Số 30, Ngày 11-12-2004

 

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Cuộc Cách Mạng Tôn Giáo của Đức Giêsu - Giao Duyên

Hãy Sống Theo Quan Niệm Mới của Đức Giêsu - Nguyễn Chính Kết

Phúc Thay Người Nào Không Vấp Ngã Vì Tôi - Khổng Nhuận

Mùa Vọng - Mùa Trông Đợi Ánh Sáng - Lm. Nguyễn Ngọc Long

 Sáng Danh Thiên Chúa Trên Trời-Bình An Xuống Cho Nhân Trần - Nguyễn C. Bình

Con Lừa Bên Máng Cỏ - Trần Duy Nhiên

Lòng Nhân Ái - Nét Đẹp Của Cuộc Sống - Lm. Vũ Xuân Hạnh

 Yêu Thương và Chia Sẻ - Phanxicô Xavie Trần

Tâm Tình Bạn Đọc  -  Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

Từ thật lâu rồi, trước kỷ nguyên Kitô giáo, những người Phương Tây đã mừng ngày Đông Chí. Đấy là thời điểm mà mặt trời bắt đầu xuất hiện trở lại và khởi đầu cho một năm mới theo lịch La Mã. Người La Mã gọi lễ này là Adventus solis invicti nghĩa là ‘Sự xuất hiện (đến) của mặt trời bất khả chiến bại.” Cho đến năm 354 thì đức Giáo Hoàng Libêrô mới xác định ngày sinh nhật của Chúa Giêsu là 25 tháng 12, qua đó, ngài muốn thay thế một lễ ngoại giáo mừng Mặt Trời, thành một lễ Công Giáo. Người ta gọi lễ ấy là ‘Adventus Domini, ‘Sự xuất hiện (đến) của Chúa.

Còn một lý do khác để thiết lập lễ Giáng Sinh: lúc ấy là thời mà các nhà thần học tranh cãi về Thần Tính của Chúa Kitô. Một số người cho rằng Đức Giêsu chỉ là một con người đặc biệt hơn mọi người khác mà thôi. Trái lại, các cộng đồng chung đầu tiên (thế kỷ IV) đã khẳng định lại hai bản tính của Đức Kitô, Ngài là Đấng vừa là người vừa là Thiên Chúa, dựa theo Tin Mừng Giáng Sinh kể lại việc ra đời của Chúa Giêsu từ một người nữ đồng trinh. Do đó, người ta thấy cần phải mừng ngày Ngài ra đời; không phải như là một kỷ niệm ngày sinh, nhưng như là một Mầu Nhiệm. Giáng Sinh và Phục Sinh mừng việc can thiệp của Thiên Chúa vào lịch sử con người. Phục Sinh hướng lịch sử về tương lai, còn Giáng Sinh là đưa Tình Yêu Vô Biên vào lịch sử con người.

Dần dần, người tín hữu cảm thấy cần phải sống một thời gian chuẩn bị cho ngày lễ quan trọng này. Thế là nảy sinh Mùa Vọng (tiếng Anh là Advent, do tiếng La Tinh Adventus có nghĩa là ‘việc (Chúa) đến’, và ngày xưa, tại Việt Nam, ông cha ta gọi là mùa Át-ven-tồ) còn chính ngày sinh nhật của Chúa thì gọi là Noel, (do tiếng La Tinh Natalis, có nghĩa là ‘sinh ra’). Qua tháng năm, thời gian của Mùa Vọng thay đổi nhiều lần. Vào năm 380, mùa này chỉ dài 8 ngày, nhưng đến giữa thế kỷ VI nó kéo dài 6 tuần, khởi sự từ ngày 11 tháng 11, lễ thánh Martinô, và mỗi tuần phải ăn chay 3 ngày. Cũng vì thế mà người ta gọi mùa này là ‘Mùa Chay nhỏ’ hay Mùa Chay thánh Martinô. Chính thánh Grêgôriô Cả (540-604) đã rút Mùa Vọng xuống còn 4 tuần, và chọn bài đọc cho các thánh lễ trong mùa này.

Khi nghi lễ La Mã được đưa vào nước Gaulle (Pháp) vào thế kỷ thứ IX, thì Mùa Chay của thánh Grêgôriô cũng đính kèm. Nhưng lễ này được nghi lễ Gallican làm cho phong phú thêm khi hướng đến việc ‘Chúa đến’ lần thứ hai. Vì thế, kể từ thế kỷ thứ X, phụng vụ của Mùa Vọng hướng về hai cực mà hiện nay chúng ta vẫn còn giữ:

- Chuẩn bị để mừng lễ Chúa Giáng Sinh.

- Chờ đợi ngày Chúa Kitô tái lâm trong vinh quang.

Nhìn lại bước đi lịch sử của Mùa Vọng, Maranatha_ 30 tập trung vào sự hoán cải và chia sẻ của từng người đế đón mừng ngày lễ Giáng Sinh, đồng thời hướng đến ngày Chúa tái lâm trong tâm hồn của mọi con người. Vì thế, hơn bao giờ hết, Mùa Vọng là mùa để thể hiện bằng hành động lời cầu nguyện của chúng ta: Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!

 

MARANATHA.

Maranatha_31 số đặc biệt Mừng Đại Lễ Giáng Sinh sẽ được phát hành vào ngày thứ ba 21 tháng 12. Kính mong quý độc giả, cộng tác viên gửi bài về cho số báo này với chủ đề: Giáng Sinh và Thánh Gia. Kính cám ơn.

Trở về mục lục >>


 

 

 MÙA VỌNG


CUỘC CÁCH MẠNG TÔN GIÁO CỦA ĐỨC GIÊSU

 

Giao Duyên

1.    Thắc mắc của Gioan Tẩy Giả

Gioan Tẩy Giả là người được Thiên Chúa kêu gọi làm một ngôn sứ, đồng thời làm vị Tiền Hô để dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến. Ông rất ý thức điều ấy, và đã hoàn thành nhiệm vụ ấy một cách hoàn hảo. Chính vì thế, ông đã bị ngồi tù do dám tố cáo những sai trái của chính quyền đương thời là vua Hêrốt. Tình trạng khó khăn và tuyệt vọng trong tù dễ làm người ta xuống tinh thần, vì thế, đức tin của Gioan vào Đức Giêsu phần nào bị thử thách.

Có thể lúc đó ông tự hỏi: Nếu Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế mà ông có sứ mạng tiền hô cho Ngài, thì tại sao ông lại phải ngồi tù thế này? Nếu Ngài là Đấng Cứu Thế, thì ắt hẳn Thiên Chúa phải để ông ở ngoài hầu hợp tác với Ngài thiết lập triều đại mới chứ! Ông sẽ phải là cánh tay mặt của Ngài chứ! Chắc chắn Gioan cũng quan niệm như mọi người Do Thái khác rằng Đấng Cứu Thế sẽ giải phóng dân Do Thái và sẽ trở thành một vị Hoàng Đế cai trị toàn cầu. Vì thế, khi Ngài đã bắt đầu ra mặt mà ông vẫn còn phải ngồi tù thế này thì quả là khó hiểu? Do đó, ông đã sai môn đệ của ông đến gặp Đức Giêsu để hỏi cho rõ. Và họ đã đến gặp Ngài.

2.    Những điều ứng nghiệm nơi Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế

Đức Giêsu đã không trả lời trực tiếp bằng cách xác định mình chính là Đấng Cứu Thế, nhưng trả lời gián tiếp bằng những dấu hiệu mà trước đó khoảng 700 năm ngôn sứ Isaia đã tiên báo về thời đại của Đấng Cứu Thế: «Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng» (xem Is 26,19; 29,18-19; 35,56a; 61,1). Đó là những điều mà Đức Giêsu đã dùng quyền năng của mình thực hiện trước mắt mọi người.

Thử đặt mình vào địa vị Gioan Tẩy giả và người Do Thái thời ấy xem, ta có thể tin được Ngài là Đấng Cứu Thế không, khi mà đầu óc ta cứ nghĩ rằng Ngài sẽ giải phóng đất nước Do Thái bằng binh hùng tướng mạnh, bằng chính trị và quân sự? Thế mà hiện tại trước mắt, Ngài chỉ là một thầy đạo không một tấc sắt trong tay! Làm sao tin được Ngài là Đấng ấy, nhất là khi thấy Ngài bị nộp và bị đem đi giết như một tội nhân?

Chính vì thế, ngay từ lúc này Ngài đã nói: «Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi» (Mt 11,6). Liệu câu nói ấy có ứng cho chính chúng ta khi Ngài trở lại không? Nếu Ngài trở lại theo một cách thức thật bất ngờ, không đúng như cách ta vẫn thường nghĩ, liệu ta có vấp ngã vì Ngài không? Vì nếu Ngài trở lại đúng theo cách ta thường nghĩ, thì lời Ngài tiên báo là sẽ đến «như kẻ trộm» đâu còn đúng nữa? Vậy, ta cần phải tỉnh táo khi Ngài đến để khỏi vấp ngã vì Ngài.

3.    Đức Giêsu đến để thực hiện một cuộc cách mạng tôn giáo

Tôi e rằng khi Ngài đến lần thứ hai, rất nhiều người sẽ vấp ngã và xúc phạm đến Ngài như lần Ngài đến trước, vì Ngài sẽ không đến theo như quan niệm của họ, nhất là về mặt tư tưởng và giáo thuyết. Lý do:

Nhân loại luôn luôn tiến hóa và đổi mới. Vì thế, các tôn giáo – vốn là phương tiện phục vụ con người, dẫn con người đến với Thiên Chúa – cũng phải thay đổi theo để phục vụ con người một cách phù hợp và hữu hiệu hơn. Hiện nay, nhân loại đã bước sang thời đại internet, toàn cầu hóa, với tinh thần khoa học thực nghiệm, kỹ thuật hết sức tân tiến. Về mặt chính trị, nhân loại không còn chấp nhận được những chế độ độc tài, bưng bít thông tin, tự do hà hiếp bóc lột dân chúng. Những quan niệm tôn giáo cũ có thể thích hợp với nhân loại cũ, thời đại cũ, với những quan niệm khoa học cũ. Nay nhân loại đã đổi mới, những quan niệm và thể chế tôn giáo không thay đổi để phù hợp sẽ bị đào thải. «Không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu mới sẽ làm nứt bầu, sẽ chảy ra và bầu cũng hư» (Lc 5,37). Đương nhiên trong tôn giáo có những điều cốt tủy không bao giờ thay đổi được. Vấn đề quan trọng là phân biệt cái nào có thể thay đổi và cái nào là cốt lõi không thể thay đổi được.

