Số 32, Ngày 8-1-2005

 

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Bài Học Lễ Hiển Linh - Nguyễn Chính Kết

Hêrôđê - Trần Duy Nhiên

Vị Đạo Sĩ Thứ Năm - Khổng Nhuận

Chịu Thanh Tẩy Như Chúa Kitô - Aloysius Pieris S.J. -Trần Duy Nhiên dịch

Bài Học Từ Việc Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa - Nguyễn Chính Kết

Bất Ngờ Ập Tới - GM. Bùi Tuần

Tâm Tình Sau Cơn Sóng Thần - LTCT

Chia Sẻ Đầu Năm - HT

Nếu Ngày Mai Không Bao Giờ Đến... - Maranatha dịch

Nhiệm Tích Thánh Thể và ĐGH Gioan Phaolô II - Lm. Cao Phương Kỷ

Cầu Nguyện Với Thánh Lễ - Hoàng Quý

Tâm Tình Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

 

 

Trở về các số báo

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa Quý độc giả,

Khi viết những dòng này thì số người thiệt mạng trong cơn sóng thần ngày 26 tháng 12 tại Đông Nam Á đã vượt quá con số 150.000 người. Các cơ quan quốc tế dự kiến rằng số người sẽ chết vì hậu quả của cơn sóng này sẽ đưa con số nạn nhân lên đến 300.000 người. Nhìn lại những vùng bị tàn phá, hầu hết là những đất nước thuộc thế giới thứ ba, nghĩa là những nước nghèo, trong số đó có những nước thuộc diện nghèo nhất thế giới như Sri Lanka hay Somali. Trước những con số tử vong tăng nhanh như thủy triều, chúng ta không thể nào dửng dưng trước tiếng nói phản kháng xuất phát từ một email: I deeply struggled with those images of the victims. My entire belief system in God is badly damaged. My head is spinning with questions: Why God did what he did? Does He exist?

(Tôi chiến đấu cam go với hình ảnh các nạn nhân. Toàn bộ hệ thống niềm tin của tôi vào Thiên Chúa đã lung lay trầm trọng rồi. Đầu óc tôi quay cuồng với những câu hỏi: Vì sao Chúa lại làm thế? Người có hiện hữu không?)

Những câu hỏi này lặp lại lời chất vấn trường kỳ của nhân loại trước các tai họa không thể nào giải thích được, và Thiên Chúa thì hầu như vẫn lặng thinh. Trong cuốn Les Destinées, đoạn nói về Vườn Cây Dầu, Alfred de Vigny cũng đã viết về Chúa Giêsu như sau:

Il se courbe à genoux, le front contre la terre;

Puis regarde le ciel en appelant «Mon Père!»

Mais le ciel reste noir et Dieu ne répond pas.

Ngài quì xuống, sấp mình ngang mặt đất

Nhìn lên trời, gọi lớn tiếng: “Cha ôi!”

Nhưng trời đen và Chúa chẳng trả lời.

 

Vâng, Người không trả lời theo ngôn ngữ vừa tai cho mọi ngưòi, nhưng thực ra Người trả lời bằng một ngôn ngữ riêng biệt cho từng trái tim thao thức.

Sáu mươi năm về trước, xứ đạo Urakami là xứ đạo toàn tòng duy nhất ở Nhật Bản, tọa lạc ở ngoại ô thành phố Nagazaki. Nhờ số giáo dân ở đây mà người Công Giáo chiếm được 1,5 % dân số của Nhật. Thế rồi lúc 11 giờ trưa ngày 9 tháng 8 năm 1945, từ chiếc B29, thiếu tá Chuck Sweeney thả một quả bom nguyên tử 4 tấn rưỡi xuống thành phố ngay đỉnh nhà thờ Urakami. Số 72.000 nạn nhân của thành phố Nagazaki bao gồm toàn bộ giáo dân giáo xứ Urakami. Quả bom ác nghiệt này đã biến số giáo dân vốn ít ỏi ở Nhật Bản xuống chỉ còn 0,3%. Bác sĩ Phaolô Takashi Nagai, một giáo dân Urakami đã nhìn lại quả chuông méo mó của nhà thờ Urakami và tự hỏi vì sao? Trong sáu năm còn lại, với hình hài nhiễm phóng xạ, ông đã viết lên lời hy vọng trong cuốn ‘The Bells of Nagazaki” (Những quả chuông Trường Kỳ). Qua biến cố đau thương, giết chết toàn bộ gia đình mình, ông hiểu rằng cái chết của những con chiên bị tế sát ở Urakami đã là giá phải trả để đem đến hòa bình cho thế chiến II. Và từ ngày Chúa Kitô chịu tế sát như con chiên tinh tuyền đầu tiên, thì những “anawim” (kẻ bé mọn - người nghèo của YHWH - Thiên Chúa) luôn được chọn để chết thay cho người tội lỗi.

Những anawim ngày xưa ở Nagazaki, và những anawim ngày nay bị tế sát do con người hay do thiên nhiên vẫn là một tiếng nói của Tình Yêu vượt trí hiểu biết của con người. Hai ngàn năm trước, khi Chúa giáng trần cũng là lúc mà hàng loạt trẻ thơ bị giết tại Bêlem.

“Tình Yêu, ôi cao siêu là Tình Yêu Thiên Chúa”, lời hát hân hoan trong các thánh lễ còn được Kitô hữu vẫn trung thành hát lên trong những tháng ngày ảm đạm này không? Cơn sóng thần 26 tháng 12 năm 2004 càn quét bao nhiêu đất nước, thành phố, làng mạc và con người nhưng đồng thời cũng có thể càn quét niềm tin của Kitô hữu chúng ta. Nhưng Ðức Tin dạy chúng ta biết rằng cả trong những thử thách khó khăn nhất và gây đau khổ nhất - chẳng hạn như trong những thiên tai đã giáng xuống vùng Ðông Nam Châu Á trong những ngày qua - Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta: trong mầu nhiệm Giáng Sinh, Ngài đã đến để chia sẻ thân phận con người chúng ta. (ĐGH Gioan Phaolô II, Lễ Hiển Linh).

Một trùng hợp quan phòng: vẫn còn trong Mùa Giáng Sinh và để chuẩn bị bước vào Mùa Thường Niên, Giáo Hội mừng hai lễ trọng mang tính thách đố: Lễ Hiển Linh và Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa. Trong chiều hướng này, Maranatha_32 sẽ tìm đọc các biến cố cuộc đời qua hai biến cố trọng đại này. Sau cùng, trong năm Thánh Thể, Maranatha tiếp tục những tìm hiểu và suy tư về Mầu Nhiệm Thánh Thể để càng ngày càng bước sâu hơn vào trung tâm của mầu nhiệm Tình Yêu.

Chúa Đã Đến! Giữa mùa Giáng Sinh năm nay, thế giới như phủ màu tang. Vì thế, lời cầu nguyện của Kitô hữu chúng ta càng trở nên tha thiết hơn bao giờ: Khi những biến cố cuộc đời thử thách niềm tin, thì lạy Chúa, xin hãy đến thắp sáng lòng tin cho chúng con; Maranatha, Lạy Chúa, Xin Ngự Đến!

MARANATHA

Trở về mục lục >>

 LỄ HIỂN LINH

BÀI HỌC LỄ HIỂN LINH

Nguyễn Chính Kết

1.      Người ngoại cũng được vào Nước Trời

Ngày xưa, những người theo đạo Do Thái quan niệm chỉ có những người theo đạo Do Thái, nghĩa là có chịu phép cắt bì mới được cứu rỗi. Sách Công Vụ Tông đồ cho thấy quan niệm ấy của họ: «Có những người từ miền Giuđê đến dạy anh em rằng: “Nếu anh em không chịu phép cắt bì theo tục lệ Môsê, thì anh em không thể được cứu độ”» (Cv 15,1). Ngày nay, nhiều người Kitô hữu cũng có quan niệm tương tự như thế. Nhưng tinh thần của bài Tin Mừng lễ Hiển Linh mạc khải một sự thật hoàn toàn ngược lại quan niệm ấy.

Qua bài Tin Mừng, ta thấy chính những người Do Thái – mặc dù biết Đấng Cứu Thế sinh ra tại đâu – lại không thèm tìm kiếm Đức Giêsu mới sinh ra. Những người tìm kiếm Ngài và đã thấy Ngài, thờ lạy Ngài và dâng tặng vật cho Ngài lại là dân ngoại từ tận đâu đâu đến. Kinh Thánh còn cho ta biết người Do Thái chẳng những không tìm kiếm Đức Giêsu, mà còn bách hại Ngài nữa. Vì thế, Nước Trời vốn ưu tiên cho người Do Thái, nhưng vì họ từ chối bằng thái độ lãnh đạm, thậm chí chống đối, nên đã được đem đến cho dân ngoại: «Phaolô và Banaba mạnh dạn lên tiếng : “Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố Lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại» (Cv 13,46). Và lịch sử cho thấy dân ngoại vô số người đã vào Nước Trời – mà dấu chỉ là Giáo Hội – đang khi người Do Thái lại đứng ở ngoài. Thật đúng với câu Đức Giêsu nói: «Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Giacóp trong Nước Trời.  Nhưng con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng» (Mt 8,11-12). Đức Giêsu cũng đã dùng nhiều dụ ngôn để nói lên sự thật này: xem Mt 21,28-32 (Hai người con kẻ nói vâng người nói không), Mt 21,33-46 (Những thợ vườn nho sát nhân), Mt 22,1-14 (Tiệc cưới).

2.      Bài học cho người Kitô hữu.

a)    Có Kinh Thánh giáo trong tay… không đủ!

Điều trớ trêu trong bài Tin Mừng lễ Hiển Linh là người Do Thái – đặc biệt những tư tế và luật sĩ – có Kinh Thánh trong tay, nên họ biết Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra ở đâu, và lúc nào họ cũng tỏ ra mong chờ Đấng ấy đến. Thế nhưng những người gặp được đấng Cứu Thế – các đạo sĩ và mục đồng – lại là những kẻ chẳng biết gì về Kinh Thánh. Điều ấy chẳng làm cho chúng ta suy nghĩ sao?

Người Kitô hữu   có đủ mọi phương tiện để được cứu rỗi: Kinh Thánh (Cựu và Tân Ước), giáo lý, giáo huấn Giáo Hội (các văn kiện Tòa Thánh), các sách thần học, tu đức, luân lý, rồi các bí tích, các giờ phụng vụ… Nhưng hãy coi chừng kẻo lịch sử lại lập lại như cách đây 2000 năm. Vì bài Tin Mừng cho thấy: để gặp được Đấng Cứu Thế, có Kinh Thánh trong tay không đủ, mà còn phải nhạy bén để biết thời điềm, đồng thời thật sự lên đường tìm kiếm Ngài. Người Do Thái – cụ thể là các tư tế và luật sĩ – có nhiều điều kiện để gặp Ngài hơn các đạo sĩ (có Kinh Thánh, ở gần nơi Ngài sinh ra, được các đạo sĩ báo về ngôi sao của Ngài), nhưng đã không lên đường tìm kiếm Ngài. Họ muốn yên thân với những tập tục đạo đức của họ, với cách giữ đạo cổ truyền của họ, và họ nghĩ rằng Đấng Cứu Thế sẽ chủ động đến để gặp họ, đem sự giải phóng đến cho họ. Nhưng sự thật đã xảy ra không phải như vậy 

b)       Điều cốt yếu là tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa và tha nhân.

Bài Tin Mừng lễ Hiển Linh mời gọi người Kitô hữu xét lại xem: cách sống đạo của chúng ta có giúp chúng ta đến gặp Chúa hay không, nghĩa là có thể đem lại ơn cứu độ cho chúng ta hay không. Chúng ta đừng an tâm tưởng rằng cứ giữ những tập tục đạo đức truyền thống cho tốt là bảo đảm vào được Nước Trời. Như thế không đủ! Điều cốt yếu để vào được Nước Trời không chỉ là tin vào Đức Giêsu mà còn phải thể hiện niềm tin ấy bằng việc sống theo lời Ngài: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em»  (Ga 13: 34). Nghĩa là chúng ta phải chứng tỏ được tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa và tha nhân. Mà tình yêu đối với Thiên Chúa lại được thể hiện qua tình yêu đối với tha nhân: «Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối ; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy» (1Ga 4,20).

c) Tình yêu phải được thể hiện bằng hành động thật sự.

Giấy thông hành để vào Nước Trời chính là tình yêu, mà phải là tình yêu đích thực. Không ai thiếu tình yêu mà vào Nước Trời được, vì Nước Trời là Nước của Tình Yêu. Tình yêu đích thực tự bản chất là phải được thể hiện bằng hành động. Nếu «đức tin không có hành động thì là đức tin chết» (Gc 2,17), thì cũng vậy, tình yêu không có hành động là tình yêu giả hiệu. Với tình yêu giả hiệu, chúng ta không thể vào Nước Trời được.

Nhưng làm sao ta dám nói là ta có tình yêu đích thực đối với anh em mình khi họ lâm nạn mà ta lại khoanh tay đứng nhìn? Làm sao tình yêu của ta là đích thực được khi ta thấy rõ ràng anh em mình đang chịu bất công mà ta lại không chịu lên tiếng hay can thiệp, nhất là khi tiếng nói của ta có thể rất hữu hiệu? Nếu ta thấy anh em mình chịu bất công tỏ tường mà vì muốn yên thân ta lại làm chứng với mọi người rằng đó không phải là bất công, thì tình yêu của ta là chân thực sao được? Nếu cách hành động của ta là như thế, thì dù ta có tuân thủ giữ những tập tục truyền thống trong tôn giáo một cách hoàn hảo, không chê vào đâu được, chúng ta vẫn luôn luôn ở ngoài Nước Trời.

d) Cần cảnh giác với thứ đạo đức hương nguyện, thiếu việc làm.

Tệ hơn nữa, là khi chính chúng ta đã không chịu thể hiện tình yêu, mà lại cổ võ một thứ đạo đức không việc làm, luôn luôn đề cao việc đọc kinh cầu nguyện, dâng thánh lễ… mà không hề nhấn mạnh bổn phận phải dấn thân cho anh em, phải quan tâm mưu cầu hạnh phúc cho những người chung quanh, biến cải xã hội nên công bằng và tốt đẹp hơn, thì phải chăng chúng ta đang tiếp tay cho kẻ ác ru ngủ quần chúng, làm tê liệt sức đấu tranh cho công bằng xã hội của họ? Phải chăng chúng ta đang biến tôn giáo của chúng ta thành «thuốc phiện» thật sự? Chúng ta quên rằng «điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và lòng chân thành» (Mt 23,23). Và có thể chúng ta miệng thì nói về Nước Trời, nhưng thật sự ta lại dẫn quần chúng đến một nơi khác vì những giáo huấn của ta khác hẳn với tinh thần Tin Mừng? Đức Giêsu nói: «Các người rảo khắp biển cả đất liền để rủ cho được một người theo đạo; nhưng khi họ theo rồi, các người lại làm cho họ đáng xuống hoả ngục gấp đôi các người» (Mt 23,15), liệu câu này có đúng với ta chăng? Vì nhiều khi cứ để họ ngoại đạo, họ lại quan tâm đến việc thể hiện tình yêu với tha nhân hơn khi họ vào đạo? Đến khi vào đạo, họ lại nghe lời ta chỉ biết quan tâm tới những tập tục đạo đức cổ truyền?

Trái lại, những người không có Kinh Thánh trong tay, không có giáo lý hay giáo huấn của Giáo Hội, không có bí tích, nhưng họ lại có tình yêu đích thực, tức có giấy thông hành để vào Nước Trời. Rất có thể họ lại vào Nước Trời trước chúng ta, là đối tượng ưu tiên của Nước Trời, là những kẻ lúc nào cũng nói về Nước Trời mà không hành động cho Nước Trời! Thánh Phaolô nói: «Người ta được Thiên Chúa coi là công chính, không phải vì nghe biết Lề Luật, nhưng là vì tuân giữ Lề Luật» (Rm 2,13), và «nếu người không được cắt bì mà giữ những điều Luật dạy, thì tuy họ không được cắt bì, Thiên Chúa chẳng coi họ như đã được cắt bì sao» (Rm 2,26). Bài Tin Mừng lễ Hiển Linh và nhiều dụ ngôn của Đức Giêsu cho chúng ta thấy viễn cảnh ấy! Và đó cũng là một lời cảnh tỉnh chúng ta!

Trở về mục lục >>

 

         HÊRÔĐÊ

 

Trần Duy Nhiên

Những ngày qua, các bạn đã nghe những lời êm ái, tôi sợ rằng các bạn ngủ quên đi mất. Tôi muốn đánh thức các bạn. Ít ra là những ai đồng quan điểm với tôi. Các bạn đã nghe nhiều người kể lại về những điều họ đón nhận được nơi Giêsu. Chưa nghe ai nói đến những điều phiền toái mà Giêsu đã mang đến. Một trong những người bị rắc rối từ khi Giêsu sinh ra, đó là tôi: Hêrôđê.

