NHỮNG THẮC MẮC CỦA TÂM HỒN CON NGƯỜI

Philippe Madre

 Thái Văn Hiến dịch

Điều luôn hiển nhiên là tâm hồn của con người thường bị chiếm ngụ và băn khoăn do vô số những câu hỏi mà họ chân thành ước ao có được câu trả lời. Bằng việc làm, tư duy, nghiên cứu, nghiền ngẫm, cầu nguyện của mình, con người có khả năng nhận được câu giải đáp...nhưng không phải khi nào cũng thoả mãn.

Các vấn đề được đưa ra không nhắm vào tính chất triết học, nhưng nhằm vào việc nhấn mạnh sự hiện hữu của những tiếng "tại sao" ấy, và tính chất chính đáng của chúng. Thật là thường tình khi con người, đúng là vì nhân tính của họ, mà trong hoàn cảnh nầy hay hoàn cảnh khác, đặt ra và tự đặt ra cho mình câu hỏi bất hủ "tại sao ?"...trong đó bao gồm cả việc đối diện với Thiên Chúa khi họ sẵn sàng để tin vào Người.

Tôi đã gặp biết bao người có lòng tin mà cứ nghĩ một cách nghiêm túc rằng việc đặt câu hỏi với Thiên Chúa là hoàn toàn bị cấm đoán vì sự Toàn Năng của Người không tha thứ cho bất cứ một thắc mắc nào trong tâm hồn con người cả. Thật là sai lầm trầm trọng, vì chính Thiên Chúa đang chờ con người hỏi...nhưng không phải bạ cái gì cũng hỏi ! Người ta không hỏi Thiên Chúa về mưu mẹo của ma thuật, bói toán hay bất cứ một sự nương cậy nào vào những sức mạnh thần bí.

Người ta cũng không hỏi Thiên Chúa với một tinh thần đòi hỏi, qua đó người ta cho rằng Người như là một Đấng phải trả lời cho chúng ta theo ý chúng ta muốn, và đúng lúc mà chúng ta cần.

Người ta hỏi Thiên Chúa như một đứa bé hỏi cha nó, với lòng tín nhiệm và nhẫn nại, đinh ninh là câu trả lời tốt đẹp sẽ được đưa ra vào lúc thích hợp, lúc mà chúng ta nằm trong mức độ "lĩnh hội" được nó.

1- Hai loại thắc mắc

     Để đơn giản, chúng ta hãy nhận thấy bản thân chúng ta bị chiếm ngự bởi hai loại thắc mắc:

a- Những thắc mắc "thuộc phương diện con người".

Đây là nói về những thắc mắc động chạm đến tất cả mọi địa hạt của cuộc sống con người và những câu trả lời đều nằm trong tầm tay chúng ta, ngay cả có lúc chúng ta không đạt được tức thì.

Khi khoa học gia Newton quan sát sự rơi của một trái táo, ông đã tự đặt ra cho mình câu hỏi: tại sao nó lại rơi xuống đất ?...và thế là sau một thời gian suy nghĩ dài, câu trả lời hàm chứa định lý vạn vật hấp dẫn được đưa ra.

Câu trả lời đó đã nằm trong tầm tay của Newton, và có thể ông là người đầu tiên tự đặt câu hỏi...

Trong tất cả những địa hạt của đời sống chúng ta, chúng ta cũng vậy, tuỳ hoàn cảnh, ngẫu nhiên hay được chúng ta xác định trước, mà chúng ta chạm trán với những thắc mắc và câu trả lời đối với chúng ta là (hoặc sẽ) có thể đạt tới được.

b- Những thắc mắc vươt quá sức con người

Tuy nhiên, có một loạt những thắc mắc khác mà câu trả lời triệt để sẽ chẳng bao giờ, trên trái đất nầy, con nguời có thể đạt tới được. Có một thời, chưa lâu lắm, người ta nghĩ rằng những tiến bộ của khoa học và sự tăng trưởng của trí thông minh của nhân loại sẽ giúp cho giải đáp được những thắc mắc cơ bản nhất. Giả thiết ấy về sau đã bị bỏ rơi...

