Số 32, Ngày 8-1-2005

 

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Bài Học Lễ Hiển Linh - Nguyễn Chính Kết

Hêrôđê - Trần Duy Nhiên

Vị Đạo Sĩ Thứ Năm - Khổng Nhuận

Chịu Thanh Tẩy Như Chúa Kitô - Aloysius Pieris S.J. -Trần Duy Nhiên dịch

Bài Học Từ Việc Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa - Nguyễn Chính Kết

Bất Ngờ Ập Tới - GM. Bùi Tuần

Tâm Tình Sau Cơn Sóng Thần - LTCT

Chia Sẻ Đầu Năm - HT

Nếu Ngày Mai Không Bao Giờ Đến... - Maranatha dịch

Nhiệm Tích Thánh Thể và ĐGH Gioan Phaolô II - Lm. Cao Phương Kỷ

Cầu Nguyện Với Thánh Lễ - Hoàng Quý

Tâm Tình Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

 

 

Trở về các số báo

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa Quý độc giả,

Khi viết những dòng này thì số người thiệt mạng trong cơn sóng thần ngày 26 tháng 12 tại Đông Nam Á đã vượt quá con số 150.000 người. Các cơ quan quốc tế dự kiến rằng số người sẽ chết vì hậu quả của cơn sóng này sẽ đưa con số nạn nhân lên đến 300.000 người. Nhìn lại những vùng bị tàn phá, hầu hết là những đất nước thuộc thế giới thứ ba, nghĩa là những nước nghèo, trong số đó có những nước thuộc diện nghèo nhất thế giới như Sri Lanka hay Somali. Trước những con số tử vong tăng nhanh như thủy triều, chúng ta không thể nào dửng dưng trước tiếng nói phản kháng xuất phát từ một email: I deeply struggled with those images of the victims. My entire belief system in God is badly damaged. My head is spinning with questions: Why God did what he did? Does He exist?

(Tôi chiến đấu cam go với hình ảnh các nạn nhân. Toàn bộ hệ thống niềm tin của tôi vào Thiên Chúa đã lung lay trầm trọng rồi. Đầu óc tôi quay cuồng với những câu hỏi: Vì sao Chúa lại làm thế? Người có hiện hữu không?)

Những câu hỏi này lặp lại lời chất vấn trường kỳ của nhân loại trước các tai họa không thể nào giải thích được, và Thiên Chúa thì hầu như vẫn lặng thinh. Trong cuốn Les Destinées, đoạn nói về Vườn Cây Dầu, Alfred de Vigny cũng đã viết về Chúa Giêsu như sau:

Il se courbe à genoux, le front contre la terre;

Puis regarde le ciel en appelant «Mon Père!»

Mais le ciel reste noir et Dieu ne répond pas.

Ngài quì xuống, sấp mình ngang mặt đất

Nhìn lên trời, gọi lớn tiếng: “Cha ôi!”

Nhưng trời đen và Chúa chẳng trả lời.

 

Vâng, Người không trả lời theo ngôn ngữ vừa tai cho mọi ngưòi, nhưng thực ra Người trả lời bằng một ngôn ngữ riêng biệt cho từng trái tim thao thức.