Tôn giáo và luật lệ của tôn giáo là một cái gì linh thiêng, thần thánh, được hiểu là do Thiên Chúa thiết lập, được vĩnh cửu hóa và tuyệt đối hóa bằng những lời chắc nịch trong Kinh Thánh (chẳng hạn: St 9,12; Xh 12,14; 32,13b; Đnl 29,28; 1 V 8,13; Tv 98,5; và vô số câu khác). Vậy thì con người nào ai dám thay đổi? Chỉ có những Đấng Thiên Sai như Đức Giêsu mới có thể làm chuyện ấy. Chính Đức Giêsu đã thực hiện một cuộc cách mạng vĩ đại về tôn giáo. Và cũng chính vì làm cuộc cách mạng ấy Ngài mới bị giết bởi tay các nhà lãnh đạo tôn giáo cũ. Thế là, như ta đã biết, vô số người đã vì Ngài mà vấp ngã!

4.    Cuộc cách mạng tôn giáo của Đức Giêsu

Tôn giáo Do Thái do Thiên Chúa thiết lập nhưng do Môsê hình thành. Những luật lệ do Môsê ban hành được coi là linh thánh và vĩnh cửu, vì được hiểu là luật của Thiên Chúa. Nhưng thật ra luật ấy chỉ phù hợp với trình độ văn hóa và tâm linh của dân Do Thái thời thượng cổ. Luật ấy được xây dựng trên sự sợ hãi của dân chúng. Tương tự như khi con người còn là một đứa trẻ, muốn nó sống tốt thì không thể chỉ dùng lời khuyên và trông chờ vào sự hiểu biết của nó mà được. Lời khuyên hay mệnh lệnh phải đi đôi với roi vọt. Đối với một đứa trẻ, chỉ cần nó sợ roi để làm theo những mệnh lệnh của người lớn là đã đạt yêu cầu, và chỉ cần như thế nó đã được coi là một đứa trẻ ngoan. Tôn giáo thời Cựu Ước ứng với phương pháp giáo dục dành cho trẻ con, không thể trông mong vào sự ý thức, hiểu biết, hay tình yêu của con người được. Tiêu chuẩn của sự công chính vào thời này là chỉ cần giữ luật cho đúng là được. Và người Pharisiêu thời Đức Giêsu chính là mẫu người được coi là trọn hảo của thời Cựu Ước. Không ai còn có thể giữ luật trọn vẹn hơn họ!

Nhưng từ Môsê đến Đức Giêsu, dân Do Thái đã trải qua khoảng 1250 năm, trình độ văn hóa và tâm linh của họ đã thay đổi. Họ đã thoát khỏi giai đoạn tạm gọi là «trẻ con» của họ để bước sang một giai đoạn trưởng thành hơn. Do đó, tôn giáo cũng phải thay đổi để thích hợp với trình độ mới của họ, và chính Đức Giêsu là người có sứ mạng thực hiện sự thay đổi ấy. Tôn giáo mới không còn được xây dựng trên sự sợ hãi nữa, mà xây dựng trên nền tảng tình yêu. Dân Do Thái hay nhân loại lúc này được so sánh với một con người đã bước vào tuổi thanh niên. Cha mẹ không còn giáo dục anh chàng theo kiểu roi vọt nữa, mà mong đợi nơi anh sự ý thức tự giác và tình yêu. Lúc này, nếu anh học hành hay làm việc chỉ vì sợ cha mẹ đánh đòn, thì anh không còn được coi là hay là tốt nữa, mà phải do một động lực khác thúc đẩy: chẳng hạn do biết tự lo lắng cho tương lai, do biết yêu thương và làm hài lòng cha mẹ, muốn làm nở mày nở mặt cho gia tộc. Vì thế, cách sống hay giữ đạo «vị luật» của người Pharisiêu không còn được Đức Giêsu coi là công chính nữa: «Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời» (Mt 5,20).

Những cuộc cách mạng vĩ đại về tôn giáo như Đức Giêsu đã từng thực hiện chắc chắn thời nào cũng bị những người đương thời chống đối vì chưa nhận ra sự hợp lý của nó. Họ còn chấp vào những hiểu biết cũ, quan niệm cũ, nguyên tắc cũ đã được nhập tâm từ nhỏ, và được coi là những chân lý bất di bất dịch. Họ cảm thấy cần bảo vệ những chân lý ấy. Chính vì thế rất nhiều người vấp phạm khi Ngài đưa ra những quan niệm mới, nguyên tắc mới.

Để nói lên sự ưu việt của thời «hậu cách mạng» do Đức Giêsu, Ngài đã đưa ra một thí dụ điển hình: «Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông». Gioan Tẩy Giả là mẫu người công chính của Cựu Ước, sự công chính của ông không thể sánh ngang với sự công chính của thời Tân Ước được. Thật vậy, về tinh thần và phong cách sống đạo, giữa Gioan Tẩy giả và Đức Giêsu, giữa các môn đệ của hai vị có sự khác biệt rõ rệt. Điển hình như: «Các môn đệ ông Gioan tiến lại hỏi Đức Giêsu rằng: "Tại sao chúng tôi và các người Pharisêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?”» (Mt 9,14; Mc 2,18).

Vậy, chúng ta hãy tỉnh táo để khi Đức Giêsu đến lần thứ hai, với những bất ngờ không dè trước được, chúng ta không vấp phạm vì Ngài: «Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi» (Mt 11,6)

Trở về mục lục >>

 

HÃY SỐNG THEO QUAN NIỆM MỚI CỦA ĐỨC GIÊSU

Nguyễn Chính Kết

1.    Điều nghi nan và thắc mắc của Gioan Tẩy giả

Khi đọc đoạn Tin Mừng Mt 11,2-11 một số nhà chú giải cho rằng khi bị thử thách trong tù, Gioan đâm ra thắc mắc: không biết Đức Giêsu có đích thực là Đấng Cứu Thế mà các ngôn sứ đã loan báo hay không. Ông thắc mắc vì nếu quả thật Ngài là Đấng Cứu Thế, thì tại sao người có sứ mạng chuẩn bị cho Ngài đến là ông lại phải ngồi tù? Lẽ ra ông phải ở ngoài để cộng tác với Ngài trong việc thành lập Nước Trời mới phải! Các môn đệ của ông chắc chắn cũng thắc mắc như thế. Vì thế, ông đã sai người đến trình bày thắc mắc ấy cho Đức Giêsu.

Để trả lời, Đức Giêsu đã dùng chính những dấu chỉ của ngôn sứ Isaia về thời Đấng Cứu Thế: «Sắp tới ngày báo phục, ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội (…) Bấy giờ mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được, kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò» (Is 35,46). Ngài bảo: «Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng» (Mt 11,4-6). Với những sự kiện xảy ra mắt thấy đúng như ngôn sứ Isaia mô tả, Gioan có thể xác định Đức Giêsu là ai. Tuy nhiên, có điều quan trọng mà Đức Giêsu muốn nhắn nhủ Gioan: «Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi» (Mt 11,6).

2.    «Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi»

Đức Giêsu được Thánh Kinh mô tả là «một hòn đá làm cho vấp, một tảng đá làm cho ngã» (Rm 9,33; 1Pr 2,8). Nhưng chính Ngài lại nói: «Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi» (Mt 11,6; Lc 7,23). Thánh Kinh cũng cho biết có rất nhiều người vấp ngã vì Ngài (x. Mt 15,12; 26,31; Mc 6,3; 14,27; Rm 9,32). Trong Thánh Kinh, «vấp ngã» có nghĩa là vì một cớ nào đó mà làm điều sai trái, không đúng, xúc phạm, hoặc không tin hay mất niềm tin vào Thiên Chúa, vào Đức Giêsu. Khi Gioan bị tù, ông bị thử thách về niềm tin đối với Đức Giêsu. Dù sao ông vẫn là con người, nên cũng có khuynh hướng suy nghĩ kiểu loài người. Thánh Thần đã cho ông biết một cách không minh nhiên – nghĩa là chỉ qua những dấu chỉ – rằng: Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, và ông có sứ mạng dọn đường cho Ngài. Ông đã tin điều đó. Nhưng khi ngồi tù một thời gian quá dài, ông đâm ra nghi ngờ niềm tin ấy. Vì nếu quả thật Ngài là Đấng Cứu Thế, thì ông đang phải là cánh tay mặt của Ngài, sát cánh bên Ngài để cùng Ngài hành động!

Nếu ông mất niềm tin đó, thì ông đã vấp phạm vì Ngài. Nhưng Đức Giêsu đã gián tiếp cho ông biết niềm tin của ông vào Ngài là chính xác. Nhờ đó, ông không mất niềm tin. Vì thế, Ngài khen ông: «Trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa có ai cao trọng hơn Gioan Tẩy giả» (Mt 11,11). Ông cao trọng vì cho đến lúc đó, ông là người đầu tiên được vinh hạnh góp phần trực tiếp vào sứ mạng cứu thế của Con Thiên Chúa, và ông đã hoàn thành sứ mạng của mình cách hoàn hảo. Tuy nhiên, ông vẫn là người của Cựu ước, não trạng của ông vẫn là não trạng của thời Cựu ước. Não trạng Cựu ước là: sự công chính được xây dựng trên việc giữ trọn lề luật, thực hành các nghi thức tôn giáo, và làm những điều tốt đẹp. Ông không có cơ hội hấp thu những giáo huấn mới cao cả của Đức Giêsu để có một não trạng mới: sự công chính được xây dựng trên tình yêu. Vì thế, sự công chính của ông không cao bằng sự công chính của những người sống đúng tinh thần Tân ước. Do đó, Ngài mới nói: «Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông» (Mt 11,11; xem thêm Mt 5,20).

