Số 31, Ngày 21-12-2005

 

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Lễ Giáng Sinh Là Một Mầu Nhiệm Hay Một Kỷ Niệm - Lm. Đỗ Xuân Quế, OP

MARANATHA! Chúa Đã Đến Rồi - Khổng Nhuận

Nhập Thể - Quà Tặng Vô Giá - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Đêm Giáng Sinh Grêxiô - Lm. Nguyễn Hải Minh, OFM

Giữ Lời Hứa Với Chúa Hài Đồng - Radio Veritas

Những Người Đạo Sĩ - Trần Duy Nhiên

Con Lừa Trên Đường Sang Ai Cập - Lê Vân Bích

Sáng Danh Thiên Chúa Trên Trời -Bình An Xuống Cho Nhân Trần - Nguyễn Công Bình

Nguyện Xin - Thơ- Diễm Chi

Xin Ngài Giáng Sinh Trong Tim Con - Nguyễn Thiện Bản

Thánh Gia Thất - Maranatha

Tâm Tình Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Text Box:  

Text Box:  

Thư Tòa Soạn

 

         Kính thưa quý độc giả

Đêm nay Noel về... Nơi nơi vang lên tiếng hát hân hoan: “Ngài đến lòng chúng nhân reo hò vui mừng...” Rồi chúng ta nhớ lại năm xưa, khi Ngài sinh ra, các tầng trời cũng đã vui mừng reo hò. Thế nhưng đau đớn thay, giữa lòng dân tộc Ngài, thì chẳng có gì xảy ra cả. Ngài đến, thế mà lòng chúng nhân chẳng vui chẳng mừng mảy may, trái lại là đàng khác. Bởi thế nên thánh Gioan đã viết: “Ngài đến trong nhà Ngài, nhưng gia nhân đã không tiếp nhận Ngài.

Vì sao như vậy? Những trang Phúc Âm về Giáng sinh đã nói đến ít nhất ba loại người đã khước từ Ngài: (1) Người chủ quán trọ, (2) Hêrôđê và (3) các thượng tế đến chỉ đường cho các đạo sĩ về Bêlem thờ lạy Hài Nhi, mà chính họ không buồn đến Bêlem để nhìn xem.

Người chủ quán khước từ Ngài, vì nghĩ đến lợi nhuận của mình nhiều hơn là nhìn thấy nhu cầu của một đôi vợ chồng nghèo khổ. Hêrôđê khước từ Ngài, vì ông sợ rằng sự xuất hiện của Đấng Mêsia sẽ đe dọa cho địa vị làm vua của mình. Thầy thượng tế khước từ Ngài, vì tự mãn với kiến thức Kinh Thánh của mình đến độ không còn thấy cần phải đi tìm kiếm Chúa.

Vào thế kỷ 13, Kitô hữu - nghĩa là những gia nhân, những người nhà - cũng bắt đầu khước từ Ngài, bằng cách chạy theo bạc tiền, bỏ quên Lời Chúa, và củng cố quyền lực. Thế rồi một người nhà khác đã dựng lên một chuồng bò với máng cỏ để cho mọi người nhìn thấy cảnh Thiên Chúa đến trong khó nghèo: Thầy Phanxicô Assisi đã làm máng cỏ đầu tiên tại Grêxiô, để cho mọi người biết nhìn lại Thiên Chúa trong những anh em khó nghèo nhất của mình.

Hôm nay Noel về... Thế nhưng có thể cũng chẳng có gì xảy ra cho người nhà, bởi vì họ cũng đã khước từ Ngài. Nhưng người nhà ngày hôm nay, lại chính là chúng ta đó. Chúng ta có thể là một chủ quán, một Hêrôđê hay một thầy thượng tế trong thế kỷ 21 này, và do đó sẽ bắt hụt niềm vui Giáng Sinh. Chúng ta có thể noi gương thầy Phanxicô dựng những máng cỏ, rồi trang hoàng lộng lẫy với những ngọn đèn muôn màu chiếu soi cho một Hài Nhi xinh đẹp; chúng ta có thể biến một máng cỏ trở thành cung điện để rồi không còn nhìn ra Hài Nhi đang Giáng Sinh trở lại trong hình hài của một em bé nghèo nàn, ốm yếu, bệnh tật.

        May thay, chúng ta vẫn còn cơ hội để đón nhận Ngài, bởi vì Giáng Sinh mãi mãi sẽ là một mầu nhiệm, và Mầu Nhiệm Nhập Thể là một quà tặng vô giá. Một quà tặng mà chúng ta chỉ hưởng được trọn vẹn, khi biết chia sẻ với những anh em nghèo khó của mình, nghèo khó vật chất cũng như nghèo khó tinh thần. Maranatha_31, số đặc biệt Giáng Sinh, sẽ đào sâu những tâm tình ấy.

Mong sao qua những bài này, quý độc giả cũng biến lòng mình thành một máng cỏ để đón Thiên Chúa Giáng Trần, và sẽ reo hò vui mừng với niềm vui của những gia nhân biết đón nhận chủ mình: Và những ai đón nhận Ngài, thì Ngài ban quyền phép trở thành con Thiên Chúa.

Maranatha luôn là một lời cầu xin: lạy Chúa, xin ngự đến! Mong sao mùa Giáng Sinh này sẽ mang một ý nghĩa mới, được hô to trong tiếng reo vui: Maranatha, Chúa Đã Đến Rồi!

MARANATHA

 

MARANATHA: CHÚA ĐẾN!

NGUYỆN XIN HÀI NHI THIÊN CHÚA

TUÔN ĐỔ TRÀN ĐẦY ÂN SỦNG, BÌNH AN

VÀ NIỀM VUI ĐÍCH THỰC CỦA NGÀI

XUỐNG TRÊN TẤT CẢ QUÝ VỊ

CỘNG TÁC VIÊN VÀ ĐỘC GIẢ

CỦA MARANATHA. 

                         

  • MARANATHAChân thành cám ơn Quý Linh Mục, Tu Sĩ, Cộng Tác Viên, Quý Độc Giả đã gửi Thiệp Điện Tử và những lời chúc tốt lành nhân dịp Lễ Chúa Giáng Sinh và Năm Mới 2005.

  • Maranatha chân thành cám ơn các tác giả và quý vị đã gửi bài đóng góp. Vì là số đặc biệt cho chủ đề Giáng Sinh và trang báo giới hạn, những bài chưa thể đăng tuần này sẽ lần lượt đăng vào các số tới. Kính mong sự thông cảm của tất cả quý vị.

  • Cũng xin kính báo đến quý độc giả: MARANATHA số 32 sẽ được phát hành vào tuần lễ đầu của tháng 01 năm 2005.

         Trân trọng,

 

  MỪNG CHÚA GIÁNG SINH

LỄ GIÁNG SINH LÀ MỘT MẦU NHIỆM HAY MỘT KỶ NIỆM

Lm. An-rê Đỗ Xuân Quế, OP

Phải nói ngay rằng lễ Giáng sinh là một kỷ niệm và là một mầu nhiệm, nhưng mầu nhiệm nhiều hơn kỷ niệm.

1.      LỄ GIÁNG SINH LÀ MỘT KỶ NIỆM

Trước hết lễ Giáng sinh là một kỷ niệm, nghĩa là một việc đã qua nay người ta nhớ lại, như kỷ niệm ngày thụ phong linh mục, ngày cử hành hôn phối. Và cũng như mọi kỷ niệm, ngày lễ Giáng sinh người ta cũng nhớ lại những sự việc đã qua chung quanh ngày sinh nhật của Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống, người ta đọc lại các bài tường thuật trong Tin Mừng liên quan đến ngày đáng ghi nhớ này, rồi cũng bày hang đá, máng cỏ, tượng Chúa Hài Đồng, Đức Mẹ, thánh Giu-se, chiên, dê, mục đồng, dựng cây thông hay đặt cây thông giả, hát các bài ca về lễ Giáng sinh. Buổi lễ kỷ niệm thật nao nức, tưng bừng, vui tươi phấn khởi. Nhiều người dừng lại ở đây và cũng chỉ coi lễ Giáng sinh là một dịp vui chơi, một ngày thoải mái, rồi thôi không còn gì nữa, đợi tới sang năm lại mừng kỷ niệm.

Trong ba thế kỷ đầu, Hội thánh không mừng lễ Giáng sinh, bởi một lý do đơn giản là bấy giờ chưa có lễ này. Phải đợi đến đầu thế kỷ thứ bốn năm 336 mới thấy cử hành lễ Giáng sinh ở Rô-ma. Ban đầu Hội thánh chỉ cử hành long trọng lễ Phục sinh thôi, và ra lệnh mỗi Chúa nhật phải cử hành thánh lễ để mừng kính Chúa Ki-tô phục sinh. Bấy giờ ngoài lễ Phục sinh ra là lễ các thánh Tông đồ và Tử đạo. Hàng năm vào những ngày ấn định, tín hữu ở Ro-ma tới mộ các thánh Tử đạo cử hành lễ và gọi ngày các vị qua đời là ngày sinh nhật. Lễ Giáng sinh được đặt lên hàng đầu lễ kính các thánh Tông đồ và Tử đạo. Người ta mừng lễ này cũng như mừng kính các thánh, tuy đặc biệt hơn, nhưng dù sao thì đó cũng chỉ là một lễ kỷ niệm. Thánh Âu-tinh cũng coi lễ Giáng sinh là một kỷ niệm và chỉ cần cử hành vào chính ngày Chúa Cứu thế ra đời để kính nhớ mà thôi. Trong tuyển tập các công thức bí tích năm 560, lễ Giáng Sinh được xếp vào cuối năm phụng vụ và lẫn với phần kính các thánh vào cuối tháng 12. Mãi đến hậu bán thế kỷ VI, Rô-ma mới ấn định vào ngày 25-12, đưa hai lễ Giáng sinh và Hiển linh ra khỏi phần kính các thánh và đặt lên phần đầu các Mùa.

2.      LỄ GIÁNG SINH LÀ MỘT MẦU NHIỆM

Theo thánh Lê-ô Cả, đặc điểm của lễ Giáng sinh là làm cho ta nhớ lại mầm mống ơn cứu độ. Loài người được cứu chuộc, khi Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Khi mặc lấy bản tính nhân loại, Đức Ki-tô đã làm cho loài người được tái sinh về đường thiêng liêng.

Chẳng những mầu nhiệm nhập thể hướng tới công trình cứu chuộc, mà công trình cứu chuộc lại còn bắt đầu ngay từ lúc Ngôi Hai nhập thể. Cuộc chiến thắng ma quỉ của Đức Ki-tô là ngày Người sinh ra từ một trinh nữ, bởi phép Đức Chúa Thánh Thần. Kẻ dám làm hoen ố bản tính nhân loại, đã bị Đấng Thánh sinh ra từ lòng Đức Nữ Trinh vẹn toàn, đánh bại. Mầu nhiệm nhập thể đã phục hồi nhân tính, khi nhân tính được kết hợp với thần tính. Và khi xuống thế làm người Con Thiên Chúa đã ban cho loài người chức vị làm Con Thiên Chúa.

Thánh Lê-ô nhìn thấy trong lễ Giáng sinh hình ảnh cuộc sinh ra lần thứ hai của chúng ta nhờ phép Rửa. Người nhìn thấy có sự giống nhau giữa sự sinh ra của người tín hữu với sự sinh ra của Đức Ki-tô. Cả hai sự sinh ra đó đều là công trình của Chúa Thánh Thần như người viết :”Nếu Ngôi Lời của Thiên Chúa không mặc lấy xác phàm và không ở giữa chúng ta, nếu Đấng Tạo hóa không đích thân hạ mình xuống đến chỗ kết hợp với loài thụ tạo, nếu Người đã không sinh ra để kêu gọi con người làm một cuộc bắt đầu lại, thì sự chết đã ngự trị từ A-đam cho đến muôn đời.”

Thánh Âu-tinh cũng dạy rằng: “Đức Ki-tô đã sinh ra. Người sinh ra cho chúng ta được sinh lại. Một trinh nữ đã mang thai nhờ cuộc nhập thể của Đức Ki-tô. Một trinh nữ đã sinh Đấng Cứu đời. Chớ gì tâm trí chúng ta cũng sinh ơn cứu độ và chúng ta hãy hát ca, ngợi khen. Chúng ta đừng là những người son sẻ : chớ gì tâm hồn chúng ta trở nên phong phú về Chúa.”

Nhưng nếu muốn hiểu lễ Giáng sinh là mầu nhiệm cứu chuộc mà chỉ căn cứ vào thánh Lê-ô thì chưa đủ, mà còn phải dựa vào các bản văn phụng vụ sau thời của người nữa. Lễ Giáng sinh là giai đoạn khởi đầu, là buổi bình minh của ơn cứu độ như lời tiền tụng sau đây chứng tỏ: “Như vậy khi kính nhớ ơn huệ thứ nhất trong các ơn huệ Chúa ban, chúng con sẽ có thể hiểu được mầu nhiệm cứu độ thế giới.”

 Một bản văn khác cũng viết :”Chúng con không xin Chúa sinh ra một lần nữa về phần xác như xưa kia vào một ngày giống như hôm nay, nhưng xin cho chúng con được sáp nhập vào thần tính vô hình của Chúa. Điều Chúa đã ban cho Đức Mẹ xưa thì nay xin cũng ban cho Hội thánh là tin mà không lưỡng lự với một tâm hồn trong trắng. Xin ở cùng chúng con và chiến đấu cho chúng con.”

Trở về mục lục >>

 

          MARANATHA!  CHÚA ĐÃ ĐẾN RỒI!

          Khổng Nhuận

 Trời Việt Nam bắt đầu se lạnh, báo hiệu Mùa Giáng sinh đang tới gần. Trời lạnh nhưng lòng lại ấm lên với một chút nao nao khi âm vang của những bài thánh ca Giáng sinh văng vẳng hầu như khắp nơi. Thấm thoát mà đã sang tuần thứ 4 mùa vọng, tôi dành bài chia sẻ này kính tặng ban biên tập và toàn thể độc giả báo Maranatha.

Theo A Greek English Lexicon của Walter Bauer, Maranatha - tiếng Aram - có 3 nghĩa:

1.   Maranatha: You proclaim the death of the Lord until he comes: 

  Cho tới ngày Chúa đến, anh em loan truyền Chúa đã chịu chết (Cr 11:26)    

        Amen! Come, Lord Jesus!

        A-men, lạy Chúa Giê-su, xin ngự đến! (Ap 22:21)

2.  Trong 1Cr 16:22, Maranatha có 2 cách hiểu

   Marana - tha (mara: Lord; na: our; tha: come) 

   Our Lord, come! Lạy Chúa chúng tôi, xin ngự đến!

3.   Maran - atha: Our Lord has come. Chúa chúng ta đã đến rồi.

 

Maranatha thật hợp với tâm tình mùa vọng. Chúng ta đang sống trong những ngày mong chờ Chúa đến. Theo 3 định nghĩa trên, tôi cũng xin phép trình bày 3 cách Chúa đến

CHÚA TÁI LÂM TRONG VINH QUANG VÀO NGÀY TẬN THẾ.

Ngay từ thời thánh Phaolô, Ngài cũng cho rằng ngày tái lâm của Chúa cũng gần tới nơi rồi :

Anh em cũng vậy, hãy kiên nhẫn và bền tâm vững chí, vì ngày Chúa quang lâm đã gần tới (Gc  5:8)

Gần đến nỗi gây cho ta cảm giác rất có thể xảy ra ngay trong thời của Ngài:

Vì khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng tổng lãnh thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người đã chết trong Đức Ki-tô sẽ sống lại trước tiên; rồi đến chúng ta, là những người đang sống, những người còn lại, chúng ta sẽ được đem đi trên đám mây cùng với họ, để nghênh đón Chúa trên không trung. Như thế, chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi. Vậy anh em hãy dùng những lời ấy mà an ủi nhau.(Tx 4:16-18)

Gần tới năm 1000, thiên hạ cũng láo nháo cả lên vì sợ rằng ngày tận thế sắp tới

Gần tới năm 2000 cũng vậy, giáo dân ở Vietnam cũng đồn ầm lên rằng tận thế sắp đến gần. Có những tờ bướm bán ở cuối nhà thờ tiên đoán sẽ tối tăm 3 ngày 3 đêm. Thiên hạ mua hàng chục cây đèn cầy, rồi đưa cho cha sở làm phép – nhưng quên không làm phép cái bật lửa!! Có giáo phái tự xưng là được chính các thánh dạy cách làm bột dinh dưỡng theo liều lượng đặc biết, rồi bán cho đồng đạo mỗi người cả chục ký để giúp gia đình cầm cự sống sót qua những ngày khốn khó sắp xảy đến. Bột này không cần làm phép vì đã được chế biến theo đúng như các thánh truyền! Ngoài ra, người ta còn âm thầm tích trữ mì ăn liền. Có điều là chỉ có giáo dân mới biết ngày tận thế tới gần; còn người ngoại đạo đừng hòng! Nên họ cứ nhởn nhơ vui chơi như không có gì xảy ra… và rồi những ngày đầu năm 2000 từ từ trôi đi trong bình lặng - mỗi ngày như mọi ngày! Thế là nhiều người bị lừa một vố đau! Trong những ngày ấy, họ lo chuẩn bị đối phó với tai ương sắp xảy tới hơn là chuẩn bị tâm hồn để đón ngày Chúa trở lại trong vinh quang.

