TẾT NGUYÊN ĐÁN
Tết
Nguyên Đán
có từ bao giờ?*
Nguồn gốc
Tết Nguyên Đán, hay nói ngắn hơn là Tết có từ đời Ngũ Đế, Tam
Vương.
Đời Tam Vương, nhà Hạ, chuộng màu đen, nên chọn tháng đầu năm,
tức tháng Giêng, nhằm tháng Dần. Nhà Thương, thích màu trắng,
lấy tháng Sửu (con trâu), tháng chạp làm tháng đầu năm.
Qua nhà Chu (1050-256 trước công nguyên), ưa sắc đỏ, chọn
tháng Tý (con chuột), tháng mười một làm tháng Tết.
Các vua
chúa nói trên, theo ngày giờ, lúc mới tạo thiên lập địa: nghĩa
là giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài
người mà đặt ra ngày tết khác nhau.
Đến đời
Đông Chu, Khổng Phu Tử ra đời, đổi ngày tết vào một tháng nhất
định: tháng Dần.
Mãi đến đời Tần (thế kỷ III trước Công nguyên), Tần Thủy Hoàng
lại đổi qua tháng Hợi (con lợn), tức tháng Mười.
Cho đến khi
nhà Hán trị vì, Hán Vũ Đế (140 trước Công nguyên) lại đặt ngày
Tết vào tháng Dần (tức tháng Giêng) như đời nhà Hạ, và từ đó
về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào
thay đổi về tháng Tết nữa.
Đến đời
Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm
giống Gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Lợn, ngày
thứ tư sinh Dê, ngày thứ năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh
Ngựa, ngày thứ bảy sinh loại Người và ngày thứ tám mới sinh ra
ngũ cốc.
Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng Một cho đến hết
ngày mồng bảy.
* (Trích bài "Tết Nguyên
Đán" của Nguyễn Đình Khang)
Ngày Tết có
những phong tục gì?
Dân tộc ta có
nhiều ngày Tết. Tết là cách nói tắt hai chữ lễ tiết. Có Tiết
Thương Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên, Thanh Minh, Đoan Ngọ,
TrungThu... Ngày tết nêu ở đây tức là nói tắt Lễ tiết Nguyên
Đán (ngày đầu năm).
Ngày Tết, dân tộc
ta có nhiều phong tục hay, đáng được gọi là thuần phong như
khai bút, khai canh, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ...
Từ trẻ đến già ai ai cũng biết, không nhắc thì thanh thiếu
niên cũng mua cho được cành hoa bánh pháo, nghèo cũng có chiếc
bánh chưng, chai rượu. Vì vậy xin miễn liệt kê dài dòng, để
trao đổi một vài phong tục đáng được duy trì phát triển.
Tống Cựu Nghênh
Tân:
cuối năm quét dọn sạch sẽ nhà cửa, sân ngõ, vứt bỏ những thứ
rác rưởi, cùng làng xóm dọn dẹp nhà thờ, đình chùa, đường sá
phong quang, tắm giặt, cắt tóc, may sắm quần áo mới, trang trí
bàn thờ, lau chùi bàn ghế ấm chén và mọi thứ thức ăn vật dụng.
Nhiều gia đình nhắc nhở, dặn dò con cháu từ phút giao thừa trở
đi không quấy khóc, không nghịch ngợm, cãi cọ nhau, không nói
tục chửi bậy, không vứt rác viết vẽ bừa bãi. Cha mẹ, anh chị
cũng không quở mắng, tra phạt con em, đối với ai cũng tay bắt
mặt mừng, vui vẻ niềm nở dầu lạ dầu quen.
Đối với bà con xóm giềng dù trong
năm cũ có điều gì không hay không phải, điều nặng tiếng nhẹ
hay xích mích gì đều xúy xoá hết. Dầu có thực lòng hay không
nhưng không để bụng, cũng không ai nói khích bác hoặc bóng
gió, ác ý gì trong những ngày đầu năm. Dẫu mới gặp nhau ít
phút trước, nhưng sau phút giao thừa coi như mới gặp, người ta
chúc nhau những điều tốt lành.