Bây giờ người ta biết, ngoại trừ một vài người khăng khăng, là con người mang trong mình những thắc mắc mà họ sẽ không bao giờ có thể tự mình rút ra được lời giải đáp: "Tôi là ai?" "Tại sao tôi lại hiện hữu?", "Tại sao có đau khổ và điều ác?", "Cái chết của tôi là gì?", v.v...

Những thắc mắc ấy, cách nầy hay cách khác, động chạm đến ý nghĩa của chính cuộc sống chúng ta, là điều xác định căn cước và những may rủi của đời sống chúng ta. Trong tâm hồn con người, có một "ý muốn tìm hiểu" về cuộc đời của mình, đó là điều hợp lý sâu sắc. Điểm trầm trọng, chính là khi người ta không còn đặt câu hỏi nữa, hoặc người ta làm cho nó "tê liệt" trong chúng ta.

Tuy nhiên, câu trả lời đối với những thắc mắc ấy vượt quá sức con người vốn chỉ nhận được lời giải đáp của họ từ một Đấng khác...từ Thiên Chúa.

Tôi nghĩ đến câu chuyện có thực về tay võ sĩ quyền Anh người Do thái, gốc Hilạp và rất ít "tin vào niềm tin Do thái giáo" của anh ta. Bị cầm tù nhiều năm trong trại Auschwitz, anh ta chỉ sống sót được là nhờ vào sự khéo léo của mình trong các trận đấu trên võ đài. Tên chỉ huy trại của anh ta đã tổ chức những trận đấu quyền Anh; chỉ cần người thanh niên Do thái ấy thua - chỉ một trận thôi - là anh ta sẽ phải chết... Anh ta đã sống qua hai trăm trận, đã đấu là thắng, và đã có thể sống cho đến lúc được giải phóng vào năm 1945. Hollywood vừa quay một cuốn phim siêu hạng về câu chuyện hấp dẫn ấy.

Thế nhưng, cả hôm nay nữa, bằng chính lời chứng của mình, chàng thanh niên "huyền thoại của trại Auschwitz" ấy kêu lên: "tại sao lại là tôi?... Tại sao tôi vẫn còn sống?" Anh ta đã nhìn thấy hàng trăm và hàng trăm những người bạn tù của mình phải đến lò hơi ngạt, còn anh ta, chỉ một mình anh ta giữa hàng ngàn người, lại thoát chết.

Tại sao? Câu hỏi chua chát ấy đã vô tình đẩy anh ta đến với sự hiển nhiên của Thiên Chúa, có thể là một cách nghịch lý...và cả công phẫn trước cảnh của bao nhiêu là thác loạn chung quanh nữa. Nhưng anh ta chỉ ngăn cản câu trả lời dành cho tiếng kêu thắc mắc của mình, chỉ trong Thiên Chúa mà anh ta mới gặp được câu trả lời ấy, trong một sự hiểu biết vượt quá trí thông minh, vượt quá sự lý luận của chính anh ta: sự sống của anh ta là ở trong tay Thiên Chúa.

Hẳn là người ta muốn bẻ lại rằng: thế còn sự sống của hàng ngàn người đã bị biến mất kia, thì sao? Nhưng người ta không ai trả lời về một biêu riếu của sự dữ bằng cách khởi tố Thiên Chúa cả.