Có một điều rất nghịch lý: lẽ ra theo thời gian, càng ngày người ta càng cảm thấy ngày Chúa quang lâm gần kề, trái lại, hiện nay người ta mới náo nức bước vào thiên niên kỷ thứ Ba; như vậy việc Chúa quang lâm dường như vẫn còn xa xôi diệu vợi. Chính vì thế, tâm trạng chung của các Kitô hữu thời hiện đại ít ai đặt vấn đề Chúa tái lâm vào ngày tận thế.

MARANATHA!  LẠY CHÚA, XIN NGỰ ĐẾN!

Đây là đề tài mà cả hàng trăm các bậc cao minh đã khai thác với hàng ngàn bài chia sẻ khác nhau, tôi xin mạn phép ghi lại những ý chủ yếu nhất mà tôi đã từng đọc:

nhiều gợi ý để chúng ta đón Chúa ngự đến

v       Trước hết là những lời nhắc nhở

 «Chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến» (Mt 24,44; Lc 12,40),

«Ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm» (1 Tx 5,2; 2 Pr 3,10).

v            Sau đó là những đề nghị việc làm cụ thể

1.   Hãy sám hối «Anh em hãy sám hối, Nước Trời đã đến gần».

2.     Hãy sống chừng mực và tiết độ: Thời cùng tận của vạn vật gần đến rồi. Anh em hãy sống chừng mực và tiết độ để có thể cầu nguyện được. .(1P 4,7)

3.     Đừng chiều theo tính xác thịt: Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu.13 Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương.14 Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng.(Rm 13:12-14)

4.     Hãy yêu thương nhauTrước hết, anh em hãy hết tình yêu thương nhau, vì lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi.Hãy tiếp đón nhau mà không lẩm bẩm kêu ca.(1Pr 4:8-9)

5.     Phục vụ kẻ khác: Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy, anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa. Ai có nói, thì nói lời Thiên Chúa; ai phục vụ, thì phục vụ bằng sức mạnh Thiên Chúa ban.(1Pr 4:10-11)

v    Cuối cùng là những lời hăm dọa

Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi quăng vào lửa. (Mt 3:10)

Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng. (Mt 8:12)

Đến ngày tận thế, cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính, rồi quăng chúng vào lò lửa. Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng. (Mt 13:49-50).

MARANATHA!  CHÚA ĐÃ ĐẾN RỒI!

     Theo tôi, Maranatha mang ý nghĩa rất tích cực và tràn ngập bình an, hạnh phúc:

    Our Lord has come: Chúa đã đến rồi.

Trong tự ngôn Tin Mừng theo thánh Gioan, chúng ta thấy rất rõ: Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. (Ga 1;11)

Đã từ lâu rồi, tôi vẫn cho rằng lễ Noel chỉ là một lễ kỷ niệm ngày Chúa sinh trong hang đá Belem. Vì thế tôi làm hang đá thật lộng lẫy với muôn ngàn vì sao lấp lánh bằng những ánh đèn màu chớp tắt lia lịa. Nhưng cho tới một ngày kia, khi đọc đoạn Kinh Thánh trên, tôi mới giật mình: thì ra Chúa đã tới nhà của Ngàinhà của Ngài chính là con người  tôi - Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?(1Cr 3:16)  Thực vậy, Ngài đã đến với tôi suốt hơn ba mươi năm qua thế mà tôi chẳng chịu đón nhận Ngài. Tôi có mắt như mù, có tai như điếc nên cứ kéo lê cuộc đời trong bóng đêm u mê tăm tối, ấy thế mà tôi vẫn cho mình còn ngon lành hơn cả ngàn người khác, dựa vào cuộc sống bên ngoài khá đạo đức. Tệ hơn nữa, thời còn độc thân, tới lễ Noel mà không có cô bồ dung dăng dung dẻ thì tôi cảm thấy cô đơn ghê gớm, không gì thê lương cho bằng nửa đêm tan lễ, bước anh bơ vơ trở về’ trùm chăn ngủ lơ mơ không trọn giấc, tủi cho thân phận cô đơn lạnh lẽo của mình. Nguyên do chỉ vì tôi chẳng chịu đón nhận Ngài.

Cho tới một hôm, tôi đã dừng lại thật lâu, suy niệm 2 câu Kinh Thánh dưới đây:

Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người,

thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.

Họ được sinh ra, không phải do khí huyết,

cũng chẳng do ước muốn của nhục thể,

hoặc do ước muốn của người đàn ông,

nhưng do bởi Thiên Chúa.(Ga 1:12-13)

Bây giờ nhớ lại, tôi mới chợt nhận ra: có lẽ tôi đã nghe câu này nhiều lần, thế mà tưởng chừng như tôi chưa nghe lần nào. Rõ ràng Lời Chúa gieo vào mảnh đất tâm hồn sỏi đá của tôi đã bị chim trời bay xuống ăn mất ngay lập tức - ăn hết sạch sành sanh – Mãi cho tới khi tôi quyết tâm đi tìm Ngài, lòng tôi mở ra, tôi đón nhận từng hạt giống Lời Chúa vào lòng mình bằng cách cá nhân hoá Lời Chúa:

Còn chính tôi đón nhận, tức là tôi tin vào danh Người,

thì Người cho tôi quyền trở nên con Thiên Chúa.

Tôi được sinh ra, không phải do khí huyết,

cũng chẳng do ước muốn của nhục thể,

hoặc do ước muốn của người đàn ông,

nhưng do bởi Thiên Chúa

Nhờ đó, Lời Chúa mới bắt đầu đơm bông kết trái. Tôi khám phá ra rằng: tôi đón nhận > tôi trở nên con Thiên Chúa vì được sinh ra bởi chính Thiên Chúa. Xin quý vị đừng tưởng rằng năm tôi 35 tuổi tôi mới được trở nên con Thiên Chúa. Nếu như thế thì hoá ra Chúa Cha phải chờ mòn mỏi cho tới lúc Đức Giêsu chịu Phép Rửa vào năm 30 tuổi, Chúa Cha mới chịu sinh ra Đức Giêsu hay sao? Xin quý vị nhớ lại biến cố trên dòng sông Jordan:  Đức Giê-su cũng chịu phép rửa, và đang khi Người cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con.(Lc 3:21-22) Có nghĩa là khi tôi quyết định đón nhận Ngài vào lòng mình, thì tôi biết rằng tôi vốn là con của Ngài ngay cả trước khi tạo thành vũ trụ (Ep 1: 4) bởi vì cái ngày hôm nay của Chúa luôn luôn là một hiện tại trường cửu, không đo bằng thời gian đồng hồ nhân loại.

Từ khi ý thức mình là con Thiên Chúa – mang hình ảnh Ngài - đồng hình đồng dạng với Đức Kitô - thì quan niệm của tôi về Chúa dần dần biến chuyển: Từ người Cha nhân lành tới bạn hữu thân tình Từ Thiên Chúa cao sang trên trời thành Thiên Chúa tình yêu ngay trong lòng tôi. Từ một Ông Chúa mang hình tướng - thành nguồn sống mãnh liệt của tâm hồn tôi.. hiện nay tôi đang tập sống theo châm ngôn: tôi sống – không  phải là thằng tôi sống – mà là chính Chúa sống trong tôi. Xin nhắc lại: tôi đang cố gắng tập sống mỗi ngày.

Từ khi nhận ra khuôn mặt đích thực của Chúa: một Thiên Chúa không hình tướng, mắt tôi mở ra và lập tức hiểu rằng: Maranatha, Chúa đã đến rồi. Chúa đến ngay trong tâm hồn tôi (Ga 1:11) . Chúa đến để sống trong tôi (Ga 6:56). Chúa đến để nên một với tôi (Ga 17: 23). Chúa đến để tôi được sống và sống dồi dào (Ga 10:10). Chúa đến để tôi sống công chính, bình an và hoan lạc trong Thần Khí Chúa (Rm 14:17).

Tôi từ từ quay ngược cuộn phim mang tựa đề: Maranatha, Chúa đã đến rồi.

 Chúa đã đến mỗi mùa Giáng Sinh về.  Mỗi lần đón Chúa Giáng sinh, lòng tôi đang vui lại càng nao nao với những bài ca Giáng Sinh bất hủ, tạo nên một niềm vui lâng lâng siêu thoát, nhè nhẹ bình an như tiếng ru à ơi của mẹ Maria trong đêm Chúa giáng trần. (Ga 1:1-18)

Chúa đã đến qua Lời Chúa. Hiện nay, mỗi lần đọc Kinh Thánh hay chia sẻ Lời Chúa cho anh em khác, là một lần tôi nhận ra rõ ràng hơn khuôn mặt của Chúa – dù đó là khuôn mặt không hình tướng, tôi xác tín mạnh mẽ hơn. Lòng tôi đang ấm áp lại càng ấm áp hơn - như hai môn đệ trên đường Emau: Khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao? (Lc 24:32)

Chúa đã đến qua Bí tích Thánh Thể. Mỗi lần rước Chúa, lòng tôi càng gắn bó với Chúa hơn bằng những giây phút ý thức Ngài đang thực sự hành động qua con người của tôi. (Ga 6:55-56)

Thật là thú vị khi ở vào tuổi 35, tôi đã khám phá ra rằng:

Chúa đã đến qua Bí tích Thêm Sức, Ngài đã tuôn đổ Thần Khí vào tâm hồn tôi.(Rm 5:5)

Chúa đã đến qua Bí tích Thánh tẩy, Ngài tuyên bố tôi là con yêu dấu của Ngài và trao cho tôi 3 chức năng: Vương đế, Tư tế và Ngôn sứ trước mắt linh mục chủ sự và những người thân yêu nhất của tôi. (1Pr 2:9)

Chúa đã đến ngay khi tôi còn trong lòng mẹ, Ngài đã thánh hoá tôi để tôi được thánh thiện và tinh tuyền trước mặt Ngài. (Jr 1:5), (Ep 1:4).

Giờ đây, tôi có thể la toáng lên rằng: Này anh em, Maranatha: Chúa đã đến rồi! Maranatha: Chúa đã đến rồi! 

Vâng, Chúa đã đến rồi! để kết thúc, tôi xin nhắc lại lời của thánh Phao lô - mà cũng thực sự là lời của tôi (cá nhân hoá) - xuất phát từ con tim rất đỗi chân thành - gởi tới ban biên tập và toàn thể quý bạn đọc Maranatha:                                                                                                                                    

Ma-ra-na tha!
         Cầu chúc anh em đầy tràn ân sủng của Chúa Giê-su!
         Tôi thương mến tất cả anh em trong Đức Ki-tô Giê-su.

Marana tha!
         The grace of the Lord Jesus be with you.
          My love to all of you in Christ Jesus
. (1Cr :16:22-24)

Trở về mục lục >>

 SUY NIỆM GIÁNG SINH

NHẬP THỂ - QUÀ TẶNG VÔ GIÁ

Lm. Vũ Xuân Hạnh

              Người ta nói, bông hồng tượng trưng cho tình yêu. Vì thế, để bày tỏ lòng yêu thương nhau, người ta thường trao tặng bông hồng. Cũng chính vì thế, ngày Valentine, ngày Tình Yêu, bông hồng, tự lúc nào, trở thành biểu tượng mà không cần giấy mực ký nhận, chỉ có lòng người yêu nhau đã hợp thức hoá cho ý nghĩa ấy. Bởi thế, dù chỉ với một cành hồng, tình vẫn có thể nồng nàn hơn cả với bảo ngọc trân châu. Vì với lòng yêu thương chân thật, dù chỉ một cành hồng, tình vẫn đằm thắm, vẫn kiêu sa hơn bảo ngọc trân châu mà lòng người đầy tính toán, vụ lợi, manh nha chiếm đoạt!

I. NHẬP THỂ VÀ SỰ TỰ HIẾN

              Bông hồng đã đẹp. Bông hồng được trao tặng bằng cả một khối tình, lại là một vẻ đẹp không dễ gì thay thế. Nhưng trước sau, đóa hồng vẫn chỉ là một đóa hồng, giá trị của nó vẫn không bao giờ ví được giá trị của chính bản thân người nhận hoặc người tặng. Còn hơn thế, một đóa hồng, dẫu đẹp, sẽ biến đổi theo thời gian như chính lòng người, hôm nay trong vắt, ngày mai có thể vẫn đục!

              Hôm nay, trong tư thế của người được lãnh nhận, mọi Kitô hữu háo hức chuẩn bị mừng ngày Chúa Giáng sinh. Nói rằng “trong tư thế của người được lãnh nhận” khi mừng lễ Giáng sinh, là nói đến một ân ban tuyệt diệu mà mầu nhiệm Nhập Thể đã và vẫn tuôn tràn như một dòng chảy không ngơi nghỉ, không suy yếu. Nếu bông hồng là biểu trưng của tình yêu nhân loại thì mầu nhiệm Nhập Thể, một đóa hồng thánh thiện không chỉ là biểu trưng, cũng không đứng chung hàng với tình yêu nhân loại, nhưng là chính Tình Yêu Thiên Chúa, một tặng phẩm vượt trên giá trị của chính bản thân người nhận là toàn thể nhân loại này. Và nếu gọi Tình Yêu phát xuất từ Thiên Chúa là đóa hồng, thì đó chính là đóa hồng vĩnh cửu, đóa hồng mầu nhiệm không bao giờ có thể tàn phai.

              Đó còn là một Tình Yêu làm điểm đối chiếu cho mọi tình yêu của nhân loại. Nhân loại hãy nhìn vào Tình Yêu trong mầu nhiệm Nhập Thể để học lấy cho mình bài học quý giá: Thiên Chúa đã phó mình cho trần gian. Vì nơi Thiên Chúa, yêu là tự hiến, là hủy mình. Có hiểu hết sự tự hiến và hủy mình vì yêu trong mầu nhiệm Nhập Thể, ta mới có thể hiểu được làm sao một vì Thiên Chúa cao sang là thế, uy quyền là thế, mạnh mẽ và lớn lao khôn cùng, lại có thể hóa thân nên một con người bé nhỏ, yếu ớt, mong manh. Có hiểu được một tình yêu tự hiến đến mức hủy mình, ta mới hiểu được làm sao một Thiên Chúa lại trở nên trần trụi và nghèo nàn đến thế.

              Nếu mỗi người trong chúng ta có nghèo, nghèo lắm, khi sinh ra chắc không ai thiếu thốn quá mức như Thiên Chúa làm người. Người thiếu đến nỗi, ngay cả một tấm áo che thân, một cái chõng tre, dù cũ kỹ, cũng không có. Khi sinh ra, nếu tệ lắm, có lẽ ta cũng nằm trong một căn chòi! Nhưng Tình Yêu của Đấng làm người đã tự hủy đến mức không những không đòi cho mình bất cứ một điều gì, ngược lại còn trút bỏ hoàn toàn, trút bỏ cho đến mức chối từ cả những điều kiện vật chất căn bản nhất, cần thiết nhất của một con người, đến nỗi sinh ra không phải trong một căn chòi, nhưng còn tệ hơn, sinh ra trong nơi trú ngụ của loài cầm thú; không nằm trong một chiếc nôi, nhưng lại là máng cỏ; không sinh ra trên một chiếc giường nhưng chỉ có cỏ rơm làm chiếu!

              Mầu nhiệm Nhập Thể không dừng lại ở sự kiện giáng sinh. Thiên Chúa làm người còn tiếp tục tự hủy đến giây phút cuối đời. Người đã chấp nhận một cái chết thương đau và ô nhục: bị hành hình như một tên tử tội: chết trần trụi, treo giữa trời, giữa đất, giữa những tên tội phạm, thân thể thâm bầm, đầy thương tích!

              Thiên Chúa là Thiên Chúa giàu có. Người quyền năng và mạnh mẽ. Vũ trụ và mọi sự trên trời dưới đất là của Người, thuộc về Người. Một Thiên Chúa giàu có là thế, nhưng khi làm người, đã hiến dâng hoàn toàn, như không còn giữ lại gì cho riêng mình, hiến dâng cả mạng sống. Một Thiên Chúa giàu có đã trở nên nghèo khó đến độ chỉ còn có Tình Yêu.

              Như vậy, ngang qua mầu nhiệm nhập thể của Chúa Kitô, Thiên Chúa bày tỏ cho trần gian lòng yêu thương vô cùng của Người. Đó là một Tình Yêu mà ngàn đời, nhân loại cứ kiếm tìm, cứ khám phá, vẫn chưa bao giờ đạt tới, vẫn không hiểu thấu.

              Nơi biến cố nhập thể, một mặt chính Tình Yêu và trong Tình Yêu, Thiên Chúa đã trao ban cả một mầu nhiệm viõ đại. Mặt khác, chính Tình Yêu đã làm cho Đấng Thiên Chúa làm người, Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã hiến dâng lên Thiên Chúa lời “xin vâng” tuyệt hảo, chấp nhận sự tự hủy mình cho trần gian. Lòng vâng phục và sự tự hủy ấy chính là lý do ca ngợi Chúa Kitô của thư  Do thái: “Dù là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (5, 8-9).

