|
|
Số 31, Ngày 21-12-2005
Lễ Giáng Sinh Là Một Mầu Nhiệm Hay Một Kỷ Niệm - Lm. Đỗ Xuân Quế, OP MARANATHA! Chúa Đã Đến Rồi - Khổng Nhuận Nhập Thể - Quà Tặng Vô Giá - Lm. Vũ Xuân Hạnh Đêm Giáng Sinh Grêxiô - Lm. Nguyễn Hải Minh, OFM Giữ Lời Hứa Với Chúa Hài Đồng - Radio Veritas Những Người Đạo Sĩ - Trần Duy Nhiên Con Lừa Trên Đường Sang Ai Cập - Lê Vân Bích Sáng Danh Thiên Chúa Trên Trời -Bình An Xuống Cho Nhân Trần - Nguyễn Công Bình Nguyện Xin - Thơ- Diễm Chi Xin Ngài Giáng Sinh Trong Tim Con - Nguyễn Thiện Bản Thánh Gia Thất - Maranatha Tâm Tình Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc
Kính thưa quý độc giả Đêm nay Noel về... Nơi nơi vang lên tiếng hát hân hoan: “Ngài đến lòng chúng nhân reo hò vui mừng...” Rồi chúng ta nhớ lại năm xưa, khi Ngài sinh ra, các tầng trời cũng đã vui mừng reo hò. Thế nhưng đau đớn thay, giữa lòng dân tộc Ngài, thì chẳng có gì xảy ra cả. Ngài đến, thế mà lòng chúng nhân chẳng vui chẳng mừng mảy may, trái lại là đàng khác. Bởi thế nên thánh Gioan đã viết: “Ngài đến trong nhà Ngài, nhưng gia nhân đã không tiếp nhận Ngài.” Vì sao như vậy? Những trang Phúc Âm về Giáng sinh đã nói đến ít nhất ba loại người đã khước từ Ngài: (1) Người chủ quán trọ, (2) Hêrôđê và (3) các thượng tế đến chỉ đường cho các đạo sĩ về Bêlem thờ lạy Hài Nhi, mà chính họ không buồn đến Bêlem để nhìn xem. Người chủ quán khước từ Ngài, vì nghĩ đến lợi nhuận của mình nhiều hơn là nhìn thấy nhu cầu của một đôi vợ chồng nghèo khổ. Hêrôđê khước từ Ngài, vì ông sợ rằng sự xuất hiện của Đấng Mêsia sẽ đe dọa cho địa vị làm vua của mình. Thầy thượng tế khước từ Ngài, vì tự mãn với kiến thức Kinh Thánh của mình đến độ không còn thấy cần phải đi tìm kiếm Chúa. Vào thế kỷ 13, Kitô hữu - nghĩa là những gia nhân, những người nhà - cũng bắt đầu khước từ Ngài, bằng cách chạy theo bạc tiền, bỏ quên Lời Chúa, và củng cố quyền lực. Thế rồi một người nhà khác đã dựng lên một chuồng bò với máng cỏ để cho mọi người nhìn thấy cảnh Thiên Chúa đến trong khó nghèo: Thầy Phanxicô Assisi đã làm máng cỏ đầu tiên tại Grêxiô, để cho mọi người biết nhìn lại Thiên Chúa trong những anh em khó nghèo nhất của mình. Hôm nay Noel về... Thế nhưng có thể cũng chẳng có gì xảy ra cho người nhà, bởi vì họ cũng đã khước từ Ngài. Nhưng người nhà ngày hôm nay, lại chính là chúng ta đó. Chúng ta có thể là một chủ quán, một Hêrôđê hay một thầy thượng tế trong thế kỷ 21 này, và do đó sẽ bắt hụt niềm vui Giáng Sinh. Chúng ta có thể noi gương thầy Phanxicô dựng những máng cỏ, rồi trang hoàng lộng lẫy với những ngọn đèn muôn màu chiếu soi cho một Hài Nhi xinh đẹp; chúng ta có thể biến một máng cỏ trở thành cung điện để rồi không còn nhìn ra Hài Nhi đang Giáng Sinh trở lại trong hình hài của một em bé nghèo nàn, ốm yếu, bệnh tật. May thay, chúng ta vẫn còn cơ hội để đón nhận Ngài, bởi vì Giáng Sinh mãi mãi sẽ là một mầu nhiệm, và Mầu Nhiệm Nhập Thể là một quà tặng vô giá. Một quà tặng mà chúng ta chỉ hưởng được trọn vẹn, khi biết chia sẻ với những anh em nghèo khó của mình, nghèo khó vật chất cũng như nghèo khó tinh thần. Maranatha_31, số đặc biệt Giáng Sinh, sẽ đào sâu những tâm tình ấy. Mong sao qua những bài này, quý độc giả cũng biến lòng mình thành một máng cỏ để đón Thiên Chúa Giáng Trần, và sẽ reo hò vui mừng với niềm vui của những gia nhân biết đón nhận chủ mình: Và những ai đón nhận Ngài, thì Ngài ban quyền phép trở thành con Thiên Chúa. Maranatha luôn là một lời cầu xin: lạy Chúa, xin ngự đến! Mong sao mùa Giáng Sinh này sẽ mang một ý nghĩa mới, được hô to trong tiếng reo vui: Maranatha, Chúa Đã Đến Rồi! MARANATHA
MARANATHA: CHÚA ĐẾN! NGUYỆN XIN HÀI NHI THIÊN CHÚA TUÔN ĐỔ TRÀN ĐẦY ÂN SỦNG, BÌNH AN VÀ NIỀM VUI ĐÍCH THỰC CỦA NGÀI XUỐNG TRÊN TẤT CẢ QUÝ VỊ CỘNG TÁC VIÊN VÀ ĐỘC GIẢ CỦA MARANATHA.
