|
ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II VÀ VIỆC HIỆP NHẤT KITÔ GIÁO
TẨY RỬA KÝ ỨC. Trong buổi gặp gỡ Đại Kết tại Paris, ngày 31-5-1980, ngài đã nói với những đại diện các Giáo Hội Kitô giáo. Đây là lần đầu tiên ngài nói đến việc xóa bỏ những kỷ niệm đau buồn của quá khứ, mà ngài gọi là tẩy rửa ký ức: Trước hết, và trong sự năng động của phong trào hướng về hiệp nhất, cần phải tẩy rửa ký ức cá nhân và tập thể khỏi kỷ niệm về những va chạm, những bất công, những thù hận xưa kia. [...] Tôi đặc biệt vui mừng vì quí vị cộng tác với nhau thật tốt, đặt biệt trong việc phục vụ con người, phục vụ trên mọi lãnh vực, và việc phục vụ ấy đòi buộc mọi Kitô hữu phải làm chứng một cách cấp bách và ngay bây giờ; tôi từng nhấn mạnh về sự cần thiết của chứng từ này trong thông điệp Redemptor hominis. NHÌN NHẬN LỖI LẦM. Việc tẩy rửa ký ức gắn liền với việc nhìn nhận lỗi lầm. Sáu tháng sau, ngày 17-11-1980, cũng trong buổi gặp gỡ với các đại diện các Giáo Hội Kitô giáo, tại Mayence, nước Đức, ngài ngỏ lời: Sự kiện chúng ta cùng gặp nhau trong đất nước của quí vị, tại Đức, sẽ hướng chúng ta gợi lại biến cố Cải cách. Chúng ta phải nghĩ đến những gì xảy ra trước đó và những gì xảy ra từ đó đến nay. Nếu chúng ta không tránh né các sự kiện, chúng ta sẽ nhận thấy rằng lỗi phạm của người thời ấy đã dẫn đến tình trạng chia rẽ đau lòng giữa những Kitô hữu và lỗi phạm của chúng ta ngày nay tiếp tục ngăn cản những bước đi mới rất cần thiết để có thể tiến về hiệp nhất. Tôi nói lên tiếng lòng mình bằng cách dùng lại những lời của vị tiền nhiệm tôi là Đức Adrianô VI, năm 1523, khi ngài cho công bố trước Hội nghị Nuremberg: “Quả thật, bàn tay của Chúa không suy yếu đến độ không còn có thể cứu vớt chúng ta, nhưng chính tội lỗi đã làm cho chúng ta xa cách Ngài... Tất cả chúng ta, giám mục và linh mục, chúng ta đã xa rời con đường lành và tôi không thấy một ai là không làm điều dữ (xem Ps. 14,4). Vì vậy tất cả chúng ta đều phải cảm tạ Thiên Chúa và tỏ mình khiêm tốn trước mặt Ngài. Mỗi một chúng ta phải tự hỏi vì sao mình đã sa ngã và tự xét mình hơn là để cho Chúa phán xét trong ngày thịnh nộ”. Như vị giáo hoàng Hà Lan và Đức cuối cùng ấy, tôi cũng nói: “Căn bệnh đã ăn sâu và phát triển nên cần phải tiến tới từng bước một, phải chữa trị những căn bệnh trầm trọng và nguy hiểm nhất bằng cách đề ra phương thuốc thích hợp, hầu khỏi gây ra một sự xáo trộn tồi tệ hơn vì muốn làm một cuộc cải cách nóng vội.” Ngày nay cũng như thời ấy, bước quan trọng nhất để tiến về hiệp nhất, đó là canh tân đời sống Kitô hữu. Rồi tại Vienne, ngày 11-09- 1983: Chúng ta sẽ gặp lại Đức Adrianô VI trong chương nói về Luther, nhưng chúng ta đã được nghe vị giáo hoàng không phải gốc Ý đầu tiên ở thời kỳ hiện đại nhắc đến vị giáo hoàng không phải gốc Ý cuối cùng ở thời kỳ Phục Hưng nơi chương 1 của phần 1. Một câu nói cô đọng về thái độ tự phê này, qua dòng năm tháng, đã trở thành một khẩu hiệu của triều đại giáo hoàng này: Không nên phủ nhận những tội lỗi mà Kitô hữu đã thực sự mắc phạm. THA THỨ MÃI MÃI. Chỉ có sự tha thứ mới thực sự tẩy sạch ký ức lịch sử khỏi những lỗi phạm đã được nhìn nhận. Ngày 28-11-1991, trong bài giảng khai mạc Hội Nghị Giám Mục Âu Châu, ngài đã nói: Vào cuối thế kỷ bi thảm này, câu hỏi của thánh Phêrô có vẻ mang một tầm quan trọng đặc biệt: “Con phải tha thứ bao nhiêu lần?” Chúng ta phải tha thứ mãi mãi, và đồng thời nhớ rằng mình cũng cần được thứ tha. Chúng ta cần được tha thứ nhiều lần hơn là chúng có thể tha thứ. Sứ điệp mang ơn cứu độ, mà chúng ta là sứ giả, chỉ được những người đương thời đón nhận khi nào sứ điệp đó đi kèm với một chứng từ phù