              Để nối lại hình ảnh quà tặng bông hồng với ý nghĩa lớn lao của mầu nhiệm Nhập Thể, chúng ta cần hiểu rằng, tình yêu chỉ quý giá bởi người yêu dám hiến mình trao dâng, dám tự hủy chính bản thân vì người mình yêu, chứ không phải bởi món quà có thể cầm nắm, dẫu món quà đó là một cành hồng tươi hương thắm sắc. Nói cách khác, quà tặng làm cho tình yêu nên giá trị lộng lẫy và sang trọng, chỉ có thể là quà của sự tự hiến đến hủy mình vì người mình yêu.

              Và nếu bông hồng chỉ nói thay cho lời yêu chứ không là chính tình yêu, thì Chúa Kitô hiến mình trong mầu nhiệm Nhập Thể là chính Tình Yêu xuất phát từ Thiên Chúa trao tặng loài người. Đó mới chính là Đóa Hồng vĩnh cửu, Đóa Hồng không bao giờ tàn phai: Một quà tặng vô giá, quà tặng của mọi quà tặng.

II. TẶNG PHẨM CỦA NGƯỜI NGHÈO

              Có một câu chuyện thế này: Vào đêm lễ Giáng sinh, không riêng người Công giáo, nhưng hầu như mọi người, đều đổ ra đường để đi đâu đó mừng đêm tưng bừng, đêm lễ hội. Vì thế mọi ngã đường sớm đông nghẹt. Theo dòng người đông đảo, Tôi - tác giả kể - bước về hướng nhà thờ. Chiếc loa phóng thanh trên đỉnh nhà thờ trổi bản nhạc mừng Chúa Giáng sinh thật vui, không làm tôi chú ý cho lắm. Một cảnh tượng khác đập và mắt tôi: Một người đàn ông trạc bốn mươi, chắc là bảo vệ nhà thờ, lôi xồng xộc một em bé ra ngoài khuôn viên nhà thờ. Trên tay em là một xấp vé số dày cộm. Vừa lôi em, miệng anh vừa la lối: “Ra ngoài bán, ở đây không phải chỗ!” Cùng lúc ấy, tôi nghe một giọng nói ấm áp từ phía sau lưng mình: “Này anh, thôi đừng đuổi em bé nữa. Đêm nay Chúa Giáng sinh là để cho em và cho những người cơ nhỡ, bất hạnh, nghèo khó như em. Anh hiểu chứ?” Phản xạ tự nhiên, Tôi xoay người lại xem giọng nói của ai? À, chiếc áo chùng thâm. Hóa ra một linh mục. Tôi còn nghe cha nói thêm: “Cần phải có những người như em bé này ở trong nhà thờ đêm nay, để họ hiểu rằng, Chúa cũng nghèo lắm, nghèo như chính bản thân họ vậy.” Vị linh mục bước đi. Người bảo vệ nhìn theo, ánh mắt vẫn chứa đầy một khoảng không im lặng. Có lẽ anh ta ngỡ ngàng lắm, nhưng cũng thẹn lắm vì vừa mới nhận ra một bài học quý giá. Tôi nhìn lên bầu trời hít thở không khí đêm đông lành lạnh thật sản khoái, chợt nhận ra ánh sao đêm nay sáng và đẹp tuyệt vời!

              Có thể khi dẫn chứng bằng câu chuyện và những hình ảnh mà câu chuyện lột tả, sẽ có nhiều ý kiến khác nhau của nhiều người: đồng ý và không chấp nhận, khen hoặc thấy khó chịu; cũng có thể nhận định rằng, anh bảo vệ đúng, vị linh mục chưa đúng! Riêng tôi, chỉ nhằm một chủ đích duy nhất: minh họa cho những gì đã suy nghĩ, để nhấn mạnh đến một điều quan trọng và lớn lao hơn nhiều: Tình Yêu Thiên Chúa nơi mầu nhiệm Nhập Thể.

              Nội dung câu chuyện thật ngắn, thật đơn sơ, nhưng tôi thấy chất chứa bên trong nó một vài cảm nhận. Đó là cảm nhận về một quà tặng của Tình Trời được gởi trao cho người trần, một quà tặng tuyệt đối, quà tặng vô giá được ban tặng nhưng không: Thiên Chúa đã trao tặng chính người Con Một dấu ái của Người: “Thiên Chúa YÊU thế gian đến nỗi đã BAN Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải chết nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3, 16).

              Dù thánh Gioan không nhắc tới cách hiển nhiên hai tiếng “quà tặng”, nhưng khi lặp lại lời của Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô: “Thiên Chúa đã YÊU! đến nỗi đã BAN”, thì không là nói bằng ngôn ngữ của quà tặng đó sao. Và trong hai tiếng quà tặng đã hàm chứa tình yêu và sự trao ban. Nơi Thiên Chúa, dù quà tặng chính là một ân ban thần linh diệu kỳ, lại quá sức cụ thể nơi một con người mang tên Giêsu Kitô.

              Và nơi Thiên Chúa làm người mang tên Giêsu Kitô, đã là Thiên Chúa giàu có, nhưng đã chấp nhận hủy mình để trao dâng tất cả, để tỏ lòng yêu thương, thì lời của linh mục trong câu chuyện kể trên: “Đừng đuổi em bé. Đêm nay Chúa Giáng sinh là để cho em và cho những người cơ nhỡ, bất hạnh, nghèo khó như em”, và “Cần phải có những người như em bé này ở trong nhà thờ đêm nay, để họ hiểu rằng, Chúa cũng nghèo lắm, nghèo như chính bản thân họ vậy”, thật đáng chú ý và đáng suy nghĩ. Cũng vậy, không hề nhắc tới hai tiếng “quà tặng”, nhưng qua lời đối thoại, những kiểu nói: “để cho”, hay “Chúa cũng nghèo như chính họ vậy”, tác giả đã đặt lên môi nhân vật ngôn ngữ của quà tặng, một quà tặng chứa đầy tình yêu.

              Nhưng hình như trong lời đối thoại của nhân vật linh mục, chỉ có “những người cơ nhỡ, bất hạnh, nghèo khó” mới đáng lãnh nhận quà tặng Giêsu. Đọc lại Tin mừng của đêm Giáng sinh, ta cũng sẽ thấy rõ điều này. Ngay sau khi Đấng tự hiến mình đã sinh làm người, thiên thần loan tin mừng Giáng sinh. Nhưng lời của thiên thần: “Hôm nay Đấng Cứu Thế giáng sinh cho các ngươi” (Lc 2,11) không thể nào vang đến dinh tổng trấn Philatô, hoặc ngai vàng vua Hêrôđê hay dinh thượng tế Caipha, lại thuộc về những mục đồng, những người chỉ biết làm quen với cái nghèo, làm bạn với đàn súc vật. Nghèo vật chất đã vậy, họ còn là những người dốt nát, chọn cho mình kiếp sống rày đây mai đó!

              Và dấu chỉ của quà tặng vô giá mà thiên thần giới thiệu là gì? Đó là: “Đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Người: các ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2, 12). Một dấu chỉ quá đỗi đơn sơ, nghèo hèn. Nhưng chất chứa trong dáng vẻ đơn nghèo, dấu chỉ ấy là một dấu chỉ vĩ đại, dấu chỉ về một tặng phẩm thần linh: Thiên Chúa làm người!

              Hóa ra quà tặng thần linh được dâng tặng, được trao ban, không phải chỉ có những người hèn hạ, khốn khổ mới có thể lãnh nhận. Nhưng Đấng ban tặng chính mình cũng trở nên người nghèo. Chỉ có hiến mình dâng tặng như thế, quà tặng Giêsu mới thật là quà tặng cần thiết và tròn đầy ý nghĩa.

              Vậy để đón nhận và hiến dâng trọn vẹn quà tặng của yêu thương, đòi người ta phải có sự trút bỏ bằng một tinh thần nghèo khó, bằng một ý thức hiến mình thực sự, không thể làm khác được. Như vậy chính trong sự nghèo khó, người ta lại trở nên giàu có, vì có chính Thiên Chúa làm tặng phẩm vô giá của mình. Bởi vậy, ta mới hiểu vì sao Chúa Giêsu lại nói: “Phúc cho các ngươi là những người nghèo” (Lc 6, 20).

III. KITÔ HỮU, QUÀ TẶNG CỦA TRẦN GIAN

              Nếu Chúa Kitô, Thiên Chúa làm người chính là quà tặng, trước tiên dành cho bất cứ ai tin tưởng nơi Người. Đến lược Kitô hữu, người bước theo Chúa Kitô, cũng phải là quà tặng cho trần gian. Vì chỉ có thế, họ mới nên giống Chúa Kitô và xứng đáng với tên gọi Kitô hữu của mình. Nhưng thực tế của đời sống mình, bạn và tôi chắc không ít lần thiếu ý thức về điều này. Vì thế, chúng ta đã không trở nên quà tặng đối với anh chị em, tệ hơn, ta đã làm lu mờ hai tiếng quà tặng mà Thiên Chúa và Chúa Kitô luôn vung đắp, trao ban và mời gọi ta hãy bắt chước mà sống như Người đã sống để nêng giống Người. Đã vậy, do thiếu yêu thương và do tội lỗi của mình, ta xúc phạm đến chính địa vị làm Con Thiên Chúa, xúc phạm đến giá trị của chức danh Kitô hữu cao cả mà ta được danh dự khoác vào.

              Ai đó ví von pha chút mỉa mai: “Kitô hữu là một Kitô khác, có nghĩa là một Kitô khác khác Chúa Kitô!” Không biết lời ví von ấy đúng hay không? Nhưng nếu ít nhiều có sự thật, đó không còn là lời nói cho vui, mà trở thành lời bật thốt từ nỗi xót xa. Hơn nữa, nếu đúng như thế thì ý nghĩa của đời Kitô hữu đã bị lệch, bị méo. Bởi thay vì chức vị làm con Thiên Chúa của người Kitô hữu (tức là người thuộc về Chúa Kitô, tràn ngập Chúa Kitô trong tâm hồn, để cho Chúa Kitô chiếm hữu và chiếm hữu chính Chúa Kitô), như một quà tặng dâng cho đời, lại trở nên tối tăm, phản chứng, mang những hình ảnh đi ngược tình yêu của Chúa như: sự xa hoa, ích kỷ, thụ hưởng bản thân, làm ngơ trước nỗi đau của đồng loại... Mang danh Kitô hữu mà lại “khác Chúa Kitô” đến mức không thể tưởng tượng như thế, đúng là một nỗi đau xót tận cùng.

              Thực tế làm nên nỗi đau ấy, từ ngàn xưa, đã từng bị các tiên tri phản đối. Chẳng hạn, lời tiên tri Xôphônia: “Khốn cho thành phản loạn và ô uế, khốn cho thành tàn bạo, không nghe tiếng kêu mời, chẳng tiếp thu lời sửa dạy, không cậy trông vào Đức Chúa, chẳng đến gần Thiên Chúa của mình. Trong thành, các thủ lãnh như sư tử rống, các thẩm phán như sói ăn đêm, sáng ngày ra chẳng còn gì để gặm. Các ngôn sứ của nó là hạng người khoác lác ba hoa, là những quân phản bội; các tư tế của nó làm ô uế đền thờ và vi phạm lề luật.” (Xp 3, 1-4)

              Và nếu gọi lối sống ấy là là mang danh Kitô hữu mà không sống tước hiệu Kitô hữu, là kẻ giả hình, thì chính Chúa Kitô đã từng lên án kiểu sống ấy: “Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các ngươi cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác” (Mt 23, 27-28). Lối sống giả hình không bao giờ là quà tặng cho ai, có khi còn rất nguy hiểm, vì nó che đậy biết bao nhiêu gian dối lừa lọc. Thà đừng là Kitô hữu, còn hơn là Kitô hữu mà chẳng bao giờ biết hy sinh, chẳng bao giờ ý thức mầu nhiệm tự hiến để trao ban chính mình như tặng phẩm của tình yêu gởi đến anh chị em quanh mình.

              Nói cho cùng, đó chính là nỗi bi đát lớn. Vì như vậy, đời Kitô hữu chỉ còn là pháo đài được xây dựng cho riêng bản thân. Nếu Tin Mừng đầu tiên của Mầu Nhiệm Nhập Thể đã không thể vọng đến dinh tổng trấn và thượng tế, hay đền vua, thì những pháo đài hôm nay, chắc sẽ rơi vào một mối nguy lớn: Thiếu vắng Tin Mừng Tình Yêu, dẫu Tin Mừng ấy vẫn được rao giảng từng ngày, mọi nơi.

              Có một lời kinh rất đơn sơ, nhưng cũng rất sâu sắc, vẫn sống mãi trong lòng Giáo Hội đó là “Kinh Hòa Bình” của thánh Phanxicô Assisi. Lời kinh ấy bất cứ ai nghiền ngẫm và sống đúng như vậy, không chỉ trở nên tặng phẩm tuyệt vời cho trần gian, nhưng còn mang lại bình an, niềm hạnh phúc lớn lao cho chính người dâng tặng: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm. Để con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng! Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ...”

IV. KITÔ HỮU THÁNH HIẾN TRONG CHỨC LINH MỤC CÀNG PHẢI DÂNG TẶNG ĐỜI MÌNH.

              Đã gọi là quà, quà tặng cần phải trao ban. Quà không trao ban không phải là quà. Quà chỉ có giá trị khi nó được dâng tặng bằng cả tình yêu. Nếu Kitô hữu bình thường đã được mời gọi trở nên tặng phẩm của lòng yêu thương, thì lời mời gọi này càng cấp bách đối với các Kitô hữu sống đời thánh hiến, nhất là các Kitô hữu linh mục. Bản chất của thánh chức linh mục là phụng sự Chúa, phục vụ con người, là người thợ chế biến giáo lý, giáo điều thành lẽ sống thiết thực của anh chị em..  Vì thế, hơn ai hết, linh mục chính là quà tặng, hình ảnh cụ thể của Tặng phẩm Giêsu cho trần gian.

              Không hiểu vì sao có người dám nói thế này: “Linh mục ban của thánh và nhận của phàm.” Không biết lời mỉa mai ấy có nhằm lăng mạ, hay vì thù ghét, chống đối mà dám độc mồm, độc miệng đến vậy? Dẫu sao, nhìn ở một khía cạnh nào đó, đó vẫn là lời cần thiết để người linh mục ý thức chính mình. Vì những cám dỗ nhằm lôi kéo lợi lộc tư riêng không phải là không có. Đây đó đã xảy ra và vẫn xảy ra, có khi rất thường xuyên và lan tràn. Nếu thánh chức linh mục bị “biến tấu” như thế, đời linh mục chỉ còn là phương tiện phục vụ quyền lợi vật chất của mình, chứ không còn cho Nước Trời và cho con người. Nếu xảy ra như thế, chiếc áo chùng thâm, biểu trưng của đời tu, người linh mục khoác vào chỉ là tấm bình phông che đậy lối sống vụ lợi của chính mình mà thôi. Để xảy ra như thế, quả là một mất mát, một thiệt thòi, một nỗi đau đớn tận cùng cho Giáo Hội, cho sự sáng danh Thiên Chúa, khó có gì có thể bù đắp. Bởi thay vì chức linh mục như một quà tặng dâng cho đời, lại trở thành phương tiện để thỏa ích kỷ riêng tư, đó chính là nỗi bi đát lớn cho chính người linh mục. Vì thay vì mang ý nghĩa của sự phục vụ cao quý: phục vụ Nước Trời, lại nghiễm nhiên trở thành nô lệ cho sự ham muốn những thứ kém giá trị.

              Ơn thánh hiến mà bị lạm dụng, có khác chi lời tiên tri Êgiêkiel cảnh báo từ rất xưa: “Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Khốn cho các mục tử Israel, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên sao? Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, còn đàn chiên lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc” (Ed 34, 2- 4).

              Suy niệm về ý nghĩa của Tình Yêu Nhập Thể như thế, người linh mục nhận ra mình. Một khi bước theo Chúa Kitô trong đời sống thánh hiến, người linh mục chỉ dám nói mình nên giống Chúa Kitô khi đã có thể sống đời hiến dâng như Chúa Kitô. Ngay cụm từ “Đời sống Thánh hiến”, đủ để nói lên ý nghĩa của sự hiến dâng mình trong chức linh mục.

              Nói linh mục dâng mình để sống đời thánh hiến trong chức linh mục là điều không khó. Nhưng trước sau, linh mục vẫn là con người. Linh mục sống đời thánh hiến hoàn hảo như Chúa Kitô không dễ chút nào. Tuy nhiên, khó không có nghĩa là không thể thực hiện, càng không bao giờ được phép đầu hàng. Trong đời sống thánh hiến, đầu hàng không chỉ là thua cuộc, mà còn là đánh mất. Vì không dám và không ý thức đời hiến dâng, linh mục chỉ còn danh chứ không còn thực.

              Bông hồng tượng trưng cho tình yêu. Nhưng bông hồng chỉ thực sự làm nên ý nghĩa của tình yêu, khi người ta trao tặng cho nhau bằng cả một khối tình chân thật. Nhưng với Chúa Kitô, hơn cả những mối tình mà ta gọi là chân thật nhất, trong cuộc Nhập Thể, từ thân phận Thiên Chúa trở nên phàm nhân, chấp nhận lặn sâu trong kiếp người để chia sẻ thân phận con người của mỗi chúng ta, Người đã trao tặng cho ta không phải một đóa hồng, mà là một Đóa Hồng vĩnh cửu, một quà tặng vô giá là chính bản thân của Người.

