Thư Tòa Soạn
Kính thưa quý độc giả,
Từ thật lâu rồi, trước kỷ nguyên Kitô giáo,
những người Phương Tây đã mừng ngày Đông Chí. Đấy là thời điểm mà mặt trời
bắt đầu xuất hiện trở lại và khởi đầu cho một năm mới theo lịch La Mã.
Người La Mã gọi lễ này là “Adventus
solis invicti” nghĩa là ‘Sự xuất hiện
(đến) của mặt trời bất khả chiến bại.” Cho đến năm 354 thì đức Giáo Hoàng
Libêrô mới xác định ngày sinh nhật của Chúa Giêsu là 25 tháng 12, qua đó,
ngài muốn thay thế một lễ ngoại giáo mừng Mặt Trời, thành một lễ Công
Giáo. Người ta gọi lễ ấy là ‘Adventus
Domini”,
‘Sự xuất hiện (đến) của Chúa.”
Còn một lý do khác để thiết lập lễ Giáng Sinh:
lúc ấy là thời mà các nhà thần học tranh cãi về Thần Tính của Chúa Kitô.
Một số người
cho rằng Đức Giêsu chỉ là một con người
đặc biệt hơn
mọi người
khác mà thôi. Trái lại, các cộng đồng chung đầu tiên (thế kỷ IV) đã khẳng
định lại hai bản tính của Đức Kitô, Ngài là Đấng vừa là người vừa là Thiên
Chúa, dựa theo Tin Mừng Giáng Sinh kể lại việc ra đời của Chúa Giêsu từ
một người nữ đồng trinh. Do đó, người ta thấy cần phải mừng ngày Ngài
ra đời; không phải như là một kỷ niệm ngày sinh, nhưng như là một Mầu
Nhiệm. Giáng Sinh và Phục Sinh mừng việc can thiệp của Thiên Chúa vào
lịch sử con người. Phục Sinh hướng lịch sử về tương lai, còn Giáng Sinh
là đưa Tình Yêu Vô Biên vào lịch sử con người.
Dần dần, người tín hữu cảm thấy cần phải sống
một thời gian chuẩn bị cho ngày lễ quan trọng này. Thế là nảy sinh Mùa
Vọng (tiếng Anh là Advent, do tiếng La Tinh
Adventus
có nghĩa là
‘việc (Chúa) đến’,
và ngày xưa, tại Việt Nam, ông cha ta gọi là mùa Át-ven-tồ) còn chính ngày
sinh nhật của Chúa thì gọi là Noel, (do tiếng La Tinh
Natalis,
có nghĩa là ‘sinh ra’).
Qua tháng năm, thời gian của Mùa Vọng thay đổi nhiều lần. Vào năm 380, mùa
này chỉ dài 8 ngày, nhưng đến giữa thế kỷ VI nó kéo dài 6 tuần, khởi sự từ
ngày 11 tháng 11, lễ thánh Martinô, và mỗi tuần phải ăn chay 3 ngày. Cũng
vì thế mà người ta gọi mùa này là ‘Mùa Chay nhỏ’ hay Mùa Chay thánh
Martinô. Chính thánh Grêgôriô Cả (540-604) đã rút Mùa Vọng xuống còn 4
tuần, và chọn bài đọc cho các thánh lễ trong mùa này.
Khi nghi lễ La Mã được đưa vào nước Gaulle
(Pháp) vào thế kỷ thứ IX, thì Mùa Chay của thánh Grêgôriô cũng đính kèm.
Nhưng lễ này được nghi lễ Gallican làm cho phong phú thêm khi hướng đến
việc ‘Chúa đến’ lần thứ hai. Vì thế, kể từ thế kỷ thứ X, phụng vụ của Mùa
Vọng hướng về hai cực mà hiện nay chúng ta vẫn còn giữ:
- Chuẩn bị để mừng lễ Chúa Giáng Sinh.
- Chờ đợi ngày Chúa Kitô tái lâm trong vinh
quang.
Nhìn lại bước đi lịch sử của Mùa Vọng,
Maranatha_ 30
tập trung vào sự hoán cải và chia sẻ của từng người đế đón mừng ngày lễ
Giáng Sinh, đồng thời hướng đến ngày Chúa tái lâm trong tâm hồn của mọi
con người. Vì thế, hơn bao giờ hết, Mùa Vọng là mùa để thể hiện bằng hành
động lời cầu nguyện của chúng ta:
Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!
MARANATHA.

Maranatha_31
số đặc biệt Mừng Đại Lễ Giáng
Sinh
sẽ được phát hành vào ngày thứ ba 21 tháng 12.
Kính mong quý độc giả, cộng tác viên gửi bài về cho số báo này với chủ
đề: Giáng Sinh và Thánh Gia.
Kính cám ơn.
Trở về mục lục >>

MÙA VỌNG
CUỘC CÁCH MẠNG TÔN GIÁO CỦA ĐỨC GIÊSU
Giao Duyên
1. Thắc mắc của
Gioan Tẩy Giả
Gioan Tẩy Giả là
người được Thiên Chúa kêu gọi làm một ngôn sứ, đồng thời làm vị Tiền Hô để
dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến. Ông rất ý thức điều ấy, và đã hoàn thành
nhiệm vụ ấy một cách hoàn hảo. Chính vì thế, ông đã bị ngồi tù do dám tố
cáo những sai trái của chính quyền đương thời là vua Hêrốt. Tình trạng khó
khăn và tuyệt vọng trong tù dễ làm người ta xuống tinh thần, vì thế, đức
tin của Gioan vào Đức Giêsu phần nào bị thử thách.
