|
|
Số 35, Ngày 9-2-2005 Sứ Điệp của ĐTC cho Mùa Chay 2005 - Maranatha dịch Đức Thánh Cha và Người Cao Niên - Maranatha dịch Lịch Sử Mùa Chay - Maranatha sưu tầm Người Cũ - Người Mới - Khổng Nhuận Giáo Dân Thời Giáo Hội Sơ Khai – Viên Gạch Xây Dựng - Lm. Phêrô Phan Đình Cho Tết Nguyên Đán - E-cadao Lời Chúc Tết của Giáo Hội Việt Nam - Duy Quang Lời Xin Lỗi Đầu Năm - Nữ Tu Royce Rupp Ngày Đầu Năm - R. Veritas Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc
Kính thưa quý độc giả, Ngày thứ tư 09 tháng 02 năm 2005 là một ngày đặc biệt đối với người Công giáo trên toàn thế giới. Với tư cách là người Việt Nam, hôm ấy là ngày Mồng Một Tết, một lễ hội lớn nhất trong truyền thống dân tộc mình, một ngày ăn sâu và tâm não của mọi thế hệ với bao nhiêu tâm tình sâu lắng và linh thiêng nhất. Với tư cách là người Công giáo, hôm ấy là thứ tư Lễ Tro, bắt đầu cho Mùa Chay, một mùa ăn năn sám hối để hoán cải tâm hồn đón mừng Chúa Phục Sinh. Mới thoạt nhìn, ta cảm thấy có một sự xung khắc giữa truyền thống dân tộc và truyền thống Giáo Hội, tuy nhiên trong thực tế hai biến cố này là một cái gì nằm trong cốt tủy của người Công giáo và người Việt Nam. Đối với người Công giáo, Mùa Chay trầm buồn, chay tịnh, sám hối chỉ trọn vẹn ý nghĩa khi những việc ‘đền tội’ ấy giúp mình sống lại cùng với Chúa Phục Sinh để đi vào con đường hướng đến ngày Hội Đời Đời. Đối với người Việt Nam, Ba ngày Tết là dịp nhìn lại những trầm buồn đã qua để xin lỗi, dốc lòng và kết nối lại mối dây thân tình giữa người và người, từ đó đi đến một sự bình an, hạnh phúc cho trọn một năm. Điều nghịch lý Tử Nạn và Phục Sinh, nhìn lại lỗi lầm và hướng đến những ngày mai tươi sáng, luôn luôn sống trong mỗi một người Kitô hữu và ngày thứ tư đầu Mùa Chay năm nay, cũng là ngày Mồng Một Tết, là lúc để Kitô hữu sống một cách sâu lắng nhất về mầu nhiệm này. Và trong những ngày qua, người cha chung của chúng ta, Đức Gioan Phaolô II dường như đang sống một cách đặc biệt mầu nhiệm ấy tại bệnh viện Gemelli. Sự xuất hiện ngắn ngủi của Ngài trước ngày thứ tư dường như lặp lại trong thinh lặng những lời tuyên xưng của Thánh Phaolô, mà Đức Thánh Cha đã sống gần 30 năm qua: "Mọi thời và khắp nơi, chúng tôi mang trong mình cuộc tử nạn của Đức Kitô, ngõ hầu Sự Sống của Đức Kitô được tỏ hiện nơi chúng tôi... Đối với tôi, sống là Đức Kitô và chết là một thắng lợi... vì tôi không muốn biết gì nữa ngoài Đức Kitô chịu đóng đinh trên Thập giá..." ( 2 Cr 4,10; Pl 1,21; 1Cr 2,2 ) Maranatha_35 sẽ nói đến sứ điệp Mùa Chay cũng như tinh thần mà Giáo Hội muốn được thể hiện nơi con cái mình, đồng thời cũng nói đến truyền thống Tết và những niềm phấn khởi chen lẫn ưu tư cho một ngày mai của Giáo Hội, của Quê Hương, của toàn thể nhân loại, nhất là những kẻ bị bỏ mặc, bị gạt ra bên lề. Và nhân dịp đầu năm, cùng với tâm tình của cả dân tộc, Maranatha chân thành cám ơn tất cả những cộng tác viên và độc giả đã giúp nuôi sống và khích lệ Maranatha trong thời gian qua. Và vì mọi lời chúc đã trở nên sáo mòn, Maranatha xin dùng một câu chúc rất quen thuộc để gửi đến quí vị trong năm Ất Dậu này: Xin chúc Chúa ở cùng anh chị em .... và cũng… chúc anh chị em ở cùng Chúa! Để cho mọi lời chúc này được trở thành hiện thực nhờ quyền năng và ân sủng của Chúa Kitô, chúng ta thành khẩn nguyện cầu: Lạy Chúa, xin ngự đến: Maranatha!● MARANATHA
LỜI CHA CHUNG
SỨ điỆp cỦa ĐỨc Thánh Cha cho Mùa Chay 2005
Maranatha dịch Anh chị em rất thân mến! 1. Mỗi năm, Mùa Chay đến như một thời gian thuận tiện để chúng ta gia tăng cầu nguyện và đền tội, bằng cách mở lòng mình mà ngoan ngoãn đón nhận thánh ý Chúa. Mùa Chay chỉ cho chúng ta con đường thiêng liêng hầu chuẩn bị sống Mầu Nhiệm cao cả là Mầu Nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô, bằng cách lắng nghe Lời Chúa chăm chỉ hơn và hãm mình gắt gao hơn, nhờ đó chúng ta có thể giúp đỡ nhiều hơn cho những anh em túng thiếu ở bên cạnh mình. Anh chị em thân mến, Năm nay, tôi muốn đề ra một chủ đề thời sự hơn bao giờ hết, từng được nêu lên qua những câu sau đây trong sách Thứ Luật: “Vì đó là đời sống của ngươi, đời sống dài ngày của ngươi trên trái đất này” (30,20). Đấy chính là những lời mà Môsê nói với dân mình để mời họ ký kết giao ước với Thiên Chúa trên đất nước Moab, “Để cho ngươi và dòng dõi ngươi được sống, nhờ yêu mến Giavê Thiên Chúa ngươi, lắng nghe lời Người, gắn kết với Người” (30, 19-20). Đối với Israen, lòng trung thành với giao ước Thiên Chúa là điều bảo đảm cho tương lai trên ‘mảnh đất mà Giavê đã hứa ban cho ông cha ngươi là Abraham, Isaac va Giacốp” (30,20). Theo quan điểm Kinh Thánh, đạt đến tuổi trưởng thành là một ân phúc đầy yêu thương của Đấng Tối Cao. Như vậy, tuổi thọ là một ân huệ đặc biệt của Thiên Chúa. Tôi muốn mời gọi anh chị em suy nghĩ về đề tài này trong Mùa Chay, để đào sâu ý thức về vai trò mà những người cao niên được mời gọi phải đóng trong xã hội và trong Giáo Hội, và để chuẩn bị linh hồn anh chị em hầu đón nhận tình yêu mà Chúa ban cho mình. Trong thế giới hôm nay, cùng với sự đóng góp của khoa học và y học, ta nhận thấy rằng đời sống con người được kéo dài hơn, và do đó, số người cao niên đã gia tăng nhiều. Điều này khiến ta phải chú ý đặc biệt hơn đến lớp người được gọi là ‘lớp tuổi thứ ba’, hầu giúp họ sống trọn vẹn tiềm năng của mình, bằng cách nhờ họ phục vụ cho toàn thể cộng đồng. Các tín hữu phải sẵn sàng chăm sóc người cao niên, nhất là khi họ trải qua những thời điểm khó khăn, đặc biệt là tại trong Cộng Đoàn Giáo Hội tại các xã hội phương tây, nơi mà vấn đề này trỗi lên thật rõ nét. 2. Đời sống con người là một ân huệ quí báu, mà ta cần phải yêu mến và bảo vệ trong từng giai đọan. Điều răn ‘chớ giết người’ đòi buộc ta phải tôn trọng và thăng tiến sự sống, mãi mãi, từ ngày đầu cho đến buổi xế chiều tự nhiên. Đấy là một giới răn cần hiện diện trong cơn bệnh hoạn, khi sức mạnh đã suy yếu khiến cho một người không còn có thể tự túc nữa. Nếu ta thanh thản đón nhận tuổi già và giới hạn không thể tránh khỏi, theo ánh sáng đức tin, thì chúng có thể trở nên những cơ hội quí báu để hiểu sâu hơn mấu nhiệm Thập Giá, một mầu nhiệm cho đời sống con người, với trọn vẹn ý nghĩa của nó. Người cao niên cần được thông cảm và giúp đỡ trong viễn ảnh ấy. Tôi muốn nói lên đây rằng tôi khen ngợi bao nhiêu người đã làm hết sức mình để đáp ứng những nhu cầu đó, và tôi cũng khuyến khích mọi người thiện tâm hãy dùng Mùa Chay này để đóng góp phần mình. Điều này giúp cho rất nhiều người cao niên khỏi cảm thấy mình là gánh nặng cho cộng đồng và, đôi khi, cho gia đình mình, trong hoàn cảnh cô đơn, khiến họ bị cám dỗ qui hướng về mình và ngã lòng. Cần phải quyết tâm nâng cao ý thức của đại chúng để họ hiểu rằng những người cao niên, trong mọi trường hợp, là một tài nguyên cần được khai thác. Vì thế, cần phải củng cố những trợ giúp kinh tế và những sáng kiến pháp luật giúp họ khỏi bị loại ra ngoài lề xã hội. Thật tình mà nói, trong những thập niên gần đây, xã hội đã chú ý nhiều hơn đến nhu cầu của họ, và y học đã phát triển khoa chăm sóc tạm thời, với cách tiếp cận con người toàn diện: điều này thật là tốt cho những người bệnh phải nằm bệnh viện một thời gian lâu dài. 3. Vào giai đoạn này, vì có nhiều thời gian hơn, những người cao niên có cơ hội đối diện với những câu hỏi chiều sâu mà có thể họ đã bỏ qua trong thời gian trước đó, vì những điều mà họ cho là cấp bách hay ưu tiên hơn. Vì ý thức rằng mình đang đến gần mục đích tối hậu, nên người cao niên tập trung vào những điều thiết yếu, và nhận ra tầm quan trọng của những gì mà thời gian không thể xói mòn. Chính vì hoàn cảnh của họ mà người cao niên có thể đóng một vai trò trong xã