|
|
Số 33, Ngày 15-1-2005
Nhiệm Tích Thánh Thể & Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II - Lm. Cao Phương Kỷ Giáo Dân Thời Giáo Hội Sơ Khai – Viên Gạch Xây Dựng - Lm. Phêrô Phan Đình Cho Thờ Phượng Thiên Chúa Theo Cách Mới Mẻ Của Đức Giêsu - Nguyễn Chính Kết Khiêm Nhường và Yêu Thương - Lm. Vũ Xuân Hạnh Cảm Nghiệm Về Đại Họa Sóng Thần - Hoàng Quý Những Thắc Mắc Của Tâm Hồn Con Người - Philippe Madre - Thái Văn Hiến dịch Thức Tỉnh - Lm. Anthony De Mello – Maranatha dịch Tâm Tình Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc
Kính thưa quý độc giả Tsunami đã ập vào Đông Nam Á. Tsunami đã rút lui được ba tuần rồi. Các phương tiện truyền thông đã bắt đầu xếp cơn sóng thần vào hồ sơ lưu trữ. Thế nhưng vết thương vẫn còn đấy đối với hàng trăm ngàn người đang tiếp tục sống trong khổ đau vì mất mát thân nhân, mất mát tài sản, và ngày mai vẫn là một đêm tối triền miên. Chẳng những thế, câu hỏi về ‘nỗi khổ’ của thân phận con người cứ tiếp tục lan tràn trên khắp thế giới như một làn sóng vô hình, để rồi nhiều người bị dằn vặt vì một vấn đề muôn thuở: nỗi khổ của nhân loại và của từng người là một thực tế không thể nào tránh né được. Đức Phật nêu lên tám cái khổ của con người. Người ta khổ vì sinh ra và sống, vì già, vì bệnh, vì chết, khi yêu mà xa nhau, khi mong mà không được, khi ghét mà gần nhau, khi năm yếu tố con người phát huy quá mạnh. Nói theo ngôn ngữ Phật Giáo, ‘bát khổ’ là ‘sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ, ngũ ấm (ngũ uẩn) xí thạnh khổ.’ Trong ngôn ngữ Việt Nam, ít ra là có năm cái khổ khác: đau khổ, buồn khổ, nghèo khổ, đói khổ, cực khổ. Không biết tự bao giờ, người ta gắn năm yếu tố ‘đau, buồn, nghèo, đói, cực’ với ‘nỗi khổ’, để rồi dần dần con người xem ‘đau, buồn, nghèo, đói, cực’ là nguyên nhân chủ yếu của nỗi khổ, vì thế, muốn diệt khổ thì phải làm cho con người hết ‘đau, buồn, nghèo, đói, cực.’ Lối suy nghĩ này vô tình đã đem đến nhiều hệ quả phức tạp: 1. Người ta không thể nào diệt cho hết cái đau, cái buồn, cái nghèo, cái đói, cái cực, nên từ đó người ta kết luận rằng ‘cái khổ’ là điều không thể diệt được. 2. Nhưng còn nước còn tát: người ta đem hết sức mình để xóa bỏ cái ‘đau, buồn, nghèo, đói, cực’, để rồi khi giảm thiểu những người ‘đau khổ, buồn khổ, nghèo khổ, đói khổ, cực khổ’ nhân loại lại thấy xuất hiện những người ‘mạnh khổ, vui khổ, giàu khổ, no khổ, khoẻ khổ.’ Cứ đếm lại số người giàu tự tử thì biết rằng ‘giàu khổ’ không phải là điều bịa đặt. Cứ nhìn bao nhiêu người thất nghiệp trên thế gian, những người không có việc gì làm để mà ‘cực’, thì thấy rõ thế nào là ‘khoẻ khổ’. Và như thế, nỗi khổ vẫn còn nguyên. 3. Người ta quên rằng ‘đau, buồn, nghèo, đói, cực’ có thể là một điều cần thiết cho sự sống, vì đấy thường là hồi chuông báo động để cho cuộc sống được duy trì. Ví dụ: về mặt thể lý, cái đau của một bộ phận giúp người ta ý thức được sự bất ổn của bộ phận ấy để mà chạy chữa; nếu không có cái đau, hẳn bộ phận ấy sẽ chết, và kéo theo cái chết của cả một con người. Về mặt tinh thần, cái đau khi phải mất một người thân giúp ta ý thức được những mối liên hệ tinh thần giữa người với người, mà thiếu chúng thì con người trở thành gỗ đá, hay một động vật sống bằng bản năng. 4. Mặt khác, người ta không đế ý rằng có một lớp người ‘đau sướng, buồn sướng, nghèo sướng, đói sướng, cực sướng’; hay nói cách khác, có những người ‘đau, buồn, nghèo, đói, cực’ mà thấy rằng mình hạnh phúc. Điều này đã được Chúa Kitô nêu rõ từ 2000 năm trước, khi Ngài khẳng định trong Bài Giảng Trên Núi: “Hạnh phúc cho anh em là những người nghèo khó, người đói khát, người buồn sầu (khóc lóc), người cực nhọc (xây dựng hòa bình), người đau đớn (bị bách hại).” (xem Lc 6, 20tt). Những lời của thánh Phaolô gửi cộng đoàn Côlôxê cho thấy ngài là một người ‘đau sướng’: “Giờ đây, tôi vui sướng được chịu đau đớn vì anh em.” (gaudeo in passionibus pro vobis - Cl 1,24). Biết bao nam nữ tu sĩ với nụ cười bình an trong lời khấn ‘khó nghèo’ là một bằng chứng rằng có rất nhiều người ‘nghèo sướng.’ Với nhận thức này, Maranatha_33 nhìn lại nỗi khổ của con người qua lăng kính Mặc Khải, khởi sự bằng cuộc hiến tế tạ ơn của Chúa Kitô, Đấng chấp nhận ‘đau đớn’ để đồng hành và chia sẻ ‘nỗi khổ’ của nhân loại; cùng với Mẹ Maria để sống khiêm hạ và yêu thương như Con mình; tiếp theo là những suy tư qua nhiều hướng khác nhau để chúng ta cảm nhận rằng ‘nỗi khổ là một điều không có thật’, như lời của cha Anthony de Mello. Muốn cảm nhận như thế, mọi Kitô hữu, đặc biệt là Kitô hữu giáo dân, cần có một cái nhìn trưởng thành và có trách nhiệm trong ơn gọi của mình, điều mà linh mục Phan Đình Cho muốn soi rọi qua bài viết mà Maranatha khởi đăng trong số này. Dù sao đi nữa, có những nỗi đau khách quan nhưng mọi nỗi khổ đều là chủ quan. Giải quyết nỗi khổ là chuyện riêng tư của mỗi một người; vì thế, Kitô hữu chúng ta cần sự hiện diện và ân sủng của Chúa Kitô để đón nhận những nỗi khổ đau mà mình cảm nhận, do đó chúng ta cần phải liên lỉ khấn xin: “Maranatha! Lạy Chúa, xin ngự đến.” MARANATHA
TÌM HIỂU ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II (tiếp theo Maranatha_32) Lm. Cao Phương Kỷ 6. Thánh Thể và sự Hiệp Thông của Hội Thánh (Coi: Chương IV) Trong Chương này, Đức Gioan Phaolô II bàn về sự Hiệp Thông của Hội Thánh, tức là sự Liên Kết của toàn thể các tín hữu với Thiên Chúa Ba Ngôi, và giữa các tín hữu với nhau. Hiệp Thông (Communion) trọn vẹn cần cả hai chiều kích: hữu hình và vô hình. Ngoài ra, Đức Gioan PhaoLô II cũng bàn về Phép Thánh Thể và Hoạt Động Đại Kết. Thánh Thể là Đỉnh Cao của các Bí Tích, vì cho chúng ta được Hiệp Thông với Thiên Chúa Cha bằng cách đồng hóa với Người Con yêu dấu, nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần. Do đó, chúng ta phải khao khát liên lỉ lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể. Cách thực hành “RƯỚC LỄ THIÊNG LIÊNG”, như Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã làm, sẽ đem lại nhiều ơn ích thiêng liêng.- Hiệp Thông theo chiều kích vô hình là gì? Tức là giữ tâm hồn thánh thiện, không phạm tội trọng. Nếu có tội trong thì phải chịu Bí Tích Hòa Giải, để được tha tội, và làm hòa cùng Thiên Chúa. Bởi vậy, theo Giáo Luật khẳng định: “Những người ngoan cố sống trong tội trọng tỏ tường”, thì không được rước Mình Thánh Chúa”.- Hiệp Thông có tính chất hữu hình là: chấp nhận trọn vẹn tổ chức và các phương tiện cứu rỗi được thiết lập trong Hội Thánh như tuyên xưng Đức Tin, các Bí Tích, việc quản trị và quyền điều khiển của Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục. Thánh Thể đòi buộc đức tin, đặc biệt tin Bí Tích Thánh Tẩy và Bí Tích Truyền Chức Thánh là có thật. Do đó, không được trao Mình Thánh Chúa cho người chưa Rửa Tội, hay cho người chối bỏ chân lý toàn vẹn của Đức Tin liên quan đến Mầu Nhiệm Thánh Thể.- Cộng Đoàn Thánh Thể (địa phương) không thể khép kín, nhưng cần hòa hợp với các Cộng Đoàn Công Giáo khác. Vì thế, một Cộng Đồng Thánh Thể phải Hiệp Thông với Vị Giám Mục của mình và với Đức Giáo Hoàng ở Roma. Vị Giám Mục là nguyên lý và nền tảng hữu hình của sự Hiệp Nhất trong Giáo Hội địa phương. Thánh Thể tạo nên sự Hiệp Thông và cổ võ sự Hiệp Thông. Bởi vậy, trong Tông Thư “Dies Domini”, Đức Gioan Phaolo II đã nhắc lại: các tín hữu có bổn phận tham dự Thánh Lễ Ngày Chúa Nhật (Ngày của Chúa). Chính nhờ sự Hiệp Thông vào Thánh Thể, Ngày của Chúa cũng trở thành Ngày của Hội Thánh, vì Hội Thánh là” Bí Tích” của sự Hiệp Nhất.