              Linh mục được Chúa Kitô mời gọi và bước theo Người. Chỉ có một điều duy nhất làm cho linh mục có thể nên giống Chúa Kitô, sống chính sự sống của Chúa Kitô cách trọn nghĩa, là khi linh mục dám ướm thử đời mình theo khuôn mẫu cuộc đời Chúa Kitô. Đó là biết trút bỏ những ham hố, tham vọng, mưu cầu tư lợi và tự hủy mình trở nên người phụng sự Chúa, phục vụ con người như Chúa muốn.

              Hãy nhớ rằng, một khi Chúa Kitô tự hủy để sống nghèo khó, Người trở nên quà tặng vô giá. Linh mục cũng sẽ trở nên quà tặng khi biết trút bỏ, để sống sự nghèo khó như Chúa.

              Vì thánh hiến là dâng tặng đời mình. Linh mục sống đời thánh hiến, nghĩa là linh mục tắm mình trong tình yêu Thiên Chúa để hiến dâng tình yêu đã được thánh hiến của mình trao tặng anh chị em. Nhờ thế, linh mục không chỉ sống mầu nhiệm nhập thể, mà còn làm cho mầu nhiệm ấy thẩm thấu trong đời thánh hiến của mình. Xuyên qua những điều tốt lành ấy, linh mục đã sống hoàn hảo ơn gọi nên thánh trong thánh chức.

              Bông hồng trao tặng là để bày tỏ lòng yêu thương. Con người biết hủy mình để dâng tặng tình yêu, lời tỏ tình ấy có giá trị gấp ngàn lần những cánh hồng tươi nở. Nhưng nếu hiến dâng đời mình trong ơn gọi thánh hiến, hơn tất cả mọi lời yêu thương, người linh mục trở thành một con đường tình yêu nối trời cao với trần thế, đưa con người đến với Thiên Chúa, và trao ban chính Thiên Chúa cho con người. Còn nét đẹp nào có thể sánh bằng nét đẹp của ơn thánh hiến để dâng tặng đời mình như thế!

VẤN TÂM

1. Mừng Chúa Giáng sinh, tôi đã chuẩn bị tâm hồn thế nào để đón chờ ngày Chúa đến hôm nay trong từng ngày sống của tôi, nhất là trong ngày Người đến gọi tôi ra khỏi cuộc đời?

2. Chúa Kitô nhập thể, trở nên quà tặng của Thiên Chúa tặng ban cho loài người. Chính khi nhập thể làm người, Chúa Kitô đã chấp nhận hủy mình như thánh Phaolô đã từng viết trong thư Philipphê: “Đức Giêsu Kitô vốn vĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Ngài lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Philip 2, 6 -8)

     a. Bước theo ơn gọi là được Chúa Kiô mời gọi bước theo Người. Tôi có thật sự bước theo Chúa để trở nên môn đệ và là người loan tin bình an của Người cho anh chị em, hay ngược lại, nhiều lần tôi cậy vào cớ nào đó, đã gây nhiều phiền toái hay đòi hỏi, yêu sách, hoặc muốn sống thanh nhàn, vụ lợi, vụ hình thức?

    b. Tôi có ý thức, mình cần phải sống chính cuộc sống của Chúa Kitô để từng ngày cố gắng hơn trong đời Kitô hữu và trong thánh chức linh mục của mình?

     c. Sống chính cuộc sống của Chúa Kitô là tự hủy mình để nên quà tặng. Vậy tôi có ý thức sự từ bỏ, bao gồm: ý riêng mình, lối sống giàu sang, trưởng giả. Hay tôi thích được cung phụng chứ không phải hạ mình để phục vụ?

3. Cách riêng, đối với ơn gọi linh mục là ơn gọi nhằm phụng sự Chúa, phục vụ Giáo Hội và phục vụ con người. Biết thế, nhưng tôi vẫn tìm mọi cách để làm linh mục cho bằng được, dẫu cách ấy là con đường vật chất. Và hôm nay, khi đã là linh mục, tôi tìm lại những gì đã đánh đổi thánh chức trước kia?

HƯỚNG VỀ VĨNH CỬU

              Sống giữa cộng đoàn dân Chúa và cả những người chưa biết Chúa, Kitô hữu nói chung, linh mục nói riêng, trở thành mẫu gương sống đức tin cho mọi người. Đức tin đòi hỏi người linh mục chấp nhận sự tự hiến mình, mang lại ơn cứu rỗi, trước hết cho mình, sau là anh chị em xung quanh.

              Sự tự hiến đòi mỗi Kitô hữu chấp nhận thập giá. Đó là những khó khăn, có khi cả đau khổ. Chấp nhận thập giá, ta sẽ chấp nhận sống nghèo khó, sống dấn thân như Chúa Giêsu để phục vụ con người, phục vụ Giáo Hội và phụng sự Chúa.

              Các riêng với linh mục, chấp nhận thập giá, linh mục sẽ biết chấp nhận và thánh hóa sự độc thân của mình, biết chấp nhận và thánh hóa những hiểu lầm, những chống đối đến từ phía người khác. Biết chấp nhận thập giá như  thế, người linh mục sẽ không oán hận mà dễ tha thứ hơn. Chính khi hiến thân trọn vẹn trong thánh chức như thế, linh mục sẽ là một đoá hồng tươi thắm dâng tặng cho đời. Đoá hồng của đời linh mục sẽ biến thành niềm vui mừng, vì một ngày kia, nó sẽ tiễn đưa người linh mục bước vào sự sống của Chúa Kitô, sự sống của chính Thiên Chúa. Vì nếu tội lỗi hôm nay sẽ thành hậu quả vĩnh cửu, cũng vậy, công đức hôm nay sẽ nên phần thưởng đời đời: đó chính là được sống chính sự sống của Thiên Chúa

Trở về mục lục >>

 ĐÊM GIÁNG SINH GRÊXIÔ

Lm. Nguyễn Hải Minh, OFM

Tuyết đã ngừng rơi, bầu trời đen huyền, đây đó điểm vài ánh sao. Bên sườn núi, một vài đốm sáng lập lòe, lúc ẩn, lúc hiện. Những đốm sáng từ nhiều hướng qui tụ về hang đá bên sườn núi. Những tiếng lao xao, tiếng guốc gỗ va vào đá lạch cạch: dân làng Grêxiô từng nhóm nhỏ đi lên hang đá để đón mừng Chúa ra đời.

   Đến hang đá ven sườn núi, họ thấy mọi sự đã chuẩn bị sẵn: một con lừa ve vẩy đôi tai, một chị bò cái nằm nhai trệu trạo bên cái máng đầy rơm mới. Thầy Phanxicô tiếp đón dân chúng cách chân tình, đơn sơ. Thầy muốn làm sống lại sự kiện xưa kia đã xảy ra ở Bê lem. Thầy đã muốn có sự hiện diện của các con vật này, không phải chỉ để gợi nhớ lại con lừa chở Đức Trinh nữ và đã thở ấm Hài nhi, nhưng bởi vì thầy nghĩ rằng : biến cố Đấng Cứu thế Giáng sinh liên hệ đến toàn thể tạo thành. Trong đêm thánh này, thế giới đón nhận Đức Chúa của mình và nó được hiến thánh. Phải cho toàn thể mọi vật cảm thấy mình được đùm bọc trong tình yêu cao cả của Ngôi Lời Nhập Thể

  Càng ngày càng đông người. Họ chen chúc trong cái hang chật hẹp. Trẻ em luôn lên chen lên đầu và trố mắt ra nhìn. Mọi sự trong đêm này đều làm cho chúng lạ lẫm và ngỡ ngàng. Những ngọn đuốc chập chờn, những con vật, cái vòm đá màu vàng, nứt nẻ và lồi lõm, trên đó lung linh những bóng kỳ quái của người và vật, và ở giữa hang, một súc gỗ được kê làm bàn thờ.

Nửa đêm, một hồi chuông rung vang. Thánh lễ bắt đầu, anh Lêô cử hành. Thầy Phanxicô phụ tá mặc áo phó tế. Thầy hát bài Phúc Âm loan báo cho thế giới biết biến cố diễm phúc :

  “Hôm nay, Đấng Cứu Thế đã giáng sinh trong thành Đa vít. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp một trẻ sơ sinh bọc trong tã, nằm trong máng cỏ...”

  Bấy giờ đầy phấn khởi, thầy hô to: “Các bạn thân mến, các bạn đã nghe đấy : Ngôi Lời chí tôn, chí thánh, chí vinh, từ lòng Đức Trinh Nữ, đã nhận lấy xác phàm đích thực của loài người yếu hèn chúng ta. Vốn giàu sang phú quý, Người đã trở nên một em bé yếu đuối và đáng thương như mọi trẻ bé sơ sinh. Nằm trên rơm rạ, như kẻ khốn cùng nhất, nghèo khó nhất, tăm tối thất trong hàng con cái loài người. Hãy nhìn xem lòng khiêm hạ của Chúa chúng ta. Ôi một sự khiêm hạ thẳm sâu. Trong đêm nay, Thiên Chúa uy nghi đã trở nên người anh em của chúng ta. Đấng cao trọng hơn hết, đã làm người nhỏ bé, rốt hết. Người ở giữa chúng ta trong hình hài nhỏ bé, mong manh của một trẻ thơ.”

   Sau bài giảng ấy, thánh lễ lại tiếp tục giữa những lời ca tiếng hát, và mỗi người tham dự cảm thấy một niềm vui êm ái bao la vây bọc. Trong lúc rước lễ, những người nông dân ngỡ ngàng nhìn thấy một Hài Nhi đẹp lạ lùng tỉnh dậy và mỉm cười trong đôi cánh tay của thầy Phanxicô. Mọi người đều cảm nhận một mầu nhiệm vĩ đại vừa được thực hiện trên thế gian: Thiên đàng của tuổi thơ đã nở hoa.

***

Có người cần được yêu thương, cần được chăm sóc: Đó là ý tưởng thầy Phanxicô luôn ấp ủ trong tâm hồn khi thầy ở Grêxiô trong dịp lễ Giáng sinh năm 1223. Thiên Chúa, một Hài nhi yếu ớt để chúng ta có thể nâng niu, âu yếm; Thiên Chúa, một mẩu bánh để chúng ta có thể cầm lấy trong tay,  để chúng ta đừng sợ khi đến với Ngài. Thiên Chúa đã tin tưởng vào tạo vật là dường nào! Trong Thánh Thể và trong việc sinh hạ; chúng ta trưởng thành hơn, bởi vì chính Thiên Chúa  tự đặt Ngài trong bàn tay chăm sóc của chúng ta. Nếu ý thức được điều đó, chúng ta sẽ thoát ra khỏi cái tôi của mình, vì bấy giờ Thiên Chúa đã giao cho chúng ta một trách nhiệm. Không chỉ có ruộng đất để cày bừa và các tạo vật để khai thác, nhưng bây giờ chúng ta có Thiên Chúa để yêu thương chăm sóc. Các nông dân tham dự thánh lễ hôm ấy đã chứng kiến Hài Nhi dường như sống động và mỉm cười trong vòng tay thầy Phanxicô. Thiên Chúa đã đảo ngược vai trò vì tất cả những ai cần có người để yêu thương, để chăm sóc.

   Có người để yêu thương: Chính tại Grêxiô, trong đêm Giáng Sinh, thầy Phanxicô cầu nguyện cho tất cả những ai còn cô đơn hiểu được ý nghĩa thực sự của việc nhập thể của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã trở nên một con người giống chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Và Ngài để cho bất cứ ai đến với Ngài có thể tiếp xúc, đụng chạm, yêu thương và chăm sóc Ngài.

  Những nông dân chất phác ở Grêxiô đã nhận ra Hài Nhi, và một lần nữa Thiên Chúa lại tỏ mình ra cho những người bé mọn. Những bó đuốc mà họ mang theo để soi đường đi từ ngôi làng đến nơi ẩn dật của các tu sĩ ở bên kia đồi, giờ đây không cần đến nữa. Tâm hồn họ đã bừng cháy vì Thiên Chúa đã thực sự trở nên một Hài Nhi cho họ.

  Và người nông dân ở Grêxiô sẽ truyền tai nhau về điều đó cho các làng lân cận, và từ đó lan ra khắp thế giới. Có lẽ một ngày nào đó mọi người có thể nhìn vào máng cỏ Giáng Sinh và nhận ra rằng họ có một ai đó đang cần được yêu thương, cần được chăm sóc. Và từ đó trái tim họ sẽ nhạy cảm hơn nhờ Tình Yêu từ máng cỏ Giáng Sinh

Trở về mục lục >>

 

GIỮ LỜI HỨA VỚI CHÚA HÀI ĐỒNG

Radio Veritas 

Giáng sinh là nguồn cảm hứng không bao giờ múc cạn.  Trong lịch sử nhân loại từ 2,000 năm qua đã có vô số câu chuyện kể về ngày Giáng Sinh. Tựu trung hầu hết những câu chuyện Giáng Sinh đều xoay quanh những đề tài về lòng quảng đại, sự san sẻ, bởi vì ý nghĩa của lễ Giáng Sinh chính là sự trao tặng.  Do đó, chuyện Giáng Sinh cũng thường là chuyện tử tế.  Trong bầu khí Giáng Sinh, xin được kể hầu quí vị câu chuyện sau đây từ một linh mục người Mỹ ghi lại:

Vị linh mục giúp xứ đi một vòng kiểm tra xung quanh nhà thờ trước khi giáo dân đến tham dự Thánh Lễ nửa đêm.  Ghế bàn đã được sắp xếp thứ tự sạch sẽ, các cuốn sách hát lễ đã được thu dọn.  Chỉ còn vài phút nữa là bắt đầu Thánh Lễ ban sáng.  Sau khi đảo qua một vòng nhà thờ, vị linh mục trở lại phòng thánh để chuẩn bị Thánh Lễ, đi ngang qua máng cỏ, ngài dừng lại để chào thăm Chúa Hài Đồng, quang cảnh Giáng Sinh được diễn lại một cách vô cùng sống động trước mắt ngài.  Ánh sao hướng dẫn các mục đồng đến hang đá Bêlem, các mục đồng đang quỳ thờ lạy, các súc vật cũng trong tư thế trang nghiêm, giữa hang đá là Thánh Giuse và Mẹ Maria đang cung kính cúi nhìn xuống máng cỏ.  Bỗng vị linh mục chau mày và nhìn sát vào hang đá, ngài không thể cầm được tiếng than như vang dội khắp giáo đường.  Máng cỏ hoàn toàn trống trơn.  Hài nhi Giêsu đã biến mất.  Trong cơn hốt hoảng vị linh mục lục soát khắp mọi nơi nhưng vẫn không tìm thấy Hài Nhi Giêsu.  Ngài kêu gọi tất cả những ai có mặt trong giáo xứ đến nhưng không một vị nào có thể đưa ra một lời giải thích.  Các ngài bàn bạc tranh luận với nhau hồi lâu rồi cuối cùng đành lắc đầu.  Sự thật trước mắt là Hài Nhi Giêsu đã biến mất.

Trong thánh lễ rạng đông hôm ấy, vị linh mục đã báo cáo cho cộng đoàn về sự cố với một giọng vừa mạnh vừa run vì xúc động.  Ngài nói đến tính cách nghiêm trang của hành động.  Ngài coi việc đánh cắp tượng Chúa Hài Đồng là một hành động phạm thánh.  Từ trên tòa giảng, đôi mắt giận dữ của ngài đảo qua từng khuôn mặt trong cộng đoàn rồi dõng dạc tuyên bố:  "Hài Nhi Giêsu phải được mang trả lại nội trong hôm nay."  Trong các thánh lễ liên tiếp, vị linh mục cũng lập lại mệnh lệnh ấy, nhưng vô hiệu, máng cỏ vẫn trống trơn.