2- Câu trả lời của con người

Những thắc mắc vượt quá sức con người ấy không phải là một "sự phi lý của tự nhiên", trái lại là đằng khác. Chúng lộ ra như một "lổ hổng", một khiếm khuyết của sự đầy đặn hay sự trọn vẹn cần phải được lấp đầy. Chúng là một thúc đẩy để tìm kiếm sự thực hiện của chính bản thể chúng ta, ngay cả căn tính của chúng ta nữa, cái căn tính vốn không bao giờ là một thực hiện- tự động, một tự mình mà triển nở cả. Sự hoàn thành những gì mà chúng ta là và chúng ta ước vọng ấy chỉ được thực hiện trong một tương quan và một thông hiệp với Thiên Chúa mà thôi. Chính trong điều ấy mà các thắc mắc lôi kéo chúng ta, tuy nhiên, chỉ trong chừng mực mà ở đó câu trả lời chúng ta đưa ra không làm cho chúng ta sa lầy, không kéo chúng ta vào ngõ cụt, ảo tưởng hoặc dối trá.

Nói chung, chúng ta có thể phân biệt trong cách cư xử của con người ba cách (thật là khác nhau!) trả lời cho những thắc mắc động chạm đến ý nghĩa của sự hiện hữu. Đằng khác, trong cuộc sống của mình, con người có thể chao đảo từ nhân vị nầy sang nhân vị khác, hoặc được cố định vào một nhân vị nào đó.

a- Phương pháp trả lời đầu tiên là tránh né.

Có biết bao người đương thời với chúng ta đang mất thì giờ để trốn tránh thắc mắc ấy, thậm chí thường không quan tâm đến nữa là đằng khác. Những diện mạo của sự trốn tránh ấy, trước hết, là vô số và đa dạng, đôi khi lại không thể hiện ra bên ngoài. Tôi chỉ xin kể ra một vài thí dụ:

Viện cớ là thiếu thì giờ. Biết bao lần chúng ta nghe thấy rằng: "Tôi không có thì giờ để bận tâm đến chuyện đó...Tôi đã phải làm quá đủ...," v.v... Làm như thể những mối bận tâm của chúng ta, có ra sao thì ra, ngay cả những bận tâm đáng khen nhất, cũng đã đủ cho cuộc sống của chúng ta rồi và rốt cuộc thì ý nghĩa của cuộc sống ấy không dính dáng gì đến chúng ta cả. Để cho một cuộc sống được đầy đặn không phải là nói một cách miễn cưỡng rằng đã mang lại cho nó một ý nghĩa hay làm cho nó đạt đến được sự hoàn chỉnh của nó; còn lâu mới là như thế!

Kiểu triết lý cho rằng đó sự phi lý cũng là một thứ trốn tránh đặc biệt và nhiều người đã để cho mình mắc phải. Tuyên bố một cách quả quyết rằng những thắc mắc ấy là vô ích và ảo tưởng, khẳng định rằng sự hiện hữu cũng được làm ra - giống như là một biểu hiện liên tục của sự may rủi - là để ánh lên một ý nghĩa thay thế cho sự phi lý toàn diện nhất, và cần phải "tạo cho mình một lý do" hoặc là mở mắt ra: vấn đề không có giải đáp vì chẳng có câu hỏi ! Ở đây chúng ta đang đứng trước sự hiện diện của một hình thức kiêu căng của trí tuệ mà cuối cùng chỉ làm cho trí tuệ ấy mê muội thêm mà thôi.

Sự tuyệt vọng chắc chắn là hình thức giả trá nhất của sự trốn tránh nói trên. Đó là một trong những căn bệnh xã hội (và tinh thần) trầm kha nhất của thời đại chúng ta, mà các triệu chứng vẫn không biểu hiện ra trong một thời gian khá dài.

Ở đây, tôi không nói đến thứ tuyệt vọng do phản ứng trước một trạng thái tình cảm bên ngoài hay trước một thất bại (chẳng hạn), nhưng nói về sự trốn tránh ít nhiều mang tính chất tự sát trong nỗi tuyệt vọng khi thì đối với giá trị của cuộc sống, khi thì với phẩm chất của một cuộc đời và tiểu sử của một con người.