- Thánh Thể và Phong trào Đại Kết (ecumenical movement, nhằm giải tỏa những cách biệt giữa các giáo hội Kitô Giáo khác nhau, thống nhất trong một Đức Tin..). Đức Gioan Phao Lô II nhắc lại Thông Điệp “Ut Unum Sint”, trong đó, Ngài không cho phép cùng cử hành Thánh Lễ, khi chưa có sự Hiệp Thông trọn vẹn (giữa các giáo hội khác nhau). Nhưng trong trường hợp nhất định, đặc biệt, Ngài cho phép trao ban Bí Tích Thánh Thể, Hòa Giải và Xức Dầu bệnh nhân cho những tín hữu chưa hiệp thông trọn vẹn với Hội Thánh Công Giáo, nhưng tự ý xin, ao ước và tỏ lòng tin đối với các Bí Tích đó như Hội Thánh tuyên xưng. 7. Phẩm Giá của Việc Cử Hành Thánh Thể (Coi: Chương V) Bữa Tiệc Thánh Thể là Bữa Tiệc Thánh, vì được chịu lấy chính “Thánh Thể” của Chúa Cứu Thế làm của An (O Sacrum Convivium, in quo Christus sumitur: Ôi! Bàn Tiệc linh thiêng, trong đó Chúa KiTô được rước lấy). Bởi vậy, trong suốt dòng lịch sử, Hội Thánh đã ấn định một Qui Chế riêng cho Phụng Vụ Thánh Thể. Ta tôn thờ Thánh Thể bằng thái độ đạo đức nội tâm, nhưng còn bằng những hình thức bên ngoài, biểu lộ sự cao sang, huy hoàng của biến cố đang cử hành. Do đó, nghệ thuật kiến trúc, trang trí, phẩm phục, thủ công mỹ nghệ, đặc biệt Thánh Nhạc đã phát huy một cách rất rực rỡ, tinh xảo, trở thành kho tàng Mỹ Thuật quí giá cho nhân loại như : các Đại Thánh Đường, các Họa Phẩm nổi tiếng (Rublev, bức danh họa về Thiên Chúa Ba Ngôi)..-Ngoài ra, Công Đồng Vatican II, và trong Tông Huấn “Giáo Hội tại Á Châu”, đã cổ võ sự phát triển Nghệ Thuật Thánh và kỷ luật phụng vụ, liên quan đến nhu cầu “Hội Nhập Văn Hóa”, để trong những buổi cử hành Thánh Thể, có thể biểu lộ niềm Tin và sức Sống Tâm Linh mãnh liệt, qua những hình thức, phong cách và cảm thức của các nền Văn Hóa khác nhau. Các Linh Mục chủ tọa Thánh Lễ, trong tư cách của Chúa KiTô, mang một trách nhiệm nặng nề để làm chứng và phục vụ cho sự Hiệp Thông, không chỉ của Cộng Đoàn đang tham dự trực tiếp buổi cử hành, nhưng còn của Hội Thánh hoàn vũ. Do đó, Đức Gioan Phao Lô kêu gọi các Linh Mục cách riêng, và mọi người phải tuân giữ một cách hết sức trung thành, các Qui Luật Phụng Vụ trong việc cử hành Thánh Lễ. Mầu Nhiệm Thánh Thể quá cao trọng, không ai được cảm thấy tự do hành động cách tùy tiện và coi nhẹ tính thánh thiêng và chiều kích phổ quát. 8. Tại Trường Học của Đức Bà MARIA, “Người Phụ Nữ của THÁNH THỂ” Vì Đức Mẹ Maria có một liên hệ sâu xa với Bí Tích Thánh Thể, nên trong Tông Thư “Rosarium Virginis Mariae”, Đức Gioan Phao Lô II đã ghi biến cố thiết lập Thánh Thể vào trong số các Mầu Nhiệm Ánh Sáng. Theo sách Tông đồ Công Vụ tường thuật, có thể tin chắc là Đức Mẹ Maria đã hiện diện trong các buổi cử hành Thánh Thể, gọi là “Lễ Bẻ Bánh” của cộng đồng các tín hữu tiên khởI (Coi: CV2,42). Do đó, suốt cả cuộc đời, Đức Mẹ Maria là một “Phụ Nữ của Thánh Thể”, vì Ngài là gương mẫu cho chúng ta noi theo.- Thánh Thể là” Mầu Nhiệm Đức Tin”, vì cao siêu vượt quá sự hiểu biết của trí khôn, nên cần sự tín nhiệm, và phó thác vào quyền năng vô cùng của Thiên Chúa. Đức Mẹ Maria cũng đã làm gương cho chúng ta về đức Vâng Phục quyền phép của Chúa Cứu Thế, khi Ngài làm phép lạ biến nước thành rượu, tại tiệc cưới Cana: “Người bảo gì, các anh cứ làm theo.”(Gioan: 2,5)- Đức Mẹ Maria đã sống Đức Tin về Phép Thánh Thể, ngay cả trước khi lập Bí Tích Thánh Thể, chính bởi sự kiện Ngài đã hiến dâng cung lòng trinh khiết để Ngôi Lời Thiên Chúa Xuống Thế Làm Người(Nhập Thể). - Đức Mẹ Maria thưa cùng Thiên Thần: Xin Vâng như lời Thiên Thần truyền: “FIAT”, để làm gương cho chúng ta, thưav “AMEN” (con xin tin như vậy), khi nhận lãnh Mình Thánh Chúa. Đức Mẹ Maria, chính là “Nhà Tạm” (Tabernacle) để Con Thiên Chúa ngự. Chính Bà Thánh Isave đã thờ lạy ngợi khen và Thánh Gioan Tiền Hô đã nhẩy mừng, khi Đức Maria tới viếng thăm.- Suốt đời, Mẹ Maria đã liên hệ mật thiết với Hy Tế của Thánh Thể. Từ khi dâng Chúa Con vào Đền Thánh cho đến Núi Sọ, Mẹ đã “Đứng” (Stabat Mater) dưới chân Thánh Giá để kết hiệp, hiến dâng Chúa Con trong cuộc Khổ Nạn. Và sau ngày Phục Sinh, Đức Mẹ Maria lại tham dự Thánh Thể mà các Tông Đồ cử hành để tưởng niệm cuộc Khổ Nạn ấy. Đối với Đức Mẹ Maria, Rước Mình Thánh Chúa Giêsu phải như thể tiếp nhận lại một lần nữa vào trong lòng mình Trái Tim đã đập cùng nhịp với mình, và làm sống lại những tâm tình mà Mẹ đã kinh nghiệm dưới chân Thánh Giá - Thánh Thể và Hội Thánh được nối kết chặt chẽ với nhau, nên cũng có thể nói như thế về Đức Mẹ Maria và Thánh Thể. Mỗi khi cử hành Thánh Thể trong giáo Hội Tây Phương và Đông Phương, đều tưởng nhớ đến Mẹ Maria - Đức Maria hiện diện, cùng với Hội Thánh và như Mẹ của Hội Thánh, mỗi khi chúng ta cử hành Thánh Thể - Trong Thánh Thể, Hội Thánh được kết hiệp trọn vẹn với Chúa Kitô và Hy Tế của Người, và sống lại tâm tình của Mẹ Maria. Tâm Tình của Mẹ Maria, chính là lời ca ngợi và tạ ơn, khi Mẹ Maria thốt lên kinh “Magnificat”: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa và thần trí tôi hớn hở trong Thiên Chúa Đấng Cứu Chuộc tôi.” Kinh “Magnificat” diễn tả tâm tình của Đức Mẹ, để giúp chúng ta cảm nghiệm Mầu Nhiệm Thánh Thể: Mẹ ca ngợi Chúa Cha “qua” Chúa Giêsu, “trong”, và “với” Chúa Giêsu. Thánh Thể được trao ban để đời sống chúng ta hoàn toàn trở nên một bài “Magnificat”, giống như cuộc đời của Mẹ MARIA. KẾT LUẬN Trong Phần Kết Luận của Thông Điệp, Đức Gioan Phao Lô II, nhắc lại một lần nữa sự quan trọng của Mầu Nhiệm Thánh Thể : Bắt đầu một Thiên niên kỷ mới (“Novo Millennio Ineunte”), mọi cam kết nên thánh, mọi hoạt động nhằm thực hiện sứ vụ của Hội Thánh, mọi kế hoạch mục vụ.., phải múc lấy Sức Mạnh cần thiết từ MẦU NHIỆM THÁNH THỂ, và phải qui hướng về Mầu Nhiệm đó như là Tột Đỉnh. - Vì trong Thánh Thể, chúng ta có CHÚA GIÊSU, có Hy Tế Cứu Độ, có sự Phục Sinh, có Ân Sủng của Chúa Thánh Thần, có sự Tôn Thờ, Vâng Phục và Tình Yêu đối với Chúa Cha. - Như lời cầu nguyện của Chúa Cứu Thế: “UT SINT UNUM” (xin cho chúng nên một), nên trong Thiên Niên Kỷ thứ ba này, con đường dấn thân của Hội Thánh là cổ võ cho phong trào Đại Kết: Vì kho tàng Thánh Thể thúc bách chúng ta hướng về mục tiêu là Hiệp Thông trọn vẹn với tất cả anh chị em, được liên kết với chúng ta nhờ Bí Tích Thánh Tẩy chung. -Ngoài ra, để thêm lòng Sùng Mộ đối với Bí Tích Cực Trọng, chúng ta hãy vào học trong Trường Học của Mẹ Maria, và của các Thánh. Sau cùng, để kết thúc bức Thông Điệp, Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lô II đã chú giải ý nghĩa thâm thúy của mấy bài Thánh ca thời danh của Thánh Tôma về Thánh Thể như: “Adoro Te devote latens Deitas”, hay bài “Pange, lingua, gloriosi”..●
Khuyết danh Người ấy đã chờ đợi giờ này suốt cả ngày, sau sáu ngày làm việc, và cuối cùng ngày này cũng đã đến: Ngày Thăm Nuôi! Một người cầm chìa khóa đến mở cánh cửa to lớn, nặng nề. Căn phòng xám xịt bỗng sống dậy trong hơi ấm của ánh đèn. Người khó giữ được hồi hộp. Các gia đình bắt đầu đến rồi. Người từ góc phòng đưa mắt trông ra, chờ đợi ánh mắt đầu tiên của kẻ mình thương. Người sống vì những ngày nghỉ cuối tuần này. Người sống vì những giờ thăm nuôi này. Khi xe cộ đến, người nhìn chăm chăm. Rồi cuối cùng, cô ấy cũng đến -- hôn thê của người; vì cô ấy người sẵn sàng làm hết mọi sự. Họ ôm nhau vào lòng, dùng bữa ăn nhẹ với nhau và nhắc lại chuyện cũ. Đến một lúc, họ ca hát, xen lẫn trong tiếng cười vang và vỗ tay. Nhưng mọi sự lại nhanh chóng kết thúc. Một giọt lệ rướm lên khi vị hôn thê ra về. Ông giữ chìa khóa đóng sầm cánh cửa nặng nề. Người nghe tiếng chìa khóa xoáy vào ổ để chấm dứt một ngày đặc biệt. Người lại về đấy, lại một mình với mình. Người biết rằng đa số những kẻ thăm người sẽ không trở lại cho đến tuần sau. Khi những chiếc xe đã rời bãi đậu, Chúa Giêsu rút vào cô đơn và chờ đợi cho đến Chúa Nhật tuần sau: Ngày Thăm Nuôi. Chúng ta có đến với Chúa Giêsu hằng ngày không, hay chúng ta chỉ đi thăm Ngài ngày Chúa Nhật mà thôi?