hội. Nếu quả thực mỗi người sống nhờ di sản của những kẻ đi trước, và tương lai mình tùy thuộc chủ yếu vào cách thức mà các giá trị của nền văn hóa dân tộc được chuyển trao cho mình, thì sự khôn ngoan và kinh nghiệm của những người cao niên có thể soi sáng cho con đường tiến bộ để dẫn đưa đến một hình thức văn mình ngày càng trọn vẹn hơn. Nhất thiết phải tái khám phá rằng các thế hệ làm phong phú cho nhau rất nhiều. Với lời tha thiết mời gọi sám hối và liên đới, Mùa Chay năm nay thôi thúc chúng ta tập trung vào những chủ để quan trọng liên quan đến mọi người. Điều gì sẽ xảy ra nếu Dân Chúa chấp nhận cái não trạng thông thường cho rằng những anh chị cao niên của mình là những kẻ hầu như vô dụng, khi khả năng của họ bi hạn hẹp vì những trở ngại của tuổi tác hay bệnh tật? Trái lại, cộng đoàn sẽ khác biệt đến thế nào, khởi sự từ gia đình, nếu nỗ lực mở lòng đón nhận những người cao niên. 4. Anh chị em rất quí mến, Trong Mùa Chay này, dựa vào Lời Chúa, chúng ta hãy suy nghĩ về tầm quan trọng đối với mỗi cộng đoàn trong việc đồng hành với người cao tuổi, với lòng yêu thương và thông cảm. Hơn nữa, cần phải tập nhìn về mầu nhiệm sự chết với lòng trông cậy, để cho cuộc gặp gỡ tối hậu với Thiên Chúa xảy ra trong bầu không khí bình an tâm hồn, vì ý thức rằng chúng ta sẽ được tiếp đón bởi Đấng ‘đã dệt chúng ta từ lòng mẹ’ (x. Tv 139,13b) và muốn rằng chúng ta ‘giống Người theo hình ảnh của Người’ (x. St 1,26). Nguyện xin Đức Maria, Đấng hướng dẫn chúng ta trong suốt hành trình 40 ngày này, dạy mọi tín hữu, đặc biệt những người cao tuổi nhất, càng ngày càng hiểu rõ hơn về Chúa Kitô tử nạn và phục sinh, là lẽ sống tối hậu của chúng ta. Xin Mẹ là người Nữ Tì trung tín của Thiên Chúa Con Mẹ, cùng với thánh Anna và thánh Gioakim, chuyển cầu cho mỗi một người trong chúng ta, ‘khi này và trong giờ lâm tử’. Tôi gửi đến tất cả anh chị em phúc lành tông tòa của tôi● Vatican, ngày 28 tháng 9 năm 2004
ĐỨC THÁNH CHA VÀ NGƯỜI CAO NIÊN Người cao niên và trẻ em chưa ra đời, Alpha và Ômêga của nhân loại, là những đối tượng mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đặc biệt lưu tâm, vì họ là những người nghèo tiêu biểu nhất: nghèo quyền sống. Ngày 01.10.1999, Ngài từng công bố bức ‘Tông Thư gởi người Cao Niên’, trong đó, Ngài nhắc nhở: “Trong quá khứ, người ta rất mực kính trọng những người cao niên.... Còn ngày nay thì sao? Nếu ta dừng lại giây lát để phân tích trình trạng hiện nay, ta thấy rằng một số dân tộc xem tuổi già là đáng kính và có giá trị, nhưng một số khác thì ít tôn trọng do cái não trạng xem trọng lợi ích trước mắt và năng suất lao động của con người. Thái độ ấy đã khiến xem thường người có tuổi, và chính những người cao niên cũng tự hỏi rằng cuộc sống của họ còn có ích chăng.” (Thư gởi người Cao Niên. số 9). “Phải cấp bách đặt mình lại trong một viễn cảnh đúng đắn, ấy là xem cuộc sống trong tổng thể.... Những người cao niên giúp chấp nhận mọi biến cố trên trần thế một cách hiền triết hơn, vì những thăng trầm trong cuộc đời đã cho họ nhiều kinh nghiệm và sự chín chắn. Họ là những người canh giữ ký ức tập thể, và vì lý do đó, họ là những người có khả năng nói lên các giá trị và lý tưởng chung giúp cho cuộc sống hài hòa trong xã hội. Loại trừ họ, nhân danh sự đổi mới không cần đến ký ức, có nghĩa là từ chối cái quá khứ mà hiện tại đang cắm rễ. Những người cao niên, nhờ có kinh nghiệm và chín chắn, có thể đề ra cho người trẻ những lời khuyên dạy quí giá’ (nt . số 10) Nhưng có lẽ những ưu tư của Đức Thánh Cha rõ nét nhất trong bài giảng của Ngài, ngày chủ nhật 17.09.2000, nhân Ngày Năm Thánh của Người Cao Niên “Anh chị em bạn hữu cao niên thân mến! Trong một thế giới như hiện nay, ở đấy sức mạnh và quyền lực thường được đưa lên hàng huyền thoại, anh chị em có nhiệm vụ làm chứng cho những giá trị vượt ngoài cái vỏ bên ngoài, và những giá trị ấy vẫn tồn tại mãi, vì chúng được ghi trong tâm khảm của mỗi một con người và được bảo đảm bằng Lời Chúa. Với tư cách là người cao niên, anh chị em có một sự đóng góp đặc biệt cho sự phát triển của một ‘nền văn minh sự sống’ đích thực, bằng cách làm chứng rằng mọi giây phút cuộc sống đều là ân sủng của Thiên Chúa và mọi giai đoạn cuộc đời đều có những sự phong phú mà mình có thể đóng góp cho mọi người.” (bài giảng chúa nhật 17.09.2000, số 5)●
TÌM HIỂU Maranatha sưu tầm Tên gọi Mùa Chay trong tiếng Việt Nam gợi lên hình ảnh của việc ăn chay. Hình ảnh ‘ăn chay’ được gặp lại trong ngôn ngữ các nước Đông Bắc Âu Châu: Fastenzeit (Đức); Fasta (Thụy Điển); Wielki Post (Ba lan). Trong khi đó thì các nước Tây Nam Âu Châu dùng một chữ bắt nguồn từ tiếng La Tinh, quadragesima, có nghĩa là bốn mươi (ngày), hay đúng hơn, (ngày) thứ bốn mươi: Carême (Pháp), mà trong tiếng Pháp cổ được viết là quaresme; Quaresima (Ý), Cuaresma (Tây Ban Nha). Riêng trong tiếng Anh thì Mùa Chay được gọi là Lent, do chữ cổ lencten, có nghĩa là mùa xuân, hoặc do chữ lengthening days, những ngày kéo dài. Như vậy , các ngôn ngữ gợi lên những thực tại nhau về mùa này: hình ảnh về 40 ngày trong Kinh Thánh, việc giữ chay của Kitô hữu và khái niệm về thời gian qua hình ảnh mùa xuân mà mỗi ngày mỗi dài ra. Tên gọi này cũng gợi lên cách thức mà ta sống Mùa Chay. Trong các giáo hội Tây Phương, Mùa chay là một khoảng thời gian 40 ngày ăn chay đền tội, để người tín hữu chuẩn bị tâm hồn đón mừng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, lễ tưởng niệm biến cố nền tảng của Đức Tin Kitô giáo. Vì lễ Phục sinh quá quan trọng đối với Đức Tin của người Kitô hữu, nên cần phải có giờ để chuẩn bị đón mừng lễ ấy. Vào cuối thế kỷ thứ tư thời gian này được tính là 40 ngày ăn chay cầu nguyện. Thời điểm này là lúc mà Hoàng Đế Constantin ở Rôma cho phép Kitô giáo được tự do thể hiện nếp sống đạo của mình, nên số người trưởng thành gia nhập Kitô giáo rất đông. Thế nhưng, mỗi năm giáo hội cử hành bí tích Thanh Tẩy chỉ một lần duy nhất là vào đêm vọng Phục Sinh. Vì thế những dự tòng cần phải học giáo lý và cầu nguyện trong một thời gian 6 tuần trước đó để chuẩn bị lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy. Tuy nhiên, 6 tuần thì chỉ mới có 36 ngày, bởi lẽ những ngày Chúa Nhật thì Kitô hữu không giữ chay, vì vậy Giáo hội thêm bốn ngày trước Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay, và như thế ngày khởi sự cho Mùa Chay luôn luôn là ngày thứ tư. Từ ngữ Quadragesima cũng có thể hiểu là 40 giờ. Đấy là thời gian mà người dự tòng phải ăn chay (theo nghĩa là nhịn đói hoàn toàn) trước khi chịu phép rửa vào đêm Vọng Phục Sinh, nghĩa là nhịn đói từ sáng thứ sáu đến khuya thứ bảy. Nhưng vì sao lại 40? Con số 40 có một ý nghĩa đặc biệt trong Kinh Thánh. Nạn đại hồng thủy kéo dài 40 ngày (St 7, 17-18); Môsê và Êlia đã sống 40 ngày trong hoang địa (Xh 24, 18; 1V 14,16); dân Do Thái đã thông qua 40 năm sa mạc để tiến về Đất Thánh (Xh 16, 35); Giôna đã cho thành phô Ninivê 40 ngày để ăn năn sám hối (Gn 3, 4.6). Riêng Chúa Giêsu, Ngài đã sống chay tịnh trong hoang mạc 40 đêm ngày trước khi khởi đầu sứ vụ của mình (Mt 4, 1tt). Thời gian này là thời gian để Ngài chiêm niệm, suy tư và chuẩn bị. Vì thế, qua việc giữ Mùa Chay, đa số Kitô hữu cũng theo chân Chúa để đi vào ‘sa mạc’. Về phương diện lịch sử, Mùa Chay không chỉ là mùa chuẩn bị Thanh Tẩy cho tân tòng mà còn là Mùa đền tội cho những tín hữu đã có những hành vi tự ý tách mình khỏi sự hiệp thông với Giáo Hội, nghĩa là không còn được chia sẻ bữa tiệc hiệp lễ. Nhờ đó họ sám hối và có thể trở lại chia sẻ bánh thánh vào ngày thứ năm tuần thánh, trong một nghi lễ đền tội công khai. Dần dần, mùa này cũng là một mùa cao điểm để hoán cải và hồi sức đối với những người