3.    Tinh thần mới của Tân ước so với Cựu ước

Đức Giêsu đến để khai mạc Nước Trời tại trần gian, mà Gioan Tẩy Giả là người dọn đường. Nước Trời, xét về mặt xã hội, là một xã hội lý tưởng, trong đó mọi người đối xử với nhau bằng yêu thương đích thực. Nhờ đó, mọi người được hạnh phúc. Thật vậy, thế giới này, cũng như Giáo Hội mà Đức Giêsu lập ra, chỉ có thể hạnh phúc và trở thành Nước Trời khi mọi người biết yêu thương nhau. Hiện nay, thế giới cũng như Giáo Hội, có rất nhiều tiêu cực, đau thương, chính vì các thành viên không yêu thương nhau.

Đức Giêsu đến đem lại cho thế giới một tinh thần mới, một lề luật mới xây dựng trên yêu thương. Tiêu chuẩn mới của sự công chính là tình yêu, khác với tiêu chuẩn cũ trong Cựu ước. Thật vậy, Thánh Kinh cho biết «Người đã hủy bỏ Luật cũ gồm các điều răn và giới luật» (Ep 2,15) và lập ra luật mới cho kỷ nguyên mới: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau» (Ga 13,34). Đức Giêsu chính là tư tế mới thay cho các tư tế cũ của Cựu ước, mà «một khi chức tư tế thay đổi, thì nhất thiết phải thay đổi Lề Luật» (Dt 7,12). Dựa trên tinh thần mới của Tân ước, thánh Phaolô đã nói rất rõrất nhiều lần rằng chính đức tin mới làm cho con người nên công chính (x. Rm 1,17; 5,1; 9,30.32; Gl 3,8.11.24; Dt 11,7) chứ không phải việc giữ luật (Rm 3,2021.28; 4,13; 9,31; Gl 2,16.21; 3,11; 5,4), hay những việc làm tốt đẹp (x. Rm 4,56; 9,32; 11,6). Mà mục đích và tinh hoa của đức tin lại là đức ái, vì theo cũng thánh Phaolô, đức ái cao trọng hơn đức tin và đức cậy (x. 1Cr 13,13). Đức Giêsu cũng xác nhận tình yêu quan trọng hơn các lễ nghi tôn giáo: «Yêu mến Thiên Chúa (…) và yêu người thân cận (…) là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ» (Mc 12,33; x. Mt 5,23-24); «Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế» (Mt 9,13; 12,7). Tất cả những thứ tốt đẹp đó là biểu hiện tất nhiên phải có của tình yêu. Nhưng nếu chỉ có những biểu hiện ấy ở bên ngoài chứ không có cốt tủy bên trong là tình yêu, thì những biểu hiện ấy chỉ là giả dối, hoàn toàn vô giá trị trước Thiên Chúa.

4.    Chiều kích mới của sám hối

Vì thế, ta cần khám phá chiều kích mới của sám hối trong sứ điệp của Gioan. Sám hối không chỉ là nhận ra và sửa đổi những sai trái trong cách hành động, mà còn là sẵn sàng từ bỏ những quan niệm cũ, nề nếp cũ, để đón nhận những quan niệm mới cao cả hơn, đúng đắn hơn của Đức Giêsu, đồng thời sống phù hợp với quan niệm mới đó. Sở dĩ giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái vấp ngã vì Đức Giêsu, chính vì họ không chấp nhận được những quan niệm mới của Ngài, cho rằng Ngài là kẻ phá đạo và giết chết Ngài.

Điều đáng buồn cho thế giới hiện nay là Đức Giêsu đã đến những 2000 năm nay để đưa ra những quan niệm mới về sự công chính, thế mà rất nhiều Kitô hữu thời nay vẫn chưa hấp thụ được giáo huấn mới với quan niệm mới, lề luật mới của Ngài. Họ vẫn đặt rất nặng tiêu chuẩn công chính cũ của Cựu ước, mà coi rất nhẹ tiêu chuẩn công chính mới của Ngài là tình yêu thương. Sự giáng lâm của Đức Giêsu cách đây 2000 năm vẫn còn là vô ích, là dư thừa đối với họ. Và như thế, một cách nào đó họ đã vấp phạm vì Ngài. Đành rằng việc giữ luật lệ, thực hành các nghi thức tôn giáo, và làm những việc tốt lành vẫn cần thiết và ích lợi, nhưng đó không phải là điều cốt yếu của việc sống đạo. Đó chỉ là những phương tiện tốt và hữu hiệu để giúp ta thực hiện điều cốt yếu của đạo Chúa là yêu thương nhau mà thôi. Chúng chỉ là những biểu hiện tất yếu của tình yêu chứ không phải là tình yêu.

Ngay cả việc cầu nguyện, nếu việc cầu nguyện không đem lại hiệu quả là tăng trưởng tình yêu thương trong lòng ta – là mến Chúa yêu người hơn – thì chắc chắn việc cầu nguyện ấy không đẹp lòng Thiên Chúa. Muốn biết chúng ta có cầu nguyện đúng hay không, thì hãy nhìn vào hiệu quả của cầu nguyện. Nếu cầu nguyện đem lại cho ta sức mạnh, bình an, niềm vui và hứng khởi để có thể hy sinh cho Thiên Chúa và tha nhân nhiều hơn, thì chúng ta đã cầu nguyện đúng cách. Nếu không, chúng ta cần phải thay đổi cách cầu nguyện vì đã cầu nguyện không đẹp lòng Thiên Chúa. Rất nhiều khi chúng ta đã tỏ ra ích kỷ, thiếu tình thương, lấy «cái tôi» của mình là trung tâm khi cầu nguyện. Cầu nguyện như thế chỉ làm tăng tính ích kỷ của mình thôi! Có những câu Thánh Kinh cho biết Thiên Chúa chán ngán những buổi cầu nguyện, những nghi thức tôn giáo rỗng tuếch tình yêu của con người (x. Is 1,11-17; Am 5,21-24; Gr 14,11-12). Ấy thế mà biết bao Kitô hữu suốt đời cầu nguyện, dâng lễ theo kiểu ấy! Hoặc cố giữ luật, cố làm những việc lành phúc đức, không phải do tình yêu thúc đẩy, mà chỉ nhắm để được Thiên Chúa thưởng công, để được mọi người khen ngợi. Thiết tưởng để đón Chúa đến, chúng ta cần phải sám hối về cách sống đạo kiểu ấy!

Trở về mục lục >>

 

SUY NIỆM MÙA VỌNG

Phúc thay ngưỜi nào không vẤp ngã vì tôi.

Khổng Nhuận

Chúa nhật thứ Ba mùa Vọng, chúng ta lại được dịp suy niệm đoạn Kinh Thánh rất quen thuộc:

"Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng,và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi." (Mt 11:4-6)

Sự xuất hiện với lời giảng dạy và cách sống của Đức Giêsu đã khiến cho người Do-Thái vấp ngã.

Các tư tế vấp ngãcác ông cho rằng phải thờ phượng Chúa trong đền thờ Giêrusalem, hội đường hay tại ngã ba, ngã tư cho người ta thấy (Mt 6:5) và cầu nguyện lâu giờ (Mt 23:14); trong khi Đức Giêsu hô hào phải thờ phượng Chúa trong Thần Khí và sự thật. (Ga 4:23-24).

Các kinh sư cứ chiếu theo Kinh Thánh mà giảng dạy dân chúng như vẹt trong khi Đức Giêsu vớ đâu nói đấy, gần như phớt lờ Kinh Thánh cựu ước. "Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù.44 Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thùcầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. (Mt 5:43-44)

Đặc biệt là các luật sĩ, những người luôn thượng tôn luật pháp, bị vấp ngã nhiều nhất vì dường như Đức Giêsu cứ nhè ngày Sabat để chữa bệnh, hoặc làm một điều gì đó như: Hôm ấy, vào ngày sa-bát, Đức Giê-su đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ thấy đói và bắt đầu bứt lúa ăn. (Mt 12:1) Ngài còn tuyên bố thẳng thừng: "Ngày sa-bát được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sa-bát. Bởi đó, Con Người làm chủ luôn cả ngày sa-bát." (Mc 2:28)

Dân chúng, thậm chí nhiều môn đệ cũng vấp ngã vì Đức Giêsu. Người Do-thái liền xầm xì phản đối, nhiều môn đệ của Người liền nói: "Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi? "Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa.(Ga 6:41,60,66)

Thế còn chúng ta, những người Kitô hữu, chúng ta có vấp ngã không? Có lẽ chúng ta có đầy kinh nghiệm và mau mắn trả lời với vẻ rất tự tin : chỉ có quân Giu-rêu mới vấp ngã chứ, chúng tôi làm sao mà vấp ngã nổi. Họ đâu nhìn nhận Đức Giêsu là Chúa, còn chúng tôi biết Chúa Giêsu từ khuya rồi.

Nhưng ..nhìn lại cho kỹ, thì có khi tôi còn vấp ngã gấp mười lần. Mang tiếng là Kitô hữu nhưng tôi lại thực sự là một trong những tên Giu-rêu gộc qua những vấp ngã điển hình như sau:

Giống y như các tư tế, tôi phân chia rất rõ ràng: việc đạo: trong nhà thờ - việc đời: giữa phàm trần này. Sau thánh lễ thờ phượng Chúa, tôi liền bái bai Chúa ở lại, và ra về sống giữa đời, bon chen làm ăn, học hành, vui chơi.. y như người chưa hề biết Chúa, y như người chưa từng rước Chúa trong thánh lễ Chúa nhật Việc thờ phượng Chúa trong Thần Khí và sự thật chỉ để lộng kiếng, hù ma thiên hạ.

Tôi đọc Kinh Thánh như vẹt, nghe Lời Chúa từ tai này, lập tức bay sang tai kia. Lời Chúa không lưu lại và sinh hoa trái. Nhưng khi chia sẻ Lời Chúa thì phải biết! tôi nghiên cứu hết sách nọ tới sách kia, nói vanh vách những tư tưởng cao siêu của các nhà thần học nổi tiếng, khiến anh em cứ thưởng tôi xịn lắm, nhưng thực ra chỉ là thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng..(1Cr 13:1)

Y chang như các luật sĩ chính hiệu, tôi đánh giá người khác dựa vào những biểu hiện đạo đức bên ngoài. Hiện nay, tôi chỉ còn giữ 2 luật duy nhất: đi lễ Chúa nhật, xưng tội một năm ít là một lần. Như vậy là đủ để khỏi phải xuống hoả ngục. Còn chuyện sống đạo thực sự của một người Kitô hữu trong tâm tình người con yêu dấu của Chúa chỉ dành cho một số người kháctrừ tôi!