GIÁO DÂN THỜI GIÁO HỘI SƠ KHAI: NHỮNG VIÊN GẠCH XÂY DỰNG MỘT NỀN THẦN HỌC GIÁO DÂN. Lm. Phêrô Phan Đình Cho Trần Duy Nhiên dịch
Khi mà nguyên nhân trước mắt của cuộc khủng hoảng hiện đang làm rúng động Giáo Hội Công Giáo tại Hoa Kỳ và tại những nơi khác do việc lạm dụng tình dục của hàng giáo sĩ, thì tự bản chất, cuộc khủng hoảng ấy lại mang chiều kích Giáo Hội. Vấn đề này liên hệ đến tương quan giữa các vị lãnh đạo Giáo Hội và giáo dân. Nhiều giáo dân đã tỏ ra vô cùng phẫn nộ trước cách thức mà các giám mục và hồng y, và thậm chí các đấng có thẩm quyền trong giáo triều Rôma, đã xử sự trước vấn đề các giáo sĩ thích liên hệ tình dục với trẻ em. Chẳng những các vị lãnh đạo Giáo Hội ấy đã không nắm bắt được tính chất và tầm vóc của việc lạm dụng tình dục nơi hàng giáo sĩ, mà các ngài chứng tỏ rằng mình hoàn toàn thiếu trách nhiệm đối với giáo dân. Hệ quả là những phong trào quần chúng đã được hình thành hầu thôi thúc Giáo Hội chẳng những thay đổi cách thức đào tạo các linh mục tương lai, mà quan trọng hơn nữa là thay đổi cách thức hiểu và sống vai trò người giáo dân trong Giáo Hội. Do đó, điều cần thiết ấy là một nền thần học (về) giáo dân thích hợp hơn. Tiểu luận này mong góp phần để xây dựng một nền thần học như thế, bằng cách xem xét bản chất và nhiệm vụ của giáo dân trong thời Giáo Hội sơ khai. [1] Có một thành phần gọi là “giáo dân” trong Tân Ước không? Mục đích của ngoặc kép là để chúng ta lưu ý về cách sử dụng từ ngữ ‘giáo dân’ trong Tân Ước. Khái niệm hiện nay về giáo dân như (thành phần) đối lập với giáo sĩ và tu sĩ là một khái niệm không hề tìm thấy trong Tân Ước. Danh từ Hy Lạp ‘laos’ (λαός - nguồn gốc của từ ‘laity’ = giáo dân) chỉ định dân được tuyển chọn (Israel) chứ không phải là những người không có chức thánh hoặc không phải là tu sĩ trong Giáo Hội, và danh từ ‘kleros’ (κλeρoς - nguồn gốc của từ clergy = giáo sĩ) dùng để chỉ một lô đất hay di sản mà mình nhận hoặc những người được giao phó cho mình chăm sóc, chứ không phải là những người được phong chức trong Giáo Hội. Quả thực, giáo dân, tu sĩ và giáo sĩ ngày nay đều họp thành một thực thể mà Tân Ước vừa gọi là laos theou (λαός θεoυ), nghĩa là dân của Thiên Chúa (1 Pr 2, 10) vừa gọi là kleros (κλeρoς), nghĩa là di sản của Thiên Chúa. (1Pr 5, 3). Về khái niệm tư tế (= linh mục) và chức tư tế (= chức linh mục), trong Tân Ước, thuật ngữ iereus (ιερεύς: tư tế) hay arkhiereus (αρχιερεύς: thượng tế) chỉ áp dụng cho Chúa Giêsu mà thôi (Dt 4, 10) và thuật ngữ ierateuma (ιεράτευμα: chức tư tế) thì áp dụng cho toàn thể dân Chúa mà không hề có một sự phân biệt nào (1 Pr 2, 5.9). Hai thuật ngữ ấy không bao giờ dành riêng cho bất cứ nhóm người đặc biệt nào trong Giáo hội dựa trên hoặc chiếu theo một bí tích đặc biệt mà họ lãnh nhận hay một nhiệm vụ đặc thù mà họ thực thi cho công đoàn. Nền tảng cho chức tư tế của Chúa Giêsu là cái chết hy sinh của Người trên thập giá và cuộc phục sinh của Người. Như trong thư Do Thái: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người, vì Người đã được Thiên Chúa tôn xưng là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê.” (5, 8-10) Về chức tư tế của toàn dân Thiên Chúa, nền tảng thần học là bí tích Thanh Tẩy qua đó, như lời thánh Phaolô, dân Chúa được thanh tẩy trong cái chết của Chúa Kitô, được chôn cất với Người, và sống lại trong sự sống mới cùng với Chúa Kitô (Rm 6,3-5). Tôi sẽ trở lại chức tư tế do phép rửa này như là phẩm giá căn bản duy nhất của Kitô hữu, bao gồm cả ‘giáo dân’ lẫn ‘giáo sĩ’. Ở đây, chỉ cần lưu ý rằng trong Tân Ước không hề có khái niệm ‘giáo dân’ như là một nhóm Kitô hữu khác biệt so với giáo sĩ và tu sĩ, một phẩm trật mà vào thời ấy dĩ nhiên chưa từng hiện hữu. Chỉ có một tư tế duy nhất là Chúa Giêsu và một chức tư tế duy nhất là chức tư tế của Đức Kitô; và toàn thể dân Chúa (laos - λαός) đều là tư tế cùng một tư cách, đó là qua phép rửa mà họ chia sẻ bình đẳng với nhau chức tư tế duy nhất của Chúa Kitô. Điều này không có nghĩa là trong Tân Ước không có một số nhiệm vụ đa dạng được nhiều người khác nhau trong Giáo Hội đảm nhận. Phúc âm từng đề cập đến nhóm Mười Hai (Tông đồ) mà vai trò là đại diện cho mười hai chi tộc Israen và làm chứng cho sứ mạng, cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu (Cv 1, 22). Nhưng ngoài nhóm Mười Hai với phần vụ đặc thù của họ là làm chứng tai nghe mắt thấy cho cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, thì vẫn còn có nhiều ‘đặc sủng’, nhiều ‘việc phục vụ’ và ‘hoạt động’ khác trong Giáo Hội sơ khai (1Cr 12, 4-6). Trong số này, có người giữ nhiệm vụ ngắn hạn và người thì dài hạn. Trong số các ‘đặc sủng’ (charismata - χαρισμάτα), thánh Phaolô nêu lên ơn khôn ngoan, ơn hiểu biết, ơn đức tin, ơn chữa bệnh, ơn làm phép lạ, ơn nói tiên tri, ơn phân định thần khí, ơn nói các tiếng lạ, ơn giải thích các tiếng lạ (1 Cr 12, 8-10). Trong phần tiếp theo của bức thư ấy, thánh Phaolô còn ghi thêm những phương thức và hoạt động khác: việc tông đồ, giảng dạy, giúp đỡ và quản trị (1 Cr 12, 28). Không rõ là khi đề ra danh sách này, thánh Phaolô muốn ghi cho đầy đủ (có vẻ không phải như thế) hay muốn sắp xếp theo thứ tự quan trọng (rất có thể), đặc biệt là trong đoạn văn cuối, khi ngài viết: ‘thứ nhất là các tông đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dạy.’ Dù sao đi nữa, điều chắc chắn là, đối với thánh Phaolô, mọi đặc sủng, mọi công việc phục vụ và hoạt động đều cần thiết và quan trọng cho đời sống Giáo Hội. Cũng như không chi thể nào có thể nói với chi thể khác: Tôi không cần anh! (1 Cr 12,21), thì không phần vụ nào trong giáo hội là dư thừa. Hơn nữa, nếu buộc xếp hạng các loại đặc sủng, thì theo thánh Phaolô, Tình Yêu phải đứng hàng đầu, vì thiếu tình yêu thì không có phần vụ nào còn giá trị gì nữa (1 Cr 13,13). Sau hết, và quan trọng nhất, mọi đặc sủng phải được thực thi để xây dựng cộng đoàn (1 Cr 14,12). Cuối cùng, cần phải lưu ý rằng ba thuật ngữ episcopos, presbyteros, và diakonos (έπίσκoπoς, πρεσβύτερoς, διάκovoς) nói lên những nhiệm vụ đặc thù cần phải thực thi. Thuật ngữ thứ nhất có nghĩa là người ‘giám sát’ hay ‘nhìn từ trên’, nhưng thường được dịch là ‘giám mục’ (giám quản); thuật ngữ thứ hai có nghĩa là ‘niên trưởng’ hay ‘trưởng lão’, nhưng thường được dịch là ‘linh mục’ (kỳ mục), và thuật ngữ thứ ba có nghĩa là ‘người phục vụ’ hay ‘bồi bàn’, nhưng thường được dịch là ‘phó tế’ (trợ tá). Trong Philip 1, 1, thánh Phaolô gửi lời chào ‘các vị (xin lưu ý đến số nhiều: các) giám quản (giám mục) và trợ tá (phó tế)’ trong cộng đoàn, và dù chúng ta cũng không biết họ đảm nhận nhiệm vụ gì, thì rõ ràng họ giữ một vai trò quan trọng bởi lẽ thánh Phaolô đã nêu đích danh. Trong Rôma 16, 1 thánh Phaolô đề cập đến một người nữ tên là Phoebe và gọi bà là ‘diakonos (διάκovoς: phó tế) của hội thánh’. Trong ba bức thư mục vụ - hẳn là không do thánh Phaolô tự tay viết lấy mà do các môn đệ viết nhân danh ngài - thì cũng ghi lại các thuật ngữ episcopos, presbyteros và diakonos (έπίσκoπoς, πρεσβύτερoς, διάκovoς). Trong 1 Timôtê, có một số chức năng và nhiệm vụ được dành cho cả episcopos (έπίσκoπoς: giám mục, giám quản) (3, 2-3) lẫn diakonos (διάκovoς: phó tế, trợ tá’) (3,8-12). Những chức năng và nhiệm vụ ấy ít nhiều cũng được đòi hỏi nơi episkopos trong Titô 1, 7. Về phần các presbyteros (πρεσβύτερoς: linh mục - kỳ mục), 1 Timôtê 5, 17 bảo rằng họ phải được ‘đãi ngộ gấp đôi, nhất là những người vất vả phục vụ lời Chúa và giảng dạy.’ Những nhiệm vụ như đặt tay (1 Tm 4, 14), xức dầu bệnh nhận (Gc 5, 14), và quản trị chung (Tt 1.5; 1 Pr 5, 2-3) cũng được nêu là phần vụ của họ. Tôi đã đặt các từ ‘giám mục’, ‘linh mục’ và ‘phó tế’ trong dấu ngoặc như trên để nhắc độc giả rằng khi những từ này được dùng trong Tân Ước thì chúng không có cùng một nghĩa như ta hiểu hiện nay. Giám mục, linh mục, và phó tế hiện nay – thành phần giáo sĩ trong Giáo Hội – không phải là những người kế vị các ‘giám mục’, ‘linh mục’ và ‘phó tế’ trong Tân Ước, vì những vị được gọi bằng những danh xưng này không họp thành ‘giáo sĩ’ trong giáo hội thời Tân Ước, bởi lẽ Giáo Hội thời ấy không có một phẩm trật như thế…