muốn kết hiệp với Chúa một cách khăng khít và mãnh liệt hơn, dù họ không bao giờ bị loại ra khỏi bàn thánh. Nhưng ‘nghi thức đền tội công khai’ có nghĩa là gì? Vào những thế kỷ đầu tiên, những tín hữu nào đã phạm một tội trầm trọng và có thể trở nên cớ vấp phạm cho người khác, thì họ bị ngưng quyền dự thánh lễ một thời gian nào đấy. Ngày thứ tư trước tuần lễ thứ nhất Mùa Chay, Giám Mục rắt tro trên đầu họ trước sự hiện diện của toàn thể cộng đoàn, rồi ngài ra việc đền tội cho họ và đưa họ đến cửa nhà thờ để ‘trục xuất họ’ trong khi cộng đoàn cầu nguyện cho họ. Việc hòa giải và tái sáp nhập vào Giáo Hội (mà có trường hợp phải trải qua nhiều năm!) xảy ra vào thứ năm tuần thánh tại Rôma và tại Gaule (Nước Pháp ngày xưa); vào thứ sáu tuần thánh tại Milan và tại Tây Ban Nha. Như thế, vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh, những người đền tội có thể chia sẻ trở lại Mình và Máu Chúa Kitô. Dần dần, việc xức tro không chỉ dành riêng cho những người bị ‘vạ tuyệt thông’ muốn sáp nhận trở lại với Hội Thánh Thông Công, nhưng mở rộng cho mọi tín hữu, bởi lẽ không ít thì nhiều, mọi tín hữu đều cần phải có thái độ thống hối để hiệp thông với Chúa Kitô Phục Sinh một cách sâu xa hơn. Và kể từ thế kỷ VIII, ngày thứ tư đầu Mùa Chay được gọi là Thứ Tư (lễ) Tro (Ash Wednesday – Mercredi des Cendres). Đối với chúng ta ngày nay, dù chúng ta sống Mùa Chay một cách thoải mái hơn so với thời kỳ đầu của Giáo Hội. Kỷ luật đối với tân tòng, việc đền tội công khai cũng những việc hãm mình ăn chay gắt gao của thời trước đã thoáng hơn rất nhiều. Dù sao đi nữa, Mùa Chay vẫn là thời gian cầu nguyện, ăn chay, đền tội, phạt tạ, để chuẩn bị cho tâm hồn chúng ta hoán cải, hầu đón nhận ơn cứu độ đời đời mà Chúa Giêsu ban tặng cho chúng ta qua cuộc tử nạn và phục sinh của Ngài. Ngoài ra, Mùa Chay cũng là mùa để chia sẻ và phục vụ tha nhân, đặc biệt là những người chịu thiệt thòi và bị bỏ mặc. Trong sứ điệp mùa chay năm nay, Đức Thánh Cha kêu gọi Kitô hữu hướng lòng đến những người cao niên●
SUY TƯ Khổng Nhuận Mỗi lần mùa chay tới, các giáo xứ đua nhau tổ chức tuần tĩnh tâm với những bài giảng thật hấp dẫn do các linh mục nổi tiếng phụ trách. Người ta ngồi chật ních nhà thờ. Ai cũng nức nở khen cha giảng hay!! Nhưng rồi Lời Chúa vừa gieo vào lòng đã bị chim trời bay xuống ăn mất. Rồi mùa chay năm sau, lại lũ luợt rủ nhau nghe cha giảng, và lại nức nở khen hay!!. Còn chuyện sám hối, chuyện cởi bỏ con người cũ, mặc con người mới … thì biết rồi, khổ lắm, nói mãi!! Thế nên, người cũ vẫn hoàn người cũ…. Làm thế nào để mặc được con người mới? Ắt hẳn là có nhiều người tự đặt câu hỏi này và đã tửng xoay xở nhiều cách như bố thí, ăn chay, hãm mình, hy sinh, làm việc tông đồ nhiều hơn. Nhưng cuối cùng, con người cũ vẫn y như con ngựa bất kham, luôn bướng bỉnh quay trở về đường xưa với những lối mòn muôn thủa. Để mặc con người mới thì trước hết phải nhìn rõ bộ mặt thật của con người cũ và con người mới. I. GƯƠNG MẶT CON NGƯỜI CŨ Ngay từ thủa ban đầu, con người mới được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Nhưng tiếc thay, con người mau chóng trở thành con người cũ vì thích tìm điều lành, tránh điều dữ theo ý xác phàm như trong câu chuyện ông bà ăn trái biết lành biết dữ. Trước kia tôi cứ thắc mắc: biết lành biết dữ thì tốt chứ, sao lại bị phạt? Sau đó tôi mới hiểu rằng: Theo ánh mắt Chúa, tất cả những gì có mặt trên trái đất này đều tốt lành (St 1:13). Chỉ có con người mới thích phân biệt lành dữ theo quan niệm của mình. Tất cả những gì có lợi, may mắn, giàu sang thì người ta cho đó là điều lành. Đôi khi chính điều lành này gây đau khổ cho người khác, nhưng người ta vẫn cảm thấy sung sướng và coi những đau khổ của những người khác chẳng là gì cả. Trái lại, khi gặp điều tai hại, xui xẻo, nghèo túng thì lại cho là điều dữ, điều xấu, và cảm thấy rất khó chịu, khổ sở, u buồn, tủi nhục, thất vọng. Như thế, nguyên nhân chủ yếu và quan trọng nhất khiến con người mới biến thành con người cũ chính là con người chỉ còn sống cho mình, cho những lợi lộc, ích kỷ cho mình. Đây là bộ mặt thật của con người cũ: · Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt. (Rm 8:5) Hướng đi của xác thịt là chạy theo những quyến rũ của thế gian:
·
Mọi sự trong thế
gian: như dục vọng của tính xác thịt, Quả vậy, thế gian luôn biến đổi. Nếu ta chạy theo nó, lúc nhắm mắt xuôi tay, ta không mang theo được gì: nhà cửa, địa vị, sắc đẹp, khôn ngoan,danh tiếng… Tất cả chỉ là hư ảo, phù phiếm; · Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân.(Gs 1:2) Cuối cùng, hậu quả bi đát nhất, kinh khủng nhất là sẽ phải chết. · Nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết. (Rm 8:13) Tóm lại, con người cũ là một con người lấy cái tôi làm chúa của mình, mà quên mất mình còn có một cái tôi chân thực quý báu hơn cả ngàn lần cái tôi ảo tưởng ấy. Thành thử ra, con người cũ cứ bị cuốn hút theo những dục vọng, đam mê phù phiếm của thế gian. Những đam mê này khiến cho con người cũ đắm chìm trong bóng tối tăm. Sống mà như đã chết - một tử thi biết đi. Tuy mang tiếng là người Kitô hữu, nhưng đáng tiếc thay! Con người cũ không có sự sống của Đức Kitô trong tâm hồn! II. KHUÔN MẶT CON NGƯỜI MỚIQuá thương nhân loại đắm chìm trong bóng tối tăm, Thiên Chúa đã tìm cách lôi kéo nhân loại trở về với con người đích thực của mình bằng cách sai một loạt các ngôn sứ để nhắc nhở, nhưng hầu như chẳng ăn thua gì. Cuối cùng, Ngài sai chính con của Ngài là Đức Giêsu xuống trần để làm sống lại hình ảnh con người mới ấy. Nhờ đó, chúng ta có dịp nhìn lại tâm hồn mà khám phá ra khuôn mặt con người mới mang hình ảnh Thiên Chúa của mình. Chúng ta cùng nhau đọc lại những lời Kinh Thánh nói về Đức Giêsu – con người mới của Thiên Chúa.
·
Thánh Tử là
hình ảnh Thiên Chúa
vô hình, · Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. (Dt 1:3) · Thật vậy, nơi Người, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể, (Cl 2:9) Chúng ta nên lưu ý rằng Đức Giêsu không phải là người duy nhất giống hình ảnh Thiên Chúa và độc quyền mang bản tánh Thiên Chúa , mà còn cả chúng ta - những người con của Cha và cũng là đàn em của anh cả Giêsu. Chúng ta cũng giống hình ảnh Thiên Chúa và mang bản tánh Thiên Chúa. Tất nhiên là do Thiên Chúa tặng ban cho chúng ta từ muôn thủa. · Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa, (2Pr 1:4) · Anh em đã mặc lấy con người mới, con người hằng được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá, để được ơn thông hiểu. (Cl 3:10). Have put on the new self, which is being renewed, for knowledge, in the image of its creator. Ơn thông hiểu - thực ra đây chỉ đơn giản là sự thông hiểu (for knowledge). Sự thông hiểu là một đề tài hấp dẫn cho những ai khao khát tìm kiếm chân lý. Sự thông hiểu này chính là trí tuệ tâm linh sáng ngời. nó giúp ta cảm nhận Thiên Chúa một cách thâm sâu nhất, trọn vẹn nhất, đích thực nhất; không cần phải qua những hình ảnh mang màu sắc nhân loại: người cha nhân lành, người bạn thân ái, người tình yêu quý, thậm chí là ông công an chuyên ghi sổ phạt, ngài thẩm phán công minh. Sự thông hiểu này được diễn tả qua một số câu Kinh Thánh. Chúng ta làm quen với câu sau: · Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi. (1Cr 13:12) Bây giờ chỉ ngày tháng hiện tại - thời gian con đang lờ mờ về Chúa. Còn mai sau - không phải là đợi tới khi chết, ta mới mở mắt ra và thấy Chúa thánh thiện, tốt lành; mà ngay từ bây giờ - khi chúng ta bỏ con người cũ, mặc con người mới - chúng ta đã có thể biết Chúa như Chúa biết ta. Bởi lẽ ta được giống như Ngài vì Ngài thế nào, ta sẽ thấy Ngài như vậy. Đây chính là sự thông hiểu đích thực.