Có thể lúc đó ông tự
hỏi: Nếu Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế mà ông có sứ mạng tiền hô cho Ngài, thì
tại sao ông lại phải ngồi tù thế này? Nếu Ngài là Đấng Cứu Thế, thì ắt hẳn
Thiên Chúa phải để ông ở ngoài hầu hợp tác với Ngài thiết lập triều đại
mới chứ! Ông sẽ phải là cánh tay mặt của Ngài chứ! Chắc chắn Gioan cũng
quan niệm như mọi người Do Thái khác rằng Đấng Cứu Thế sẽ giải phóng dân
Do Thái và sẽ trở thành một vị Hoàng Đế cai trị toàn cầu. Vì thế, khi Ngài
đã bắt đầu ra mặt mà ông vẫn còn phải ngồi tù thế này thì quả là khó hiểu?
Do đó, ông đã sai môn đệ của ông đến gặp Đức Giêsu để hỏi cho rõ. Và họ đã
đến gặp Ngài.
2. Những điều ứng
nghiệm nơi Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế
Đức Giêsu đã không
trả lời trực tiếp bằng cách xác định mình chính là Đấng Cứu Thế, nhưng trả
lời gián tiếp bằng những dấu hiệu mà trước đó khoảng 700 năm ngôn sứ Isaia
đã tiên báo về thời đại của Đấng Cứu Thế:
«Người mù xem thấy, kẻ què được đi,
người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được
nghe Tin Mừng» (xem Is
26,19; 29,18-19; 35,56a; 61,1). Đó là những điều mà Đức Giêsu đã dùng
quyền năng của mình thực hiện trước mắt mọi người.
Thử đặt mình vào địa
vị Gioan Tẩy giả và người Do Thái thời ấy xem, ta có thể tin được Ngài là
Đấng Cứu Thế không, khi mà đầu óc ta cứ nghĩ rằng Ngài sẽ giải phóng đất
nước Do Thái bằng binh hùng tướng mạnh, bằng chính trị và quân sự? Thế mà
hiện tại trước mắt, Ngài chỉ là một thầy đạo không một tấc sắt trong tay!
Làm sao tin được Ngài là Đấng ấy, nhất là khi thấy Ngài bị nộp và bị đem
đi giết như một tội nhân?
Chính vì thế, ngay từ lúc này Ngài đã
nói: «Phúc thay người nào
không vấp ngã vì tôi»
(Mt 11,6). Liệu câu nói ấy có
ứng cho chính chúng ta khi Ngài trở lại không? Nếu Ngài trở lại theo một
cách thức thật bất ngờ, không đúng như cách ta vẫn thường nghĩ, liệu ta có
vấp ngã vì Ngài không? Vì nếu Ngài trở lại đúng theo cách ta thường nghĩ,
thì lời Ngài tiên báo là sẽ đến «như kẻ trộm» đâu còn đúng nữa?
Vậy, ta cần phải tỉnh táo khi Ngài đến để khỏi vấp ngã vì Ngài.
3. Đức Giêsu đến
để thực hiện một cuộc cách mạng tôn giáo
Tôi e rằng khi Ngài
đến lần thứ hai, rất nhiều người sẽ vấp ngã và xúc phạm đến Ngài như lần
Ngài đến trước, vì Ngài sẽ không đến theo như quan niệm của họ, nhất là về
mặt tư tưởng và giáo thuyết. Lý do:
Nhân loại luôn luôn
tiến hóa và đổi mới. Vì thế, các tôn giáo – vốn là phương tiện phục vụ con
người, dẫn con người đến với Thiên Chúa – cũng phải thay đổi theo để phục
vụ con người một cách phù hợp và hữu hiệu hơn. Hiện nay, nhân loại đã bước
sang thời đại internet, toàn cầu hóa, với tinh thần khoa học thực nghiệm,
kỹ thuật hết sức tân tiến. Về mặt chính trị, nhân loại không còn chấp nhận
được những chế độ độc tài, bưng bít thông tin, tự do hà hiếp bóc lột dân
chúng. Những quan niệm tôn giáo cũ có thể thích hợp với nhân loại cũ, thời
đại cũ, với những quan niệm khoa học cũ. Nay nhân loại đã đổi mới, những
quan niệm và thể chế tôn giáo không thay đổi để phù hợp sẽ bị đào thải.
«Không ai đổ rượu mới vào
bầu da cũ, vì như vậy, rượu mới sẽ làm nứt bầu, sẽ chảy ra và bầu cũng hư»
(Lc 5,37). Đương nhiên trong
tôn giáo có những điều cốt tủy không bao giờ thay đổi được. Vấn đề quan
trọng là phân biệt cái nào có thể thay đổi và cái nào là cốt lõi không thể
thay đổi được.
Tôn giáo và luật lệ của tôn giáo là
một cái gì linh thiêng, thần thánh, được hiểu là do Thiên Chúa thiết lập,
được vĩnh cửu hóa và tuyệt đối hóa bằng những lời chắc nịch trong Kinh
Thánh (chẳng hạn: St 9,12; Xh 12,14; 32,13b; Đnl 29,28; 1 V 8,13; Tv 98,5;
và vô số câu khác). Vậy thì con người nào ai dám thay đổi? Chỉ có những
Đấng Thiên Sai như Đức Giêsu mới có thể làm chuyện ấy. Chính Đức Giêsu đã
thực hiện một cuộc cách mạng vĩ đại về tôn giáo. Và cũng chính vì làm cuộc
cách mạng ấy Ngài mới bị giết bởi tay các nhà lãnh đạo tôn giáo cũ. Thế
là, như ta đã biết, vô số người đã vì Ngài mà vấp ngã!