Tác giả và dịch giả tại Hội Nghị Tôn Giáo được tổ chức tại University of Southern California. (Còn tiếp)
SUY NIỆM
THỜ PHƯỢNG THIÊN CHÚA
Nguyễn Chính Kết1. Chiên bị sát tế để hy sinh đền tội thay cho con người Người Do Thái có tục sát tế chiên trên bàn thờ để thờ phượng, cảm tạ Thiên Chúa, để xin ơn và để đền tội. Tục lệ này bắt nguồn từ thời Abel, con trai thứ của Ađam: «Aben làm nghề chăn chiên» (St 4, 2), nên để thờ phượng và tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa, «Aben dâng những con đầu lòng của bầy chiên cùng với mỡ của chúng» lên Ngài (St 4,4). Đến thời dân Do Thái vượt qua Biển Đỏ, Môsê ra lệnh cho mỗi nhà người Do Thái phải sát tế một con chiên, bôi máu lên khung cửa (x. Xh 12, 2-7). Đêm ấy, tất cả những nhà trên đất nước Ai cập không có máu chiên trên khung cửa, đều bị chết đứa con trai đầu lòng (x. Xh 12,29-30). Chỉ có người Do Thái nhờ máu chiên trên khung cửa mà không bị như thế. Từ đó việc sát tế chiên mang thêm ý nghĩa: chiên chết thay người. Về sau, theo sách Xuất hành (Xh 29, 38-46) thì tại đền thờ, các tư tế Do Thái đều sát tế mỗi ngày hai con chiên làm của lễ toàn thiêu: sáng sớm một con, chập tối một con, để dâng lên Thiên Chúa làm của lễ đền tội cho dân. Đúng ra ai phạm tội thì chính người ấy bị phạt, mà phạm đến Thiên Chúa thì chỉ có hình phạt chết mới xứng đáng. Nhưng Thiên Chúa nhân lành không muốn con người phải chết: «Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống» (Ed 18, 23). Luật công bằng đòi hỏi tội phải đền; nên để con người còn được sống mà ăn năn hối cải, Ngài chấp nhận cho con người lấy chiên đền mạng. Như vậy chiên bị sát tế là để hy sinh chết thay cho con người lẽ ra phải chết vì tội lỗi mình. 2. Đức Giêsu là «Chiên Thiên Chúa» bị sát tế để cứu nhân loại Theo lẽ thường, gọi Đức Giêsu là chiên thì quả là xúc phạm. Nhưng để cứu chuộc nhân loại, theo kế hoạch cứu chuộc của Thiên Chúa, Đức Giêsu phải bị giết chết để đền tội thay cho con người, tương tự như những con chiên bị sát tế trong đền thờ để chết thay cho người tội lỗi. Gioan đã thấy trước số phận tương lai của Đức Giêsu như thế, nên ông giới thiệu Đức Giêsu cho mọi người: «Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian.» Sách Khải Huyền cũng dùng rất nhiều lần từ «Con Chiên» để chỉ về Đức Giêsu. Thánh Phaolô viết: «Nếu máu các con dê, con bò còn thánh hóa được con người, làm cho họ trở nên trong sạch, thì máu của Đức Kitô càng hiệu lực hơn biết mấy» (Dt 9,13-14). Hiệu lực đến nỗi Ngài chỉ cần chết một lần là đủ xóa được tội lỗi toàn nhân loại: «Chúng ta được thánh hoá nhờ Đức Giêsu Kitô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ» (Dt 10,10), vì Ngài là «Con Chiên vẹn toàn, không tỳ vết» (1Pr 1,19), nhất là vì Ngài cũng chính là Thiên Chúa, nên giá trị cứu chuộc của Ngài là vô cùng. «Máu của Người rảy xuống, máu đó kêu thấu trời còn mạnh thế hơn cả máu Aben» (Dt 12,24). «Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời» (Cl 1, 20). 3. Cách thờ phượng mới của Đức Giêsu đối với Thiên Chúa Lễ toàn thiêu – mà chính Đức Giêsu là của lễ, là chiên bị sát tế, đồng thời cũng chính là chủ tế, lấy thập giá làm bàn thờ – được thực hiện để thờ phượng và tôn vinh Thiên Chúa. Trong lễ toàn thiêu này, Ngài đã chịu đau khổ tột cùng và bị giết để cứu chuộc nhân loại, để nhân loại «được sống và sống dồi dào» (Ga 10, 10). Tất cả chỉ vì yêu thương con người đến tận cùng của tình yêu (x. Ga 13, 1). Trong lễ toàn thiêu này, Đức Giêsu đã thờ phượng và tôn vinh Thiên Chúa bằng chính tình yêu hoàn toàn vị tha và vô bờ bến của Ngài đối với nhân loại, được thể hiện cụ thể bằng cái chết thê thảm của Ngài. Đó chính là cách thờ phượng mới của Ngài. Ngài không thờ phượng Thiên Chúa bằng những lễ toàn thiêu, trong đó chỉ có chiên bị giết chứ chủ tế hay người dâng lễ chẳng bị thiệt hại mảy may. Ngài không tôn vinh Thiên Chúa bằng những lời ca tụng, đề cao Thiên Chúa đến tận mây xanh, mà người tôn vinh chẳng phải mất mát điều gì. Ngài không thờ phượng và tôn vinh Thiên Chúa bằng những thể thức vắng bóng tình yêu đối với tha nhân. Trái lại, Ngài đã bầy tỏ lòng yêu mến của Ngài đối với Thiên Chúa bằng chính tình yêu của Ngài đối với tha nhân. Yêu Thiên Chúa được thể hiện thành yêu tha nhân. Nơi Ngài, yêu Thiên Chúa và thương tha nhân chỉ là một tình yêu duy nhất, không độc lập hay tách biệt nhau. Ngài thờ phượng Thiên Chúa bằng cách phục vụ và chết cho tha nhân. Đó là cách yêu mến, thờ phượng và tôn vinh Thiên Chúa của Ngài. Còn cách yêu mến, thờ phượng và tôn vinh Thiên Chúa của chúng ta dường như độc lập và tách biệt hẳn với việc yêu mến, hy sinh và phục vụ tha nhân. Chúng ta có thể yêu mến, thờ phượng và tôn vinh Thiên Chúa một cách hết sức nhiệt tình, sốt sắng mà không hề nghĩ gì đến những những người chung quanh chúng ta đang cần đến tình yêu, sự quan tâm, giúp đỡ, hy sinh của chúng ta. Ai động chạm đến quyền lợi hay tự ái của ta là ta nổi xung lên và quyết chí ăn thua đủ. Ai vượt trội hơn ta, nổi tiếng hơn ta, được mọi người đề cao hơn ta thì ta bực bội và muốn tìm cách chê bai, hạ nhục người ấy. Ai túng nghèo, khổ cực, bệnh tật, bị áp bức bất công thì ta coi chuyện ấy như không liên can gì đến ta cả. Liệu yêu mến, thờ phượng và tôn vinh Thiên Chúa như thế có giá trị gì trước mặt Ngài không? Thiên Chúa đã trả lời cho chúng ta qua ngôn sứ Isaia: «Ngần ấy hy lễ của các ngươi, đối với Ta, nào nghĩa lý gì? Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã ngấy. Máu bò, máu chiên dê, Ta chẳng thèm! (…) Thôi, đừng đem những lễ vật vô ích đến nữa. Ta ghê tởm khói hương; Ta không chịu nổi ngày đầu tháng, ngày sabát, ngày đại hội, không chịu nổi những người cứ phạm tội ác rồi lại cứ lễ lạc linh đình. Ta chán ghét những ngày đầu tháng, những đại lễ của các ngươi. Những thứ đó đã trở thành gánh nặng cho Ta, Ta không chịu nổi nữa. Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn; các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe. Vì tay các ngươi đầy những máu. Hãy rửa cho sạch, tẩy cho hết, và vứt bỏ tội ác của các ngươi cho khỏi chướng mắt Ta. Đừng làm điều ác nữa. Hãy tập làm điều thiện, tìm kiếm lẽ công bình, sửa phạt người áp bức, xử công minh cho cô nhi, biện hộ cho quả phụ» (Is 1, 11-17). Chính Đức Giêsu cũng nói: «Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế» (Mt 9,13; 12,7). Ngài đặt nặng tình yêu và sự hòa thuận đối với tha nhân hơn cả việc dâng của lễ toàn thiêu lên Thiên Chúa: «Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình» (Mt 5, 23-24). Cách đây 2700 năm, ngôn sứ Isaia đã cảnh báo về kiểu thờ phượng Thiên Chúa độc lập với tình yêu tha nhân; và cách đây 2000 năm, chính Đức Giêsu cũng lập lại tinh thần ấy của Isaia. Nhưng tiếc thay, cho đến nay, sau mấy ngàn năm, rất nhiều người trong chúng ta vẫn chưa học được bài học của các ngài. Thật đáng tiếc! Trách nhiệm này thuộc về ai?●
