (Holy Place) gồm có bàn thờ, chậu nuớc rửa, các bàn đặt bánh, các chân đèn, bàn dâng hương và trong cùng như một nơi thẩm cung được gọi là Nơi Cực Thánh (Holy of Holies) chính là nơi Thiên Chúa ngự trị. Chỉ có các tư tế mới được phép bước vào sân trong của Đền Thánh; và cũng chỉ có vị thượng tế một năm một lần mới được tiến vào nơi Cực Thánh cử hành Ngày Đền Tội trong một thời gian thật ngắn ngủi. Vì dù là thượng tế đó, nhưng cũng là một tội nhân, do đó không xứng đáng đứng trước nhan Thiên Chúa.

Đền Thánh Giêrusalem quy tụ tất cả các loài vật được dùng làm lễ sát tế từ trước tới nay. Đền Thánh nằm ngay trên lãnh địa trước đây ông Menkisêđê đã dâng bánh và rượu và cũng là nơi chính tổ phụ Abraham đã dẫn con là Isaác tới để hiến tế con. Thêm vào đó, nơi đây cũng chính là nơi Thiên Chúa đã ban lời thề giao ước cứu độ các dân tộc. Đền Thánh được sử dụng như nơi thường hằng dâng tiến lễ vật và lễ vật chính yếu được đồng hóa với lễ hy tế cổ đại nhất của Aben, chính là con chiên.

Nghi lễ hy tế trọng đại nhất trong lịch sử Do Thái vẫn chính là Lễ Vượt Qua, khi có đến hai triệu rưởi khách hành hương từ khắp nới trên thế giới đổ về chật ních Giêrusalem. Nhà sử học nổi danh thuộc thế kỷ thứ nhất, ông Josephus đã ghi nhận lễ Vượt Qua vào năm 70 sau Công nguyên, chỉ trước một ít tháng khi quân La Mã tới đây phá hủy Đền Thánh, tức  khoảng bốn mươi năm sau Lễ Thăng Thiên, các tư tế đã dâng hiến khoảng 256,500 con chiên trên bàn thờ trong Đền Thánh.

Từ bên trong và bên ngoài

Phải chăng nghi lễ hiến tế chỉ là những những nghi thức bề ngoài? Chắc chắn điều đó chưa thể đủ được, vì Thiên Chúa đòi hỏi thái độ hiến tế bên trong nữa. Sách Thánh Vịnh diễn tả điều đó thật rõ rệt: «Lễ hiến tế được Thiên Chúa ưng nhận chính là tấm lòng tan nát dầy vò» (Tv 51: 19). Tiên tri Hôsêa cũng diễn tả mong muốn của Thiên Chúa, «Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu» (Hs 6:6).

Tuy thế, tuân giữ việc cử hành các nghi thức bề ngoài vẫn cần thiết. Chính Chúa Giêsu đã tuân giữ các luật lệ của dân Do Thái liên quan đến việc hiến tế. Hàng năm Ngài vẫn tham dự Lễ Vượt Qua tại Giêrusalem. Nghi lễ này đối với những người Do Thái sùng đạo biểu lộ tâm tình họ muốn nhắc lại lời giao ước của họ với Thiên Chúa. Và thực sự Chúa Giêsu đã ăn thịt chiên hiến tế với các môn đệ trong dịp lễ này.

Lần cuối cùng Ngài ăn thịt chiên Vượt Qua tại Giêrusalem không phải theo nghi thức bình thường nữa, nhưng đây là trung tâm điểm của sứ mệnh nơi Ngài, là thời điểm định mệnh của Ngài. Ngài trở thành chính Con Chiên bị sát tế. Thời điểm Ngài đứng trước mặt Philatô, «Hôm ấy là ngày áp lễ Vượt Qua, vào khoảng giờ thứ sáu» (Ga 19:14). Gioan Thánh Sử đã biết rằng giờ thứ sáu là giờ các tư tế bắt đầu sát tế các con chiên Vượt Qua. Và như vậy, đây là thời điểm sát tế Con Chiên Thiên Chúa.