Giả sử có người phát biểu: ‘chúng ta hầu hết đều mù cả’ tôi lập tức phản ứng: "Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi? " thế là tôi gạt phăng sang một bên mà không cần biết tôi mù hay sáng - tất nhiên đây là mù loà tâm linh. Nếu tôi chưa cảm nhận được thờ phượng Chúa trong Thần Khí thì chắc chắn tôi mù thật rồi. Nếu tôi sáng, hẳn nhiên là tôi hiểu rất rõ và đã thực hiện việc thờ phượng Chúa trong Thần Khí mỗi ngày nhiều lần một cách thoải mái.

Tóm lại, Lời Chúa hôm nay nhắc nhở cho tôi biết tình trạng của tôi mù hay sáng? Tôi đang đứng vững hay vấp ngã liên tục trong cuộc sống đạo thường ngày của mình?

Trở về mục lục >>

Mùa VỌng - mùa trông đỢi ánh sáng

Lm. Nguyễn Ngọc Long

Mùa Vọng (La-tinh : Adventus) với người Công giáo là thời gian chuẩn bị đón mừng biến cố lớn: Chúa Giêsu giáng sinh làm người giữa con người. Mùa chờ đợi với niềm hy vọng một tương lai mới.

1. Nguồn gốc và ý nghĩa mùa Vọng.

Từ thế kỷ thứ 5 - bắt đầu có tập tục mùa Vọng chuẩn bị đón mừng mầu nhiệm Chúa Giêsu giáng sinh làm người, với ba tuần lễ. Trong thời gian này vai trò của Ðức Mẹ Maria được nhấn mạnh đề cao là mẹ Thiên Chúa.

Ðến thế kỷ thứ 6 - tập tục này được sửa đổi kéo dài thêm thành sáu tuần lễ và nhấn mạnh đến ngày phán xét sau cùng nhiều hơn.

Ðến thế kỷ thứ 16 - tập tục mùa Vọng chỉ còn bốn chúa nhật trước lễ Chúa giáng sinh được qui định chính thức trong Giáo hội công giáo và nhấn mạnh đến Chúa nhiều hơn: Người đến giữa con người và Người đến ngày tận thế.

Bốn ngày chúa nhật trước lễ Chúa giáng sinh muốn nói lên con số 4000 năm ngày xưa toàn dân Chúa mong đợi Ðấng cứu thế đến, theo cách tính của giáo hội công giáo.

2. Tập tục mùa Vọng.

Ánh sáng là dấu hiệu cho niềm hy vọng, đồng thời ánh sáng cũng là phưong cách chống trả ngăn cản bóng tối sự xấu lan tràn xâm chiếm cuộc sống tâm hồn và cả trong đời sống thường ngày vào những tháng mùa Ðông tối tăm lạnh lẽo.

Khắp nơi đèn điện được dựng chăng lên. Tập tục này ăn rễ sâu trong đời sống xã hội. Hầu như trong các Thánh đường, tại các tư gia và những nơi công cộng vào mùa Vọng người ta thường treo giữa nhà hay đặt nằm trên bàn, trên gíá cao một vòng tròn. Vòng này được tên là vòng tròn mùa Vọng.

Vòng tròn mùa Vọng là biểu hiệu cho tình yêu không cùng tận của Thiên Chúa. Một vòng tròn không có đầu và cũng không có điểm cuối cùng. Cũng vậy, tình yêu Thiên Chúa trải rộng bao la không có biên giới khắp cùng không gian địa lý, khắp cùng thời gian, lan tỏa đến tận mọi bờ cõi tâm hồn con người và ăn rễ sâu vào trong mọi hoàn cảnh cuộc sống xã hội.

Vòng tròn mùa Vọng cũng là dấu hiệu của đời sống chung trong cộng đoàn gia đình xã hội, cộng đoàn Giáo hội. Vòng tròn mùa Vọng được bện nối kết bởi nhiều cành nhánh lá cây thông liên kết vào nhau. Ðời sống chung trong cộng đoàn con người cũng vậy. Mỗi người là một thành phần nhân tố mang đến sức sống cùng sự triển nở cho cộng đoàn đang chung sống.

Những cành lá thông bện chung quanh vòng mùa Vọng có mầu sắc xanh tươi, một biểu hịêu của niềm hy vọng và sức sống đang vươn lên.

Chúa Giêsu đã có lần nói: Thầy là ánh sáng trần gian. Mùa Vọng là mùa mong đợi Chúa Giêsu đến. Chung quanh vòng mùa Vọng bốn cây nến được lần lượt thắp sáng lên biểu hiệu cho Chúa Giêsu là ánh sáng đến với trần gian.

Nến khi đốt thắp lên chiếu tỏa ánh sáng và hơi nóng ấm ra vùng không gian xung quanh. Chất sáp cây nến dần bị thiêu cháy và chảy tan ra thành chất lỏng. Ðây cũng là một hình ảnh nói về cuộc sống con người: Trong đời sống chúng ta hy sinh mang đến cho nhau ánh sáng và hơi nóng nồng ấm tình yêu thương liên đới, nhất là vào những hoàn cảnh cuộc sống gặp nhiều thử thách khó khăn lo âu sợ hãi, đe dọa sự sống còn.

Ðời sống con người cũng giống như một ngọn nến. Tùy theo khả năng cùng hoàn cảnh được Trời cao phú ban, mỗi người cũng chiếu tỏa đức tính và việc làm tốt giúp cho người khác, như cây nến chiếu tỏa ánh sáng soi đường chỉ lối trong đêm tối. Dù cường độ ánh sáng ngọn nến giới hạn nhỏ bé lu mờ.

Mùa Vọng - mùa chờ đợi. Chờ đợi ánh sáng tình yêu Thiên Chúa từ trời cao đến trần gian.

Mùa Vọng - mùa của thời gian yên lặng suy nghĩ về ngày mai: ngày Chúa đến và thời gian năm cũ sắp hết, năm mới đang tiến tới.

Mùa Vọng - mùa nhớ nghĩ đến những người xấu số bất hạnh trên khắp nẻo đường thế giới. Họ cần sự giúp đỡ cùng ánh sáng hơi ấm tình người

Trích Website Sống Đức Tin

Trở về mục lục >>

Chúa nhật thứ Ba Mùa Vọng này, ngọn nến mầu hồng được thắp lên với niềm vui và hy vọng cùng với hai ngọn nến màu tím của hai chúa nhật Mùa Vọng trước đó. Phụng vụ Lời Chúa, các bài hát, đáp ca tuần này hướng hẳn về lòng trông chờ Đấng Cứu Thế với niềm vui và hy vọng, và lời khẩn nài Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến! tha thiết hơn bao giờ... Là những tín hữu mang niềm hy vọng đợi chờ này…xin cùng được suy tư….

 

963. Giáo dân là người mến yêu sứ mạng trần thế của mình, là người thực hiện đời đời trong đời tạm.

  • Là người tin rằng Chúa giao cho mình trần gian và anh em, để đưa họ đến cứu rỗi vĩnh cửu.

  • Là người xác tín rằng Chúa ban sự cứu rỗi, nhưng Chúa đòi việc hợp tác của con người.

  • Biết hy vọng, bảo đảm hy vọng, mang lại hy vọng.

964. Người hy vọng là người cầu nguyện. Đối tượng của lời cầu nguyện cũng là đối tượng của niềm hy vọng. Người hy vọng là cộng tác viên của Thiên Chúa. Ngài tìm họ để hoàn tất việc tạo dựng và cứu chuộc của Ngài.

966. Có hạng "công giáo đợi chờ", khoanh tay mong đợi niềm hy vọng đến. Có hạng "công giáo    thụ động", "trốn tránh, vô trách nhiệm".  Họ chỉ biết "nhìn lên" để kêu cứu, mà không biết "nhìn tới" để tiến, "nhìn quanh" để chia sẻ, gánh vác. Niềm hy vọng đang ở giữa họ, mà họ không hay!

968. Con hoàn toàn sống trong hiện tại, nhưng con cũng hoàn toàn sống trong đời đời. Con chăm lo cứu rỗi anh em. Nhưng con không quên rằng với Chúa và vì Chúa, con hết sức tiến tới. Nhưng với tất cả ánh sáng từ trời cao, con dấn thân giữa trần thế. Nhưng với tình yêu thần linh, tất cả điều ấy có ý nghĩa gì, nếu con không mang niềm hy vọng lớn lao nhất trong quả tim con?

Trích ĐƯỜNG HY VỌNG

Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận.

Trở về mục lục >>

 

HỌC HỎI

Sáng Danh Thiên Chúa trên trỜi !

       Bình An xuỐng cho nhân trẦn (Luca 2:14) 

 Nguyễn Công Bình

Trong Mùa Giáng Sinh, chúng ta sẽ cùng hát chung với nhau bài hát của các thiên thần Vinh Danh Thiên Chúa, cùng là lời cầu nguyện của chúng ta xin Chúa ban an bình.  Tin tức chiến sự sôi động quá. Xin Chúa ban An Bình theo Tình Thương Yêu Của Chúa cho lòng ta, cho đời ta, gia đình ta cũng ban Hòa Bình của Chúa Kitô cho cả nhân loại.

Ðã 2000 năm, bài hát của các thiên thần nơi máng cỏ Belem được thánh Luca viết lại trong Lc 2:14. Theo chân thánh Jerome, qua bản phổ thông latinh Vulgata (thế kỷ 5) và theo chân Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô qua bản dịch mới của Mẹ Giáo Hội là Nova Vulgata (2000), chúng ta hát lên câu thứ nhất trong Kinh Vinh Danh rằng:

Doxa en uyistoiV Qew

Gloria in excelsis Deo,

Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời .

chúng ta thường hát lên  câu thứ hai rằng

Kai epi ghV  eirhnh en anqrwpoiV  eudokiaV

Et  in  terra  pax hominibus bonae voluntatis

AVà Bình An dưới thế cho người thiện tâm,

Song chúng ta cũng được nghe dịch rằng

B) Và Bình An dưới thế cho người Chúa thương

Và chúng ta cũng lại được nghe dịch rằng

C) Và  Bình an dưới thế  cho loài người Chúa thương.

Có một số anh chị tân tòng không khỏi không thắc mắc nên hát theo câu A, B hay C cho đúng.  Xin an tâm.  Mọi câu dịch đều hợp lý, tuy mang lại những khía cạnh khác nhau:

A. Người thiện tâm thì được ban Bình An

Câu dịch 1:

Doxa en uyistoiV Qew  (Phiên âm:) Doxa en hupsistois Theo

Splendor, glory in highest places to God

Vinh danh Thiên Chúa  trên các tầng trời,

 

Kai epi ghV eirhnh en anqrwpoiV eudokiaV

Kai epi ges eirene en anthropois eudokias

And on earth peace to men  of good thought

Et in terra Pax hominibus bonae voluntatis

Và bình an dưới thế cho người thiện tâm.

(Kinh Vinh Danh  Thánh Lễ tiếng Việt)

Có vị đọc là:

Bình an dưới thế cho người chính tâm

Tâm (chữ Hán) là cõi lòng, thiện là tốt, chính là ngay thẳng. Dịch nôm na theo tiếng Việt thì ta có thể hiểu rằng Chúa ban Bình An Chúa (Pax) cho người người (hominibus) tốt bụng, kẻ có lòng ngay, (bonae voluntatis). Hữu lý! Bình An Chúa chỉ xuống cho những người đã theo Chúa, đã giữ Lời Chúa để tạo cho mình ý chí ngay lành, thiện tâm.  Xin nghe câu dịch 2:

Let everyone give glory to The Most High God.

Those who are pleasing God will find peace on earth

(Gospel of Luke in basic English  www.geocities.com)

Có lẽ chúng ta đã lắm khi hãnh diện kể lể với Chúa rằng: Xin Chúa ban Bình An đi vì “Thưa Chúa chúng con đã theo Chúa, đã đến nhà thờ đọc kinh, dâng lễ … … chúng con đã thiện tâm rồi .” Ta không khỏi chột dạ mà nhận rõ ta đang tự hào cách hão huyền. Song tự kiểm điểm lương tâm chúng ta sẽ thấy mình chưa đủ  thiện tâm đúng như Chúa muốn để  đáng được hưởng bình an. Song nếu như thế thì bao giờ mới có được hòa bình đây?

Xin cho tôi ca ngợi Ðức Nữ Trinh Maria gương mẫu người ngay lành thánh thiện theo điều răn quan trọng nhất là sống yêu thương tha thứ. Ơn An Bình là của Chúa song ban qua tay Ðức Mẹ khi Mẹ sanh ra Hoàng Tử Hòa Bình. Chúng ta đã nhận Chúa vào lòng như xưa Mẹ mang thai Chúa song sơ sót trong việc yêu thương tha thứ chưa đủ làm cho Chúa hài lòng, đến nỗi Mẹ Maria đã phải đích thân hiện ra căn dặn tại Fatima rằng chúng ta sẽ được An Bình nếu cải đổi cõi lòng để sống cho đúng Lời Chúa. Chính chúng ta chưa mang Hòa Bình cho nhau qua hai bàn tay của chính chúng ta vì chúng ta chưa cải đổi theo lối sống mới, chưa đủ thiện tâm, chưa đủ làm cho Chúa hài lòng.

B. Bình An của Thiên Chúa được ban

chiếu theo lòng  thiện tâm  tình thương xót (favor),

ơn sủng của Thiên Chúa  cho kẻ thuộc về Ngài:

Trong những câu dịch trên, ta hiểu chữ Eudokia, bona voluntas  theo ý nghĩa thứ nhất là lòng thiện tâm, thiện chí (good will, desire to do good thing),

Song hai chữ này lại cũng mang ý nghĩa thứ hai là lòng tốt, lòng từ tâm,  ơn sủng,  giúp đỡ,  thấy đẹp lòng,  hay thấy hài lòng ( favor, affection, benevolence, sympathy, and support)

Các câu dịch kinh Vinh Danh sau đây (số 3 đến số 9) được đọc theo lòng Thương Xót, lòng từ tâm của Chúa từ trên  ban xuống cho chúng ta.  Chúng ta ngước lên cầu khẩn Chúa ban Bình An xuống trái đất, dù còn bất xứng.

Câu số 3 dịch theo từng chữ:

Kai epi ghV eirhnh en anqrwpoiV  eudokiaV

Kai epi ges eirene en anthropois eudokias

And on earth peace (of God’s) kindess- affection- benevolence to men .

Et in terra Pax hominibus – bonae voluntatis

Và Bình An theo lòng thương của Chúa  cho người người trên trái đất

hay

Và dưới đất bình an cho người người người  thuộc về lòng thiện tâm, lòng tốt bụng,

lòng yêu thương của Thiên Chúa. 

Chúa Giêsu luôn chúc "Bình An cho các con." mỗi lần Ngài hiện ra cho các môn đệ của Ngài.  Con người ganh tị thù hiềm, chẳng thể tạo được Bình An - ngay cho cả chính mình - Ơn này chỉ từ Trời Cao Ðấng uy quyền song đầy lòng từ tâm  thương xót ban xuống. Bình An ơn sủng, ân trạch, của Chúa. Tuy rằng văn cổ hiểu ngầm chChúa song theo kiểu nói Việt Nam, cần nói ra chBình An Của Chúa cho trọn vẹn

Câu số 4.  Glory to God in high heaven,

peace on earth to those on whom his favor rests

(The New American Bible)

 

Câu số 5.  Glory to God in the highest

and on earth peace to men on whom his favor rests.

(International Bible Society)

 

Câu số 6.  Vinh danh Thiên Chúa  trên trời cao thẳm

và dưới đất bình an cho kẻ Người thương.

(Tân Ước- Lm. Nguyễn Thế Thuấn, DCCT)

 

Câu số 7.  Glory to God in the highest

and on earth peace among men  with whom he is pleased.

(Revised Standard Version -American Bible Society)

 

Câu số 8.  Glory to God in the highest

And on earth Peace among people  with whom he is pleased!

(Net Bible)

 

Câu số 9.  Vinh danh Chúa Cả trên trời

Bình An dưới thế cho người Chúa thương .

(Bài hát kinh Vinh Danh  của Lm. Nguyễn Văn Trinh)

Chúa tạo ra chúng con - Chúng con thuộc về Chúa, xin An Bình của Lòng Thương của Chúa được thương ban dù chúng con chưa đủ lòng tốt đối với người khác. 

Câu số 10.  Glory to God in the highest

and peace to His People on earth

(Kinh Vinh Danh trong sách Thánh Lễ tại Hoa Kỳ)

Khi thiên thần truyền tin cho Thánh Giuse là  Chúa xuống để cứu "dân" của Ngài  khỏi  tội  lỗi. (Mt 1:21)  Bình An của Chúa  ban xuống cho những người thuộc về Chúa, được Chúa thấy hài lòng, đẹp lòng. Ðiều này không sai lầm vì không phải mọi người đều được Ơn Cứu Ðộ, mà chỉ những người  được Chúa thương mời gọi thuộc về đoàn chiên Chúa, làm Dân của Chúa dĩ nhiên với điều kiện là phải tin theo và trung thành với Chúa .

Xin cho tôi ca ngợi Ðức Nữ Trinh Maria. Khi Gabriel đọc kinh Kính Mừng để chào Ðức Mẹ thì nói rằng Ðức Mẹ là người được Chúa thấy hài lòng nhiều nhất - eures  gar carin para  tw Qew - you are but found for favor from/for the God (Lc 1:30). Ta theo thánh Jerome đọc là Ave Maria gratia plena (đầy ơn phúc)  theo nghĩa ấy.

Có thể các câu dịch này cũng dựa vào Matthêu 11:20 trong lời nguyện của Chúa Giêsu dâng lên Cha rằng Lậy Cha là Chúa Tể Trời Ðất, con ngợi khen Cha vì Cha đã dấu không cho người thông thái biết những điều này mà lại trình bày cho người bé mọn.  Vâng , Lậy Cha, vì đó là điều đẹp ý (eudokia ) của Cha. 

Thánh Luca cũng lập lại câu này và cũng dùng chữ eudokia trong Luca 10: 21. Xin cũng đọc Ephêsô 1: 5 và 9 để thấy thánh Phaolô cũng dùng chữ eudokia khi diễn tả lòng nhân ái, kế hoạch yêu thương của Chúa Cha ban Chúa Giêsu để mang ơn Cứu Ðộ . 

Song có thể các câu dịch này gây cho ta niềm kiêu hãnh lệch lạc tưởng rằng rửa tội rồi thì chỉ có chúng ta là của Chúa, thuộc về Chúa giới hạn ý nghĩa  cho rằng Bình An của Chúa chỉ xuống cho những người được Chúa thấy hài lòng.

Chúa đã thương yêu chúng ta, ban con Một của mình để cứu chuộc chúng ta song Chúa cũng muốn chúng ta mang tình  yêu thương nhận được từ Chúa cho tha nhân. Mặc dầu thật khó để chúng ta tạo được thiện tâm song Chúa là chủ tể lòng thương, lòng thiện tâm và chỉ có Chúa giúp chúng ta mới đạt đến lòng thiện tâm dù bất hoàn hảo . Ðó là ý nghĩa của giáng sinh

(còn tiếp)

Trở về mục lục >>

 

CHIA SẺ MÙA VỌNG

CON LỪA BÊN MÁNG CỎ

Trần Duy Nhiên

Tôi là con lừa đi từ Nazareth tới. Tôi đã chở cô chủ đáng kính trên lưng tôi. Đêm hôm ấy, khi không còn chỗ trong quán trọ, hai vợ chồng trẻ đã dẫn tôi về chuồng bò.

Điều bực mình đầu tiên là trong chuồng bò có một... con bò. Tôi, một con lừa, mà lại đi ở chung với một con bò à! Các bạn biết không: Nhìn cái tướng của đám bò là tôi đã thấy ghét cay ghét đắng: trên đầu đội hai cái sừng nhọn hoắc, miệng mồm thì lúc nào nước mũi nước miếng phều phào. Đấy là chưa kể tôi còn có mối hận riêng. Ông chủ cũ của tôi, trước khi bán tôi cho hai vợ chồng đáng quí này, đã từng rủa vào mặt tôi: “Con lừa này ngu như bò, bán quách cho xong.”