Sáu mươi năm về trước, xứ đạo Urakami là xứ đạo toàn tòng duy nhất ở Nhật Bản, tọa lạc ở ngoại ô thành phố Nagazaki. Nhờ số giáo dân ở đây mà người Công Giáo chiếm được 1,5 % dân số của Nhật. Thế rồi lúc 11 giờ trưa ngày 9 tháng 8 năm 1945, từ chiếc B29, thiếu tá Chuck Sweeney thả một quả bom nguyên tử 4 tấn rưỡi xuống thành phố ngay đỉnh nhà thờ Urakami. Số 72.000 nạn nhân của thành phố Nagazaki bao gồm toàn bộ giáo dân giáo xứ Urakami. Quả bom ác nghiệt này đã biến số giáo dân vốn ít ỏi ở Nhật Bản xuống chỉ còn 0,3%. Bác sĩ Phaolô Takashi Nagai, một giáo dân Urakami đã nhìn lại quả chuông méo mó của nhà thờ Urakami và tự hỏi vì sao? Trong sáu năm còn lại, với hình hài nhiễm phóng xạ, ông đã viết lên lời hy vọng trong cuốn ‘The Bells of Nagazaki” (Những quả chuông Trường Kỳ). Qua biến cố đau thương, giết chết toàn bộ gia đình mình, ông hiểu rằng cái chết của những con chiên bị tế sát ở Urakami đã là giá phải trả để đem đến hòa bình cho thế chiến II. Và từ ngày Chúa Kitô chịu tế sát như con chiên tinh tuyền đầu tiên, thì những “anawim” (kẻ bé mọn - người nghèo của YHWH - Thiên Chúa) luôn được chọn để chết thay cho người tội lỗi.

Những anawim ngày xưa ở Nagazaki, và những anawim ngày nay bị tế sát do con người hay do thiên nhiên vẫn là một tiếng nói của Tình Yêu vượt trí hiểu biết của con người. Hai ngàn năm trước, khi Chúa giáng trần cũng là lúc mà hàng loạt trẻ thơ bị giết tại Bêlem.

“Tình Yêu, ôi cao siêu là Tình Yêu Thiên Chúa”, lời hát hân hoan trong các thánh lễ còn được Kitô hữu vẫn trung thành hát lên trong những tháng ngày ảm đạm này không? Cơn sóng thần 26 tháng 12 năm 2004 càn quét bao nhiêu đất nước, thành phố, làng mạc và con người nhưng đồng thời cũng có thể càn quét niềm tin của Kitô hữu chúng ta. Nhưng Ðức Tin dạy chúng ta biết rằng cả trong những thử thách khó khăn nhất và gây đau khổ nhất - chẳng hạn như trong những thiên tai đã giáng xuống vùng Ðông Nam Châu Á trong những ngày qua - Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta: trong mầu nhiệm Giáng Sinh, Ngài đã đến để chia sẻ thân phận con người chúng ta. (ĐGH Gioan Phaolô II, Lễ Hiển Linh).

Một trùng hợp quan phòng: vẫn còn trong Mùa Giáng Sinh và để chuẩn bị bước vào Mùa Thường Niên, Giáo Hội mừng hai lễ trọng mang tính thách đố: Lễ Hiển Linh và Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa. Trong chiều hướng này, Maranatha_32 sẽ tìm đọc các biến cố cuộc đời qua hai biến cố trọng đại này. Sau cùng, trong năm Thánh Thể, Maranatha tiếp tục những tìm hiểu và suy tư về Mầu Nhiệm Thánh Thể để càng ngày càng bước sâu hơn vào trung tâm của mầu nhiệm Tình Yêu.

Chúa Đã Đến! Giữa mùa Giáng Sinh năm nay, thế giới như phủ màu tang. Vì thế, lời cầu nguyện của Kitô hữu chúng ta càng trở nên tha thiết hơn bao giờ: Khi những biến cố cuộc đời thử thách niềm tin, thì lạy Chúa, xin hãy đến thắp sáng lòng tin cho chúng con; Maranatha, Lạy Chúa, Xin Ngự Đến!

MARANATHA

Trở về mục lục >>

 LỄ HIỂN LINH

BÀI HỌC LỄ HIỂN LINH

Nguyễn Chính Kết

1.      Người ngoại cũng được vào Nước Trời

Ngày xưa, những người theo đạo Do Thái quan niệm chỉ có những người theo đạo Do Thái, nghĩa là có chịu phép cắt bì mới được cứu rỗi. Sách Công Vụ Tông đồ cho thấy quan niệm ấy của họ: «Có những người từ miền Giuđê đến dạy anh em rằng: “Nếu anh em không chịu phép cắt bì theo tục lệ Môsê, thì anh em không thể được cứu độ”» (Cv 15,1). Ngày nay, nhiều người Kitô hữu cũng có quan niệm tương tự như thế. Nhưng tinh thần của bài Tin Mừng lễ Hiển Linh mạc khải một sự thật hoàn toàn ngược lại quan niệm ấy.