Có một thứ từ chối dần dần, có thể là không được ý thức mấy vào lúc đầu, có liên quan đến tinh thần trách nhiệm, mà trên thực tế "đáng gánh vác" để sống, và sống "triệt để"... nói vắn tắt là để tin vào con người mà tôi đang là.

Một thống kê khá thuyết phục: Canada, xứ sở mà những người trẻ được bảo đảm nhất thế giới và có mọi lý do để được sung sướng, thế nhưng đó cũng là xứ có nhiều thanh niên tự sát nhất...vì ích gì mà phải suy nghĩ về lý do tại sao có sự hiện hữu và ý niệm về hạnh phúc chứ!

Chúng ta đừng quên rằng các bác sĩ thần kinh, đặc biệt là ở trường của V. Frankl nổi tiếng thế giới, đã nhìn nhận sự xuất hiện, từ khoảng hai mươi măm nay trong những xã hội được gọi là công nghệp hoá, một hình thức mới của chứng suy nhược thần kinh, gọi là "noogène".

Đó là một chứng suy nhược đặc biệt, tổng hợp 15 đến 20% các chứng suy nhược, không bắt nguồn từ một xung đột tâm lý, nhưng từ một vấn đề thuộc phương diện tinh thần (theo nghĩa rộng), động chạm đến sự vắng mặt của ý nghĩa đích thực của cuộc sống: người ta trở nên suy nhược vì không tìm tòi hoặc gặp thấy câu trả lời cho nỗi thắc mắc ấy.

b- Phương pháp trả lời thứ hai là việc đầu tư vào một giá trị nhân bản.

Chúng ta hãy hiểu cho rõ ràng là: ở đây không có ý đưa ra một tranh tụng về những giá trị nhân bản...ngoại trừ những giá trị bị thoái hoá hoặc mang tính chất giả trá. Các giá trị luân lý, nhân bản hay nhân vị đều là những cái tiên quyết đối với sự quân bình của một xã hội và một cá thể. Chúng cũng là những tiêu chuẩn để tìm hiểu và xúc tiến tạo điều kiện thuận lợi cho sự quân bình ấy. Nhưng cho dẫu phẩm cách của chúng có thế nào đi nữa, thì chúng cũng chẳng bao giờ hình thành được một cứu cánh ngay trong chính nó cả. Nói cách khác: Không một giá trị nào giữa những giá trị ấy có thể thực sự trở thành ý nghĩa lâu bền của một cuộc sống, thành câu trả lời cho một thắc mắc cơ bản của tâm hồn cả.

Tất cả giá trị xây dựng nhân bản sẽ chỉ là công cụ mà thôi. Thế nhưng, có nhiều người, tin hoặc không tin, chí ít là trong một giai đoạn sống của họ, lại quá đầu tư vào một hay nhiều các giá trị ấy.

Người ta sẽ chống chế rằng thà làm như vậy hơn là trốn tránh, như chúng ta đã gợi ra ở trên. Có thể, nhưng...tất cả những giá trị nhân bản, dẫu là đáng khen nhất, nếu được xây dựng như một mục đích tối hậu của cuộc sống, thì trở thành mưu toan chiếm đọat nhân vị, thành độc đoán và tù túng. Một cứu cánh như thế, thoạt đầu thì thật đáng ước ao, cuối cùng quay lại tự tạo cho mình một thứ ý thức hệ. Có biết bao ý thức hệ, là nguyên do của những nỗi đau khổ, được khai sinh từ một sự đầu tư thái quá như thế vào một giá trị nhân bản. Thế nhưng, điều mà chỉ là nhân bản mà thôi, dẫu là đẹp đẽ đi nữa, thì cũng không thể làm thỏa mãn cho con người, cho nỗi khát khao của họ về ý nghĩa và về điều tuyệt đối.

Các thí dụ sẽ làm cho chúng ta nắm bắt tốt hơn: công bằng là một giá trị nhân bản đáng kính trọng. Tất cả chúng ta, vì là con người, nên được mời gọi để ao ước, tìm kiếm giá trị ấy. Nhưng, công bằng không phải là một cứu cánh của sự hiện hữu. Người ta không thể “tận hiến cả cuộc đời của mình” cho sự công bằng được. Bấy giờ người ta sẽ có khuynh hướng đặt ra một ngẫu tượng, bất chấp phẩm chất luân lý hiển nhiên của mình.

Điều ấy cũng xảy ra với chủ trương bất bạo động. Những ai tranh đấu cho chủ trương bất bạo động, bằng cách "hy sinh" cho chủ trương ấy một phần quan trọng của đời mình, thì làm thành một ý thức hệ. Họ đích thân kiến tạo càng lúc càng độc đoán khái niệm về bất bạo động...và xây dựng nó thành "các thần tượng giả" cho cuộc sống của họ, nghĩa là như động cơ, ý nghĩa và cứu cánh cho chính cuộc đời của họ. Tuy nhiên, bất bạo động tự nó là một điều tốt đẹp và đáng được vận động...nhưng chỉ có Thiên Chúa mới mạc khải cho ý nghĩa của một cuộc đời; và việc đầu tư ấy, nếu được sống một cách triệt để, thì có nguy cơ "che khuất Thiên Chúa."

Những giá trị khác, đáng ca tụng ngay trong chính nó, có thể được kể ra, như gia đình chẳng hạn. Ai lại nghi hoặc về sự quan trọng của một giá trị mà thế giới chúng ta đang cần đến như thế? Tuy nhiên, có một số cách thế đầu tư vào một mô hình của gia đình khiến cho gia đình trở nên tù túng và phương hại đến sự phong phú của gia đình. Bởi chưng gia đình không múc lấy ý nghĩa của mình trong chính mình được, nhưng nhận được ý nghĩa ấy từ nơi Thiên Chúa.

Sau hết, tôi xin đưa ra thí dụ về nghệ thuật, cũng là một trong những giá trị tiên quyết của một xã hội. Tự đầu tư mình trong một hình thức nghệ thuật đến độ làm cho nó trở thành "bản thể" của cuộc đời của mình, thì trở thành một kiểu tự yêu mình sâu sắc và sản sinh ra một kiểu tự kỷ trung tâm lộ liễu. Tuy nhiên, thật thích hợp khi trau giồi những khả năng nghệ thuật của mình. Nhưng một đằng là thực hành nghệ thuật của mình "vì mình" (thậm chí có khi điều ấy đảm bảo có được hàng ngàn người thán phục) và đằng khác là sống nghệ thuật ấy trong sự tuỳ thuộc vào một Đấng khác...theo cách nói của Kinh Thánh, người ta sẽ nói là: trước Thánh Nhan của Thiên Chúa.

c- Một cách thứ ba để trả lời nằm trong một mở ra với Thiên Chúa

Chấp nhận rằng một sự hiện hữu phụ thuộc vào một Đấng khác ban nó cho chúng ta, đang đặt cái nhìn của Người trên chúng ta và trở thành như một người đối thoại, và vì thế không phải là một người bạn, nhưng lớn lao hơn thế nữa, đó là sự mở ra với Thiên Chúa. Như vậy, khái niệm về lòng tin can thiệp vào, vì người ta không thể thực sự chấp nhận sự hiện diện của Thiên Chúa mà không có một chút tối thiểu của lòng tin...có thể là niềm tin ấy còn loang lổ những quan niệm lầm lạc về vị Thiên Chúa được xem như là tạo dựng nên tôi và chờ đợi nơi tôi một điều gì đó. Chúng ta sẽ trở lại chủ đề về những nỗi sợ hãi đang chiếm ngụ trong chúng ta.

Vào giai đoạn mà chúng ta hiện đang có mặt, chúng ta cũng biết đủ, để định vị chúng ta tốt hơn, là có hai cách để mờ ra với Thiên Chúa. Những anh chị em đang tìm hiểu ơn gọi của mình thì rõ ràng là có lòng tin. Không có nó, hoặc là vào nhũng lúc niềm tin ấy đối với họ có vẻ mong manh và hâm hẩm, thì họ sẽ chẳng hề đặt câu hỏi về ơn gọi của mình chút nào. Như vậy, chúng ta tự định vị mình trong sự hiển nhiên của đức tin : Thiên Chúa hiện hữu và, cách nầy hay cách khác, tôi đã gặp Người, vị Thiên Chúa của ĐGS Kitô ấy, và hồng ân của Ngưòi ít ra là đã bắt đầu làm việc trong tôi, cho đến khi nhú mầm một ước muốn đi theo Người, phục vụ Người và yêu mến Người.

Hiện bây giờ, tôi định vị mình như thế nào trước mặt Người đây? Tôi đón nhận Người như thế nào? Tôi "quản lý" mối liên hệ của tôi với Người như thế nào, trong phạm vi của tiếng gọi dành cho tôi?

  Chính ở đó mà chen vào hai cách tự mở ra với Người. Thực ra, hình rẻ quạt ấy còn rộng lớn hơn thế nhiều, nhưng quả đúng là thái độ của chúng ta được xác nhận chung quanh một trong hai trục sau đây:

 * Hoặc là tôi tự mang lại cho cuộc đời của mình một ý nghĩa, dưới cái  nhìn của Thiên Chúa. Tôi tin vào Người, tôi biết Người gọi tôi... và tôi quyết  định, dĩ nhiên là với ý định tốt nhất trong thế gian nầy, những gì phù  hợp để tôi thực hiện cả đời tôi cho Người. Chúng ta hãy công nhận rằng  có nhiều Kitô hữu đã "giải quyết" vấn đề ơn gọi của mình theo cách là :  giữ lại sáng kiến (thường là hết sức trung thực) của những công việc  của mình, những quyết định của mình...nhưng người ta thực hiện điều ấy  trong đức tin, trong những gì mà người ta cho là tốt lành đối với vinh  quang của Thiên Chúa và phục vụ Giáo Hội.

 * Hoặc tôi để Thiên Chúa làm cho tôi cảm nhận được tiếng gọi dành riêng cho tôi,  tiếng gọi mà có thể làm cho tôi bất ngờ. Tôi tự đặt mình vào sự sắp đặt  của Người để nhận lấy - chứ không phải tự tôi quyết định - những gì mà  Người chờ đợi nơi tôi. Đôi khi tôi sẽ cần phải nhẫn nại, phải để Người  làm cho tôi chín muồi hầu ước muốn của Người trên tôi được đón nhận cách  tốt đẹp trong lòng tôi. Có đôi lúc tiếng gọi ấy sẽ có vẻ thúc bách và  sẽ nhanh chóng được biểu lộ ra (có thể là quá nhanh đối với sở thích  của tôi). Sự khác biệt với trục thứ nhất là động tác phó thác tin tưởng  và tỉnh thức, không thụ động chút nào, xác định được thái độ của riêng  tôi: có một chờ đợi đặc biệt trong chủ thể của tôi; Người biểu lộ ra,  còn tôi thì đặt mình lắng nghe Người... 

Thật thừ̀a khi nói thêm, mà không có sự so sánh giá trị, là thái độ thứ hai được Thiên Chúa ưa thích hơn vì nó để cho Người tự do nói với tôi như nói với một người bạn và trong chừng mực của những gì mà tôi có thể chủ động gánh vác được.

Dĩ nhiên là Thiên Chúa chấp nhận tất cả những nỗ lực, những sắp xếp đi vào chiều hướng phục vụ Người, đi theo Người, và vận động cho chân lý của Tin Mừng.

Chính vì thế mà cũng hãy công nhận những người tổ chức cuộc sống của họ trên những gì do đức tin mang lại (xem trục thứ nhất). Nhưng Tình Yêu của Người được "làm ra như thế" là vì Người muốn người ta để cho Người diễn tả nó cho họ, bằng việc tỏ lộ ra một tiếng gọi chẳng hạn. 

3- Một cuộc sống được Thiên Chúa cư ngụ

Kinh nghiệm về việc lắng nghe của nhiều người đồng hành với Đức Kitô thúc đẩy tôi đến với một kết luận dạn dĩ: rõ ràng là hình như ý nghĩa đích thực của đời tôi, được gấp bội thêm bằng việc khám phá ra ơn gọi của tôi chỉ có thể là "để nhận lãnh" mà thôi. Có thể sẽ phải cần nhiều thời gian, sẽ có những nhầm lẫn, những công phẫn hay những điều không thể hiểu được để tôi gặp được khả năng nhận lãnh ánh sáng của Chúa. Nhưng trên thực tế, người ta chẳng bao giờ có thể tự làm cho mình thích hợp với ánh sáng ấy được. Đôi khi Thiên Chúa để lọt ra một vài tia sáng khi tôi cố gắng một cách quá "bướng bỉnh" hòng nắm bắt được ánh sáng ấy. Người chấp nhận để cho bị điêu đứng vì sự khẩn khoản hay tính táo bạo của tôi, và, trong khi đánh giá những nỗ lực của tôi (có thể cả những ý ngay lành của tôi nữa), Người ban cho tôi tuỳ theo hoàn cảnh một tia chiếu nào đó ánh sáng của Người.

 Nhưng chúng ta hãy dám nhắc lại rằng ánh sáng ấy, cuối cùng chỉ có thể để lãnh nhận mà thôi. Và trong khi liên hệ đến tiếng gọi được đặt ra cho tôi, tuy đối với tôi có vẻ như đã bắt đầu - bằng chính những sáng kiến của mình - bước đi theo Chúa Kitô, lòng tôi sẽ vẫn cứ không thoả mãn chừng nào mà tôi vẫn chưa chấp nhận lãnh lấy ơn ban ấy của Thiên Chúa, tức là ánh sáng cho ơn gọi của tôi.

Vâng, chừng nào tôi còn tự mình, bằng lòng tin, mang lại cho mình tiếng gọi riêng, và còn hơn thế nữa, chừng ấy tôi sẽ vẫn trốn tránh nó, sự bất mãn sẽ dai dẳng trong tâm hồn tôi, với cảm tưởng là tôi không đến được với ánh sáng thật, cũng như đến được với những gì mà vì nó tôi thực sự được tạo thành.

Tôi phải học biết cách nhận lãnh từ Thiên Chúa sự khôn ngoan của chính Người về cuộc sống, sự khôn ngoan mà sẽ mang lại cho tôi niềm hạnh phúc. Tuy nhiên, hạnh phúc ấy không có nghĩa là tôi phải chịu đựng một ý định của Thiên Chúa, như một con rối trong đôi tay của một ông chủ.

Điều thiết yếu là hãy để cho trỗi lên trong ý thức của tôi những gì mà tôi đã mang lấy trong chính mình (trên phương diện của sự khôn ngoan ấy) một cách hết sức cồng kềnh hoặc bị bóp nghẹt do đủ thứ công phẫn, lo sợ, hay ước muốn đa dạng và thường là mâu thuẫn. Điều thích hợp trước hết để hiểu được, chính là Thiên Chúa "đã" hy vọng nơi tôi những gì mà tôi vẫn chưa biết (có thể). Và nếu Người hy vọng như thế, thì chính Người đã ban cho tôi hồng ân và sức mạnh cần thiết để chu toàn điều ấy.

Trích L’Appel de Dieu.

 

Trở về Muc Lục