·
Hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; Khi Đức Kitô xuất hiện. Khi nào vậy? Không phải đợi cho tới khi Ngài tái lâm đâu. Mà ngay khi ta cảm nhận được sự hiện diện sống động của Đức Kitô ngay trong tâm mình, thì lúc đó, ta sẽ xác tín mình nên giống như Người và sẽ “thấy” Ngài càng lúc càng rõ - tất nhiên là bằng ánh mắt tâm linh. Thêm vào đó, Ngài con trang bị cho ta Thần Khí của Ngài, nhờ đó chúng ta anh dũng, mạnh mẽ, biết yêu thương và biết tự chủ cuộc đời mình. · Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ. (2Tm 1:7) Tóm lại, khuôn mặt đích thực của con người, mới gồm có những đặc điểm sau đây: Mang hình ảnh Thiên Chúa – sáng láng, đẹp đẽ; Thông phần bản tánh Thiên Chúa – thánh thiện, tinh tuyền, sống đời đời, thông hiểu; Và nhờ tràn đầy Thần Khí Thiên Chúa, chúng ta mạnh mẽ, biết yêu thương và tự chủ trong bất cứ hoàn cảnh nào chỉ vì có Chúa ở trong ta, nên một với ta. Như vậy, chúng ta đã nhìn ngắm bộ mặt thật của con người cũ và con người mới tương đối rõ ràng với những nét chính yếu nhất●
Tôi xin Sức Mạnh... Và Chúa ban những Khó Khăn để tôi được mạnh mẽ. Tôi xin Khôn Ngoan... Và Chúa ban các Vấn Đề để cho tôi giải quyết Tôi xin Sung Túc... Và Chúa ban Trí Tuệ để cho tôi làm việc Tôi xin Can Đảm... Và Chúa ban Hiểm Nguy để cho tôi vượt qua. Tôi xin Tình Yêu... Và Chúa ban những Người Khốn Khổ để cho tôi giúp đỡ Tôi xin Ân Huệ... Và Chúa ban các Cơ Hội. Tôi không nhận được một điều nào tôi muốn... Tôi nhận được mọi thứ tôi cần!●
HỌC HỎI GIÁO DÂN THỜI GIÁO HỘI SƠ KHAI: NHỮNG VIÊN GẠCH XÂY DỰNG MỘT NỀN THẦN HỌC GIÁO DÂN (tiếp theo và hết) L.M. Phêrô Phan Đình Cho - Trần Duy Nhiên dịch Giáo sĩ như một giai cấp trong Giáo Hội và trong xã hội và thân phận giáo dân như là một hình phạt. Cho đến đầu thế kỷ thứ IV, Kitô giáo là một tôn giáo ngoài vòng pháp luật và thỉnh thoảng xảy ra những cuộc bách hại đẫm máu đối với Kitô hữu. Tuy nhiên, cùng với việc trở lại của hoàng đế Constantin (274 hay 288-337) và với cái gọi là Sắc Chỉ Milan năm 313, Kitô giáo thoạt đầu được thừa nhận và, rất nhanh sau đó, dưới triều hoàng đế Theodore I (379-395), trở thành tôn giáo duy nhất được công nhận và là quốc giáo. Tư cách pháp nhân mới đã đem đến những thay đổi vô cùng to lớn trong tổ chức Kitô giáo. Một mặt, quyền bính chính trị bắt đầu len lỏi vào đời sống giáo hội. Hoàng đế Constantin, dù chỉ nhận phép rửa khi hấp hối, vẫn tin rằng giáo hội và chính quyền phải được liên kết càng chặt chẽ càng hay. Được giám mục Xêsarê là Eusebiô tuyên dương là ‘vị tông đồ thứ mười ba’ và ‘giám mục ngoại vụ’, Constantin triệu tập các công đồng giáo hội - ở Arles năm 314 và tại Nicê năm 325 – và ban cho giáo hội rất nhiều đặc quyền đặc lợi. Mặt khác, tổ chức Giáo hội mau chóng rập khuôn tổ chức chính quyền. Dần dần, thế giá và quyền hạn của giám mục sánh đôi với thế quyền trên lãnh thổ mà mình cai quản. Như vậy, một giám mục tại trung ương sẽ giám sát những gì xảy ra trong lãnh thổ của các giám mục trong khu vực ấy, và từ đó bắt đầu có ‘phẩm trật’ (cấp bậc) giữa các giám mục. Một trong các hệ quả đau buồn của việc sắp xếp này, ấy là một giám mục của một giáo phận nhỏ và nghèo có thể bị cám dỗ phải xoay sở để được chuyển đến một tòa giám mục danh giá và giàu có hơn, và thế là người ta đã tháo gỡ mối dây – tương tự như giữa hai vợ chồng – nối kết giám mục với dân mình trong giáo phận. Hơn nữa, các giám mục bắt đầu được xem như là các ‘ông hoàng’ với đầy đủ quyền hành chính trị trần thế. Và càng ngày càng xảy ra việc các giám mục được hoàng đế bổ nhiệm và cùng chia sẻ cái ‘gần như thần quyền’ (quasi-divine authority) của hoàng đế. Quyền bính trong giáo hội trở thành quyền bính (mang tính chất) đạo, và các Kitô hữu phải phục vụ cho quyền bính đó, thay vì quyền bính đó là để phục vụ cho dân Chúa. Một hệ quả tồi tệ khác của bước ngoặt do Constantin đem đến trong giáo hội ấy là giáo sĩ chẳng những trở thành một tầng lớp trong giáo hội mà còn là một giai cấp trong xã hội. Phẩm trật với ba cấp bậc – giám mục, linh mục và phó tế - trở thành cái thang để bước lên trong quyền hành và vinh dự; và địa vị giáo sĩ trở thành một sự nghiệp có nhiều bậc thang, mà bậc dưới tiến lên bậc trên thông qua một quá trình ‘thăng quan tiến chức’ (promotion). Hơn nữa, trong lãnh vực kinh tế chính trị, giáo sĩ là một giai cấp hưởng những đặc quyền vô cùng to lớn. Giáo sĩ cũng như vợ họ, các nô lệ đã được giải phóng của họ, và những đầy tớ họ đều được miễn nhiều bổn phận công cộng và đóng thuế. Trong hoàn cảnh như thế, không ngạc nhiên gì một số người gia nhập hàng giáo sĩ vì những động cơ không cao thượng tí nào. Một kết quả đáng tiếc nữa, ấy là hạ thấp địa vị của giáo dân trong giáo hội, mà sự phân biệt với giáo sĩ không chỉ thể hiện qua những nghi lễ phụng vụ, như đã thấy trên, mà con ở đẳng cấp kinh tế, xã hội và chính trị. Thái độ xem thường giáo dân được thấy rõ qua hình phạt dành cho giáo sĩ khi có hành vi xấu. Hình phạt ấy là ‘thu hẹp’, hay ‘truất quyền’ hay ‘giáng chức’ hay ‘hạ bậc’ từ địa vị giáo sĩ xuống bậc sống giáo dân. Như thế, bậc giáo dân là cấp bậc thấp nhất trong giáo hội, một bậc sống nhục nhã, tệ hơn cả vạ tuyệt thông, bậc sống mà một giáo sĩ bị phạt phải sống nếu trót phạm một hành vi tội lỗi! Ơn gọi đan tu và việc giáo sĩ hóa ơn gọi ấy. Như một phản ứng đối với việc tục hóa quá độ của giáo hội từ thời Constantin, một số giáo dân nam nữ khai sinh một phong trào ‘ẩn lánh’ khỏi thế gian để đi vào sa mạc tìm kiếm sự trọn lành cho đời sống Kitô hữu. Người nam được gọi là ẩn sĩ (mà trong tiếng Anh và tiếng Pháp có hai thuật ngữ gồm: anchorite / anachorète – do từ ngữ Hy lạp anachoreo, nghĩa là ‘rút lui, ẩn lánh’; hermit / ermite – do từ ngữ Hy Lạp eremitai, nghĩa là ‘người ở sa mạc’) và tu sĩ (cebonite / cébonite – do hai từ ngữ Hy Lạp koino [cộng đoàn] + bios [sống], nghĩa là những người sống cộng đoàn); còn người nữ thì gọi là ‘đồng trinh’. Phong trào đan tu này bắt đầu từ miền Bắc Ai Cập với những khuôn mặt nổi bật như An tôn (251-356) và Pacômiô (290-346), tiếp theo là Basil Xêsarê (330-370), và sau này phong trào ấy chuyển qua phương tây với Martinô thành Tours (335-397) và Biển Đức thành Nursia (480-550). Dù khởi thủy là một sáng kiến của giáo dân, thì chẳng bao lâu sau, phong trào đan tu đã được giáo sĩ hóa. Lý do thì nhiều. Một trong các lý do là vì những cộng đoàn tu sĩ giáo dân này thường ở xa các giáo xứ nhưng cần lãnh nhận bí tích, nên đòi hỏi phải tấn phong cho ít ra một vài tu sĩ. Hơn nữa, do tiếng thơm về sự thánh thiện và tinh thần phục vụ xã hội của họ, các cộng đoàn này lôi cuốn đến quanh mình các cộng đồng không sống đời sống đan tu, vì thế các đan sĩ phải phục vụ họ bằng thừa tác vụ linh mục. Thêm vào đó, do sự thánh thiện của họ, một số đan sĩ được phong linh mục, đôi khi ngược với ý muốn của mình, như là một phần thưởng và một sự công nhận địa vị thiêng liêng của họ. Cuối cùng, các giám mục, được soi sáng bởi uy tín và ảnh hưởng của phong trào đan tu, nên bắt đầu khuyên giáo sĩ hành xử như các đan sĩ. Hệ quả là dần dần càng có nhiều đan sĩ trở thành linh mục, và càng nhiều linh mục sống theo đời sống đan tu. Điều khởi sự như một phong trào giáo dân đã kết thúc bằng cách biến địa vị giáo dân thành một địa vị thấp hèn: bấy giờ, lý tưởng cao nhất của đời sống Kitô hữu là trở nên tu sĩ hay linh mục, và tốt nhất là vừa tu sĩ vừa linh mục. Vai trò nam giáo dân thuở ấy như thế nào? Cần phải lưu ý đến chữ ‘nam’ trong câu hỏi trên. Ta chỉ tập trung vào Kitô hữu phái nam mà thôi, bởi lẽ vai trò nữ giáo dân thật mờ nhạt trong giáo hội sơ khai. Mãi đến thế kỷ thứ tư thì thuật ngữ giáo dân mới minh nhiên áp dụng cho người nữ. Ngay cả Tertulianô, người từng khẳng định rằng giáo dân có thể cử hành Thánh Thể khi thiếu vắng linh mục, thì cũng dứt khoát xác nhận: “người nữ không được lên tiếng trong nhà thờ, hoặc rửa tội, hoặc dâng lễ, hoặc đòi hỏi quyền làm một nhiệm vụ gì mà người nam làm, nhất là thừa tác vụ tư tế.”