Qua bài Tin Mừng, ta thấy chính những người Do Thái – mặc dù biết Đấng Cứu Thế sinh ra tại đâu – lại không thèm tìm kiếm Đức Giêsu mới sinh ra. Những người tìm kiếm Ngài và đã thấy Ngài, thờ lạy Ngài và dâng tặng vật cho Ngài lại là dân ngoại từ tận đâu đâu đến. Kinh Thánh còn cho ta biết người Do Thái chẳng những không tìm kiếm Đức Giêsu, mà còn bách hại Ngài nữa. Vì thế, Nước Trời vốn ưu tiên cho người Do Thái, nhưng vì họ từ chối bằng thái độ lãnh đạm, thậm chí chống đối, nên đã được đem đến cho dân ngoại: «Phaolô và Banaba mạnh dạn lên tiếng : “Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố Lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại» (Cv 13,46). Và lịch sử cho thấy dân ngoại vô số người đã vào Nước Trời – mà dấu chỉ là Giáo Hội – đang khi người Do Thái lại đứng ở ngoài. Thật đúng với câu Đức Giêsu nói: «Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Giacóp trong Nước Trời.  Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 8,11-12). Đức Giêsu cũng đã dùng nhiều dụ ngôn để nói lên sự thật này: xem Mt 21,28-32 (Hai người con kẻ nói vâng người nói không), Mt 21,33-46 (Những thợ vườn nho sát nhân), Mt 22,1-14 (Tiệc cưới).

2.      Bài học cho người Kitô hữu.

a)    Có Kinh Thánh giáo trong tay… không đủ!

Điều trớ trêu trong bài Tin Mừng lễ Hiển Linh là người Do Thái – đặc biệt những tư tế và luật sĩ – có Kinh Thánh trong tay, nên họ biết Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra ở đâu, và lúc nào họ cũng tỏ ra mong chờ Đấng ấy đến. Thế nhưng những người gặp được đấng Cứu Thế – các đạo sĩ và mục đồng – lại là những kẻ chẳng biết gì về Kinh Thánh. Điều ấy chẳng làm cho chúng ta suy nghĩ sao?

Người Kitô hữu   có đủ mọi phương tiện để được cứu rỗi: Kinh Thánh (Cựu và Tân Ước), giáo lý, giáo huấn Giáo Hội (các văn kiện Tòa Thánh), các sách thần học, tu đức, luân lý, rồi các bí tích, các giờ phụng vụ… Nhưng hãy coi chừng kẻo lịch sử lại lập lại như cách đây 2000 năm. Vì bài Tin Mừng cho thấy: để gặp được Đấng Cứu Thế, có Kinh Thánh trong tay không đủ, mà còn phải nhạy bén để biết thời điềm, đồng thời thật sự lên đường tìm kiếm Ngài. Người Do Thái – cụ thể là các tư tế và luật sĩ – có nhiều điều kiện để gặp Ngài hơn các đạo sĩ (có Kinh Thánh, ở gần nơi Ngài sinh ra, được các đạo sĩ báo về ngôi sao của Ngài), nhưng đã không lên đường tìm kiếm Ngài. Họ muốn yên thân với những tập tục đạo đức của họ, với cách giữ đạo cổ truyền của họ, và họ nghĩ rằng Đấng Cứu Thế sẽ chủ động đến để gặp họ, đem sự giải phóng đến cho họ. Nhưng sự thật đã xảy ra không phải như vậy 

b)       Điều cốt yếu là tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa và tha nhân.