Người đạo sĩ lúc nãy nói rằng người ta dễ thức tỉnh vì quyền lợi hơn là vì niềm tin, ông tưởng rằng đó là một khám phá độc đáo. Thực ra, điều đó chẳng có gì lạ, rất bình thường nữa là khác. Tôi đã thức tỉnh vì quyền lợi, đúng như vậy, và tôi cũng chẳng cần phải giấu giếm chuyện đó.

Tôi là vua, nhưng không phải là một ông vua cha truyền con nối, mà nhờ sự phấn đấu của chính bản thân tôi. Các bạn còn nhớ chứ? Chính tôi là người đã cho trùng tu đền thờ Giêrusalem: Đấy! tôi là một nhân vật có uy tín trong giáo quyền, cũng như trong chính quyền.

Tóm lại, tôi thuộc loại người thực tế, biết mình muốn gì, biết mình cần đi đến đâu, và đủ thông minh để gạt bỏ mọi trở ngại trên đường mình đi.

Bây giờ tôi nói đến chuyện Giêsu sinh ra.

Có mấy đạo sĩ đến nói cho tôi biết rằng họ đã nhận ra dấu hiệu của vua dân Do thái mới sinh ra. Vị vua này là đấng Mêssia mà các tiên tri đã từng loan báo. Thú thật, tôi không tin nổi chuyện này. Vì lời loan báo của tiên tri Isaia đã có cách đây 700 năm rồi. Biết bao nhiêu thế hệ chờ đợi, mà có thấy gì đâu. Vậy thì không có lý gì ngày hôm nay đấng Messia lại xuất hiện.

Vả lại, thời buổi này đang là lúc ổn định. Chúng tôi bị người La Mã đô hộ thật đấy, nhưng thời gian khó khăn lúc đầu đã qua rồi, bây giờ thì người ta đã quen. Ngoài món thuế phải nộp thường xuyên cho Rôma, nói chung, đời sống dân chúng cũng thoải mái, mọi sinh hoạt đều bình thường. Trừ một vài nhóm Zélote ngông cuồng quá khích, còn lại số đông dân chúng chỉ muốn yên thân làm ăn sinh sống. Chẳng ai hoài công trông chờ một Đấng Giải Phóng làm chi nữa. Hiện trạng của xã hội thời tôi là thế đó. Với cương vị là vua, là người lãnh đạo, tôi muốn duy trì tình trạng ổn định đó.  Vậy mà mấy ông đạo sĩ ở đâu đến đã làm rối beng hết mọi sự. Dân chúng bắt đầu phao tin đồn nhảm. Cuộc sống yên hàn ở Giêrusalem bắt đầu rục rịch xáo trộn. Nhiều người đã ngồi mơ tưởng đến những chuyện viển vông, và tệ hơn nữa, có người đã dám nhỏ to về ngôi vua của tôi.

Trước tình hình đó, tôi phải làm một cái gì để dập tắt những mầm mống phản loạn. Các bạn còn nhớ chứ? Tôi đã ra lệnh giết các đứa bé từ hai tuổi trở xuống trong phạm vi Bêlem. Với cái chết của chúng, dư luận bất lợi cũng tiêu tan. Có thể sẽ có người cho tôi là tàn ác, khát máu, khi ra lệnh giết các trẻ em vô tội. Câu trả lời của tôi là thế này: “thà rằng một số đứa con nít hy sinh còn hơn là để sống sót những mầm móng sẽ gây rối loạn cho cả xã hội Do Thái sau này. Đạo đức và những tình cảm nhỏ nhặt đôi khi phải nhường bước cho sự tính toán khôn ngoan, nhất là trong cái nhìn của một người có trách nhiệm lãnh đạo như tôi.

Các bạn là những người bị Giêsu lôi cuốn, nên có thể sẽ cho rằng tôi sai lầm khi không đón nhận Giêsu, tôi mù quáng vì đã không chịu đến gặp Giêsu để được đổi mới cuộc đời...

Coi chừng các bạn đang nói chuyện lý thuyết đấy: Thử đặt vào địa vị của tôi, các bạn sẽ thấy. Đến với Giêsu, có nghĩa là rời bỏ cung điện của mình. Đi theo mấy tên đạo sĩ kia, có nghĩa là phải chấp nhận Giêsu là vua dân Do Thái, thế ngai vàng của tôi hiện giờ thì sao?

Rõ ràng là việc Giêsu sinh ra đã gây cho tôi nhiều rắc rối. Cũng như bao nhiêu lần gặp khó khăn khác, tôi phải suy nghĩ và chọn lựa: Một là Giêsu, hai là chính mình. Tôi đã quyết định dứt khoát: tôi đã chọn chính mình.

Các bạn thấy rằng cuối cùng tôi đã gạt câu chuyện giáng sinh sang một bên. Và nếu cần, tiếp tục thực hiện một vài biện pháp mạnh để dập tan những rắc rối có thể có.

Các bạn hãy tin tôi đi. Đừng bị lệ thuộc vào những tình cảm vụn vặt, hãy biết suy tính khôn ngoan trong cuộc sống, và các bạn sẽ thành công. Tôi đã sống như thế và tôi đã thành công.

LỜI ĐÚC KẾT

Hêrôđê đã sống như vậy và ông đã thành công. Quả thật ông đã ngồi vững trên ngai vàng cho đến chết. Nếu chúng ta hiểu sự thành công theo quan điểm của ông, thì Đức Giêsu đã thất bại, thất bại một cách chua cay: Ngài đã được gì? Tiền tài? Không! Danh vọng? Không! Chức tước? Không! Ngai vàng của Ngài là thập giá.

Vấn đề của Hêrôđê cũng là vấn đề của chúng ta: chọn lựa chính mình làm vua hay chọn Đức Giêsu làm vua. Ngài vẫn còn đó và gọi mời, nhưng lời kêu mời của Ngài cũng nhè nhẹ như tiếng hát của thiên thần đêm Noel, mơ hồ như ánh sao của đạo sĩ lúc ẩn lúc hiện: một lời kêu mời vừa đủ rõ để chúng ta đón nhận nhưng không trói buộc chúng ta nên chúng ta có thể gạt qua một bên, như Hêrôđê.

Dù sao, những câu chuyện được nghe đều mang âm hưởng của cuộc sống hôm nay. Ngày hôm nay, vẫn còn những con gái của chủ quán, ý thức rằng mình đang thiếu thốn một cái chưa thể đặt tên, rồi thức giấc trong đêm hướng lòng về hài Nhi để nhận lấy ánh sáng nụ cười. Ngày hôm nay, vẫn còn những “con lừa” đến bên cạnh Hài Nhi để phục vụ, rồi dần thông cảm yêu thương anh em mình, những người “có sừng” nhưng tốt bụng. Ngày hôm nay, vẫn còn những đạo thứ nhất, những người tin tưởng vào Đức Kitô, bước về với Ngài qua những tháng ngày đen tối, qua những tâm trạng trống rỗng nguôị lạnh, nhưng chắc chắn rằng Ngài sẽ trung thành chđón ở cuối đường. ngày hôm nay cũng vẫn còn không ít Hêrôdê, những người đã gạt câu chuyện Giáng Sinh của Giêsu qua một bên, nếu cần, thực hiện một vài biện pháp mạnh để đập tan những tiếng rên la nho nhỏ trong lòng, để tránh những phiền toái của cuộc đời.

Trong mùa Giáng-Sinh này, chúng ta sẽ là ai? Là con gái chủ quán? Là con lừa bên máng cỏ? Là người đạo sĩ thứ nhất hay chúng ta là Hêrôđê? Và tùy thuộc ở câu trả lời của một người mà niềm vui Giáng Sinh có đến với chúng ta hay không.

Đúng là niềm vui Giáng Sinh đã được ban cho, nhưng chúng ta cần phải đến với cõi lòng trống rỗng như người đạo sĩ thứ tư thì mới còn chỗ để cho niềm vui Giáng Sinh lấp đầy. Có như thế thì lời loan báo cho mục đồng mới trở nên lời loan báo cho chúng ta: “Này, ta đem đến cho các ngươi một niềm vui to tát: hôm nay Đức kitô đã sinh ra cho các ngươi.” (Lc 2, 10).

  Vâng, cho chúng ta! Cho mỗi một người trong chúng ta

Trở về mục lục >>

 

VỊ ĐẠO SĨ THỨ NĂM

Khổng Nhuận

Sau khi Vị Đạo Sĩ Thứ Tư tạm biệt Hài Nhi Giêsu, mãi tới năm 1985 Vị Đạo Sĩ Thứ Năm - sống vào cuối thiên niên kỷ thứ Hai - mới lên đường. Vào lúc này, ngôi sao Belem đã biến mất từ đời thủa nào rồi, nên Vị Đạo Sĩ Thứ Năm – bất cứ Kitô hữu nào cũng vốn là Vị Đạo Sĩ Thứ Năm  - chỉ còn có thể nhìn lên bầu trời Kinh Thánh để tìm xem ngôi sao nào sẽ hướng dẫn mình tới Chúa.

Sau đây là tâm tình chia sẻ về kinh nghiệm tìm kiếm ngôi sao của Vị Đạo Sĩ Thứ Năm:

Theo kinh nghiệm cá nhân, tôi phải tìm kiếm từng tia sáng một, có khi cả tuần mới bắt gặp một tia sáng, chứ không phải thấy ngay một lúc vì sao sáng chói - huy hoàng ánh quang. Đây là một quá trình cam go nhưng đầy thú vị với những khám phá bất ngờ trong niềm vui lâng lâng.

Tôi không tài nào viết được vỏn vẹn trong vài trang toàn bộ công cuộc khám phá những tia sáng và tập sống trong ánh sáng suốt gần 20 năm qua, vì thế tôi chỉ tóm gọn hết sức và dẫn chứng một vài kinh nghiệm chập chững trong năm đầu tiên qua các đề mục sau

1.      Mục đích

Nghe người ta nói quá nhiều về Thiên Chúa, thế tại sao tôi không cảm nhận được Ngài?!. Thế tôi quyết định lên đường tìm chân cụ th khám phá ra Thiên Chúa của lòng mình.

  2.  Phương pháp kiếm tìm.

* Đọc Kinh Thánh: Vào lúc đó, thất nghiệp dài dài, chẳng biết làm , tôi bèn mang Kinh Thánh ra đọc thật kỹ, ghi chú cẩn thận những câu nào hay theo từng chủ đề như: Chúa Cha, Đức Giêsu, Thần Khí, Tình yêu, Sống đời đời, Ánh sáng,  Tự do…. đầy một cuốn 100 trang.  Lần đầu tiên trong đời, tôi đọc nghiêm chỉnh từ đầu đến cuối cuốn Tân Ước nhỏ xíu của dịch giả Nguyễn Thế Thuấn.

Sau đó tôi đọc lại lần thứ hai, lần này tôi bỏ bớt những câu không còn hay lắm, mà chỉ ghi lại những câu mà mình thích thôi - chiếm khoảng 70 trang

Lần thứ ba, tôi chép lại trong cuốn sổ tay và chỉ ghi lại những câu tâm đắc nhất chỉ còn khoảng 50 trang. mỗi ngày mang ra đọc đi đọc lại cho nó thấm vào đầu của mình. đây cũng chính là mục đích của việc đọc Kinh Thánh.

* Suy niệm

Nói là suy niệm, nhưng tôi chỉ có niệm chứ không có suy. Tôi ngồi nghiêm chỉnh, và niệm một vài câu do tôi tự chế ra như: Chúa sống trong tôi, tôi sống trong Chúa. Chúa thấm nhập tôi, tôi thấm nhập Chúa. Tôi cứ niệm đi niệm lại một cách rất từ từ chậm rãi để nghe được sự thấm nhập của Chúa vào lòng mình – và mình vào lòng Chúa. Lúc đầu, chẳng cảm thấy gì, nhưng tháng này qua tháng khác, Chúa dường như ngủ quên trong tôi từ từ thức dậy – hay nói cho đúng hơn - bấy lâu nay tôi ngủ mê mệt từ từ tỉnh dậy để nhận ra Chúa vẫn đang sống mãnh liệt trong tôi.

Sau này, khi tôi chia sẻ với bà xã của tôi. Cô nàng cũng thử, nhưng thấy nó kỳ quá, giống như của ai đó, chứ không phải của mình. Thế là cô nàng chế ra một câu khác hợp với mình hơn.

Mục đích của việc niệm này để nó thấm vào tâm của mình. Nhờ đó tôi dần dần cảm nghiệm Chúa thực sự hiện diện và cùng sống với mình.

* Chia sẻ

May mắn thay, ngay trong thời gian đó, một anh bạn cũng tự nhiên muốn lên đường tìm kiếm chân lý. Thế là, trên dường về nhà, anh ấy đều ghé qua chỗ tôi ngồi bán bánh ngọt. Hai anh em trao đổi với nhau khoảng 2 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Chúng tôi chia sẻ cho nhau những khám phá mới, đặt câu hỏi, thậm chí còn như đưa những vấn nạn hóc búa để cả hai phải suy nghĩ suốt cả tuần:

Sứ mệnh chính yếu nhất của Đức Giêsu khi xuống trần gian là gì?

Sứ mệnh chính yếu nhất của bạn là gì?

Tại sao bạn sinh ra? Linh hồn của bạn ra sao? Nó xuất hiện lúc nào? Bản tánh của nó ra sao?

Hãy nhìn tới 2 quán càfê cóc ở đằng kia. Uống ở quán nào là đúng theo ý Chúa?

Và hàng trăm câu hỏi khác….. dù ngay trong thời gian đó, chúng tôi chưa tìm ra câu trả lời, nhưng đó chính là những động lực khiến chúng tôi phải động não mà suy tư. Nhờ thế mà chúng tôi tiến rất nhanh. Chỉ trong khoảng 6,7 tháng, chúng tôi đã tìm kiếm được khá nhiều tia sáng gom góp thành một vì sao nho nhỏ đủ để chúng tôi khám phá ra khuôn mặt đích thực của Ngài.

  3.  Kết quả:

Đây là những tia sáng mà tôi nhớ nhất:

* Khám phá đầu tiên khiến tôi sướng đến ngất ngây, đó là tôi nhận ra Chúa yêu thương tôi từ muôn thủa - chứ không phải mới thương từ khi tôi có trí khôn.

Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ,để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện,nhờ tình thương của Người. (Ep 1:4)

* Khám phá tuyệt vời thứ hai giúp tôi thoát khỏi gánh nặng ngàn cân đè nặng tâm trí tôi biết bao năm qua, đó là tôi không còn bị ám ảnh trước sự khủng khiếp của sự chết và phần phạt, Thế là gông cuồng xiềng xích đã hoàn toàn bị chặt gẫy khi tôi tin rằng : Vậy giờ đây, những ai ở trong Đức Ki-tô Giê-su, thì không còn bị lên án nữa.2 Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Ki-tô Giê-su, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết (Rm 8:1-2)

*Khám phá quyết định thứ ba: Không phải đợi tới khi xuôi tay lìa đời, mà là Ngay từ lúc này tôi đã thoát khỏi luật của sự tôi và sự chết để bắt đầu một cuộc sống mới viên mãn trong Chúa: Thật, tôi bảo thật các ông: giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa; ai nghe thì sẽ được sống (Ga 5:25).

* Từ đó, tôi khám phá ra Bản đồ sống đạo đơn giản như sau: Từ muôn thủa Chúa đã yêu tôi. một ngày đẹp trời nào đó, Ngài sinh tôi từ trái tim yêu thương của Ngài. Suốt cuộc sống trần thế này, Ngài yêu thương ấp ủ tôi đêm ngày. Cuối cùng, cũng một ngày đẹp trời nào đó, ngài gọi tôi trở về ngay nơi mà tôi xuất phát – đó chính là con tim thổn thức yêu thương của Ngài.

Chính khám phá này mở ra cho tôi một đại lộ sống đạo thêng thang thoải mái. Biết được nơi mình xuất phát và nơi mình trở về thì không còn gì phải lo lắng nữa. Lúc đó tôi mới thấm được lời Đức Giêsu nói: Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.4 Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi."(Ga 14:3-4) "Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em"(Ga 20:17) Đức Giêsu lên cùng Cha thì tôi cũng lên cùng Cha chứ không lẽ tôi lại đi lang thang ở một góc trời tăm tối nào?!!

* Quan niệm về thế gian:  Trước kia, tôi nhìn thế gian này là thực - rất thực - và tôi bị nó quay như dế. Tôi buồn vui, sướng khổ theo  nó như cách bèo vô định trên dòng sông cuộc đời. Thế rồi một buổi sáng tháng 7 . 1985, đang đi trên đường , tôi thấy người ta, xe cộ đi lại, nhưng hôm ấy tôi bỗng thấy rất lạ - thực đó mà dường như không thực. Từ kinh nghiệm tuyệt vời này, cuộc sống tôi bắt đầu thay đổi: tôi sống trong thế gian nhưng  tôi không thuộc về thế gian này.(Ga 8:23) Thế là từ đó tôi hân hoan sống giữa chốn hồng trần. Dù khó khăn vẫn giang mắc khắp nơi, nhưng tôi không còn cảm thấy nặng nề, khổ sở như trước kia nữa, mặc dù lúc đầu cũng cảm thấy khó chịu một chút.