LỄ GIÁNG SINH LÀ MỘT MẦU NHIỆM HAY MỘT KỶ NIỆM Lm. An-rê Đỗ Xuân Quế, OP Phải nói ngay rằng lễ Giáng sinh là một kỷ niệm và là một mầu nhiệm, nhưng mầu nhiệm nhiều hơn kỷ niệm. 1. LỄ GIÁNG SINH LÀ MỘT KỶ NIỆM Trước hết lễ Giáng sinh là một kỷ niệm, nghĩa là một việc đã qua nay người ta nhớ lại, như kỷ niệm ngày thụ phong linh mục, ngày cử hành hôn phối. Và cũng như mọi kỷ niệm, ngày lễ Giáng sinh người ta cũng nhớ lại những sự việc đã qua chung quanh ngày sinh nhật của Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống, người ta đọc lại các bài tường thuật trong Tin Mừng liên quan đến ngày đáng ghi nhớ này, rồi cũng bày hang đá, máng cỏ, tượng Chúa Hài Đồng, Đức Mẹ, thánh Giu-se, chiên, dê, mục đồng, dựng cây thông hay đặt cây thông giả, hát các bài ca về lễ Giáng sinh. Buổi lễ kỷ niệm thật nao nức, tưng bừng, vui tươi phấn khởi. Nhiều người dừng lại ở đây và cũng chỉ coi lễ Giáng sinh là một dịp vui chơi, một ngày thoải mái, rồi thôi không còn gì nữa, đợi tới sang năm lại mừng kỷ niệm. Trong ba thế kỷ đầu, Hội thánh không mừng lễ Giáng sinh, bởi một lý do đơn giản là bấy giờ chưa có lễ này. Phải đợi đến đầu thế kỷ thứ bốn năm 336 mới thấy cử hành lễ Giáng sinh ở Rô-ma. Ban đầu Hội thánh chỉ cử hành long trọng lễ Phục sinh thôi, và ra lệnh mỗi Chúa nhật phải cử hành thánh lễ để mừng kính Chúa Ki-tô phục sinh. Bấy giờ ngoài lễ Phục sinh ra là lễ các thánh Tông đồ và Tử đạo. Hàng năm vào những ngày ấn định, tín hữu ở Ro-ma tới mộ các thánh Tử đạo cử hành lễ và gọi ngày các vị qua đời là ngày sinh nhật. Lễ Giáng sinh được đặt lên hàng đầu lễ kính các thánh Tông đồ và Tử đạo. Người ta mừng lễ này cũng như mừng kính các thánh, tuy đặc biệt hơn, nhưng dù sao thì đó cũng chỉ là một lễ kỷ niệm. Thánh Âu-tinh cũng coi lễ Giáng sinh là một kỷ niệm và chỉ cần cử hành vào chính ngày Chúa Cứu thế ra đời để kính nhớ mà thôi. Trong tuyển tập các công thức bí tích năm 560, lễ Giáng Sinh được xếp vào cuối năm phụng vụ và lẫn với phần kính các thánh vào cuối tháng 12. Mãi đến hậu bán thế kỷ VI, Rô-ma mới ấn định vào ngày 25-12, đưa hai lễ Giáng sinh và Hiển linh ra khỏi phần kính các thánh và đặt lên phần đầu các Mùa. 2. LỄ GIÁNG SINH LÀ MỘT MẦU NHIỆM Theo thánh Lê-ô Cả, đặc điểm của lễ Giáng sinh là làm cho ta nhớ lại mầm mống ơn cứu độ. Loài người được cứu chuộc, khi Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Khi mặc lấy bản tính nhân loại, Đức Ki-tô đã làm cho loài người được tái sinh về đường thiêng liêng. Chẳng những mầu nhiệm nhập thể hướng tới công trình cứu chuộc, mà công trình cứu chuộc lại còn bắt đầu ngay từ lúc Ngôi Hai nhập thể. Cuộc chiến thắng ma quỉ của Đức Ki-tô là ngày Người sinh ra từ một trinh nữ, bởi phép Đức Chúa Thánh Thần. Kẻ dám làm hoen ố bản tính nhân loại, đã bị Đấng Thánh sinh ra từ lòng Đức Nữ Trinh vẹn toàn, đánh bại. Mầu nhiệm nhập thể đã phục hồi nhân tính, khi nhân tính được kết hợp với thần tính. Và khi xuống thế làm người Con Thiên Chúa đã ban cho loài người chức vị làm Con Thiên Chúa. Thánh Lê-ô nhìn thấy trong lễ Giáng sinh hình ảnh cuộc sinh ra lần thứ hai của chúng ta nhờ phép Rửa. Người nhìn thấy có sự giống nhau giữa sự sinh ra của người tín hữu với sự sinh ra của Đức Ki-tô. Cả hai sự sinh ra đó đều là công trình của Chúa Thánh Thần như người viết :”Nếu Ngôi Lời của Thiên Chúa không mặc lấy xác phàm và không ở giữa chúng ta, nếu Đấng Tạo hóa không đích thân hạ mình xuống đến chỗ kết hợp với loài thụ tạo, nếu Người đã không sinh ra để kêu gọi con người làm một cuộc bắt đầu lại, thì sự chết đã ngự trị từ A-đam cho đến muôn đời.” Thánh Âu-tinh cũng dạy rằng: “Đức Ki-tô đã sinh ra. Người sinh ra cho chúng ta được sinh lại. Một trinh nữ đã mang thai nhờ cuộc nhập thể của Đức Ki-tô. Một trinh nữ đã sinh Đấng Cứu đời. Chớ gì tâm trí chúng ta cũng sinh ơn cứu độ và chúng ta hãy hát ca, ngợi khen. Chúng ta đừng là những người son sẻ : chớ gì tâm hồn chúng ta trở nên phong phú về Chúa.” Nhưng nếu muốn hiểu lễ Giáng sinh là mầu nhiệm cứu chuộc mà chỉ căn cứ vào thánh Lê-ô thì chưa đủ, mà còn phải dựa vào các bản văn phụng vụ sau thời của người nữa. Lễ Giáng sinh là giai đoạn khởi đầu, là buổi bình minh của ơn cứu độ như lời tiền tụng sau đây chứng tỏ: “Như vậy khi kính nhớ ơn huệ thứ nhất trong các ơn huệ Chúa ban, chúng con sẽ có thể hiểu được mầu nhiệm cứu độ thế giới.” Một bản văn khác cũng viết :”Chúng con không xin Chúa sinh ra một lần nữa về phần xác như xưa kia vào một ngày giống như hôm nay, nhưng xin cho chúng con được sáp nhập vào thần tính vô hình của Chúa. Điều Chúa đã ban cho Đức Mẹ xưa thì nay xin cũng ban cho Hội thánh là tin mà không lưỡng lự với một tâm hồn trong trắng. Xin ở cùng chúng con và chiến đấu cho chúng con.”●
Khổng Nhuận Trời Việt Nam bắt đầu se lạnh, báo hiệu Mùa Giáng sinh đang tới gần. Trời lạnh nhưng lòng lại ấm lên với một chút nao nao khi âm vang của những bài thánh ca Giáng sinh văng vẳng hầu như khắp nơi. Thấm thoát mà đã sang tuần thứ 4 mùa vọng, tôi dành bài chia sẻ này kính tặng ban biên tập và toàn thể độc giả báo Maranatha. Theo A Greek English Lexicon của Walter Bauer, Maranatha - tiếng Aram - có 3 nghĩa: 1. Maranatha: You proclaim the death of the Lord until he comes: Cho tới ngày Chúa đến, anh em loan truyền Chúa đã chịu chết (Cr 11:26) Amen! Come, Lord Jesus! A-men, lạy Chúa Giê-su, xin ngự đến! (Ap 22:21) 2. Trong 1Cr 16:22, Maranatha có 2 cách hiểu Marana - tha (mara: Lord; na: our; tha: come) Our Lord, come! Lạy Chúa chúng tôi, xin ngự đến! 3. Maran - atha: Our Lord has come. Chúa chúng ta đã đến rồi.