Bài Tin Mừng lễ Hiển Linh mời gọi người Kitô hữu xét lại xem: cách sống đạo của chúng ta có giúp chúng ta đến gặp Chúa hay không, nghĩa là có thể đem lại ơn cứu độ cho chúng ta hay không. Chúng ta đừng an tâm tưởng rằng cứ giữ những tập tục đạo đức truyền thống cho tốt là bảo đảm vào được Nước Trời. Như thế không đủ! Điều cốt yếu để vào được Nước Trời không chỉ là tin vào Đức Giêsu mà còn phải thể hiện niềm tin ấy bằng việc sống theo lời Ngài: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em»  (Ga 13: 34). Nghĩa là chúng ta phải chứng tỏ được tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa và tha nhân. Mà tình yêu đối với Thiên Chúa lại được thể hiện qua tình yêu đối với tha nhân: «Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối ; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy» (1Ga 4,20).

c) Tình yêu phải được thể hiện bằng hành động thật sự.

Giấy thông hành để vào Nước Trời chính là tình yêu, mà phải là tình yêu đích thực. Không ai thiếu tình yêu mà vào Nước Trời được, vì Nước Trời là Nước của Tình Yêu. Tình yêu đích thực tự bản chất là phải được thể hiện bằng hành động. Nếu «đức tin không có hành động thì là đức tin chết» (Gc 2,17), thì cũng vậy, tình yêu không có hành động là tình yêu giả hiệu. Với tình yêu giả hiệu, chúng ta không thể vào Nước Trời được.

Nhưng làm sao ta dám nói là ta có tình yêu đích thực đối với anh em mình khi họ lâm nạn mà ta lại khoanh tay đứng nhìn? Làm sao tình yêu của ta là đích thực được khi ta thấy rõ ràng anh em mình đang chịu bất công mà ta lại không chịu lên tiếng hay can thiệp, nhất là khi tiếng nói của ta có thể rất hữu hiệu? Nếu ta thấy anh em mình chịu bất công tỏ tường mà vì muốn yên thân ta lại làm chứng với mọi người rằng đó không phải là bất công, thì tình yêu của ta là chân thực sao được? Nếu cách hành động của ta là như thế, thì dù ta có tuân thủ giữ những tập tục truyền thống trong tôn giáo một cách hoàn hảo, không chê vào đâu được, chúng ta vẫn luôn luôn ở ngoài Nước Trời.

d) Cần cảnh giác với thứ đạo đức hương nguyện, thiếu việc làm.

Tệ hơn nữa, là khi chính chúng ta đã không chịu thể hiện tình yêu, mà lại cổ võ một thứ đạo đức không việc làm, luôn luôn đề cao việc đọc kinh cầu nguyện, dâng thánh lễ… mà không hề nhấn mạnh bổn phận phải dấn thân cho anh em, phải quan tâm mưu cầu hạnh phúc cho những người chung quanh, biến cải xã hội nên công bằng và tốt đẹp hơn, thì phải chăng chúng ta đang tiếp tay cho kẻ ác ru ngủ quần chúng, làm tê liệt sức đấu tranh cho công bằng xã hội của họ? Phải chăng chúng ta đang biến tôn giáo của chúng ta thành «thuốc phiện» thật sự? Chúng ta quên rằng «điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và lòng chân thành» (Mt 23,23). Và có thể chúng ta miệng thì nói về Nước Trời, nhưng thật sự ta lại dẫn quần chúng đến một nơi khác vì những giáo huấn của ta khác hẳn với tinh thần Tin Mừng? Đức Giêsu nói: «Các người rảo khắp biển cả đất liền để rủ cho được một người theo đạo; nhưng khi họ theo rồi, các người lại làm cho họ đáng xuống hoả ngục gấp đôi các người» (Mt 23,15), liệu câu này có đúng với ta chăng? Vì nhiều khi cứ để họ ngoại đạo, họ lại quan tâm đến việc thể hiện tình yêu với tha nhân hơn khi họ vào đạo? Đến khi vào đạo, họ lại nghe lời ta chỉ biết quan tâm tới những tập tục đạo đức cổ truyền?