Cũng trong đoạn Tin Mừng này, Thánh Gioan tường thuật lại các lý hình cho Chúa Giêsu nhấm rượu chua từ miếng bọt biển treo trên đầu cành hương thảo (xem Ga 19:29; Xh 12:22). Trong Lễ Vượt Qua tại Ai Cập trước khi vượt qua Biển Đỏ, dân Do Thái được lệnh lấy bó hương thảo nhúng vào chậu máu con chiên rồi quét lên trên khung cửa. Và trên thập giá, khi người ta cho Chúa Giêsu nhấm rượu chua từ ngành hương thảo, Ngài đã thưa lên: «Mọi sự đã hoàn tất». Phải, Ngài đã hoàn thành việc cứu độ tân kỳ và hoàn hảo nhất trên thập giá.

Những nghi thức của vật hiến tế

Chúng ta có thể kết luận gì về ý nghĩa vừa nêu trên? Và Thánh Gioan soi sáng cho chúng ta rằng trong lễ hy tế Vượt Qua mới vẻ và quyết đáp này, chính Chúa Giêsu là vị tư tế và đồng thời cũng là vật hiến tế. Cả ba Thánh Sử khác cũng đề cập về Bữa Ăn Cuối Cùng, khi Chúa Giêsu sử dụng ngôn ngữ tư tế liên quan đến lễ hy tế và việc uống rượu. Ngài diễn tả chính Ngài là vật hiến tế: «Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em... Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em» (Lc 22:19-20).

Lễ hy tế của Chúa Giêsu trở thành vô địch khi máu của cả hàng triệu con chiên, dê hoặc bò cũng chẳng thể thay thế được: «Thật thế, máu các con bò, con dê không thể nào xoá được tội lỗi» (Dt 10:4). Để đền tội hoặc phạt tạ cho những xúc phạm của con người trước Thiên Chúa toàn hảo, thánh thiện, nhân hậu, phải cần đến một lễ hy tế hoàn hảo nhất: đó là lễ hy tế cũng toàn hảo, không tì vết và vô song như Chính Thiên Chúa. Và Đấng đó không ai khác là chính Chúa Giêsu, Đấng chỉ một mình Ngài «... tiêu diệt tội lỗi bằng việc hiến tế chính mình» (Dt 9:26).

Chúng ta còn nhớ ông Gioan Tẩy Giả chỉ cho hai môn đệ của mình về một nhân vật đi từ đàng xa: «Kìa, Chiên Thiên Chúa» (Ga 1:36). Tại sao Chúa Giêsu lại là Con Chiên và không là con cọp hoặc con ngựa hoặc con bò? Tại sao sách Khải Huyền cũng mô tả Chúa Giêsu như «một Con Chiên, trông như thể đã bị giết» (Kh 5:6)? Tại sao Thánh Lễ cũng xưng tụng Ngài là «Đây, Chiên Thiên Chúa»? Bởi vì chỉ có con chiên bị sát tế mới xứng hợp với khuôn mẫu Thiên Chúa cứu độ chúng ta: con chiên hiền lành, trong sạch, nhẫn nhục, chịu đựng.

Là vị tư tế, Chúa Giêsu thực hiện được những chuyện mà không một vị thượng tế nào có thể làm được như Ngài. Vị thượng tế hàng năm chỉ được phép vào nơi Cực Thánh một lần với máu không phải là máu của mình (xem Dt 9:25) và chỉ được nán lại trong một thời gian thật ngắn vì không xứng đáng đứng trước Nhan Thánh Đấng Tối Cao. Nhưng Chúa Giêsu bước vào chốn cực thánh là thiên cung - một lần thay cho tất cả - để dâng hiến chính mình làm lễ hy tế thay cho chúng ta. Nhờ Lễ Vượt Qua mới của chính Chúa Giêsu, chúng ta cũng được trở thành công dân của vương quốc các tư tế và thuộc về Giáo hội những con đầu lòng (xem Kh 1:6; Dt 12:23). Nhờ Ngài, chúng ta được bước vào cung điện thiên đàng bất cứ khi nào chúng ta cử hành Thánh Lễ.

Hãy ghi nhớ đại lễ này

Điều này mang lại ý nghĩa gì cho chúng ta ngày hôm nay? Chúng ta có được cử hành Lễ Vượt Qua của chính chúng ta không? Thật may mắn, Thánh Phalô trả lời: «Đức Ki-tô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta. Vì thế, chúng ta ăn mừng đại lễ bằng bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật» (1Cor 5:7-8). Như vậy Con Chiên Vượt Qua ở đây là bánh không men. Đại lễ của chúng ta chính là Thánh Lễ (xem 1Cor 10:15-21; 11:23-32).

Trước ánh sáng rõ ràng như thế của Tân Ước, những hy tế trong Cựu Ước mang ý nghĩa chuẩn bị cho lễ hy tế của chính Chúa Giêsu, vị thượng tế thuộc hoàng gia thiên cung. Và chính giờ đây chúng ta cũng được dâng hiến cùng một lễ hy tế này với Chúa Giêsu trong Thánh Lễ. Trước ánh sáng huyền diệu này, giờ đây chúng ta hiểu rõ ràng và thấm thía những lời nguyện trong Thánh Lễ. Đây, chúng ta hãy đọc lại những lời cầu nguyện Thánh Thể:

«Chúng con dâng lên Cha thân xác và máu Ngài, hy lễ đáng được chấp nhận đang đem đến ơn cứu độ cho toàn thế giới. Lạy Cha, xin Cha hãy nhìn xem lễ hiến tế này mà Cha đã ban cho Giáo hội...» (Lời nguyện Thánh Thể IV).

«Với bao nhiêu ân huệ Cha đã ban cho chúng con, chúng con xin dâng lên Cha, Thiên Chúa vinh quang và cao cả, lễ hiến tế thánh thiện và toàn hảo này... Xin Cha hãy khấng nhìn xem những lễ hiến dâng này và chấp nhận như Cha đã một lần chấp nhận lễ dâng Aben tôi tớ Cha là lễ hiến tế của Abraham, tổ phụ của niềm tin, và bánh cùng rượu do tư tế Menkisêđê dâng lên. Lạy Cha toàn năng, chúng con nguyện xin thiên thần của Cha đem lễ hiến tế này lên bàn thờ của Cha trên thiên cung» (Lời nguyện Thánh Thể I).

Chúa Giêsu đã đổ máu và chết để cứu độ chúng ta vẫn chưa đủ. Giờ đây đến lượt chúng ta cũng phải đóng vai trò của chúng ta. Nếu chúng ta muốn đánh dấu giao ước của chúng ta với Thiên Chúa, muốn đóng dấu giao ước với Ngài, muốn canh tân giao ước với Ngài, chúng ta phải ăn thịt Con Chiên - con chiên Phục Sinh chính là bánh không men của chúng ta. Chính bánh này đem đến cho chúng ta sự sống sung mãn: «Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình» (Ga 6:53).

Đền đáp

Nhu cầu trước tiên của con người khi đến tôn thờ Thiên Chúa luôn luôn được diễn đạt bằng lễ hy tế: tôn thờ cùng một lúc là hành động ngợi khen, đền tạ, hiến mình, nối giao ước và tạ ơn (tiếng Hy Lạp là eucharistia). Tất các thể thức hy tế ấy có cùng chung một ý nghĩa tích cực: quy phục đời sống để được biến hóa và chia sẻ. Như vậy, khi Chúa Giêsu đề cập về đời sống Ngài như lễ hy tế, Ngài khai mở thành một dòng nước chảy sâu vào lòng các môn đệ của Ngài  - chảy sâu vào lòng người Do Thái - chảy sâu vào lòng mỗi con người. Hành động tối thượng của việc tôn thờ chính là hành động tối thượng của lễ hy tế: Bữa Ăn Tối của Con Chiên là chính Thánh Lễ.

Hy tế là nhu cầu của trái tim con người. Nhưng cho tới thời Chúa Giêsu, chẳng lễ hy tế nào đầy đủ được cả. Chúng ta hãy đọc lại Thánh Vịnh 116:12 như sau: «Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ, vì mọi ơn lành Ngài đã ban cho tôi». Quả thực, chúng ta biết lấy gì để đền đáp đây?

Thiên Chúa biết chúng ta phải trả lời thế nào? Chỉ còn một cách, «Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Đức Chúa» (Tv 116:13). Cử hành Thánh Lễ trên bàn thờ trong thánh đường hay trên bàn thờ của cuộc sống mỗi ngày, trong đó chúng ta nâng chén cứu độ và ca ngợi danh Ngài, chính là cách thức chúng ta đền đáp Ngài xứng hợp nhất●

 

Trở về Muc Lục