Lm. Vũ Xuân HạnhKhông ai gọi khiêm nhường là giới răn: giới răn khiêm nhường. Nhưng xét theo nghĩa rộng, có thể gọi khiêm nhường là giới răn vì nó được Chúa Giêsu dạy, lại còn được chính Chúa Giêsu làm gương. Nếu coi là giới răn, ta cần phải giữ. Đó cũng là điều Chúa muốn. Nếu Chúa nhấn mạnh giới răn yêu thương, thì Ngài cũng dạy hãy sống khiêm nhường. Muốn yêu thương thật sự cần có khiêm nhường. Và yêu thương cũng làm gia tăng khiêm nhường. Để dạy con người một điều gì đó, Thiên Chúa không chỉ lý thuyết hóa, nhưng trước hết, Ngài cho con người thấy chính hành động của Ngài. Thiên Chúa mê say trong tình yêu đối với con người, vì bản chất của Ngài là Tình yêu. Nhưng trong Tình yêu đó, Ngài cũng dạy con người phải thương yêu nhau. Chính vì yêu mà ngài đã hạ mình, thì Ngài cũng dạy con người phải biết khiêm nhu. 1. SỰ KHIÊM NHƯỜNG CỦA CON THIÊN CHÚA: Thánh Phaolô đã từng ca ngợi sự khiêm nhường của Chúa Kitô: “Ngài vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ.” (Pl 2, 6-7). Sự khiêm nhường của Thiên Chúa không chỉ đơn thuần là ‘quên’ đi cái ‘tôi’, như khi người ta nói ông A, bà B khiêm nhường, cho dù ông A, bà B có khiêm nhường thật. Sự khiêm nhường của Con Thiên Chúa là sự khiêm hạ của Đấng là Thiên Chúa trở nên người phàm. Đó là sự KHIÊM HẠ đúng nghĩa. Nếu con người khiêm nhường thì trước sau họ vẫn là con người. Còn Thiên Chúa khiêm hạ đã trở thành người thật sự, sống giữa xã hội loài người như chính con người là con người. 2. THIÊN CHÚA KHIÊM HẠ VÌ YÊU: Tình yêu khiêm hạ của Chúa Kitô là Tình yêu đẹp lòng Chúa Cha. Con Thiên Chúa đã tự nguyện lặn sâu xuống tận cùng của kiếp con người để nhân loại hiểu rằng giá trị của cuộc đời không phải quyền thế, giàu sang mà chính là ý Cha được thể hiện. Sự vâng lời của Ngài xuất phát từ Tình yêu tuyệt vời: Đó là lòng yêu mến đối với Chúa Cha, và lòng yêu thương đối với loài người. Tình yêu này đã làm cho Người từ một Đấng giàu sang, quyền năng, vĩnh cửu... trở nên ‘người Tôi tớ đau khổ’ gánh chịu mọi tội lỗi nhân loại. Tình yêu ấy được Chúa Cha chấp nhận. Ngài tuyên bố Đức Kitô là ‘Con yêu dấu’ của mình. Ngài cũng làm cho Tình yêu đó có sức cứu độ tuyệt vời. Và Đức Kitô, Con của Ngài, người Anh Cả của toàn thể nhân loại trở thành trung gian duy nhất giữa Ngài và nhân loại. Tình yêu khiêm hạ của Con Thiên Chúa có sức cứu độ tuyệt vời. Sự kiện Con Thiên Chúa ‘trở nên người phàm’ và ở với loài người làm thay đổi cuộc sống trần thế: cuộc sống này nếu không có Người sẽ trở nên vô nghĩa. Nhưng có Người, cuộc sống có giá trị vĩnh cửu. Nhờ Chúa Kitô, Thân phận tội lỗi được Thiên Chúa cứu độ và trở lại làm Con Thiên Chúa. Dù thân phận yếu đuối, nhưng sự yếu đuối ấy cần thiết để nhận được ân sủng của Thiên Chúa. Chỉ cần con người ý thức mình mang thân phận yếu đuối, con người sẽ khát khao mỗi ngày một hơn được sống trong ơn Chúa, sống trong sự công chính của Ngài. Và chỉ có thế, con người mới nỗ lực để ơn hoán cải của Ngài thấm vào tâm hồn họ. Nơi Chúa Kitô, Thiên Chúa làm cho ơn cứu độ, sự công chính trở thành viên mãn. Sự khiêm hạ của Con Thiên Chúa thật cần thiết. Qua mọi thời, sự khiêm hạ ấy là dấu chứng lớn lao của Tình yêu Thiên Chúa. Qua mọi thời, sự khiêm hạ không ngừng được nhắc đến. Và Chúa Kitô - Thiên Chúa làm người vẫn là một thực tại sống động hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Tình yêu khiêm hạ của con thiên chúa là niềm an ủi lớn lao cho nhân loại. Không ai điên dại đến nỗi muốn hóa kiếp thành con vật mình yêu quý để bày tỏ tình yêu với nó. Nhưng Thiên Chúa đã yêu con người bằng Tình yêu mà con người cho là điên dại ấy. Người thực sự chia sẻ kiếp người và thông cảm sâu xa với nỗi gian truân của họ. Trên thập gia,ù Tình yêu khiêm hạ của Người trở nên bằng chứng hùng hồn về sự hạ mình của Thiên Chúa. Người hạ mình xuống để nâng loài người lên. Vì thế, giữa cuộc sống đầy chông gai, con người có quyền hy vọng. Chúa Kitô không chỉ an ủi nhân loại bằng lời, nhưng còn bằng chính cuộc đời, bằng chính Tình yêu của một vì Thiên Chúa. Tình yêu khiêm hạ của Con Thiên Chúa là cứu cánh của những kẻ tin. Chúa Kitô bước vào cuộc trần và đã chết như một tên tử tội không phải tình cờ, chẳng mang một giá trị gì. Người đã sống để thông cảm với kiếp người bất tất, Người chết để loài người sống, và sống lại để những ai tin sẽ sống đời đời. Chúa Kitô vâng lời Chúa Cha, nhưng Người cũng vì tất cả loài người mà đã nhập thể và cứu độ. Nhờ Người mà ‘Chúa Cha đã khứng ban Nước trời cho chúng ta.’ (Lc 12, 32). Người là cứu cánh tối hậu cho những kẻ tin. Ngoài Người không còn ai khác. 3. THÁI ĐỘ CỦA CON NGƯỜI: “Các con hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương các con.” (Ga 15, 12). “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.” (Mt 11, 28). Đó là những lời dạy của Chúa Kitô. Dĩ nhiên lời ấy cần được áp dụng trong cuộc sống của kẻ bước theo Người. Khiêm nhường và yêu thương Khiêm nhường nằm trong yêu thương. Khiêm nhường và yêu thương bổ túc cho nhau. Có khiêm nhường thì mới yêu thương dễ dàng, yêu thương chân thành. Ngược lại yêu thương cũng giúp trở nên khiêm tốn. Nếu kiêu ngạo làm con người chỉ thấy mình, thì khiêm nhường mở ngỏ để họ đến với nhau. Nếu chỉ thấy mình, con người sẽ không nhận ra giá trị quanh mình, sẽ trở nên ấu trĩ, sẽ không biết thông cảm, không biết tha thứ. Yêu thương và khiêm tốn là trái phá làm nổ tung mọi hàng rào ích kỷ. Cái ‘tôi’ Khiêm nhường cần phải có sự hy sinh đi trước, để khi gặp ‘chướng ngại’, tinh thần hy sinh giúp vượt qua mà thực hiện khiêm nhường. ‘Chướng ngại’ lớn nhất, khó vượt qua nhất là cái ‘tôi’. Nhiều khi phải hy sinh để ‘tạm cất’ cái ‘tôi’ cho khiêm nhường thành công. Kinh nghiệm cho thấy, phải chiến đấu với bản thân nhiều lắm mới có thể ‘tạm cất’cái ‘tôi’ dù chỉ trong khoảnh khắc cần thiết nào đó. Cần phải chiến đấu, cần phải hy sinh. Chiến đấu cam go, hy sinh trầy trụa, thì chiến thắng mới vẻ vang. Đón nhận Lời Chúa Vì kiêu ngạo, con người đi ra ngoài Tình yêu của Thiên Chúa và của nhau. Vì kiêu ngạo, Ađam đã đánh mất sự sống nguyên khởi. Chúa Kitô chịu chết cho loài người cũng vì loài người kiêu ngạo. Ngày nay, chính vì kiêu ngạo, Giáo Hội bị chia rẽ, thế giới hận thù, con người không nhìn nhận nhau, chiến tranh và bạo lực leo thang. Là người Kitô hữu, chúng ta có Lời Chúa hướng dẫn. Lời Chúa sẽ giúp hiểu giá trị của Tình yêu và biết học đòi nhân đức khiêm nhường. Đón nhận Lời Chúa, sống Lời Chúa, cuộc sống người Kitô hữu sẽ phong phú. Hôm qua Chúa dạy các môn đệ: “Các con hãy yêu thương nhau”, thì hôm nay, Chúa cũng dạy chúng ta như thế. Thế giới đang cần tình yêu. Nếu mỗi người chỉ là một đốm lửa sáng cho tình yêu, nhiều người sẽ là một bó đuốc to. Chúng ta hãy đón nhận Lời Chúa với lòng đơn sơ hết sức, nhờ đó sự kiêu ngạo trong ta được phá vỡ. Không còn kiêu ngạo thì yêu thương mới thật sự là yêu thương. Và yêu thương theo đúng như Lời Chúa dạy thì lòng yêu thương ấy mới có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Yêu thương thật sự hay không là do tấm lòng chân thật hay không. Đón nhận Lời Chúa và để cho Lời ấy lắng lại trong tâm hồn mình, soi lòng mình, thanh luyện mình để có được tâm hồn biết yêu thương chân thật, vô vị lợi. Vì ai nghe mà thực hành Lời ấy mới là người yêu mến Chúa Giêsu. 4. MẪU GƯƠNG VỀ TÌNH YÊU KHIÊM NHƯỜNG CỦA MẸ MARIA: Nhân loại có một người Mẹ thật vĩ đại: Đức Maria. Mẹ vĩ đại vì tình yêu khiêm nhường đối với Thiên Chúa và đối với đồng loại. Lời kinh Magnificat của Mẹ trước hết là lời ca ngợi lòng lân tuất của Thiên Chúa, sau nữa là lời loan báo về một xã hội công bằng mà tất cả những người nghèo, người khốn khổ ước mong: “Thiên Chúa sẽ đánh tan những kẻ kiêu ngạo, sẽ hạ bệ những người quyền thế, sẽ để cho người giàu trở về tay không, sẽ nâng cao những người phận nhỏ, và sẽ cho người đói khát dư đầy của cải.” (Lc 1, 5- 53). Nếu Đức Maria không có một tình yêu thật sự đối với tha nhân, làm sao trong khoảnh khắc, Mẹ có thể cất lên tiếng hát đầy lòng nhân ái như vậy. Và chắc chắn, Mẹ sẽ không nhận ra thế giới này cần gì, con người cần gì, nếu Mẹ không là người sống nhân đức khiêm nhường. Nơi Mẹ tình yêu và sự khiêm nhường sóng đôi. Lạy Mẹ Maria, Mẹ là người đầu tiên nhận thấy tiệc cưới ở Cana thiếu rượu. Xin cho trái tim chúng con mang nhịp đập của một tình yêu nhạy cảm để chúng con biết yêu và trao ban tình yêu ấy cho những người chúng con gặp gỡ. Xin giúp chúng con có quả tim khiêm nhường. Một quả tim như thế sẽ giúp đôi mắt chúng con quan sát tinh tế hơn về những nhu cầu của mọi người xung quanh, để chúng con sẵn sàng cho đi và trao ban tình yêu của chính chúng con●
CẢM NGHIỆM VỀ ĐẠI HỌA SÓNG THẦN Hoàng Quý Thế là đã hơn mười ngày cơn đại sóng thần ập vào tàn phá cả một vùng trời rộng lớn của bờ biển Nam Á Châu và đã gây ra bao kinh hoàng, không riêng cho dân chúng địa phương, nhưng còn cho cả thế giới. Nhờ phương tiện truyền thông tân tiến ngày nay, mọi người như chứng kiến thực sự đại họa này đang xẩy ra trước mắt. Chưa bao giờ thế giới xúc động mau lẹ và ào ạt kêu gọi cứu trợ cho vùng đất lâm nguy này như hiện nay. Trong những ngày qua các cơ quan truyền thông đã mô tả tất cả những thiệt hại, những mất mát to lớn quá sức tưởng tượng của con người. Tuy nhiên cho đến ngày hôm nay, nhiều người đang nhìn ra khía cạnh tích cực của đại biến cố này. Từ biến động kinh hoàng này, nhân loại đang tìm đến nhau trong yêu thương, trong đùm bọc, trong xóa bỏ hận thù, trong liên kết cho chính nghĩa nhân loại. Nhiều người Hồi Giáo quy tội cho những người theo đạo Hồi đua đòi ăn chơi theo thói Tây Phương tại các vùng thắng cảnh, do đó họ đã bị Đấng Alla phạt. Phải chăng đó là lý do những quốc gia giầu có theo Hồi giáo ít tham gia tích cực vào việc cứu trợ, trong lúc các quốc gia Tây Phương theo khuynh hướng Kitô giáo lại ồ ạt tìm đến cứu trợ? Thế còn những người theo Kitô giáo nghĩ gì về biến cố thảm hại này? Nhiều người Kitô giáo, nhất là giới trẻ cũng bị giao động về biến cố này khi họ tin rằng Thiên Chúa là người cha nhân từ, thế thì tại sao Ngài lại giáng hình phạt nặng nề thế này cho con cái của Ngài? Chúng ta nghĩ gì về giải thiên hà đã tồn tại cả hàng chục tỉ năm rồi và giải thiên hà này gồm có hơn 200 tỉ tinh tú. Làm sao chúng ta tưởng tượng nổi mặt trời và các hành tinh xoay quanh mặt trời muốn đi du hành quanh giải thiên hà này với tốc độ 210 cây số một giây, sẽ phải mất 250 triệu năm? Đứng trước vũ trụ bao la và huyền diệu này, con người quả thật quá bé nhỏ để có thể hiểu biết được những vận hành rộng lớn trong vũ trụ này. Hồi còn theo học tại Giáo Hoàng Học Viện tại Đàlạt, tôi đã cố học hỏi để tìm hiểu cách cắt nghĩa tại sao lại có sự ác trong thế giới, tại sao Thiên Chúa lại tạo dựng một thế giới bất toàn như hiện nay? Càng tìm hiểu, tôi càng bị giao động. Cho đến một ngày tôi tìm gặp trong cuốn "Toi qui cherches, Toi qui doutes" (bạn tìm hiểu, bạn nghi ngờ), Linh mục Thivollier vẽ ra hình ảnh tôi giống như con ruồi đậu trên lưng con trâu. Khi con trâu nằm nghỉ hoặc đứng yên một chỗ, con ruồi sống được những giây phút bình an thư thái. Nhưng khi con trâu chỗi dậy đi lại hoặc chạy đuổi nhau, đối với con ruồi lúc đó là những trận động đất. Và khi con trâu lội xuống đầm mình trong dòng nước, đối với con ruồi lúc đó là những trận sóng thần và lụt lội. Con ruồi phải trải qua nhiều tình huống đổi thay bất ngờ và sóng gió như thế đấy, trong lúc đối với con trâu, đó lại là tình trạng bình thường của cuộc sống, là vận hành tự nhiên trong trời đất. Chúng ta cũng vậy thôi khi đứng trước những vận hành của vũ trụ. Chúng ta cũng chỉ là những chú ruồi trên lưng con trâu. Văn hóa Đông phương chúng ta vẫn thường quan niệm cuộc đời này mỗi người đều phải trải qua chu kỳ "sinh, lão, bệnh, tử" và không ai thoát ra khỏi cái vòng định mệnh này cả. Ai cũng được sinh ra, rồi lớn lên và già cả, rồi lâm đủ thứ bệnh hoạn và sau cùng là bước tới cửa tử. Như vậy đau khổ đã trở nên một thành phần trong cuộc sống đời người. Chính Chúa Giêsu, con Thiên Chúa khi nhập thế, cũng đã chấp nhận đi vào quy trình vận hành của vũ trụ. Ngài cũng được sinh ra, rồi lớn lên, rồi đương đầu với đủ mọi thách đố, mọi đớn đau và sau cùng nằm chết trên thập giá như một tên tử tội. Nhưng điều kỳ diệu là Ngài đã chiến thắng đau khổ và sự chết khi Ngài Phục Sinh từ nấm mồ cõi chết. Sứ mệnh của Ngài đến trần gian không phải để cất sự dữ, điều ác khỏi thế giới này, nhưng làm thế nào cứu độ con người biết vươn lên tội ác và thắng thế sự ác. Giêsu trở thành một Huyền Nhiệm để những ai tuân theo lời giảng dậy của Ngài, noi theo gương sống của Ngài và để Thánh Thần của Ngài tác động, họ vượt thắng được sự dữ và tìm được hạnh phúc ngay tại cuộc sống trần gian này. Đó là ý nghĩa đích thực của ơn cứu độ. Ơn cứu độ không phải chờ mãi đến lúc chết, nhưng đang thể hiện ngay trong cuộc sống tại thế hôm nay cho những ai sống với Huyền Nhiệm Giêsu. Ơn cứu độ của Chúa Giêsu đòi hỏi sự cộng tác của con người. Chúa Giêsu đã chẳng loan báo cho những ai muốn đi theo Ngài: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy" (Mt 16: 24-25). Thử thách, đau khổ, bệnh tật, chết chóc cũng như niềm vui, may mắn, hạnh phúc trở thành những yếu tố bình thường của cuộc sống mỗi người. Ai cũng đều phải đi qua cái cầu này cả và không ai vượt thoát được. Có nhân vật nào lừng danh thế giới từ trước tới nay, kể cả Đức Phật, hay Đấng Alla hay Đức Giêsu thoát khỏi đau khổ và cái chết đâu? Các Đấng sáng lập các tôn giáo này đã đến lặn lội trong trần gian dìu dắt con người đi theo lối đường vươn lên trên khổ đau và sự dữ để được cứu độ, để được giải thoát, chứ không bị đau khổ hay sự ác đè bẹp con người trong tuyệt vọng. Sứ mệnh của tôn giáo là thế đó, trong lúc sứ mệnh của khoa học tìm cách đem lại đời sống vật chất của con người khả quan hơn. Nhưng khoa học dầu tiến bộ vượt mức như ngày nay cũng đành bó tay bất lực trước những vận hành của vũ trụ bao la này. Trở lại với đại họa sóng thần vừa qua, tôi rút ra được những bài học gì từ đây? Ngoài những xúc động tự nhiên của con người và những cổ động nhiều người tiếp tay vào công việc cứu trợ, tôi cảm thấy mình quá nhỏ bé trước đại cuộc cứu trợ vĩ đại này. Và có phải vì thấy mình quá nhỏ bé và bất lực trước những công việc lớn lao này, tôi đành ôm lấy niềm đau xót hay tìm cách lãng quên thời sự? Chính giờ phút này đây Thánh Thần Chúa nhắc nhở tôi hãy sử dụng hai loại vũ khí Ngài đã đào luyện tôi trong những năm sống vừa qua. Trước tiên tôi hãy nhìn nhận thảm họa này là ân huệ của Thượng Đế, dầu cho điều này trái ngược hẳn với những suy nghĩ hiện nay của tôi cũng như của mọi người. Từ thái độ này, tôi dâng lên Ngài lời tạ ơn và cầu nguyện cho những nạn nhân thống khổ. Từ đây tôi sẽ cảm nhận được sự an bình và thản nhiên tìm cách đối phó với thực tại. Vũ khí thứ hai Chúa muốn tôi đem sử dụng chính là hãy tìm về cầu nguyện để ca ngợi Ngài và nối kết mối giây thông hiệp với Ngài vì chính Ngài mới là sức mạnh thần diệu và toàn năng cứu độ con người. Ngài sẽ coi đây là cuộc chiến của Ngài và Ngài sẽ chiến đấu cho họ nếu họ quy hướng về Ngài, thần phục Ngài, tôn thờ Ngài, như Lời Ngài đã hứa với vua Salomon: "nếu dân Ta, dân vốn kêu cầu Danh Ta, mà biết hạ mình xuống khẩn nguyện và tìm kiếm Nhan Ta, từ bỏ những con đường xấu xa mà trở lại, thì Ta, từ trời, Ta sẽ nghe và thứ tha tội lỗi nó và sẽ phục hưng xứ sở của nó." (2Sb 7:14). Chúng ta đang nhìn thấy gì trong những ngày qua và hiện nay? Càng ngày người ta càng nhìn nhận ra sự nhỏ bé và bất lực của con người, do đó con người đang tìm đến nhau để đùm bọc nhau, để hàn gắn những thương đau của nhau, để nối kết trong yêu thương, trong kiến tạo một thế giới liên đới và đầy tình người hơn. Một hiện tượng thật kỳ diệu nữa là các tôn giáo đang nối kết với nhau và huy động mọi người cho cầu nguyện vì họ hiểu rằng thế giới nhỏ bé này vẫn cần đến một Đấng Toàn Năng hộ phù. Con người có thể hàn gắn được những thiệt hại vật chất của cơn sóng thần vừa qua, nhưng làm thế nào có thể hàn gắn được những vết thương lòng quằn quoại của các nạn nhân sóng thần trong hiện tại và trong tương lai? Đây là sứ mệnh của tôn giáo, của truyền giáo, của cầu nguyện, của bác ái. Với hoàn cảnh hiện tại, chúng ta có thể đóng góp được gì cho công cuộc cứu trợ vĩ đại này? Như Thánh Têrêsa Nhỏ trong bốn bức tường tu viện, chúng ta chỉ còn biết cầu nguyện và ca ngợi Chúa và nài xin Ngài cứu trợ thay cho, vì "những gì con người không làm được, Thiên Chúa làm được phi thường" (Mt 19:26). Cầu nguyện lúc này trở thành đôi bàn tay nối dài vạn dặm của Chúa trao cho chúng ta, cũng như xưa Chúa đã nối dài cho đôi bàn tay của Thánh Têrêsa nhỏ nơi tu viện vươn tới khắp địa cầu trên cánh đồng truyền giáo mênh mông. Sức chúng ta nhỏ nhoi, nhưng thần lực của Chúa thật vô cùng dũng mãnh. Hãy đi vào thông hiệp với Ngài trong cầu nguyện để tình yêu và sức mạnh của Ngài nối dài tấm lòng yêu thương của chúng ta tới những người khốn khổ. Amen●
NHỮNG THẮC MẮC CỦA TÂM HỒN CON NGƯỜI Philippe Madre - Thái Văn Hiến dịch Điều luôn hiển nhiên là tâm hồn của con người thường bị chiếm ngụ và băn khoăn do vô số những câu hỏi mà họ chân thành ước ao có được câu trả lời. Bằng việc làm, tư duy, nghiên cứu, nghiền ngẫm, cầu nguyện của mình, con người có khả năng nhận được câu giải đáp...nhưng không phải khi nào cũng thoả mãn. Các vấn đề được đưa ra không nhắm vào tính chất triết học, nhưng nhằm vào việc nhấn mạnh sự hiện hữu của những tiếng "tại sao" ấy, và tính chất chính đáng của chúng. Thật là thường tình khi con người, đúng là vì nhân tính của họ, mà trong hoàn cảnh nầy hay hoàn cảnh khác, đặt ra và tự đặt ra cho mình câu hỏi bất hủ "tại sao ?"...trong đó bao gồm cả việc đối diện với Thiên Chúa khi họ sẵn sàng để tin vào Người. Tôi đã gặp biết bao người có lòng tin mà cứ nghĩ một cách nghiêm túc rằng việc đặt câu hỏi với Thiên Chúa là hoàn toàn bị cấm đoán vì sự Toàn Năng của Người không tha thứ cho bất cứ một thắc mắc nào trong tâm hồn con người cả. Thật là sai lầm trầm trọng, vì chính Thiên Chúa đang chờ con người hỏi...nhưng không phải bạ cái gì cũng hỏi ! Người ta không hỏi Thiên Chúa về mưu mẹo của ma thuật, bói toán hay bất cứ một sự nương cậy nào vào những sức mạnh thần bí. Người ta cũng không hỏi Thiên Chúa với một tinh thần đòi hỏi, qua đó người ta cho rằng Người như là một Đấng phải trả lời cho chúng ta theo ý chúng ta muốn, và đúng lúc mà chúng ta cần. Người ta hỏi Thiên Chúa như một đứa bé hỏi cha nó, với lòng tín nhiệm và nhẫn nại, đinh ninh là câu trả lời tốt đẹp sẽ được đưa ra vào lúc thích hợp, lúc mà chúng ta nằm trong mức độ "lĩnh hội" được nó. 1- Hai loại thắc mắc Để đơn giản, chúng ta hãy nhận thấy bản thân chúng ta bị chiếm ngự bởi hai loại thắc mắc: a- Những thắc mắc "thuộc phương diện con người". Đây là nói về những thắc mắc động chạm đến tất cả mọi địa hạt của cuộc sống con người và những câu trả lời đều nằm trong tầm tay chúng ta, ngay cả có lúc chúng ta không đạt được tức thì. Khi khoa học gia Newton quan sát sự rơi của một trái táo, ông đã tự đặt ra cho mình câu hỏi: tại sao nó lại rơi xuống đất ?...và thế là sau một thời gian suy nghĩ dài, câu trả lời hàm chứa định lý vạn vật hấp dẫn được đưa ra. Câu trả lời đó đã nằm trong tầm tay của Newton, và có thể ông là người đầu tiên tự đặt câu hỏi... Trong tất cả những địa hạt của đời sống chúng ta, chúng ta cũng vậy, tuỳ hoàn cảnh, ngẫu nhiên hay được chúng ta xác định trước, mà chúng ta chạm trán với những thắc mắc và câu trả lời đối với chúng ta là (hoặc sẽ) có thể đạt tới được. b- Những thắc mắc vươt quá sức con người Tuy nhiên, có một loạt những thắc mắc khác mà câu trả lời triệt để sẽ chẳng bao giờ, trên trái đất nầy, con nguời có thể đạt tới được. Có một thời, chưa lâu lắm, người ta nghĩ rằng những tiến bộ của khoa học và sự tăng trưởng của trí thông minh của nhân loại sẽ giúp cho giải đáp được những thắc mắc cơ bản nhất. Giả thiết ấy về sau đã bị bỏ rơi... Bây giờ người ta biết, ngoại trừ một vài người khăng khăng, là con người mang trong mình những thắc mắc mà họ sẽ không bao giờ có thể tự mình rút ra được lời giải đáp: "Tôi là ai?" "Tại sao tôi lại hiện hữu?", "Tại sao có đau khổ và điều ác?", "Cái chết của tôi là gì?", v.v... Những thắc mắc ấy, cách nầy hay cách khác, động chạm đến ý nghĩa của chính cuộc sống chúng ta, là điều xác định căn cước và những may rủi của đời sống chúng ta. Trong tâm hồn con người, có một "ý muốn tìm hiểu" về cuộc đời của mình, đó là điều hợp lý sâu sắc. Điểm trầm trọng, chính là khi người ta không còn đặt câu hỏi nữa, hoặc người ta làm cho nó "tê liệt" trong chúng ta. Tuy nhiên, câu trả lời đối với những thắc mắc ấy vượt quá sức con người vốn chỉ nhận được lời giải đáp của họ từ một Đấng khác...từ Thiên Chúa. Tôi nghĩ đến câu chuyện có thực về tay võ sĩ quyền Anh người Do thái, gốc Hilạp và rất ít "tin vào niềm tin Do thái giáo" của anh ta. Bị cầm tù nhiều năm trong trại Auschwitz, anh ta chỉ sống sót được là nhờ vào sự khéo léo của mình trong các trận đấu trên võ đài. Tên chỉ huy trại của anh ta đã tổ chức những trận đấu quyền Anh; chỉ cần người thanh niên Do thái ấy thua - chỉ một trận thôi - là anh ta sẽ phải chết... Anh ta đã sống qua hai trăm trận, đã đấu là thắng, và đã có thể sống cho đến lúc được giải phóng vào năm 1945. Hollywood vừa quay một cuốn phim siêu hạng về câu chuyện hấp dẫn ấy. Thế nhưng, cả hôm nay nữa, bằng chính lời chứng của mình, chàng thanh niên "huyền thoại của trại Auschwitz" ấy kêu lên: "tại sao lại là tôi?... Tại sao tôi vẫn còn sống?" Anh ta đã nhìn thấy hàng trăm và hàng trăm những người bạn tù của mình phải đến lò hơi ngạt, còn anh ta, chỉ một mình anh ta giữa hàng ngàn người, lại thoát chết. Tại sao? Câu hỏi chua chát ấy đã vô tình đẩy anh ta đến với sự hiển nhiên của Thiên Chúa, có thể là một cách nghịch lý...và cả công phẫn trước cảnh của bao nhiêu là thác loạn chung quanh nữa. Nhưng anh ta chỉ ngăn cản câu trả lời dành cho tiếng kêu thắc mắc của mình, chỉ trong Thiên Chúa mà anh ta mới gặp được câu trả lời ấy, trong một sự hiểu biết vượt quá trí thông minh, vượt quá sự lý luận của chính anh ta: sự sống của anh ta là ở trong tay Thiên Chúa. Hẳn là người ta muốn bẻ lại rằng: thế còn sự sống của hàng ngàn người đã bị biến mất kia, thì sao? Nhưng người ta không ai trả lời về một biêu riếu của sự dữ bằng cách khởi tố Thiên Chúa cả. 2- Câu trả lời của con người Những thắc mắc vượt quá sức con người ấy không phải là một "sự phi lý của tự nhiên", trái lại là đằng khác. Chúng lộ ra như một "lổ hổng", một khiếm khuyết của sự đầy đặn hay sự trọn vẹn cần phải được lấp đầy. Chúng là một thúc đẩy để tìm kiếm sự thực hiện của chính bản thể chúng ta, ngay cả căn tính của chúng ta nữa, cái căn tính vốn không bao giờ là một thực hiện- tự động, một tự mình mà triển nở cả. Sự hoàn thành những gì mà chúng ta là và chúng ta ước vọng ấy chỉ được thực hiện trong một tương quan và một thông hiệp với Thiên Chúa mà thôi. Chính trong điều ấy mà các thắc mắc lôi kéo chúng ta, tuy nhiên, chỉ trong chừng mực mà ở đó câu trả lời chúng ta đưa ra không làm cho chúng ta sa lầy, không kéo chúng ta vào ngõ cụt, ảo tưởng hoặc dối trá. Nói chung, chúng ta có thể phân biệt trong cách cư xử của con người ba cách (thật là khác nhau!) trả lời cho những thắc mắc động chạm đến ý nghĩa của sự hiện hữu. Đằng khác, trong cuộc sống của mình, con người có thể chao đảo từ nhân vị nầy sang nhân vị khác, hoặc được cố định vào một nhân vị nào đó. a- Phương pháp trả lời đầu tiên là tránh né. Có biết bao người đương thời với chúng ta đang mất thì giờ để trốn tránh thắc mắc ấy, thậm chí thường không quan tâm đến nữa là đằng khác. Những diện mạo của sự trốn tránh ấy, trước hết, là vô số và đa dạng, đôi khi lại không thể hiện ra bên ngoài. Tôi chỉ xin kể ra một vài thí dụ: Viện cớ là thiếu thì giờ. Biết bao lần chúng ta nghe thấy rằng: "Tôi không có thì giờ để bận tâm đến chuyện đó...Tôi đã phải làm quá đủ...," v.v... Làm như thể những mối bận tâm của chúng ta, có ra sao thì ra, ngay cả những bận tâm đáng khen nhất, cũng đã đủ cho cuộc sống của chúng ta rồi và rốt cuộc thì ý nghĩa của cuộc sống ấy không dính dáng gì đến chúng ta cả. Để cho một cuộc sống được đầy đặn không phải là nói một cách miễn cưỡng rằng đã mang lại cho nó một ý nghĩa hay làm cho nó đạt đến được sự hoàn chỉnh của nó; còn lâu mới là như thế! Kiểu triết lý cho rằng đó sự phi lý cũng là một thứ trốn tránh đặc biệt và nhiều người đã để cho mình mắc phải. Tuyên bố một cách quả quyết rằng những thắc mắc ấy là vô ích và ảo tưởng, khẳng định rằng sự hiện hữu cũng được làm ra - giống như là một biểu hiện liên tục của sự may rủi - là để ánh lên một ý nghĩa thay thế cho sự phi lý toàn diện nhất, và cần phải "tạo cho mình một lý do" hoặc là mở mắt ra: vấn đề không có giải đáp vì chẳng có câu hỏi ! Ở đây chúng ta đang đứng trước sự hiện diện của một hình thức kiêu căng của trí tuệ mà cuối cùng chỉ làm cho trí tuệ ấy mê muội thêm mà thôi. Sự tuyệt vọng chắc chắn là hình thức giả trá nhất của sự trốn tránh nói trên. Đó là một trong những căn bệnh xã hội (và tinh thần) trầm kha nhất của thời đại chúng ta, mà các triệu chứng vẫn không biểu hiện ra trong một thời gian khá dài. Ở đây, tôi không nói đến thứ tuyệt vọng do phản ứng trước một trạng thái tình cảm bên ngoài hay trước một thất bại (chẳng hạn), nhưng nói về sự trốn tránh ít nhiều mang tính chất tự sát trong nỗi tuyệt vọng khi thì đối với giá trị của cuộc sống, khi thì với phẩm chất của một cuộc đời và tiểu sử của một con người. Có một thứ từ chối dần dần, có thể là không được ý thức mấy vào lúc đầu, có liên quan đến tinh thần trách nhiệm, mà trên thực tế "đáng gánh vác" để sống, và sống "triệt để"... nói vắn tắt là để tin vào con người mà tôi đang là. Một thống kê khá thuyết phục: Canada, xứ sở mà những người trẻ được bảo đảm nhất thế giới và có mọi lý do để được sung sướng, thế nhưng đó cũng là xứ có nhiều thanh niên tự sát nhất...vì ích gì mà phải suy nghĩ về lý do tại sao có sự hiện hữu và ý niệm về hạnh phúc chứ! Chúng ta đừng quên rằng các bác sĩ thần kinh, đặc biệt là ở trường của V. Frankl nổi tiếng thế giới, đã nhìn nhận sự xuất hiện, từ khoảng hai mươi măm nay trong những xã hội được gọi là công nghệp hoá, một hình thức mới của chứng suy nhược thần kinh, gọi là "noogène". Đó là một chứng suy nhược đặc biệt, tổng hợp 15 đến 20% các chứng suy nhược, không bắt nguồn từ một xung đột tâm lý, nhưng từ một vấn đề thuộc phương diện tinh thần (theo nghĩa rộng), động chạm đến sự vắng mặt của ý nghĩa đích thực của cuộc sống: người ta trở nên suy nhược vì không tìm tòi hoặc gặp thấy câu trả lời cho nỗi thắc mắc ấy. b- Phương pháp trả lời thứ hai là việc đầu tư vào một giá trị nhân bản. Chúng ta hãy hiểu cho rõ ràng là: ở đây không có ý đưa ra một tranh tụng về những giá trị nhân bản...ngoại trừ những giá trị bị thoái hoá hoặc mang tính chất giả trá. Các giá trị luân lý, nhân bản hay nhân vị đều là những cái tiên quyết đối với sự quân bình của một xã hội và một cá thể. Chúng cũng là những tiêu chuẩn để tìm hiểu và xúc tiến tạo điều kiện thuận lợi cho sự quân bình ấy. Nhưng cho dẫu phẩm cách của chúng có thế nào đi nữa, thì chúng cũng chẳng bao giờ hình thành được một cứu cánh ngay trong chính nó cả. Nói cách khác: Không một giá trị nào giữa những giá trị ấy có thể thực sự trở thành ý nghĩa lâu bền của một cuộc sống, thành câu trả lời cho một thắc mắc cơ bản của tâm hồn cả. Tất cả giá trị xây dựng nhân bản sẽ chỉ là công cụ mà thôi. Thế nhưng, có nhiều người, tin hoặc không tin, chí ít là trong một giai đoạn sống của họ, lại quá đầu tư vào một hay nhiều các giá trị ấy. Người ta sẽ chống chế rằng thà làm như vậy hơn là trốn tránh, như chúng ta đã gợi ra ở trên. Có thể, nhưng...tất cả những giá trị nhân bản, dẫu là đáng khen nhất, nếu được xây dựng như một mục đích tối hậu của cuộc sống, thì trở thành mưu toan chiếm đọat nhân vị, thành độc đoán và tù túng. Một cứu cánh như thế, thoạt đầu thì thật đáng ước ao, cuối cùng quay lại tự tạo cho mình một thứ ý thức hệ. Có biết bao ý thức hệ, là nguyên do của những nỗi đau khổ, được khai sinh từ một sự đầu tư thái quá như thế vào một giá trị nhân bản. Thế nhưng, điều mà chỉ là nhân bản mà thôi, dẫu là đẹp đẽ đi nữa, thì cũng không thể làm thỏa mãn cho con người, cho nỗi khát khao của họ về ý nghĩa và về điều tuyệt đối. Các thí dụ sẽ làm cho chúng ta nắm bắt tốt hơn: công bằng là một giá trị nhân bản đáng kính trọng. Tất cả chúng ta, vì là con người, nên được mời gọi để ao ước, tìm kiếm giá trị ấy. Nhưng, công bằng không phải là một cứu cánh của sự hiện hữu. Người ta không thể “tận hiến cả cuộc đời của mình” cho sự công bằng được. Bấy giờ người ta sẽ có khuynh hướng đặt ra một ngẫu tượng, bất chấp phẩm chất luân lý hiển nhiên của mình. Điều ấy cũng xảy ra với chủ trương bất bạo động. Những ai tranh đấu cho chủ trương bất bạo động, bằng cách "hy sinh" cho chủ trương ấy một phần quan trọng của đời mình, thì làm thành một ý thức hệ. Họ đích thân kiến tạo càng lúc càng độc đoán khái niệm về bất bạo động...và xây dựng nó thành "các thần tượng giả" cho cuộc sống của họ, nghĩa là như động cơ, ý nghĩa và cứu cánh cho chính cuộc đời của họ. Tuy nhiên, bất bạo động tự nó là một điều tốt đẹp và đáng được vận động...nhưng chỉ có Thiên Chúa mới mạc khải cho ý nghĩa của một cuộc đời; và việc đầu tư ấy, nếu được sống một cách triệt để, thì có nguy cơ "che khuất Thiên Chúa." Những giá trị khác, đáng ca tụng ngay trong chính nó, có thể được kể ra, như gia đình chẳng hạn. Ai lại nghi hoặc về sự quan trọng của một giá trị mà thế giới chúng ta đang cần đến như thế? Tuy nhiên, có một số cách thế đầu tư vào một mô hình của gia đình khiến cho gia đình trở nên tù túng và phương hại đến sự phong phú của gia đình. Bởi chưng gia đình không múc lấy ý nghĩa của mình trong chính mình được, nhưng nhận được ý nghĩa ấy từ nơi Thiên Chúa. Sau hết, tôi xin đưa ra thí dụ về nghệ thuật, cũng là một trong những giá trị tiên quyết của một xã hội. Tự đâ |