Maranatha thật hợp với tâm tình mùa vọng. Chúng ta đang sống trong những ngày mong chờ Chúa đến. Theo 3 định nghĩa trên, tôi cũng xin phép trình bày 3 cách Chúa đến CHÚA TÁI LÂM TRONG VINH QUANG VÀO NGÀY TẬN THẾ. Ngay từ thời thánh Phaolô, Ngài cũng cho rằng ngày tái lâm của Chúa cũng gần tới nơi rồi : Anh em cũng vậy, hãy kiên nhẫn và bền tâm vững chí, vì ngày Chúa quang lâm đã gần tới (Gc 5:8) Gần đến nỗi gây cho ta cảm giác rất có thể xảy ra ngay trong thời của Ngài: Vì khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng tổng lãnh thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người đã chết trong Đức Ki-tô sẽ sống lại trước tiên; rồi đến chúng ta, là những người đang sống, những người còn lại, chúng ta sẽ được đem đi trên đám mây cùng với họ, để nghênh đón Chúa trên không trung. Như thế, chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi. Vậy anh em hãy dùng những lời ấy mà an ủi nhau.(Tx 4:16-18) Gần tới năm 1000, thiên hạ cũng láo nháo cả lên vì sợ rằng ngày tận thế sắp tới Gần tới năm 2000 cũng vậy, giáo dân ở Vietnam cũng đồn ầm lên rằng tận thế sắp đến gần. Có những tờ bướm bán ở cuối nhà thờ tiên đoán sẽ tối tăm 3 ngày 3 đêm. Thiên hạ mua hàng chục cây đèn cầy, rồi đưa cho cha sở làm phép – nhưng quên không làm phép cái bật lửa!! Có giáo phái tự xưng là được chính các thánh dạy cách làm bột dinh dưỡng theo liều lượng đặc biết, rồi bán cho đồng đạo mỗi người cả chục ký để giúp gia đình cầm cự sống sót qua những ngày khốn khó sắp xảy đến. Bột này không cần làm phép vì đã được chế biến theo đúng như các thánh truyền! Ngoài ra, người ta còn âm thầm tích trữ mì ăn liền. Có điều là chỉ có giáo dân mới biết ngày tận thế tới gần; còn người ngoại đạo đừng hòng! Nên họ cứ nhởn nhơ vui chơi như không có gì xảy ra… và rồi những ngày đầu năm 2000 từ từ trôi đi trong bình lặng - mỗi ngày như mọi ngày! Thế là nhiều người bị lừa một vố đau! Trong những ngày ấy, họ lo chuẩn bị đối phó với tai ương sắp xảy tới hơn là chuẩn bị tâm hồn để đón ngày Chúa trở lại trong vinh quang. Có một điều rất nghịch lý: lẽ ra theo thời gian, càng ngày người ta càng cảm thấy ngày Chúa quang lâm gần kề, trái lại, hiện nay người ta mới náo nức bước vào thiên niên kỷ thứ Ba; như vậy việc Chúa quang lâm dường như vẫn còn xa xôi diệu vợi. Chính vì thế, tâm trạng chung của các Kitô hữu thời hiện đại ít ai đặt vấn đề Chúa tái lâm vào ngày tận thế. MARANATHA! LẠY CHÚA, XIN NGỰ ĐẾN! Đây là đề tài mà cả hàng trăm các bậc cao minh đã khai thác với hàng ngàn bài chia sẻ khác nhau, tôi xin mạn phép ghi lại những ý chủ yếu nhất mà tôi đã từng đọc: Có nhiều gợi ý để chúng ta đón Chúa ngự đến
Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa. (Mt 3:10) Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng. (Mt 8:12) Đến ngày tận thế, cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính, rồi quăng chúng vào lò lửa. Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng. (Mt 13:49-50). MARANATHA! CHÚA ĐÃ ĐẾN RỒI! Theo tôi, Maranatha mang ý nghĩa rất tích cực và tràn ngập bình an, hạnh phúc: Our Lord has come: Chúa đã đến rồi. Trong tự ngôn Tin Mừng theo thánh Gioan, chúng ta thấy rất rõ: Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. (Ga 1;11) Đã từ lâu rồi, tôi vẫn cho rằng lễ Noel chỉ là một lễ kỷ niệm ngày Chúa sinh trong hang đá Belem. Vì thế tôi làm hang đá thật lộng lẫy với muôn ngàn vì sao lấp lánh bằng những ánh đèn màu chớp tắt lia lịa. Nhưng cho tới một ngày kia, khi đọc đoạn Kinh Thánh trên, tôi mới giật mình: thì ra Chúa đã tới nhà của Ngài – nhà của Ngài chính là con người tôi - Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?(1Cr 3:16) Thực vậy, Ngài đã đến với tôi suốt hơn ba mươi năm qua thế mà tôi chẳng chịu đón nhận Ngài. Tôi có mắt như mù, có tai như điếc nên cứ kéo lê cuộc đời trong bóng đêm u mê tăm tối, ấy thế mà tôi vẫn cho mình còn ngon lành hơn cả ngàn người khác, dựa vào cuộc sống bên ngoài khá đạo đức. Tệ hơn nữa, thời còn độc thân, tới lễ Noel mà không có cô bồ dung dăng dung dẻ thì tôi cảm thấy cô đơn ghê gớm, không gì thê lương cho bằng ‘nửa đêm tan lễ, bước anh bơ vơ trở về’ trùm chăn ngủ lơ mơ không trọn giấc, tủi cho thân phận cô đơn lạnh lẽo của mình. Nguyên do chỉ vì tôi chẳng chịu đón nhận Ngài. Cho tới một hôm, tôi đã dừng lại thật lâu, suy niệm 2 câu Kinh Thánh dưới đây: Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa.(Ga 1:12-13) Bây giờ nhớ lại, tôi mới chợt nhận ra: có lẽ tôi đã nghe câu này nhiều lần, thế mà tưởng chừng như tôi chưa nghe lần nào. Rõ ràng Lời Chúa gieo vào mảnh đất tâm hồn sỏi đá của tôi đã bị chim trời bay xuống ăn mất ngay lập tức - ăn hết sạch sành sanh – Mãi cho tới khi tôi quyết tâm đi tìm Ngài, lòng tôi mở ra, tôi đón nhận từng hạt giống Lời Chúa vào lòng mình bằng cách cá nhân hoá Lời Chúa: Còn chính tôi đón nhận, tức là tôi tin vào danh Người, thì Người cho tôi quyền trở nên con Thiên Chúa. Tôi được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa Nhờ đó, Lời Chúa mới bắt đầu đơm bông kết trái. Tôi khám phá ra rằng: tôi đón nhận > tôi trở nên con Thiên Chúa vì được sinh ra bởi chính Thiên Chúa. Xin quý vị đừng tưởng rằng năm tôi 35 tuổi tôi mới được trở nên con Thiên Chúa. Nếu như thế thì hoá ra Chúa Cha phải chờ mòn mỏi cho tới lúc Đức Giêsu chịu Phép Rửa vào năm 30 tuổi, Chúa Cha mới chịu sinh ra Đức Giêsu hay sao? Xin quý vị nhớ lại biến cố trên dòng sông Jordan: Đức Giê-su cũng chịu phép rửa, và đang khi Người cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con.(Lc 3:21-22) Có nghĩa là khi tôi quyết định đón nhận Ngài vào lòng mình, thì tôi biết rằng tôi vốn là con của Ngài ngay cả trước khi tạo thành vũ trụ (Ep 1: 4) bởi vì cái ngày hôm nay của Chúa luôn luôn là một hiện tại trường cửu, không đo bằng thời gian đồng hồ nhân loại. Từ khi ý thức mình là con Thiên Chúa – mang hình ảnh Ngài - đồng hình đồng dạng với Đức Kitô - thì quan niệm của tôi về Chúa dần dần biến chuyển: Từ người Cha nhân lành tới bạn hữu thân tình… Từ Thiên Chúa cao sang trên trời thành Thiên Chúa tình yêu ngay trong lòng tôi. Từ một Ông Chúa mang hình tướng - thành nguồn sống mãnh liệt của tâm hồn tôi.. hiện nay tôi đang tập sống theo châm ngôn: tôi sống – không phải là thằng tôi sống – mà là chính Chúa sống trong tôi. Xin nhắc lại: tôi đang cố gắng tập sống mỗi ngày. Từ khi nhận ra khuôn mặt đích thực của Chúa: một Thiên Chúa không hình tướng, mắt tôi mở ra và lập tức hiểu rằng: Maranatha, Chúa đã đến rồi. Chúa đến ngay trong tâm hồn tôi (Ga 1:11) . Chúa đến để sống trong tôi (Ga 6:56). Chúa đến để nên một với tôi (Ga 17: 23). Chúa đến để tôi được sống và sống dồi dào (Ga 10:10). Chúa đến để tôi sống công chính, bình an và hoan lạc trong Thần Khí Chúa (Rm 14:17). Tôi từ từ quay ngược cuộn phim mang tựa đề: Maranatha, Chúa đã đến rồi. Chúa đã đến mỗi mùa Giáng Sinh về. Mỗi lần đón Chúa Giáng sinh, lòng tôi đang vui lại càng nao nao với những bài ca Giáng Sinh bất hủ, tạo nên một niềm vui lâng lâng siêu thoát, nhè nhẹ bình an như tiếng ru à ơi của mẹ Maria trong đêm Chúa giáng trần. (Ga 1:1-18) Chúa đã đến qua Lời Chúa. Hiện nay, mỗi lần đọc Kinh Thánh hay chia sẻ Lời Chúa cho anh em khác, là một lần tôi nhận ra rõ ràng hơn khuôn mặt của Chúa – dù đó là khuôn mặt không hình tướng, tôi xác tín mạnh mẽ hơn. Lòng tôi đang ấm áp lại càng ấm áp hơn - như hai môn đệ trên đường Emau: Khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao? (Lc 24:32) Chúa đã đến qua Bí tích Thánh Thể. Mỗi lần rước Chúa, lòng tôi càng gắn bó với Chúa hơn bằng những giây phút ý thức Ngài đang thực sự hành động qua con người của tôi. (Ga 6:55-56) Thật là thú vị khi ở vào tuổi 35, tôi đã khám phá ra rằng: Chúa đã đến qua Bí tích Thêm Sức, Ngài đã tuôn đổ Thần Khí vào tâm hồn tôi.(Rm 5:5) Chúa đã đến qua Bí tích Thánh tẩy, Ngài tuyên bố tôi là con yêu dấu của Ngài và trao cho tôi 3 chức năng: Vương đế, Tư tế và Ngôn sứ trước mắt linh mục chủ sự và những người thân yêu nhất của tôi. (1Pr 2:9) Chúa đã đến ngay khi tôi còn trong lòng mẹ, Ngài đã thánh hoá tôi để tôi được thánh thiện và tinh tuyền trước mặt Ngài. (Jr 1:5), (Ep 1:4). Giờ đây, tôi có thể la toáng lên rằng: Này anh em, Maranatha: Chúa đã đến rồi! Maranatha: Chúa đã đến rồi! Vâng, Chúa đã đến rồi! để kết thúc, tôi xin nhắc lại lời của thánh Phao lô - mà cũng thực sự là lời của tôi (cá nhân hoá) - xuất phát từ con tim rất đỗi chân thành - gởi tới ban biên tập và toàn thể quý bạn đọc Maranatha:
Ma-ra-na tha!
Marana tha!