hợp. Công đồng Vatican khẳng định rằng “không thể có phong trào hiệp nhất chính danh mà không có sự hoán cải tâm hồn. Thật vậy, những ước vọng hiệp nhất bắt nguồn và chín muồi nhờ sự đổi mới tâm hồn, từ bỏ chính mình và bác ái một cách hết sức quãng đại”. (Unitatis redintegratio, 7). Dưới ánh sáng của nguyên tắc này, ta cần phải tự vấn về nền tảng đạo đức của việc đối thoại dựa theo các đòi hỏi Phúc âm. Đấy là những đòi hỏi về chân lý và tình yêu. Chân lý và tình yêu buộc chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận những sự kiện, sẵn sàng tha thứ và đền bù những tổn hại gây cho nhau. Chân lý và tình yêu ngăn cản không cho chúng ta khép mình lại trong những thành kiến, mà thường là nguyên nhân của những chua chát và trách móc tiêu cực; chân lý và tình yêu giúp chúng ta không ném vào mặt anh em những lời buộc tội thiếu cơ sở, bằng cách gán cho họ những ý đồ và những dự định mà họ không hề có. Như thế, khi ta được thúc bách bởi lòng khát mong thực sự hiểu được quan điểm của tha nhân, những xung đột sẽ lắng đi nhờ đối thoại kiên trì và thành thực, dưới sự hướng dẫn của Thần Khí An Ủi. CÁO MÌNH. Với văn kiện pro memoria gởi đến các hồng y vào mùa xuân 1994, việc xét mình về trách nhiệm Công giáo trong việc chia rẽ các Giáo hội đã trở thành một chương trình đề ra cho mọi người: Trong tư thế hoàn toàn sẵn sàng đón nhận tác động của Thánh Thần, Giáo hội và Kitô hữu phải tập trung vào sứ mạng này bằng cách canh tân sự dấn thân của mình trước thềm năm 2000. Thiên niên kỷ thứ II sắp kết thúc mời gọi mỗi người xét mình và đưa ra những sáng kiến thích hợp cho phong trào đại kết, hầu cho tất cả chúng ta gặp lại nhau trong Năm Thánh, nếu không được hoàn toàn hoà thuận, thì ít ra cũng ở trong một tình trạng chống đối và chia rẽ ít hơn tình trạng trong thiên niên kỷ thứ II này. NHIỆM VỤ HÀNG ĐẦU. Ngày khai mạc Hội nghị bất thường của các hồng y, năm 1994, đức giáo hoàng lại đề nghị tiến hành việc cáo mình mà Ngài đã từng nêu ra trong văn kiện Pro memoria; việc cáo mình này đã gây một tiếng vang trong dư luận quần chúng, và một vài lời phê bình bên trong Giáo hội: Hướng về năm 2000, có lẽ đấy là nhiệm vụ lớn nhất. Chúng ta không thể trình diện trước mặt Đức Kitô, Chúa của lịch sử, trong tình trạng chia rẽ như hiện nay, trong khi chúng ta đã từng gặp lại nhau trong thiên niên kỷ thứ II. Những sự chia rẽ này phải nhường bước cho việc tiến lại gần nhau và cho sự hòa thuận. Những thương tích trên đường đi đến hiệp nhất các Kitô hữu phải được lành lặn. Trước thềm Năm Thánh này, Giáo hội cần phải thực hiện cuộc metanoia, nghĩa là phân định những thiếu sót trong lịch sử và sự lơ là của con cái mình trước những đòi hỏi của Phúc âm. Chỉ có can đảm nhìn nhận những lỗi lầm và thiếu sót mà Kitô hữu đã chịu ít nhiều trách nhiệm, cũng như có ý định quảng đại phải đền bù các lỗi lầm và thiếu sót đó nhờ vào sự trợ lực của Chúa, thì mới có thể đem đến một sinh khí hữu hiệu cho cuộc rao giảng Phúc Âm mới và làm cho con đường đi đến hiệp nhất trở nên dễ dàng hơn. TỘI ĐẦU TIÊN. Để kết luận giai đoạn huấn luyện về việc cáo mình, Đức Giáo Hoàng nêu ra trong lá thư hướng về Năm Thánh rằng tội gây chia rẽ là tội đầu tiên cần phải đền bù: Trong số các tội đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực nhiều để thống hối và hoán cải, dĩ nhiên phải kể đến những tội phạm đến sự hiệp nhất mà Thiên Chúa muốn cho Dân Ngài phải có. Trong một ngàn năm qua, hơn là trong thiên niên kỷ thứ I, cộng đồng giáo hội, “đôi khi vì lỗi của hai bên”, đã biết đến nhiều sự xâu xé đau thương, rõ ràng đi ngược lại với ý định của Đức Kitô và là một gương xấu cho thế