Trái lại, những người không có Kinh Thánh trong tay, không có giáo lý hay giáo huấn của Giáo Hội, không có bí tích, nhưng họ lại có tình yêu đích thực, tức có giấy thông hành để vào Nước Trời. Rất có thể họ lại vào Nước Trời trước chúng ta, là đối tượng ưu tiên của Nước Trời, là những kẻ lúc nào cũng nói về Nước Trời mà không hành động cho Nước Trời! Thánh Phaolô nói: «Người ta được Thiên Chúa coi là công chính, không phải vì nghe biết Lề Luật, nhưng là vì tuân giữ Lề Luật» (Rm 2,13), và «nếu người không được cắt bì mà giữ những điều Luật dạy, thì tuy họ không được cắt bì, Thiên Chúa chẳng coi họ như đã được cắt bì sao» (Rm 2,26). Bài Tin Mừng lễ Hiển Linh và nhiều dụ ngôn của Đức Giêsu cho chúng ta thấy viễn cảnh ấy! Và đó cũng là một lời cảnh tỉnh chúng ta!

Trở về mục lục >>

 

         HÊRÔĐÊ

 

Trần Duy Nhiên

Những ngày qua, các bạn đã nghe những lời êm ái, tôi sợ rằng các bạn ngủ quên đi mất. Tôi muốn đánh thức các bạn. Ít ra là những ai đồng quan điểm với tôi. Các bạn đã nghe nhiều người kể lại về những điều họ đón nhận được nơi Giêsu. Chưa nghe ai nói đến những điều phiền toái mà Giêsu đã mang đến. Một trong những người bị rắc rối từ khi Giêsu sinh ra, đó là tôi: Hêrôđê.

Người đạo sĩ lúc nãy nói rằng người ta dễ thức tỉnh vì quyền lợi hơn là vì niềm tin, ông tưởng rằng đó là một khám phá độc đáo. Thực ra, điều đó chẳng có gì lạ, rất bình thường nữa là khác. Tôi đã thức tỉnh vì quyền lợi, đúng như vậy, và tôi cũng chẳng cần phải giấu giếm chuyện đó.

Tôi là vua, nhưng không phải là một ông vua cha truyền con nối, mà nhờ sự phấn đấu của chính bản thân tôi. Các bạn còn nhớ chứ? Chính tôi là người đã cho trùng tu đền thờ Giêrusalem: Đấy! tôi là một nhân vật có uy tín trong giáo quyền, cũng như trong chính quyền.

Tóm lại, tôi thuộc loại người thực tế, biết mình muốn gì, biết mình cần đi đến đâu, và đủ thông minh để gạt bỏ mọi trở ngại trên đường mình đi.

Bây giờ tôi nói đến chuyện Giêsu sinh ra.

Có mấy đạo sĩ đến nói cho tôi biết rằng họ đã nhận ra dấu hiệu của vua dân Do thái mới sinh ra. Vị vua này là đấng Mêssia mà các tiên tri đã từng loan báo. Thú thật, tôi không tin nổi chuyện này. Vì lời loan báo của tiên tri Isaia đã có cách đây 700 năm rồi. Biết bao nhiêu thế hệ chờ đợi, mà có thấy gì đâu. Vậy thì không có lý gì ngày hôm nay đấng Messia lại xuất hiện.

Vả lại, thời buổi này đang là lúc ổn định. Chúng tôi bị người La Mã đô hộ thật đấy, nhưng thời gian khó khăn lúc đầu đã qua rồi, bây giờ thì người ta đã quen. Ngoài món thuế phải nộp thường xuyên cho Rôma, nói chung, đời sống dân chúng cũng thoải mái, mọi sinh hoạt đều bình thường. Trừ một vài nhóm Zélote ngông cuồng quá khích, còn lại số đông dân chúng chỉ muốn yên thân làm ăn sinh sống. Chẳng ai hoài công trông chờ một Đấng Giải Phóng làm chi nữa. Hiện trạng của xã hội thời tôi là thế đó. Với cương vị là vua, là người lãnh đạo, tôi muốn duy trì tình trạng ổn định đó.  Vậy mà mấy ông đạo sĩ ở đâu đến đã làm rối beng hết mọi sự. Dân chúng bắt đầu phao tin đồn nhảm. Cuộc sống yên hàn ở Giêrusalem bắt đầu rục rịch xáo trộn. Nhiều người đã ngồi mơ tưởng đến những chuyện viển vông, và tệ hơn nữa, có người đã dám nhỏ to về ngôi vua của tôi.

Trước tình hình đó, tôi phải làm một cái gì để dập tắt những mầm mống phản loạn. Các bạn còn nhớ chứ? Tôi đã ra lệnh giết các đứa bé từ hai tuổi trở xuống trong phạm vi Bêlem. Với cái chết của chúng, dư luận bất lợi cũng tiêu tan. Có thể sẽ có người cho tôi là tàn ác, khát máu, khi ra lệnh giết các trẻ em vô tội. Câu trả lời của tôi là thế này: “thà rằng một số đứa con nít hy sinh còn hơn là để sống sót những mầm móng sẽ gây rối loạn cho cả xã hội Do Thái sau này. Đạo đức và những tình cảm nhỏ nhặt đôi khi phải nhường bước cho sự tính toán khôn ngoan, nhất là trong cái nhìn của một người có trách nhiệm lãnh đạo như tôi.

Các bạn là những người bị Giêsu lôi cuốn, nên có thể sẽ cho rằng tôi sai lầm khi không đón nhận Giêsu, tôi mù quáng vì đã không chịu đến gặp Giêsu để được đổi mới cuộc đời...

Coi chừng các bạn đang nói chuyện lý thuyết đấy: Thử đặt vào địa vị của tôi, các bạn sẽ thấy. Đến với Giêsu, có nghĩa là rời bỏ cung điện của mình. Đi theo mấy tên đạo sĩ kia, có nghĩa là phải chấp nhận Giêsu là vua dân Do Thái, thế ngai vàng của tôi hiện giờ thì sao?

Rõ ràng là việc Giêsu sinh ra đã gây cho tôi nhiều rắc rối. Cũng như bao nhiêu lần gặp khó khăn khác, tôi phải suy nghĩ và chọn lựa: Một là Giêsu, hai là chính mình. Tôi đã quyết định dứt khoát: tôi đã chọn chính mình.

Các bạn thấy rằng cuối cùng tôi đã gạt câu chuyện giáng sinh sang một bên. Và nếu cần, tiếp tục thực hiện một vài biện pháp mạnh để dập tan những rắc rối có thể có.

Các bạn hãy tin tôi đi. Đừng bị lệ thuộc vào những tình cảm vụn vặt, hãy biết suy tính khôn ngoan trong cuộc sống, và các bạn sẽ thành công. Tôi đã sống như thế và tôi đã thành công.

LỜI ĐÚC KẾT

Hêrôđê đã sống như vậy và ông đã thành công. Quả thật ông đã ngồi vững trên ngai vàng cho đến chết. Nếu chúng ta hiểu sự thành công theo quan điểm của ông, thì Đức Giêsu đã thất bại, thất bại một cách chua cay: Ngài đã được gì? Tiền tài? Không! Danh vọng? Không! Chức tước? Không! Ngai vàng của Ngài là thập giá.

Vấn đề của Hêrôđê cũng là vấn đề của chúng ta: chọn lựa chính mình làm vua hay chọn Đức Giêsu làm vua. Ngài vẫn còn đó và gọi mời, nhưng lời kêu mời của Ngài cũng nhè nhẹ như tiếng hát của thiên thần đêm Noel, mơ hồ như ánh sao của đạo sĩ lúc ẩn lúc hiện: một lời kêu mời vừa đủ rõ để chúng ta đón nhận nhưng không trói buộc chúng ta nên chúng ta có thể gạt qua một bên, như Hêrôđê.

Dù sao, những câu chuyện được nghe đều mang âm hưởng của cuộc sống hôm nay. Ngày hôm nay, vẫn còn những con gái của chủ quán, ý thức rằng mình đang thiếu thốn một cái chưa thể đặt tên, rồi thức giấc trong đêm hướng lòng về hài Nhi để nhận lấy ánh sáng nụ cười. Ngày hôm nay, vẫn còn những “con lừa” đến bên cạnh Hài Nhi để phục vụ, rồi dần thông cảm yêu thương anh em mình, những người “có sừng” nhưng tốt bụng. Ngày hôm nay, vẫn còn những đạo thứ nhất, những người tin tưởng vào Đức Kitô, bước về với Ngài qua những tháng ngày đen tối, qua những tâm trạng trống rỗng nguôị lạnh, nhưng chắc chắn rằng Ngài sẽ trung thành chđón ở cuối đường. ngày hôm nay cũng vẫn còn không ít Hêrôdê, những người đã gạt câu chuyện Giáng Sinh của Giêsu qua một bên, nếu cần, thực hiện một vài biện pháp mạnh để đập tan những tiếng rên la nho nhỏ trong lòng, để tránh những phiền toái của cuộc đời.

Trong mùa Giáng-Sinh này, chúng ta sẽ là ai? Là con gái chủ quán? Là con lừa bên máng cỏ? Là người đạo sĩ thứ nhất hay chúng ta là Hêrôđê? Và tùy thuộc ở câu trả lời của một người mà niềm vui Giáng Sinh có đến với chúng ta hay không.

Đúng là niềm vui Giáng Sinh đã được ban cho, nhưng chúng ta cần phải đến với cõi lòng trống rỗng như người đạo sĩ thứ tư thì mới còn chỗ để cho niềm vui Giáng Sinh lấp đầy. Có như thế thì lời loan báo cho mục đồng mới trở nên lời loan báo cho chúng ta: “Này, ta đem đến cho các ngươi một niềm vui to tát: hôm nay Đức kitô đã sinh ra cho các ngươi.” (Lc 2, 10).

  Vâng, cho chúng ta! Cho mỗi một người trong chúng ta

Trở về mục lục >>

 

VỊ ĐẠO SĨ THỨ NĂM

Khổng Nhuận

Sau khi Vị Đạo Sĩ Thứ Tư tạm biệt Hài Nhi Giêsu, mãi tới năm 1985 Vị Đạo Sĩ Thứ Năm - sống vào cuối thiên niên kỷ thứ Hai - mới lên đường. Vào lúc này, ngôi sao Belem đã biến mất từ đời thủa nào rồi, nên Vị Đạo Sĩ Thứ Năm – bất cứ Kitô hữu nào cũng vốn là Vị Đạo Sĩ Thứ Năm  - chỉ còn có thể nhìn lên bầu trời Kinh Thánh để tìm xem ngôi sao nào sẽ hướng dẫn mình tới Chúa.

Sau đây là tâm tình chia sẻ về kinh nghiệm tìm kiếm ngôi sao của Vị Đạo Sĩ Thứ Năm:

Theo kinh nghiệm cá nhân, tôi phải tìm kiếm từng tia sáng một, có khi cả tuần mới bắt gặp một tia sáng, chứ không phải thấy ngay một lúc vì sao sáng chói - huy hoàng ánh quang. Đây là một quá trình cam go nhưng đầy thú vị với những khám phá bất ngờ trong niềm vui lâng lâng.

Tôi không tài nào viết được vỏn vẹn trong vài trang toàn bộ công cuộc khám phá những tia sáng và tập sống trong ánh sáng suốt gần 20 năm qua, vì thế tôi chỉ tóm gọn hết sức và dẫn chứng một vài kinh nghiệm chập chững trong năm đầu tiên qua các đề mục sau

1.      Mục đích

Nghe người ta nói quá nhiều về Thiên Chúa, thế tại sao tôi không cảm nhận được Ngài?!. Thế tôi quyết định lên đường tìm chân cụ th khám phá ra Thiên Chúa của lòng mình.

  2.  Phương pháp kiếm tìm.

* Đọc Kinh Thánh: Vào lúc đó, thất nghiệp dài dài, chẳng biết làm , tôi bèn mang Kinh Thánh ra đọc thật kỹ, ghi chú cẩn thận những câu nào hay theo