[9] Hơn nữa, tập Didascalia Apostolorum, khi nói về việc bổ nhiệm các góa phụ hay phong chức cho nữ phó tế, thì cũng xác nhận: “chúng ta không cho phép người nữ hoặc rửa tội cho ai hoặc chịu rửa tội từ tay một người nữ.”[10] Nữ phó tế tham dự nghi lễ rửa tội chỉ xức dầu cho người nữ được rửa tội; còn chính bí tích rửa tội thì phải được thực thi do giám mục, hoặc linh mục, hoặc một nam phó tế. Người nữ cũng không được phép làm nhiệm vụ giảng dạy. Đúng ra, phải nói rằng trong Giáo Hội sơ khai, nữ giáo dân không có một vai trò đặc biệt nào trong Giáo Hội. Nếu có những nhiệm vụ đặc biệt nào được dành cho họ, ấy là do hoàn cảnh đặc thù của họ là góa phụ hay đồng trinh. Thế thì bổn phận của nam giáo dân là gì? Chúng ta đã thấy rằng, ít ra cho đến thế kỷ thứ ba, nam giáo dân có thể dạy dỗ với tư cách là thầy giảng hay thầy dạy (kinh sư). Họ cũng có thể được bổ nhiệm như là phó-trợ-tá hay người đọc sách trong phụng vụ. Vì một trong các đặc sủng của họ là chữa bệnh nên họ cũng có thể trừ quỷ. Trong những thế kỷ đầu, một số nhiệm vụ khác cũng được mở rộng cho giáo dân, cho người nam và trên lý thuyết cho cả người nữ nữa, bao gồm nhiệm vụ làm cha mẹ đỡ đầu cho người tân tòng, dự phần vào việc nhận những kẻ đã đền tội vào lại cộng đoàn, có tiếng nói trong việc chọn hàng giáo sĩ và đặc biệt là bầu giám mục; họ cũng được tham khảo trong những tranh luận thần học quan trọng. Tuy nhiên, qua dòng thời gian, những nhiệm vụ ấy bắt đầu bị rút đi khỏi tay giáo dân hay mất ý nghĩa đích thực của chúng. Dù sao, cũng còn một nhiệm vụ vẫn tồn tại mãi cho giáo dân, ấy là đóng góp để bồi dưỡng cho hàng giáo sĩ. Ngoài vâng lời và phục tùng hàng giáo sĩ (tôn vinh giáo sĩ), giáo dân còn phải trợ giúp tài chánh cho họ. Không phải là quá đáng nếu bảo rằng về mặt xã hội, trong Giáo Hội tiên khởi, giáo dân là thành phần nam Kitô hữu có khả năng tài chánh để cấp dưỡng cho giáo sĩ. Hướng đến nền thần học hiện đại về giáo dân: chức tư tế do phép rửa. Nhìn thoáng lại năm thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo ta thấy dần dần xuất hiện một thành phần Kitô hữu gọi là ‘giáo dân’, đồng thời có một sự xói mòn trầm trọng về phẩm giá và vai trò của họ trong giáo hội. Cũng nên tóm lược lại các giai đoạn của quá trình giáo dân mờ đi trong giáo hội sơ khai. 1. Trong Tân Ước, không hề có sự phân chia Kitô hữu thành hai loại người mà sau này được gọi là ‘giáo sĩ’ và ‘giáo dân’, và loại đầu khác biệt với loại sau nhờ ‘chức tư tế’. Đúng ra, mọi Kitô hữu đều là tư tế do phép rửa tội, và đều bình đẳng chia sẻ chức tư tế duy nhất của Chúa Giêsu Kitô. Cũng nhờ phép rửa, qua đó các ơn Chúa Thánh Thần được thông truyền một cách đa dạng, Kitô hữu được kêu gọi thực thi những nhiệm vụ khác nhau và bổ túc cho nhau, những nhiệm vụ cần thiết cho sự sống của giáo hội. 2. Vào khoảng cuối thế kỷ thứ nhất, khi giáo hội bắt đầu được tổ chức và cơ cấu hóa, một số nhiệm vụ cai trị và quản lý bắt đầu có tầm quan trọng, và những người thực thi các nhiệm vụ ấy được trao cho một chức tước như ‘giám mục’, ‘linh mục’ và ‘phó tế’, mặc dù những chức vị ấy không giống như những chức vị mà các thuật ngữ ấy chỉ định ngày hôm nay. 3. Lần đầu tiên thuật ngữ giáo dân được sử dụng là do cuộc tranh dành quyền lực trong Hội Thánh Côrintô vào khoảng cuối thế kỷ thứ nhất. Một trong các vị lãnh đạo Hội Thánh tại Rôma, thánh Clêmentê, can thiệp bằng một bức thư để cố gắng giải quyết cuộc xung đột ấy bằng cách nại vào khái niệm tôn ti trật tự, nghĩa là trong giáo hội có những hạng người khác nhau và có những vai trò và nhiệm vụ khác nhau. Vai trò của giáo dân là tuân theo ‘luật lệ đặc biệt dành cho giáo dân’. Ngược lại với thượng tế, tư tế và Lêvi, giáo dân không được trao một vai trò tích cực nào; thay vào đó, giáo dân được định nghĩa một cách tiêu cực, qua việc họ phải chấp hành các lề luật đặt ra cho họ. 4. Dù như thế, trong tác phẩm của Justinô và Tertulianô, hai ‘giáo dân’ của thế kỷ thứ ba, sự bình đẳng giữa giáo dân và giáo sĩ được khẳng định mạnh mẽ. Trên thực tế, Justinô chẳng để ý đến sự phân biệt. Tertulianô thừa nhận sự phân biệt này, nhưng khẳng định rằng giáo dân (dù không bao gồm nữ giáo dân) có thể và phải cử hành bí tích, gồm cả bí tích Thánh Thể, cho cộng đoàn khi thiếu vắng linh mục. 5. Tuy nhiên, vào khoảng thế kỷ thứ ba, sự phân biệt giữa giáo sĩ và giáo dân được nêu rõ để cho thấy địa vị thấm kém của giáo dân so với giáo sĩ. Sự phân biệt này được xác định do nghi lễ và do giáo luật qua việc đặt tay hay phong chức cho hàng giáo sĩ. 6. Với cuộc trở lại của Constantin và việc thiết lập Kitô giáo làm quốc giáo vào thế kỷ thứ tư, giáo sĩ - như một tầng lớp trong giáo hội - trở thành một giai cấp với rất nhiều đặc quyền về kinh tế và chính trị. 7. Giờ đây, vai trò của giáo dân, từng bao quát trong ba thế kỷ đầu, đã bị thu hẹp hết sức. Thật vậy, giáo dân là thuật ngữ dùng để chỉ những nam giáo dân có khả năng tài chánh mà cấp dưỡng cho giáo sĩ. Nữ Kitô hữu, kể cả những người thuộc bậc goá phụ hay đồng trinh, không được phép thực thi những nhiệm vụ mà nam giáo dân được phép. Địa vị giáo dân trở thành hình phạt nặng nề nhất đối với những giáo sĩ nào thiếu tư cách và cần phải ‘giáng chức’ xuống bậc sống giáo dân. 8. Vào khoảng giữa thế kỷ thứ tư, một phong trào đan sĩ giáo dân trỗi dậy để chống lại việc tục hóa Kitô giáo và tìm kiếm sự trọn lành của nếp sống Kitô hữu. Tuy nhiên, dần dân phong trào giáo dân này được giáo sĩ đón nhận, vì thế càng ngày càng có nhiều đan sĩ trở thành linh mục và giám mục; và càng ngày càng có nhiều giáo sĩ sống nếp sống đan tu, đặc biệt là giữ tình trạng độc thân. Qua việc hạ giá trường kỳ của bậc sống giáo dân, ngày nay ta phải làm thế nào để tìm lại gương mặt thật của giáo dân, cả nam lẫn nữ? Không cách nào khác hơn là trở về với tinh thần nội tại và những thực hành Phúc Âm theo đường hướng mà Giáo Hội đang và cần giải thích lại ngày hôm nay. Chắc chắn rằng khái niệm căn bản nhất trong nền thần học Tân Ước về đời sống của Kitô hữu, dù là giáo dân hay giáo sĩ, là chức tư tế do phép rửa. Chức tư tế này biến một người thành Kitô hữu. Mọi Kitô hữu được trở thành tư tế do phép rửa và vì thế họ đều bình đẳng với nhau từ nền tảng. Chức tư tế này, do được tham dự vào chức tư tế của Chúa Giêsu Kitô, là phẩm giá cao nhất của mọi Kitô hữu. Không có một chức tư tế nào khác trong giáo hội cao trọng hơn chức tư tế này. Không có bậc sống Kitô hữu nào thánh thiện và cao cả hơn bậc sống này. Mọi nhiệm vụ và hoạt động trong giáo hội cần phải phục vụ và định hướng theo chức tư tế do phép rửa này. Trên bình diện giáo hội học, thay vì hình tháp phẩm trật là: Giáo Hoàng Giám Mục Linh Mục Phó Tế Giáo Dân, ta nên theo lược đồ này: Kitô hữu tư tế Giáo Dân + Phó Tế + Linh Mục + Giám Mục + Giáo Hoàng, với cấp bậc và giá trị cao nhất của chức tư tế là chức tư tế phổ quát (chung). Nhóm tư