Hái Lộc - Xông Nhà
- Chúc Tết - Mừng Tuổi:
ai cũng hy vọng một năm mới tài lộc dồi dào, làm ăn thịnh
vượng, mạnh khỏe tiến bộ, thành đạt hơn năm cũ. Lộc tự nhiên
đến, đi hai lộc (chỉ là một cành non ở đình chùa, ở chốn tôn
nghiêm mang về nhà), tự mình xông nhà hoặc dặn trước người
"Nhẹ vía" mà mình thích đến xông nhà. Bạn nào vinh dự được
người khác mời đến xông thì nên chú ý, chớ có sai hẹn sẽ xúi
quẩy cả năm đối với gia đình người ta và cả đối với bạn. ở
thành thị thời trước, sáng mồng một, có một số người nghèo
gánh một gánh nước đến các gia đình giầu có lân cận và chúc họ
"Lộc phước dồi dào". Những người này được thưởng tiền rất hậu.
Nhiều người không tin tục xông nhà nhưng cũng phải dè dặt,
chưa dám đến nhà ai sớm, sợ trong năm mới gia đình người ta
xảy ra chuyện gì không hay đổ tại mình "Nặng vía". Chính vì
vậy, đáng lẽ sáng mồng một đông vui lại hoá ít khách, trừ
những nhà đã tự xông nhà, vì tục xông nhà chỉ tính người đầu
tiên đến nhà, từ người thứ hai trở đi không tính.
Sau giao
thừa có tục mừng tuổi chúc Tết. Trước hết con cháu mừng tuổi
ông bà, cha mẹ. Ông bà cha mẹ cùng chuẩn bị một ít tiền để
mừng tuổi cho con cháu trong nhà và con cháu hàng xóm láng
giềng, bạn bè thân thích. Lời chúc có ca có kệ hẳn hoi nhưng
xem người ta thích nhất điều gì thì chúc điều đó, chúc sức
khoẻ là phổ biến nhất. Chú ý tránh phạm tên huý gia tiên,
tránh nhắc tới lỗi lầm sai phạm cũ, xưng hô hợp với lứa tuổi
và quan hệ thân thuộc. Chúc Tết nhưng người trong năm cũ gặp
rủi ro tai hoạ thì động viên nhau "Của đi thay người", "Tai
qua nạn khỏi", nghĩa là ngay trong cái hoạ cũng tìm thấy cái
phúc, hướng về sự tốt lành. Kể cả đối với người phạm tội vẫn
với thái độ nhẹ nhàng, khoan dung. Nhưng, nhìn chung trong
những ngày đầu năm, người ta kiêng không nói tới điều rủi ro
hoặc xấu xa.
Quanh năm
làm ăn vất vả, ít có điều kiện qua lại thăm hỏi nhau, nhân
ngày Tết đến chúc mừng nhau, gắn bó tình cảm thật là đặm đà ý
vị; hoặc điếu thuốc miếng trầu, hoặc chén trà ly rượu, chẳng
tốn kém là bao. Hiềm một nỗi, nhiều người còn quá câu nệ, công
thức ruờm rà, không chủ động được kế hoạch. Nhiều vùng nông
thôn, hễ đến chúc Tết nhau nhất thiết phải nâng ly rượu, nếm
vài món thức ăn gì đó chủ mời vui lòng, năm mới từ chối sợ bị
giông cả năm.
Quà Tết - Lễ Tết:
Bình thường qua lại hỏi thăm nhau có khi cũng có quà, biểu lộ
mối ân tình, nhưng phong tục ta đi lễ Tết vẫn có ý nghĩa hơn,
nhất là đi trước Tết càng quý. Loại trừ động cơ hối lộ quan
trên để cầu danh cầu lợi thì việc biếu quà Tết, tổ ân nghĩa
tình cảm là điều đáng quý. Học trò tết thầy giáo, bệnh nhân
tết thầy thuốc, con rể tết bố mẹ vợ... quà biếu, quà Tết đó
không đánh giá theo giá thị trường. Nhưng cũng đừng nên gò bó,
câu nệ sẽ hạn chế tình cảm: Không có quà, ngại không dám đến.
Dân tộc ta tuy nghèo nhưng vẫn trọng nghĩa tình, "Lời chào cao
hơn mâm cỗ".
Lễ Mừng Thọ:
ở các nước Tây Âu thường mừng thọ vào dịp kỷ niệm ngày sinh, ở
ta ngày xưa ít ai nhớ chính xác ngày sinh tháng đẻ nên vào dịp
đầu xuân thường tổ chức mừng thọ lục tuần, thấp tuần, cửu
tuần... tính theo tuổi mụ. Ngày Tết ngày Xuân cũng là dịp mọi
người đang rảnh rỗi, con cháu tụ tập đông vui.
Cũng vào
dịp đầu xuân, người có chức tước khai ẩn, học trò sĩ phu khai
bút, nhà nông khai canh, thợ thủ công khai công, người buôn
bán mở hàng lấy ngày: Sĩ, Nông, Công, thương "Tứ dân bách
nghệ" của dân tộc ta vốn cần cù, ai cũng muốn năm mới vận hội
hành thôn làm ăn suôn sẻ, đầu xuân chọn ngày tốt đẹp, bắt tay
lao động sớm, tránh tình trạng cờ bạc, rượu chè, hội hè đình
đám, vui chơi quá đà. Sau ngày mồng một, dù có mãi vui tết,
hoặc còn kế hoạch du xuân, đón khách, cũng chọn ngày "Khai
nghề", "Làm lấy ngày". Nếu như mồng một là ngày tốt thì chiều
mồng một đã bắt đầu. Riêng khai bút thì giao thừa xong, chọn
giờ hoàng đạo bắt đầu không kể mồng một là ngày tốt hay xấu.
Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu năm thì cũng tự
làm cho gia đình mình một sản phẩm, dụng vụ gì đó (nguyên vật
liệu đã chuẩn bị sẵn). Người buôn bán, vì ai cũng chọn ngày
tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán
lấy lệ, người đi chợ phần lớn là đi chơi xuân.
Cờ Bạc:
Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu
không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp tết, nhất là tối
28, 29; gia đình quây quần bên nồi bánh chưng thì ông bố cho
phép vui chơi, có cả trẻ con người lớn những nhà hàng xóm,
những gia đình thân cận cùng vui. Tam cúc, cơ gánh, cờ nhảy,
cờ tướng, kiệu, chắn, tổ tôm... ai thích trò nào chơi trò ấy.
Đế lế khai hạ, tiễn đưa gia tiên, coi như hết Tết thì xé bộ
tam cúc, thu bàn cờ tướng, cất bộ tổ tôm hoặc đốt luôn khi hoá
vàng.
Tóm lại, ngày Tết là ngày tiêu biểu
cho truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Giá như phát huy
thuần phong mỹ tục đó, từ gia đình ra xã hội, ai ai cũng đối
xử với nhau trên thuận dưới hoà, kính giá yêu trẻ... thì đất
nước quê hương sẽ tươi đẹp, giàu mạnh, bộ máy pháp luật bớt đi
bao nhiêu khó khăn!●
Trích website
http://e-cadao.com/phongtuc
Câu đỐi TẾt:
A - Mừng Xuân: Bánh Thánh, Bánh Tình Yêu.
Vui Tết: Đời Người, Đời Phục Vụ.
B - Ngày Tết đến, hy vọng ở tương lai, cầu chúc tránh xa lỗi lầm
trong quá khứ!
Mùa Chay về, ăn năn cho dĩ vãng, mong sao đón nhận ơn Chúa
chính hôm nay!
Trở về Muc Lục