giới. Đau lòng thay, những tội trong quá khứ ấy vẫn còn đè nặng và tồn tại cho đến ngày nay, như những chước cám dỗ. Cần phải nhận lỗi, bằng cách hết lòng nài xin Đức Kitô tha thứ. (Tertio millennio adveniente, 34) CÙNG NHAU ĐỀN BÙ. Từ việc cam kết nhìn nhận tội lỗi cá nhân mình đến lời kêu gọi tha thứ lẫn nhau, giai đoạn cuối cùng của tư tưởng tự phê của Đức Gioan Phaolô II được điễn đạt trong thông điệp Ut unum sint: Mọi tội lỗi thế gian đã được gom vào sự hy sinh ban ơn cứu độ của Đức Kitô và như thế có cả tội mà Kitô hữu - các mục tử không phải là ít hơn giáo dân - đã phạm đối với sự hiệp nhất Kitô hữu. Dù sau khi nhiều tội lỗi đã gây ra những cuộc chia rẽ trong lịch sử, vẫn còn có thể hiệp nhất các Kitô hữu, với điều kiện là ta khiêm nhường nhận thức rằng mình đã phạm tội đối với hiệp nhất và xác tín rằng mình cần phải hoán cải. Không chỉ là những tội lỗi cá nhân mới cần được tha thứ và vượt qua, nhưng cả những tội lỗi xã hội, có thể nói là chính “những cơ cấu” của tội lỗi, đã từng gây ra và có thể tiếp tục gây ra sự chia rẽ và củng cố sự chia rẽ đó. [...] Giáo hội Công giáo phải dấn thân vào việc mà ta có thể gọi là “đối thoại hoán cải”, đấy là nền tảng tinh thần của việc đối thoại đại kết. Trong đối thoại này, một đối thoại được Thiên Chúa hướng dẫn, mỗi người phải tìm lại những sai lầm của mình, xưng ra các tội lỗi và đặt mình trong bàn tay của Đấng Bàu Chữa trước mặt Chúa Cha, là Đức Giêsu Kitô. (Ut unum sint, 34,82). Và cuối cùng, đây là những lời mà ngài đã phát biểu trong phiên họp chung với các Giáo Hội ngoài Công Giáo, ngày 26-7-1995 Chúng ta không thể ù lì trước sự chia rẽ đang hoành hành trong thế giới Kitô giáo từ nhiều thế kỷ nay. Công giáo và ngoài Công giáo không thể không cảm thấy một nỗi đau sâu xa khi đối diện với sự chia rẽ đó, một sự chia rẽ rất mực tương phản với lời nói đầy nét u sầu của Chúa Kitô trong bữa tiệc ly (xem Ga 17,20-23). Quả thật, sự hiệp nhất nội tại của Giáo hội - theo ý định của Đấng sáng lập - đã không hề suy suyển. [...] Nhưng ta không thể phủ nhận rằng, trong quá trình lịch sử, quá khứ cũng như hiện nay, sự hiệp nhất của Giáo hội không phát huy được toàn vẹn sức mạnh và tầm vóc mà nó có thể và cần phải có, phù hợp với yêu cầu của Phúc âm mà Giáo hội dựa vào. Vì vậy, đối với những Kitô hữu đang theo đuổi sự hiệp nhất này và ý thức được khoảng cách giữa sự hiệp nhất theo ý định Chúa Kitô và sự hiệp nhất đã được thể hiện trong cụ thể, thái độ của họ chỉ có thể là hướng mắt lên trời để cầu xin Thiên Chúa những khích lệ mới hầu thực hiện sự hiệp nhất, dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần. Muốn trung thực và hiệu quả, phong trào đại kết yêu cầu những tín hữu Công giáo còn phải có một số phẩm chất căn bản. Trước tiên, cần phải có bác ái, với một cái nhìn đầy thiện cảm và một ước mong mãnh liệt được hợp tác với anh em các Giáo hội hay cộng đồng Giáo hội khác, mỗi khi có thể được. Thứ hai, cần phải có lòng trung thành với Giáo hội Công giáo, nhưng không vì thế mà bỏ qua hay phủ nhận những thiếu sót được thể hiện qua lối cư xử của một số phần tử của Giáo hội mình. Thứ ba, cần phải có tinh thần biết phân định, hầu đánh giá cao những điều hay và đáng khen. Cuối cùng, phải thành thật có ý muốn thanh luyện và canh tân, vừa bằng cách dấn thân cá nhân vào con đường trọn lành, vừa nỗ lực, “mỗi người trong môi trường của mình, làm thế nào để Giáo hội được thanh luyện hằng ngày, - một Giáo hội mang trong mình sự khiêm nhường và nét khổ hạnh của Đức Kitô -, cho đến khi trước mặt Ngài, có một Giáo hội lộng lẫy, không tì vết và không nếp nhăn (xem Ep 5,27)” [Unitatis redintegratio]●
|