* Nhờ những tia sáng khám phá trên, tôi dần dần xác tín Chúa thực sự yêu thương tôi, hiện diện và sống trong tôi. Từ đó, cuộc sống đạo của tôi cực kỳ thoải mái, bình an và hạnh phúc - một niềm hạnh phúc êm đềm nhưng sâu thẳm vững bền: “để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn”.(Ga 15:11)

Từ đó tới nay, thấm thoát đã gần 20 năm. Ánh sao - mà Đạo Sĩ Thứ Năm phát hiện – cho tới nay, ngày càng rực sáng. Có một điều rất lạ: Vị Đạo Sĩ Thứ Năm bỗng thấy mình trở thành ánh sao lúc nào không hay. Tới phiên mình Vị Đạo Sĩ Thứ Năm bắt đầu làm nhiệm vụ khích lệ những Vị Đạo Sĩ Thứ Năm  khác hăng hái lên đường tìm kiếm Chúa để cuối cùng cũng trở thành ánh sao dẫn đường. Không chỉ là những ánh sao lẻ loi cô độc mà kết thành một giải ngân hà sáng chói rực rỡ ánh hào quang cho hàng triệu Vị Đạo Sĩ Thứ Năm khác nữa

Trở về mục lục >>

 

 PHÉP RỬA CỦA CHÚA GIÊSU

CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN CUỘC CÁCH MẠNG GIÁO HỘI:

CHỊU THANH TẨY NHƯ CHÚA KITÔ

Aloysius Pieris S.J.

Trần Duy Nhiên dịch

Schillebeekx lưu ý rằng hành động ngôn sứ đầu tiên của Đức Giê-su là nhận phép rửa từ tay Gioan. Hành động này đã gây bối rối lâu dài cho thế hệ Kitô hữu đầu tiên: họ bối rối vì Đức Giê-su, Đấng mà những kẻ theo Người tôn thờ là Chúa và là Đấng Kitô, lại nghĩ rằng mình nên khởi đầu sứ mạng Messia bằng cách trở nên người môn đệ của Gioan Tẩy Giả. Hệ quả Giáo hội học của biến cố này chưa được đánh giá đúng mức trong Giáo hội hiện nay. Do đó tôi mong rút ra ít nhất là bốn nguyên tắc hướng dẫn sứ mạng của Giáo hội địa phương ở Á châu.

Thứ nhất, tôi nhận thấy rằng Đức Giê-su đứng trước nhiều dòng tôn giáo cổ truyền khi Người đáp lại tiếng gọi ngôn sứ nơi Người. Không phải loại tôn giáo nào cũng lôi cuốn Người đâu. Qua phản ứng của Người, ta kết luận rằng ý thức hệ hẹp hòi của phong trào Zêlốt không hấp dẫn Người. Đường lối gò bó khép kín của phái Essen cũng không mảy may tác động trên Người. Người phê phán không úp mở nếp sống tự mãn của những người biệt phái. Nhưng mâu thuẫn giữa Người và phái Sađuxê chứng tỏ rằng Người khó mà đồng tình với lối hành đạo mang tính chất thượng lưu của một ‘giai cấp nhàn rỗi.’Trên hết, Đức Giê-su khám phá linh đạo chân chính và điểm khởi hành thích hợp cho sứ mang ngôn sứ của mình nơi truyền thống (sát với Thứ luật), là đường lối khổ hạnh ngôn sứ mà Gioan Tẩy giả là người đại diện. Qua việc chọn lựa hình thức tôn giáo mang mầm giải phóng này và loại trừ những hình thức khác mang tính nô dịch. Người chọn một hình thức cởi mở mà những Kitô hữu chúng ta ở châu Á luôn được mời gọi thực thi, bởi vì chúng ta luôn phải đối diện với dòng ý thức hệ và tôn giáo đa dạng.

 Thứ hai, qua biến cố này ta cảm thấy ngay tác động hỗ tương giữa linh đạo của bản thân Gioan và linh đạo của những người theo ông. Gioan Tẩy giả đại diện cho linh đạo ‘xuất thế’ một cách cực đoan. Ta biết rằng ông sống ‘với thiên nhiên’ hơn là ‘trong xã hội’.  Thức ăn và y phục của ông – những thứ ông nhặt nơi hoang địa – là biểu tượng cho tinh thần khổ hạnh đóng kín. Nhưng Tẩy giả đã không áp đặt điều đó lên người chịu thanh tẩy. Những người này là những người thấp cổ bé miệng, những ‘người nghèo’ ở ngoài lề xã hội, những người bị lăng nhục nhưng lại là những kẻ có tội biết ăn năn, những anawim (kẻ bé mọn). Lời rao giảng và nếp sống của Gioan đánh động họ nên họ sẵn sàng đón nhận Tin mừng về sự giải phóng sắp đến: như thế, người nghèo cũng có ‘một linh đạo’ của riêng mình.

Do đó, chính tại sông Giođan này là nơi hội tụ của hai dòng linh đạo, khi Đức Giê-su đứng trước Tẩy giả và những người được thanh tẩy. Chính bản thân Đức Giê-su cũng sắp sửa đi vào kinh nghiệm hoang địa của lối sống khổ hạnh khép kín, và Người đã đến với Gioan, không phải để thanh tẩy người khác, mà để được thanh tẩy:  như thế, Người đã tự đồng hoá với ‘người nghèo theo bình diện tôn giáo’, những người sống ngoài lề xã hội.

Hệ quả Giáo hội học của biến cố ‘Kitô học’ này thật là rõ ràng: các Giáo hội địa phương ở châu Á có sứ mạng trở nên giao điểm giữa linh đạo siêu vũ trụ của các tôn giáo tu hành và tôn giáo vũ trụ của quần chúng nông dân để trở nên nơi hội tụ của các lực lượng giải phóng của cả hai truyền thống, đồng thời loại trừ tinh thần vua chúa của giai cấp nhàn rỗi của các tôn giáo siêu vũ trụ và tinh thần dị đoan trong tôn giáo vũ trụ. Đây là phương pháp thi hành sứ mạng Tin mừng mà ta học được nơi Đức Kitô.

Nguyên tắc thứ ba, tôi mong đưa ra đây ý kiến giải thích vấn đề Giáo hội mất uy tín là nguyên nhân của sự khủng hoảng trong việc loan báo Tin mừng hiện nay.

Hành động ngôn sứ đầu tiên của Đức Giê-su – cũng như mọi lời nói việc làm ngôn sứ khác – là một hành động ‘tái xác định tính trung thực’ của mình. Ngôn sứ nói và hành động nhân danh Thiên Chúa và nhờ uy quyền của Người. Nếu cần phải có một biến cố chứng minh uy quyền đó, thì ngôn sứ ấy sẽ không là ngôn sứ.  Đức Giê-su đã khiêm nhu đặt mình dưới phép rửa của Gioan, hành động đó làm cho các Kitô hữu tiên khởi bối rối nhưng đồng thời cũng cho họ thấy uy tín của Người trước mặt mọi người, uy tín để rao giảng một triều đại giải phóng của Thiên Chúa sắp khai hoa trên những kẻ bé mọn khiêm nhường (anawim). Chính nhờ hành động khiêm nhường này mà Thiên Chúa xác nhận trước mặt người nghèo rằng Người đáng tin tưởng : ‘hãy nghe lời Người’, giây phút này là giây phút ngôn sứ vì đó là lúc mà Người vừa ý thức về sứ mạng Messia của mình lẫn sự bảo chứng về tính khả tín của sứ mạng Người trước mặt quần chúng. Ước gì Giáo hội địa phương ở châu Á cũng khiêm nhường như vị hôn phu và Chúa của mình. Ước gì Kitô hữu chúng ta tìm cách được thanh tẩy hơn là đi thanh tẩy kẻ khác.

Còn ‘lý thuyết về sự hoàn thành viên mãn’ của các tổ phụ trong Giáo hội, cái lý thuyết giờ đây được Vaticanô II làm sống lại (mà tôi đã nhiều lần phê phán) là xếp các tôn giáo khác vào loại linh đạo ‘tiền Kitô giáo’ và cần phải được ‘hoàn thành viên mãn’ qua nỗ lực truyền giáo của Giáo hội. Dựa theo thuyết này, một vài chuyên gia truyền giáo (phương Tây) nói đến sự cần thiềt phải ‘thanh tẩy’ những tôn giáo và văn hoá ‘tiền Kitô giáo’ hơn là nói đến mệnh lệnh ngôn sứ buộc ta phải trầm mình trong dòng nước thanh tẩy của các tôn giáo châu Á, là những tôn giáo đã được khai sinh trước Kitô giáo. Thực ra, Giáo hội địa phương ở châu Á cần được ‘nhập môn’ vào các truyền thống tiền Kitô giáo dưới sự hướng dẫn của các guru (thầy). Nếu không, Giáo hội sẽ tiếp tục là một thế giới phẩm trật đầy tràn ‘uy lực’ nhưng thiếu hẳn ‘uy tín’. Chỉ khi nào Giáo hội trầm mình trong dòng sông Giođan của tinh thần tôn giáo châu Á thì lúc đó mới được nhìn nhận là một tiếng nói đáng được mọi người lắng nghe: ‘hãy nghe lời Người’.

Khủng hoảng truyền giáo chỉ được giải quyết khi nào Giáo hội chịu thanh tẩy trong truyền thống giải phóng lưỡng diện của các bậc chân tu và của nông dân châu Á. Giống như Thầy mình, Giáo hội hãy ngồi dưới chân các bậc guru châu Á, không phải với tư cách là một ecclesia docens (Giáo hội dạy dỗ) mà là một ecclesia discens (Giáo hội học hỏi), mất hút giữa những ‘người nghèo theo bình diện tôn giáo’ ở châu Á, giữa những anawim đi đến với các guru để tìm kiếm vương quốc thánh thiện, công chính và đấy chỉ là những khởi xướng biểu trưng. Chỉ có cách là Giáo hội định chế phải tự phóng mình xuống dòng sông: nếu không, Giáo hội khó có hy vọng trở thành một lời mạc khải mà người châu Á đọc ra như dấu chỉ cứu độ khả tín.

Nguyên tắc thứ tư, sẽ là một giải đáp cho ‘vấn đề chân tính’ mà nguyên tắc thứ ba đã gợi lên. Cả phương Tây lẫn các Giáo hội địa phương (thuộc phương Tây) ở châu Á sợ rằng điều nêu trên sẽ là một đe doạ trầm trọng cho chân tính của mình, của người Kitô hữu trong cộng đoàn tín hữu. Nếu nhìn kỹ, ta sẽ thấy rằng lý do của sự sợ hãi đó là phải chọn một quan điểm chính đỉnh khi thấy rõ quá khứ (với những sai lầm) mà chưa thấy tương lai (một Giáo hội đậm chất Á châu) phải được xây dựng ra sao.

Trước kia, theo mẫu của quá khứ, chất Tây phương được kết liền với chất Kitô giáo. Vì thế trong Giáo hội tương lai người ta muốn rằng tính chất Á Đông phải được gắn liền với ‘chất Kitô giáo’. Thực chất Kitô giáo chưa bao giờ tự nó là ‘trung lập’ có thể lọc bỏ những yếu tố Tây phương và thêm vào các yếu tố Á châu. Tính chất đó phải xuất từ chính bản chất của Giáo hội địa phương, nghĩa là cùng một lúc vừa mang tính chất Giáo hội vừa mang tính chất điạ phương.

Về điểm này, cũng như mọi điểm khác, Giáo hội cần trở về nguồn: trở về với Đức Giê-su Kitô, Đấng đã dạy chúng ta nguyên tắc đánh mất bản thân để tìm lại bản thân. Điển hình rõ nhất là việc Người chịu thanh tẩy trong sống Giođan. Đấy chính là nguyên tắc thứ tư để thi hành sứ mạng, Người đã đánh mất chân tính của mình giữa những kẻ bé mọn nhưng là kẻ tội lỗi biết ăn năn và giữa những ‘người nghèo trên bình diện tôn giáo’ nơi đất nước Người. Vì thế nà Người đã phục hồi cho chính mình và cho những người quanh chân tính đó: Người là con Thiên Chúa đến giải phóng chúng ta khỏi tội lỗi. Người là ‘Con rất yêu dấu’ ta cần phải lắng nghe, Người là Messia mới, đem đến một sứ điệp mới và một phép rửa mới.

Linh đạo của Gioan theo đúng truyền thống nhưng vẫn còn tiêu cực; linh đạo của Đức Giê-su tích cực và hoàn toàn mới. Gioan chúc dữ những người tự mãn trong việc hành đạo và các nhà lãnh đạo chính trị. Đức Giê-su đã thêm vào lời chúc phúc và niềm hy vọng cho người nghèo bên lề xã hội và người có tội bị lăng nhục. Gioan Tẩy giả tuyên bố tin dữ về một cuộc tuyên án sắp đến, nhưng Đức Giê-su, người đã được ông thanh tẩy, loan tin lành về một cuộc giải phóng nay mai:  Người Con Chí Ái muốn ban phép Rửa qua thập giá của bản thân mình hầu thế giới được hoán cải. Gioan cho rằng cần trở nên thành viên của một cộng đoàn tuyển chọn thì sẽ được cứu rỗi và ông đòi phải có sự hoán cải cá nhân. Đức Giê-su thì biến đổi những người được hoán cải đó thành một cộng đoàn yêu thương.

Vâng, có một sự thay đổi tận gốc trong nếp sống mà Đức Giê-su chọn lựa so với nếp sống của Gioan Tẩy giả: Gioan đến không ăn không uống, Con Người đến dự tiệc cùng với người tội lỗi. Sau khi đã trầm mình trong dòng linh đạo xưa, Người đã đứng lên với sứ mạng mới của riêng mình: một cuộc thanh tẩy mới sẽ đem lại cho chúng ta thực chất Kitô giáo và tính chất mởi mẻ của Kitô giáo mà ta tìm kiếm ở châu Á. Chẳng phải vì sợ mất chân tính của mình mà Giáo hội địa phương không khám phá ra thực chất của chính mình sao? Chẳng phải vì sợ chết mà Giáo hội không sống sao? Tính chất mới mẻ của Kitô giáo châu Á chỉ lộ diện như kết quả của sự dấn thân trọn vẹn của chúng ta vào cuộc sống và khát vọng của những người nghèo, những anawim ở Á châu

Trở về mục lục >>

          BÀI HỌC TỪ VIỆC ĐỨC GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA

 

Nguyễn Chính Kết

1. Đức Giêsu đại diện nhân loại tội lỗi tỏ lòng sám hối trước Thiên Chúa qua phép rửa của Gioan

Theo niềm tin Kitô giáo, Đức Giêsu là Thiên Chúa xuống làm người để cứu chuộc nhân loại, Ngài hoàn toàn vô tội, nghĩa là không vướng phải một khuyết điểm hay một tội lỗi nào, dù là nhỏ nhất. Ngài trong sạch hoàn toàn, và tuy có bị cám dỗ, Ngài không bao giờ sa ngã hay để ma quỉ chiến thắng. Thế mà Đức Giêsu lại chịu phép rửa bởi ông Gioan, người tiền hô cho Ngài. Theo sự thường, đúng ra Ngài không nên chịu phép rửa, vì phép rửa là một dấu hiệu sám hối, chỉ dành cho những kẻ có tội. Có tội lỗi thì mới cần sám hối, có dơ bẩn thì mới cần tẩy rửa, còn «ai đã sạch rồi, thì không cần phải rửa» (Ga 13,10).

Nhưng ở đây, việc rửa tội của Đức Giêsu mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt. Cá nhân Ngài tuy hoàn toàn vô tội, nhưng Ngài mang một sứ mạng đặc biệt là gánh tội trần gian, và chịu chết để đền tội cho trần gian trước mặt Thiên Chúa. Vì thế, Ngài đã trở thành «hiện thân của tội lỗi, như thánh Phaolô nói: «Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta» (2Cr 5,21). Chính trong chiều hướng ấy, việc rửa tội của Ngài mới có ý nghĩa. Nếu không, việc ấy thật là phi lý. Nếu Ngài chịu chết để đền tội thay cho cả loài người chứ không phải cho Ngài, thì cũng vậy, Ngài tỏ lòng sám hối và rửa tội là sám hối và rửa tội thay cho cả nhân loại chứ không phải là cho bản thân Ngài. Vì thế, Thiên Chúa đã tỏ ra hài lòng về hành động khiêm nhượng ấy của Ngài, nên ngay sau đó đã phán về Ngài: «Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người».

Hai điều tối quan trọng để được Thiên Chúa tha tội là sám hối đền tội. Thiếu một trong hai thì tội không thể tha được. Vì đại diện cho cả một nhân loại tội lỗi, Ngài đã tự coi mình là tội lỗi, nên Ngài thấy cần phải biểu lộ sự sám hối qua nghi thức rửa tội của Gioan. Ngài cũng đại diện cho cả nhân loại khi đền tội cho họ bằng cái chết thảm thương trên thập giá vào trưa thứ sáu trước lễ Vượt Qua năm Ngài 33 tuổi. Như vậy giữa việc Ngài được Gioan rửa tội bên dòng sông Giôđan và việc Ngài chết trên thập giá trên đồi Canvê có một tương quan sâu sắc và đầy ý nghĩa.

2. Bài học từ biến cố chịu phép rửa của Ngài.

Ngài là người hoàn toàn vô tội: «Nơi Người không có tội lỗi» (1Ga 3,5). Thế mà vì yêu thương nhân loại, Ngài đã sẵn sàng nhận hết tội lỗi của cả nhân loại về cho mình. Điều đó chẳng làm cho chúng ta suy nghĩ và rút ra một bài học sao?

Chúng ta ai nấy đều có tội không nhiều thì ít, thế mà rất nhiều khi ta lại không muốn nhìn nhận mình là kẻ có tội. Ta tìm đủ cách để người khác nghĩ về ta tốt hơn thực trạng hay bản chất của ta. Nhiều khi ta còn giả hình để người khác lầm tưởng rằng ta rất tốt, ta vô tội. Nếu có ai nói xấu ta, thậm chí rất đúng, ta cũng tỏ ra bực bội hay thù ghét người ấy. Ta không muốn nhìn nhận thực trạng xấu xa của mình. Trong những cuộc tranh luận, nhiều khi ta thấy mình sai trái, đuối lý, nhưng ta không có can đảm nhận phần sai trái về phía mình, mà cứ cãi chầy cãi cối để khỏi phải nhận lỗi, thậm chí còn kết án ngược lại cho người khác. Như thế, ta đã tự chứng tỏ mình thiếu thành thực và không ngay thẳng.

Khi một người khác bực bội, tức giận vì một thiệt hại nào đó mà họ nghĩ là do ta gây ra, lúc đó ta thường xử sự thế nào? Nếu ta có lỗi thật sự, ta có dám nhìn nhận mình có lỗi để người kia nguôi cơn giận không? Thiết tưởng nhận lỗi mình lúc đấy là một bổn phận của đức công bằng. Nếu không nhận lỗi, ta còn làm cho sự bất công ấy nặng thêm, vì làm cho người kia tức giận hơn nữa, tức làm khổ họ, và có thể gây hại cho họ về tâm lý hoặc thể lý. Việc can đảm nhận lỗi trong những trường hợp như thế không bao giờ làm giảm giá trị con người ta, mà còn khiến người khác thêm kính phục ta. Trái lại, có lỗi mà không chịu nhận mới đáng hổ thẹn và đáng khinh bỉ.

Nếu ta hoàn toàn không có lỗi, nhưng vì người kia hiểu lầm, nên trong cơn tức giận, họ nhất quyết đổ lỗi cho ta, thì ta xử sự thế nào? Ta có thể trước hết giải tỏa cơn giận cho họ đã, chẳng hạn bằng cách tạm thời nhận lỗi về phía mình, rồi chờ khi họ bớt giận, nghĩa là có đủ sáng suốt và khách quan, thì cho họ thấy rõ ai phải ai trái. Đó là một hành động khôn ngoan và bác ái, vì trong cơn tức giận vì bị thiệt hại quá mức, theo tâm lý thường tình, người ta có nhu cầu tâm lý là phải trút cơn giận đó lên người khác để cơn giận được thỏa mãn. Lúc đó, họ không đủ sáng suốt để nhận ra lỗi của mình, vì giận chính là tình trạng điên khùng hay mất trí trong giây lát. Những lúc đó họ chỉ biết đổ lỗi lên đầu người khác cho hả giận. Khi có người nhận lỗi, cơn giận của họ giảm đi ngay như lửa bị tạt nước vào. Biện minh cho việc mình vô tội lúc ấy thường giống như đổ thêm dầu vào lửa, chỉ làm cơn giận của họ bùng lên mạnh mẽ hơn, không làm cho họ nhận ra lỗi của họ, và cũng chẳng giải quyết được gì. Kinh nghiệm cho tôi thấy: thường sau khi họ được thỏa mãn cơn giận, tâm trí họ sáng suốt hơn, và họ dễ dàng nhận ra lỗi của họ. Thói đời là ta càng đổ lỗi cho người khác, thì họ càng có khuynh hướng chữa lỗi và tìm cách đổ lỗi lại cho ta. Còn nếu ta khiêm nhượng nhận lỗi về phía mình, thì người kia tự nhiên có khuynh hướng tự xét mình, nhờ đó dễ dàng nhận ra sai trái của họ. Và sau đó họ thường nể phục tư cách và lối xử sự của ta.

Trong mọi trường hợp, hãy bắt chước Đức Giêsu, dù hoàn toàn vô tội, vẫn sẵn sàng mặc lấy thân phận kẻ tội lỗi và chịu đối xử như kẻ có tội.

3. Dám nhận trách nhiệm về phía mình- dấu chứng của người lãnh đạo trưởng thành.

Trong các tập thể – như gia đình, xã hội, Giáo Hội – ta thường thấy những chuyện như: khi có chuyện thành công hay tốt đẹp xảy ra, người lãnh đạo thường nhận ra công của mình trong đó, và sẵn sàng đón nhận những lời tán tụng, tri ân, và những lợi lộc từ sự thành công ấy. Nhưng khi thất bại hoặc có sự cố đáng tiếc xảy ra, cấp lãnh đạo thường tìm cách đổ lỗi hoặc qui trách nhiệm cho cấp dưới, hoặc cho hoàn cảnh, còn mình thì «lấy nước rửa tay» kiểu Philatô: «Ta vô can trong vụ … này» (Mt 27,24). Và sau đó thì cấp dưới lãnh đủ những thiệt hại do sự cố đáng tiếc ấy: bị la rầy, bị phạt, mất uy tín, phải bồi thường, tù tội, v.v… Còn người lãnh đạo thì hoàn toàn vô sự, mặc dù trong thực tế sự đáng tiếc ấy chủ yếu hoặc phần nào là do sự lãnh đạo thiếu sáng suốt của mình.

Phải chăng Kinh Cáo Mình với câu «lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng» chỉ được đọc duy nhất ở trong thánh lễ và những buổi đọc kinh, chứ rất ít khi được «đọc» (=thể hiện) trong đời sống thường nhật. Đạo của chúng ta phải chăng chỉ được thực hành ở trong chứ không phải ở ngoài nhà thờ, đang khi 99% thì giờ của chúng ta lại là ở ngoài nhà thờ! Theo tinh thần Kinh Cáo Mình, ta cần nhạy bén trong việc nhận ra phần lỗi – trực tiếp hay gián tiếp – của mình trong mọi điều xấu xảy ra nơi gia đình, đoàn thể, ngoài xã hội hay trong Giáo Hội của ta. Có những việc hết sức đáng tiếc xảy ra mà ta tưởng chừng mình vô can, nhưng xét cho kỹ rất có thể ta có lỗi vì đã tỏ ra thờ ơ, không can thiệp theo lương tâm khiến cho những việc ấy xảy ra.

Không dám nhận trách nhiệm về phía mình dù là cấp lãnh đạo hay cấp dưới đều là dấu chứng của sự thiếu trưởng thành về mặt tâm linh và xã hội hay Giáo Hội. Thiết tưởng chúng ta nên suy niệm hành động của Đức Giêsu để chỉnh sửa lại cách hành xử sai trái ấy. Ngài vô tội hoàn toàn, nhưng lại sẵn sàng nhận lấy trách nhiệm của cả nhân loại về phía mình. Ngài đã hành xử như một kẻ có tội cần phải sám hối, phải xin lỗi trước mặt Thiên Chúa bằng nghi thức rửa tội. Không chỉ như thế, Ngài còn sẵn sàng đền bù với giá cao nhất là mạng sống của Ngài những tội lỗi mà Ngài đã tự qui về cho mình thay cho cả nhân loại. Hành động của Ngài thật hết sức anh hùng và dũng cảm.

Đức Kitô thì hành động như thế, chẳng lẽ các Kitô hữu, những kẻ theo Đức Kitô, những môn đệ của Ngài, những «Kitô khác» lại hành động khác với Đức Kitô sao? Nếu không giống Ngài 100% thì ít ra cũng phải được 50%, hay ít nhất cũng phải 40 hay 30%! Nếu không thì sao ta lại dám tự nhận mình theo Ngài? là môn đệ Ngài? Ta theo Ngài ở chỗ nào? là môn đệ Ngài ở chỗ nào? Cần xét lại xem: coi chừng kẻo ta chính là môn đệ của Philatô mà lại cứ lầm tưởng và tự xưng là môn đệ của Ngài!●   

                                                                                                          Trở về mục lục >>

 

 DẤU CHỈ THỜI ĐẠI


BẤT NGỜ ẬP TỚI

GM Bùi Tuần

Ngay sau lễ Noel 2004, sóng thần đã xuất hiện. Đây là biến cố hiếm thấy đã gây thảm hoạ kinh hoàng sâu rộng. Nó tàn phá dữ tợn nhiều nơi. Nó ngang nhiên cất đi từng vạn mạng sống. Nhiều nước vì nó mà ngập tràn nước mắt.

       Trong Phúc Âm

     Không biết cảnh tang thương đó có được thực sự báo trước trong Phúc Âm hay không. Nhưng các Phúc Âm đã ghi lại lời Chúa Giêsu báo trước cảnh tương tự như thế bằng những lời đáng sợ. Như trong Phúc Âm thánh Matthêu, Chúa Giêsu phán: “Người ta không hay biết gì, đến khi nạn hồng thủy ập tới, cuốn đi hết thảy.” (Mt 24,39).

Chúa Giêsu phán những lời trên đây, để nhắc lại nạn đại hồng thủy xưa đời ông Noe, và được áp dụng về những cảnh rùng rợn sẽ xảy ra trước ngày tận thế.

Trong lịch sử

Tôi nghĩ chưa tới tận thế đâu. Nhưng trong dòng lịch sử, vẫn có những biến cố bất ngờ ập tới như hồng thủy và như sóng thần gây nên những đột biến hãi hùng.

Đã có như thế trong lịch sử thế giới.

Đã có như thế trong lịch sử Giáo Hội toàn cầu và nhiều Giáo Hội địa phương.

Đã có như thế trong lịch sử nhiều cộng đoàn và nhiều gia đình.

Đã có như thế trong đời một người, một sự nghiệp.

Riêng trong lãnh vực Công giáo, chúng ta không thể không xót xa, khi nhắc tới những thứ sóng thần đã gây nên nhiều mất mát.

Còn đâu những giáo đoàn sốt sắng thời thánh Phaolô.

Còn đâu những giáo phận sầm uất ở châu Phi thời thánh Augustinô.

Còn đâu niềm vui lớn lao, khi Hội Thánh Chính Thống, Hội Thánh Anh giáo, Hội Thánh Tin Lành, Hội Thánh Rôma còn là một Hội Thánh hiệp nhất.

Còn đâu niềm tự hào chính đáng của những thời nhiều nước còn đông đảo tín hữu giữ đạo đàng hoàng, như tại Pháp, Ý, Tây Ban Nha!

Tại Việt Nam

Riêng tại Giáo Hội Việt Nam, hiện nay bề ngoài coi như phát triển hơn bao giờ hết. Tin tức hằng tuần và hàng đầu là các từ thánh đủ loại. Như: phong chức thánh, mừng chức thánh, mừng đền thánh, mừng năm thánh, hành hương thánh đường, xây dựng thánh đường, dự hội thánh, đồng tế hàng trăm linh mục trên cung thánh, quy tụ hàng ngàn giáo dân trong khuôn viên nhà thánh.

Bề ngoài có vẻ thánh. Nhưng ai dám quả quyết là bên trong không có những sóng ngầm, có khả năng biến thành sóng thần bất ngờ ập tới không?

Tới đây, tôi nhớ lại lời Chúa Giêsu khuyên nhủ: “Các con phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu các con... Vậy các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người.” (Lc 21,34-36).

Chúa Giêsu đề cập đến "chè chén say sưa, lo lắng việc đời" như những gì làm cho lòng các người trong đạo nên nặng nề. Điều đó quá đúng.

Nhưng, nay, nếu phải nói cụ thể hơn về "lo lắng việc đời" thì sẽ phải kể ra nhiều thứ. Như tiền bạc, quyền lợi, tranh chấp, cục bộ. Thêm vào việc lo lắng sự đời với những cụ thể đó, lại có chuyện lo lắng việc đạo, với nhiều thứ cụ thể lềnh kềnh lỉnh kỉnh, thì lòng chúng ta sẽ nên nặng nề gấp mấy.

Tỉnh thức

Mấy ngày nay, biến cố sóng thần gây tang tóc cho nhiều nước Á châu đã là đề tài suy nghĩ cho hầu hết mọi người tại Việt Nam ta. Hơn nữa, rất đông người có đạo cầu nguyện nhiều hơn. Họ như đọc được ý Chúa trong biến cố này. Nên họ nghĩ tới cuộc đời mong manh, và sự cần thiết phải lo cho phần rỗi mình khi còn thời giờ. Đang khi đó, chẳng may cũng có một số người vẫn ung dung, dửng dưng, vô cảm. Đây là điều làm tôi buồn. Tôi sợ cho họ, cho Hội Thánh và cả cho chính tôi. Riêng tôi, trong tình hình thảm khốc này, với lương tâm được đánh thức, tôi hay đọc lại lời Chúa Giêsu phán với các môn đệ về tương tai đền thờ Giêrusalem, Người phán: “Các con nhìn ngắm công trình vĩ đại đó ư? Tại đây, sẽ không còn tảng đá nào trên tảng đá nào, tất cả đều sẽ bị phá đổ.” (Mc 13,2).

Với lòng xót thương chân thành, chúng ta cầu nguyện cho mọi nạn nhân của nạn hồng thủy mới xảy ra. Chúng ta cũng hãy tỉnh thức, nghĩ tới chính mình và Giáo Hội Việt Nam ta, kẻo lỡ ra có ngày "Không còn hòn đá nào trên hòn đá nào".

Nhưng cho dù thế nào đi nữa, chúng ta cũng không thất vọng. Xưa Chúa Giêsu phán: “Những con cáo có hang, những con chim có tổ. Nhưng Con Người không có nơi để gối đầu và nghỉ ngơi.” (Lc 9, 58).

Các môn đệ Chúa thuở đó cũng vậy.  Trong ba thế kỷ đầu, hầu như Hội Thánh không xây dựng một đền thờ nào. Tín hữu quy tụ nơi nào thấy tiện. Không phải người ta đến với Hội Thánh, nhưng chính Hội Thánh đến với người ta.

Một Hội Thánh nghèo, thánh thiện, không bị gò bó vào những cơ sở nặng nề về vật chất hoặc tinh thần, sẽ dễ đến với mọi người thiện chí, nhất là đến với người nghèo khổ và bị loại trừ

Trích Website Sống Đức Tin

Trở về mục lục >>

TÂM TÌNH SAU CƠN SÓNG THẦN

LTCT

Cơn sóng thần ở Đông Nam Á đã qua đi đến nay gần hai tuần rồi nhưng dư âm kinh hoàng của nó vẫn vang vọng như vừa mới xảy ra:  bao gia đình tan nát, chết chóc, chia lìa, có những xóm làng, hòn đảo bị quét sạch trên bản đồ không một ai sống sót, những cặp tình nhân đưa nhau đi nghỉ mát cuối năm: đi hai về một, người chết không đủ đất chôn, không kịp thời gian để an táng, không đủ bao nylon để bọc đành chọn kiểu chôn tập thể, những người thoát nạn sống trong màn trời chiếu đất thiếu ăn thiếu uống, lo âu hãi hùng, tinh thần khủng hoảng, những nước vốn đã nghèo giờ bị tàn phá kiệt quệ… tôi không muốn đưa ra con số chính xác ở đây vì mỗi ngày đọc tin tức là một con số mới, thay đổi đến chóng mặt, con số ngày hôm nay sẽ lạc hậu so với con số của ngày mai.  Sự mất mát và thiệt hại quá nặng nề về vật chất cũng như về tinh thần cho người đã chết cũng như người còn sống sót.  Nhưng có lẽ sự thiệt hại nặng nhất là sự khủng hoảng về đức tin cho những người đang sống, hình ảnh về một Thiên Chúa nhân từ đầy lòng xót thương bị cơn sóng thần bóp méo, con người đâm ra nghi ngờ sự hiện hữu của Đấng Hằng Hữu, đó là nỗi buồn vượt trên bao nỗi buồn.  Con người có thể sống khổ sở, vật lộn với cuộc sống, thiếu ăn thiếu mặc, nhưng nếu mất đức tin thì con người sẽ sống ra sao?

Cái ngày kinh hoàng đó sẽ là ngày giỗ cho những người đã chết, và là ngày đánh dấu một bước ngoặt lớn trong đời sống hàng ngàn gia đình ở Đông Nam Á còn sống sót là ngày Chúa nhật 26 tháng 12 năm 2004, sau ngày kỷ niệm Chúa Giáng Sinh và tiếp theo một ngày là lễ kính Các Thánh Anh Hài Tử Đạo. Câu chuyện về ngày Chúa sinh ra vẫn còn được tiếp nối trong tuần bát nhật, đó là một câu chuyện buồn xen lẫn trong những ngày vui.  Sau khi Ba Vua nghe lời Sứ Thần báo mộng đi lối khác mà về xứ mình, còn Hêrôđê chờ hoài… chờ mãi… chờ bóng Ba Vua trở lại để báo cáo tình hình của vị Vua không ngai bé xíu mà không thấy bóng dáng ai đâu.  Ông ta liền nổi giận cho giết hết tất cả những trẻ em sơ sinh từ hai tuổi trở xuống trong vùng Bêlem và toàn vùng lân cận, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh.  Con số chính xác bao nhiêu em bị giết trong thời đó?  Không ai biết chính xác, chỉ ước chừng trên dưới 1,000 em.  Tai nghe những tiếng khóc thét, kêu gào đầy sợ hãi của mấy bé thơ nhi không biết chuyện gì xảy ra, hoà lẫn tiếng khóc than rền rĩ của mấy bà mẹ bị mất con, tiếng ngựa hí, tiếng chân của quân lính lùng sục chạy rầm rầm khắp đầu thôn cuối xóm, tiếng binh khí chạm nhau loảng xoảng.  Quả là một cảnh tang tóc, những bà mẹ tóc tai rối bời đang nhào ra giành giật xác con từ tay mấy tên lính hung hãn, có bà ôm xác con rũ rượi gục xuống đất mà khóc nấc, có bà bế xác con mình đưa cao lên trời như muốn hỏi Thượng Đế tại sao con tôi vô tội mà phải chết?  Có bà không tìm được xác con, lấy hai tay bịt tai lại như không muốn nghe lời an ủi của những người xung quanh.  Nỗi đau lớn quá, có lời an ủi nào có thể xoa dịu nỗi lòng bà mẹ lúc đó.  Tôi tự hỏi sinh mạng của Đấng Cứu Thế lại được đánh đổi bằng cách này sao?  Có công bằng không?  Tại sao sứ thần Chúa không báo mộng hết cho những bà mẹ ở Belem biết để họ cùng chạy trốn qua Ai cập?  Mẹ Maria và thánh Giuse trên con đường chạy trốn qua Ai Cập có nghe được tiếng khóc than văng vẳng sau lưng không?  Gia đình Thánh Gia có biết rằng bao nhiêu em bé đã chết thay cho con mình không?  Bạn đã từng là người mẹ, người cha:  nếu bạn là một người mẹ lúc đó, là người trong cuộc và được hỏi ý bạn có bằng lòng để cảnh này xảy ra để đổi lại sự ra đời của Đấng Cứu Thế mà nhân loại hằng mong đợi không?  Câu trả lời chắc chắn là không, không đời nào! 

Ngước nhìn lên trời cao trong ngày lễ kính Các Thánh Anh Hài, tôi thấy một cảnh khác, trên dưới gần 1,000 em bé mặt mày dễ thương, bụ bẫm, hào quang sáng chói chung quanh các em, em bò, em lật, em mút tay, em nằm sấp, em nằm ngửa đang xúm xít bu quanh nôi Chúa Hài Đồng.  Các em cùng với ca đoàn của các thiên thần trên Thiên Quốc vỗ tay ca hát, nhảy múa chúc tụng tôn vinh Thiên Chúa, các em ngày đêm được chiêm ngưỡng dung nhan Chí Thánh, cuộc sống vĩnh cửu thật là hạnh phúc mà bao linh hồn hằng mơ ước.  Tôi tự hỏi 1,000 em này nếu không bị giết chết, nếu các em có cơ hội được sống, trưởng thành, có gia đình, rồi có con, phải đi làm nuôi thân, nuôi gia đình, rồi già, rồi bịnh, rồi chết… theo qui luật tự nhiên của con người, thì bao nhiêu em trong số đó sẽ được nên thánh?  Có chắc là 100% số em đó sẽ có cuộc sống hoàn hảo thờ phượng Chúa hết lòng và được nên thánh hết không?  Tôi nghĩ là không, chắc chắn là không, 1,000 em đó nếu có cơ hội sống, sẽ có những em nên tốt, nên thánh thiện, nhưng cũng có những em bị hư đi trong dòng đời.  Và cũng có những em dở dở ương ương, nóng chẳng nóng lạnh chẳng lạnh, không ai biết số phận đi về đâu.  Vậy cái chết với 1,000 em bé đó là phúc hay là họa?  Nếu một gia đình có một vị thánh trên Thiên Quốc ngày đêm cầu bầu cho những người thân trong gia đình thì gia đình đó là phúc hay họa?

Ngày cơn sóng thần lẳng lặng xuất hiện không một tiếng báo trước là ngày Chúa nhật 26 tháng 12 là ngày Lễ Thánh Gia, bổn mạng các gia đình Công giáo.  Trong khi Giáo Hội hân hoan kỷ niệm ngày đầm ấm xum vầy của một gia đình hạnh phúc trong dư âm ngày Chúa sinh ra còn đâu đây thì đó cũng chính là một ngày gây kinh hoàng tang tóc cho hàng vạn gia đình. Hai hình ảnh thật trái ngược, Thượng Đế như khéo bày chuyện trêu ngươi người đời!  Nhưng nhìn lại bằng con mắt đức tin, Phục Sinh và Giáng Sinh là hai ngày lễ lớn và trọng đại nhất của Giáo Hội Công giáo, đối với người Công Giáo có mức sống đạo bình thường một năm Giáo hội khuyến khích xưng tội hai lần: một vào mùa Chay và một vào mùa Vọng, họ cũng sẽ rước Mình Thánh Chúa trong hai ngày lễ lớn của năm:  Phục Sinh và Giáng Sinh.  Vậy được Chúa gọi về với Ngài ngay khi người tín hữu đã chuẩn bị tâm hồn và vừa được rước Chúa vào ngày hôm trước, đó là phúc hay họa?  Hãy cẩn thận, đừng khóc thương cho những người vừa được Chúa gọi về và đang yên nghỉ trong vòng tay yêu thương của Ngài, mà hãy khóc than, lo lắng cho chính linh hồn mình, vì ngày Con Người tới, biết mình có được chuẩn bị sẵn sàng như họ chưa?

Có những hình ảnh thật khủng khiếp mà những người yếu bóng vía không dám xem, thật đau lòng khi đọc tin tức mỗi ngày, con số người chết gia tăng, thi thể của những người chết được chất đống trong những hố đất đào vội, những câu chuyện thương tâm của những người sống sót… sự sợ hãi, lo âu đang bị giam hãm trong những thân thể vốn đã gầy gò đói khát ở những nước chậm tiến, giờ đây đang lê lết trong lạnh lẽo, dưới môi trường sống hôi thối, ruồi muỗi, giành giựt, cướp bóc… kể sao cho xiết, nói sao cho đủ!  Thiên Chúa ở đâu rồi?  Ngài có tồn tại hay không?  Tại sao Ngài lại để những cảnh này xảy ra?  Ngài có chứng kiến những cảnh này không?  Tai Ngài có nghe thấy những tiếng khóc than rên rỉ không?  Và đức tin tôi bị khủng hoảng! 

Khoan…, khoan đã!  Hình như tôi đang nghĩ mình nhân từ hơn Thiên Chúa, tôi chỉ nghe tin tức, coi hình ảnh trên internet, tivi… và trái tim tôi tan nát trước những hình ảnh thương tâm đó.  Còn Thiên Chúa, Ngài đang sống với những con người đó, Ngài đang chịu đau khổ với họ, đang chia sẻ cảnh sống thương tâm sợ hãi, thiếu thốn sau Tsunami… mà trái tim Ngài vẫn trơ ra, lạnh lùng sao!!!???  Sự suy nghĩ của tôi đúng hay sai nhỉ?  Tôi có khóc thương những nạn nhân Tsunami thì tôi chỉ biết cầu nguyện cho những người đã chết, nhịn ăn, nhịn mặc chắt chiu vài đồng để gởi cho những người còn sống, những đồng tiền bé nhỏ dè xẻn bao lâu nay tính gởi cho người thân bên quê nhà tiêu tết bây giờ nó quẹo phải đi về hướng Đông Nam Á đến với những nạn nhân Tsunami.  Sức của tôi có thế và tôi chỉ làm được thế thôi, chứ tôi nào có dám bỏ gia đình bên Mỹ, bỏ công ăn việc làm, bỏ chăn ấm nệm êm trong mùa đông giá buốt để đến với họ, sống với họ và an ủi họ.  Còn Con Một Thiên Chúa, Ngài đã dám bỏ tất cả vinh quang hạnh phúc từ trời cao xuống thế trong thân phận con người thấp hèn nhất, để chia sẻ những yếu đuối, khổ sở, lầm than của kiếp người.  Có nỗi khổ nào của con người mà Ngài chưa nếm qua?  Có nỗi nhục nhã nào mà Ngài chưa thử tới?  Ngài đã đến với họ, sống với họ và chết với họ, vậy mà tôi dám cao giọng chất vấn Ngài?  Tại sao tôi không phó thác vào Ngài những việc tôi làm không nổi, những điều mà đầu óc tôi suy không thấu?

Con người có những qui luật tự nhiên của con người:  sinh ra, lớn lên, bịnh tật và chết đi.  Tự nhiên cũng có luật của tự nhiên:  hết nắng rồi mưa, hết đông đến xuân, ngày rồi đêm, trái đất tự quay chung quanh nó và xoay chung quanh mặt trời với một chu kỳ nhất định, trong lòng trái đất cũng có những qui luật của riêng nó, lúc nóng lúc lạnh, lúc im ắng, lúc sôi động cựa mình, có những qui luật con người hiểu, khám phá ra và có cách đề phòng, có những qui luật con người chưa khám phá ra và không biết cách đề phòng, khi nó xảy ra gây nên thiệt hại lớn lao thì lúc đó mình lại đổ lỗi cho Chúa, Chúa làm nên hết mọi sự!  Thật là tội nghiệp Thiên Chúa biết bao!  Một Thiên Chúa không tự biện hộ!  Trong Kinh Thánh chỉ một lần duy nhất Thiên Chúa để nạn lụt hồng thủy xảy ra vào thời ông Nôe tiêu diệt loài người tội lỗi, sau đó Ngài buồn rầu và hối hận, Ngài lập giao ước với ông Nôe hứa sẽ không bao giờ để nước hồng thủy hủy diệt tàn phá mặt đất nữa (x St 6-9).  Nếu tôi tin vào Kinh Thánh, tôi cũng tin rằng sự dữ không xuất phát từ Thiên Chúa, đó là qui luật của tự nhiên và thiên nhiên, mà vì thiếu sự hiểu biết, không đề phòng cho đủ nên con người phải chấp nhận hậu quả của nó.

Ngày xưa, chỉ mới cách đây vài chục năm, khi khoa học còn thô sơ chưa phát triển, tuổi thọ con người trung bình chỉ 40-50, ngày nay khoa học tiến bộ hơn nhiều, tuổi thọ con người lên đến 70-80, vậy ngày xưa con khóc cha ở tuổi 40 thì cho Chúa là “ác”, còn ngày nay con chôn cha ở lứa tuổi 90-100 thì gật gù khen Chúa rất nhân từ?  Nhiều khi Chúa “nhân từ” quá mà người con bắt chán vì phải nuôi cha mẹ già 100 tuổi hoặc hơn mà đợi hoài Chúa cũng chưa chịu kêu về dùm.  Thực sự Thiên Chúa lúc nào cũng thế:  từ bi, nhân hậu, khoan dung, đầy lòng xót thương và chậm bất bình… đó là bản chất của Ngài, chỉ có khác là mình nhìn Thiên Chúa dưới lăng kiếng nào thôi.

Thời thơ ấu, mỗi khi trốn học đi chơi bị đòn quắn đít, tôi nhìn mẹ bằng ánh mắt giận dỗi, bỏ đi và trả thù bằng cách không nói chuyện với mẹ.  Mỗi khi bị bịnh, mẹ bắt ép uống thuốc bắc đắng nghét, mẹ bóp miệng ngửa cổ ra rồi thẳng tay đổ ộc chén thuốc đen thùi vô miệng, rồi nhanh tay bóp chặt miệng lại không cho thuốc có cơ hội thoát ra ngoài, tôi nhìn mẹ bằng ánh mắt nghi ngờ, thương con là như vậy sao?  Rồi lớn lên thành người tôi mới hiểu được, à thì ra là thế!  Có những lý do đằng sau cây roi và chén thuốc đắng kia mà lúc nhỏ tôi không nhìn thấy được.  Bây giờ tôi “hiểu” việc mẹ làm tôi mới “tin” mẹ làm vì tình thương, còn ngày xưa, tôi “không hiểu” thì tôi cũng “không tin” mẹ làm vì thương mình.  Tôi cũng tầm thường như bao người khác thôi, bởi thế người ta mới nói nước mắt chảy xuống, khi nào có con, nuôi con mới hiểu lòng cha mẹ.  Chỉ khi nào tôi “không hiểu” việc mẹ làm mà tôi “vẫn tin” mẹ làm vì tình yêu, lúc đó tôi mới thực sự là một người con đúng nghĩa. Chúa ơi, con cũng chỉ là người con đúng nghĩa của Chúa khi nào con “không hiểu” những việc xảy ra mà con vẫn “tin” vào tình thương của Chúa, và đó là cái mà Chúa gọi là “đức tin” và con biết “đức tin” thì cần được thử thách và tôi luyện, nhưng xin đừng thử thách quá sức của con.

Tôi thấy gì sau cơn bão này nhỉ?  Bên cạnh những hình ảnh tang thương, chết chóc là những tấm hình chụp những chiếc trực thăng chở hàng tiếp vận, những kho hàng óc ách đầy hàng hoá, những nhân viên làm việc thiện nguyện ngày đêm để cứu các nạn nhân, tiền cứu trợ của mỗi nước Mỹ, Nhật, Úc… tăng từ từ, các hội từ thiện thế giới lớn tiếng kêu gọi đóng góp với những con số lớn lên mỗi ngày, con người bỗng ra hiền hòa và thế giới cảm nhận được tình nhân ái lâu rồi mới thấy lại, tiếng gọi cứu trợ ở khắp mọi nơi, trong nhà thờ, nhà trường, các hội đoàn, các hãng lớn xưởng nhỏ, chợ búa… đi đến đâu cũng nghe người ta ơi ới réo gọi nhau, khuyến khích nhau cùng bố thí làm phước.  Hình như những đau khổ trong cuộc sống đẩy con người lại gần nhau hơn và những tang thương chết chóc của người khác là một tiếng chuông cảnh tỉnh cho chính mình.  Ước gì con người đừng quên bài học hôm nay để luôn sống trong tỉnh thức và cầu nguyện!

Trở về mục lục >>

 

CHIA SẺ ĐẦU NĂM

HT 

Anh chị thân mến,

Bước vào một năm mới, năm 2005, mỗi người một tâm trạng khác nhau:  buồn vui lẫn lộn, tuổi đời ngày càng chồng chất, biết có càng thêm tuổi càng thêm khôn ngoan và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa như trẻ Giêsu ở Nazarét không hay là càng thêm tuổi càng thêm sự khôn ngoan của thế gian thì càng xa cách Chúa nhiều hơn.  Hôm nay ngày 1 tháng 1, ngày đầu năm mới và cũng là ngày lễ trọng kính Mẹ Thiên Chúa với bài phúc âm Luca 2:16-21, trong đoạn này có câuCòn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng”.  Em thấy Giáo Hội đã không vô tình chọn ngày đầu năm để kỷ niệm Lễ Mẹ Thiên Chúa với bài phúc âm này.  Vậy tại sao mình không bắt chước Đức Mẹ quay đầu nhìn lại quá khứ, ngẫm suy các biến cố đã qua và suy đi nghĩ lại trong lòng để từ từ… từ từ… từng bước nhận ra tình yêu và ân sủng Chúa, thánh ý Chúa, để nhận ra mình không đơn độc trong cuộc sống, để thấy càng ngày mình càng gần gũi với Chúa hơn.