Chiều ngày Giáng Sinh, buồn bã vì sự việc xảy ra, ngài thẫn thờ đi qua các ngã đường của giáo xứ, đầu óc miên man nghĩ đến hành động phạm thánh. Ngày Giáng Sinh vẫn thường là ngày vắng lặng.  Thỉnh thoảng mới thấy có một bóng người qua lại, vậy mà lạ thay, trong một ngõ hẻm, có một bé trai khoảng 4, 5 tuổi đang ung dung bách bộ.  Đằng sau cậu là một toa xe lửa nho nhỏ xinh xắn mới toanh.  Đây hẳn phải là một món quà Giáng Sinh mà ông già Noel đã tặng cho cậu bé.  Vị linh mục tự suy nghĩ và cảm thấy vui lên với niềm vui của cậu bé. Ngài biết rõ cậu là con của một gia đình nghèo, cha cậu hẳn phải hy sinh rất nhiều để cậu có được một món đồ chơi xứng đáng trong ngày lễ Giáng Sinh.  Niềm vui của trẻ thơ thường đánh động tấm lòng già cỗi ích kỷ của người lớn. Trong phút chốc, vị linh mục như quên hẳn mọi phiền muộn trong lòng.  Ngài tiến tới để chúc mừng Giáng Sinh và chung vui với cậu.  Nhưng vừa đến gần, ngài bỗng chau mày, cũng cái chau mày như sáng hôm nay khi khám phá ra máng cỏ trống trơn.  Cái toa xe lửa không trống trơn mà lại có một hành khách, hành khách ấy không ai khác hơn là Hài Nhi Giêsu đã bị đánh cắp từ máng cỏ trong nhà thờ.  Hài Nhi Giêsu nằm trong toa xe lửa, mình được quấn khăn hẳn hoi, cậu bé không để lộ bất cứ một sự bối rối nào khi vị linh mục nhìn vào trong toa xe lửa của cậu.  Niềm vui nhỏ vừa loé lên nơi vị linh mục giờ đây nhường chỗ cho một cơn giận bất ngờ.  Ngài chất vấn cậu bé và giải thích cho cậu về hành động ăn cắp của cậu.  Vị linh mục nghĩ ít nhất một cậu bé 4, 5 tuổi cũng đã biết được rằng ăn cắp là một tội và nhất là ăn cắp đồ thánh nặng nề hơn.  Nhưng mặc cho vị linh mục hùng hồn dẫn giải, đôi mắt bồ câu ngây thơ của cậu bé vẫn không để lộ một mảy may sám hối nào.  Chờ cho vị linh mục trút hết cơn giận và chấm dứt bài học luân lý, cậu bé bình tĩnh thưa:

-  Nhưng thưa cha, con không hề ăn cắp Chúa Hài Đồng, sự việc xảy ra như thế này: Con đã cầu xin Ngài cho con được một món quà Giáng Sinh mà con hằng ao ước đó là có được một toa xe lửa màu đỏ.  Con đã hứa với Ngài rằng nếu con có được một toa xe lửa như thế thì Ngài sẽ là hành khách đầu tiên. Ngài đã nhậm lời con, cho nên con giữ lời hứa với Ngài!

*****

Trẻ thơ trên khắp thế giới vẫn tiếp tục tin có ông già Noel.  Trẻ thơ trên khắp thế giới vẫn tiếp tục tin ở lòng quảng đại và sự tử tế của người lớn.  Người Mỹ luôn giải thích cho con cái mình về ông già Noel như sau:

Ngày xửa ngày xưa, có một người đi rảo khắp thế giới để trao quà cho trẻ em.  Con có thể tìm thấy người đó với nhiều tên gọi khác nhau tùy theo mỗi nước nhưng những gì người đó cất giữ trong trái tim thì vẫn giống nhau trong mọi ngôn ngữ.  Người đó là tình yêu vô điều kiện và là ước muốn chia sẻ bàng những món quà xuất phát từ trái tim. Khi lớn khôn con sẽ biết rằng: Ông già Noel chẳng phải là lão già râu tóc bạc phơ đến từ những ống khói lò sưởi.  Cuộc sống và tâm hồn ông già Noel cũng sống mãi trong con tim của mỗi người chúng ta và trong tâm hồn của tất cả những ai còn tin ở tình yêu vì được trao ban cho người khác. Tinh thần đích thực của ông già Noel là những gì con có thể cho hơn là những gì con nhận lãnh.  Con sẽ hiểu được rằng: Ông già Noel sẽ sống mãi trong tâm lòng của mỗi người.

Lời giải thích trên đây của người Mỹ về ông già Noel hẳn gợi lại cho chúng ta trong lời mở đầu của đạo diễn Trần Văn Thủy trong các câu chuyện của ông như sau:

Từ rất xa xưa, cha bác có dạy rằng:  Tử tế có trong mỗi người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc, hãy bền đỗ đánh thức nó, đặt nó trên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đài quốc gia.  Bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có những nỗ lực tột bậc và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn.

Hãy hướng trẻ thơ và cả người lớn vào việc học làm người tử tế trước khi mong muốn và chăn dắt họ thành những người có quyền hành giỏi giang hay siêu phàm

Trở về mục lục >>

 CHIA SẺ GIÁNG SINH

NHỮNG NGƯỜI ĐẠO SĨ

Trần Duy Nhiên

A – NGƯỜI ĐẠO SĨ THỨ NHẤT

Tôi tên là Gaspar, một trong ba người đạo sĩ đã đến dâng của lễ bên máng cỏ ở Bêlem. Hai người bạn của tôi là Melchior và Balthazar.

Từ lâu rồi, tôi mãi ngắm nền trời sao, và hôm ấy, ngôi sao tôi chờ đợi xuất hiện. Các bạn từng có hình ảnh về sao lạ ở Bêlem, nên các bạn hình dung đó là một ngôi sao khác thường, với một cái đuôi thật dài chỉa thẳng về hang đá. Một ngôi sao mà không ai có thể nhận lầm được.

Xin thưa với các bạn, nếu các bạn nghĩ như thế thì các bạn lầm rồi đấy. Ngôi sao ấy không khác với các ngôi sao bình thường đâu. Tôi đã chờ đợi nó từ bao nhiêu năm trường mà khi xuất hiện, tôi vẫn còn do dự. Tôi đã chỉ cho bao nhiêu người xung quanh, cho bà con họ hàng, cho thân bằng quyến thuộc. Họ chỉ nhìn thoáng rồi thôi. Họ bảo rằng giữa hằng hà sa số tinh tú trên trời thì ngôi sao ấy cũng chẳng có gì đặc biệt. Không ai chịu lên đường với tôi, rốt cuộc tôi phải đi một mình. Không ai muốn đặt niềm tin vào một vì sao, mà xét cho cùng, có thể chỉ là một ngôi sao như trăm ngàn ngôi sao khác. Nhưng riêng tôi thì tôi phải ra đi, bởi vì tôi không thể đặt ngôi sao ấy đồng hàng với những ngôi sao bình thường được.

Khi gặp được Melchior và Balthazar, niềm phấn khởi của chúng tôi có gia tăng. Nhưng dù sao cũng chỉ là ba người thức giấc bước đi trong đêm tối cố theo một ngôi sao, trong khi mọi người khác đang yên hàn trong giấc ngủ. Càng đi chúng tôi càng mệt mỏi. Khi thể chất mệt nhoài, thì tinh thần cũng sa sút, và những gì chúng tôi tin tưởng lúc khởi hành cũng dần dần nhạt phai. Nhất là khi trên nền trời hiện ra nhiều vì sao mới, sáng sủa hơn, đẹp đẽ hơn, gần gũi hơn.

Thế nhưng chúng tôi cũng bám vào ngôi sao ban đầu, bám vào một cách cố chấp, vì chúng tôi đã tự hứa sẽ trung thành với ngôi sao đã thúc dục chúng tôi lên đường.

Rồi chuyện bi đát đã xảy ra: Ngôi sao của chúng tôi đã biến mất. Bây giờ chúng tôi mới thực sự cô đơn. Ba chúng tôi nhìn nhau không dám nói một lời. Chúng tôi không tìm ra lời nào để khích lệ nhau. Đức tin thúc dục chúng tôi đi tới, lý trí bảo rằng chúng tôi phải quay về. Và chúng tôi im lặng đi bên nhau, cô đơn giữa những người cùng chí hướng. Chúng tôi bước đi trong đêm tối, đêm tối trên trời, và đêm tối trong lòng. Với tâm trạng đó, chúng tôi tiến về Giêrusalem.

Đến Giêrusalem, chúng tôi cảm thấy mình như rồ dại. Chúng tôi chờ đợi một Giêrusalem tưng bừng mở hội đón chào đấng Messia, nhưng trái lại chúng tôi bắt gặp một Giêrusalem hờ hững. Giêrusalem là nơi phát xuất Kinh thánh, là nơi của Lời hứa, vậy mà Giêrusalem chẳng hay biết gì cả. Điều này chứng tỏ rằng chúng tôi đã sai lầm, chúng tôi đã bị một ngôi sao vớ vẩn nào đó đánh lừa. Nhưng dù sao, chúng tôi vẫn tiếp tục. Chúng tôi sẽ đi ngược lại với mọi chứng cớ, vì chúng tôi là những người đã bị một vị sao trên trời cuốn hút; chúng tôi không thể lùi lại. Chúng tôi sẽ là những người khôn ngoan nhất hoặc sẽ là những người rồ dại nhất.

Chúng tôi phải bước tới. Đến gặp Hêrôđê. À! thì ra cũng còn một người thức tỉnh. Ông niềm nở đón tiếp chúng tôi, ông cho gọi các luật sĩ đến chỉ đường cho chúng tôi về Bêlem; ông mời chúng tôi trở lại báo tin cho ông biết để đi thờ lạy ...

Mãi sau này chúng tôi mới biết được rằng vì quyền lợi mà ông thức tỉnh chứ không phải vì niềm tin. Thì ra người ta dễ dàng thức tỉnh vì quyền lợi hơn là vì niềm tin. Bởi thế mà Hài Nhi đã bị kết án tử hình trước khi chúng tôi đến thờ lạy.

Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình về Bêlem như những người say, dân chúng Giêrusalem đang tựa cửa đứng nhìn. Chúng tôi đã bao nhiêu đêm ngày lặn lội đến triều bái vị vua mới sinh. Còn họ, họ không buồn ngưng cuộc sống bình thường lấy một ngày để đến Bêlem kiểm chứng. Phải chăng họ đã chờ đợi quá lâu rồi nên bây giờ không còn tha thiết gì nữa? Phải chăng niềm tin của chúng tôi chỉ là ảo tưởng?

Lúc đến Giêrusalem, chúng tôi đã đi ngược lại quan niệm của những người bàng quan. Giờ này về Bêlem, chúng tôi đi ngược lại với quan niệm của những người được tuyển chọn. Dưới mắt mọi người, chúng tôi là những kẻ bất bình thường, nếu không phải là những người khờ khạo.

Và này, ngôi sao lại xuất hiện, chúng tôi nhìn nhau mỉm cười mà nước mắt tuôn trào. Không! Ngôi sao xuất hiện không phải để chỉ đường, vì chúng tôi đã biết đường về Bêlem. Ngôi sao xuất hiện không phải để củng cố niềm tin, vì chúng tôi vẫn tin tưởng, tin tưởng một cách ngoan cố, tin tưởng ngay trong lúc ngỡ rằng mình nghi ngờ. Ngôi sao xuất hiện như một bằng chứng tình yêu đáp lại tình yêu.

Chúng tôi đã đến Bêlem dâng lên hài Nhi những của lễ vật chất kèm với tấm lòng thành của mình. Chúng tôi đã tìm được kho tàng quí giá nhất. Đối diện với hài Nhi, chúng tôi hiểu rằng, khi ra đi, chúng tôi đã không có một của lễ nào xứng đáng để dâng lên Ngài. Chúng tôi quả đã mang theo vàng, nhũ hương và mộc dược. Nhưng những của lễ đó hoàn toàn không có giá trị nếu không kèm theo những đau khổ, những cực nhọc, những lo âu, những thử thách, những đêm tối trong lòng.

Nhờ vậy mà chúng tôi đuợc thấy ánh sáng trong đêm Bêlem này. Bây giờ chúng tôi có thể ra về, chúng tôi trở về rón rén, im lặng vì chúng tôi đã tìm được kho tàng mà những vị vua chúa không thèm, một kho tàng mà họ ghét bỏ và muốn tiêu diệt.

Vâng, Hêrôđê đã ra lệnh cho binh sĩ chỉnh tề gươm giáo. Chúng tôi không trở lại với Hêrôđê, chúng tôi đã thất hứa. Các bạn không trách chúng tôi chứ? Chúng tôi đành thất hứa với một ông vua, chứ làm sao chúng tôi có thể phản bội hài Nhi.

Tôi tin rằng các bạn thông cảm với chúng tôi, bởi vì hành trình của chúng tôi cũng chính là hành trình của các bạn ngày hôm nay. Hành trình của những người hướng về một ngôi sao có khi đã tắt, và âm thầm tiến về Bêlem.

B – NGƯỜI ĐẠO SĨ THỨ TƯ

Có lẽ tôi cũng cần phải lên tiếng, bởi vì nếu hôm nay tôi im lặng, tôi sẽ là một tên vô ơn bạc nghĩa nhất trên đời. Tôi là một người đã đến bên hài nhi với hai bàn tay trắng và đã nhận tất cả nơi Giêsu. Tôi là một trong muôn ngàn người đến với Giêsu, nhận lấy thật nhiều rồi ra đi lặng lẽ. Tôi là người đạo sĩ thứ tư, người đạo sĩ đến sau cùng và Phúc âm không đề cập đến. Cố nhiên tôi cũng đã chuẩn bị một lễ vật dâng lên hài Nhi, nhưng vì lơ đễnh tôi đã để rơi rớt.

Ngày tôi phát hiện vì sao lạ, tôi đã mở kho tàng mình và lấy ra ba viên ngọc quí nhất để làm của lễ tiến dâng. Tôi đã chậm trễ dọc đường nên không tới kịp như ba vị trước.

Trên đường đi, tôi đã gặp một cụ già hấp hối, đói rét và bệnh tật nhưng không có ai chăm sóc. Tôi đã yếu lòng nên lấy ra một viên ngọc để nhờ người chăm sóc cụ già ấy. Đó là lý do đầu tiên làm tôi chậm bước. Ngày hôm sau, tôi lên đường một mình. Khi qua một khu rừng thưa, tôi nghe có tiếng thét thất thanh, tôi đã dừng lạc đà rồi tò mò chạy đến. Tôi thấy có mấy tên côn đồ muốn hành hung một phụ nữ. Tôi không đủ sức đánh chúng, nên đành phải rút viên ngọc thứ hai mà mua lấy tự do cho người bất hạnh kia. Thế là tôi chỉ còn một viên ngọc cuối cùng. Tôi quyết sẽ không phung phí vì bất cứ một lý do gì nữa. Nhưng rồi tôi lại không giữ được lời tôi nguyện.

Khi đến gần Bêlem, bỗng thấy lửa rực trời. Những người lính của Hêrôđê đang giết những trẻ em. Gần một ngôi nhà bốc lửa, một tên lính nắm xốc ngược một hài nhi định lấy gươm mà đâm thâu, và dưới chan là người mẹ quì khóc gào không ra tiếng ... Tôi bỗng quên lời hứa với chính mình và đem viên ngọc thứ ba trao cho tên lính để nó trả đứa bé lại cho người mẹ khốn cùng. Thế là hết, tôi chẳng còn gì nữa. Tôi đã đi bao nhiêu đêm ngày đến đây mong triều bái vị vua mới sinh, thế mà tôi lại đến với hai bàn tay trắng. Dù sao thì tôi cũng phải đến để xin lỗi Ngài.

Tôi cúi mặt bước vào hang đá. Tôi nghẹn ngào khi thấy vàng ròng, nhũ hương và mộc dược của những người đi trước tôi. Tôi không còn lòng dạ nào nói lên lời xin lỗi. Tôi quì xuống cạnh máng cỏ, úp mặt vào lòng bàn tay, mặc cho dòng nuớc mắt tuôn trào.

Nhưng kìa, sao nước mắt tôi hôm nay ấm thế?... Không, không phải là nước mắt, nhưng là đôi tay ấm áp của Chúa Hài Nhi đang nắm lấy tay tôi. Chúa Hài Nhi không lộ vẻ trách móc, nhưng nhìn tôi âu yếm, trên môi nở một nụ cười. Và tôi cảm thấy tràn đầy bình an. Tôi chợt hiểu rằng, tôi là người duy nhất lãnh nhận tất cả nơi Hài Nhi, bởi vì tôi chẳng có gì để tiến dâng cả. Tôi hiểu rằng nếu tôi đến bên hài nhi với ngọc ngà châu báu thì có thể tôi đã trở về không, bởi vì lòng tôi đầy ắp tự mãn nên không còn chỗ để chứa chất bình an của Ngài. Nhưng tôi đã đến bên hài nhi với đôi bàn tay trắng, và cõi lòng trống không, vì thế tôi đã nhận được bình an tràn đầy.

Vì thế mà hôm nay tôi bắt buộc phải nói lên một lời cảm tạ. Tôi muốn nói với các bạn rằng nếu bạn còn một của cải vật chất hay tinh thần nào đó mà bạn dành cho Hài Nhi, thì hãy phân phát cho người khác; các bạn hãy đến bên Hài Nhi như tôi, đến với sự khó nghèo trong lòng và với hai bày tay trắng, thì rồi các bạn sẽ nhận được tất cả

Trích Chia Sẻ Giáng Sinh

Trở về mục lục >>

 

“Không ai có thể mừng Giáng Sinh một cách chân chính nếu không trở nên nghèo. Ai tự mãn, tự kiêu, ai khinh khi kẻ khác vì mình có mọi sự, ai không cần đến ai - kể cả Thiên Chúa, người ấy chẳng có được niềm vui Giáng Sinh. Chỉ có người nghèo, người đói, người cần đến một Đấng khác đến với mình, thì sẽ nhận được Đấng khác ấy. Đấng khác ấy chính là Thiên Chúa, Emmanuel - Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Thiếu sự nghèo khó trong tinh thần thì sẽ không nhận được sự dồi dào nơi Thiên Chúa.”

Giám Mục Oscar Romero.