4. Cuộc cách mạng
tôn giáo của Đức Giêsu
Tôn giáo Do Thái do Thiên Chúa
thiết lập nhưng do Môsê hình thành. Những luật lệ do Môsê ban hành được
coi là linh thánh và vĩnh cửu, vì được hiểu là luật của Thiên Chúa. Nhưng
thật ra luật ấy chỉ phù hợp với trình độ văn hóa và tâm linh của dân Do
Thái thời thượng cổ. Luật ấy được xây dựng trên sự sợ hãi
của dân chúng. Tương tự như khi con người còn là một đứa trẻ, muốn nó sống
tốt thì không thể chỉ dùng lời khuyên và trông chờ vào sự hiểu biết của nó
mà được. Lời khuyên hay mệnh lệnh phải đi đôi với roi vọt. Đối với một đứa
trẻ, chỉ cần nó sợ roi để làm theo những mệnh lệnh của người lớn là đã đạt
yêu cầu, và chỉ cần như thế nó đã được coi là một đứa trẻ ngoan. Tôn giáo
thời Cựu Ước ứng với phương pháp giáo dục dành cho trẻ con, không thể
trông mong vào sự ý thức, hiểu biết, hay tình yêu của con người được. Tiêu
chuẩn của sự công chính vào thời này là chỉ cần giữ luật cho đúng là được.
Và người Pharisiêu thời Đức Giêsu chính là mẫu người được coi là trọn hảo
của thời Cựu Ước. Không ai còn có thể giữ luật trọn vẹn hơn họ!
Nhưng từ Môsê đến Đức Giêsu,
dân Do Thái đã trải qua khoảng 1250 năm, trình độ văn hóa và tâm linh của
họ đã thay đổi. Họ đã thoát khỏi giai đoạn tạm gọi là «trẻ con» của
họ để bước sang một giai đoạn trưởng thành hơn. Do đó, tôn giáo cũng phải
thay đổi để thích hợp với trình độ mới của họ, và chính Đức Giêsu là người
có sứ mạng thực hiện sự thay đổi ấy. Tôn giáo mới không còn được xây dựng
trên sự sợ hãi nữa, mà xây dựng trên nền tảng tình yêu.
Dân Do Thái hay nhân loại lúc này được so sánh với một con người đã bước
vào tuổi thanh niên. Cha mẹ không còn giáo dục anh chàng theo kiểu roi vọt
nữa, mà mong đợi nơi anh sự ý thức tự giác và tình yêu. Lúc này, nếu anh
học hành hay làm việc chỉ vì sợ cha mẹ đánh đòn, thì anh không còn được
coi là hay là tốt nữa, mà phải do một động lực khác thúc đẩy: chẳng hạn do
biết tự lo lắng cho tương lai, do biết yêu thương và làm hài lòng cha mẹ,
muốn làm nở mày nở mặt cho gia tộc. Vì thế, cách sống hay giữ đạo «vị
luật» của người Pharisiêu không còn được Đức Giêsu coi là công chính
nữa: «Thầy bảo cho anh em biết, nếu
anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì sẽ
chẳng được vào Nước Trời» (Mt 5,20).
Những cuộc cách mạng vĩ đại về
tôn giáo như Đức Giêsu đã từng thực hiện chắc chắn thời nào cũng bị những
người đương thời chống đối vì chưa nhận ra sự hợp lý của nó. Họ còn chấp
vào những hiểu biết cũ, quan niệm cũ, nguyên tắc cũ đã được nhập tâm từ
nhỏ, và được coi là những chân lý bất di bất dịch. Họ cảm thấy cần bảo vệ
những chân lý ấy. Chính vì thế rất nhiều người vấp phạm khi Ngài đưa ra
những quan niệm mới, nguyên tắc mới.
Để nói lên sự ưu việt của thời
«hậu cách mạng» do Đức Giêsu, Ngài đã đưa ra một thí dụ điển hình:
«Tôi nói thật với anh em: trong số
phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả.
Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông».
Gioan Tẩy Giả là mẫu người công chính của Cựu Ước, sự công chính của ông
không thể sánh ngang với sự công chính của thời Tân Ước được. Thật vậy, về
tinh thần và phong cách sống đạo, giữa Gioan Tẩy giả và Đức Giêsu, giữa
các môn đệ của hai vị có sự khác biệt rõ rệt. Điển hình như:
«Các môn đệ ông Gioan tiến lại hỏi Đức Giêsu
rằng: "Tại sao chúng tôi và các người Pharisêu ăn chay, mà môn đệ ông lại
không ăn chay?”» (Mt 9,14; Mc 2,18).
Vậy, chúng ta hãy tỉnh táo để
khi Đức Giêsu đến lần thứ hai, với những bất ngờ không dè trước được,
chúng ta không vấp phạm vì Ngài: «Phúc
thay người nào không vấp ngã vì tôi»
(Mt 11,6)●
Trở về mục lục >>

HÃY SỐNG THEO QUAN NIỆM MỚI
CỦA ĐỨC GIÊSU
Nguyễn
Chính Kết
1.
Điều nghi nan và thắc mắc của Gioan Tẩy giả
Khi đọc đoạn Tin
Mừng Mt 11,2-11 một số nhà chú giải cho rằng khi bị thử thách trong
tù, Gioan đâm ra thắc mắc: không biết Đức Giêsu có đích thực là Đấng Cứu
Thế mà các ngôn sứ đã loan báo hay không. Ông thắc mắc vì nếu quả thật
Ngài là Đấng Cứu Thế, thì tại sao người có sứ mạng chuẩn bị cho Ngài đến
là ông lại phải ngồi tù? Lẽ ra ông phải ở ngoài để cộng tác với Ngài trong
việc thành lập Nước Trời mới phải! Các môn đệ của ông chắc chắn cũng thắc
mắc như thế. Vì thế, ông đã sai người đến trình bày thắc mắc ấy cho Đức
Giêsu.
Để trả lời, Đức
Giêsu đã dùng chính những dấu chỉ của ngôn sứ Isaia về thời Đấng Cứu Thế:
«Sắp tới ngày báo phục, ngày
Thiên Chúa thưởng công, phạt tội (…) Bấy giờ mắt người mù mở ra, tai người
điếc nghe được, kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo
hò» (Is 35,46). Ngài bảo:
«Các anh cứ về thuật lại cho
ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi,
người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được
nghe Tin Mừng» (Mt 11,4-6).