Đấy, thế đấy, vậy mà đêm nay tôi phải hạ mình ở chung với một con bò. Nhưng khi thấy người chủ của tôi kéo rơm ra làm chỗ nghỉ thì tôi chột dạ: Họ là những con người mà vẫn ở được với bò, vậy sao tôi lại không? Vì thế, tôi cũng tìm một góc để ngủ, và tránh xa con bò đang đưa cặp mắt ếch... xin lỗi... cặp mắt bò nhìn chúng tôi mà không một lời chào hỏi. Nếu không dằn lòng thì tôi đã mắng cho một câu: “Đồ ngu như bò.”

Nghĩ như thế, nhưng mệt quá tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Khuya hôm đó tôi chợt thức giấc một cách bất thường. Nhìn về phía máng cỏ thấy cô chủ của tôi mệt mỏi nhưng đang âu yếm nhìn chăm chú vào bên trong. Bên cạnh, con bò đang lúc lắc cặp sừng. Tôi vội chạy đến để bảo vệ chủ. Nhưng khi đến gần, tôi thấy một hài nhi nằm trong máng cỏ. Tôi không biết ai đã đem hài nhi xinh đẹp này đến, vì lúc đầu chỉ có hai người thôi mà. Nhưng mà thôi, suy nghĩ làm gì cho mệt đầu. Tôi vẫn âm thầm mang cái mặc cảm “ngu như bò.”

Thì ra con bò không có ý hại chủ tôi, nó lắc lư cặp sừng để xua đuổi mấy con ruồi đang quấy phá giấc ngủ của hài nhi. Tôi ngạc nhiên quá, chỉ biết đến nằm phủ phục bên máng cỏ mà không biết phải làm gì. Con bò lợi dụng tình thế đến bên cạnh tôi. Có bực mình không chứ? Nếu không sợ hài nhi thức giấc thì chắc tôi đã tỏ thái độ. Thế mà không biết thân, nó còn ra mặt dạy đời:

- Hài nhi sắp thức giấc, chúng ta không nên đến quá gần.

Tôi bực mình : - Chúng ta có phải là quái vật đâu?

- Nhưng mà mặt chúng ta không giống mặt cha mẹ hài nhi, hài nhi sẽ sợ đấy.

- Máng cỏ kìa, chuồng bò kìa, có giống mặt cha mẹ hài nhi đâu, nhưng hài nhi nào có sợ?”

Nó im lặng một lát rồi lẩm bẩm:

- Thật là đau đớn khi không thể đến gần một người mình thương, chỉ vì mình có cái tướng dữ dằn. Phải chú ý để khỏi gây thương tích ... Mặc dù, bạn biết đó, bản chất tôi không bao giờ muốn là hại ai, nhưng biết làm sao được, tôi đi đến đâu thì cũng phải mang theo cặp sừng.

Tôi bỗng thấy hơi tội nghiệp nó, nhưng không làm sao ngăn được lời mỉa mai:

- Đúng đấy! bạn không nên đến gần, cặp sừng của bạn sẽ đâm vào hài nhi đấy. Còn tôi, tôi sẽ ngoe nguẩy đôi tai, và hài nhi sẽ thích thú ... Vả lại, bạn có thể nhiểu nước miếng vào mặt hài nhi. À, tôi không hiểu tại sao khi bạn sung sướng, thì mồm của bạn lại trều trào nước miếng một cách ... thiếu vệ sinh như vậy?

Nó im lặng một lát rồi lẩm bẩm:

- Này hài nhi đáng kính, xin đừng xua đuổi tôi. Cậu hiểu cho rằng cặp sừng này chẳng qua là một hình thức trang trí. Tôi phải thưa với cậu rằng tôi chưa bao giờ sử dụng chúng. Cậu hãy cho tôi một tí ánh sáng để tôi biết mình phải làm gì. Bởi vì tôi sung sướng quá, bởi vì tôi mang ơn cậu nhiều quá. Làm sao tôi có thể tạ ơn cậu vì đã cho tôi ở gần cậu như thế này, đã được sống thân mật giữa các thiên thần và các vì sao.

Nghe nó nói, tôi hơi xúc động, nhưng để tỏ ra cứng đầu đúng với bản chất của mình, tôi rầy:

- Im đi, bạn làm gì mà rên rỉ vậy. Bạn không thấy là bạn đang phá giấc ngủ của hài nhi với những lời lải nhải của bạn sao?

Đáp lại, nó nói lên một câu thật dễ thương:

- Bạn có lý... Cần phải biết im lặng khi cần thiết, dù mình có thấy một hạnh phúc to lớn đến độ không biết phải cất dấu nơi đâu.

Ngày qua ngày, càng ở gần hài nhi, tôi lại thấy bò càng dễ mến. Nhất là những lúc bò đến cuốn hết ruồi muỗi để chịu chúng đốt thay cho hài nhi, nhờ vậy mà hài nhi được yên lành trong giấc ngủ. Tôi vẫn chưa nói được một lời nhẹ nhàng nào với bò, nhưng đã cảm thấy gần gũi hơn trước nhiều... Bỗng một đêm kia, chủ tôi thức giấc, gọi vợ mình và nói: “Hãy sang Ai-cập vì Hêrôđê muốn giết hài nhi.”

Trong khi ông đặt tấm khăn lên lưng tôi, thì bò đưa mắt nhìn ngơ ngác. Cô chủ dịu dàng đến nói với bò: “Thôi, bò ở lại nhé, cám ơn bò vì những ngày qua đã sưởi ấm hài nhi!” Bò không nói gì cả, chỉ lảo đảo quay đi nằm xuống một góc làm như đôi chân quá yếu không còn sức để chịu nổi thân mình... Khi tôi đưa mẹ con hài nhi ra đi, chủ tôi muốn nói gì với bò, nhưng bò đã ngủ. Không! bò không ngủ, tôi biết rằng bò còn thức. Trước khi quay đi, tôi đã thấy một giọt nước mắt tràn ra khỏi đôi mi khép kín của bò. Bò giả vờ ngủ để khỏi bịn rịn lúc chia tay!

Và suốt trên hành trình đi qua Ai-Cập, mặc dù tôi được vinh dự chuyên chở hài nhi, tôi vẫn không được hoàn toàn hạnh phúc vì tôi chưa nói cho bò hiểu rằng bò rất dễ mến. Vả lại, dù tôi muốn nói lên điều đó, tôi cũng không biết nói thế nào cho gãy gọn, vì tôi vốn dĩ ‘ngu như...lừa.’

Vì thế hôm nay, tôi muốn nhờ các bạn điều này: hôm nào đi thăm máng cỏ thì hãy nói với bò hộ tôi rằng:  “Ơn lớn nhất chúng tôi đã nhận được từ hài nhi là chúng tôi thương yêu nhau.”

Các bạn tin tôi đi. Các bạn hãy hết lòng đến với hài nhi, rồi các bạn cũng sẽ nói như tôi:  “Bò mới trông thì thế đấy... nhưng bên trong thì thật dễ thương

Trở về mục lục >>

LÒNG NHÂN ÁI – NÉT ĐẸP CỦA CUỘC SỐNG

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Con người ta càng chìm trong nỗi sợ của bạo lực, của bất công, của những tính toán phi đạo đức bao nhiêu, thì lòng nhân ái càng cần thiết cho cuộc sống của mỗi người, và của cộng đồng bấy nhiêu. Bài viết này được viết dưới dạng của một lá thư, để qua đó chuyển tải những ưu tư, những khắc khoải không chỉ của một cá nhân, nhưng có thể coi là của cả một lớp người muốn sống lương thiện. Không quá bi quan nhưng cũng không lạc quan quá, những chuyển tải của bài viết nhìn vào cuộc sống và cho thấy sự giằng co giữa thiện - ác. Cái ác hình như chiếm phần trội, như che lấp mất những gì mang lại giá trị của cuộc sống. Còn cái thiện lại như một dòng nước ấm trôi giữa đại dương mùa đông. Nhưng chỉ cần như thế thôi, cũng đủ để bạn và tôi có quyền hy vọng

Ngày... tháng... năm....

Em gái ạ,

Từ ngày anh em mình từ giã gia đình, sống xa nhau, xa mái ấm mà mấy chục năm qua đã chứng kiến không biết bao nhiêu kỷ niệm của một thuở bé thơ cả hai anh em cùng được ấp ủ trong vòng tay yêu thương của bố của mẹ, thì năm nào cũng vậy, cứ đến những ngày mùa đông, anh lại nhận được từ em một lá thư và một cánh thiệp với những lời nguyện chúc rất tốt đẹp, rất thánh thiện. Mỗi năm như thế, anh đều xem những nét chữ mà trong đó chứa đầy lòng yêu thương của một đứa em gái quí yêu, là lời nhắc nhở chính mình chuẩn bị tâm hồn sao cho xứng đáng để đón mừng mầu nhiệm Thiên Chúa làm người, đón mừng năm mới thật ý nghĩa. Mỗi mùa đông, nhận được thư của em, anh mừng đến nao nao tâm hồn. Mùa đông dẫu buốt giá nhưng lòng anh ấm áp lạ thường, bởi một ngọn lửa của tình ruột thịt, vượt không gian xa lắc, vẫn rực cháy lớn trong lòng của cả hai anh em. Mùa đông năm nay cũng vậy, em là người gửi thư, gửi thiệp cho anh sớm nhất, em gái ạ.

Có lẽ do tình cảm của hai anh em gắn bó như thế, ngoài ra còn được lớn lên trong một gia đình nề nếp, được hấp thụ một nền giáo dục bởi người cha, người mẹ thánh thiện, luôn luôn ý thức lòng nhân ái và dạy con phải coi lòng nhân ái lớn hơn tất cả, mà hai anh em mình có rất nhiều quan điểm giống nhau, nhất là giống nhau từ quan niệm về lẽ sống đến cách thức thực hành lòng nhân ái.