tế thừa tác, cùng chia sẻ chức tư tế phổ quát này, là một phân nhóm hay một phân loại (species) thuộc cùng một chủng loại (genus) căn bản. Nói cách khác, điều đem lại giá trị cho giáo dân, phó tế, linh mục, giám mục và giáo hoàng, chính là chức tư tế do phép rửa. Chức tư tế này khiến họ thực sự bình đẳng với nhau. Làm giáo dân, phó tế, linh mục, giám mục, hay giáo hoàng là những phương cách khác nhau và bình đẳng với nhau (trên bình diện thiêng liêng, chứ không phải là theo giáo luật) để thực thi chức tư tế do phép rửa, không hơn không kém. Với tư cách là người công giáo, chúng ta phải xác nhận, như giáo huấn Vatican II, rằng hai chức tư tế, ‘chức tư tế chung của mọi tín hữu’ và ‘chức tư tế thừa tác hay phẩm trật’ khác nhau ‘về yếu tính chứ không chỉ về mức độ’ (Lumen Gentium, số 10). Trong chiều hướng này, chúng ta cũng cần nhấn mạnh, như trong sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, rằng ‘chức tư tế được phong hay thừa tác là để phục vụ cho chức tư tế do phép rửa’ [11]. Do đó, nếu không có chức tư tế chung, thì không thể có chức tư tế thừa tác hoặc chức tư tế thừa tác không có lý do gì để tồn tại. Hơn thế nữa, sự khác biệt về ‘yếu tính’ và về ‘mức độ’ không hàm ý rằng chức tư tế thừa tác thì cao trọng hơn chức tư tế chung. Vatican II khẳng định sự phân biệt giữa hai chức tư tế này thì đồng thời minh định rằng ‘trong giáo hội, không phải ai cũng đi cùng một lối, dù cho mọi người đều được kêu gọi thánh hóa bản thân và đều lãnh nhận đặc ân đức tin bình đẳng với nhau qua sự công chính của Thiên Chúa (x. 2Pr 1,1). Dù theo ý định của Chúa Kitô, một số người được cắt đặt làm thầy dạy, người phân phối các mầu nhiệm và chăn dắt những người khác, tuy nhiên vẫn còn có sự bình đẳng đích thực giữa mọi người về mặt giá trị và hoạt động chung của mọi tín hữu trong quá trình xây dựng Thân thể Chúa Kitô’ [12] Như vậy, cần phải hiểu như thế nào về tương quan giữa hai chức tư tế? Trước hết, cần nhớ lại rằng các linh mục (hoặc chính xác hơn, ‘niên trưởng’ hoặc ‘trưởng lão’) và giám mục (giáo hoàng cũng là giám mục) đều là tư tế trước hết và trên hết nhờ chức tư tế do phép rửa. Chức tư tế thừa tác không hủy bỏ chức tư tế do phép rửa của họ. Trái lại, đấy là phương cách mà họ thực thi chức tư tế do phép rửa của mình và làm cho chức tư tế này sinh hoa kết quả. Chức tư tế thừa tác, được trao ban qua bí tích truyền chức thánh, không thêm một sự trọn lành mới hay một chiều kích mới cho chức tư tế do phép rửa của họ, cứ như thể là chức tư tế do phép rửa còn thiếu một điều gì. Ngược lại với ngôn ngữ bình dân, bí tích truyền chức thánh không nâng người nhận lãnh bí tích ấy lên một ‘cấp bậc’ cao hơn, và cũng không ban cho họ (cho người nam, ít ra là trong truyền thống Công giáo La Mã và Chính Thống giáo) một sự ‘hiến thánh’ cao hơn sự hiến thánh đã được ban qua phép rửa. Theo thuật ngữ triết học, chức tư tế do phép rửa là cứu cánh, và chức tư tế thừa tác là phương tiện. Chức tư tế sau là công cụ để phục vụ cho chức tư tế trước. Với tư cách là phương tiện, chức tư tế thừa tác sẽ chấm dứt khi triều đại của Thiên Chúa được thể hiện viên mãn. Đấy chỉ là một công cụ không còn cần thiết khi thực tại mà nó phục vụ đã đạt đến mức trọn lành. Chắc chắn rằng công cụ này giúp linh mục / giám mục làm được những điều mà một giáo dân không thể làm được (ít ra là trong trường hợp bình thường, như lời Tertulianô), nhưng người linh mục cử hành thánh lễ không hề đem đến cho Thiên Chúa một cái gì tự bản chất là cao hơn, thánh thiện hơn, xứng đáng hơn về mặt thiêng liêng, so với một nam hay nữ giáo dân cùng ‘cử hành’ Thánh lễ với linh mục ấy. Do đó, sẽ không đúng nếu bảo rằng giáo dân phải phục vụ giáo sĩ (như người ta quen nói từ những thế kỷ đầu tiên cho đến thời gian gần đây, trong một nền Giáo hội học hình tháp) hoặc bảo rằng giáo sĩ phải phục vụ giáo dân (như đôi khi nghe được từ những người đề xuất một nền Giáo hội học dân chủ). Đúng ra, chúng ta phải nói rằng cả giáo dân lẫn giáo sĩ đều phục vụ, một cách bình đẳng, cho thực tại căn bản là chức tư tế do phép rửa. Như vậy, hệ quả là cả giáo dân lẫn giáo sĩ đều đủ tư cách để thực thi những việc phục vụ trong giáo hội, những việc không đòi hỏi bí tích truyền chức thánh (thực ra, rất ít nhiệm vụ quan trọng trong việc quản lý Giáo hội đòi hỏi dứt khoát phải có chức thánh). Nam giáo dân và đặc biệt là nữ giáo dân (bởi lẽ, như đã nói trên, người nữ nổi bật vì sự vắng bóng của họ trong Giáo hội từ những thế kỷ đầu tiên) cần được tham gia vào những việc phục vụ và những trách nhiệm ấy ở mọi cấp bậc của giáo hội – giáo xứ, giáo phận, quốc gia, và tại Vatican. Chỉ có cách đó mới phá vỡ được nền văn hóa giáo sĩ với mạng lưới cổ lỗ sĩ, với những luật lệ kín mật và thái độ khinh thường giáo dân. Chỉ có cách đó thì giáo sĩ mới học cách cư xử với giáo dân với lòng tôn trọng và tinh thần trách nhiệm. Chỉ có cách đó mới biến giáo dân thành những người tham gia tích cực vào tiến trình đề ra quyết định của Giáo hội. Chỉ có cách đó mới cải cách và canh tân Giáo hội trong thời đại nhũng nhiễu này. Chỉ có cách đó mới tái khám phá được gương mặt đích thực của Chúa Giêsu● Chú thích: [9] On the Veiling of Virgins, 9.1. [10] Didascalia Apostolorum, 36, 2.3. [11] Catechism of the Catholic Church (Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo) số 1120. [12] Lumen Gentium, số 32. Thêm phần nhấn mạnh.
Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA THÁNG 2 NĂM 2005
TẾT NGUYÊN ĐÁN
Tết nguyên đán có từ bao giờ?*
Nguồn gốc Tết Nguyên Đán, hay nói ngắn hơn là Tết có từ đời Ngũ Đế, Tam Vương. Đời Tam Vương, nhà Hạ, chuộng màu đen, nên chọn tháng đầu năm, tức tháng Giêng, nhằm tháng Dần. Nhà Thương, thích màu trắng, lấy tháng Sửu (con trâu), tháng chạp làm tháng đầu năm. Qua nhà Chu (1050-256 trước công nguyên), ưa sắc đỏ, chọn tháng Tý (con chuột), tháng mười một làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên, theo ngày giờ, lúc mới tạo thiên lập địa: nghĩa là giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người mà đặt ra ngày tết khác nhau.
Đến đời
Đông Chu, Khổng Phu Tử ra đời, đổi ngày tết vào một tháng nhất
định: tháng Dần. Cho đến khi nhà Hán trị vì, Hán Vũ Đế (140 trước Công nguyên) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần (tức tháng Giêng) như đời nhà Hạ, và từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa. Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống Gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Lợn, ngày thứ tư sinh Dê, ngày thứ năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ bảy sinh loại Người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc. Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng Một cho đến hết ngày mồng bảy.
Ngày Tết có những phong tục gì? Dân tộc ta có nhiều ngày Tết. Tết là cách nói tắt hai chữ lễ tiết. Có Tiết Thương Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên, Thanh Minh, Đoan Ngọ, TrungThu... Ngày tết nêu ở đây tức là nói tắt Lễ tiết Nguyên Đán (ngày đầu năm). Ngày Tết, dân tộc ta có nhiều phong tục hay, đáng được gọi là thuần phong như khai bút, khai canh, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ... Từ trẻ đến già ai ai cũng biết, không nhắc thì thanh thiếu niên cũng mua cho được cành hoa bánh pháo, nghèo cũng có chiếc bánh chưng, chai rượu. Vì vậy xin miễn liệt kê dài dòng, để trao đổi một vài phong tục đáng được duy trì phát triển.
Tống Cựu Nghênh
Tân:
cuối năm quét dọn sạch sẽ nhà cửa, sân ngõ, vứt bỏ những thứ
rác rưởi, cùng làng xóm dọn dẹp nhà thờ, đình chùa, đường sá
phong quang, tắm giặt, cắt tóc, may sắm quần áo mới, trang trí
bàn thờ, lau chùi bàn ghế ấm chén và mọi thứ thức ăn vật dụng. Đối với bà con xóm giềng dù trong năm cũ có điều gì không hay không phải, điều nặng tiếng nhẹ hay xích mích gì đều xúy xoá hết. Dầu có thực lòng hay không nhưng không để bụng, cũng không ai nói khích bác hoặc bóng gió, ác ý gì trong những ngày đầu năm. Dẫu mới gặp nhau ít phút trước, nhưng sau phút giao thừa coi như mới gặp, người ta chúc nhau những điều tốt lành. Hái Lộc - Xông Nhà - Chúc Tết - Mừng Tuổi: ai cũng hy vọng một năm mới tài lộc dồi dào, làm ăn thịnh vượng, mạnh khỏe tiến bộ, thành đạt hơn năm cũ. Lộc tự nhiên đến, đi hai lộc (chỉ là một cành non ở đình chùa, ở chốn tôn nghiêm mang về nhà), tự mình xông nhà hoặc dặn trước người "Nhẹ vía" mà mình thích đến xông nhà. Bạn nào vinh dự được người khác mời đến xông thì nên chú ý, chớ có sai hẹn sẽ xúi quẩy cả năm đối với gia đình người ta và cả đối với bạn. ở thành thị thời trước, sáng mồng một, có một số người nghèo gánh một gánh nước đến các gia đình giầu có lân cận và chúc họ "Lộc phước dồi dào". Những người này được thưởng tiền rất hậu. Nhiều người không tin tục xông nhà nhưng cũng phải dè dặt, chưa dám đến nhà ai sớm, sợ trong năm mới gia đình người ta xảy ra chuyện gì không hay đổ tại mình "Nặng vía". Chính vì vậy, đáng lẽ sáng mồng một đông vui lại hoá ít khách, trừ những nhà đã tự xông nhà, vì tục xông nhà chỉ tính người đầu tiên đến nhà, từ người thứ hai trở đi không tính. Sau giao thừa có tục mừng tuổi chúc Tết. Trước hết con cháu mừng tuổi ông bà, cha mẹ. Ông bà cha mẹ cùng chuẩn bị một ít tiền để mừng tuổi cho con cháu trong nhà và con cháu hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thích. Lời chúc có ca có kệ hẳn hoi nhưng xem người ta thích nhất điều gì thì chúc điều đó, chúc sức khoẻ là phổ biến nhất. Chú ý tránh phạm tên huý gia tiên, tránh nhắc tới lỗi lầm sai phạm cũ, xưng hô hợp với lứa tuổi và quan hệ thân thuộc. Chúc Tết nhưng người trong năm cũ gặp rủi ro tai hoạ thì động viên nhau "Của đi thay người", "Tai qua nạn khỏi", nghĩa là ngay trong cái hoạ cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành. Kể cả đối với người phạm tội vẫn với thái độ nhẹ nhàng, khoan dung. Nhưng, nhìn chung trong những ngày đầu năm, người ta kiêng không nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa. Quanh năm làm ăn vất vả, ít có điều kiện qua lại thăm hỏi nhau, nhân ngày Tết đến chúc mừng nhau, gắn bó tình cảm thật là đặm đà ý vị; hoặc điếu thuốc miếng trầu, hoặc chén trà ly rượu, chẳng tốn kém là bao. Hiềm một nỗi, nhiều người còn quá câu nệ, công thức ruờm rà, không chủ động được kế hoạch. Nhiều vùng nông thôn, hễ đến chúc Tết nhau nhất thiết phải nâng ly rượu, nếm vài món thức ăn gì đó chủ mời vui lòng, năm mới từ chối sợ bị giông cả năm. Quà Tết - Lễ Tết: Bình thường qua lại hỏi thăm nhau có khi cũng có quà, biểu lộ mối ân tình, nhưng phong tục ta đi lễ Tết vẫn có ý nghĩa hơn, nhất là đi trước Tết càng quý. Loại trừ động cơ hối lộ quan trên để cầu danh cầu lợi thì việc biếu quà Tết, tổ ân nghĩa tình cảm là điều đáng quý. Học trò tết thầy giáo, bệnh nhân tết thầy thuốc, con rể tết bố mẹ vợ... quà biếu, quà Tết đó không đánh giá theo giá thị trường. Nhưng cũng đừng nên gò bó, câu nệ sẽ hạn chế tình cảm: Không có quà, ngại không dám đến. Dân tộc ta tuy nghèo nhưng vẫn trọng nghĩa tình, "Lời chào cao hơn mâm cỗ". Lễ Mừng Thọ: ở các nước Tây Âu thường mừng thọ vào dịp kỷ niệm ngày sinh, ở ta ngày xưa ít ai nhớ chính xác ngày sinh tháng đẻ nên vào dịp đầu xuân thường tổ chức mừng thọ lục tuần, thấp tuần, cửu tuần... tính theo tuổi mụ. Ngày Tết ngày Xuân cũng là dịp mọi người đang rảnh rỗi, con cháu tụ tập đông vui. Cũng vào dịp đầu xuân, người có chức tước khai ẩn, học trò sĩ phu khai bút, nhà nông khai canh, thợ thủ công khai công, người buôn bán mở hàng lấy ngày: Sĩ, Nông, Công, thương "Tứ dân bách nghệ" của dân tộc ta vốn cần cù, ai cũng muốn năm mới vận hội hành thôn làm ăn suôn sẻ, đầu xuân chọn ngày tốt đẹp, bắt tay lao động sớm, tránh tình trạng cờ bạc, rượu chè, hội hè đình đám, vui chơi quá đà. Sau ngày mồng một, dù có mãi vui tết, hoặc còn kế hoạch du xuân, đón khách, cũng chọn ngày "Khai nghề", "Làm lấy ngày". Nếu như mồng một là ngày tốt thì chiều mồng một đã bắt đầu. Riêng khai bút thì giao thừa xong, chọn giờ hoàng đạo bắt đầu không kể mồng một là ngày tốt hay xấu. Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu năm thì cũng tự làm cho gia đình mình một sản phẩm, dụng vụ gì đó (nguyên vật liệu đã chuẩn bị sẵn). Người buôn bán, vì ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người đi chợ phần lớn là đi chơi xuân. Cờ Bạc: Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp tết, nhất là tối 28, 29; gia đình quây quần bên nồi bánh chưng thì ông bố cho phép vui chơi, có cả trẻ con người lớn những nhà hàng xóm, những gia đình thân cận cùng vui. Tam cúc, cơ gánh, cờ nhảy, cờ tướng, kiệu, chắn, tổ tôm... ai thích trò nào chơi trò ấy. Đế lế khai hạ, tiễn đưa gia tiên, coi như hết Tết thì xé bộ tam cúc, thu bàn cờ tướng, cất bộ tổ tôm hoặc đốt luôn khi hoá vàng. Tóm lại, ngày Tết là ngày tiêu biểu cho truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Giá như phát huy thuần phong mỹ tục đó, từ gia đình ra xã hội, ai ai cũng đối xử với nhau trên thuận dưới hoà, kính giá yêu trẻ... thì đất nước quê hương sẽ tươi đẹp, giàu mạnh, bộ máy pháp luật bớt đi bao nhiêu khó khăn!● Trích website http://e-cadao.com/phongtuc Câu đỐi TẾt: A - Mừng Xuân: Bánh Thánh, Bánh Tình Yêu. Vui Tết: Đời Người, Đời Phục Vụ. B - Ngày Tết đến, hy vọng ở tương lai, cầu chúc tránh xa lỗi lầm trong quá khứ! Mùa Chay về, ăn năn cho dĩ vãng, mong sao đón nhận ơn Chúa chính hôm nay!
LỜI CHÚC TẾT CỦA GIÁO HỘI VIỆT NAM. Duy Quang Bạn hãy tưởng tượng gương mặt của một người, khi nghe ai đó chúc mình trong ngày đầu năm: “Chúc anh, chị một năm nghèo, đói, khóc, bị người ta ghét, khai trừ và xóa tên”. Phải là một người không bình thường tí nào mới cho rằng người chúc mình như thế là một người đầy thiện tâm, chỉ mong sao mình được một năm tràn đầy hạnh phúc. Thế nhưng, đấy chính là nội dung của bài Phúc Âm mà Giáo Hội Việt Nam chọn để đọc trong thánh lễ Mồng Một Tết. Trong Phúc Âm thánh Matthêu (Mt 5,1tt), cùng một nội dung này, Chúa Giêsu phán: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”. Câu nói này có vẻ như là một lời cầu chúc cho người ta có ‘tâm hồn’ nghèo. Nhưng trong bài Phúc Âm trong thánh lễ đầu năm, thánh Luca ghi lại rõ ràng: “Phúc cho anh em là những người nghèo khó... Phúc cho anh em là những kẻ đói... khóc... bị người ta ghét, khai trừ, xóa tên” (Lc 6, 20-26) Lời nói này hầu như không còn là một lời chúc nữa mà là một nhận định. Cứ như thể Chúa bảo rằng: “Anh em thật hạnh phúc, bởi vì anh em nghèo, đói, khóc...” Theo não trạng thông thường thì nhận định này quả là khác thường. Làm thế nào nghèo lại là hạnh phúc? Cứ nhìn vào thế giới, vào xã hội, và thậm chí vào gia đình, thì ai cũng thấy rằng đồng tiền có sức mạnh đến thế nào. Dường như mọi người đều công nhận rằng ‘tình’ và ‘tiền’ là hai yếu tố đem lại hạnh phúc. Thiếu tình thì còn có thể chấp nhận được, chứ còn thiếu ‘tiền’ thì chắc chắn không còn hạnh phúc. Và điều này khó lòng mà phủ nhận. Nếu chấp nhận ‘nghèo’ là có phúc thì thế giới làm gì phải nhọc công ‘xóa đói giảm nghèo’? Thế thì Chúa muốn nói gì? Chắc chắn lời Ngài nói không phải là một lời nói đùa. Thánh Phaolô từng viết: “Nếu Đức Kitô không sống lại, thì đức tin anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em.” Chuyện sống lại của Chúa Giêsu thì dính dấp gì đến hạnh phúc của người nghèo. Vì sao Giáo Hội lại đặt hai bài này cạnh nhau trong thánh lễ mừng Xuân? Và đây có thể là một trong các lời giải đáp: Ngày nào Kitô hữu chưa sống lại trong Đức Kitô, thì ngày ấy cái nghèo vẫn là một điều khốn, và cái giàu vẫn là một điều phúc. Và nếu bạn vẫn còn đánh giá, hơn thế nữa, nếu bạn còn nghĩ họa và phúc theo kiểu ấy, thì có nghĩa là bạn chưa sống lại với Chúa Kitô.... và, như lời thánh Phaolô, ‘chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người’. Đáng thương vì không có được hạnh phúc theo Tin Mừng mà cũng chẳng có thể đạt được hạnh phúc của trần gian, bởi vì một người giàu tiền bạc như Bill Gates, cũng rất nghèo về thì giờ: Ông không có lấy một giây trong ngày để hưởng hạnh phúc do bạc tiền đem đến. Nhưng người nghèo dưới mắt Chúa Giêsu có nghĩa là gì? Chắc chắn không chỉ là nghèo tiền. Kinh nghiệm cho ta thấy rằng không thiếu gì những người nghèo tiền mà lại giàu những thứ khác: giàu ham muốn, giàu tự ái, giàu ganh tị, và không phải cái nghèo kia làm họ khổ, nhưng chính cái ham muốn, cái tự ái, cái ganh tị, nghĩa là cái giàu của họ đã làm họ khổ. Người khó nghèo thật sự là người không có một cái gì là ‘của mình’: không có một tư tưởng ‘của mình’, một ý muốn ‘của mình’, một tình cảm ‘của mình’. Người nghèo khó là một người hoàn toàn lệ thuộc vào một ai khác. Một Kitô hữu nghèo là người hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa Kitô. Và quả thật, khi một con người đã chết đi và sống lại trong Chúa Kitô, đã hoàn toàn lệ thuộc Ngài, đã trở nên thực sự nghèo, thì người ấy thấy rõ ràng lời Chúa hôm nay là một sự thực hiển nhiên đến sững sờ. Có thể bạn bảo: ‘Lại nói chuyện lý thuyết.’ Và bạn có lý. Lời Chúa hẳn là một lý thuyết suông nếu chúng ta không sống lời ấy trong bản thân mình, nghĩa là ta không chịu chết đi và sống lại với Ngài. Để dễ bề quan niệm cái phúc của người nghèo theo Phúc âm, ta hãy cùng nhau đọc lại chuyện này: - Một người giàu đi tìm hạnh phúc mãi nhưng không thấy. Một hôm nằm mơ thấy thiên thần bảo ông đến trước nhà thờ, ông sẽ gặp được một người hạnh phúc. Sáng hôm sau, bán tín bán nghi, ông cũng đến trước nhà thờ, nhưng không thấy ai cả ngoại trừ một người vô gia cư ngồi ở hiên nhà thờ. Ông hờ hững nói câu chào đầu môi: ‘Chúc một ngày tốt lành’ (Bon-jour)! Ông rất ngạc nhiên, khi người kia trả lời: “Ngày nào của tôi cũng tốt lành cả. Nếu mưa, tôi có được hạt mưa, nếu nắng tôi có được ánh nắng, nếu lạnh tôi cảm nhận cái lạnh, nếu nóng tôi vui hưởng cái nóng... lúc nào tôi cũng hạnh phúc!..” Phúc cho anh em là những người nghèo!●
Gửi anh chị em của tôi hiện sống trên các nước nghèo. Nữ Tu Joyce Rupp
Câu đỐi TẾt: Lm. Khuất Dũng, SSS Thánh Thể Trường Sinh Nguồn Sức Sống - Tâm Xuân Phúc Lộc Mạch Hồng Ân.
Tâm tình tạ ơn và phó thác trong cuộc sống. R. Veritas Một nhà tư tưởng người Đức sống vào thế kỷ thứ 14 được tôn làm bậc tôn sự đưa ra khuôn vàng thước ngọc như sau: - Người quan trọng nhất trong lúc này là người đối diện với ta. - Giờ phút quan trọng nhất đối với ta lúc này là giờ phút hiện tại. - Công việc quan trọng nhất là công việc bác ái yêu thương. Chỉ chú ý vào người đối dịện, vào giờ phút hiện tại vào công việc ta đang làm. Đó là bí quyết sống hạnh phúc. Người Nga cũng có một châm ngôn tương tự: - Chỗ quan trọng nhất là chỗ bạn đang đứng này đây. - Con người quan trọng nhất là con nguời đang đứng trước mặt bạn và đang cần bạn. Đầu năm mới, có lẽ ai trong chúng ta cũng có một quyết tâm. Có người quyết tâm bỏ thuốc lá. Có người quyết tâm bỏ uống rượu. Có người quyết tâm dành thêm tiền bạc để đi buôn, để xây nhà, v.v... Có người quyết tâm hăng hái học hành để chuẩn bị cho một tương lai sáng lạng. Có quyết tâm và có quyết tâm, nhưng lắm khi sức người có hạn, chúng ta lại bỏ cuộc giữa đàng, đâu lại vào đó, con sâu của chán nản, của thất vọng lúc nào cũng chực sẵn để gậm nhấm tâm hồn chúng ta - Hãy sống giây phút hiện tại với tất cả tâm tình lạc quan và phó thác. Đó phải là quyết tâm mà chúng ta có thể làm tức khắc trong giây phút này. - Hãy hưởng nếm những niềm vui nhỏ trong cuộc sống như ân tình diệu vợi của Chúa. - Hãy trao vào tay Ngài mọi sầu muộn lắng lo. Chúng ta hãy để cho mọi lo âu lắng đọng xuống. Chúng ta hãy chấm dứt mọi bài ca than vãn của thất vọng để chỉ còn lại một tâm tình duy nhất xứng hợp với người có lòng tin: Đó là tâm tình phó thác và tri ân. - Tạ ơn Chúa đã ban cho ta chào đón năm mới. - Tạ ơn Chúa đã luôn có mặt trong cuộc sống của chúng ta để dẫn dắt chúng ta trong từng phút giây của cuộc sống. - Tạ ơn Chúa đã giữ vững chúng ta trong niềm tin vào Tình Yêu của Ngài. - Tạ ơn Chúa cho riêng chúng ta. Tạ ơn Chúa cho tất cả mọi người. - Tạ ơn Chúa chúng ta cũng không quên tạ ơn người: - Tạ ơn ông bà tổ tiên đã cho chúng ta được sinh ra làm người Việt Nam. Tạ ơn cha mẹ đã sinh ra và giáo dục chúng ta nên người. Tạ ơn những người thân thương ruột thịt đã đùm bọc chúng ta. Tạ ơn những người bạn tốt đã nâng đỡ chúng ta bằng muôn nghìn cách thể hiện của tình yêu. Tạ ơn những người vô danh mà sự hiện diện và âm thầm đồng hành đã giúp chúng ta được sống như con người. Tạ ơn tất cả những người khốn khổ kém may mắn hơn chúng ta: Nhờ đó tiếng gọi sống yêu thương huynh đệ liên đới còn vang vọng trong tâm hồn chúng ta. Tạ ơn nhiều người mà chúng ta thù ghét. Tạ ơn những người thù ghét chúng ta. Tạ ơn tất cả bởi vì cách này hay cách khác họ vẫn luôn luôn là tiếng gọi để chúng ta sống tinh thần Kitô hữu nhiều hơn. Với tất cả tâm tình tạ ơn. Chúng ta hãy dâng lên Chúa một năm mới. Xin dâng lên Ngài tất cả niềm cảm mến tri ân của chúng ta●
1. Maranatha do một số tín hữu âm thầm phục vụ và ước mong duy nhất là được đón nhận, hướng dẫn, nâng đỡ để cùng đồng hành, chia sẻ với Giáo Hội Mẹ và sống ơn gọi làm con cái Chúa ở chính trong môi trường và cuộc sống của mình. Chính vì ước ao đuợc sống cho lời chứng chỉ tùy thuộc vào Chúa và lòng thương mến của các thành phần trong Giáo Hội cùng các cộng tác viên, độc giả, Maranatha hoàn toàn độc lập đối với bất cứ cơ quan truyền thông hoặc tờ báo, đoàn thể, phong trào nào và cũng không nhận bất cứ trợ giúp tài chánh từ đâu cũng như không đòi hỏi độc giả phải đóng góp tiền bạc gì. 2. Chính vì Maranatha với tâm tình thao thức, tinh thần tự nguyện, và không có một nâng đỡ hoặc nguồn thu nhập nào từ bất cứ nơi đâu, nghĩa là họ phải ưu tiên hoàn tất bổn phận nghề nghiệp trong xã hội; thêm vào đó, họ còn bận rộn với các sinh hoạt mục vụ riêng biệt trong cộng đồng, cộng đoàn địa phương. Vì lòng tôn trọng độc giả và chuẩn bị để cống hiến cho độc giả những bài viết có chất lượng, điều này đòi hỏi họ phải dành cho Maranatha một số thì giờ nhất định trong tuần. Tuy nhiên có những tuần mà đòi hỏi nghiệp vụ, xã hội và mục vụ rất căng thẳng, do đó họ không còn thì giờ để thực hiện một số Maranatha. 3. Hơn nữa, Maranatha trân trọng từng số báo và mong gửi đến độc giả những tư liệu đáng để cho quý vị bỏ thì giờ đọc, nên có những tuần mà Maranatha rất tiếc phải vắng mặt, bởi lẽ anh chị em có trách nhiệm chưa tìm đủ số bài có chất lượng để gửi đến quý vị. Vì thế, xin trả lời với Quý độc giả rằng: Maranatha chẳng có gì trục trặc, không hề tạm ngưng hoặc vì thiếu thốn tài chánh và cũng chẳng bị ảnh hưởng, cản trở bởi một vấn đề gì. Lý do là Maranatha số 35 không ra trong hai tuần vừa qua mà được dời về tuần này, chỉ đơn giản vậy thôi. Nhân sự là lý do chậm bước của Maranatha. Khi không thấy Maranatha đến đúng hẹn hàng tuần, xin độc giả thông cảm và hiểu cho rằng tuần ấy sẽ không có Maranatha, và số kế tiếp sẽ được phát hành sau đó. Một lần nữa, xin chân thành cám ơn quý độc giả và ước mong được thông cảm cho những khó khăn ngoài ý muốn của nhóm thực hiện. Xin quý độc giả, cộng tác viên tiếp tục đón nhận, nâng đỡ, giới thiệu cho thân hữu, đóng góp ý kiến để tuần báo ngày càng thăng tiến hầu phục vụ cộng đồng dân Chúa cách hữu hiệu hơn trong hiệp thông và yêu mến●
Trong hai tuần qua, Maranatha đã nhận được điện thư chúc mừng Năm Mới Ất Dậu, xin nhận báo, đổi địa chỉ email, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:
Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha. Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. Trân trọng, MARANATHA
Trang Nhà (website) http://www.maranatha-vietnam.net Thư từ, ý kiến, xin gửi về maranatha@saintly.com Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về Chân thành cám ơn
|