Với những sự kiện xảy ra mắt thấy đúng như ngôn sứ Isaia mô tả, Gioan có
thể xác định Đức Giêsu là ai. Tuy nhiên, có điều quan trọng mà Đức Giêsu
muốn nhắn nhủ Gioan: «Phúc
thay người nào không vấp ngã vì tôi»
(Mt 11,6).
2.
«Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi»
Đức Giêsu được Thánh
Kinh mô tả là «một hòn đá
làm cho vấp, một tảng đá làm cho ngã»
(Rm 9,33; 1Pr 2,8). Nhưng chính Ngài
lại nói: «Phúc thay người
nào không vấp ngã vì tôi»
(Mt 11,6; Lc 7,23). Thánh Kinh cũng cho biết có rất nhiều người vấp ngã vì
Ngài (x. Mt 15,12; 26,31; Mc 6,3; 14,27; Rm 9,32). Trong Thánh Kinh, «vấp
ngã» có nghĩa là vì một cớ nào đó mà làm điều sai trái, không đúng,
xúc phạm, hoặc không tin hay mất niềm tin vào Thiên Chúa, vào Đức Giêsu.
Khi Gioan bị tù, ông bị thử thách về niềm tin đối với Đức Giêsu. Dù sao
ông vẫn là con người, nên cũng có khuynh hướng suy nghĩ kiểu loài người.
Thánh Thần đã cho ông biết một cách không minh nhiên – nghĩa là chỉ
qua những dấu chỉ – rằng: Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, và ông có sứ mạng dọn
đường cho Ngài. Ông đã tin điều đó. Nhưng khi ngồi tù một thời gian quá
dài, ông đâm ra nghi ngờ niềm tin ấy. Vì nếu quả thật Ngài là Đấng Cứu
Thế, thì ông đang phải là cánh tay mặt của Ngài, sát cánh bên Ngài để cùng
Ngài hành động!
Nếu ông mất niềm tin
đó, thì ông đã vấp phạm vì Ngài. Nhưng Đức Giêsu đã gián tiếp cho ông biết
niềm tin của ông vào Ngài là chính xác. Nhờ đó, ông không mất niềm tin. Vì
thế, Ngài khen ông: «Trong
số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa có ai cao trọng hơn Gioan Tẩy giả»
(Mt 11,11). Ông cao trọng vì cho đến lúc đó, ông là người đầu tiên được
vinh hạnh góp phần trực tiếp vào sứ mạng cứu thế của Con Thiên Chúa, và
ông đã hoàn thành sứ mạng của mình cách hoàn hảo. Tuy nhiên, ông vẫn là
người của Cựu ước, não trạng của ông vẫn là não trạng của thời Cựu ước.
Não trạng Cựu ước là:
sự công chính được xây dựng trên
việc giữ trọn lề luật, thực hành các nghi thức tôn giáo, và làm những điều
tốt đẹp.
Ông không có cơ hội hấp thu những giáo
huấn mới cao cả của Đức Giêsu để có một não trạng mới:
sự công chính được xây dựng trên tình yêu.
Vì thế, sự công chính của ông không cao bằng sự công chính của những người
sống đúng tinh thần Tân ước. Do đó, Ngài mới nói:
«Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước
Trời còn cao trọng hơn ông»
(Mt 11,11; xem thêm Mt 5,20).
3.
Tinh thần mới của Tân ước so với Cựu ước
Đức Giêsu đến để
khai mạc Nước Trời tại trần gian, mà Gioan Tẩy Giả là người dọn đường.
Nước Trời, xét về mặt xã hội, là một xã hội lý tưởng, trong đó mọi người
đối xử với nhau bằng yêu thương đích thực. Nhờ đó, mọi người được hạnh
phúc. Thật vậy, thế giới này, cũng như Giáo Hội mà Đức Giêsu lập ra, chỉ
có thể hạnh phúc và trở thành Nước Trời khi mọi người biết yêu thương
nhau. Hiện nay, thế giới cũng như Giáo Hội, có rất nhiều tiêu cực, đau
thương, chính vì các thành viên không yêu thương nhau.
Đức Giêsu đến đem
lại cho thế giới một tinh thần mới, một lề luật mới xây dựng trên yêu
thương. Tiêu chuẩn mới của sự công chính là tình yêu, khác với tiêu chuẩn
cũ trong Cựu ước. Thật vậy, Thánh Kinh cho biết
«Người đã hủy bỏ Luật cũ gồm các
điều răn và giới luật» (Ep
2,15) và lập ra luật mới cho kỷ nguyên mới:
«Thầy ban cho anh em một điều răn
mới là anh em hãy yêu thương nhau»
(Ga 13,34). Đức Giêsu chính là tư tế mới thay cho các tư tế cũ của Cựu
ước, mà «một khi chức tư tế
thay đổi, thì nhất thiết phải thay đổi Lề Luật»
(Dt 7,12). Dựa trên tinh thần mới của Tân ước, thánh Phaolô đã nói rất
rõ và rất nhiều lần rằng chính đức tin mới làm cho con
người nên công chính (x. Rm 1,17; 5,1; 9,30.32; Gl 3,8.11.24; Dt
11,7) chứ không phải việc giữ luật (Rm 3,2021.28; 4,13; 9,31; Gl 2,16.21;
3,11; 5,4), hay những việc làm tốt đẹp (x. Rm 4,56; 9,32; 11,6). Mà mục
đích và tinh hoa của đức tin lại là
đức ái,
vì theo cũng thánh Phaolô, đức ái cao trọng hơn đức tin và đức cậy (x. 1Cr
13,13). Đức Giêsu cũng xác nhận tình yêu quan trọng hơn các lễ nghi tôn
giáo: «Yêu mến Thiên Chúa
(…) và yêu người thân cận (…) là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ»
(Mc 12,33; x. Mt 5,23-24);
«Ta muốn lòng nhân chứ đâu
cần lễ tế» (Mt 9,13; 12,7).