Nhưng em gái ạ, lần này em có bi quan quá không? Trong thư em viết rất nhiều về nỗi muộn phiền, bất bình về cuộc sống. Đã có lúc em căm giận, phẫn nộ: “Con người đối xử với nhau càng ngày dường như càng tệ bạc hơn, nham hiểm hơn.” Còn ở đoạn kết, em viết: “Có gì vui để mà vui hở anh. Xung quanh chúng ta, mỗi ngày, trong cuộc sống, biết bao nhiêu chuyện lừa lọc, chèn ép, cướp giật xảy ra. Bao nhiêu kẻ tham ô, thoái hóa, bao nhiêu kẻ bạo quyền, giàu tiền đã khéo làm ‘phép lạ’ đổi trắng thay đen, không thành có, có thành không; người vô tội bị kết án, còn người có tội chỉ cần có tiền, trở nên vô tội. Các giá trị tinh thần, những truyền thống, những lề thói tốt đẹp tích tụ biết mấy ngàn đời, có sức mạnh lớn lao để đào tạo nhân cách con người, bị hạ bệ xuống hàng thứ yếu, để đồng tiền lên ngôi, vật chất trở thành ông chủ. Biết bao nhiêu người trở thành chủ nhân ông của thời đại mới, nhờ bóc lột sức lao động của anh chị em công nhân. Họ làm giàu trên nhân phẩm, trên sức lao động cật lực của người công nhân, chẳng những không biết ơn mà còn trả lại cho anh chị em công nhân bằng sự đánh đập tàn nhẫn. Biết bao nhiêu kẻ chỉ lo hưởng thụ, ăn chơi, xài phí. Biết bao nhiêu kẻ giàu có, nắm quyền hành trong tay, nhưng đê hèn và tội lỗi cho đến mức, đêm ngày chỉ suy nghĩ để tìm cách, hay người ta còn gọi là ‘sáng tạo những kỹ thuật mới’, nhằm hưởng lạc thú trên thân xác kẻ khác, trong khi bao nhiêu kẻ lầm than, đói khổ.”

Anh hiểu em: “quả là cuộc sống vẫn còn đó, khắp nơi, đầy dẫy những nỗi nhức nhối, oan khuất, bất công, thê lương. Anh biết nói với em điều gì khi đó là sự thật. Nhưng, em gái ạ, còn một sự thật khác cũng diễn ra hằng ngày quanh ta, giống như mùa đông năm nào ở một vùng biển, nhìn mặt sóng dâng cao cuồng nộ, em đã nói rằng trong lòng biển luôn luôn có một dòng nước ấm lành trong. Cũng vậy, dòng nước ấm lành trong đó, trong cuộc sống hỗn tạp này, vẫn chảy mãi, không cạn: Đó là điều thiện, lòng nhân ái, lòng tốt.”

Hãy nghĩ lại đi em. Hãy đặt niềm tin vào cuộc sống, vì dẫu cho đâu đó còn băng giá, thì cuộc sống vẫn còn nắng ấm của mùa xuân. Chắc em biết rõ, hầu như năm nào đồng bằng sông Cửu Long cũng bị lũ lụt, dẫu có những cá nhân, những tập thể bỏ tiền ủng hộ anh chị em sống ở đồng bằng sông Cửu Long, mà họ rêu rao là ‘cứu đói’, ‘cứu nghèo’, chỉ là một cách khoe khoang sự giàu có hoặc để quảng cáo những sản phẩm của một xí nghiệp, một công ty nào đó, nhằm lợi dụng sự bất hạnh của người khác, mà quay ngược lại làm giàu cho chính mình, thì trong dòng người đang làm việc ‘bố thí’ ấy, có biết bao nhiêu tấm lòng thực sự nhân ái hướng về đồng bằng sông Cửu Long trong tình nghĩa đồng bào tha thiết, trong đó có rất nhiều tấm gương của những người con gái đáng quí, đáng yêu, đáng trân trọng như em.

Vài năm trước, khi nghe tin Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế của thành phố Hồ Chí Minh cháy, đốt thành than quá nhiều người đang làm việc ở đó, đã làm cho hàng ngàn tấm lòng xốn xang, hàng ngàn con mắt phải ứa lệ ngậm ngùi đấy em à!

Lòng nhân ái lạ lùng đến mức chính anh cũng không thể nào hiểu hết: Ở một trường Cao đẳng nọ, khi được tin nhà của một anh sinh viên bị cháy, thì trong vài giờ đồng hồ sau, các bạn sinh viên cùng trường đã trích những đồng tiền sinh viên còm cõi của mình để tặng anh. Số tiền lớn đến nỗi không ai ngờ, và anh sinh viên đã bật khóc như một trẻ thơ. Nhìn cảnh tượng đó mà lòng anh cứ rung lên, rung lên...

Và trong cuộc sống vẫn còn vô số những hình ảnh cảm động làm lòng ta phải rung lên như thế: Nó có thể là sự hy sinh cao vời vợi cho một người thân, cho một tình bạn. Chắc em còn nhớ cô bé Như Ngọc, ở trong xóm nhà mình đó, là một nữ sinh lớp 12, vẫn hằng ngày hy sinh chở cô bạn Diệu Thu bị bại liệt cả hai chân đến trường. Và sau mỗi buổi tan học lại chở bạn về. Tính cho đến nay, Như Ngọc đã kiên trì không mệt mỏi làm điều đó giúp đỡ bạn gần 10 năm kể từ ngày Như Ngọc biết lái xe đạp. Lòng nhân ái của Ngọc sáng lấp lánh như tên của em: NHƯ NGỌC.

Một hình ảnh khác, rõ ràng nhất diễn ra hằng ngày xung quanh ta, đó là cảnh ăn xin. Có thể họ là những em bé mồ côi, nghèo rách thật; những cụ già neo đơn thật, những người bệnh tật, què quặt thật, những người cơ nhỡ thật, nhưng cũng có những người lừa lọc, lười biếng, gian dối, lợi dụng lòng tốt của mọi người, xem việc đi xin ăn như một nghề nghiệp để khỏi vất vả, khỏi phải làm lụng. Theo thống kê của báo Công An thành phố Hồ Chí Minh, cách đây gần 14 năm, vào năm 1991, chỉ tính riêng thành phố, đã có khoảng 6.000 người ăn xin. Nếu ngồi nhẩm tính trên cả nước, ta sẽ phải rùng mình vì con số quá lớn.  Thế nhưng tất cả họ, dù thật hay giả, đều có thể sống được là nhờ đâu, nếu không phải là lòng nhân ái của mọi người.

Vậy đó, lòng nhân ái không chết đâu em. Nó là sức mạnh diệu kỳ để tạo thêm hương, góp thêm sắc cho đời. Nó cũng là sức mạnh diệu kỳ để nhân loại cậy dựa vào nhau mà sống, mà tồn tại. Anh tin rằng một con người dù bậm trợn đến đâu đi nữa, thì thẳm sâu trong đáy lòng của họ, lòng nhân ái và bản tính con người vẫn còn tiềm ẩn, nếu gặp môi trường thuận lợi, nó sẽ bùng lên.”

Lòng nhân ái, dòng nước ấm âm thầm chảy trong sóng biển lạnh của cuộc đời.

Anh muốn nhắc lại với em một lần nữa và muốn nhắc rất nhiều lần rằng: Lòng nhân ái, điều có thật, là dòng nước ấm lành trong đã, đang và sẽ chảy mãi, chảy mãi đó em

Trở về mục lục >>

 

YÊU THƯƠNG VÀ CHIA SẺ

Phanxicô Xaviê Trần

Đối với Kitô hữu, Mùa Vọng là một mùa linh thiêng, nhưng đối với xã hội Tây Âu, đây là mùa sắm quà và tặng quà, và đối với Việt Nam là mùa đám cưới. Tôi bỗng nhớ lại món ‘quà cưới’ tuyệt vời mà Thiên Chúa đã trao để ‘kết duyên’ cùng nhân loại, ấy là Chúa Giêsu, người Con chí ái của Người. Và rồi, tình yêu chia sẻ ấy được nhắc đến trong Mùa Vọng, để cho con cái Chúa cũng biết yêu thương và chia sẻ như Người. Trong thế giới mà người ta nói quá nhiều đến quyền lợi, một cử chỉ chia sẻ luôn làm cho ta cảm nhận một cách cụ thể tình yêu muôn đời trao ban của Thiên Chúa Giáng Trần.

Cách đây một tuần, một cặp vợ chồng ở San Jose gửi về Việt Nam cho tôi một số tiền kèm với những lời sau:

“... Trong dịp chờ đón ngày ghi nhớ Mầu Nhiệm Yêu Thương, Niềm Vui ơn Cứu Độ, tụi em xin được chia sẻ cùng thầy một chút quà nhỏ bé nhưng gói trọn lòng biết ơn và yêu thương... Em gửi về cho thầy (số tiền này để) kính tặng những Tông Đồ vô danh, ‘Những Matthia trầm mình trong lòng nhân thế’ mà em được nghe thầy chia sẻ, trong đó có cha X.., cha Y.. (tôi xóa tên các linh mục), các soeurs âm thầm một đời hiến thân, phục vụ cho người nghèo, người bệnh tật, người đau khổ... Những chứng nhân sống động của Chúa Kitô!”

Sau khi tôi trao lại cho cha X.. một phần số tiền ấy, cha đã cám ơn hai vợ chồng. Nhận thư cám ơn, họ trả lời cha, và forward cho tôi.

“.... Christmas năm nay, chúng con không mua sắm quà tặng, vì chúng con muốn dùng những món quà ấy để trao gửi đến những người âm thầm gánh mang trách nhiệm thay cho chúng con. Một chút chia sẻ nhưng gói gọn lòng biết ơn và yêu thương, cha... nhé!”

Chia sẻ là mất mát, chia sẻ là hy sinh; nhưng đã là người em của Chúa Kitô, người Con của Chúa Cha, thì họ chấp nhận mất mát hy sinh để mà chia sẻ. Vì họ hiểu rằng cách đón nhận niềm vui dồi dào nhất là chia sẻ niềm vui của mình trong sự hy sinh. Và họ không phải là những người duy nhất.

Tôi nhớ lại vào khoảng năm 2000, một cặp vợ chồng trẻ người Pháp, tên là Damien và Emma Breuillot, ‘hưởng’ tuần trăng mật bằng cách đi xe đò từ Bắc vào Nam, và cư ngụ ở những khách sạn rẻ tiền. Khi đến Sàigon, họ tặng cho một Trung Tâm nuôi dạy Trẻ Em Đường Phố một số tiền là 10,000 Francs. Tôi hỏi họ: Anh chị trẻ quá thì tiền đâu mà tặng một số lớn như thế, ngay sau khi thành hôn?”. Họ trả lời: Khi chúng tôi sắp làm đám cưới, chúng tôi nghĩ đến những người bất hạnh đang sống khổ sở trong lúc mình tràn đầy hạnh phúc. Thế là chúng tôi muốn chia sẻ một phần hạnh phúc ấy cho họ. Khi gửi thiệp mời thân hữu dự tiệc, chúng tôi xin họ đừng mua quà cưới mà gửi tiền mặt cho chúng tôi, vì toàn bộ quà tặng của họ sẽ được chúng tôi trao lại cho những người bất hạnh ở Việt Nam. Sau đám cưới, chúng tôi tổng kết gần 20,000 Francs tiền tặng. Chúng tôi sang Việt Nam để chia 10,000 Francs cho một Nhà Nuôi Trẻ Khiếm Thị tại Hà Nội, và 10,000 cho Trung Tâm Saigon này.

Chúng tôi muốn chia sẻ một phần hạnh phúc cho họ. Sự chia sẻ hạnh phúc này, không chỉ xảy ra ở Mỹ, ở Pháp, mà cũng còn xảy ra tại Việt Nam. Cách đây mấy năm, hai anh chị sắp kết hôn đến gặp cha Tiến Lộc để xin tổ chức một ngày đám cưới cho thật ý nghĩa. Họ bảo: Chúng con muốn đám cưới của chúng con sẽ là một kỷ niệm của những người chia sẻ với nhau một Tình Yêu xuất phát từ Thiên Chúa! Như thế, chúng con nên tổ chức đám cưới của mình ở đâu?”. Cha hỏi nửa đùa nửa thật: Anh chị thực sự muốn chia sẻ theo gương Chúa à? Trong phúc âm, Chúa nói: ‘Khi anh em đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, anh em mới thật có phúc’ (Lc 14, 13-14). Anh chị có dám làm như thế không?” Vài ngày sau, hai anh chị đến gặp cha Tiến Lộc và trình: “Thưa cha, chúng con đã suy nghĩ kỹ. Xin cha giúp chúng con làm lễ cưới tại trại phong Thanh Bình. (Trại Thanh Bình là trại của những người phong đã lành bệnh, nhưng bị xã hội xa lánh vì vẫn mang những dấu vết của bệnh phong trên thân thể của mình). Sau thánh lễ, chúng con sẽ làm tiệc cưới tại đấy, và khách mời của chúng con, ngoài những thành viên hai gia đình, thì chỉ là những người bạn rất thân cùng với các gia đình trong trại ấy.” Tiệc cưới của anh chị đã diễn ra đúng như dự kiến. Bữa tiệc thật đạm bạc so với các tiệc cưới ở Sàigòn, nhưng niềm vui chia sẻ của anh chị chắc chắn sẽ là một dấu ấn cho suốt cuộc sống hôn nhân của mình.

Mùa Vọng cũng là mùa sắm quà và mùa đám cưới. Mong sao Mùa Vọng cũng là mùa mà Kitô hữu biết nghĩ đến những người bất hạnh đang sống khổ sở trong lúc mình tràn đầy hạnh phúc’, để rồi chia sẻ với anh chị em mình như một quà tặng dâng lên Chúa Hài Đồng:  Lạy Chúa, một chút quà nhỏ bé nhưng gói trọn lòng biết ơn và yêu thương...”

Trở về mục lục >>

 

 TÂM TÌNH BẠN ĐỌC

LTS: Trong tuần qua, Maranatha đã nhận được điện thư xin đổi địa chỉ email, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của quý độc giả: Nguyễn Thiện Bản, Mrgs. Phạm Xuân Thắng, Francis Khúc, Lm. Anthony Quang SVD, An Trần, Luật Sư Nguyễn Công Bình, J. Sinh, Joseph Minh Dương, Lm. Peter Hà Ngọc Đoài, Khổng Nhuận, J. Sinh, Ca đoàn MariaCecilia, Nguyễn Duy Sinh, Sr. Mary Hồng Quế, Phùng Ngọc Thanh, Dr. Phạm Hùng Sơn và Nhóm Anh Em Cựu Chủng Sinh Kontum, Lm. Nguyễn Văn Mến.

1. Fonts chữ: Maranatha hiện đang sử dụng font Times New Roman (Unicode) để viết và nhận bài. Nếu quý vị sử dụng Windows trước 98SE, xin install font Unicode này vào máy. Viết bài cho Maranatha xin quý vị cũng sử dụng font này.

2. Báo cũ: Đối với những độc giả nhận báo lần đầu tiên hoặc độc giả nào còn thiếu một vài số báo cũ, xin quý vị vui lòng vào hai trang websites http://maranatha-vn.net hoặc http://tiengnoigiaodan.net để download những số báo mình cần. Hiện nay, các số báo từ 1 đến 29 đã được lưu trên hai websites trên. Nếu vì lý do trục trặc kỹ thuật, xin liên lạc về địa chỉ: maranatha@saintly.com

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích    lệ của Quý độc giả dành cho Maranatha.

Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

Trân trọng,  

MARANATHA

Trở về mục lục >>

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một số thư độc giả trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

  •      Maranatha ơi, Trong tiết mục Chia Sẻ Giáng Sinh qua bài Người Con Gái Chủ Quán tôi thấy thích hợp và hữu ích cho các em Thiếu Nhi Thánh Thể. Xin phép Maranatha cho chúng tôi được đăng bài này trong Nguyệt San Hướng Tâm Lên mùa Noel này…Xin Chúa chúc lành cho mọi thành viên Maranatha. Pax Christi! Msgr. Phạm Xuân Thắng.

  •      Chân thành cám ơn quí báo gửi tuần báo điện tử cho tôi. Lm Hà Ngọc Đoài Canberra mong muốn nhận báo của quí vị, nên xin gửi cho ngài email là...Chân thành cám ơn quí cha và toà soạn. Chân thành, Anthony Quang, sbd.

  •     Xin cám ơn toà soạn đã gửi báo cho tôi. Đây thật là một quà tặng quí giá cho tôi. Bài vở phong phú, dễ hiểu (không nặng văn chương thần học). Tôi rất thích đọc và có in ra giấy phân phát cho người thân quen. Hy vọng và cầu chúc quí vị vẫn có thể tiếp tục công việc tông đồ mãi mãi. An Trần 

  •      Thườngxuyên tôi nhận được tuần báo Maranatha. Tôi xin có lời cám ơn rất nhiều, vì có nhiều điều hữu ích cho người đọc. Vì lý do bị virus với email hiện nay, xin quí vị vui lòng gởi Maranatha cho tôi theo địa chỉ mới. Xin thành thật cám ơn và chúc quí vị một mùa Vọng thánh thiện. J. Sinh.

  •      Kính ban chủ trương và biên tập tuần báo MARANATHA, Tôi xin được gửi quí báo bản nhạc “Xin Ngài Giáng Sinh Trong Tim Con” như một lời cầu chúc Giáng Sinh và cũng như một lời cám ơn đến quí báo đã dọn những món ăn thật mới lạ và bồi dưỡng mà lâu nay tôi rất thích. Xin Chúa chúc lành cho công việc tốt lành của quí báo. Nguyễn Thiện Bản.

  •      Thưa BBT Maranatha: Vô cùng cám ơn khi nhận Maranatha đều đặn và cũng có dịp trao đổi cho một số thân hữu hay quý tu sĩ để chia sẻ. Có thể BBT không biết được tại một thánh đường nhỏ trong giờ lễ dành cho những người xa quê hương có linh mục VN làm linh hướng đã thỉnh thoảng trích những bài ngắn gọn theo chủ đề của ngày lễ và đăng trong tờ Bulletin của xứ đạo để sau lễ chuyển đến tay bà con. Đây là một việc làm rất tốt đẹp vì chỉ khi về nhà, ngồi trên xe mới có dịp lật ra đọc tin sinh hoạt của giáo xứ và cũng là lúc đọc chút bài của Maranatha. Sự kiện này sẽ luôn được khuyến khích và hoan nghênh nếu từ nay Maranatha đổi mới một chút: Bài chia sẻ ý nghĩa của một chủ đề không quá dài, nghĩa là khoảng một trang. Không phải họ lười đọc, bài hay thì dài bao nhiêu cũng đọc, nhưng: Vừa đủ để lay out cho tờ Bulletin của giáo xứ vỏn vẹn có 4 pages, vừa gọn gàng và để ai cũng đọc được, xem như một bài giảng nho nhỏ nhưng thú vị của...nhà thờ. Đây chỉ là một ý kiến nhỏ, xin tùy nghi và tôi chính là người chuyển những đoạn văn chia sẻ của Maranatha cho một số giáo xứ nhỏ có người VN để họ cùng được đọc. Không phải dễ dàng quý BBT thực hiện được một trang báo định kỳ lợi ích như thế đâu! Xin chúc mừng! With best of Love, Francis Khúc.

  •     Xin chân thành cám ơn Báo Maranatha rất nhiều. Mỗi tờ báo là chất liệu cho đời sống tinh thần của tôi nên thiếu vắng một tờ tôi cảm thấy rất tiếc. Nguyện xin Chúa ban muôn phúc lành cho Quý Vị đã góp công sức cho tờ báo được phát hành đều đặn Sr. Mary Hồng Quế.

  •      Kính thưa Vị Giám Đốc Báo MARANATHA, Cám ơn Ông, theo lời yêu cầu của Cha A. Quang, đã gửi Báo Maranatha qua Internet cho tôi. Tôi vừa đi xa về vào đọc Maranatha. Tôi rất kính phục công trình soạn thảo, khen ngợi ý lực sâu xa của các bài. Xin cầu chúc Quý Ban Biên Tập, Quý Tu Sĩ Nam Nữ trong Maranatha muôn phúc lành của Chúa và Đức Mẹ để làm việc cho nước trời và lợi ích cho các tâm hồn. Thân mến, Rev. Peter Hà Ngọc Đoài.

Trở về mục lục >>

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn