|
|
Số 34, Ngày 22-01-2005 Đức Gioan Phaolô II và Việc Hiệp Nhất Kitô Giáo Đức Giêsu Xuất Thân Từ Vùng Đất Dân Ngoại - Nguyễn Chính Kết Giáo Dân Thời Giáo Hội Sơ Khai – Viên Gạch Xây Dựng - Lm. Phêrô Phan Đình Cho Nếu... - Michel Quoist Tôi Đã Gặp... - Một nữ tu dòng Thánh Phaolô (SPC) Lạy Chúa, Khi Con Đói... - Mẹ Têrêxa Calcutta Chúa Biết Rằng Con Yếu Đuối - Michel Quoist
Kính thưa quý độc giả, Giáo Hội Công Giáo dành tuần lễ 18-25 tháng 01 để cầu nguyện cho việc Hiệp Nhất Kitô giáo. Năm 1908, Paul Watson đề nghị tuần lễ này để làm cầu nối giữa lễ thánh Phêrô và lễ thánh Phaolô (trở lại), qua đó nói lên ý nghĩa biểu trưng cho tuần lễ này. Ở nam bán cầu, tháng Giêng thường là tháng nghỉ nên các Giáo Hội địa phương thường tìm thời gian khác để thực hiện Tuần Cầu Nguyện, ví dụ như những tuần gần Lễ Hiện Xuống (theo đề nghị của phong trào Faith and Order năm 1926), và Lễ Hiện Xuống cũng là một lễ biểu trưng cho sự Hiệp Nhất Kitô hữu. Nhưng Kitô hữu không chỉ tìm kiếm sự hiệp nhất mỗi năm một tuần mà thôi. Giáo Hội uyển chuyển trong thời gian dành để cầu nguyện, nhưng trong suốt năm chúng ta vẫn phải tìm dịp để sống mầu nhiệm Hiệp Nhất, và tiếp tục cầu nguyện với nhau cho sự Hiệp Nhất này, vì đấy là ý muốn thiết tha của Chúa Kitô. Tuy nhiên cần lưu ý điều này: ‘cầu nguyện’ cho sự Hiệp Nhất, chứ không phải là ‘nói về’ Hiệp Nhất, hoặc ‘tìm phương pháp’ Hiệp Nhất. Bởi vì sự hiệp nhất xuất phát trước hết từ con tim của Kitô hữu chứ không phải từ những lời nói, dù cho đó là lời ‘đối thoại’, chứ đừng nói đến những lời tranh luận hay phê phán. Ngay tên gọi ‘Hiệp Nhất Kitô giáo’ (Christian Unity) hay ‘Hiệp Nhất Kitô hữu’ (Unity of Christians) cũng là một vấn đề gây tranh cãi rồi. Vì thế, Maranatha_34 sẽ đề cập về tinh thần Hiệp Nhất qua những lời giáo huấn của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, và dành phần lớn cho những suy tư và cầu nguyện của mỗi cá nhân, để định vị mình trước mặt Thiên Chúa, hầu chúng ta khởi sự bước hiệp nhất căn bản: hiệp nhất mình với chính mình. Trong tinh thần đó, tuần này, Maranatha tạm gác những bài tuy sâu sắc, nhưng mang nặng tính học thuật (ngoại trừ bài của Lm. Phan Đình Cho, cần phải đăng tiếp và bài suy niệm cho chúa nhật tuần này), để dành chỗ cho những bài ngăn ngắn và nhẹ nhàng, cùng với khá nhiều bài suy tư, lời cầu nguyện đa dạng, có khi sâu lắng, có khi đơn sơ, có khi dí dỏm, nhưng vẫn đầy ắp tâm tình. Như thế, Maranatha_34 là một trạm ‘dừng chân’ sau một quãng đường 6 tháng qua đã cùng đồng hành với các độc giả trong tâm tình khẩn cầu xin Chúa đến. Mong rằng lần ‘dừng chân’ này cũng là một lần lắng đọng lại để ‘đón nhận’ Thần Khí cách thẳm sâu hơn, và tiếp tục con đường lữ thứ của những người đi theo Chúa Kitô. Và để cho thư ngỏ này cũng là lời cầu nguyện thay cho một diễn từ, xin ghi lại những lời cầu của Ginette Cormier: Maranatha ! Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến, Xóa tan cơn đói trầm kha Mà con cảm tự đáy lòng mình Đói Tình Yêu Chúa, đói Thần Khí Chúa Đói sự vô biên, nghĩa là đói Chúa.
Maranatha ! Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến, Biến đổi sự nghèo nàn trái tim con Thành tình yêu với chiều kích vô biên Xin giúp con trở thành đền thờ Xứng đáng cho Chúa ngự.
Maranatha ! Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến, Dạy con biết chia sẻ niềm vui Chứ đừng giữ mãi cho riêng mình, Mà để cho tuôn chảy, như một dòng suối mát Trên những ai khổ đau trong thể xác hay tinh thần.
Maranatha ! Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến, Để suốt ngày con sống Dù con đang làm gì, Thì tiếng hát hân hoan vẫn dâng lên môi miệng: Xin ngợi khen Chúa vì tất cả mọi kỳ công!
Maranatha! Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến, Suốt đời con, kinh này, con đọc mãi Cho đến khi Chúa thương gọi con về Để con được ngắm thiên nhan của Chúa Trong vinh quang huy hoàng.
Maranatha! Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến. MARANATHA
ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II VÀ VIỆC HIỆP NHẤT KITÔ GIÁO
TẨY RỬA KÝ ỨC. Trong buổi gặp gỡ Đại Kết tại Paris, ngày 31-5-1980, ngài đã nói với những đại diện các Giáo Hội Kitô giáo. Đây là lần đầu tiên ngài nói đến việc xóa bỏ những kỷ niệm đau buồn của quá khứ, mà ngài gọi là tẩy rửa ký ức: Trước hết, và trong sự năng động của phong trào hướng về hiệp nhất, cần phải tẩy rửa ký ức cá nhân và tập thể khỏi kỷ niệm về những va chạm, những bất công, những thù hận xưa kia. [...] Tôi đặc biệt vui mừng vì quí vị cộng tác với nhau thật tốt, đặt biệt trong việc phục vụ con người, phục vụ trên mọi lãnh vực, và việc phục vụ ấy đòi buộc mọi Kitô hữu phải làm chứng một cách cấp bách và ngay bây giờ; tôi từng nhấn mạnh về sự cần thiết của chứng từ này trong thông điệp Redemptor hominis. NHÌN NHẬN LỖI LẦM. Việc tẩy rửa ký ức gắn liền với việc nhìn nhận lỗi lầm. Sáu tháng sau, ngày 17-11-1980, cũng trong buổi gặp gỡ với các đại diện các Giáo Hội Kitô giáo, tại Mayence, nước Đức, ngài ngỏ lời: Sự kiện chúng ta cùng gặp nhau trong đất nước của quí vị, tại Đức, sẽ hướng chúng ta gợi lại biến cố Cải cách. Chúng ta phải nghĩ đến những gì xảy ra trước đó và những gì xảy ra từ đó đến nay. Nếu chúng ta không tránh né các sự kiện, chúng ta sẽ nhận thấy rằng lỗi phạm của người thời ấy đã dẫn đến tình trạng chia rẽ đau lòng giữa những Kitô hữu và lỗi phạm của chúng ta ngày nay tiếp tục ngăn cản những bước đi mới rất cần thiết để có thể tiến về hiệp nhất. Tôi nói lên tiếng lòng mình bằng cách dùng lại những lời của vị tiền nhiệm tôi là Đức Adrianô VI, năm 1523, khi ngài cho công bố trước Hội nghị Nuremberg: “Quả thật, bàn tay của Chúa không suy yếu đến độ không còn có thể cứu vớt chúng ta, nhưng chính tội lỗi đã làm cho chúng ta xa cách Ngài... Tất cả chúng ta, giám mục và linh mục, chúng ta đã xa rời con đường lành và tôi không thấy một ai là không làm điều dữ (xem Ps. 14,4). Vì vậy tất cả chúng ta đều phải cảm tạ Thiên Chúa và tỏ mình khiêm tốn trước mặt Ngài. Mỗi một chúng ta phải tự hỏi vì sao mình đã sa ngã và tự xét mình hơn là để cho Chúa phán xét trong ngày thịnh nộ”. Như vị giáo hoàng Hà Lan và Đức cuối cùng ấy, tôi cũng nói: “Căn bệnh đã ăn sâu và phát triển nên cần phải tiến tới từng bước một, phải chữa trị những căn bệnh trầm trọng và nguy hiểm nhất bằng cách đề ra phương thuốc thích hợp, hầu khỏi gây ra một sự xáo trộn tồi tệ hơn vì muốn làm một cuộc cải cách nóng vội.” Ngày nay cũng như thời ấy, bước quan trọng nhất để tiến về hiệp nhất, đó là canh tân đời sống Kitô hữu. Rồi tại Vienne, ngày 11-09- 1983: Chúng ta sẽ gặp lại Đức Adrianô VI trong chương nói về Luther, nhưng chúng ta đã được nghe vị giáo hoàng không phải gốc Ý đầu tiên ở thời kỳ hiện đại nhắc đến vị giáo hoàng không phải gốc Ý cuối cùng ở thời kỳ Phục Hưng nơi chương 1 của phần 1. Một câu nói cô đọng về thái độ tự phê này, qua dòng năm tháng, đã trở thành một khẩu hiệu của triều đại giáo hoàng này: Không nên phủ nhận những tội lỗi mà Kitô hữu đã thực sự mắc phạm. THA THỨ MÃI MÃI. Chỉ có sự tha thứ mới thực sự tẩy sạch ký ức lịch sử khỏi những lỗi phạm đã được nhìn nhận. Ngày 28-11-1991, trong bài giảng khai mạc Hội Nghị Giám Mục Âu Châu, ngài đã nói: Vào cuối thế kỷ bi thảm này, câu hỏi của thánh Phêrô có vẻ mang một tầm quan trọng đặc biệt: “Con phải tha thứ bao nhiêu lần?” Chúng ta phải tha thứ mãi mãi, và đồng thời nhớ rằng mình cũng cần được thứ tha. Chúng ta cần được tha thứ nhiều lần hơn là chúng có thể tha thứ. Sứ điệp mang ơn cứu độ, mà chúng ta là sứ giả, chỉ được những người đương thời đón nhận khi nào sứ điệp đó đi kèm với một chứng từ phù hợp. Công đồng Vatican khẳng định rằng “không thể có phong trào hiệp nhất chính danh mà không có sự hoán cải tâm hồn. Thật vậy, những ước vọng hiệp nhất bắt nguồn và chín muồi nhờ sự đổi mới tâm hồn, từ bỏ chính mình và bác ái một cách hết sức quãng đại”. (Unitatis redintegratio, 7). Dưới ánh sáng của nguyên tắc này, ta cần phải tự vấn về nền tảng đạo đức của việc đối thoại dựa theo các đòi hỏi Phúc âm. Đấy là những đòi hỏi về chân lý và tình yêu. Chân lý và tình yêu buộc chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận những sự kiện, sẵn sàng tha thứ và đền bù những tổn hại gây cho nhau. Chân lý và tình yêu ngăn cản không cho chúng ta khép mình lại trong những thành kiến, mà thường là nguyên nhân của những chua chát và trách móc tiêu cực; chân lý và tình yêu giúp chúng ta không ném vào mặt anh em những lời buộc tội thiếu cơ sở, bằng cách gán cho họ những ý đồ và những dự định mà họ không hề có. Như thế, khi ta được thúc bách bởi lòng khát mong thực sự hiểu được quan điểm của tha nhân, những xung đột sẽ lắng đi nhờ đối thoại kiên trì và thành thực, dưới sự hướng dẫn của Thần Khí An Ủi. CÁO MÌNH. Với văn kiện pro memoria gởi đến các hồng y vào mùa xuân 1994, việc xét mình về trách nhiệm Công giáo trong việc chia rẽ các Giáo hội đã trở thành một chương trình đề ra cho mọi người: Trong tư thế hoàn toàn sẵn sàng đón nhận tác động của Thánh Thần, Giáo hội và Kitô hữu phải tập trung vào sứ mạng này bằng cách canh tân sự dấn thân của mình trước thềm năm 2000. Thiên niên kỷ thứ II sắp kết thúc mời gọi mỗi người xét mình và đưa ra những sáng kiến thích hợp cho phong trào đại kết, hầu cho tất cả chúng ta gặp lại nhau trong Năm Thánh, nếu không được hoàn toàn hoà thuận, thì ít ra cũng ở trong một tình trạng chống đối và chia rẽ ít hơn tình trạng trong thiên niên kỷ thứ II này. NHIỆM VỤ HÀNG ĐẦU. Ngày khai mạc Hội nghị bất thường của các hồng y, năm 1994, đức giáo hoàng lại đề nghị tiến hành việc cáo mình mà Ngài đã từng nêu ra trong văn kiện Pro memoria; việc cáo mình này đã gây một tiếng vang trong dư luận quần chúng, và một vài lời phê bình bên trong Giáo hội: Hướng về năm 2000, có lẽ đấy là nhiệm vụ lớn nhất. Chúng ta không thể trình diện trước mặt Đức Kitô, Chúa của lịch sử, trong tình trạng chia rẽ như hiện nay, trong khi chúng ta đã từng gặp lại nhau trong thiên niên kỷ thứ II. Những sự chia rẽ này phải nhường bước cho việc tiến lại gần nhau và cho sự hòa thuận. Những thương tích trên đường đi đến hiệp nhất các Kitô hữu phải được lành lặn. Trước thềm Năm Thánh này, Giáo hội cần phải thực hiện cuộc metanoia, nghĩa là phân định những thiếu sót trong lịch sử và sự lơ là của con cái mình trước những đòi hỏi của Phúc âm. Chỉ có can đảm nhìn nhận những lỗi lầm và thiếu sót mà Kitô hữu đã chịu ít nhiều trách nhiệm, cũng như có ý định quảng đại phải đền bù các lỗi lầm và thiếu sót đó nhờ vào sự trợ lực của Chúa, thì mới có thể đem đến một sinh khí hữu hiệu cho cuộc rao giảng Phúc Âm mới và làm cho con đường đi đến hiệp nhất trở nên dễ dàng hơn. TỘI ĐẦU TIÊN. Để kết luận giai đoạn huấn luyện về việc cáo mình, Đức Giáo Hoàng nêu ra trong lá thư hướng về Năm Thánh rằng tội gây chia rẽ là tội đầu tiên cần phải đền bù: Trong số các tội đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực nhiều để thống hối và hoán cải, dĩ nhiên phải kể đến những tội phạm đến sự hiệp nhất mà Thiên Chúa muốn cho Dân Ngài phải có. Trong một ngàn năm qua, hơn là trong thiên niên kỷ thứ I, cộng đồng giáo hội, “đôi khi vì lỗi của hai bên”, đã biết đến nhiều sự xâu xé đau thương, rõ ràng đi ngược lại với ý định của Đức Kitô và là một gương xấu cho thế giới. Đau lòng thay, những tội trong quá khứ ấy vẫn còn đè nặng và tồn tại cho đến ngày nay, như những chước cám dỗ. Cần phải nhận lỗi, bằng cách hết lòng nài xin Đức Kitô tha thứ. (Tertio millennio adveniente, 34) CÙNG NHAU ĐỀN BÙ. Từ việc cam kết nhìn nhận tội lỗi cá nhân mình đến lời kêu gọi tha thứ lẫn nhau, giai đoạn cuối cùng của tư tưởng tự phê của Đức Gioan Phaolô II được điễn đạt trong thông điệp Ut unum sint: Mọi tội lỗi thế gian đã được gom vào sự hy sinh ban ơn cứu độ của Đức Kitô và như thế có cả tội mà Kitô hữu - các mục tử không phải là ít hơn giáo dân - đã phạm đối với sự hiệp nhất Kitô hữu. Dù sau khi nhiều tội lỗi đã gây ra những cuộc chia rẽ trong lịch sử, vẫn còn có thể hiệp nhất các Kitô hữu, với điều kiện là ta khiêm nhường nhận thức rằng mình đã phạm tội đối với hiệp nhất và xác tín rằng mình cần phải hoán cải. Không chỉ là những tội lỗi cá nhân mới cần được tha thứ và vượt qua, nhưng cả những tội lỗi xã hội, có thể nói là chính “những cơ cấu” của tội lỗi, đã từng gây ra và có thể tiếp tục gây ra sự chia rẽ và củng cố sự chia rẽ đó. [...] Giáo hội Công giáo phải dấn thân vào việc mà ta có thể gọi là “đối thoại hoán cải”, đấy là nền tảng tinh thần của việc đối thoại đại kết. Trong đối thoại này, một đối thoại được Thiên Chúa hướng dẫn, mỗi người phải tìm lại những sai lầm của mình, xưng ra các tội lỗi và đặt mình trong bàn tay của Đấng Bàu Chữa trước mặt Chúa Cha, là Đức Giêsu Kitô. (Ut unum sint, 34,82). Và cuối cùng, đây là những lời mà ngài đã phát biểu trong phiên họp chung với các Giáo Hội ngoài Công Giáo, ngày 26-7-1995 Chúng ta không thể ù lì trước sự chia rẽ đang hoành hành trong thế giới Kitô giáo từ nhiều thế kỷ nay. Công giáo và ngoài Công giáo không thể không cảm thấy một nỗi đau sâu xa khi đối diện với sự chia rẽ đó, một sự chia rẽ rất mực tương phản với lời nói đầy nét u sầu của Chúa Kitô trong bữa tiệc ly (xem Ga 17,20-23). Quả thật, sự hiệp nhất nội tại của Giáo hội - theo ý định của Đấng sáng lập - đã không hề suy suyển. [...] Nhưng ta không thể phủ nhận rằng, trong quá trình lịch sử, quá khứ cũng như hiện nay, sự hiệp nhất của Giáo hội không phát huy được toàn vẹn sức mạnh và tầm vóc mà nó có thể và cần phải có, phù hợp với yêu cầu của Phúc âm mà Giáo hội dựa vào. Vì vậy, đối với những Kitô hữu đang theo đuổi sự hiệp nhất này và ý thức được khoảng cách giữa sự hiệp nhất theo ý định Chúa Kitô và sự hiệp nhất đã được thể hiện trong cụ thể, thái độ của họ chỉ có thể là hướng mắt lên trời để cầu xin Thiên Chúa những khích lệ mới hầu thực hiện sự hiệp nhất, dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần. Muốn trung thực và hiệu quả, phong trào đại kết yêu cầu những tín hữu Công giáo còn phải có một số phẩm chất căn bản. Trước tiên, cần phải có bác ái, với một cái nhìn đầy thiện cảm và một ước mong mãnh liệt được hợp tác với anh em các Giáo hội hay cộng đồng Giáo hội khác, mỗi khi có thể được. Thứ hai, cần phải có lòng trung thành với Giáo hội Công giáo, nhưng không vì thế mà bỏ qua hay phủ nhận những thiếu sót được thể hiện qua lối cư xử của một số phần tử của Giáo hội mình. Thứ ba, cần phải có tinh thần biết phân định, hầu đánh giá cao những điều hay và đáng khen. Cuối cùng, phải thành thật có ý muốn thanh luyện và canh tân, vừa bằng cách dấn thân cá nhân vào con đường trọn lành, vừa nỗ lực, “mỗi người trong môi trường của mình, làm thế nào để Giáo hội được thanh luyện hằng ngày, - một Giáo hội mang trong mình sự khiêm nhường và nét khổ hạnh của Đức Kitô -, cho đến khi trước mặt Ngài, có một Giáo hội lộng lẫy, không tì vết và không nếp nhăn (xem Ep 5,27)” [Unitatis redintegratio]●
ĐỨC GIÊSU XUẤT THÂN TỪ VÙNG ĐẤT DÂN NGOẠI Nguyễn Chính Kết 1. Xứ Galilê được chọn làm nơi xuất thân Đấng Cứu Thế Nước Do Thái có ba miền: Galilê (miền bắc), Samari (miền trung) và Giuđa (miền nam). Thủ đô tôn giáo của Do Thái giáo là Giêrusalem thuộc xứ Giuđa, xứ này là vùng đông người có đạo Do Thái nhất. Xứ Samari là miền tạp chủng, tuy theo đạo Do Thái, nhưng đạo này bị pha trộn với tôn giáo của dân ngoại, nghĩa là mang tính lạc giáo, nên bị người Giuđa khinh thường và coi như dân ngoại. Còn xứ Galilê là miền đất của dân ngoại – vì đa số dân chúng là ngoại đạo – như được nói trong bài Tin Mừng: «Hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại» (Mt 4,15). Galilê «thuộc địa hạt Dơvulun và Náptali», là vùng đất bị Thiên Chúa nguyền rủa vì trong quá khứ, dân đã phạm một lầm lỗi nặng nề nào đó (x. Is 8,23b). Thế mà Đức Giêsu lại là người Nadarét thuộc xứ Galilê, Ngài sinh trưởng và xuất thân từ đó. Các tông đồ mà Ngài tuyển chọn, tất cả đều là người dân Galilê. Đến đây, ta phải tự hỏi: tại sao Thiên Chúa không để Đức Giêsu và các tông đồ của Ngài xuất thân ở vùng đất Giuđa là vùng của đạo Do Thái, mà lại xuất thân từ vùng Galilê là vùng của dân ngoại? Quả thật, việc làm của Thiên Chúa không mấy ai hiểu được: «Dù lãnh thổ Dơvulun và Náptali sắp bị Chúa đoán phạt, nhưng trong tương lai chính các lãnh thổ đó tức là vùng Galilê và bắc Giôđan, trên con đường ra biển sẽ đầy dẫy vinh quang» (Is 9,1; x. 8,23b). Đúng là «Người nâng ai lên hay hạ ai xuống đều tuỳ ý Ngài» (Đn 5,19; x. Tv 147,6; Hc 33,12; Ed 17,24; Ed 21,31). Đương nhiên không phải Ngài nâng cao hay hạ thấp một cách tùy tiện theo ý ngông của Ngài, mà theo tiêu chuẩn này: «Chúa hạ bệ những ai quyền thế, kiêu căng; Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường» (Lc 1,52). Do biết khiêm nhường sám hối, vùng Caphácnaum (thuộc miền Galilê) đang được Thiên Chúa chúc phúc và nâng lên. Nhưng khi được nâng lên, dân này lại sinh ra kiêu căng và tự hào, nên Đức Giêsu mới cảnh báo: «Còn ngươi nữa, hỡi Caphácnaum, ngươi tưởng sẽ được nâng lên đến tận trời ư? Không, ngươi sẽ phải nhào xuống tận âm phủ!» (Lc 10,15). Cũng vậy, dân Do Thái được Thiên Chúa tuyển chọn làm dân riêng của Ngài, đó là điều thật hạnh phúc cho họ. Nhưng thay vì sống theo giới luật hay tinh thần của Ngài để xứng đáng với ân huệ đặc biệt đó, họ lại lên mặt và khinh chê dân ngoại. Vì thế, khi Đấng Cứu Thế đến, Thiên Chúa đã không để cho vùng Giuđa – vùng đông người có đạo nhất – được vinh dự là nơi xuất thân của Đấng Cứu Thế. Mang danh là tuyển dân của Thiên Chúa, tuy vẫn giữ đúng những tập tục tôn giáo Ngài truyền lại qua Môsê, nhưng họ chỉ thực hiện một cách hoàn toàn hình thức, thiếu tình yêu và lòng thành bên trong, họ đã trở nên nguội lạnh và gian ác. Bằng chứng là khi Đấng Cứu Thế đến, họ đã bách hại Ngài ngay khi Ngài sinh ra, và còn tiếp tục bách hại và giết chết Ngài khi Ngài xuất hiện ở tuổi trưởng thành. Vì thế, Thiên Chúa đã hạ bệ họ: «Kẻ thấp hèn, Chúa nâng đỡ dậy; bọn gian ác, Người hạ xuống đất đen» (Tv 147,6). Thật vậy, đến năm 70, Thiên Chúa đã khiến cho Giêrusalem, kinh đô của Do Thái giáo, trở thành «không còn hòn đá nào trên hòn đá nào, vì đã không nhận biết thời giờ họ được Thiên Chúa viếng thăm» (Lc 19,44). Và dân Do Thái đã mất nước từ đó – suốt 19 thế kỷ – cho đến khi lập quốc trở lại vào năm 1947. Lập quốc trở lại mà vẫn phải chịu đựng chiến tranh liên miên. Về mặt tôn giáo, Thiên Chúa đã lập nên một Giáo Hội mới mà chủ yếu là do dân ngoại gia nhập vào, còn người Do Thái thì chiếm tỷ lệ vô cùng nhỏ bé so với dân số của họ thời ấy. Sự việc đã xảy ra đúng như tinh thần dụ ngôn người thợ vườn nho sát nhân (Mt 21,33-46) và dụ ngôn tiệc cưới (Mt 22,1-14) của Đức Giêsu. 2. Bài học cho mỗi người chúng ta Những sự kiện nêu trên đáng cho chúng ta suy nghĩ và rút ra bài học. Rất có thể chúng ta đang được Thiên Chúa yêu thương cách đặc biệt, được ưu đãi hơn rất nhiều người khác. Nhưng thay vì ta biết ơn Ngài và sống cho xứng đáng với ơn ấy, thì chúng ta lại lên mặt kiêu căng với những người kém may mắn hơn, đồng thời sống giả hình (có bề ngoài mà không có thực chất bên trong), gian ác, không đúng với tinh thần quên mình, từ bỏ mình, hoặc vác thập giá mình hằng ngày mà theo Chúa. Chúng ta tưởng rằng quên mình hay từ bỏ mình thì sẽ bị thiệt hại, bị vong thân, và tưởng rằng vác thập giá mình thì sẽ bị đau khổ. Nên chúng ta tìm cách đề cao mình, thổi phồng «cái tôi» cá nhân hoặc tập thể của mình lên. Nhưng thật ra đó mới chính là cách hủy hoại mình hữu hiệu nhất. Và tìm cách đạt cho bằng được những địa vị, quyền bính, tiền bạc, để hưởng những vinh quang, lạc thú, thoải mái do chúng mang lại. Nhưng thật ra đó là tự chuốc đau khổ cho mình cách tệ hại nhất. Chúng ta quên rằng «Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường» (Lc 1,51-52). 3. Bài học cho các tập thể Thiên Chúa đối xử với những cá nhân kiêu căng thế nào, thì Ngài cũng đối xử với những tập thể ngạo mạn như vậy. Lịch sử của dân Do Thái là một bài học đích đáng về chân lý ấy. Vì thế, nhiều khi chúng ta phải tự xét: liệu Giáo Hội – dân được Thiên Chúa tuyển chọn trong Tân ước – có đi vào vết xe cũ đã đổ của dân Do Thái – dân được Ngài tuyển chọn trong Cựu ước – không? Giáo Hội có quá tự hào vì được Thiên Chúa ưu đãi và tuyển chọn cách đặc biệt không? có coi thường các tôn giáo không không? có sống xứng đáng với hồng ân cao cả Thiên Chúa dành cho mình không? Người Kitô hữu ngày nay – giáo dân cũng như giáo sĩ – có rập khuôn theo tinh thần cũ của dân Do Thái xưa không? Nếu dân Do Thái xưa mà suy gẫm lời cảnh báo của Đức Giêsu xưa: «Đừng tưởng có thể bảo mình rằng: “Chúng ta đã có tổ phụ Ápraham”. Vì tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Ápraham» (Mt 3,9), và sống phù hợp vn tinh thần của Ngài, thì có lẽ họ đã không đến nỗi như hiện nay. Thánh Phaolô từng cảnh báo về lòng tự hào của họ: «Bạn mang tên là người Do-thái, ỷ rằng mình có Lề Luật, tự hào vì có Thiên Chúa; được biết ý Người, được Lề Luật dạy cho điều hay lẽ phải; (…) bạn tưởng mình có Lề Luật là có tất cả tri thức và chân lý» (Rm 2,17-20). Tự hào như thế thì cũng chính đáng, nhưng nếu vì sự tự hào ấy mà lên mặt với người khác là điều không hay, nhất là khi không sống cho xứng với niềm tự hào ấy: «Bạn dạy người khác, mà lại không dạy chính mình! (…) Bạn tự hào vì có Lề Luật, mà bạn lại vi phạm Lề Luật, và như vậy bạn làm nhục Thiên Chúa!» (Rm 2,21-23). Người Kitô hữu sẽ làm nhục Đức Kitô khi họ tự hào về Ngài nhưng lại sống giới răn mới của Ngài (x. Ga 13,34) không bằng người ngoại. 4. Hãy sám hối Đức Giêsu xuất thân và khởi đầu việc rao giảng của Ngài tại Galilê, là «miền đất của dân ngoại». Để giúp cho Galilê được «đầy dẫy vinh quang» hầu ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia (x. Is 9,1; 8,23b), Đức Giêsu khuyên dân chúng tại đó: «Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần». Cho dù tội lỗi, bị Thiên Chúa nguyền rủa, nhưng nếu biết sám hối, biết sửa đổi lại cách sống theo đường lối của Ngài, thì sẽ được Ngài nâng lên, chúc phúc. Dụ ngôn người thu thuế và người Pharisêu lên đền thờ cầu nguyện (x. Lc 18,9-14) chứng minh điều đó. Trái lại, khi được Ngài nâng lên mà lại trở nên kiêu căng tự hào thì sẽ lại bị Ngài hạ xuống, như Đức Giêsu đã cảnh báo dân Caphácnaum (x. Lc 10,15). Vậy, sám hối – tức khiêm nhường nhận ra sự sai trái của mình và quyết tâm sửa đổi cho đúng – là điều kiện cần thiết để được Thiên Chúa chúc phúc và nâng lên. Trong tinh thần sám hối ấy, thiết tưởng người Kitô hữu chúng ta – dù là cá nhân hay tập thể – cần tránh tự hào và kiêu hãnh trước người khác về những nhân đức mình có, những việc tốt đẹp mình làm được, những hồng ân đặc biệt Thiên Chúa ban cho mình một cách ưu đãi. Đồng thời cần cố gắng sống cho xứng đáng với những ân huệ đặc biệt ấy với tâm tình biết ơn●
GIÁO DÂN THỜI GIÁO HỘI SƠ KHAI: NHỮNG VIÊN GẠCH XÂY DỰNG MỘT NỀN THẦN HỌC GIÁO DÂN (tiếp theo MARANATHA_33) Lm. Phêrô Phan Đình Cho Trần Duy Nhiên dịch Sự xuất hiện của Giáo Dân như thành phần khác biệt và thuộc quyền nhóm linh mục. Rõ ràng là trong Tân Ước chỉ có một tư tế duy nhất, đó là Chúa Giêsu, và toàn thể dân Thiên Chúa bình đẳng chia sẻ chức tư tế của Chúa Kitô thông qua phép rửa (chức tư tế do phép rửa). Nhờ chức tư tế phổ quát (chung) này, mọi Kitô hữu đều bình đẳng từ nền tảng, có cùng một phẩm giá và cùng một ơn gọi nên thánh như nhau. Tuy nhiên, sự bình đẳng nền tảng này giữa các Kitô hữu không có nghĩa là họ đều làm cùng một việc. Có rất nhiều phần vụ và mọi phần vụ đều cần thiết cho sự lành thánh của Giáo Hội; và mọi người phải thực thi các phần vụ mình để kết thành thân thể Chúa Kitô. Nếu phải xếp hạng các phần vụ đó theo thứ tự cao thấp, thì tiêu chuẩn không phải là quyền lực hay sự thánh thiện. Như thế có nghĩa là không có phần vụ nào cao trọng hơn phần vụ khác xét về quyền lực, và không có phần vụ nào tốt lành hơn phần vụ khác xét về sự thánh thiện: chúng đều bổ túc cho nhau. Tiêu chuẩn duy nhất để phân biệt các phần vụ trong giáo hội là công việc phục - vụ - trong - tình - yêu. Như Alexandre Faivre từng nói lên: “Không có vấn đề phẩm trật tôn ti về quyền lực hay về sự thánh thiện. Chỉ có phẩm trật tôn ti trong việc phục vụ mà thôi” [2] Vậy thì lúc nào và vì sao xuất hiện khái niệm về một nhóm người trong giáo hội được gọi là ‘giáo dân’, khác biệt và bất bình đẳng với một nhóm khác được gọi là ‘giáo sĩ’? Tìm về tư liệu đề cập đến bước đầu của sự xuất hiện này, các sử gia nêu lên một bức thư do thánh Clêmentê viết năm 96 nhân danh Hội Thánh Rôma gửi Hội Thánh Corintô. Nguyên nhân của bức thư này là cuộc đấu tranh tai tiếng để dành lấy quyền lực trong hội thánh Côrintô [3]. Các vị trưởng lão lãnh đạo, từng thực thi nhiệm vụ mình một cách hoàn hảo, bỗng bị một nhóm người trẻ truất phế. Hình như nhóm này muốn đưa vào một cách thức cai quản uyển chuyển hơn, có lẽ với một nhiệm kỳ ngắn hạn thay vì một nhiệm vụ suốt đời. Có thể những người chống đối cũng là những kẻ tự cho rằng mình có các ân sủng hay đoàn sủng đối lập với những tác vụ bình thường. Thánh Clêmentê viết bức thư ấy nhằm giải quyết xung đột bằng cách dựa trên khái niệm về tôn ti trật tự trong cơ cấu giáo hội. Theo ngài, các tông đồ cắt đặt những tín hữu tiên khởi làm ‘giám quản và trợ tá cho các tín hữu tương lai’ (chương 42). Về sau, các ngài cũng qui định rằng khi những giám quản và trợ tá ấy chết đi thì ‘những người được chấp thuận khác sẽ thay thế nhiệm vụ của họ’ (chương 44). Từ đó, thánh Clêmentê tiếp tục bảo rằng ‘sẽ phạm đức công bình nếu cách chức những người được bổ nhiệm do họ (= các tông đồ), hay được chọn sau này với sự đồng ý của toàn thể hội thánh, do những người có thế giá, từng được mọi người chấp thuận và coi sóc đàn chiên của Chúa Kitô một cách không sai sót, khiêm nhường, trầm tĩnh và không tự phụ’ (chương 44). Thế là mặc nhiên thánh Clêmentê khai sinh một khái niệm quan trọng trong giáo hội học: ấy là khái niệm ‘kế vị các tông đồ.’ Chính trong bối cảnh đó mà thuật ngữ laikos (λαϊκός) xuất hiện lần đầu tiên. Để giải thích quan niệm về tôn ti trật tự trong giáo hội, thánh Clêmentê sử dụng ba hình ảnh. Thứ nhất là hình ảnh của quân đội, trong đó ‘mỗi người theo cấp bậc mình đều thi hành mệnh lệnh của hoàng đế và các tướng lãnh’ (chương 37). Thứ hai là hình ảnh theo thánh Phaolô, ấy là một thân thể có nhiều chi thể, tuy khác biệt nhau, ‘nhưng hành động phối hợp với nhau và hiệp nhất trong vâng phục để phục vụ cho toàn thân’ (chương 37). Thứ ba là hình ảnh của việc thờ phượng Do Thái, với luật lệ qui định nơi chốn, thời gian và người cử hành lễ tế, và không ai được vi phạm luật lệ ấy. Cũng thế, thánh Clêmentê khẳng định rằng mọi sự trong Giáo Hội phải được thực hiện ‘theo tôn ti trật tự’: ‘Vị thượng tế đã được giao phó nhiệm vụ đặc biệt; các tư tế có địa vị riêng của mình; các Lêvi có thừa tác vụ đặc thù của họ; và người giáo dân (laikos anthropos - λαϊκός αvθρωπoς) bị ràng buộc trong luật lệ dành cho giáo dân (tous laikous prostagmasin - τoυς λαϊκoυς πρoστάγμασιv)’ (chương 40). Trong văn bản này, tính từ ‘giáo dân’ (laikos - λαϊκός) là một từ mới do thánh Clêmentê đặt ra. Rõ ràng đối với thánh Clêmentê, giáo dân (dù ngài không dùng laikos như một danh từ) hợp thành một nhóm người tách biệt trong giáo hội. Thế nhưng, trong khi Ngài nêu lên bổn phận, nhiệm vụ, và vị trí riêng biệt của ba nhóm kia, thì ngài không nêu một vai trò hay vị trí nào của người giáo dân ngoài việc họ bị trói buộc vào một số lề luật. Dù thánh Clêmentê không nói các lề luật ấy là gì, thì chắn chắn lề luật hàng đầu hẳn là phục tùng và vâng lời, để giữ tôn ti trật tự trong hội thánh. Từ bức thư của thánh Clêmentê, ba khuynh hướng liên quan đến giáo dân bắt đầu xuất hiện. Thứ nhất, họ được xếp vào một nhóm riêng biệt, khác với nhóm tư tế (thượng tế, tư tế và Lêvi): các thành viên trong giáo hội giờ đây đã chia ra thành hai thành phần là giáo sĩ và giáo dân. Thứ hai, họ không có một nhiệm vụ và vai trò riêng nào, đặc biệt là trong việc phụng tự, so với hàng tư tế: họ không có một ‘khuôn mặt’ và được định nghĩa bằng lối phủ định căn tính (= giáo dân là… không phải là giáo sĩ. Chú thích của người dịch). Thứ ba, những nhân đức chủ yếu của họ là vun trồng tinh thần vâng lời và phục tùng giáo sĩ: chức linh mục theo phép rửa của họ với các hoạt động cần thiết và sự bình đẳng căn bản của họ so với các thành phần khác trong giáo hội đã trở nên mờ nhạt. Khoảng đầu thế kỷ thứ hai, - như ta đọc được qua ba khía cạnh của phẩm trật giám mục trong bảy bức thư của thánh I-nhã, giám mục Antiôkia, chịu tử đạo tại Rôma năm 107 - việc một giám mục duy nhất có một hội đồng nhiều linh mục ủng hộ và các phó tế trợ giúp đã trở thành một chuẩn mực, ít ra là tại Tiểu Á. Đối với thánh I Nhã, cơ cấu này, được gọi là cơ cấu ‘giám mục duy nhất’ (monepiscopate), là một bảo đảm cho tính duy nhất và chính thống của Giáo Hội. Mọi người đều có bổn phận vâng lời và phục tùng giám mục, và khi chưa có sự chấp thuận của ngài, thì không thể cử hành cả Bí Tích Thánh Thể lẫn Bí Tích Hôn Nhân. Thánh I Nhã viết cho cộng đoàn Trallia như sau: “Vì khi anh em vâng lời giám mục như thể ngài là Chúa Kitô, tôi thấy rằng anh em sống không chỉ theo phương cách nhân loại mà thôi, nhưng còn theo đường lối của Chúa Giêsu Kitô… Do đó, điều chủ yếu là không bao giờ được hành động mà không có giám mục… Nên tuân phục cả hội đồng linh mục như tuân phục tông đồ Chúa Giêsu Kitô… Mọi người cần tỏ ra kính trọng các phó tế. Các ngài đại diện cho Chúa Giêsu Kitô, nhưng giám mục có vai trò của người cha, và hội đồng linh mục giống như hội đồng của Thiên Chúa và một nhóm tông đồ.” [4] Rõ ràng, sự phân biệt giữa ‘giáo sĩ’ và ‘giáo dân’ đã trở thành rất đậm nét, và ‘giáo dân’ đã biến mất khỏi lãnh vực thần học với tư cách là một thành phần quan trọng có quyền hạn riêng. Những giáo dân có ảnh hưởng trong Giáo Hội Sơ Khai: một hình ảnh khác. Mặc cho căn tính khá tiêu cực của giáo dân vào cuối thế kỷ thứ nhất, thì vào thế kỷ thứ hai và thứ ba có những nhân vật không phải là ‘giám mục’ hay ‘linh mục’ hay ‘phó tế’ qua lễ đặt tay trong một nghi lễ phong chức hoặc do một nhiệm vụ giám quản trong cộng đoàn (và ta có thể gọi nhóm này là ‘giáo dân’), nhưng những lời giáo huấn hay bài viết của họ đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong giáo hội. Có hai người xứng đáng được trân trọng đặc biệt: đó là Justinô và Tertulianô. Justinô (100 – 165), ra đời tại Samari, là một triết gia ngoại giáo đã đón nhận đức tin Kitô Giáo và tiếp tục dạy triết học cho đến khi chịu tử đạo tại Rôma dưới thời đời Hoàng Đế Maccô Aurêliô. Ông viết một số tác phẩm vào hạng nổi danh nhất như tập Biện Giải (Apology) gửi Hoàng Đế Antôniô Piô và các dưỡng tử ông để bảo vệ Kitô hữu chống lại lời cáo buộc họ là vô thần, vô luân và phản quốc [5]. Chính trong tập Biện Giải này mà ta tìm thấy những giáo huấn ý nghĩa nhất của Justinô về Kitô giáo và Kitô hữu. Đối với ông, mọi Kitô hữu đều là tư tế nhờ phép rửa. Ông không phân biệt giáo sĩ với giáo dân và không xác nhận là có một chức tư tế khác - chức tư tế được tấn phong hay thừa tác - thêm vào và cao hơn chức tư tế do phép rửa. Đối với ông, mọi môn đệ của Chúa Kitô đều có một phẩm giá như nhau, Ông bảo: Chúa Kitô đã đến để ban một ‘phẩm giá ngang bằng cho tất cả những ai tuân giữ giới răn Người.’ [6] Điều này không có nghĩa là cộng đoàn mà Justinô mô tả không có một người chủ tọa và cũng không cử hành bí tích Thánh Thể. Quả thật, Justinô để lại cho chúng ta bản tường thuật xưa nhất về cách thức cử hành bí tích Thánh Thể trong thời giáo hội sơ khai. Ông viết rằng trong thánh lễ ngày Chúa nhật, có ít nhất ba loại người với nhiệm vụ khác nhau: “người chủ tọa cộng đồng anh em’, (những) người đọc Sách Thánh, và những người phục vụ gọi là ‘trợ tá’ ( phó tế). Thật đáng lưu ý vì Justinô không dùng một danh từ để chỉ định người chủ tọa cộng đoàn, thay vì thế, ông đã sử dụng một động từ, dịch sát mặt chữ là ‘người đang chủ tọa’. Mặt khác, ông không bảo rằng vị ‘chủ toạ’ cộng đoàn phải là người đã được ‘phong chức’ (nghĩa là một giám mục, linh mục hay phó tế) hoặc một người nam. Ông chỉ nêu bốn công việc của người chủ tọa: khuyên bảo và khích lệ dân Chúa sau bài đọc, dâng lời cầu nguyện Thánh Thể tự phát, chủ tọa việc phân phối bánh và rượu đã được hiến thánh, và thu góp những quà tặng để giúp đỡ người thiếu thốn. Rõ ràng ông không nghĩ rằng điều quan trọng là một chức vị cố định như giám mục hay linh mục, khiến cho một người được đặt cao hơn cộng đoàn; điều quan trọng là công việc phục vụ mà một người thực thi cho cộng đoàn. Người thứ hai trực tiếp nhấn mạnh đến chức tư tế của giáo dân là Tertulianô, gốc Phi Châu, (160-220). Dù ông rời Giáo Hội Công giáo để gia nhập giáo phái Montanô, thì những điều ông viết cũng ảnh hưởng nhiều trên nền thần học Tây phương. Việc nhấn mạnh này lại càng ý nghĩa vì Tertulianô, ngược với Justinô, công nhận có hai thành phần trong giáo hội: giáo dân, mà ông gọi là ‘plebs’, nghĩa là thứ dân hay thường dân, và ‘ordo presbytororum’ hay giáo sĩ, nghĩa là giai cấp những giám mục, linh mục và phó tế, là những người ‘lãnh đạo và chủ chăn’. Nhưng Tertulianô dứt khoát nêu rõ rằng giáo sĩ xuất phát từ giáo dân, một thành phần có phẩm giá tư tế bình đẳng với giáo sĩ. Quả thật, bởi lẽ giáo dân là tư tế, nên Tertulianô bảo rằng khi vắng giáo sĩ, thì giáo dân (dù theo ông thì không bao gồm nữ giáo dân) có thể và có bổn phận rửa tội và dâng Thánh Thể trong thời gian đó: “Nơi nào không có tòa của giáo sĩ, thì anh em là giáo dân, anh em hãy dâng (Thánh Lễ) và rửa tội, và anh em sẽ là tư tế cho chính mình. Nói cách khác, khi nào có ba người họp lại, dù chỉ là giáo dân, thì đã có giáo hội’. Từ khác biệt đến bất bình đẳng: Nghi thức phụng vụ đặt tay cho hàng giáo sĩ. Bất chấp lời khẳng định mạnh mẽ của Justinô và Tertulianô về chức tư tế do phép rửa của giáo dân và quyền bình đẳng giữa họ với hàng giáo sĩ trong Giáo Hội, thì vào giữa thế kỷ thứ ba, sự khác biệt giữa giáo dân và giáo sĩ đã dần dần biến thành sự bất bình đẳng: giáo dân thấp kém hơn giáo sĩ. Chúng ta đã lưu ý trước đây về sự thấp kém của nữ giáo dân so với nam giáo dân trong thần học của Tertulianô. Ở đây, ngay cả nam giáo dân cũng bị xem là thấp kém so với giáo sĩ như vậy. Khuynh hướng này bắt đầu với Origen (185-254). Ông lý luận rằng giáo sĩ cao trọng hơn giáo dân bởi vì họ có quyền tha tội cho giáo dân. Sự cao trọng trong địa vị được chuyển sang một nếp sống tinh thần: giáo dân được tái hôn khi vợ mình đã qua đời, trong khi đó thì giáo sĩ không được phép tái hôn. Hơn nữa, thừa tác vụ dạy dỗ với tư cách là thầy giảng hay kinh sư, mà vào thế kỷ thứ ba vẫn do giáo dân đảm nhiệm (Clêmentê thành Alexandria và chính Origen từng là thầy giảng trước khi trở thành linh mục năm 230), bắt đầu thu hẹp lại vào hàng giáo sĩ. Sự phân biệt giữa giáo sĩ và giáo dân được xác định qua quyết định của giáo luật và phụng vụ vào thế kỷ thứ ba trong một văn kiện quan trọng được xem là Truyền Thống các Tông Đồ, mà tác giả là một linh mục La Mã, thánh Hippolite (170-236). Văn kiện này cực kỳ quan trọng vì nó mô tả nghi lễ được cử hành tại Rôma vào thế kỷ thứ ba. Qua văn kiện này, rõ ràng là sự phân biệt giữa giáo sĩ và giáo dân được hình thành qua phụng vụ. Một giáo dân muốn trở thành giáo sĩ thì phải thông qua nghi lễ đặt tay, còn được gọi là ‘ordinatio’ (mà trong từ vựng Việt Nam hiện nay gọi là: lễ nghi phong chức): “Việc đặt tay (keirotonia - χειρoτovία) được dành cho giáo sĩ (kleros- κλeρoς) để cử hành phụng vụ (leitourgia - λειτoυργία).” Việc đặt tay này được dành cho những ai được phân công cử hành phụng vụ hay ‘hy lễ’ (nghĩa là bí tích Thánh Thể), đấy là giám mục, linh mục và phó tế. Những tác vụ khác trong phụng vụ, ví dụ các nhiệm vụ của một góa phụ, một trinh nữ, một người giảng dạy, đọc sách hay chữa bệnh, thì không được phép hay đòi buộc đặt tay. Điều cần thiết cho các tác vụ này là nghi lễ ‘bổ nhiệm’ hay ‘nhậm chức’. Những giáo dân nào được đặt tay để cử hành phụng vụ? Trong khi cuốn Truyền thống các Tông Đồ không nhắc gì đến phụ nữ, thì một tài liệu khác, tập Didascalia Apostolorum (Giáo Huấn các Tông Đồ), cũng được viết vào thế kỷ thứ ba bằng tiếng Hy Lạp, nhưng chỉ còn lại bản tiếng Syria, có đề cập đến nữ phó tế. Tập này kêu gọi Kitô hữu tôn kính giám mục ‘vì đối với anh em, giám mục giữ vị trí của Thiên Chúa Tối Cao. Phó tế giữ vị trí của Chúa Kitô nên anh em phải yêu mến họ. Anh em cũng phải yêu mến các nữ phó tế, là những người giữ vị trí của Chúa Thánh Thần. Đối với anh em, những trưởng lão (linh mục) đại diện cho các tông đồ.’ [7] Một trường hợp đáng chú ý khác là trường hợp của người tuyên xưng, nghĩa là một Kitô hữu bị bắt hoặc bị giam cầm hay xử phạt bằng một hình thức nào đó (chứ không chỉ bị nhạo báng mà thôi) vì đức tin Kitô giáo trong thời kỳ bách hại và tuyên xưng đức tin mình. Theo Truyền Thống các Tông Đồ: “Nếu một người tuyên xưng từng bị bắt nhân danh Chúa, thì không được đặt tay trên người đó để phong chức phó tế hay chức linh mục, bởi lẽ người tuyên xưng đã được vinh dự hưởng chức linh mục nhờ việc tuyên xưng của mình. Nhưng nếu người tuyên xưng đó được tấn phong giám mục, thì cần phải đặt tay trên người đó.” [8] Mặc dù chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng người tuyên xưng là một người nam, và nhiều dịch giả sử dụng đại từ giống đực để chỉ định người tuyên xưng, chúng ta biết rằng không chỉ người nam mà người nữ cũng bị bắt giam vì đức tin và đã tuyên xưng đức tin mình. Do đó, phụ nữ ‘cũng đã được vinh dự hưởng chức linh mục nhờ việc tuyên xưng của mình’….● Chú thích: [2] Alexandre Faivre, The Emergence of the Laity, 9 [3] Về bản dịch tiếng Anh bức thư này, xem Early Christian Fathers, ed. Cyril Richardson (New York: Macmillan, 1970) 43-73. Về lời bình luận bức thư này liên quan đến giáo dân, xem Alexandre Faivre, The Emergence of the Laity, 15-24. [4] Về bản dịch tiếng Anh các bức thư của thánh I Nhã, xem Early Christian Fathers, ed. C. Richardson, 87-120. Câu trích dẫn trên đây là ở trang 98-99. [5] Về bản dịch tiếng Anh cuốn Apology của Justinô (thường gọi là First Apology [Biện giải thứ nhất] để phân biệt với cuốn Apology thứ hai), xem Early Christian Fathers, ed. C. Richardson, 242-289. [6] Justin, Dialogue with Trypho, 134.3. [7] Didascalia Apostolorum, II, 26.6-8. [8] Apostolic Tradition, 9. (còn tiếp)
Michel Quoist Nếu nốt nhạc bảo rằng: Một nốt nhạc đâu làm nên ca khúc, Thì hẳn không có bản trường ca.
Nếu chữ cái bảo rằng Một chữ cái đâu viết được một trang, Thi hẳn không bao giờ có sách.
Nếu viên gạch bảo rằng Một viên gạch đâu xây được bức tường Thì hẳn không có một ngôi nhà.
Nếu giọt nước bảo rằng Một giọt nước đâu thể làm thành sông Thì hẳn không hế có đại dương.
Nếu hạt lúa bảo rằng Một hạt lúa đâu phủ hết ruộng đồng Thì hẳn không có được mùa gặt.
Nếu con người bảo rằng Một cử chỉ yêu thương đâu cứu được nhân trần, Thì hẳn không bao giờ có công lý và hòa bình, Nhân phẩm và hạnh phúc trên mảnh đất con người.
Như bản trường ca cần đến từng nốt nhạc, như cuốn sách cần đến từng chữ cái, như ngôi nhà cần đến từng viên gạch, như đại dương cần đến từng giọt nước, như mùa gặt cần đến từng hạt lúa Cả nhân loại cần đến Bạn, Tại vị trí của bạn, Vì bạn là có một không hai, Và do đó không ai thay thế được●
Lắng nghe có lẽ là món quà đẹp nhất mà ta có thể tặng một người... Ấy là nói rằng: bạn rất quan trọng đối với tôi, bạn rất hay, tôi rất vui vì bạn ở đây... Lắng nghe, khởi sự bằng im lặng. Hẳn bạn đã thấy rằng biết bao ‘đối thoại’ tràn ngập những câu đại loại như sau: “Tôi cũng thế, khi tôi…” hoặc “Tôi nhớ lại một chuyện xảy ra cho tôi...” Thường thường, những gì người kia nói chỉ là một cơ hội để mình nói về bản thân mình. Lắng nghe, là bắt đầu dừng cuốn phim trong đầu óc mình, ngưng lời độc thoại triền miên, và để cho người kia biến đổi mình. Là chấp nhận người kia đi vào bên trong mình, như vào căn nhà họ và ở lại một thời gian, ngồi vào ghế của mình một cách thoải mái tự nhiên. Lắng nghe, là thực sự gạt bỏ những gì đang làm mình bận tâm để hiến tặng thì giờ cho người kia. Như thể đi dạo với bạn mình: bước cùng nhịp với họ, gần gũi nhưng không quấy rầy, để họ đưa mình đi, dừng lại với họ, lại bước đi vì họ, không thắc mắc đắn đo. Lắng nghe, không phải là tìm cách trả lời người kia, vì mình biết rằng họ đã có câu trả lời cho các vấn đề của họ. Là không suy nghĩ giùm người kia, không khuyên nhủ họ và thậm chí không tìm cách hiểu họ. Lắng nghe, là đón nhận với lòng biết ơn, đón nhận người kia đúng như họ tự thấy mình, mà không thay thế họ để bảo họ phải như thế nào. Là tích cực mở lòng đối với mọi suy nghĩ, mọi đề tài, mọi kinh nghiệm, mọi giải pháp của người kia, mà không suy diễn, không xét đoán. Là để cho người kia có thì giờ và không gian mà tìm ra con đường của chính họ. Lắng nghe, không phải là muốn người kia phải thế này thế nọ, mà là học cách phát hiện những phẩm chất đặc biệt của họ. Lắng nghe một người đau khổ, không phải là đề ra một biện pháp hay một lời giải thích cho nỗi khổ của họ, mà là để cho người ấy nói ra nỗi khổ mình và tự tìm lấy con đường để giải thoát chính mình. Học lắng nghe, ấy là bài học cần thiết nhất để chúng ta có thể giải thoát mình khỏi những khốn quẫn bản thân. Lắng nghe, là tặng người kia điều mà có thể chưa ai trao tặng chúng ta: sự quan tâm, thì giờ, một sự hiện diện chân tình. Chính nhờ học lắng nghe người khác mà chúng ta mới biết lắng nghe chính mình, lắng nghe thân xác và tình cảm của mình. Đấy là phương cách để học lắng nghe quả đất và cuộc đời, là trở thành thi sĩ, nghĩa là cảm nhận cái cốt lõi và thấy được cái hồn của mọi sự. Ai biết lắng nghe thì không còn phải sống hời hợt: người ấy thấy lòng mình đập cùng nhịp với con tim của mọi người●
Một người bị nhốt trên một ngọn tháp. Anh cảm thấy bạn bè bỏ rơi. Đột nhiên, anh thấy một con ốc sên bò ngang cửa sổ. Quan sát thật gần, anh thấy một sợi chỉ được cột trên vỏ của ốc sên. Hiếu kỳ, anh kéo nhẹ sợi chỉ, và ngạc nhiên thấy rằng cuối sợi chỉ là một sợi dây, và ở cuối sợi dây là một dây thừng, với một chiếc dũa trên ấy. Nhờ chiếc dũa này, anh cắt các song sắt nhà tù, và buộc dây thừng mà leo xuống để thoát khỏi đinh tháp. Điều quan trọng là phải nhìn thấy những dấu chỉ và tin rằng bình minh sẽ ló dạng. Đó là điều cần thiết để cậy trông●
Một nữ tu dòng Thánh Phaolô Tôi đã gặp người nghèo, anh của tôi, Đang lê bước nhọc nhằn trên con đường khốn khổ. Không chỗ ở, không bạn bè, đang lạnh run, đói lả... Tôi mời anh về nhà và tôi nói “Vào đi anh, vào đi, hỡi người anh, Hãy xem đây như chỗ ở của chính mình. Đây là quần áo sạch và lương thực ngon lành. Tôi mong mỏi ngày mai anh lại đến, Vì nơi đây, tôi tặng cả thân tình…
Tôi đã gặp em nhỏ, em của tôi, Cùng khổ, bơ vơ, thiếu tình người, không có mẹ để yêu thương, nuôi dưỡng, giáo dục em.
Nắm tay em, tôi mỉm cười khẽ nói: “Đến đây em, đến với chị đi nào, Nếu em cần, chị sẽ giúp cho em, Chị sẽ dạy em đọc, viết và cả lao động nữa, Dạy cho em biết yêu mến tha nhân, biết chăm lo và chia sẻ, Dạy cho em về Thiên Chúa nhân lành, Cha tất cả chúng ta Rồi em thành em ruột của mọi người.”
Tôi đã gặp người bệnh, chị của tôi, Mang nỗi đau trong hình hài, trong tinh thần, trong tâm trí. Gặp trẻ thơ thiếu ăn, gầy guộc, sốt từng cơn Hai mắt mở to, căng lên vì đau đớn. Gặp người tàn tật mà tứ chi biến dạng, Không ai ngó ngàng, ốm yếu, ngã lòng... Gặp cụ già lưng còng, run rẩy với cô đơn, Cảm thấy mình vô dụng, mà ai cũng bỏ quên... Gặp người bệnh nan y, u buồn, nằm liệt, Gặp bao nhiêu con người trong khốn cùng da diết không thuốc nào xoa dịu nỗi cơn đau, Mong chết đi, may ra mà giải thoát...
- Này, chị à, chị còn gặp ai khác?
- Trên những dung mạo này, bị đau thương dằn vặt, Tôi đã gặp... tôi nhìn ra gương mặt Đức Giêsu KitÔ, đấng CỨu Chúa của tôi!●
Đây là một trò chơi, nhưng là một trò chơi rất nghiêm túc. Vì là trò chơi Kinh Thánh, nên trước tiên chúng ta hãy đọc lại một đoạn Kinh Thánh. Đoạn trích thư 1 Côrintô, chương 13, câu 4-7. “Đức mến thì nhẫn nhục, đức mến thì hiền hậu, đức mến không ghen tuông, đức mến không vênh vang, đức mến không tự đắc, đức mến không làm điều bất chính, đức mến không tìm tư lợi, đức mến không nóng giận, đức mến không nuôi hận thù, đức mến không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng đức mến vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, đức mến tin tưởng tất cả, đức mến hy vọng tất cả, đức mến chịu đựng tất cả.” Hẳn bạn để ý rằng tôi lặp lại chữ ‘đức mến’ trước mỗi động từ, và in đậm lên. Đó là điểm chính yếu của trò chơi. Bây giờ ta vào cuộc nào. Trò chơi này gồm hai giai đoạn. Một dễ và một khá khó. Hy vọng bạn thành công. Giai đoạn 1: Bạn thay tất cả những chữ ‘đức mến’ trong câu trên bằng ‘Chúa Kitô’, và đọc lại chầm chậm với hết lòng chân thành. Đọc đi! Dễ phải không? Bạn đã thành công giai đoạn 1. Giai đoạn 2: Bây giờ bạn thay tất cả những chữ ‘đức mến’ trong câu trên bằng chính tên của bạn (có chữ lót càng tốt). Bạn đọc lại với hết lòng chân thành như giai đoạn 1. Khó hơn nhiều, phải không nào? Nếu bạn thành công giai đoạn 2, nghĩa là đọc câu trên với lòng chân thật, thì bạn đã hiểu được vì sao Chúa dạy chúng ta: Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán. (Mt 7,1). Nhưng nếu không thành công thì cũng chẳng hề gì. Bạn có suốt đời để đọc đi đọc lại cho đến khi thành công mà!●
Lạy Chúa, nhiều khi con nghĩ rằng con cực quá nên không thể nguyện cầu: Ngày tháng con đầy ắp! Thế nhưng, lạy Chúa... Hẳn Chúa không đòi chúng con nhọc nhằn đến thế. Không lẽ con chẳng còn giờ để nghĩ đến Chúa sao? Lạy Chúa, Ngài luôn bên con, Chẳng phải Ngài là sức mạnh và lòng dũng cảm của con sao? Lạy Chúa, con muốn tập trò chuyện với Ngài như người bạn thân tình, Tập phó dâng cho Ngài mọi niềm vui nỗi khổ. Cho nên, tự đáy lòng mình, con muốn thốt lên: Lạy Chúa, con yêu mến Chúa. Khi con mệt mỏi rã rời, xin vẫn giúp con kêu lên: Lạy Chúa, con yêu mến Chúa Khi con cảm thấy khó lòng mà tha thứ, Thì con sẽ nhớ lặp đi lặp lại: Lạy Chúa, con yêu mến Chúa. Khi đêm đen phủ kín lòng con, Khi con không còn biết đi đường nào, Con sẽ kêu lên Chúa mà nói rằng: Lạy Chúa, con yêu mến Chúa Khi con bệnh hoạn không còn sức lực Thì nỗi đau của con trở nên một lời cầu: Lạy Chúa, con yêu mến Chúa. Thử thách nào có thể chuyển rung con? Đau khổ nào có thể làm con nao núng? Nếu con còn có thể trình lên: Lạy Chúa, con yêu mến Chúa Vì niềm vui Chúa ban, vì hồng ân Chúa đổ, Con cám ơn thế này: Lạy Chúa, con yêu mến Chúa Và khi không có lý do gì, chỉ để đẹp lòng Ngài Xin cho phép con vẫn trình lên: Lạy Chúa, con yêu mến Chúa Khi tuổi già bóng xế, Chúa gọi con về nhà, Thì trước khi lên đường, con vẫn thưa lần cuối: Lạy Chúa, con yêu mến Chúa Và khi Chúa đón con trước tòa, xin mở lượng từ bi, Vì Chúa biết rất rõ, bao nhiêu lần con thưa: Lạy Chúa, con yêu mến Chúa. Je t’aime! I love you!●
Mẹ Têrêxa. Lạy Chúa, khi con đói, Xin gửi đến một người cần con cho ăn. Khi con khát, Xin gửi đến một người cần con cho uống. Khi con lạnh, Xin gửi đến một người cần con sưởi ấm. Khi con bị xúc phạm, Xin gửi đến một người cần con ủi an.
Khi thánh giá con quá nặng, Xin đưa thập giá người khác đến cho con. Khi con quá nghèo nàn, Xin đưa con đến với người túng quẫn hơn con. Khi con thiếu thì giờ, Xin đưa con đến với người cần thì giờ của con. Khi con bị lăng nhục, Xin đưa con đến với người cần con ca tụng.
Khi con ngã lòng, Xin gửi đến một người cần con khích lệ. Khi con cần người khác cảm thông, Xin gửi đến một người cần con thông cảm. Khi con cần người khác chăm lo, Xin gửi đến một người cần con chăm sóc. Khi con chỉ nghĩ đến mình, Xin hướng suy nghĩ của con đến tha nhân●
Michel Quoist. Lạy Chúa, Chúa biết rằng con yếu đuối, nên mỗi lần con gặp khó khăn là đi tìm một sự hiện diện thân tình để nâng đỡ con.
Con cần nghe một câu nói, cần một bàn tay để siết chặt, cần một gương mặt để ôm hôn.
Nhưng giờ đây con hiểu rằng sự hiện diện qua hình hài chưa hẳn là một sự hiện diện đích thực. Hai người có thể nhìn nhau, chạm nhau, và thậm chí ôm nhau vào lòng, nhưng vẫn ở xa nhau, vô cùng cách biệt, nếu từ thâm sâu, không có tình yêu nối kết họ với nhau.
Biết bao cái bắt tay mà chỉ là đóng kịch! Biết bao đôi vợ chồng, tháng tháng ngày ngày cùng nằm bên nhau trong thói quen, mà vẫn là hai nỗi cô đơn, mỗi người ở một bên của đôi bờ hun hút. Nhưng lạy Chúa, con cũng tin hết lòng rằng hai người, dù xa cách nghìn trùng, trong không gian và thời gian, vẫn có thể gặp nhau, hiệp nhất, sống hiệp thông sâu lắng nếu tình yêu vẫn sống động trong lòng.
Đối với loài người mà con còn tin được, thì lạy Chúa, đối với Chúa làm sao không? Vì Chúa yêu chúng con như biển cả mênh mông. Chúa hiện diện trong lòng người sâu thẳm Hiện diện đích thực Hiện diện hoàn toàn Mọi lúc mọi nơi.
Lạy Chúa, không có gì tách chúng con ra khỏi Chúa, Không có gì không từ Chúa mà ra●
Lạy Chúa, con xin lỗi nếu con làm phiền Chúa... Nhưng mới đây con bỗng nghĩ: Chúa đang cần một thánh nhân... Vậy con xin đến nạp đơn. Con có thể làm thánh được đấy Chúa!
Mặc cho ai nói gì, thì thế giới này cũng còn đầy những người hoàn hảo Họ dâng lên Chúa thật nhiều hy sinh. Nhiều đến nỗi họ sợ Chúa đếm nhầm Nên ghi lại và đánh từng dấu thập.
Con thì chẳng thích hy sinh. Con ngại hy sinh lắm. Những gì con tặng Chúa, Chúa biết rõ, Chúa đã lấy mà chẳng cần con cho. Điều duy nhất con làm là không cằn nhằn cự tuyệt!
Có những người sửa mình, mỗi tuần sửa một tật, Thế là sau ba tháng họ trở nên trọn lành. Con thì không đủ tin cậy Chúa để mà làm như họ. Chắc gì sau một tuần con còn sống nữa không? Ai mà lường được Chúa, Chúa hành xử quá bất ngờ! Thế nên con cứ giữ tật xấu mình... mà cố gắng ít dùng đến chúng.
Những người hoàn hảo có quá nhiều nhân đức đến nỗi trong tâm hồn không còn chỗ để chứa đựng gì thêm. Họ chẳng thể nào làm thánh được. Vả lại họ đâu mong làm thánh, Vì như thế là lỗi đức khiêm nhường.
Mà Chúa ôi, Thánh là chiếc bình rỗng, để cho Chúa đổ đầy ơn, Đổ tràn bờ Tình Yêu của Chúa, sự Thánh Thiện của Ba Ngôi!
Vậy thì lạy Chúa, con là chiếc bình rỗng có ít bùn dưới đáy, Nghĩa là chẳng sạch sẽ gì, con biết rõ! Nhưng trên trời, hẳn Chúa có xà phòng cực mạnh... Vả lại nước từ cạnh sườn Chúa để làm chi, Nếu không phải là để rửa bình cho sạch?
Nếu Chúa không tuyển dụng con, thì lạy Chúa, con cũng không nài nỉ. Nhưng xin Chúa hãy cân nhắc cho kỹ: con nạp đơn nghiêm túc đấy, Chúa ơi!
Vậy lúc nào xuống hầm để múc rượu Tình Yêu, Xin Chúa nhớ giùm đâu đó dưới trần gian Có chiếc bình nhỏ vẫn sẵn sàng cho Chúa đấy!● Trao Đổi Với Bạn Đọc
1 Thắc mắc và suy tư của độc giả nmhoang: Xin có một câu hỏi để làm sáng tỏ về tình yêu: 1. Chúng ta có thể mua chuộc tình yêu hay không? 2. Các cử chỉ bác ái, vị tha để chứng tỏ (mua chuộc!) hay tỏ lộ (thể hiện tự nhiên) tình yêu? Xin nhấn mạnh đã không dùng chữ ‘để tỏ lộ” vì nó ám chỉ ‘mua chuộc’. Maranatha_32 viết trong đoạn (b) Bài Học Lễ Hiển Linh (Nguyễn Chính Kết): "... Chúng ta đừng an tâm tưởng rằng cứ giữ những tập tục đạo đức truyền thống cho tốt là bảo đảm vào được Nước Trời. Như thế không đủ! Điều cốt yếu để vào được Nước Trời không chỉ là tin vào Đức Giêsu mà còn phải thể hiện niềm tin ấy bằng việc sống theo lời Ngài: «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 13: 34). Nghĩa là chúng ta phải chứng tỏ được tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa và tha nhân. Mà tình yêu đối với Thiên Chúa lại được thể hiện qua tình yêu đối với tha nhân..." Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ muôn loài vì ‘tình yêu nhưng không’. Chẳng những thế, Thiên Chúa còn tạo dựng nhân loại theo hình ảnh của chính Mình và trao ban cho họ cả sinh khí của Mình. Như vậy, Thiên Chúa hiện diện trong mọi người, trong mọi sinh hoạt của từng cá nhân và tập thể gia đình nhân loại. Nói đến gia đình, chúng ta phải nói đến con cái. Nhưng lại có đến ba loại người con trong hầu hết các gia đình: 1. Có đứa luôn luôn thảo kính cha mẹ và mọi người trong gia đình một cách tự nhiên. 2. Có đứa muốn chứng tỏ tình yêu, như sợ sẽ mất đi. 3. Lại có đứa dửng dưng. Tình yêu của Thiên Chúa, thể hiện qua việc Sáng Tạo, Cứu Chuộc... chứng tỏ đấy là tình yêu NHƯNG KHÔNG. Thiên Chúa chẳng những không sợ đánh mất và cũng không cần mua chuộc. Đã là NHƯNG KHÔNG, chúng ta không cần phải mua chuộc. Điều quan trọng là liệu chúng ta có sống xứng đáng là một người con thảo thật sự hay không! Đây là điểm quan trọng. Rất tiếc các văn kiện và lời dạy dỗ của Giáo Hội vẫn chưa được làm sáng tỏ mà vẫn chú trọng vào việc “PHẢI LÀM’” thay vì “SỐNG (hay LÀM) XỨNG ĐÁNG” địa vị của người được yêu và đang yêu. Văn kiện Hiệp Thông giữa Rôma và Evangelical Lutheran chứng tỏ điều này. Cũng trong chiều hướng TÌNH YÊU NHƯNG KHÔNG của Thiên Chúa, việc “Cứu Chuộc” của Chúa Giêsu cần được hiểu theo “đi tìm cứu và mang về” như trong dụ ngôn người chăn chiên. Dĩ nhiên, có yêu thương thì người chủ chăn mới bỏ công và hy sinh lặn lội đi tìm và cứu về. Con chiên, vì làm theo ý của riêng mình, đã lạc đàn. Con người luôn luôn là tạo vật (1) của Thiên Chúa. Và nhất là vì Thiên Chúa tạo dựng nên mọi loài, cho nên không một thụ tạo nào có thể cướp lấp nhân loại khỏi Thiên Chúa. Câu nói Chúa Giêsu “chuộc” lại nhân loại hàm ý có một mãnh lực nào đó “ngang hàng với” (mà cũng có thể cao tay hơn) Thiên Chúa mới có thể kéo nhân loại ra khỏi tình yêu vô biên của Người. Có lẽ vì Thiên Chúa cho nhân loại, là tạo vật (1) nhưng lại được phép chọn lựa, nên đã làm theo ý mình và đi lạc. Như vậy nhiệm tích Ngôi Lời Nhập Thể, Hy Sinh và Sống Lại là để dẫn dắt chúng ta quay trở về trong tình yêu của Thiên Chúa. Một tình yêu NHƯNG KHÔNG nên ‘không bao giờ bị rút lại’. Chúng ta có cảm tưởng như bị rút lại khi quay lưng đi mà không nhìn lấy tình yêu luôn bao phủ. Vài lời suy tư góp ý và xin được dạy bảo. Mến chào trong Chúa. nmhoang. (1) LTS: Tác giả bức thư dùng chữ ‘tạo vật’ (kẻ tạo dựng, tạo hóa = creator) theo nghĩa là ‘thụ tạo, thọ tạo’ (kẻ được tạo dựng = creature), và Maranatha tôn trọng lời văn của tác giả nên giữ nguyên như thế. Xin độc giả đừng ngộ nhận là tác giả muốn nói rằng ‘Con người tạo dựng Thiên Chúa’ khi ông viết: “Con người là tạo hóa (tạo vật) của Thiên Chúa!”
2 Trả lời của tác giả Nguyễn Chính Kết. Độc giả kính/thân mến, Đối với Thiên Chúa, chỉ tình yêu đích thực mới là điều quan trọng và có giá trị trước mặt Ngài. Nhưng rõ ràng là có những trường hợp: – Người không có tình yêu đích thực bên trong, nhưng lại muốn chứng tỏ cho người khác rằng mình có tình yêu bằng những việc làm đôi khi rất vĩ đại. Mục đích của họ là để được tiếng khen là đạo đức, là nhân từ, quảng đại, độ lượng… nhờ đó họ tạo được uy tín đối với quần chúng, và kết quả họ nhắm tới là thăng quan tiến chức, v.v… Trường hợp này thì Chúa Giêsu đã giải quyết: “Họ đã được trả công rồi!”, nghĩa là những việc làm ấy chỉ có giá trị trước người đời chứ không có giá trị trước Thiên Chúa. – Người có tình yêu đích thực thì không cần chứng tỏ tình yêu ấy ra, vì tình yêu tự nó biểu lộ hay thể hiện một cách tự nhiên ra bên ngoài bằng tư tưởng, thái độ, cử chỉ, lời nói, hành động, v.v… Do đó, chúng ta cần phân biệt “yêu đích thực” và “có vẻ yêu”. Có nhiều trường hợp người yêu đích thực lại không «có vẻ yêu» bằng người yêu giả vờ. Chàng trai yêu thương cô gái chỉ vì của hồi môn của nàng thì thường là “có vẻ” yêu nàng hơn chàng trai yêu nàng vì tâm hồn, vì chính con người của nàng. Đặc biệt trong những dịp sinh nhật của nàng, chàng trai trước sẽ tặng những món quà quý giá hơn chàng trai sau. Nhưng cô gái mà tinh ý thì sẽ đánh giá món quà của chàng trai sau cao hơn rất nhiều. Con người có thể bị đánh lừa, nhưng Thiên Chúa không bị đánh lừa. Ngài cứ nhìn vào tâm ta là biết ta có tình yêu hay không, và tình yêu của ta bản chất thế nào, to hay nhỏ… Ngài không cần nhìn vào việc làm của ta mới biết được tình yêu của ta. Việc làm của tình yêu đích thực được thực hiện một cách tự nhiên, không hề có mục đích cố gắng tỏ ra mình yêu. Giống như một bông hoa thơm, nó tự nhiên tỏa hương ra, mà không cần cố gắng. Nó không quan tâm tới việc nó có tỏa ra hương thơm hay không, hương thơm tỏa ra được bao xa, có ai ngửi thấy hay không hay là chỉ tỏa ra một cách âm thầm không ai hay biết. Có người ngửi hay không có người ngửi hương thơm của nó thì nó vẫn cứ tỏa ra. Bao lâu con người còn muốn cố gắng tỏ ra mình yêu thì tình yêu đó chưa phải là tình yêu đích thực. Mà chỉ tình yêu đích thực mới có giá trị trước Thiên Chúa, cho dù có những trường hợp tình yêu đó không có điều kiện để thể hiện ra bên ngoài bằng việc làm. Còn tình yêu được chứng tỏ ra ngoài với mục đích để mọi người biết là «ta có tình yêu đây!» thì chỉ có giá trị trước mặt người đời thôi. Vài hàng chia sẻ. Chúc bình an vui tươi trong Chúa! Nguyễn Chính Kết.
1 Nhận định của Maranatha: Đọc hai bức thư của nmhoang và của Nguyễn Chính Kết, chúng tôi thấy rằng cả hai đều xác định Tình Yêu Nhưng Không cỦa Thiên Chúa, và khi ý thức được tình yêu thì con người đương nhiên đáp trả lại như một người con hiếu thảo trong gia đình. Hành vi đáp trả được tỏ lộ ra ngoài bằng tình yêu tha nhân, bằng việc cầu nguyện hướng lên Thiên Chúa và việc bác ái hướng về tha nhân. Và hai người (nmhoang và Nguyễn Chính Kết) đã thêm những suy tư đáng được chia sẻ với độc giả Maranatha. Nhưng thắc mắc của nmhoang dường như chưa được trả lời. Khi Nguyễn Chính Kết viết ‘chúng ta phải chứng tỏ được tình yêu của chúng ta đối với Thiên Chúa và tha nhân’ thì nmhoang xem thái độ ‘phải chứng tỏ’ là một thái độ ‘mua chuộc’ thừa thãi, bởi lẽ Thiên Chúa đã là Tình Yêu Nhưng Không rồi. Tuy nhiên, qua cách lý luận trong thư, dường như nmhoang lấy trường hợp tuyệt hảo của một Kitô hữu (trường hợp các thánh) để áp dụng cho mọi Kitô hữu: nghĩa là ông giả thiết rằng mọi Kitô hữu, khi ý thức được tình yêu nhưng không của Thiên Chúa, thì họ đáp trả một cách tự nhiên mà không cần ‘phải chứng tỏ’, không cần phải cố gắng. Trên thực tế, sự đáp trả của Kitô hữu luôn đòi buộc một nỗ lực trường kỳ. Cũng như thái độ hiếu thảo của người con thì thể hiện ra những hành vi cụ thể, nhưng muốn thực hiện những hành vi đó (để sống xứng đáng là một người con được cha mẹ yêu) thì thường thường phải có một nỗ lực hay hy sinh nhất định: thăm viếng, tặng quà, chăm sóc song thân. Một Kitô hữu, dù biết Chúa yêu thương mình vô cùng, cũng vẫn phải nỗ lực mà cầu nguyện (hướng về Chúa) và phải cố gắng mà sống bác ái (hướng đến tha nhân). Do đó cụm từ ‘phải chứng tỏ’ của Nguyễn Chính Kết chỉ có nghĩa là cần ‘nỗ lực để cho hành vi yêu thương đối với Chúa và tha nhân được thực hiện, nghĩa là để cho tình yêu được biểu lộ bằng hành động’ chứ không hề hàm ý ‘phải làm các việc bác ái để lấy lòng, để mua chuộc’ Tình Yêu Nhưng Không của Thiên Chúa. Tóm lại: 1/ Hỏi: - Tình yêu Thiên Chúa có cần và có thể mua chuộc không? (độc giả nmhoang) 1 Đáp: Không! 2/ Hỏi: - ‘Phải chứng tỏ tình yêu’ (NCK) có phải là thái độ mua chuộc không? 1 Đáp: Không!●
LTS: Trong tuần qua, Maranatha đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ email, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:
Báo cũ: Đối với những độc giả nhận báo lần đầu tiên hoặc độc giả nào còn thiếu một vài số báo cũ, xin quý vị vui lòng vào websites http://maranatha-vn.net hoặc http://tiengnoigiaodan.net để download những số báo mình cần. Hiện nay, các số báo từ 1 đến 33 đã được lưu trên hai websites trên. Nếu vì lý do trục trặc kỹ thuật, xin liên lạc về địa chỉ: maranatha@saintly.com Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha. Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. Trân trọng, MARANATHA
Trang Nhà (website) http://www.maranatha-vietnam.net Thư từ, ý kiến, xin gửi về maranatha@saintly.com Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về Chân thành cám ơn
|