Tất cả những thứ tốt đẹp đó là biểu hiện tất nhiên phải có của tình
yêu. Nhưng nếu chỉ có những biểu hiện ấy ở bên ngoài chứ không có cốt tủy
bên trong là tình yêu, thì những biểu hiện ấy chỉ là giả dối, hoàn toàn vô
giá trị trước Thiên Chúa.
4.
Chiều kích mới của sám hối
Vì thế, ta cần khám
phá chiều kích mới của sám hối trong sứ điệp của Gioan. Sám hối không chỉ
là nhận ra và sửa đổi những sai trái trong cách hành động, mà còn là sẵn
sàng từ bỏ những quan niệm cũ, nề nếp cũ, để đón nhận những quan niệm mới
cao cả hơn, đúng đắn hơn của Đức Giêsu, đồng thời sống phù hợp với quan
niệm mới đó. Sở dĩ giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái vấp ngã vì Đức Giêsu,
chính vì họ không chấp nhận được những quan niệm mới của Ngài, cho rằng
Ngài là kẻ phá đạo và giết chết Ngài.
Điều đáng buồn cho thế giới
hiện nay là Đức Giêsu đã đến những 2000 năm nay để đưa ra những quan niệm
mới về sự công chính, thế mà rất nhiều Kitô hữu thời nay vẫn chưa hấp thụ
được giáo huấn mới với quan niệm mới, lề luật mới của Ngài. Họ vẫn đặt rất
nặng tiêu chuẩn công chính cũ của Cựu ước, mà coi rất nhẹ tiêu chuẩn công
chính mới của Ngài là tình yêu thương. Sự giáng lâm của Đức Giêsu cách đây
2000 năm vẫn còn là vô ích, là dư thừa đối với họ. Và như thế, một cách
nào đó họ đã vấp phạm vì Ngài. Đành rằng việc giữ luật lệ, thực hành các
nghi thức tôn giáo, và làm những việc tốt lành vẫn cần thiết và ích lợi,
nhưng đó không phải là điều cốt yếu của việc sống đạo. Đó chỉ là
những phương tiện tốt và hữu hiệu để giúp ta thực hiện điều cốt yếu
của đạo Chúa là yêu thương nhau mà thôi. Chúng chỉ là những biểu hiện tất
yếu của tình yêu chứ không phải là tình yêu.
Ngay cả việc cầu nguyện, nếu
việc cầu nguyện không đem lại hiệu quả là tăng trưởng tình yêu thương
trong lòng ta – là mến Chúa yêu người hơn – thì chắc chắn việc cầu nguyện
ấy không đẹp lòng Thiên Chúa. Muốn biết chúng ta có cầu nguyện đúng hay
không, thì hãy nhìn vào hiệu quả của cầu nguyện. Nếu cầu nguyện đem lại
cho ta sức mạnh, bình an, niềm vui và hứng khởi để có thể hy sinh cho
Thiên Chúa và tha nhân nhiều hơn, thì chúng ta đã cầu nguyện đúng cách.
Nếu không, chúng ta cần phải thay đổi cách cầu nguyện vì đã cầu nguyện
không đẹp lòng Thiên Chúa. Rất nhiều khi chúng ta đã tỏ ra ích kỷ, thiếu
tình thương, lấy «cái tôi» của mình là trung tâm khi cầu nguyện.
Cầu nguyện như thế chỉ làm tăng tính ích kỷ của mình thôi! Có những câu
Thánh Kinh cho biết Thiên Chúa chán ngán những buổi cầu nguyện, những nghi
thức tôn giáo rỗng tuếch tình yêu của con người (x. Is 1,11-17; Am
5,21-24; Gr 14,11-12). Ấy thế mà biết bao Kitô hữu suốt đời cầu nguyện,
dâng lễ theo kiểu ấy! Hoặc cố giữ luật, cố làm những việc lành phúc đức,
không phải do tình yêu thúc đẩy, mà chỉ nhắm để được Thiên Chúa thưởng
công, để được mọi người khen ngợi. Thiết tưởng để đón Chúa đến, chúng ta
cần phải sám hối về cách sống đạo kiểu ấy!●
Trở về mục lục >>

SUY NIỆM MÙA VỌNG
Phúc thay ngưỜi nào không vẤp ngã vì tôi.
Khổng Nhuận
Chúa nhật thứ Ba mùa Vọng, chúng ta
lại được dịp suy niệm đoạn Kinh Thánh rất quen thuộc:
"Các anh cứ về thuật lại cho ông
Gio-an những điều mắt thấy tai nghe:
Người mù xem thấy,
kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống
lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng,và
phúc thay người nào không vấp ngã vì
tôi." (Mt 11:4-6)
Sự xuất hiện với lời giảng dạy và cách
sống của Đức Giêsu đã khiến cho người Do-Thái vấp ngã.
Các tư tế vấp ngã
vì các ông cho rằng phải thờ
phượng Chúa trong
đền thờ
Giêrusalem,
hội đường
hay tại ngã ba, ngã tư
cho người ta thấy (Mt 6:5)
và cầu nguyện lâu giờ
(Mt 23:14); trong khi Đức Giêsu hô hào phải
thờ phượng Chúa trong Thần Khí và
sự thật.
(Ga 4:23-24).
Các kinh sư
cứ chiếu theo Kinh Thánh mà giảng dạy dân chúng như vẹt trong khi Đức
Giêsu vớ đâu nói đấy, gần như phớt lờ Kinh Thánh cựu ước. "Anh
em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù.44
Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy
yêu kẻ thù
và cầu nguyện
cho những kẻ ngược
đãi
anh em. (Mt 5:43-44)
Đặc biệt là
các luật sĩ,
những người luôn thượng tôn luật pháp, bị vấp ngã nhiều nhất vì dường như
Đức Giêsu cứ nhè ngày Sabat để chữa bệnh, hoặc làm một điều gì đó như:
Hôm ấy, vào ngày sa-bát,
Đức Giê-su đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ thấy đói và bắt đầu
bứt lúa ăn. (Mt 12:1) Ngài
còn tuyên bố thẳng thừng:
"Ngày sa-bát được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày
sa-bát. Bởi đó, Con Người làm chủ luôn cả ngày sa-bát."
(Mc 2:28)
Dân chúng,
thậm chí nhiều môn đệ
cũng vấp ngã vì Đức Giêsu.
Người Do-thái liền xầm xì phản đối,
nhiều môn đệ của Người liền nói: "Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?
"Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa.(Ga
6:41,60,66)
Thế còn chúng ta,
những người Kitô hữu, chúng ta có vấp ngã không? Có lẽ chúng ta có đầy
kinh nghiệm và mau mắn trả lời với vẻ rất tự tin :
chỉ có quân Giu-rêu mới vấp ngã chứ,
chúng tôi làm sao mà vấp ngã nổi. Họ đâu nhìn nhận Đức Giêsu là Chúa, còn
chúng tôi biết Chúa Giêsu từ khuya rồi.
Nhưng ..nhìn lại cho kỹ, thì có khi
tôi còn
vấp ngã gấp mười lần.
Mang tiếng là
Kitô hữu
nhưng tôi lại thực sự là một
trong những tên
Giu-rêu gộc
qua những vấp ngã điển hình như
sau:
Giống y như các tư tế, tôi
phân chia rất rõ ràng:
việc đạo:
trong nhà thờ -
việc đời:
giữa phàm trần này. Sau thánh lễ thờ phượng Chúa, tôi
liền
bái bai Chúa
ở lại, và ra về sống giữa đời,
bon chen làm ăn, học hành, vui chơi.. y như người chưa hề biết Chúa, y như
người chưa từng rước Chúa trong thánh lễ Chúa nhật Việc
thờ phượng Chúa trong Thần
Khí
và sự thật
chỉ để lộng kiếng,
hù ma thiên hạ.
Tôi
đọc Kinh Thánh như vẹt,
nghe Lời Chúa từ tai này, lập tức
bay sang tai kia.
Lời Chúa không lưu lại và sinh
hoa trái. Nhưng khi chia sẻ Lời Chúa thì phải biết! tôi
nghiên cứu
hết sách nọ tới sách kia, nói
vanh vách những tư tưởng cao siêu của các nhà thần học nổi tiếng, khiến
anh em cứ thưởng tôi
xịn
lắm, nhưng thực ra chỉ là
thanh la phèng phèng, chũm
choẹ xoang xoảng..(1Cr 13:1)
Y chang như
các luật sĩ chính hiệu,
tôi đánh giá người khác dựa vào
những
biểu hiện đạo đức bên ngoài.
Hiện nay, tôi chỉ còn giữ 2
luật duy nhất: đi lễ Chúa nhật, xưng tội một năm ít là một lần. Như vậy là
đủ để khỏi phải xuống hoả ngục. Còn chuyện sống đạo thực sự của một người
Kitô hữu trong tâm tình người con yêu dấu của Chúa chỉ dành cho
một số người khác…trừ
tôi!
Giả sử có người phát biểu:
‘chúng ta hầu hết đều mù cả’
tôi lập tức phản ứng:
"Lời này chướng tai
quá! Ai mà nghe nổi? "
thế là tôi
gạt phăng sang một bên
mà không cần biết tôi mù hay
sáng - tất nhiên đây là mù loà tâm linh. Nếu tôi chưa cảm nhận được thờ
phượng Chúa trong Thần Khí
thì chắc chắn tôi mù thật rồi.
Nếu tôi sáng,
hẳn nhiên là tôi hiểu rất rõ và
đã thực hiện việc thờ phượng Chúa trong Thần Khí mỗi ngày nhiều lần một
cách thoải mái.
Tóm lại,
Lời Chúa hôm nay nhắc nhở cho tôi biết tình trạng của tôi mù hay
sáng? Tôi đang
đứng vững
hay vấp
ngã liên tục trong cuộc sống đạo
thường ngày của mình?●
Trở về mục lục >>

Mùa VỌng - mùa trông đỢi ánh sáng
Lm. Nguyễn Ngọc Long
Mùa Vọng (La-tinh : Adventus) với
người Công giáo là thời gian chuẩn bị đón mừng biến cố lớn: Chúa Giêsu
giáng sinh làm người giữa con người. Mùa chờ đợi với niềm hy vọng một
tương lai mới.
1. Nguồn gốc
và ý nghĩa mùa Vọng.
Từ thế kỷ thứ 5 - bắt đầu có tập tục
mùa Vọng chuẩn bị đón mừng mầu nhiệm Chúa Giêsu giáng sinh làm người, với
ba tuần lễ. Trong thời gian này vai trò của Ðức Mẹ Maria được nhấn mạnh đề
cao là mẹ Thiên Chúa.
Ðến thế kỷ thứ 6 - tập tục này được
sửa đổi kéo dài thêm thành sáu tuần lễ và nhấn mạnh đến ngày phán xét sau
cùng nhiều hơn.
Ðến thế kỷ thứ 16 - tập tục mùa Vọng
chỉ còn bốn chúa nhật trước lễ Chúa giáng sinh được qui định chính thức
trong Giáo hội công giáo và nhấn mạnh đến Chúa nhiều hơn: Người đến giữa
con người và Người đến ngày tận thế.
Bốn ngày chúa nhật trước lễ Chúa giáng
sinh muốn nói lên con số 4000 năm ngày xưa toàn dân Chúa mong đợi Ðấng cứu
thế đến, theo cách tính của giáo hội công giáo.
2. Tập tục
mùa Vọng.
Ánh sáng là dấu hiệu cho niềm hy vọng,
đồng thời ánh sáng cũng là phưong cách chống trả ngăn cản bóng tối sự xấu
lan tràn xâm chiếm cuộc sống tâm hồn và cả trong đời sống thường ngày vào
những tháng mùa Ðông tối tăm lạnh lẽo.
Khắp nơi đèn điện được dựng chăng lên.
Tập tục này ăn rễ sâu trong đời sống xã hội. Hầu như trong các Thánh
đường, tại các tư gia và những nơi công cộng vào mùa Vọng người ta thường
treo giữa nhà hay đặt nằm trên bàn, trên gíá cao một vòng tròn. Vòng này
được tên là vòng tròn mùa Vọng.
Vòng tròn mùa Vọng là biểu hiệu cho
tình yêu không cùng tận của Thiên Chúa. Một vòng tròn không có đầu và cũng
không có điểm cuối cùng. Cũng vậy, tình yêu Thiên Chúa trải rộng bao la
không có biên giới khắp cùng không gian địa lý, khắp cùng thời gian, lan
tỏa đến tận mọi bờ cõi tâm hồn con người và ăn rễ sâu vào trong mọi hoàn
cảnh cuộc sống xã hội.
Vòng tròn mùa Vọng cũng là dấu hiệu
của đời sống chung trong cộng đoàn gia đình xã hội, cộng đoàn Giáo hội.
Vòng tròn mùa Vọng được bện nối kết bởi nhiều cành nhánh lá cây thông liên
kết vào nhau. Ðời sống chung trong cộng đoàn con người cũng vậy. Mỗi người
là một thành phần nhân tố mang đến sức sống cùng sự triển nở cho cộng đoàn
đang chung sống.
Những cành lá thông bện chung quanh
vòng mùa Vọng có mầu sắc xanh tươi, một biểu hịêu của niềm hy vọng và sức
sống đang vươn lên.
Chúa Giêsu đã có lần nói: Thầy là ánh
sáng trần gian. Mùa Vọng là mùa mong đợi Chúa Giêsu đến. Chung quanh vòng
mùa Vọng bốn cây nến được lần lượt thắp sáng lên biểu hiệu cho Chúa Giêsu
là ánh sáng đến với trần gian.
Nến khi đốt thắp lên chiếu tỏa ánh
sáng và hơi nóng ấm ra vùng không gian xung quanh. Chất sáp cây nến dần bị
thiêu cháy và chảy tan ra thành chất lỏng. Ðây cũng là một hình ảnh nói về
cuộc sống con người: Trong đời sống chúng ta hy sinh mang đến cho nhau ánh
sáng và hơi nóng nồng ấm tình yêu thương liên đới, nhất là vào những hoàn
cảnh cuộc sống gặp nhiều thử thách khó khăn lo âu sợ hãi, đe dọa sự sống
còn.
Ðời sống con người cũng giống như một
ngọn nến. Tùy theo khả năng cùng hoàn cảnh được Trời cao phú ban, mỗi
người cũng chiếu tỏa đức tính và việc làm tốt giúp cho người khác, như cây
nến chiếu tỏa ánh sáng soi đường chỉ lối trong đêm tối. Dù cường độ ánh
sáng ngọn nến giới hạn nhỏ bé lu mờ.
Mùa Vọng - mùa chờ đợi. Chờ đợi ánh
sáng tình yêu Thiên Chúa từ trời cao đến trần gian.
Mùa Vọng - mùa của thời gian yên lặng
suy nghĩ về ngày mai: ngày Chúa đến và thời gian năm cũ sắp hết, năm mới
đang tiến tới.
Mùa Vọng - mùa nhớ nghĩ đến những
người xấu số bất hạnh trên khắp nẻo đường thế giới. Họ cần sự giúp đỡ cùng
ánh sáng hơi ấm tình người●
Trích Website Sống Đức Tin
Trở về mục lục >>

Chúa nhật thứ Ba Mùa Vọng này,
ngọn nến mầu hồng được thắp lên với niềm vui và hy vọng cùng với hai
ngọn nến màu tím của hai chúa nhật Mùa Vọng trước đó. Phụng vụ Lời Chúa,
các bài hát, đáp ca tuần này hướng hẳn về lòng trông chờ Đấng Cứu Thế
với niềm vui và hy vọng, và lời khẩn nài
Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!
tha thiết hơn bao giờ... Là những tín hữu mang niềm hy vọng đợi chờ
này…xin cùng được suy tư….

963.
Giáo dân là người mến yêu sứ mạng trần thế của
mình, là người thực hiện đời đời
trong đời tạm.
-
Là người tin
rằng Chúa giao cho mình trần gian và anh em, để đưa họ đến cứu rỗi
vĩnh cửu.
-
Là người xác
tín rằng Chúa ban sự cứu rỗi, nhưng Chúa đòi việc hợp tác của con
người.
-
Biết hy vọng,
bảo đảm hy vọng, mang lại hy vọng.
964.
Người hy vọng là người cầu nguyện. Đối tượng của lời cầu nguyện cũng là
đối tượng của niềm hy vọng. Người hy vọng là cộng tác viên của Thiên
Chúa. Ngài tìm họ để hoàn tất việc tạo dựng và cứu chuộc của Ngài.
966.
Có hạng
"công giáo đợi chờ", khoanh tay mong đợi niềm hy vọng đến. Có hạng "công
giáo thụ động", "trốn tránh, vô trách nhiệm". Họ chỉ
biết "nhìn lên" để kêu cứu, mà không biết "nhìn tới" để tiến, "nhìn
quanh" để chia sẻ, gánh vác. Niềm hy vọng đang ở giữa họ, mà họ không
hay!
968.
Con hoàn
toàn sống trong hiện tại, nhưng con cũng hoàn toàn sống trong đời đời.
Con chăm lo cứu rỗi anh em. Nhưng con không quên rằng với Chúa và vì
Chúa, con hết sức tiến tới. Nhưng với tất cả ánh sáng từ trời cao, con
dấn thân giữa trần thế. Nhưng với tình yêu thần linh, tất cả điều ấy có
ý nghĩa gì, nếu con không mang niềm hy vọng lớn lao nhất trong quả tim
con?
Trích ĐƯỜNG HY VỌNG
Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn
Văn Thuận.
Trở về mục lục >>

HỌC HỎI
Sáng Danh Thiên
Chúa trên trỜi !
Bình
An
xuỐng cho nhân trẦn
(Luca
2:14)
Nguyễn Công Bình
Trong Mùa Giáng Sinh, chúng ta sẽ cùng hát chung với nhau bài hát của các thiên thần Vinh Danh Thiên Chúa, cùng là lời
cầu nguyện của chúng ta xin Chúa ban an bình. Tin tức chiến sự sôi động quá. Xin Chúa ban An Bình theo Tình Thương Yêu Của Chúa cho lòng ta, cho đời ta, gia đình ta mà cũng ban Hòa Bình của Chúa Kitô cho cả nhân loại.
Ðã 2000 năm, bài hát của các thiên thần nơi máng cỏ
Belem được thánh Luca viết lại trong Lc 2:14. Theo chân thánh Jerome, qua
bản phổ thông latinh Vulgata (thế kỷ 5)
và theo chân Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô qua bản dịch mới của Mẹ Giáo Hội
là Nova Vulgata (2000), chúng ta hát lên
câu thứ nhất trong
Kinh Vinh Danh
rằng:
Doxa en uyistoiV Qew
Gloria in excelsis Deo,
Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời .
chúng ta
thường hát lên câu
thứ hai rằng
Kai epi ghV eirhnh en anqrwpoiV
eudokiaV
Et in terra pax hominibus
bonae voluntatis
A)
Và Bình An dưới thế cho người thiện tâm,
Song chúng ta cũng được nghe dịch rằng
B)
Và Bình An dưới thế cho người Chúa thương
Và chúng ta cũng lại được nghe dịch rằng
C)
Và Bình an dưới thế cho loài
người Chúa thương.
Có một số anh chị tân tòng không khỏi không thắc mắc nên
hát theo câu A, B hay C cho đúng. Xin an tâm. Mọi câu dịch đều
hợp lý, tuy mang lại những khía cạnh khác nhau:
A. Người thiện tâm thì được ban Bình An
Câu dịch 1:
Doxa en uyistoiV Qew (Phiên
âm:) Doxa en hupsistois Theo
Splendor, glory in highest places to God
Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng
trời,
Kai epi ghV eirhnh en anqrwpoiV eudokiaV
Kai epi ges eirene en anthropois eudokias
And on earth peace to men of good thought
Et in terra Pax hominibus bonae voluntatis
Và bình an dưới thế cho người thiện tâm.
(Kinh Vinh Danh Thánh Lễ tiếng Việt)
Có vị đọc là:
Bình an dưới thế cho người chính tâm
Tâm (chữ Hán) là cõi
lòng, thiện là tốt, chính là ngay thẳng. Dịch nôm na theo tiếng Việt thì
ta có thể hiểu rằng Chúa ban Bình An Chúa (Pax) cho người người
(hominibus) tốt bụng, kẻ có lòng ngay, (bonae voluntatis). Hữu lý! Bình An
Chúa chỉ xuống cho những người đã theo Chúa, đã giữ Lời Chúa để tạo cho
mình ý chí ngay lành, thiện tâm. Xin nghe câu dịch 2:
Let everyone
give
glory
to
The
Most
High
God.
Those who are pleasing God will find peace on
earth
(Gospel of Luke in basic English
www.geocities.com)
Có lẽ chúng ta đã lắm khi hãnh diện kể lể với Chúa rằng:
Xin Chúa ban Bình An đi vì “Thưa Chúa chúng
con đã theo Chúa, đã đến nhà thờ đọc kinh, dâng lễ … … chúng con đã thiện
tâm rồi .” Ta không khỏi
chột dạ mà nhận rõ ta đang tự hào cách hão
huyền. Song tự kiểm điểm lương tâm chúng ta sẽ thấy mình chưa
đủ thiện tâm đúng như Chúa muốn để đáng được hưởng bình an.
Song nếu như thế thì bao giờ mới có được hòa bình đây?
Xin cho tôi ca ngợi Ðức Nữ
Trinh Maria gương mẫu người ngay lành
thánh thiện theo điều răn quan trọng nhất là sống yêu thương tha
thứ. Ơn An Bình là của Chúa song ban qua tay Ðức Mẹ khi Mẹ sanh ra Hoàng
Tử Hòa Bình. Chúng ta đã nhận Chúa vào lòng như xưa Mẹ mang thai Chúa song
sơ sót trong việc yêu thương tha thứ chưa đủ làm cho Chúa hài lòng, đến
nỗi Mẹ Maria đã phải đích thân hiện ra căn dặn tại Fatima rằng chúng ta sẽ
được An Bình nếu cải đổi cõi lòng để sống cho đúng Lời Chúa. Chính chúng
ta chưa mang Hòa Bình cho nhau qua hai bàn tay của chính chúng ta vì chúng
ta chưa cải đổi theo lối sống mới, chưa đủ thiện tâm, chưa đủ làm
cho Chúa hài lòng.
B. Bình An của Thiên Chúa được ban