SUY NIỆM GIÁNG SINH Lm. Vũ Xuân Hạnh Người ta nói, bông hồng tượng trưng cho tình yêu. Vì thế, để bày tỏ lòng yêu thương nhau, người ta thường trao tặng bông hồng. Cũng chính vì thế, ngày Valentine, ngày Tình Yêu, bông hồng, tự lúc nào, trở thành biểu tượng mà không cần giấy mực ký nhận, chỉ có lòng người yêu nhau đã hợp thức hoá cho ý nghĩa ấy. Bởi thế, dù chỉ với một cành hồng, tình vẫn có thể nồng nàn hơn cả với bảo ngọc trân châu. Vì với lòng yêu thương chân thật, dù chỉ một cành hồng, tình vẫn đằm thắm, vẫn kiêu sa hơn bảo ngọc trân châu mà lòng người đầy tính toán, vụ lợi, manh nha chiếm đoạt! I. NHẬP THỂ VÀ SỰ TỰ HIẾN Bông hồng đã đẹp. Bông hồng được trao tặng bằng cả một khối tình, lại là một vẻ đẹp không dễ gì thay thế. Nhưng trước sau, đóa hồng vẫn chỉ là một đóa hồng, giá trị của nó vẫn không bao giờ ví được giá trị của chính bản thân người nhận hoặc người tặng. Còn hơn thế, một đóa hồng, dẫu đẹp, sẽ biến đổi theo thời gian như chính lòng người, hôm nay trong vắt, ngày mai có thể vẫn đục! Hôm nay, trong tư thế của người được lãnh nhận, mọi Kitô hữu háo hức chuẩn bị mừng ngày Chúa Giáng sinh. Nói rằng “trong tư thế của người được lãnh nhận” khi mừng lễ Giáng sinh, là nói đến một ân ban tuyệt diệu mà mầu nhiệm Nhập Thể đã và vẫn tuôn tràn như một dòng chảy không ngơi nghỉ, không suy yếu. Nếu bông hồng là biểu trưng của tình yêu nhân loại thì mầu nhiệm Nhập Thể, một đóa hồng thánh thiện không chỉ là biểu trưng, cũng không đứng chung hàng với tình yêu nhân loại, nhưng là chính Tình Yêu Thiên Chúa, một tặng phẩm vượt trên giá trị của chính bản thân người nhận là toàn thể nhân loại này. Và nếu gọi Tình Yêu phát xuất từ Thiên Chúa là đóa hồng, thì đó chính là đóa hồng vĩnh cửu, đóa hồng mầu nhiệm không bao giờ có thể tàn phai. Đó còn là một Tình Yêu làm điểm đối chiếu cho mọi tình yêu của nhân loại. Nhân loại hãy nhìn vào Tình Yêu trong mầu nhiệm Nhập Thể để học lấy cho mình bài học quý giá: Thiên Chúa đã phó mình cho trần gian. Vì nơi Thiên Chúa, yêu là tự hiến, là hủy mình. Có hiểu hết sự tự hiến và hủy mình vì yêu trong mầu nhiệm Nhập Thể, ta mới có thể hiểu được làm sao một vì Thiên Chúa cao sang là thế, uy quyền là thế, mạnh mẽ và lớn lao khôn cùng, lại có thể hóa thân nên một con người bé nhỏ, yếu ớt, mong manh. Có hiểu được một tình yêu tự hiến đến mức hủy mình, ta mới hiểu được làm sao một Thiên Chúa lại trở nên trần trụi và nghèo nàn đến thế. Nếu mỗi người trong chúng ta có nghèo, nghèo lắm, khi sinh ra chắc không ai thiếu thốn quá mức như Thiên Chúa làm người. Người thiếu đến nỗi, ngay cả một tấm áo che thân, một cái chõng tre, dù cũ kỹ, cũng không có. Khi sinh ra, nếu tệ lắm, có lẽ ta cũng nằm trong một căn chòi! Nhưng Tình Yêu của Đấng làm người đã tự hủy đến mức không những không đòi cho mình bất cứ một điều gì, ngược lại còn trút bỏ hoàn toàn, trút bỏ cho đến mức chối từ cả những điều kiện vật chất căn bản nhất, cần thiết nhất của một con người, đến nỗi sinh ra không phải trong một căn chòi, nhưng còn tệ hơn, sinh ra trong nơi trú ngụ của loài cầm thú; không nằm trong một chiếc nôi, nhưng lại là máng cỏ; không sinh ra trên một chiếc giường nhưng chỉ có cỏ rơm làm chiếu! Mầu nhiệm Nhập Thể không dừng lại ở sự kiện giáng sinh. Thiên Chúa làm người còn tiếp tục tự hủy đến giây phút cuối đời. Người đã chấp nhận một cái chết thương đau và ô nhục: bị hành hình như một tên tử tội: chết trần trụi, treo giữa trời, giữa đất, giữa những tên tội phạm, thân thể thâm bầm, đầy thương tích! Thiên Chúa là Thiên Chúa giàu có. Người quyền năng và mạnh mẽ. Vũ trụ và mọi sự trên trời dưới đất là của Người, thuộc về Người. Một Thiên Chúa giàu có là thế, nhưng khi làm người, đã hiến dâng hoàn toàn, như không còn giữ lại gì cho riêng mình, hiến dâng cả mạng sống. Một Thiên Chúa giàu có đã trở nên nghèo khó đến độ chỉ còn có Tình Yêu. Như vậy, ngang qua mầu nhiệm nhập thể của Chúa Kitô, Thiên Chúa bày tỏ cho trần gian lòng yêu thương vô cùng của Người. Đó là một Tình Yêu mà ngàn đời, nhân loại cứ kiếm tìm, cứ khám phá, vẫn chưa bao giờ đạt tới, vẫn không hiểu thấu. Nơi biến cố nhập thể, một mặt chính Tình Yêu và trong Tình Yêu, Thiên Chúa đã trao ban cả một mầu nhiệm viõ đại. Mặt khác, chính Tình Yêu đã làm cho Đấng Thiên Chúa làm người, Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã hiến dâng lên Thiên Chúa lời “xin vâng” tuyệt hảo, chấp nhận sự tự hủy mình cho trần gian. Lòng vâng phục và sự tự hủy ấy chính là lý do ca ngợi Chúa Kitô của thư Do thái: “Dù là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (5, 8-9). Để nối lại hình ảnh quà tặng bông hồng với ý nghĩa lớn lao của mầu nhiệm Nhập Thể, chúng ta cần hiểu rằng, tình yêu chỉ quý giá bởi người yêu dám hiến mình trao dâng, dám tự hủy chính bản thân vì người mình yêu, chứ không phải bởi món quà có thể cầm nắm, dẫu món quà đó là một cành hồng tươi hương thắm sắc. Nói cách khác, quà tặng làm cho tình yêu nên giá trị lộng lẫy và sang trọng, chỉ có thể là quà của sự tự hiến đến hủy mình vì người mình yêu. Và nếu bông hồng chỉ nói thay cho lời yêu chứ không là chính tình yêu, thì Chúa Kitô hiến mình trong mầu nhiệm Nhập Thể là chính Tình Yêu xuất phát từ Thiên Chúa trao tặng loài người. Đó mới chính là Đóa Hồng vĩnh cửu, Đóa Hồng không bao giờ tàn phai: Một quà tặng vô giá, quà tặng của mọi quà tặng. II. TẶNG PHẨM CỦA NGƯỜI NGHÈO Có một câu chuyện thế này: Vào đêm lễ Giáng sinh, không riêng người Công giáo, nhưng hầu như mọi người, đều đổ ra đường để đi đâu đó mừng đêm tưng bừng, đêm lễ hội. Vì thế mọi ngã đường sớm đông nghẹt. Theo dòng người đông đảo, Tôi - tác giả kể - bước về hướng nhà thờ. Chiếc loa phóng thanh trên đỉnh nhà thờ trổi bản nhạc mừng Chúa Giáng sinh thật vui, không làm tôi chú ý cho lắm. Một cảnh tượng khác đập và mắt tôi: Một người đàn ông trạc bốn mươi, chắc là bảo vệ nhà thờ, lôi xồng xộc một em bé ra ngoài khuôn viên nhà thờ. Trên tay em là một xấp vé số dày cộm. Vừa lôi em, miệng anh vừa la lối: “Ra ngoài bán, ở đây không phải chỗ!” Cùng lúc ấy, tôi nghe một giọng nói ấm áp từ phía sau lưng mình: “Này anh, thôi đừng đuổi em bé nữa. Đêm nay Chúa Giáng sinh là để cho em và cho những người cơ nhỡ, bất hạnh, nghèo khó như em. Anh hiểu chứ?” Phản xạ tự nhiên, Tôi xoay người lại xem giọng nói của ai? À, chiếc áo chùng thâm. Hóa ra một linh mục. Tôi còn nghe cha nói thêm: “Cần phải có những người như em bé này ở trong nhà thờ đêm nay, để họ hiểu rằng, Chúa cũng nghèo lắm, nghèo như chính bản thân họ vậy.” Vị linh mục bước đi. Người bảo vệ nhìn theo, ánh mắt vẫn chứa đầy một khoảng không im lặng. Có lẽ anh ta ngỡ ngàng lắm, nhưng cũng thẹn lắm vì vừa mới nhận ra một bài học quý giá. Tôi nhìn lên bầu trời hít thở không khí đêm đông lành lạnh thật sản khoái, chợt nhận ra ánh sao đêm nay sáng và đẹp tuyệt vời! Có thể khi dẫn chứng bằng câu chuyện và những hình ảnh mà câu chuyện lột tả, sẽ có nhiều ý kiến khác nhau của nhiều người: đồng ý và không chấp nhận, khen hoặc thấy khó chịu; cũng có thể nhận định rằng, anh bảo vệ đúng, vị linh mục chưa đúng! Riêng tôi, chỉ nhằm một chủ đích duy nhất: minh họa cho những gì đã suy nghĩ, để nhấn mạnh đến một điều quan trọng và lớn lao hơn nhiều: Tình Yêu Thiên Chúa nơi mầu nhiệm Nhập Thể. Nội dung câu chuyện thật ngắn, thật đơn sơ, nhưng tôi thấy chất chứa bên trong nó một vài cảm nhận. Đó là cảm nhận về một quà tặng của Tình Trời được gởi trao cho người trần, một quà tặng tuyệt đối, quà tặng vô giá được ban tặng nhưng không: Thiên Chúa đã trao tặng chính người Con Một dấu ái của Người: “Thiên Chúa YÊU thế gian đến nỗi đã BAN Con Một, để ai tin vào Con của Người thì không phải chết nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3, 16). Dù thánh Gioan không nhắc tới cách hiển nhiên hai tiếng “quà tặng”, nhưng khi lặp lại lời của Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô: “Thiên Chúa đã YÊU! đến nỗi đã BAN”, thì không là nói bằng ngôn ngữ của quà tặng đó sao. Và trong hai tiếng quà tặng đã hàm chứa tình yêu và sự trao ban. Nơi Thiên Chúa, dù quà tặng chính là một ân ban thần linh diệu kỳ, lại quá sức cụ thể nơi một con người mang tên Giêsu Kitô. Và nơi Thiên Chúa làm người mang tên Giêsu Kitô, đã là Thiên Chúa giàu có, nhưng đã chấp nhận hủy mình để trao dâng tất cả, để tỏ lòng yêu thương, thì lời của linh mục trong câu chuyện kể trên: “Đừng đuổi em bé. Đêm nay Chúa Giáng sinh là để cho em và cho những người cơ nhỡ, bất hạnh, nghèo khó như em”, và “Cần phải có những người như em bé này ở trong nhà thờ đêm nay, để họ hiểu rằng, Chúa cũng nghèo lắm, nghèo như chính bản thân họ vậy”, thật đáng chú ý và đáng suy nghĩ. Cũng vậy, không hề nhắc tới hai tiếng “quà tặng”, nhưng qua lời đối thoại, những kiểu nói: “để cho”, hay “Chúa cũng nghèo như chính họ vậy”, tác giả đã đặt lên môi nhân vật ngôn ngữ của quà tặng, một quà tặng chứa đầy tình yêu. Nhưng hình như trong lời đối thoại của nhân vật linh mục, chỉ có “những người cơ nhỡ, bất hạnh, nghèo khó” mới đáng lãnh nhận quà tặng Giêsu. Đọc lại Tin mừng của đêm Giáng sinh, ta cũng sẽ thấy rõ điều này. Ngay sau khi Đấng tự hiến mình đã sinh làm người, thiên thần loan tin mừng Giáng sinh. Nhưng lời của thiên thần: “Hôm nay Đấng Cứu Thế giáng sinh cho các ngươi” (Lc 2,11) không thể nào vang đến dinh tổng trấn Philatô, hoặc ngai vàng vua Hêrôđê hay dinh thượng tế Caipha, lại thuộc về những mục đồng, những người chỉ biết làm quen với cái nghèo, làm bạn với đàn súc vật. Nghèo vật chất đã vậy, họ còn là những người dốt nát, chọn cho mình kiếp sống rày đây mai đó! Và dấu chỉ của quà tặng vô giá mà thiên thần giới thiệu là gì? Đó là: “Đây là dấu hiệu để các ngươi nhận biết Người: các ngươi sẽ thấy một hài nhi mới sinh, bọc trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2, 12). Một dấu chỉ quá đỗi đơn sơ, nghèo hèn. Nhưng chất chứa trong dáng vẻ đơn nghèo, dấu chỉ ấy là một dấu chỉ vĩ đại, dấu chỉ về một tặng phẩm thần linh: Thiên Chúa làm người! Hóa ra quà tặng thần linh được dâng tặng, được trao ban, không phải chỉ có những người hèn hạ, khốn khổ mới có thể lãnh nhận. Nhưng Đấng ban tặng chính mình cũng trở nên người nghèo. Chỉ có hiến mình dâng tặng như thế, quà tặng Giêsu mới thật là quà tặng cần thiết và tròn đầy ý nghĩa. Vậy để đón nhận và hiến dâng trọn vẹn quà tặng của yêu thương, đòi người ta phải có sự trút bỏ bằng một tinh thần nghèo khó, bằng một ý thức hiến mình thực sự, không thể làm khác được. Như vậy chính trong sự nghèo khó, người ta lại trở nên giàu có, vì có chính Thiên Chúa làm tặng phẩm vô giá của mình. Bởi vậy, ta mới hiểu vì sao Chúa Giêsu lại nói: “Phúc cho các ngươi là những người nghèo” (Lc 6, 20). III. KITÔ HỮU, QUÀ TẶNG CỦA TRẦN GIAN Nếu Chúa Kitô, Thiên Chúa làm người chính là quà tặng, trước tiên dành cho bất cứ ai tin tưởng nơi Người. Đến lược Kitô hữu, người bước theo Chúa Kitô, cũng phải là quà tặng cho trần gian. Vì chỉ có thế, họ mới nên giống Chúa Kitô và xứng đáng với tên gọi Kitô hữu của mình. Nhưng thực tế của đời sống mình, bạn và tôi chắc không ít lần thiếu ý thức về điều này. Vì thế, chúng ta đã không trở nên quà tặng đối với anh chị em, tệ hơn, ta đã làm lu mờ hai tiếng quà tặng mà Thiên Chúa và Chúa Kitô luôn vung đắp, trao ban và mời gọi ta hãy bắt chước mà sống như Người đã sống để nêng giống Người. Đã vậy, do thiếu yêu thương và do tội lỗi của mình, ta xúc phạm đến chính địa vị làm Con Thiên Chúa, xúc phạm đến giá trị của chức danh Kitô hữu cao cả mà ta được danh dự khoác vào. Ai đó ví von pha chút mỉa mai: “Kitô hữu là một Kitô khác, có nghĩa là một Kitô khác khác Chúa Kitô!” Không biết lời ví von ấy đúng hay không? Nhưng nếu ít nhiều có sự thật, đó không còn là lời nói cho vui, mà trở thành lời bật thốt từ nỗi xót xa. Hơn nữa, nếu đúng như thế thì ý nghĩa của đời Kitô hữu đã bị lệch, bị méo. Bởi thay vì chức vị làm con Thiên Chúa của người Kitô hữu (tức là người thuộc về Chúa Kitô, tràn ngập Chúa Kitô trong tâm hồn, để cho Chúa Kitô chiếm hữu và chiếm hữu chính Chúa Kitô), như một quà tặng dâng cho đời, lại trở nên tối tăm, phản chứng, mang những hình ảnh đi ngược tình yêu của Chúa như: sự xa hoa, ích kỷ, thụ hưởng bản thân, làm ngơ trước nỗi đau của đồng loại... Mang danh Kitô hữu mà lại “khác Chúa Kitô” đến mức không thể tưởng tượng như thế, đúng là một nỗi đau xót tận cùng. Thực tế làm nên nỗi đau ấy, từ ngàn xưa, đã từng bị các tiên tri phản đối. Chẳng hạn, lời tiên tri Xôphônia: “Khốn cho thành phản loạn và ô uế, khốn cho thành tàn bạo, không nghe tiếng kêu mời, chẳng tiếp thu lời sửa dạy, không cậy trông vào Đức Chúa, chẳng đến gần Thiên Chúa của mình. Trong thành, các thủ lãnh như sư tử rống, các thẩm phán như sói ăn đêm, sáng ngày ra chẳng còn gì để gặm. Các ngôn sứ của nó là hạng người khoác lác ba hoa, là những quân phản bội; các tư tế của nó làm ô uế đền thờ và vi phạm lề luật.” (Xp 3, 1-4) Và nếu gọi lối sống ấy là là mang danh Kitô hữu mà không sống tước hiệu Kitô hữu, là kẻ giả hình, thì chính Chúa Kitô đã từng lên án kiểu sống ấy: “Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các ngươi cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác” (Mt 23, 27-28). Lối sống giả hình không bao giờ là quà tặng cho ai, có khi còn rất nguy hiểm, vì nó che đậy biết bao nhiêu gian dối lừa lọc. Thà đừng là Kitô hữu, còn hơn là Kitô hữu mà chẳng bao giờ biết hy sinh, chẳng bao giờ ý thức mầu nhiệm tự hiến để trao ban chính mình như tặng phẩm của tình yêu gởi đến anh chị em quanh mình. Nói cho cùng, đó chính là nỗi bi đát lớn. Vì như vậy, đời Kitô hữu chỉ còn là pháo đài được xây dựng cho riêng bản thân. Nếu Tin Mừng đầu tiên của Mầu Nhiệm Nhập Thể đã không thể vọng đến dinh tổng trấn và thượng tế, hay đền vua, thì những pháo đài hôm nay, chắc sẽ rơi vào một mối nguy lớn: Thiếu vắng Tin Mừng Tình Yêu, dẫu Tin Mừng ấy vẫn được rao giảng từng ngày, mọi nơi. Có một lời kinh rất đơn sơ, nhưng cũng rất sâu sắc, vẫn sống mãi trong lòng Giáo Hội đó là “Kinh Hòa Bình” của thánh Phanxicô Assisi. Lời kinh ấy bất cứ ai nghiền ngẫm và sống đúng như vậy, không chỉ trở nên tặng phẩm tuyệt vời cho trần gian, nhưng còn mang lại bình an, niềm hạnh phúc lớn lao cho chính người dâng tặng: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm. Để con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng! Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ...” IV. KITÔ HỮU THÁNH HIẾN TRONG CHỨC LINH MỤC CÀNG PHẢI DÂNG TẶNG ĐỜI MÌNH. Đã gọi là quà, quà tặng cần phải trao ban. Quà không trao ban không phải là quà. Quà chỉ có giá trị khi nó được dâng tặng bằng cả tình yêu. Nếu Kitô hữu bình thường đã được mời gọi trở nên tặng phẩm của lòng yêu thương, thì lời mời gọi này càng cấp bách đối với các Kitô hữu sống đời thánh hiến, nhất là các Kitô hữu linh mục. Bản chất của thánh chức linh mục là phụng sự Chúa, phục vụ con người, là người thợ chế biến giáo lý, giáo điều thành lẽ sống thiết thực của anh chị em.. Vì thế, hơn ai hết, linh mục chính là quà tặng, hình ảnh cụ thể của Tặng phẩm Giêsu cho trần gian. Không hiểu vì sao có người dám nói thế này: “Linh mục ban của thánh và nhận của phàm.” Không biết lời mỉa mai ấy có nhằm lăng mạ, hay vì thù ghét, chống đối mà dám độc mồm, độc miệng đến vậy? Dẫu sao, nhìn ở một khía cạnh nào đó, đó vẫn là lời cần thiết để người linh mục ý thức chính mình. Vì những cám dỗ nhằm lôi kéo lợi lộc tư riêng không phải là không có. Đây đó đã xảy ra và vẫn xảy ra, có khi rất thường xuyên và lan tràn. Nếu thánh chức linh mục bị “biến tấu” như thế, đời linh mục chỉ còn là phương tiện phục vụ quyền lợi vật chất của mình, chứ không còn cho Nước Trời và cho con người. Nếu xảy ra như thế, chiếc áo chùng thâm, biểu trưng của đời tu, người linh mục khoác vào chỉ là tấm bình phông che đậy lối sống vụ lợi của chính mình mà thôi. Để xảy ra như thế, quả là một mất mát, một thiệt thòi, một nỗi đau đớn tận cùng cho Giáo Hội, cho sự sáng danh Thiên Chúa, khó có gì có thể bù đắp. Bởi thay vì chức linh mục như một quà tặng dâng cho đời, lại trở thành phương tiện để thỏa ích kỷ riêng tư, đó chính là nỗi bi đát lớn cho chính người linh mục. Vì thay vì mang ý nghĩa của sự phục vụ cao quý: phục vụ Nước Trời, lại nghiễm nhiên trở thành nô lệ cho sự ham muốn những thứ kém giá trị. Ơn thánh hiến mà bị lạm dụng, có khác chi lời tiên tri Êgiêkiel cảnh báo từ rất xưa: “Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Khốn cho các mục tử Israel, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên sao? Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, còn đàn chiên lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc” (Ed 34, 2- 4). Suy niệm về ý nghĩa của Tình Yêu Nhập Thể như thế, người linh mục nhận ra mình. Một khi bước theo Chúa Kitô trong đời sống thánh hiến, người linh mục chỉ dám nói mình nên giống Chúa Kitô khi đã có thể sống đời hiến dâng như Chúa Kitô. Ngay cụm từ “Đời sống Thánh hiến”, đủ để nói lên ý nghĩa của sự hiến dâng mình trong chức linh mục. Nói linh mục dâng mình để sống đời thánh hiến trong chức linh mục là điều không khó. Nhưng trước sau, linh mục vẫn là con người. Linh mục sống đời thánh hiến hoàn hảo như Chúa Kitô không dễ chút nào. Tuy nhiên, khó không có nghĩa là không thể thực hiện, càng không bao giờ được phép đầu hàng. Trong đời sống thánh hiến, đầu hàng không chỉ là thua cuộc, mà còn là đánh mất. Vì không dám và không ý thức đời hiến dâng, linh mục chỉ còn danh chứ không còn thực. Bông hồng tượng trưng cho tình yêu. Nhưng bông hồng chỉ thực sự làm nên ý nghĩa của tình yêu, khi người ta trao tặng cho nhau bằng cả một khối tình chân thật. Nhưng với Chúa Kitô, hơn cả những mối tình mà ta gọi là chân thật nhất, trong cuộc Nhập Thể, từ thân phận Thiên Chúa trở nên phàm nhân, chấp nhận lặn sâu trong kiếp người để chia sẻ thân phận con người của mỗi chúng ta, Người đã trao tặng cho ta không phải một đóa hồng, mà là một Đóa Hồng vĩnh cửu, một quà tặng vô giá là chính bản thân của Người. Linh mục được Chúa Kitô mời gọi và bước theo Người. Chỉ có một điều duy nhất làm cho linh mục có thể nên giống Chúa Kitô, sống chính sự sống của Chúa Kitô cách trọn nghĩa, là khi linh mục dám ướm thử đời mình theo khuôn mẫu cuộc đời Chúa Kitô. Đó là biết trút bỏ những ham hố, tham vọng, mưu cầu tư lợi và tự hủy mình trở nên người phụng sự Chúa, phục vụ con người như Chúa muốn. Hãy nhớ rằng, một khi Chúa Kitô tự hủy để sống nghèo khó, Người trở nên quà tặng vô giá. Linh mục cũng sẽ trở nên quà tặng khi biết trút bỏ, để sống sự nghèo khó như Chúa. Vì thánh hiến là dâng tặng đời mình. Linh mục sống đời thánh hiến, nghĩa là linh mục tắm mình trong tình yêu Thiên Chúa để hiến dâng tình yêu đã được thánh hiến của mình trao tặng anh chị em. Nhờ thế, linh mục không chỉ sống mầu nhiệm nhập thể, mà còn làm cho mầu nhiệm ấy thẩm thấu trong đời thánh hiến của mình. Xuyên qua những điều tốt lành ấy, linh mục đã sống hoàn hảo ơn gọi nên thánh trong thánh chức. Bông hồng trao tặng là để bày tỏ lòng yêu thương. Con người biết hủy mình để dâng tặng tình yêu, lời tỏ tình ấy có giá trị gấp ngàn lần những cánh hồng tươi nở. Nhưng nếu hiến dâng đời mình trong ơn gọi thánh hiến, hơn tất cả mọi lời yêu thương, người linh mục trở thành một con đường tình yêu nối trời cao với trần thế, đưa con người đến với Thiên Chúa, và trao ban chính Thiên Chúa cho con người. Còn nét đẹp nào có thể sánh bằng nét đẹp của ơn thánh hiến để dâng tặng đời mình như thế! VẤN TÂM 1. Mừng Chúa Giáng sinh, tôi đã chuẩn bị tâm hồn thế nào để đón chờ ngày Chúa đến hôm nay trong từng ngày sống của tôi, nhất là trong ngày Người đến gọi tôi ra khỏi cuộc đời? 2. Chúa Kitô nhập thể, trở nên quà tặng của Thiên Chúa tặng ban cho loài người. Chính khi nhập thể làm người, Chúa Kitô đã chấp nhận hủy mình như thánh Phaolô đã từng viết trong thư Philipphê: “Đức Giêsu Kitô vốn vĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như |