CON LỪA TRÊN ĐƯỜNG SANG AI CẬP

 

Lê Vân Bích

Lts: Maranatha_ 30 có đăng bài “Con lừa bên máng cỏ.” Bài này đã được độc giả Lê Vân Bích nối dài bằng những suy nghĩ hôm nay, khi con lừa đi trên con đường sang Ai Cập. Maranatha xin phép đăng lại như lời chia sẻ....

 Bò mới trông thì thế đấy... nhưng bên trong thì thật dễ thương

Ơn lớn nhất chúng tôi đã nhận được từ hài nhi là chúng tôi thương yêu nhau.”

Hai câu nói này cứ theo tôi mãi trên suốt cuộc hành trình sang Ai Cập. Tôi bắt đầu nhìn lại mình và hơn bao giờ hết, tôi thấy rõ những sự bất toàn nơi tôi. Thật vậy, trong quá khứ, đã nhiều phen tôi hãnh diện vì mình là kẻ được chọn, được tín nhiệm, được sử dụng, được vinh dự để chuyên chở cô chủ dịu dàng, dễ mến – Mẹ của Hài Nhi. Rõ ràng là tôi đã từng nghe ông chủ khen tôi là con lừa giỏi, biết chịu khó, không kêu la khi đói mệt, và nhất là luôn làm cho cô chủ an tâm khi ngôi trên lưng mình. Tôi thích thú, tôi hài lòng và tôi ôm giữ niềm vui cho riêng mình.

Nghĩ cho cùng, tôi biết mình cũng không khác gì so với những con lừa khác, nhưng ít ra là có được sức khoẻ, có khả năng, có kinh nghiệm hơn chúng... Và rồi như bạn thấy đó, thật là tai hại khi tôi đã đối xử không một chút tình nào với bò. Cái bản tính đinh ninh, điều gì đã không thích thì có đẹp cũng thành xấu. Cái tính cố chấp khiến mình khó khăn giữ được thái độ bình thản khi bị chê bai là ‘ngu như bò’. Cái tính cuồng nộ, dễ nóng giận khi gặp điều trái ý. Đã vậy, một cách nào đó, tôi cũng có khuynh hướng khinh thường kẻ khác khi thấy họ sống cục mịch, thiếu vệ sinh... nước miếng nhiễu nhãi, ăn nói xồm xoàm..., thật là khó thương làm sao!

Ôi, đêm huyền diệu, đêm thánh vô cùng! Đêm thay đổi đời tôi! Kể từ lúc tôi bất chợt bắt gặp nụ cười xinh đẹp và ánh mắt tròn to của Hài Nhi tại hang Bê lem, tim tôi đã rung lên niềm hạnh phúc. Ánh mắt trong suốt như một bể trời yêu thương đã làm cho tôi chới với. Tai tôi nghe muôn vàn lời chúc tụng:

Vinh Danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm.”

Ô kìa, bò cũng đang mỉm cười nhìn tôi và lòng tôi chợt rung lên niềm cảm mến!

Đêm nay trời thật trong, muôn vàn vì sao lấp lánh soi tỏ lối đi. Tôi thấy rõ lòng mình và hơn bao giờ hết, tôi miên man nghĩ ngợi về bò, về cô chủ dịu dàng, về ông chủ âm thầm lo cho vợ hiền con thơ. Hình ảnh đêm Bê lem, và nhất là niềm hạnh phúc tỏa lan trong gia đình bé nhỏ này đang làm cho lòng tôi bồi hồi cảm xúc.

 Hài Nhi vừa ngọ nguậy lên tiếng, tôi chú ý rõ hơn, rõ hơn đến nỗi như nghe thấy được điều Hài Nhi nói với tôi đêm nay:Bao lâu tôi không để ý đến mình mà chỉ để tâm chú ý đến Hài Nhi, bấy lâu sự ray rứt buồn phiền sẽ tan biến và niềm yêu thương, hạnh phúc viên mãn sẽ ngự trị.

Thật diệu kỳ! Như một liều thần dược, tôi bỗng không còn thấy mình ‘ngu như bò, hoặc ngu như lừa’ nữa. Tôi cũng không còn bị ray rứt vì đã làm cho bò buồn lòng vị sự khinh miệt thấp hèn của tôi đối với bò. Hơn thế nữa, mặc dù tôi chưa nói rõ cho bò hiểu rằng bò rất dễ mến, để mong bò tha lỗi cho tôi và hy vọng lời nói ấy sẽ yên ủi bò thật nhiều, nhưng tôi biết: cả tôi, cả bò, và tất cả, đã dược ơn biến đổi vì chính sự hiện diện của Hài Nhi trong cuộc đời mình.

Trời vừa hừng sáng, tôi tiếp tục dõi bước đi nhanh về Ai Cập. Bên cạnh tôi, ông chủ vẫn kiên trì vội vã sánh bước. Trên lưng tôi, Mẹ và Hài Nhi như đang cảm thông nỗi vất vả của một cuộc ra đi nhiều truân chuyên, nguy hiểm. Từ nay, cuộc đời tôi bắt đầu rẽ sang một bước ngoặt mới. Cuộc hành trình chắc chắn sẽ gặp nhiều gian khổ, thử thách, nhưng chắc chắn cũng ngập tràn niềm hạnh phúc mà không ai trên trần gian này có thể lấy mất được.

Hài Nhi ơi, cảm ơn Hài Nhi, Đấng đang ở giữa chúng ta, Đấng đang ở cùng chúng ta!

Trở về mục lục >>

HỌC HỎI 

Sáng Danh Thiên Chúa trên trỜi !

       Bình An xuỐng cho nhân trẦn (Luca 2: 14)

                                                            (tiếp theo Maranatha_30)

 Nguyễn Công Bình

C. Chúa  thương xót loài người và ban xuống Bình An cho khắp thế

Những câu số 11 đến số 15 sau đây muốn nới rộng ý nghĩa để diễn tả loài người nói chung  đã là đối tượng của Tình Yêu Thương của Chúa khi Con Thiên Chúa đã đến để ở với loài người  : 

Câu số 11 .Vinh danh Thiên Chúa trên trời

Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương

(bản dịch của nhóm Phụng Vụ Giờ Kinh) (xin đọc chú thích của câu này theo bản dịch)

 

Câu số 12. Sáng danh Chúa  trên các từng trời rất cao,

Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người. 

(ân trạch : ơn nhà vua ban cho bậc dưới)

(Bản dịch cúa Thánh Kinh Hội -New York)

 

Câu số 13. Glory to God in the highest

and on earth peace, goodwill toward men.

(Holy Bible - The Gideons International)

 

Câu số 14. Glory to God in the highest

and on earth Peace,    and Blessed Hope for all people

(Giáo Hội Aramic-Aramaic Bible www.v-a .com/bible )

Tại sao mấy câu dịch này lại dùng chữ loài người, người người Chúa thương thay vì  những người Chúa thương?   

Người Âu Châu có thói quen dùng chữ  "đàn ông - viết theo số nhiềusong cách hiểu hơi khác nhau . Anthropois, hominibus, to men mang 3 ý nghĩa:

(1) ý nghĩa hạn hẹp  cho  một nhóm từ  2 người đàn ông trở lên, không có đàn bà trong nhóm đó .

(2) " một nhóm người gồm cả nam và nữ "

(3) "loài người"  cách tổng quát.

Tiếng Việt dùng chữ "loài người" nói chung, hoặc bầy, đám, bọn theo nghĩa hẹp, song không cần nói rõ phái tính nên giản dị hơn.

Tôi hoan nghênh các bản dịch 10-14 này. Ðọc trọn hai bộ Tân Ước và Cựu Ước , chúng ta phải nhìn nhận Chúa yêu thương tất cả mọi người trước khi tạo dựng ra họ . Tôi tin như vậy vì Chúa nói: Các con hãy vui mừng vì tên của các con đã được ghi trên trời (Lc 10:20) Thánh Phaolô đã hiểu và chia sẻ mầu nhiệm này qua thơ Ephesô, (chỉ xin trích câu 1:4-5) Chúa Cha đã kén chọn chúng ta trong Ðức Ki Tô từ trước khi Ngài tạo thành vũ trụ ,để cho chúng ta được thánh thiện và tinh tuyền trước mặt Ngài.  Trong Tình Thương, Ngài đã tiền định cho chúng ta được làm con của Ngài, qua Ðức Ki Tô, theo như Thánh Ý của Ngài

Mẹ Giáo Hội cho lặp lại rất rõ câu ấy trong điều 1703 Bộ Giáo Lý Công Giáo rằng Chúa đã tiền định cho mọi người được cứu rỗi.  Tôi là Nguyễn Công Bình, cả tên của từng quý vị nữa, cả tên tổ tiên và hậu duệ quý vị đã được ghi vào Sổ Hằng Sống rồi, chỉ vì Lòng Thương của Chúa. và đã được ghi trước ngày có big bang tạo ra vũ trụ này.  Xin hãy vui lên!

Mọi câu dịch 1 - 14 về hình thức cũng như nội dung đã trung thành trong từng chữ với bản Hy Lạp và đã dịch thật sát, thật trung thực và thật đúng ý nghĩa. Dĩ nhiên còn nhiều bản dịch khác bằng tiếng Pháp, Anh , Trung Hoa, Campuchea và 14 câu dịch trên chỉ là sưu tầm giới hạn cho bài này.  Xin vào net để đọc nhiều hơn.  Tôi thấy thích thú lắm.

Song xin mọi người lắng nghe câu dịch thứ 15A của hai nhạc sĩ Việt Nam là Hoài Ðức và Vương Trinh và đồng thời hai vị đã phổ nhạc câu ấy trong bài "CÙNG ÐI BE-LEM - Kìa trông huy hoàng vì sao, chiếu soi gần xa khắp miền. Nào hỡi mục đồng dậy mau..." đầy ý nghĩa này mà có lẽ không ai không thuộc lòng.  Chúng ta cùng hát nhé:

Giữa muôn vàn hào quang - Với muôn ngàn hương ngát lừng

Bao thiên thần hòa vang - Cất cao lời cung chúc mừng:

Sáng Danh Thiên Chúa trên trời!

Bình An  cho khắp nhân loại .

Sáng Danh Thiên Chúa trên trời!

Bình An xuống cho nhân trần .

Ðồng đẳng với câu 15A là câu 15B của nhạc sĩ Hùng Lân trong bài Hang Bê Lem .  Trong câu trước, nhạc sĩ giải thích, câu sau ca vang Vinh Danh Chúa và cầu xin An Hòa . Ta cùng hát

Ngày nay Con Chúa  -  giáng sinh ra chốn gian trần

Người đem ơn phúc  -  xuống cho muôn dân lầm than

Nơi hang Bê Lem thiên thần xướng c : Thiên Chúa Vinh Danh  chúng nhân An Hòa

Hy vọng mọi người cùng đồng ý chấm điểm hai bản dịch 15A và 15B này cao nhất, hay nhất, vì vừa dịch đúng chữ, đúng ý nghĩa của Lòng Chúa yêu thương vô bờ ban cho loài người tội lỗi, lại vừa có âm điệu du dương.

D. Hosanna in excelsis!

Chúng ta hát Kinh Thánh Thánh Thánh (Isaiah 6:3 Rev. 4:8) để tìm hiểu ý nghĩa câu thứ nhất Kinh Vinh Danh Gloria in excelsis Deo, Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời.

Sanctus ! Sanctus!

Sanctus Dominus Deus Sabaoth!

Pleni sunt coeli et terra Gloria Tua!

Hosanna in excelsis!

3

Thánh! Thánh! (3)

Chúa là Thánh!   là YHWH Chúa Trời (1)

(các đạo binh =)  đầy uy quyền (2) !

Trời với đất đầy hiển vinh Chúa (4)

Hoan hô Chúa trên các từng trời! (5)

 

Benedictus qui venit in Nomine Domini

Hosanna in excelsis!

Chúc khen Ðấng nhân Danh Cha mà đến (6)

Hoan hô Chúa trên các từng trời! (5)

Thiển nghĩ kinh Thánh Thánh Thánh ca tụng Chúa Uy Quyền là Kinh Vinh Danh I đã được các thiên thần hát trước kinh Vinh Danh II.  Các thiên thần hát kinh Thánh Thánh Thánh đồng thời báo tin rằng Chúa Con YHWH+SHUA Giêsu sẽ xuống thế cứu chuộc Dân Ngài, cải tạo thế giới và mang Bình An.  Xin sẽ dành riêng một bài về kinh Thánh Thánh Thánh - trừ vài điểm liên hệ đến Niềm Vui Giáng Sinh.  Xin lược dịch

Lậy YHWH Chúa Trời (1) đầy uy quyền! (2)

Chúa là Thánh!  Thánh! Thánh! (3)

Trời với đất đầy hiển vinh Cha (4)

Tung hô Chúa trên các từng trời! (5)

Chúc khen Ðấng nhân Danh Cha mà đến (6)

Tung hô Cha trên các từng trời! (5)

Song cũng có thể đọc là

Từ các từng trời cao, Lậy YHWH SHUA, xin cứu (5)

(1) Lậy YHWH Chúa Trời

YHWH Ta là Ðấng Hằng Sống I AM WHO I AM là Danh Cực Thánh của YHWH Chúa ChaCực Thánh đến nỗi Maisen chi dám viết song thấy Danh Cực Thánh thì cung kính đọc ra ADONAI The Lord- Ðức Chúa hay ELOHIM The Almighty Ðấng Ðầy Quyền Năng.  Mong mọi người cùng hiểu vì cung kính chữ YHWH không được đọc ra.

(2)  YHWH   là  Chúa Trời  (các đạo binh =)  đầy uy quyền

Thời nào cũng vậy, ông vua có nhiều quân đoàn là ông vua đầy uy quyền. Xin hiểu theo nghĩa bóng vì Thiên Chúa tuy uy quyền nhưng không hiếu chiến mà đầy Tình Thương.  MaiSen gọi Chúa YHWH là ELOHIM tức Ðấng Toàn Năng. Chúa GiêSu cũng được gọi là EmmanuEl Em-manu-Elohim Ðấng Thánh Quyền Năng ở với loài người.  Chúa GiêSu dậy ta ca tụng Nước Cha trị đến, Nước Tình Yêu lan rộng.

 (3) Thánh ! Thánh ! Chúa là Thánh

Mẹ Giáo Hội thêm vào chữ Chúa là nguồn mạch của mọi sự thánh thiện trong kinh Thánh Thể .  Người Tầu dùng chữ thánh để chỉ ông vua của mình, là người duy nhất, cao nhất.  Thánh ân là ơn vua.  Thánh nhân, thánh hiền là người thuộc về ông vua và là bậc tài trí, đạo đức thâm cao. Thánh Giá là xe của vua đi, và ta dùng chữ ấy cho cây gỗ hình chữ thập tự (thập là số mười song viết là + như dấu cộng, tự là chữ) mang Chúa vào cõi chết để Chúa chứng minh Ngài từ cõi chết mà sống trở lại (Chúa nói: Ta là Sự Sống Lại và Là Sự Sống).

Sanctus là được biệt riêng ra, là duy nhất khi nói về Chúa là Vua Vũ Trụ, cũng là Vua ngự trị lòng ta (Nước Cha trị đến) Sanctii Domini các người thuộc về Chúa và được thương ban ơn thông hiệp với Nguồn Thánh của Chúa . Ta hay gọi tắt là Sanctus ví dụ thánh Giuse, thánh Maria.

người nghĩ tiếng Việt nghèo nên phải mượn chữ thánh của Tầu. Tự Vị của cụ Huỳnh Tịnh Của cho thấy như thế song ta không hề dùng chữ thánh để chỉ Ông Trời vì Ngài cao cao thẳm nên không có tính tự (adjective) nào của miệng lưỡi loài người để hình dung Ngài. Thánh được dùng để chỉ những gì thấp hơn Ngài, thuộc về Ngài. Ví dụ các thánh, đất thánh, Phép Rất Thánh Mân Côi , Tòa Thánh...... Tầu nói thánh đường, ta gọi nhà thờ.  Qua những câu chuyện cổ Lạc Việt, với bằng chứng đọc được qua những trống đồng cổ nay đã cả 2500 đến 3000 năm thời các vua Hùng (khi người Tầu chưa thống trị ta về chính trị và văn hóa) ta có thể thấy tổ tiên chúng ta không thờ mặt trời mà thờ Một Ông Trời, Ngài ở trên cả mặt trời mặt trăng, và tổ tiên chúng ta tin rằng khi ta chết thì được về với Trời.

(4) Trời với đất đầy hiển vinh Cha .

(5) Hoan hô Chúa trên các từng trời!

Người Tầu gọi Trời là Thượng Ðế Vua Chí cao, chỉ vua mới là thiên tử con trời, mới có quyền thờ Trời, dân chúng là của vua.  Song Người Việt đã 4000 năm gọi cha mẹ tổ tiên bằng chữ "cha mẹ" nói chung như khi nói Cha Rồng Mẹ Tiên. Và ai ai cũng được thờ Trời, được ca ngợi Trời, được  gọi ngài là "Ông Trời " thật khá gần gũi thân thương.  Chúa Giêsu nay cho phép ta gọi YHWH là Cha .

Dĩ nhiên Kinh Lạy Cha là kinh hoàn hảo nhất do chính Chúa GiêSu dạy ta đọc. Trong Kinh Lạy Cha,  ta cầu Cha cho lương thực hàng ngày.  Theo tổ tiên ta thì Lậy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cầy, lấy đầy bát cơm, lấy rơm đun bếp.  Trời không mưa cơm gạo xuống mà cơm ăn hàng ngày do hạt lúa Trời ban song cũng do công sức con người.  Trong nước khi có biến thì cầu Trời và cầu "các thánh tổ tiên" (truyện thánh Gióng).  Ngày ngày nhất là Tết thì đều tạ ơn Trời (Xin dành một bài riêng sau này). Xin lược tóm, ta vinh danh Ông Trời qua lòng tin (truyện Dưa Hấu), lòng nhớ ơn (truyện bánh chưng) và ngày ngày cầu xin Ngài .

Chúa Giêsu nay cho ta gọi YHWH là Cha. Chính trời đất ca lên Vinh Quang của Chúa là Ðấng Tạo Thành. Ngay cả mấy món tầm thường như trái dưa hấu, hạt lúa, cái bánh chưng cũng nhắc ta Lòng Thương Yêu của Chúa. Còn chính chúng ta thì sao? 

Hosanna nghĩa là Tung Hô, Ngợi Khen ... Người Tầu tung hô tâng bốc ông Vua là vạn tuế (thọ 10,000 năm), mẹ vua là thiên tuế (thọ 1000 năm).  Dùng chữ Hoan Hô sợ hơi thường quá  mà dùng chữ Vạn Tuế ca tụng Vua Trời sợ không phải đạo vì Ngài là YHWH Ðấng Hằng Sống trên cả 10000 năm. Xin chịu thua. Mong các bậc thầy chỉ dẫn cho.

(5) Từ các từng trời cao, Lậy YHWH SHUA, xin cứu ! (6) Chúc khen Ðấng  nhân Danh Cha mà đến !

Tiên tri Isaiah viết Hosanna, đọc từng chữ là Hosia naHosia do chữ YHWH + SHUAH (Yo-Shua) viết ghép, na = go to xin hãy đến - Nghĩa là Xin Chúa thương đến Cứu Chúng Con.  Tiên tri đã loan báo Chúa Cứu Chuộc Emmanuel sẽ đến. Dùng câu Xin Cứu để mang nghĩa ca tụng YHWH quả hay vì là nói lên Ðức Cậy Trông, vì là thú nhận ta yếu đuối và tùy thuộc vào Ngài.

Hoan hô Tên Cực Thánh GiêSu YHWH+SHUA

YHWH+SHUAH ta đọc theo âm mới thành tên Chúa GIÊSU. Vì thế tại sao ta cần ngợi khen Ngài đã đến từ Cha và mong đợi Ngài Lại Ðến. Mong chờ Ngài đến lại lần thứ hai từCha để mang ta về Nước Cha Cõi Trời.

Maranatha (chữ Aramic - 1Cor 16:22) vì thế có 3 nghĩa: Chúa đã đến! Chúa sẽ đến!

Lậy Chúa Giêsu, xin hãy đến . 

Our Lord YHWHSHUA has come! Our Lord YHWHSHUA will come!

YHWHSHUA, Our Lord please come!

Suy niệm 1:

Thái độ chúng ta khi cầu nguyện

Xin mạo muội đưa ra vài ý kiến.  Trước hết tôi chẳng có thẩm quyền gì để cho rằng bản dịch nào là đúng nhất mà chỉ theo văn phạm để đọc rồi kết luận cách rất "ba phải" rằng tất cả các bản dịch từ số 1 đến 15 đều đúng, các câu dịch đều có "Thánh Thần " trong ấy. 

Xin mỗi người tự chọn câu dịch nào mình thích nhất làm lời cầu nguyện của chính mình. Dù sao, thiển ý của tôi, thái độ chúng ta khi cầu nguyện mới là điều quan trọng.

Người Pharisiêu nghĩ rằng mình thuộc Dân Chúa, nghĩ rằng mình đã giữ 10 điều răn, nghĩ rằng mình đã công chinh, thiện tâm hơn hẳn người khácCâu trả lời của Chúa cho sự ngu dốt vì cận thị này rất thậm tệ vì những người tự coi là công chính ấy chẳng được tha thứ tội lỗi nào cả.

Và thái độ chúng ta khi cầu nguyện nghĩ rằng Chúa thuộc về mình cũng nguy hiểm lắm lắm. Các trẻ em chậy ồ đến Chúa dã bị các tông đồ la mắng, ngăn cản.  Người mù, người què thấy Chúa đi đến đã la lên xin ơn cứu song những người theo Chúa đã la mắng họ, quát nạt họ, bảo họ im mồm. Xin đọc Matthêu 7: 21-23 và Luca 6: 46 để thấy câu trả lời của Chúa. Nhìn vào chúng ta, phải chăng chúng ta cũng đã ích kỷ như vậy và chỉ muốn dịch chỉ muốn hiểu chữ Hominibus là riêng cho chính mình? và đã la mắng ngăn cản cũng như miệt thị  người khác là non hominibus (?)  khi họ thật sự cần đến Chúa .

Bệnh độc quyền hình như không bị chúng ta phát hiện vì không có triệu chứng và nhiều khi đã ăn hết bộ óc chúng ta rồi. Chúa giáng sinh để chết cho tội lỗi của cả nhân loại để mang ơn phục sinh cho tất cả mọi người trên trái đất này, trừ những người phủ nhận Chúa. Ðặc biệt Chúa đã bỏ thì giờ lo lắng đi tìm những kẻ tội lỗi, điếm đàng, những con chiên lạc mà xã hội khinh chê ruồng bỏ để cho họ cơ hội trở về với Ngài. Vào thời Chúa đã có những người không theo trường phái của Chúa đi rao giảng và bị các tông đồ ganh tị dèm pha. Vào thời chúng ta cũng có những người không thuộc về nhóm chúng ta, vì không đi chung nhà thờ chúng ta, hoặc cùng thuộc giáo xứ song ngu dốt vì thiếu học Kinh Thánh, hoặc bệnh hoạn vì phạm tội công khai: như bỏ vợ bỏ chồng, chúng ta khinh chê họ, thậm chí còn lên bản án rằng họ chẳng đáng vào Nước Trời, dù họ còn sống mà chúng ta coi họ như đã bị mất linh hồn sa hỏa ngục.

Chúng ta đã tự cao tự mãn rằng mình công chính, thiện tâm, coi rằng Chúa thuộc về mình và còn nhẩy lên tòa Chúa để phán xét những kẻ chỉ thực sự phạm tội với Chúa, không phạm đến chúng ta.  Song nếu tự soi gương có thể sẽ thấy có lẽ chúng ta không rành rẽ về Lời Chúa bằng họ và Con Mắt Chúa thấy rõ chúng ta không thực hành yêu thương bằng họ.

Người Pharisiêu ấy nếu đã thêm vào lời cầu nguyện của mình một câu giản dị xin Chúa ban ơn cho những người đau khổ, tội lỗi, thiếu sót thì đã thành một thánh lớn trên Nước Trời vì liệu trong chúng ta đã có ai dám tự hào đã giữ đủ 10 điều răn chưa, và nhất là đã dâng cúng vào nhà thờ và công ích $20,000 mỗi tháng, nếu làm được $200,000 tức là 10 % số tiền mình kiếm được hay chưa? Xin nói đùa rằng nếu ông ta quay ra nhìn anh thâu thuế, chép miệng khinh bỉ song ít ra cũng nói một câu rằng: “Thưa Chúa, còn cái anh chàng kia thấy đáng ghét lắm - song thôi, Chúa thương được nó xin cứ thương - thì có lẽ cũng chị bị phạt trong luyện ngục ít lâu, rồi cũng … làm "thánh" mà.”

Suy niệm 2:

Ðọc Lời Chúa khó lắm, cần nghe Mẹ Giáo Hội

Bảng 15 câu dịch vừa kể dậy chúng ta bài học mỗi khi dịch và đọc Lời Chúa cần phải cẩn thận vì nếu chỉ dựa vào một câu duy nhất và theo nghĩa đen để dịch, diễn nghĩa và để hiểu và cho rằng chỉ một mình tôi là đúng nhất thì đôi khi có thể gây tranh luận vô bổ, nhất là có thể sẽ đi đến sai lầm trầm trọng.  Mỗi chữ, mỗi câu cần đọc với Ðức Tin thành ý, chung với cả đoạn và với toàn bộ Kinh Thánh, lấy Lời của chính Chúa Giêsu làm gốc, mà Tình Thương Chúa và lòng Yêu Thương Nhau là điều quan trọng nhất, thì mới hy vọng hiểu đúng.

Chúng ta thường tự biện hộ cho rằng dù sao chuyển ngữ Lời Chúa từ Hy Lạp hay Latinh sang một ngôn ngữ khác không là điều dễ dàng vì có những dị biệt văn hóa và văn phạm. Nhiều thói quen đáng trách lắm, chẳng hạn khi dịch Lời Chúa chúng ta thường tự ý thêm thắt vào một dấu chấm, dấu phẩy hay một chữ, hoặc cắt đi dấu chấm, dấu phẩy ...mà đôi khi có thể đưa đến những hiểu sai trầm trọng.

Trong Kinh Vinh Danh, nội hai chữ hominibus và bonae voluntatis đã gây thắc mắc song những khác biệt ý kiến có lẽ chúng ta cùng chấp nhận được cách dễ dàng khi nghe nhau. Tuy thế, nhiều chỗ không thật dễ dàng. Chẳng hạn theo điều răn thứ nhất ta chỉ tin có Một Chúa Trời, Một Vị Thần (God) Duy Nhất; chúng ta không được tin và thờ thần (other gods) nào khác, vì ngoài Chúa là Vị Thần duy nhất Thần, chẳng còn thần (god) nào khác .

Chúa tạo dựng nên các thiên thần (angels, spiritual beings) và họ không là thần (gods) mà chỉ thuộc giới thần thiêng loại 2 thấp hơn Thiên Chúa  (God)  và Satan cùng bè lũ chỉ là những thiên thần sa ngã.

Ngay Chúa Giêsu cũng có bao giờ nói đến ông Thần Tài đâu, Chúa chỉ nói rằng chúng ta không thể cùng một lúc làm tôi Thiên Chúa và tiền bạc (wealth, mamon)  song  có người ráng dịch mamon là thần Tài, thần Mamon  viết với chữ hoa. 

Một số bản dịch thơ 1 Corinto 15: 24 khi gặp 3 chữ giản dị của thánh Phaolô là đế quốc, thống trị (rule), quyền lực, quyền bính  (authority) và thế lực, sức mạnh (power) đã thêm chữ "thần "vào để nói rằng đó là các quản thần, quyền thần dũng thần.

Thánh Phaolô có nói đến thần (god) nào đâu, mặc dầu theo chữ nho thì có thể hiểu chữ "thần " là một thứ quyền lực vô hình song hữu thực song liệu rằng các em nhỏ, cũng như các anh chị tân tòng, có thể hiểu được như vậy chăng vì họ đã quen thuộc với các ông Thần Tài, Thần Thổ Ðịa, Thần Sông, Thần Núi ...?  (Chú thích - Việt Nam ta hay phong "vua" cho bất cứ người sống nào có cái tài gì đó ( vua ăn trộm, vua ăn mày ...) song khi kẻ ấy có quyền thế thì ta vì khiếp sợ phong cho  cấp cao hơn là 'thần'', tuy thế kẻ có mánh khóe vặt, hay hành động không tốt cho lắm rất có thể được phong là 'ma'  (Ban ngày quan lớn như thần, ban đêm quan lớn tần mần như ma).

Cũng trong thơ 1 Corinto này đoạn 16: 54 và 55, sự chết đã được phong thần và được gọi là Tử Thần (God of death) viết chữ hoa.  Lại thêm vài họa sĩ vẽ hình Tử Thần với bộ xương mang theo lưỡi liềm.

Các anh chị tân tòng sẽ không khỏi ngẩn ngơ tự hỏi vậy thì hóa ra có Tử Thần (God of Death) và Tử Thần đã thực sự chiến thắng Chúa GiêSu khi Ngài bị  chết ? Các anh chị tân tòng sẽ không khỏi tự hỏi vậy phải chăng Satan tạo ra và chỉ huy Tử Thần để mưu giết chúng ta?  Thánh Phaolô chỉ đơn sơ dùng chữ sự chết, cái chết để nhắc chúng ta mầu nhiệm giáng sinh và phục sinh là Chúa đã làm người và đã chết để chúng ta được cứu khỏi sự chếtchế diễu sự chết vì nó đã bị Chúa GiêSu tiệu diệt.  Sự chết không là thần thánh (god) đi đòi mạng chúng ta như ta tự tưởng tượng mà chỉ là kết quả chính Satan và chúng ta đã tạo ra cho mình khi phạm tội.

Ngược lại, khi đọc Lời Chúa và thơ các thánh tông đồ, trong rất nhiều nhà thờ thì chúng ta chỉ nhất định đọc là "anh em thân mến" (còn các chị em hình như ...không có mặt trong nhà thờ.) và đổ lỗi cho Chúa Giêsu và các thánh tông đồ đã nói như vậy, viết như vậy mà quên rằng chữ "anh em" theo đúng ngôn ngữ Hy Lạp và Latinh như được nói được dùng, có nghĩa là "anh và chị và em trai và em gái” và ý nghĩa này cũng đúng theo ngôn ngữ của Chúa.

Thêm một chữ "thần", bỏ một chữ "chị" quả gây nhiều hiểu sai khi đọc Lời Chúa. Trộm nghĩ đọc bản Hy Lạp sợ khó quá , Nova Vulgata của Mẹ Giáo Hội phải là kim chỉ nam để ta đọc Lời Chúa vì Nova căn cứ theo bản Hy Lạp khởi thủy.

Ước mong quý ông bà anh chị đều là những đối tượng của Lòng Yêu Thương của Chúa mãi mãi khi biết cách xin Chúa trước hết ban cho mình lòng thiện tâm và biết sống thiện tâm Yêu Thương Tha Thứ anh chị em mình như Chúa muốn.  Thánh Gioan nhắc nhở chúng ta rằng: Hỡi anh chị em là những người con bé nhỏ của tôi, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi mà hãy yêu thương cách chân thật qua hành động.  (Xin đọc cả đoạn thơ 1 Gioan 3: 18-24).  Xin cũng hát kinh Xin Hòa Bình của thánh Phanxicô để thấy rằng khi đọc Lời Chúa, không nên chỉ đọc bằng miệng, xin để lỗ tai chúng ta cũng nghe, trái tim chúng ta cũng nghe và đôi tay, đôi chân chúng ta cũng nghe.  Gương sáng của các thánh từ nước ngoài đến Việt Nam để chịu chết vì đạo, các bậc thánh khác dù chưa được tuyên phong như quý cha Dòng Tên, Phanxicô, Ða Minh..., gần đây nhất là các cha Dòng Chúa Cứu Thế, cha Joe Devlin S.J, Dominici, cha Crawford, (danh sách dài lắm..) đã yêu thương người Việt, đến ở với chúng ta từ phương xa. Coi như các ngài bị "câm điếc " vì chẳng nói sõi, chẳng nghe rành được tiếng Việt song Tân Ước, Lòng Yêu Thương  đã được các ngài rao truyền rõ ràng vô cùng qua trái tim, qua tay chân của các ngài.

Ta cùng hát với nhau nhé để chúc nhau Lễ Giáng Sinh Vui...

Giữa muôn vàn hào quang - Với muôn ngàn hương ngát lừng

Bao thiên thần hòa vang - Cất cao lời cung chúc mừng:

Sáng Danh Thiên Chúa trên trời!

Bình An cho khắp nhân loại.

Sáng Danh Thiên Chúa trên trời!

Bình An xuống cho nhân trần

Trở về mục lục >>

THƠ

NGUYỆN XIN...

 Diễm Chi

Bê Lem ấm lắm người ơi!

Mặc cho tuyết phủ, sương rơi, gió gào...

Một lần hiến tặng dâng trao

Khơi đường Thánh Giá, dẫn vào huyền siêu

Hành trang chỉ một chữ YÊU

Xua tan băng giá, tiêu sầu nhân gian

Lạy Vua Cứu Thế Bình An

Cho mưa nhân ái ngập tràn tim con

Trở về mục lục >>

 

 

 

THÁNH CA

 

Trở về mục lục >>

 

 MỪNG KÍNH THÁNH GIA

THÁNH GIA THẤT

Maranatha

Khi nói về Thánh Gia Thất, tín hữu chúng ta thường có những hình ảnh rất êm đềm của một gia đình hạnh phúc giữa những con người mà nhân đức đã được nâng đến mức tuyệt đối. Ta hình dung Đức Mẹ thật đẹp, đẹp từ người tới tâm hồn; thánh Giuse hiền lành, quảng đại và luôn biết giải quyết mọi vấn đề trong gia đình. Phần Chúa Giêsu, Ngài là một con trẻ luôn làm hài lòng cha mẹ với trí thông minh tuyệt hảo, với tình yêu thương cha mẹ đậm đà, với tinh thần vâng phục không một nếp nhăn. Nếu ta nghĩ như thế thì không hề sai, nhưng có vẻ đơn giản hóa thực tế vì ta xem cuộc đời của Thánh Gia như không hề có một biến cố nào gây xáo trộn cả. Cuộc sống thực tế của Thánh Gia như thế nào? Trong Phụng Vụ năm nay (A), Giáo Hội chọn bài Phúc Âm kể về cuộc hành trình của thánh Giuse trốn sang Ai cập trong đêm khuya, để bảo vệ Hài Nhi. Rồi sau đó lại đưa về Israel mà sống ở Nazaret. Chính sự xuất hiện của người con trong gia đình mà cha mẹ phải chịu bao nhiêu nỗi truân chuyên. Đầu tiên, khi con trẻ vừa tượng hình trong lòng mẹ, thì hạnh phúc của Giuse và Maria suýt tiêu tan: Maria đã có mang trước ngày thành hôn! Rồi đến hôm nay, khi con trẻ mới chào đời, thì cả gia đình đã phải chạy trốn sang xứ lạ quê người, giữa đêm khuya, không bạc không tiền, không một ai bảo trợ.

Con trẻ ấy gây bao nhiêu rắc rối không phải chỉ ở phương diện xã hội mà thôi, mà còn ở phương diện tình cảm nữa. Ta hãy nhớ lại lần trẻ Giêsu cùng ông bà lên Giêrusalem. Mới 12 tuổi, cậu đã lìa khỏi cha mẹ mà làm theo ý mình. Cậu không buồn xin phép cha mẹ để ở lại Giêrusalem, và khi gặp lại cha mẹ sau ba ngày họ ‘đau đớn’ tìm kiếm, thì cậu nói một câu mà không cha mẹ nào có thể chấp nhận được: Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” Trong bản dịch tiếng Việt, giọng nói của cậu Giêsu đã được dịu đi nhờ những chữ ‘cha mẹ - con’, nhưng trong nguyên bản, khi đọc những câu này, ta có cảm giác như cậu Giêsu nói: Ông bà tìm tôi làm chi? Bộ không biết là tôi phải ở nhà Cha tôi à?” Cách hiểu này cũng không có gì là quá đáng khi chúng ta nhớ lại rằng chưa bao giờ Đức Giêsu gọi Thánh Giuse và Đức Mẹ là ‘cha’ là ‘mẹ’ cả. Kinh Thánh không hề ghi lại một lời nào mà Chúa Giêsu đã nói với Thánh Giuse, và hai lần nói với Đức Mẹ thì Ngài đều gọi mẹ mình là ‘(mụ) đàn bà kia’, mà trong tiếng Hy lạp là ‘gunai’ và tiếng La tinh là ‘mulier’. Lần thứ nhất tại Cana: “Chuyện đó can dự gì đến tôi và mụ, mụ đàn bà kia (gunai / mulier)?” (Ga 2, 4), lần thứ hai khi Chúa hấp hối trên thập giá: Mụ đàn bà kia (gunai / mulier), đây (mới) là con của mụ!” (Ga 19,26). Có lẽ cách dịch của tôi làm chói tai một số người, bởi vì các bản dịch đều chuyển những lời ấy ra những câu thật lễ phép như : “Thưa bà”. Tuy nhiên, sự kiện vẫn là sự kiện: khi nói với mẹ mình Chúa Giêsu đã gọi là ‘gunai / mulier’ (đàn bà) chứ không dùng ‘meter / mater’ (mẹ). Đấy, người con trong Thánh Gia đã gây nhức đầu cho cha mẹ biết bao!

Đấy, Thánh Gia Thất là như thế đấy! Cũng đầy dẫy những khó khăn như bao nhiêu gia đình khác. Nhưng đó chính là một gia đình thánh. Gia đình ấy thánh không phải vì gia đình ấy không gặp phải một vấn đề khó khăn nào, nhưng vì mọi người đã sống với nhau trong tình yêu và tha thứ. Thánh Giuse và Đức Mẹ đã đón nhận và tha thứ cho Đức Giêsu mặc dù không hiểu Ngài nói gì. Chúa Giêsu trở về Nazaret và ‘vâng phục hai vị’, mặc dù Ngài có bổn phận phải ‘ở nhà Cha Ngài.’ Qua đó, chúng ta thấy các thành viên trong Gia Đình Thánh này phải chịu đựng và tha thứ cho nhau đến độ nào.

Chúng ta không thể nào trở thành Chúa Giêsu, Thánh Giuse và Đức Mẹ, nhưng tất cả chúng ta đều có thể sống những vấn đề của gia đình trong tình yêu và tha thứ như các Ngài, hầu biến gia đình mình thành một gia đình thánh; và đó là lý do mà Thánh Gia Thất trở nên mẫu mực cho mỗi gia đình chúng ta

Trở về mục lục >>

 TÂM TÌNH BẠN ĐỌC

 

LTS: Trong tuần qua, Maranatha đã nhận được điện thư, thiệp chúc mừng lễ Giáng Sinh, xin đổi địa chỉ email, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của quý độc giả:

Đinh Vĩnh Phúc, Antôn Phạm Khánh Linh, Lamsfamily, Hoàng Bình, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Trần Kim Hạnh Trúc, Lê Diễm, Vũ Quang Mỹ, Nguyễn Ngọc Trác, Thái Văn Hiến, Trần Công Quang, Lm. A. Nguyễn Hữu Văn,Goretti-Thiep, Nguyễn Hữu Dõng - Cơ Sở Thánh Gioan Tẩy Giả, Hoàng Ngọc Liên, Lm. Dam. Trần Dũng, SSS - Anh Em Dòng Thánh Thể Việt Nam,Phạm Hùng Sơn – Anh Em Cựu Chủng Sinh Kontum, Nguyễn Văn Năng, Vũ Văn Quí, M. Cecilia - Cộng Đoàn Con Đức Mẹ Đi Viếng Bình Tuy, Lê Ngọc Hồ, Lm. Joseph Cao Phương Kỷ, John of God Khổng Đức Nhuận, Phượng Hoàng, Ca Đoàn Cecillia, Hoàng Văn Phan, Cộng Đoàn Nữ Tu Bác Ái Vinh Sơn Mai Anh - Đà Lạt, Bạn Trẻ Công Giáo Việt Nam, Phan Hoàng...

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích    lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.

Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

Trân trọng,  

MARANATHA

Trở về mục lục >>

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một số thư và lời chúc qua các thiệp điện tử đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

  •         Tôi là độc giả thường xuyên được đọc báo Maranatha. Đây là món quà tinh thần tuyệt vời, xin Chúa nâng đỡ, ban ơn thánh sủng, để báo được bành trướng, lan rộng trong tình thương của Chúa. Noel lại về, cầu chúc Maranatha mãi mãi hăng say chứng nhân cho Chúa, tràn đầy ơn phúc Chúa qua năm mới an lành hồn xác vẹn toàn. Kính chúc, Lamsfamily.

  •       Con tên Hoàng Bình hiện đang cư ngụ tại hải ngoại, con quý vị gởi cho những tuần báo để con được đọc những tin tức và để sống đạo. Nơi con đang ở ít người Việt Nam và con biết qua email của quý vị do một Sơ ở California giới thiệu con đến cùng Quý Vị. Một lần nữa con xin chân thành cám ơn và con kính chúc Quý Vị tràn đầy hồng ân Chúa và một mùa Giáng Sinh an bình và một năm mới tràn đầy ơn thánh đức. Con, Hoàng Bình.

  •           Kính gửi Điện báo Marantha. Xin chúc mừng lễ Giáng Sinh Quí báo. Cầu chúc Quí báo mỗi ngày một thêm vững mạnh và chiếu giãi ảnh hưởng lành mạnh đi nhiều nơi. Xin trả lời Quí báo là tôi sẵn sàng để cho ai muốn đăng lại các bài của tôi tùy ý, chỉ xin trích dẫn xuất xứ. Theo lời yêu cầu của Quí báo, tôi xin gửi bài Lễ Giáng Sinh...để góp phần vào số đặc biệt Lễ Giáng Sinh năm nay của Quí báo. Thân mến, Lm. Đỗ Xuân Quế.

  •      Maranatha thân mến, Nhuận gởi bài Maranatha Chúa đến rồi cho Maranatha thay cho tấm thiệp mừng giáng sinh nhé. Rất thân mến, John of God Khổng Đức Nhuận.

  •          Kính chúc Maranatha mùa Giáng Sinh vui tươi an lành. Love, Hạnh Trúc.

  •         Mừng Chúa Giáng Sinh. Rất chân thành cám ơn MARANATHA đã thường xuyên gởi những tài liệu để hiểu biết thêm về Giáo Hội, Thiên Chúa. Kính chúc MARANATHA vui đón Giáng Sinh và vạn sự may mắn trong năm mới. Trần Công Quang.

  •          Kính thăm tất cả các quí vị trong ban biên tập báo Maranatha. Xin cám ơn tất cả các vị về sự tận tình trong việc gửi báo rất đều đặn. Nhân dịp Giáng Sinh, xin kính chúc quí vị một mùa Giáng Sinh với muôn vàn ơn Thánh và một đêm Giáng Sinh tràn đầy niềm vui và sự an bình như lời cầu chúc của các Thiên Sứ trong đêm Hồng Phúc. Kính, Lê Diễm.

  •       Xin chúc mừng Lễ Con Thiên Chúa Nhập Thể. Xin Chúa ban Ơn Bình An, Sức Khỏe cho Anh Chị Em MARANATHA, đã phổ biến Lời Chúa để mọi người thiện chí đi tìm gặp Chúa, có dịp đọc và suy gẫm, vì Lời Chúa nếu chỉ được rao giảng ít phút trong Nhà Thờ, thì thật là chưa đủ. Sau đây xin góp mặt với quí Báo bài: Nhiệm Tích Thánh Thể và ĐGH Gioan PhaoLô II. Kính Chúc. Lm. Joseph KỶ.

  •     “Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta.” Kính chúc Quý tuần báo đêm NOEL hạnh phúc. Mùa Giáng Sinh và Năm Mới tràn đầy niềm vui - sức khỏe, nghị lực và Hồng Ân Thánh để làm sống dậy và cho mọi người biết “Thiên Chúa  ở cùng chúng ta” qua những gì mà tuần báo đã, đang và sẽ thực hiện. Kính chúc, Vũ Quang Mỹ.

  •         Thăm anh chị em. Còn về bài cũ đã đăng trên Maranatha, anh chị em có thể đăng lại trên chính báo điện tử, nếu cần thiết. Mến chúc mùa Giáng Sinh an bình, nhiều ơn Chúa. Lm. Vũ Xuân Hạnh.

  •       Lâu lắm rồi không có thư thăm sức khỏe MARANATHA. Mỗi lần gặp   MARANATHA là mừng lắm, rất mong MARANATHA luôn sống khoẻ và có sức thâm nhập vào mỗi gia đình Công –giáo. “Lạy Chúa xin hãy đến” trong lòng mọi người và xin Chúa chúc lành cho mọi người đang phục vụ MARANATHA…Mến chúc MARANATHA sống khoẻ như SAMSON. Mến chúc những AI đang phục vụ Maranatha đuợc đầy ơn Chúa để luôn can đảm bước tới trên con đường phục vụ NƯỚC TRỜI. Hân hoan cầu chúc, J. TRÁC.

  •         Kính quí vị Báo Điện Tử Maranatha quí mến, Tôi hân hạnh được quí Báo chiếu cố gửi Báo cho hàng tuần. Thật quí giá vô cùng vì có được món ăn rất bổ dưỡng. Tôi đọc và còn được muốn viết bài gửi quí Báo, nhưng bận rộn công việc mục vụ quá chừng nên chưa thực hiện lòng mong ước! Nay lại gần kề Kỷ Niệm Chúa Giáng Sinh và Năm Mới, tôi xin kính chúc quí vị được mạnh khỏe hồn xác và tràn đầy hồng ân Chúa hài Đồng, đồng thời Năm Mới 2005 gặt hái được nhiều thành công trong đời sống phục vụ. Tôi xin chân thành cám ơn quí vị và xin Chúa trả công bội hậu. Kính chúc, Lm. A. Nguyễn Hữu Văn.

  •           Em là Phạm Khánh Linh, hiện đang ở Đà Nẵng. Hiện nay do không phải ai cũng có điều kiện vào mạng để lấy tin tức vì vậy em rất mong quý anh chị có thể gửi bài báo cho em để em có thể in ra và phổ biến cho bà con giáo dân. Em có lên mạng mở vài lần nhưng mà không thể nào có thể downloan các bài báo mới được.  Tất cả là vì danh Chúa cả sáng, em rất mong được sự giúp đỡ của các anh chị. Nhân dịp Giáng Sinh dã gần kề, xin Chúa Hài Đồng ban muôn ơn lành cho quý anh chị. Antôn Phạm Khánh Linh.

  •         Xin quí vị vui lòng gửi báo maranatha cho gia đình chúng tôi, những bài đọc hy vọng sẽ giúp chúng tôi về đuờng tu đức…Chào quí vị trong tình thương CHÚA KITÔ. Hoàng Văn Phan.

  •          MARANATHA quý mến, Với mình thì việc trích đăng các bài trên mạng của báo chúng ta không có gì trở ngại, miễn là vô vụ lợi và tất cả đều nhắm đến phục vụ Dân Chúa. Kính chúc một mùa Giáng Sinh an lành và dồi dào thánh ân. Nếu không trở ngại, tuần này xin gửi báo cho một người bạn của mình. ..Chân thành cám ơn. Tận tình, Thái Văn Hiến.

  •         Báo Maranatha rất hay và giúp ích rất nhiều cho đời sống tâm linh của người đọc. Tôi thường download để cho gia đình tôi đọc. Đồng thời, tôi cũng gởi qua email về Việt Nam cho em tôi in ra cho những người thân và bạn bè cùng đọc. Tất cả những số khác tôi đã download dễ dàng, riêng chỉ có số báo 25 thì nó không có open nên tôi không thể download được. Xin quý vị vui lòng gởi cho tôi báo Maranatha số 25. Xin Chúa chúc lành cho việc làm của quí vị ngày càng đẹp lòng Chúa hơn và sinh nhiều lợi ích cho các linh hồn. Chân thành cám ơn quý vị. Goretti-Thiep.

  •           Xin chân thành cám ơn Ban Biên Tập Báo MARANATHA đã luôn gởi báo cho cộng đoàn chúng tôi! Chúng tôi rất thích đọc! Đây thật là món quả tinh thần thật quý giá! Kính chúc quý vị một Mùa Giáng Sinh An Bình Thánh Thiện. Xin Thiên Chúa luôn chúc lành cho quý vị. M. Cecilia. Cộng Đoàn Con Đức Mẹ Đi Viếng B.T.

  •         Noel 2004 Mùa Ân Thánh đã về, con nguyện xin Tình Yêu, Niềm Vui và sự Bình An sâu   thẳm của Chúa Hài Nhi luôn đồng hành, nâng đỡ Quý Vị Ban Biên Tập trong suốt Năm Mới và suốt hành trình dấn thân, phục vụ. Con cám ơn tất cả Quý Vị trong Ban Biên Tập đã cho con tài liệu thật quý giá. Sáu Lân. 

  •         Nhân dịp lễ Noel sắp đến, chúng tôi xin kính chúc Quý Toà Soạn được hưởng một MÙA GIÁNG SINH An Lành – Thánh Đức và Một Năm Mới An Bình - Hạnh Phúc và tràn đầy Tình Yêu Chúa Giêsu Thánh Thể. Cộng Đoàn Nữ Tu Bác Ái Vinh Sơn Mai Anh- Đà Lạt. 

  •      Trước hết, xin chân thành kính chúc quý vị một mùa Giáng-Sinh an lành. Thưa quý vị, một thời gian dài tôi rất phấn khởi do những trang tin Maranatha từ bạn bè gởi tới. Vừa rồi tôi có vào trang web và đọc bài viết “Làm sao cầu nguyện cho hữu hiệu” của tác giả Nguyễn Chính Kết rất bổ ích cho Phong trào Cursillo chúng tôi.  Tác giả Nguyễn Chính Kết cũng như quý vị có thể cho chúng tôi lấy bài này để đăng trong trang web sinh hoạt nội bộ của chúng tôi được không? Vì trang web của chúng tôi rất hạn hẹp. Bởi đa số thành viên đều lớn tuổi và trình độ có hạn, nên cần có những bài viết và tài liệu để chia sẻ với nhau trong sinh hoạt hàng tháng. Nếu được quý vị cho phép chúng tôi xin đăng để học hỏi. Cursillo Liên Nhóm Đức Quốc chúng tôi thành thật cám ơn quý vị. Một lần nữa xin kính chúc quý vị luôn bình an trong Chúa Kitô. Nay kính, Nguyễn Văn Năng. 

  •        Rất cám ơn những gì quí báo đã gửi. Rất nhiệt tình. Đó là một cố gắng đáp ứng mọi nhu cầu của độc giả. Hoan hô và hoan hô hết mình. Không chỉ trong cung cách phục vụ mà trong nội dung khá phong phú được gọt tỉa kỹ lưỡng. Chắc chắn phải có ơn Chúa Thánh Thần mới hoàn thành tốt công công việc phục vụ lợi ích chúng đến như thế. …Chúc mọi người công tác an vui và hạnh phúc trong những ngày chuẩn bị Giáng Sinh. Quí VN.

Trở về mục lục >>

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn