CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN CUỘC CÁCH MẠNG GIÁO HỘI:

CHỊU THANH TẨY NHƯ CHÚA KITÔ

Aloysius Pieris S.J.

Trần Duy Nhiên dịch

Schillebeekx lưu ý rằng hành động ngôn sứ đầu tiên của Đức Giê-su là nhận phép rửa từ tay Gioan. Hành động này đã gây bối rối lâu dài cho thế hệ Kitô hữu đầu tiên: họ bối rối vì Đức Giê-su, Đấng mà những kẻ theo Người tôn thờ là Chúa và là Đấng Kitô, lại nghĩ rằng mình nên khởi đầu sứ mạng Messia bằng cách trở nên người môn đệ của Gioan Tẩy Giả. Hệ quả Giáo hội học của biến cố này chưa được đánh giá đúng mức trong Giáo hội hiện nay. Do đó tôi mong rút ra ít nhất là bốn nguyên tắc hướng dẫn sứ mạng của Giáo hội địa phương ở Á châu.

Thứ nhất, tôi nhận thấy rằng Đức Giê-su đứng trước nhiều dòng tôn giáo cổ truyền khi Người đáp lại tiếng gọi ngôn sứ nơi Người. Không phải loại tôn giáo nào cũng lôi cuốn Người đâu. Qua phản ứng của Người, ta kết luận rằng ý thức hệ hẹp hòi của phong trào Zêlốt không hấp dẫn Người. Đường lối gò bó khép kín của phái Essen cũng không mảy may tác động trên Người. Người phê phán không úp mở nếp sống tự mãn của những người biệt phái. Nhưng mâu thuẫn giữa Người và phái Sađuxê chứng tỏ rằng Người khó mà đồng tình với lối hành đạo mang tính chất thượng lưu của một ‘giai cấp nhàn rỗi.’Trên hết, Đức Giê-su khám phá linh đạo chân chính và điểm khởi hành thích hợp cho sứ mang ngôn sứ của mình nơi truyền thống (sát với Thứ luật), là đường lối khổ hạnh ngôn sứ mà Gioan Tẩy giả là người đại diện. Qua việc chọn lựa hình thức tôn giáo mang mầm giải phóng này và loại trừ những hình thức khác mang tính nô dịch. Người chọn một hình thức cởi mở mà những Kitô hữu chúng ta ở châu Á luôn được mời gọi thực thi, bởi vì chúng ta luôn phải đối diện với dòng ý thức hệ và tôn giáo đa dạng.

 Thứ hai, qua biến cố này ta cảm thấy ngay tác động hỗ tương giữa linh đạo của bản thân Gioan và linh đạo của những người theo ông. Gioan Tẩy giả đại diện cho linh đạo ‘xuất thế’ một cách cực đoan. Ta biết rằng ông sống ‘với thiên nhiên’ hơn là ‘trong xã hội’.  Thức ăn và y phục của ông – những thứ ông nhặt nơi hoang địa – là biểu tượng cho tinh thần khổ hạnh đóng kín. Nhưng Tẩy giả đã không áp đặt điều đó lên người chịu thanh tẩy. Những người này là những người thấp cổ bé miệng, những ‘người nghèo’ ở ngoài lề xã hội, những người bị lăng nhục nhưng lại là những kẻ có tội biết ăn năn, những anawim (kẻ bé mọn). Lời rao giảng và nếp sống của Gioan đánh động họ nên họ sẵn sàng đón nhận Tin mừng về sự giải phóng sắp đến: như thế, người nghèo cũng có ‘một linh đạo’ của riêng mình.

Do đó, chính tại sông Giođan này là nơi hội tụ của hai dòng linh đạo, khi Đức Giê-su đứng trước Tẩy giả và những người được thanh tẩy. Chính bản thân Đức Giê-su cũng sắp sửa đi vào kinh nghiệm hoang địa của lối sống khổ hạnh khép kín, và Người đã đến với Gioan, không phải để thanh tẩy người khác, mà để được thanh tẩy:  như thế, Người đã tự đồng hoá với ‘người nghèo theo bình diện tôn giáo’, những người sống ngoài lề xã hội.

Hệ quả Giáo hội học của biến cố ‘Kitô học’ này thật là rõ ràng: các Giáo hội địa phương ở châu Á có sứ mạng trở nên giao điểm giữa linh đạo siêu vũ trụ của các tôn giáo tu hành và tôn giáo vũ trụ của quần chúng nông dân để trở nên nơi hội tụ của các lực lượng giải phóng của cả hai truyền thống, đồng thời loại trừ tinh thần vua chúa của giai cấp nhàn rỗi của các tôn giáo siêu vũ trụ và tinh thần dị đoan trong tôn giáo vũ trụ. Đây là phương pháp thi hành sứ mạng Tin mừng mà ta học được nơi Đức Kitô.

Nguyên tắc thứ ba, tôi mong đưa ra đây ý kiến giải thích vấn đề Giáo hội mất uy tín là nguyên nhân của sự khủng hoảng trong việc loan báo Tin mừng hiện nay.

Hành động ngôn sứ đầu tiên của Đức Giê-su – cũng như mọi lời nói việc làm ngôn sứ khác – là một hành động ‘tái xác định tính trung thực’ của mình. Ngôn sứ nói và hành động nhân danh Thiên Chúa và nhờ uy quyền của Người. Nếu cần phải có một biến cố chứng minh uy quyền đó, thì ngôn sứ ấy sẽ không là ngôn sứ.  Đức Giê-su đã khiêm nhu đặt mình dưới phép rửa của Gioan, hành động đó làm cho các Kitô hữu tiên khởi bối rối nhưng đồng thời cũng cho họ thấy uy tín của Người trước mặt mọi người, uy tín để rao giảng một triều đại giải phóng của Thiên Chúa sắp khai hoa trên những kẻ bé mọn khiêm nhường (anawim). Chính nhờ hành động khiêm nhường này mà Thiên Chúa xác nhận trước mặt người nghèo rằng Người đáng tin tưởng : ‘hãy nghe lời Người’, giây phút này là giây phút ngôn sứ vì đó là lúc mà Người vừa ý thức về sứ mạng Messia của mình lẫn sự bảo chứng về tính khả tín của sứ mạng Người trước mặt quần chúng. Ước gì Giáo hội địa phương ở châu Á cũng khiêm nhường như vị hôn phu và Chúa của mình. Ước gì Kitô hữu chúng ta tìm cách được thanh tẩy hơn là đi thanh tẩy kẻ khác.

Còn ‘lý thuyết về sự hoàn thành viên mãn’ của các tổ phụ trong Giáo hội, cái lý thuyết giờ đây được Vaticanô II làm sống lại (mà tôi đã nhiều lần phê phán) là xếp các tôn giáo khác vào loại linh đạo ‘tiền Kitô giáo’ và cần phải được ‘hoàn thành viên mãn’ qua nỗ lực truyền giáo của Giáo hội. Dựa theo thuyết này, một vài chuyên gia truyền giáo (phương Tây) nói đến sự cần thiềt phải ‘thanh tẩy’ những tôn giáo và văn hoá ‘tiền Kitô giáo’ hơn là nói đến mệnh lệnh ngôn sứ buộc ta phải trầm mình trong dòng nước thanh tẩy của các tôn giáo châu Á, là những tôn giáo đã được khai sinh trước Kitô giáo. Thực ra, Giáo hội địa phương ở châu Á cần được ‘nhập môn’ vào các truyền thống tiền Kitô giáo dưới sự hướng dẫn của các guru (thầy). Nếu không, Giáo hội sẽ tiếp tục là một thế giới phẩm trật đầy tràn ‘uy lực’ nhưng thiếu hẳn ‘uy tín’. Chỉ khi nào Giáo hội trầm mình trong dòng sông Giođan của tinh thần tôn giáo châu Á thì lúc đó mới được nhìn nhận là một tiếng nói đáng được mọi người lắng nghe: ‘hãy nghe lời Người’.

Khủng hoảng truyền giáo chỉ được giải quyết khi nào Giáo hội chịu thanh tẩy trong truyền thống giải phóng lưỡng diện của các bậc chân tu và của nông dân châu Á. Giống như Thầy mình, Giáo hội hãy ngồi dưới chân các bậc guru châu Á, không phải với tư cách là một ecclesia docens (Giáo hội dạy dỗ) mà là một ecclesia discens (Giáo hội học hỏi), mất hút giữa những ‘người nghèo theo bình diện tôn giáo’ ở châu Á, giữa những anawim đi đến với các guru để tìm kiếm vương quốc thánh thiện, công chính và đấy chỉ là những khởi xướng biểu trưng. Chỉ có cách là Giáo hội định chế phải tự phóng mình xuống dòng sông: nếu không, Giáo hội khó có hy vọng trở thành một lời mạc khải mà người châu Á đọc ra như dấu chỉ cứu độ khả tín.

Nguyên tắc thứ tư, sẽ là một giải đáp cho ‘vấn đề chân tính’ mà nguyên tắc thứ ba đã gợi lên. Cả phương Tây lẫn các Giáo hội địa phương (thuộc phương Tây) ở châu Á sợ rằng điều nêu trên sẽ là một đe doạ trầm trọng cho chân tính của mình, của người Kitô hữu trong cộng đoàn tín hữu. Nếu nhìn kỹ, ta sẽ thấy rằng lý do của sự sợ hãi đó là phải chọn một quan điểm chính đỉnh khi thấy rõ quá khứ (với những sai lầm) mà chưa thấy tương lai (một Giáo hội đậm chất Á châu) phải được xây dựng ra sao.

Trước kia, theo mẫu của quá khứ, chất Tây phương được kết liền với chất Kitô giáo. Vì thế trong Giáo hội tương lai người ta muốn rằng tính chất Á Đông phải được gắn liền với ‘chất Kitô giáo’. Thực chất Kitô giáo chưa bao giờ tự nó là ‘trung lập’ có thể lọc bỏ những yếu tố Tây phương và thêm vào các yếu tố Á châu. Tính chất đó phải xuất từ chính bản chất của Giáo hội địa phương, nghĩa là cùng một lúc vừa mang tính chất Giáo hội vừa mang tính chất điạ phương.

Về điểm này, cũng như mọi điểm khác, Giáo hội cần trở về nguồn: trở về với Đức Giê-su Kitô, Đấng đã dạy chúng ta nguyên tắc đánh mất bản thân để tìm lại bản thân. Điển hình rõ nhất là việc Người chịu thanh tẩy trong sống Giođan. Đấy chính là nguyên tắc thứ tư để thi hành sứ mạng, Người đã đánh mất chân tính của mình giữa những kẻ bé mọn nhưng là kẻ tội lỗi biết ăn năn và giữa những ‘người nghèo trên bình diện tôn giáo’ nơi đất nước Người. Vì thế nà Người đã phục hồi cho chính mình và cho những người quanh chân tính đó: Người là con Thiên Chúa đến giải phóng chúng ta khỏi tội lỗi. Người là ‘Con rất yêu dấu’ ta cần phải lắng nghe, Người là Messia mới, đem đến một sứ điệp mới và một phép rửa mới.

Linh đạo của Gioan theo đúng truyền thống nhưng vẫn còn tiêu cực; linh đạo của Đức Giê-su tích cực và hoàn toàn mới. Gioan chúc dữ những người tự mãn trong việc hành đạo và các nhà lãnh đạo chính trị. Đức Giê-su đã thêm vào lời chúc phúc và niềm hy vọng cho người nghèo bên lề xã hội và người có tội bị lăng nhục. Gioan Tẩy giả tuyên bố tin dữ về một cuộc tuyên án sắp đến, nhưng Đức Giê-su, người đã được ông thanh tẩy, loan tin lành về một cuộc giải phóng nay mai:  Người Con Chí Ái muốn ban phép Rửa qua thập giá của bản thân mình hầu thế giới được hoán cải. Gioan cho rằng cần trở nên thành viên của một cộng đoàn tuyển chọn thì sẽ được cứu rỗi và ông đòi phải có sự hoán cải cá nhân. Đức Giê-su thì biến đổi những người được hoán cải đó thành một cộng đoàn yêu thương.

Vâng, có một sự thay đổi tận gốc trong nếp sống mà Đức Giê-su chọn lựa so với nếp sống của Gioan Tẩy giả: Gioan đến không ăn không uống, Con Người đến dự tiệc cùng với người tội lỗi. Sau khi đã trầm mình trong dòng linh đạo xưa, Người đã đứng lên với sứ mạng mới của riêng mình: một cuộc thanh tẩy mới sẽ đem lại cho chúng ta thực chất Kitô giáo và tính chất mởi mẻ của Kitô giáo mà ta tìm kiếm ở châu Á. Chẳng phải vì sợ mất chân tính của mình mà Giáo hội địa phương không khám phá ra thực chất của chính mình sao? Chẳng phải vì sợ chết mà Giáo hội không sống sao? Tính chất mới mẻ của Kitô giáo châu Á chỉ lộ diện như kết quả của sự dấn thân trọn vẹn của chúng ta vào cuộc sống và khát vọng của những người nghèo, những anawim ở Á châu

 

Trở về Muc Lục