Ngày đầu năm, em đề nghị a/c/e chúng mình dừng lại một phút giây để ngồi ôn lại cuốn phim dĩ vãng bằng cách lấy một (hay hai) giờ cầu nguyện thường nhật của mình làm phút hồi tâm bằng cách xem xét lại tất cả các biến cố lớn nhỏ đã xảy ra trong đời sống mình trong suốt năm qua, năm 2004.  Em xin phép gợi ý sơ với a/c mình có thể nhớ lại các biến cố đó theo thứ tự thời gian hay theo phạm vi đời sống, thí dụ mình nhớ lại trong đời sống cá nhân trước rồi đến đời sống gia đình, đời sống phục vụ (tông đồ) và sau cùng là đời sống thiêng liêng.  A/c viết lại những điểm son, những biến cố lớn nhỏ, những kỷ niệm buồn vui, những gì gặt hái được và những gì mất mát, những khuôn mặt đã qua đi trong đời và những khuôn mặt mới xuất hiện trong cuộc đời tôi, những ước muốn, những hoài bão và khát vọng đã được thực hiện và những gì còn dang dở sẽ được tiếp tục nuôi dưỡng trong tâm hồn…Hãy đặt cho mình những câu hỏi tôi thấy Chúa ở đâu và tôi ở đâu trong những biến cố đó?  Chúa muốn nói gì với tôi qua các biến cố đó?  Tại sao Chúa lại để việc đó xảy ra?  Tôi đã xử sự như thế nào trong các biến cố đó?  Chúa đã tỏ tình thương của Ngài ra cho tôi như thế nào qua những biến cố đó?  Tôi đã đáp trả thế nào với Ngài và tình thương của Ngài?  Người ta có nhận biết Chúa qua cuộc sống của tôi trong năm qua không? 

Và bước kế tiếp là xin a/c ghi xuống những ước muốn, những hoài bão cho năm tới, một năm thôi nhé!  Chúng ta không thể nên thánh nếu chúng ta không ước ao nên thánh, chúng ta không thể hiểu biết Chúa một cách sâu xa và yêu mến Chúa cách thiết tha nếu chúng ta không cảm thấy chúng ta thực sự cần Chúa.  Một thí dụ điển hình trong đời sống vật chất, chúng ta sẽ không mua được nhà nếu mình không có ý định mua nhà.  Thực tế trong tình hình này cho thấy, có ý định mua nhà, ước ao mua nhà còn chưa mua được nhà huống chi là không có ý định mua nhà.  Điều đó cho thấy ước muốn, dự định, hoài bão, hy vọng… rất quan trọng trong đời sống, là yếu tố cần thiết để đạt đến đích điểm của đời sống. Xin a/c ghi xuống những tất cả những ước mơ cho cả đời sống tinh thần lẫn vật chất, ghi lại một cách chân thành những gì đang là hoài bão, là ước ao, là những điều ấp ủ trong tim muốn thành hiện thực trong năm tới.  Nhìn vào những ước mơ đó mình sẽ hiểu rõ mình hơn, mình sẽ thấy mình đang đặt đời sống nào quan trọng hơn đời sống nào.

Và mình kết thúc giờ cầu nguyện bằng chính những ước mơ đó, xin dâng lên Chúa những ước mơ cho năm tới và xin Chúa giúp con thực hiện những ước mơ trong năm 2005.  Tạ ơn Chúa năm 2004 qua đi với bao tình yêu, hồng ân Chúa tuôn đổ trên cuộc đời mình và xin được nhạy cảm hơn về sự hiện diện của Chúa trong năm tới.

Và mình sẽ ghi lại trong nhật ký thiêng liêng tất cả những biến cố đã qua và những ước mơ cho ngày mai. Chúc anh chị có những giờ cầu nguyện sốt mến bên Chúa!

Lời Nguyện:

Lạy Chúa, những ngày cuối năm 2004 của thế giới được kết thúc bằng một cái tang đau buồn cho nhân loại đó là sự ra đi bất chợt của bao nhiêu trăm ngàn người trong cơn sóng thần ở Á Châu. Sự mất mát, tổn thương về thể chất cũng như tinh thần của những người còn sống sót, sự thiệt hại quá lớn lao, quá sức suy tưởng của con người đến nỗi chưa một ai, kể cả con, nhìn ra tình thương của Cha qua biến cố đó!  Chỉ là những tiếng khóc than, những lời oán trách, những tiếng rên xiết, sự sợ hãi lan tràn….  Con chưa hiểu và chưa nhìn ra Cha muốn nói gì với riêng con và với nhân loại nói chung qua biến cố vĩ đại này.  Lạy Cha Chí Thánh rất nhân từ, con chỉ biết một điều duy nhất: Cha là Thiên Chúa giàu lòng từ bi và nhân hậu, con không hiểu những việc Cha làm nhưng con tin vào tình thương Cha dành cho con và cho thế gian, điều đó đủ cho đời sống đức tin của con, xin cho con luôn tin tưởng, cậy trông và phó thác vào tình yêu của Cha cho dù bất cứ biến cố nào xảy ra trong cuộc sống con và cuộc sống nhân loại nói chung, Amen!

Trở về mục lục >>

NẾU NGÀY MAI KHÔNG BAO GIỜ ĐẾN...

Maranatha dịch

Nếu tôi biết hôm nay là lần cuối

Tôi được nhìn anh ra khỏi nhà mình

Tôi sẽ đến hôn anh mà tiếc nuối

Và bồi hồi, tôi lại gọi tên anh...

Nếu tôi biết hôm nay là lần cuối

Tôi nghe anh lên tiếng tặng khen tôi

Tôi sẽ thu mỗi hình ảnh, mỗi lời

Để nghe lại, nghe hoài và nghe mãi...

Nếu tôi biết hôm nay là lần cuối

Mà tôi còn vài phút được thảnh thơi

Tôi sẽ nói: tôi thương anh hết sức

Thay vì im, để anh tự hiểu thôi.

Nếu tôi biết hôm nay là ngày cuối

Mà ta còn cùng chia sẻ bên nhau...

Nhưng tôi biết anh còn nhiều ngày nữa

Nên thì giờ lãng phí đã qua mau.

Vì thế nào cũng còn có ngày mai

Để quyết định cho một lần gặp gỡ.

Và cũng còn một vận hội thứ hai

Để hoàn tất những gì đang bỏ dở.

Vì thế nào cũng còn một ngày khác

Để nói rằng: tôi hết sức yêu anh

Và chắc chắn cũng còn cơ hội khác

Để bảo rằng: tôi giúp được gì chăng?

 

Nhưng nếu lỡ chẳng may không phải thế

Thì dù sao tôi vẫn có hôm nay.

Tôi muốn nói: “Tôi yêu anh lắm nhé!

Anh đừng quên điều đó”. Nếu chẳng may...

Không phải ai cũng có được ngày mai

Dù người ấy già nua hay son trẻ.

Và biết đâu còn chỉ có hôm nay

Để bạn siết vào lòng người bạn quý?

Hiểu như thế, thì chờ chi, hỡi bạn?

Và vì sao lại không phải hôm nay?

Nếu ngày mai không bao giờ ló dạng,

Thì bạn không ân hận lỡ một ngày...

Mà mình không dành thì giờ rỗi rảnh

Để mỉm cười âu yếm với người thân

Mình quá bận nên không buồn trao tặng

Điều cuối cùng người ấy vẫn cầu mong...

Bởi vì thế, ngay hôm nay, bạn hãy

Ôm người thân và thủ thỉ bên tai

Nói với họ bạn yêu thương biết mấy

Và yêu thương mãi mãi, mến thương hoài.

Bạn nói đi, hãy nói: “Mình ân hận,

“Mình cám ơn”,“Sáng kiến đó thật hay!”

Và ngày mai, nếu không bao giờ đến

Bạn không hề nuối tiếc sống hôm nay...

Trở về mục lục >>

 

 TÌM HIỂU

NHIỆM  TÍCH  THÁNH  THỂ &

ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II

Lm. Cao Phương Kỷ

Phép Thánh Thể là Trung Tâm của Đời Sống Tâm Linh, và Hiệp Thông với Thiên Chúa, lại vì là Nhiệm Tích Cực Thánh, là Mầu Nhiệm Cao Cả, nên trí khôn hạn hẹp của nhân loại không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ trọn vẹn hết các ý nghĩa cao siêu được. Bởi vậy, không lạ gì trong Năm Thánh Thể này, trên khắp thế giới, cần học hỏi luôn mãi, cần tổ chức nhiều Đại Hội, nhiều cuộc Rước Kiệu, và nhiều bài Giảng Thuyết về Nhiệm Tích Cực Trọng này. Theo một số nhà bình luận, Thông Điệp Ecclesia de Eucharistia (năm 2000), là Thông Điệp thứ 14, và là tác phẩm xuất sắc để toát yếu lại tư tưởng thần học, tu đức của Ngài (Gioan Phaolô II). Cũng cùng một chủ đề về Nhiệm Tích Thánh Thể, Tông Thư Mane nobiscum, Domine(Xin Thầy ở lại với chúng con) vừa được công bố ngày khai mạc Năm Thánh Thể,  bắt đầu từ tháng 10 năm 2004 đến tháng 10 năm 2005.

Say đây, chỉ xin phân tích những phần chính và cố gắng diễn giảng một cách rõ ràng những tư tưởng thâm thúy súc tích trong Thông Điệp. Nếu muốn hiểu biết một cách tường tận, và sâu rộng hơn, không gì tốt bằng tìm đọc chính nguyên bản. Những tư tưởng trong Tông Thư mới, cũng giúp độc giả đi sâu vào tâm tình đạo đức, và lòng nhiệt thành yêu mến Mầu Nhiệm Đức Tin của Vị Giáo Hoàng thời danh.

Sau đây, sẽ phân tích và quảng diễn những tư tưởng chính yếu của Thông Điệp.

Đây không phải là phân tích tỉ mỉ các chi tiết, mọi suy tư thần học, tu đức của Đức Gioan Phaolô II, vì là công tác của các nhà chú giải. Soạn giả chỉ xin toát lược những tư tương nòng cốt của mỗi chương, mỗi đoạn, rồi theo sự hiểu biết nông cạn của mình, trình bày, quảng diễn những quan niệm thần học cao siêu cho rõ ràng để độc giả dễ tiếp thu. (Xin Lưu Ý: những con số phân chia 1,2,3..là do soạn giả đặt ra, không theo nguyên bản).

1.Chủ Đề của Thông Điệp là gì?

thể nói: tư tưởng chủ đạo trong Thông Điệp Ecclesia de Eucharistia là nhằm nhấn mạnh đến  lòng TIN vào TÌNH THƯƠNG vô cùng của Thiên Chúa là CHA đã sinh ra nhân loại và mọi vật  mọi loài. Thiên Chúa đã tạo dựng loài người, đã sai CON xuống thế làm Người để Cứu Chuộc, lại còn Hiện Diện một cách Nhiệm Tích(sacramentally), dưới hình Bánh, Rượu, để Kết Hợp, Nhập Vô con người, như của ăn Thần Thiêng nuôi dưỡng, khiến con người có thể Sống đời đời với Chúa. Chính vì kế hoạch Cứu Độ đó mà Chúa Cứu Thế đã thành lập HỘI THÁNH  để tiếp tục thực hiện sự HIỆN DIỆN của Chúa nơi trần gian. Cho nên có thể quả quyết: Nhiệm Tích Thánh Thể là nguồn gốc phát sinh ra Hội Thánh. Tại sao vậy? Theo Phụng Vụ, Tam Nhật Phục Sinh(Triduum Paschale) trong Tuần Thánh giải thích sự kiện này: Chiều thứ Năm, Chúa GiêSu dùng bữa Tiệc Lyvới các môn đệ, trước khi chịu nạn chịu Chết vào chiều thứ Sáu và Sống lại vào sáng sớm ngày Chúa Nhật. Chính Chúa Cứu Thế đã truyền cho các môn đệ, tức cho Hội Thánh được phép tái  diễn biến cố duy nhất này, để tiếp tục ban Ơn Cứu Độ cho nhân loại, cho đến  tận thế, tức là Ngày Chúa lại Đến phán Xét Chung. Nên nhớ rằng: Chúa GiêSu CHẾT và SỐNG lại là Một HY TẾ (Sacrafice) DUY NHẤT, và ĐỘC NHẤT. Mọi cuộc cử hành Thánh Lễ đều bắt nguồn từ Hy Lễ này mà thôi.  Không còn có một hy lễ nào khác. Mỗi Thánh Lễ Misa do các Linh Mục đã có Chức Thánh cử hành thay Hội Thánh, chỉ là việc tái diễn Hy Lễ duy nhất đó mà thôi. Sau khi Linh Mục chủ tế đọc Lời Truyền Phép: Đây là Mầu Nhiệm Đức Tin, thì cả Cộng Đồng cùng hô lớn: Lạy Chúa, chúng con loan truyền việc Chúa chịu Chết, và tuyên xưng việc Chúa Sống lại, cho tới khi Chúa lại đến.

2. Thánh Thể là Trung Tâm của Đời Sống Hội Thánh.

Phép Thánh Thể là nguồn mạch và là tuyệt đỉnh của mọi sinh hoạt trong Hội Thánh, nên mọi hoạt động tông đồ của Vị Chủ Chăn đều qui hướng về việc Tôn sùng Thánh Thể. Ngài đã viết những Tông thư như: “Novo Millennio Ineunte” (Bắt đầu Ngàn Năm Mới), Rosarium Virginis Mariae(Chuỗi Kinh Mân Côi dâng kính Đức Mẹ Maria). Trong suốt thời gian phục vụ Hội Thánh, từ khi làm Linh Mục, Giám mục, và năm nay, kỉ niệm 25 năm làm Giáo Hoàng, Ngài đã ra Thông Điệp này. Theo lịch sử, Hội Thánh luôn quan tâm cổ võ lòng sùng mộ Phép Thánh Thể như: Công Đồng Tridentinô, Thông Điệp Mirae Caritatiscủa Đức Lêô XIII (1902), Thông Điệp Mediator Dei của Đức Piô XII (1947), và Thông Điệp Mysterium Fidei của Đức Phaolô VI (1965), Công Đồng Vaticano II, Hiến chế Tín Lý về Hội Thánh Lumen gentium, và Hiến chế về Phụng vụ Sacrosanctum Concilium. Ngoài ra, Đức Giáo Hoàng Gioan PhaoLô II cũng nhắc đến truyền thống CHẦU THÁNH THỂ trong các Giáo Xứ, và sự cần thiết của Chức Linh Mục Thừa tác, để việc tôn sùng Phép Thánh Thể được tiếp tục tỏa sáng, huy hoàng.

3. Mầu Nhiệm Đức Tin (Coi: Chương I).  

Sau đây, xin tóm lược những tư tưởng chính trong Chương I của Thông Điệp. Như Tiêu đề ở trên đã nêu lên, Thánh Thể là Mầu Nhiệm cao cả, trí khôn loài người, dầu thông thái như Thánh Tiến sĩ Tôma, cũng  phải công nhận rằng: cần Đức Tin (sola Fides) soi sáng chỉ dẫn để tuân phục những điều Chúa phán truyền, và Hội Thánh tuyên xưng. Có thể tóm lược nội dung những Chân Lý cần phải Tin như sau: - Thánh Thể là một Quà Tặng của Chúa Cứu Thế. Quà Tặng quí giá này là chính Bản Thân của Chúa có Nhân Tính và Thần Tính: Này là Mình Ta, Này là Máu Ta.- Thánh Lễ là tái hiện HY LỄ Duy Nhất, và Chung Cuộc của Chúa GiêSu trên đồi Golgota. Do đó, Mầu Nhiệm Thánh Thể không thể tách biệt, độc lập với THÁNH GIÁ Chúa.- Khi Hội Thánh cử hành Thánh Thể, thì Ơn Cứu Độ thực sự trở nên hiện tại, và công cuộc Cứu Độ nhân loại được thực hiện.- RƯỚC LỄ  là được kết hiệp nội tâm với Chúa, là được lãnh nhận chính Đấng đã tự hiến vì chúng ta trên Thánh Giá.- Thánh Thể là một Bữa Tiệc chính thật, trong đó Chúa GiêSu trao ban chính Mình Người là của ăn nuôi sống chúng ta.- Rước Lễ, chịu Mình Thánh Máu Thánh Chúa, chúng ta cũng được chịu lấy Đức Chúa Thánh Thần. Trong Kinh Nguyện :Xin cho chúng con được bổ dưỡng bởi Mình và Máu Con Chúa, cũng được tràn đầy Chúa Thánh Thần..- Thánh Thể là BẢO ĐẢM cho chúng ta sự  Sống Vĩnh Cửu, và ta đã chiếm hữu sự Sống đó, ngay tự đời này: Ai ăn Thịt và uống Máu Ta, thì được Sống muôn đời, và Ta sẽ cho người ấy Sống lại ngày sau hết( Gioan: 6,54).- Thánh Thể diễn tả và củng cố niềm Hiệp Thông của chúng ta với HỘI THÁNH Trên NƯỚC TRỜI, là Đức Mẹ MARIA, và các Thánh Nam-Nữ.- Mầu Nhiệm Thánh Thể không làm chúng ta quên những thực tại trần gian như: kiến tạo Hòa Bình, xây dựng Tình Huynh Đệ, bảo vệ sự sống con người, giúp đỡ, chia sẻ cơm bánh với nghèo khó, săn sóc các bệnh nhân.

4. Bí Tích Thánh Thể Xây Dựng Hội Thánh (Coi: Chương II)

Ý Tưởng chính yếu trong Chương II này: Phép Thành Thể làm nên Hội Thánh là Nước của Chúa Cứu Thế nơi trần gian. Vì mỗi khi cử hành trên bàn thờ HY TẾ Thánh Giá, nhờ đó Chúa KYTÔ, Chiên Vượt Qua của chúng ta chịu hiến tế, (1Cor: 5,7) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện. Sau đây là diễn tả cách thức hoạt động và phát triển Hội Thánh theo dòng lịch sử: - Ngay từ thời sơ khai của Hội Thánh, sách Phúc Âm ghi rõ: Nhóm Mười Hai Tông Đồ tụ họp chung quanh Chúa GiêSu trong Bữa TIỆC LY (Mat 26,20; Mc 14,17; Lc 22,14). Các Vị Tông Đồ vừa là hạt giống của Giao Ước Mới, vừa là khởi đầu của hàng Giáo Phẩm. - Qua Bí Tích Thánh Tẩy, người tín hữu được trở nên chi thể của Chúa GiêSu, qua việc tham dự vào Hy Tế Tạ Ơn, tức Phép Thánh Thể, qua việc Rước Lễ, mỗi người được thông hiệp trọn vẹn với Chúa Cứu Thế và với các chi thể khác.- Do sự Hiệp Thông, Hiệp Nhất  đó, Hội Thánh được gọi là Bí Tích cho Nhân Loại, tức là dấu chỉ, dấu tích, và khí cụ mang lại Ơn Cứu Độ mà Chúa KyTô đã thực hiện, ánh sáng cho thế giới và muối cho trần gian (Mt:5, 13-16).- Sứ Vụ của Hội Thánh tiếp nối Sứ Vụ của Chúa KyTô. Vì thế, Thánh Thể là Nguồn Mạch và Chóp Đỉnh của mọi công cuộc rao giảng Phúc Âm, với mục đích là Hiệp Nhất nhân loại với Chúa Cứu Thế, và trong Người mà Hiệp Nhất với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. -Việc RƯỚC LỄ cũng làm cho sự Hiệp Nhất của Hội Thánh như là Nhiệm Thể Chúa KyTô được thêm vững chắc. Thánh Phao Lô viết: “Khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một tấm Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta chỉ là Một Thân Thể(1Cor 10:16-17). - Có thể nói: chân tính của Hội Thánh là một bí tích(sacrament), nghĩa là một dấu chỉ và công cụ của sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa và sự liên đới, hiệp nhất của toàn thể nhân loại. Do đó, Thánh Thể xây dựng Hội Thánh, đồng thời cũng kiến tạo một cộng đồng nhân loại hiệp nhất. - Vào cuối Chương này, Đức Giáo Hoàng khuyến khích chúng ta Tôn Sùng Thánh Thể ngoài Thánh Lễ , như: Chầu Thánh Thế, viếng Thánh Thể. Việc tôn sùng Thánh Thể đem lại nhiểu Ơn Ích thiêng liêng, và là nguồn sức mạnh tinh thần, đã được nhiều thánh nhân cổ võ, và nêu gương sáng.

5. Đặc Tính Tông Truyền của Bí Tích Thánh Thể và của Hội Thánh (Coi:Chương III)

Trong Kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng Hội Thánh: “duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Phép Thánh Thể cũng Thánh Thiện, và hơn thế nữa, là Bí Tích Cực Thánh. Nhưng trên hết, chính đặc tính TÔNG TRUYỀN, cần phải nêu lên như sau: - Hội Thánh là Tông Truyền, vì đặt nền tảng trên các Vị Tông Đồ, đã được Chúa Cứu Thế là Đấng Sáng Lập, uỷ quyền cho các Ngài được tiếp tục cử hành Thánh Thể trong suốt các thời đại. - Thánh Thể có tính Tông Truyền, vì trong hơn hai ngàn năm lịch sử, giáo huấn về Bí Tích Thánh Thể và việc cử hành phù hợp với Đức TIN của các Tông Đồ. - Đức Gioan Phao Lô II nhấn mạnh sự cần thiết của Bí Tích Truyền Chức Thánh cho các Vị Giám Mục, và các Linh Mục, để Hội Thánh tiếp tục công việc của các Tông Đồ là: dạy dỗ, thánh hóa và hướng dẫn cho đến khi Chúa KyTô lại đến. - Công Đồng Vatican II cũng diễn tả ý nghĩa Tông Truyền, về Chức Tư tế của các Linh Mục khi dạy rằng: Các tín hữu tham dự lễ tế Thánh Thể nhờ chức tư tế vương giả của họ (khi lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy), nhưng Linh Mục có Chức Thánh, “hành động trong tư cách của Chúa KyTô, cử hành Hy Tế Tạ Ơn và nhân danh toàn dân mà dâng lên Thiên Chúa.Vì thế, Sách Lễ Rôma qui định chỉ một mình Linh Mục đọc Kinh Nguyện Thánh Thể, trong khi dân chúng thinh lặng và lấy Đức Tin mà tham dự. - Chính Giám Mục, qua Bí Tích Truyền Chức Thánh, sinh ra một tư tế mới, bằng cách ban cho vị tư tế này quyền Truyền Phép Thánh Thể. Vì vậy, Mầu Nhiệm Thánh Thể không được cử hành trong bất cứ cộng đoàn nào, ngoại trừ bởi Linh Mục được truyền chức, như Công Đồng Lateranô IV đã dạy. - Thánh Thể là trung tâm và tột đỉnh của đời sống Hội Thánh, thì Thánh Thể cũng là trung tâm và tột đỉnh của thừa tác vụ Linh Mục. Công Đồng Vatican II dạy: “Đức ái mục tử phát sinh trước hết từ Hy Lễ Tạ Ơn (Thánh Thể), bởi vậy, Hy Lễ Tạ Ơn là trung tâm và là cội rễ toàn thể đời sống Linh Mục..- Bởi vậy, cần phải cổ võ Ơn Gọi Linh Mục, vì sự hiện diện của một Linh Mục thật cần thiết, chỉ mình ngài mới có đủ năng quyền để tế lễ trong tư cách của Chúa KyTô. Cũng vì vị trí quan trọng của Bí Tích Truyền Chức Thánh liên hệ mật thiết với Phép Thánh Thể, nên Đức Gioan Phao Lô II nhấn mạnh lòng tôn sùng Thánh Thể phải là căn bản của đời sống tâm linh, nội tâm của Linh Mục. Tôn sùng Thánh Thể là bổn phận ưu tiên và là nguồn gốc của mọi hoạt động mục vụ. Linh Mục cần tỏ ra lòng Tin Kính và Mộ Mến khi dâng Thánh Lễ, để làm gương sáng cho các người trẻ muốn theo Ơn Thiên Triệu

(còn tiếp)

Trở về mục lục >>

 

CẦU NGUYỆN VỚI THÁNH LỄ

Hoàng Quý

Cử hành Thánh Lễ Thiêng Liêng hay nơi Bàn Thờ Cuộc Sống?

Kính thưa quý độc giả,

Đã khá lâu chúng ta chưa trở lại với Mạng Lưới Cầu Nguyện, vì trước khi bắt đầu cầu nguyện với Thánh Lễ, chúng tôi muốn giới thiệu với quý độc giả hai bài viết mới mẻ và thâm thúy của Tiến sĩ Scott Hahn về Thánh Lễ: Nhận thức mới về Thánh Lễ, Câu chuyện về Hy Lễ. Hai bài viết này được rút ra từ cuốn sách nổi tiếng của ông hiện nay: "Bữa Ăn Tối của Con Chiên" đã được trình bầy trên tuần báo Maranatha số 24-29. Chúng tôi thiết nghĩ hai chương sách này của ông cũng đã tạm đủ để quý độc giả có được tầm nhìn mới vẻ và thâm sâu về Thánh Lễ. Với những hiểu biết này rồi, chúng ta thật dễ dàng đi vào phần cầu nguyện với Thánh Lễ.

Ở đây chúng ta không đề cập về việc cầu nguyện với việc cử hành Thánh Lễ ngay trong Thánh Đường hay trên Bàn Thờ, vì khi đó chúng ta đang trực tiếp tham dự vào việc cử hành Thánh Lễ theo phụng vụ hướng dẫn. Ở đây chúng ta đề cập về việc cầu nguyện với Thánh Lễ ngoài thánh đường và chúng ta tạm gọi là cử hành Thánh Lễ Thiêng Liêng hay nơi Bàn Thờ Cuộc Sống.

Ý niệm về cử hành Thánh Lễ Thiêng Liêng hay nơi Bàn Thờ Cuộc Sống chắc còn khá mới mẻ và lạ tai với nhiều người trong chúng ta? Trước đây khi còn nhỏ, chúng ta vẫn thường được các linh mục hay nữ tu hay giáo lý viên khuyên nhủ chúng ta hãy năng “Rước Lễ Thiêng Liêng”, nghĩa là trong ngày, bất luận lúc nào, mỗi tâm hồn cũng có thể hướng về Chúa và nài xin Chúa hãy đến “Ngự Vào Lòng Mình. Đó là một hình thức kết hiệp với Chúa thật tốt đẹp trong ngày. Đó là một hình thức cầu nguyện thật tuyệt vời! Tuy nhiên, hầu như ít ai trong chúng ta được nghe khuyên nhủ dâng “Thánh Lễ Thiêng Liêng” trong ngày sống cả!

Cảm tạ Chúa trong thời gian tôi lâm trọng bệnh cách đây hơn hai năm, cả mấy tháng trời nằm trên giường bệnh không đến thánh đường tham dự Thánh Lễ được, thế nhưng hàng tuần vẫn có các anh chị em thừa tác viên Thánh Thể đến trao Mình Thánh cho tôi. Trước mỗi lần rước Mình Thánh Chúa như vậy, tôi hình dung ra giường bệnh của tôi là nơi tôi cử hành Thánh Lễ Thiêng Liêng. Nơi đây, tôi đang nằm hướng tâm hồn về Chúa: - ca ngợi Ngài - sám hối tội lỗi của tôi và xin Ngài thương xót tôi - vinh danh Ngài - lắng nghe Lời Ngài nói với tôi qua bài Tin Mừng do người tác viên Thánh Thể đọc - dâng lên Ngài những lo lắng, đớn đau của tật bệnh - xin Mẹ Maria chuẩn bị cho tôi tiếp nhận Mình Thánh Ngài nơi bàn thờ tâm hồn tôi - sau cùng tôi dâng những lời yêu mến và cảm tạ hồng ân cao quý Ngài đến thăm và nuôi dưỡng tôi trên giường bệnh. Và như vậy, Thánh Lễ Thiêng Liêng được cử hành ngay trên bàn thờ cuộc sống của tôi.

Và vào đầu năm nay, năm 2004, khi tôi đọc cuốn "Bữa Ăn Tối của Con Chiên" của Tiến sĩ Scott Hahn, tôi được đánh động để hàng ngày phải năng dâng Thánh Lễ Thiêng Liêng trên bàn thờ cuộc sống của mình. Chỉ cần 5 hoặc 10 phút, tôi cũng có thể dâng lên Chúa một Thánh Lễ Thiêng Liêng.

Quả thực, Thánh Lễ Thiêng Liêng đã nằm trong tầm tay mà tác giả cũng như ít người trong chúng ta biết tận dụng: “Này đây Ta đứng truớc cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta. Sau đó, tôi còn mải nhìn, thì kìa, một cái cửa mở ra trên trời... (Kh 3:20, 4:1). Lúc nào Chúa cũng đứng ngoài cửa tâm hồn chúng ta và Ngài giơ tay ra gõ. Chỉ cần chúng ta mở cửa ra mời Ngài vào là chúng ta có thể cùng với Ngài cử hành Thánh Thể. Thật tuyệt diệu, lời sách Khải Huyền vừa rồi mở ra cho chúng ta nhìn thấy chân trời mới của Thánh Lễ như Giáo Chủ Gioan Phaolô II nhìn nhận: "Thánh lễ chính là một thiên cung trên trái đất, nghĩa là khi chúng ta cử hành nghi lễ phụng vụ này, chúng ta được tham dự một cách huyền diệu vào nghi lễ phụng vụ trên thiên cung."

Như vậy, khi tham dự Thánh Lễ trong thánh đường hay nơi bàn thờ cuộc sống của mỗi tâm hồn, chính là chúng ta được bước vào một thế giới huyền diệu mới, một thiên cung ngay tại trần gian này. Chỉ cần chúng ta hướng tâm hồn về Ngài theo lời chỉ dẫn của sách Khải Huyền mà Giáo hội Tiên khởi đã khám phá ra: "... thì kìa, một cái cửa mở ra trên trời..." là thiên cung đã đến với chúng ta.  Như thế, khi tham dự Thánh Lễ, cánh cửa thiên cung đang mở ra trước mắt chúng ta. Và như vậy, chúng ta hãy hình dung ra như mình được đưa vào thế giới của thiên cung, khi sách Khải Huyền mô tả cho chúng ta nhìn thấy bầu không khí trang trọng và vĩ đại của thiên cung: Chúa Cha ngự cao quang trên ngai, ngồi bên hữu Ngài là Con Chiên, bên dưới là tầng tầng lớp lớp thiên thần, các Thánh, muôn dân, muôn vật hằng chúc tụng ca ngợi Thiên Chúa như một ca đoàn hùng vĩ. Và trong ca đoàn vĩ đại ấy, hôm nay có chúng ta nữa!

Giờ đây chúng ta nhận ra kinh Tiền Tụng trong thánh lễ với lời tung hô: “Thánh, Thánh, Thánh, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh. Trời đất đầy vinh quang Chúa. Hoan hô Chúa trên khắp tầng trời, Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến...” chính là những lời chúc tụng của ca đoàn thiên cung hát dâng lên Thiên Chúa, được ghi lại trong sách Khải Huyền. Thế mà từ xưa tới nay, biết bao lần chúng ta đã hát Kinh Tiền Tụng này rồi, thế mà lòng chúng ta chưa vươn tới thiên cung, trái lại, vẫn mang nặng những gánh sầu đời của trần gian!

Thế thì, sau khi chúng ta đã hiểu được khi cử hành Thánh Lễ trong thánh đường hay thánh lễ thiêng liêng, thực sự chúng ta được hội nhập vào nghi lễ phụng vụ trên thiên cung, có nghĩa là chúng ta thực sự đang bước vào thiên cung ngay trên trần thế này rồi.

“Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.”

Trong Bữa Ăn cuối cùng với các môn đệ, Chúa Giêsu lập phép Thánh Thể với lời Truyền Phép vẫn được các vị chủ tế lặp lại trong Thánh Lễ: “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy. - Đây là Chén giao ước mới, lập bằng Máu Thầy, máu đổ ra vì anh em.” (Lc 22: 19-20). Ở đây Chúa truyền dậy cho mỗi chúng ta hãy cử hành Thánh Thể để tưởng nhớ đến Ngài. Dĩ nhiên là các giáo dân, chúng ta không được phép Giáo hội cho cử hành Thánh Thể như các linh mục trong thánh đường trước mặt muôn người, nhưng qua phép Rửa Tội, mọi tín hữu đều được ban quyền tư tế. Quyền tư tế của người tín hữu ở đây là hàng ngày: - dâng lên Thiên Chúa những lời chúc tụng ngợi khen - dâng lên Thiên Chúa những vui sướng, những khổ đau, những hy sinh, những lo toan, những công việc đang làm, những người thân yêu hoặc những người mình muốn cầu nguyện cho... - nài xin Chúa Thánh Thần tác động đem Con Chiên bị sát tế đến bàn thờ cuộc sống của chúng ta, để Ngài “bẻ ra” nuôi dưỡng chúng ta, như xưa Ngài đã bẻ ra cho các môn đệ trong phòng Tiệc Ly cũng như trong quán ăn tại làng Emmau.

Những gì con người không làm được, Chúa Thánh Linh làm được hết. Quả vậy, trong Thánh Lễ Misa, linh mục không thể biến hóa bánh và rượu trở thành Thịt và Máu Chúa Giêsu được, do đó trong Kinh Tạ Ơn, vị chủ tế phải cầu nguyện xin Chúa Thánh Linh đến tác động: “Vì thế, chúng con xin Cha đổ ơn Thánh Thần xuống mà thánh hóa của lễ này, để biến thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, cho chúng con được hưởng nhờ.” Thế thì với tính cách chúng ta là chủ tế trong Thánh Lễ thiêng liêng trên bàn thờ cuộc sống của mình, chúng ta cũng nài xin Chúa đổ ơn Thánh Thần xuống thánh hóa của lễ là đời sống chúng ta cho đẹp lòng Thiên Chúa và tiếp theo đó, chúng ta xin Ngài nuôi dưỡng chúng ta bằng Thịt và Máu Con Chiên bị sát tế. Vai trò của Chúa Thánh Linh quả thật trọng yếu trong việc cử hành Thánh Lễ trong thánh đường cũng như trong Thánh Lễ thiêng liêng. Chính Ngài nối kết, hòa nhập chúng ta vào Chúa Giêsu.

Như vậy thi hành lệnh truyền "tưởng nhớ" đến Chúa không phải chỉ được thể hiện trên Bàn Thờ nơi thánh đường, nhưng còn có thể thực hiện liên tục trong các tâm hồn mọi tín hữu qua các Thánh Lễ Thiêng Liêng. Như vậy, mỗi lần tưởng nhớ đến Chúa trong Thánh Lễ Thiêng Liêng là một lần chúng ta thể hiện giao ước tình thương của Ngài trong cuộc sống chúng ta, một giao ước ban ơn cứu độ cho chúng ta.

Cách thức cầu nguyện với Thánh Lễ

Qua hai bài viết của Tiến sĩ Scott Hahn chúng tôi đã trình bầy trong các số báo vừa qua, và qua hai phần gợi ý vừa rồi về việc cử hành Thánh Lễ Thiêng Liêng hoặc trên bàn thờ đời sống, giờ đây chúng tôi xin giới thiệu một số cách thức chúng tôi đã áp dụng khi cử hành Thánh Lễ này. Cử hành Thánh Lễ Thiêng Liêng này không bị hạn định nơi chốn hoặc thời gian, do đó, chúng ta có thể cử hành bất cứ lúc nào, một ngày mấy lần cũng được, kéo dài từ năm phút hoặc đến hàng giờ, tùy theo hoàn cảnh của mỗi người, mỗi lúc.

Cũng như những cách thức cầu nguyện chúng tôi đã giới thiệu trước đây trên Mạng Lưới Cầu Nguyện, chúng ta lần lượt đi theo những tiến trình sau đây:

1/ Ngồi, quỳ, đứng hoặc nằm (trường hợp bệnh hoạn hoặc trên giường ngủ), chúng ta giữ trong tư thế thiền định, nghĩa là giữ tư thế ngay ngắn, nghiêm trang, tĩnh trí bằng cách điều hòa hơi thở. Chúng ta có thể giơ hai tay lên khi hít vào mời Chúa, mời Mẹ Maria ngự vào lòng chúng ta, trong lúc bàn tay từ từ áp vào tim. Rồi dần dần thở ra khi hai bàn tay xuôi xuống hai đùi và xin Chúa xua đuổi tà khí, bệnh tật, chia trí ra khỏi con người chúng ta. Chúng ta có thể lập lại những động tác đó mấy lần cũng được.

2/ Chúng ta hình dung ra khung cảnh thiên cung như sách Khải Huyền mô tả có Chúa Cha ngự ở trên cao oai nghi, bên hữu là Con Chiên (Chúa Giêsu) và chung quanh là hàng hàng lớp lớp thiên thần, các thánh, muôn người và giống vật đang hân hoan ca ngợi Thiên Chúa. Và giờ đây được cùng tham dự vào ca đoàn vĩ đại này ca ngợi Thiên Chúa bằng lời ca tiếng hát của chúng ta qua các bản thánh ca như: “Thánh, Thánh, Thánh, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh. Trời đất đầy vinh quang Chúa. Hoan hô Chúa trên các tầng trời...” - hoặc bài: “Ca lên đi thần thánh trên thiên đàng hiển vinh, mừng Chúa yêu thương trần gian đến muôn ngàn lời. Ca lên đi, chúc tụng Chúa cả uy quyền, trần hoàn ơi ca lên đi, triều thần ơi ca lên đi” - hoặc bài “Chúng con xin ngợi khen Cha. Chúng con xin tạ ơn Người. Bây giờ và mãi mãi. Alleluia...”

                                    Trở về mục lục >>

LỜI CẦU CHÚC ĐẦU NĂM

 

“Xin gửi đến Bạn lời cầu chúc vừa đủ, vừa đủ thôi:

Vừa đủ HẠNH PHÚC để giữ tâm hồn Bạn được ngọt ngào

Vừa đủ THỬ THÁCH để giữ cho Bạn luôn kiên cường

Vừa đủ MUỘN PHIỀN để giữ cho Bạn thật sự là người,

Vừa đủ HY VỌNG để cho Bạn được hạnh phúc

Vừa đủ THẤT BẠI để giữ Bạn mãi khiêm nhường

Vừa đủ THÀNH CÔNG để giữ Bạn mãi nhiệt tâm

Vừa đủ BẠN BÈ để cho Bạn được luôn an ủi

Vừa đủ VẬT CHẤT để đáp ứng các nhu cầu cuộc sống của Bạn

Vừa đủ NHIỆT TÌNH để Bạn có thể chờ đợi trong hân hoan

Vừa đủ NIỀM TIN để xua tan những khi Bạn chán nản ngã lòng

Vừa đủ QUẢ QUYẾT để mỗi ngày của đời Bạn sẽ tốt đẹp hơn ngày hôm trước

Và vừa đủ TÌNH YÊU để Bạn có thể thực hiện tất cả những điều này...”

 

Trích Trang Liên Lạc CVK

 

 


TÂM TÌNH BẠN ĐỌC

 

LTS: Trong 2 tuần qua, Maranatha đã nhận được điện thư, thiệp chúc mừng lễ Giáng Sinh- Năm mới 2005, xin đổi địa chỉ email, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:

 Antôn Phạm Khánh Linh, Phạm Hùng Sơn – Anh Em Cựu Chủng Sinh Kontum, M. Cecilia - Cộng Đoàn Con Đức Mẹ Đi Viếng Bình Tuy, John of God Khổng Đức Nhuận, Phượng Hoàng, Ca Đoàn Cecillia, Hoàng Văn Phan, Nghê Thi Tuyết Trang, Sr. Lucia Nguyễn Ngọc Tuyền, Nguyễn Văn Nội, Lm. Nguyễn Công Minh-OFM, Sr. Kim Liên - FMV, Văn Sang, Rosa Vũ, Tu Sĩ Trần Văn Dương, Lê Công Đa, Nguyễn Văn Tính, Lm.Nguyễn Xuân Đạt, Kym Trang - Nguyệt San Dân Chúa Châu Âu, Chị Em Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ, Thanh Phạm, Francois Hồng, Lm. Jos. Hoàng Văn Đoàn, Chúc Phạm,  Sr. Maria Vũ, Nhân Từ…

ĐÍNH CHÍNH:

Trong số báo Manaratha_31, phần Học Hỏi, bài VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN  TRỜI, trang 20, của tác giả  Nguyễn Công Bình có câu:

"Ðồng đẳng với câu 15A là câu 15B của nhạc sĩ Hùng Lân trong bài Hang Bê Lem.  Trong câu trước, nhạc sĩ giải thích, câu sau ca vang Vinh Danh Chúa và cầu xin An Hòa. Ta cùng hát:

Ngày nay Con Chúa  -  giáng sinh ra chốn gian trần

Người đem ơn phúc  -  xuống cho muôn dân lầm than

        Nơi hang Bê Lem thiên thần xướng ca : Thiên Chúa Vinh Danh  chúng nhân An Hòa"

 

  Tác giả Bài Hát Hang Be Lem là Hải Linh thay vì Hùng Lân. Xin đính chính và cáo lỗi cùng quý độc giả và kính cám ơn Lm. Nguyễn Công Minh, OFM đã lưu ý và nhắc nhở.

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích    lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.

Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

Trân trọng,  

MARANATHA

Trở về mục lục >>

 

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một số thư và lời chúc qua các thiệp điện tử đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

  • Tôi tên là Phan Văn Hoàng, Austin, Texas, Giáo xứ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO Việt Nam. Tôi hiện hoạt động LIÊN MINH THÁNH TÂM, Cursillo, nhóm chia sẻ Lời Chúa, thừa tác viên Thánh Thể. Nên tôi rất muốn đọc sách báo đạo đức, chia sẻ Lời Chúa… để sống  với Chúa bình an hơn…đây lần đầu tiên biết về tuần báo MARANATHA do bác Nguyễn Thanh Định tại Austin giới thiệu. Chào quí vị trong tình thương Thầy Chí Thánh.  Phan Hoàng.

  • Kính chúc Quý Bạn một mùa Giáng Sinh Hạnh Phúc, Bình An của Chúa Hài Nhi. Độc giả Đa Minh Tam Hiệp.

  • Thật là vui mừng vô cùng vì nhận được những dòng chữ vô cùng tâm tình của anh chị toà soạn như thế này. Em xin chân thành cám ơn. Em hiện đang ở Đà Nẵng, Việt Nam. Hiện tại thì em đang đi làm tốt nghiệp và đã sắp ra trường, nếu đẹp lòng Chúa thì có lẽ ra Tết này em sẽ được nhận vào Dòng. Hiện tại thì em có điều kiện hơn rất nhiều người bởi vậy em rất mong muốn có thể giúp đỡ những anh chị em quanh mình có điều kiện gần Chúa hơn, và báo Maranatha này là một trong những việc đó. Một lần nữa em xin cám ơn các anh chị và em sẽ giới thiệu địa chỉ này cho các bạn của em. Xin Chúa Hài Đồng chúc lành cho quý anh chị và công việc anh chị đang thực hiện.  Antôn Phạm Khánh Linh.

  • Trong niềm hân hoan của nhân loại mong đợi Con Chúa Giáng Trần, MariaCecilia gửi lòi Chúc Mừng đến Ban Biên Tập lời CÁM ƠN rất chân thành. Xin Chúa Hài Nhi tuôn muôn phúc lành xuống trên qúy vị và một Năm sức khỏe dồi dào, an bình và hạnh phúc. Mến chào, Ca Đoàn MariaCecilia.

  • Tôi là Tu Sĩ Trần Văn Dương, Dòng Thánh Tâm Huế, tôi xin trình bày với toà soạn: Chúng tôi là Dòng Thánh Tâm nên hàng tháng có giờ Đền Tạ. Hiện giờ chúng tôi có 1 mẫu của cha Tuan Tri để giúp cho việc làm Giờ Thánh này. Bây giờ chúng tôi muốn có thêm những mẫu khác để thay đổi. Không biết toà soạn có mẫu nào để giúp cho việc đền tạ Trái Tim Chúa Giêsu không? Nếu có, xin toà soạn vui lòng gởi cho chúng tôi, còn nếu không, tòa soạn có thể giới thiệu cho chúng tôi địa chỉ nào đó để tìm hoặc để xin. Xin cám ơn toà soạn. Tu Sĩ Trần Văn Dươn

  • Kính Cầu Chúc Quý Cha, Qúy Anh Chị và Các Bạn chủ trương Tuần Báo MARANATHA một Mùa Giáng Sinh và Năm Mới an lành trong Hồng Ân Thiên Chúa. Trong lời dạy của Đức Thánh Cha, “Bí tích Thánh Thể thôi thúc cộng đoàn dấn thân cách tích cực vào việc xây dựng một xã hội công bằng và huynh đệ hơn."  Xin gởi đến quý vị lời cầu chúc "Bình An Dưới Thế Cho Người Thiện Tâm.” Lê Công Đa.

  • Kính chúc BBT báo MARANATHA một mùa GS tràn đầy Thánh Ân và một Năm Mới  2005 An Bình, Vui Tươi, Thành Đạt. Xin hết lòng cám ơn BBT Báo Maranatha vì tất cả những gì tôi đã nhận được từ trước đến nay. Nguyễn Văn Tính.

  • Trọng kính, Nhân dịp Đại Lễ Giáng Sinh, kính chúc Ban Biên Tập MARANATHA nhiều ơn Chúa trong Đêm Thánh, một Mùa Giáng Sinh Thánh Đức, An Bình, Năm Mới Ất Dậu nhiều Ơn Lành hồn xác của Thiên Chúa và luôn là Ban Biên Tập quý yêu của mọi độc giả MARANATHA. Kính chúc, Lm. Giuse Nguyễn Xuân Đạt - Tòa Giám Mục Nha Trang.

  • Tôi đã đọc rất nhiều tin trên mục bài viết của Maranatha. Nhưng tôi thường truy cập vào địa chỉ của máy công cộng. Nay tôi xin các tác giả gởi các bài viết này cho tôi theo địa chỉ trên. …Tôi thấy đây là một tờ báo không những giúp ích cho Đạo mà thôi, nhưng còn giúp ích cho những người sống ngoài Kitô giáo. Rất mong sự trợ giúp của quý vị trong tòa soạn. Cám ơn quý vị và chúc Tòa soạn một mùa Giáng Sinh tràn đầy lộc thánh Chúa Hài Nhi, một Năm Mới tươi vui hạnh phúc.Francois Hồng.

  • Chân thành cảm tạ và kính chúc tất cả biên tập viên Maranatha Giáng Sinh và Năm Mới tràn đầy tin yêu và hăng say phụng sự. Xin gửi thiệp chúc của Dân Chúa (Lm. Stephanô Bùi Thượng Lưu, TM/ Ban Điều Hành Nguyệt San Dân Chúa Âu Châu) Kym Trang.

  • Merry Christmas. Xin chân thành cám ơn đã gửi báo cho chúng tôi rất đều. Nhờ những bài chia sẻ rất sâu sắc đã giúp chúng tôi rất nhiều trong công tác mục vụ và giúp cho những ơn gọi trẻ. Trong niềm vui đón mừng Chúa Giáng Sinh, kính chúc quý cha, quý tu sĩ và quý anh chị em trong ban biên tập một Mùa Giáng Sinh bình an, vui tươi và chan hoà ánh sáng của Đấng Emmanuel. Một Năm Mới tràn đầy ân thánh và mọi điều thiện hảo. Để qua những bài chia sẻ quí anh chị trở thành tấm bánh bẻ ra mãi để nuôi sống muôn người hầu làm Vinh Danh Chúa hơn nữa. Kính chúc. Chị Em Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ.

  • Kính gửi Maranatha. Xin gửi báo cho tôi. Cám ơn. Chúc năm mới nhiều tốt đẹp và thịnh vượng. Văn Sang.

  • Nhờ người quen giới thiệu, con đã được đọc một số báo. Nếu không có gì trở ngại, xin cho con được đăng ký nhận báo để nghiên cứu và tìm hiểu thêm. Con xin chân thành cám ơn. Lm. Jos. Hoàng Văn Đoàn.

  • Tâm tình đầu tiên phải có là những lời cảm tạ tri ân công sức rất ư là vất vả của các anh chị trong Ban Biên Tập đã moi óc vắt tim để cho chúng em, những người sống Thánh hiến giữa đời có một kho tư liệu về đạo Chúa. Hành trình sống và làm việc tông đồ của chúng em không thể dừng lại ở những gì đang có, chúng em vẫn muốn vươn lên. Quả thực chúng em đang mỗi ngày mỗi khôn ra nhờ vào kiến thức chúng em đọc được trên trang báo Maranatha. Trong niềm hân hoan chào đón Con Chúa Giáng Trần, em xin kính chúc Quí anh, Quí chị nhiều sức khoẻ, niềm vui và sự an bình. Trên hành trình các anh chị đang đi và dĩ nhiên có công sức của các cộng tác viên đang ngày đêm viết bài gửi đến, có chúng em đang đồng hành với quí vị bằng Lời Cầu và bằng sự tiếp nhận những kiến thức trên từng trang báo. Và …em muốn góp ý để cho trang báo thêm phần vui vui chúng ta thỉnh thoảng cũng nên có những câu chuyện dí dỏm… KimLiên, F.M.V.

  • Nguyện xin Thiên Chúa ban nhiều Ơn Lành cho toàn thể Quý vị trong Năm Mới. Nhân tiện, xin Quý Vị có thể giúp chuyển Maranatha cho Cộng Đoàn Tập Viện Nữ Tu Bác Ái, Đà Lạt,  địa chỉ...Xin cám ơn quý vị rất nhiều. Thanh Phạm.

  • Chúc Mừng Năm Mới 2005 tới quý vị. Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành và ban muôn hồng ân tới quý vị và gia đình của quý vị. Tôi rất hân hạnh được quý vị chiếu cố gửi cho tôi số báo MARANATHA 31 với những tâm tình thánh thiện và những bài suy niệm thật sâu xa trong Mùa Giáng Sinh. Xin chân thành cám ơn quý vị. Xin Chúa Giêsu Hài Đồng và Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse chúc lành đặc biệt cho BÁO và ban cho việc truyền bá Đức Tin mỗi ngày một phát đạt, đem tình thương và Lời Chúa đến cùng bờ cõi trái đất. Xin cám ơn quý vị. Sr. Maria Vũ.

  • Chúc Mừng Năm Mới 2005 tới quý vị. Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành và ban muôn collection. I have already purchased the "Ngài Đã Gọi Họ" and loved it. So I was wondering if you can send me a collection or a website so I can purchase more from you. Cám ơn. Chúc Phạm.

  • Tôi xin đăng ký nhận tin tức Công Giáo của Quý Vị để học hỏi hơn trong đời sống Đức Tin của mình. Chân thành cám ơn Quý Vị. Rosa Nhung.

  • Con là một độc giả của DAKBLA, và thấy hữu ích trong việc suy gẫm, học hỏi. Đựơc biết có tạp chí MARANATHA, con mong có thể nhận được e-magazine này để có thêm tư liệu và nuôi dưỡng đời sống tâm linh. Cám ơn quí vị nhiều và xin Thiên Chúa ban ân lành trên chức vụ Ngài trao. Nhân Từ.

Trở về mục lục >>

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn