Số 37, Ngày 26-02-2005

MỤC LỤC

Thư Tòa Sọan

Còn Tin Chúa Hay Không?  - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Hai Thứ Tình Yêu – Hai Thứ Đạo Đức - Giao Duyên

Nghèo Tiền Bạc và Nghèo Tấm Lòng - Trần Duy Nhiên

Người Giáo Dân Trong Cộng Đồng Dân Chúa (tt)  - Nguyễn Đăng Trúc

Giả Như Tôi Là Một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo Xứ (tt) - Lm. Herchel H. Sheets)

Sức Mạnh của Cầu Nguyện - Hoàng Quý

Đại Hội Giáo Lý Los Angeles và Tân Tổng Giám Mục Hà Nội - Người Tham Dự

Nhớ Những Lần Gặp Gỡ với Tân T.G.M. Giuse Ngô Quang Kiệt - Kim Lệ

Tâm Sự với Cô Con Dâu Cứng Đầu LTCT - Khổng Nhuận

Hạt Cà Phê  - Maranatha dịch

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

Ngày thứ tư vừa qua, Đức Thánh Cha đã ngỏ lời với những khách hành hương qui tụ tại phòng Phaolô VI ở Vatican đển tiếp kiến ngài.

“Anh chị em rất thân mến,

Tôi ưu ái chào mừng anh chị em đang quy tụ trong phòng này để dự buổi gặp gỡ truyền thống ngày thứ tư. Tôi chân thành cám ơn sự hiện diện của anh chị em. Chúng ta đang đi trên hành trình Mùa Chay, cùng với sự trợ lực và thôi thúc của phụng vụ. Mùa Chay khuyên chúng ta dấn thân nhiều hơn vào cuộc sống cầu nguyện, ăn chay và đền tội, đồng thời liên kết chặt chẽ hơn với tha nhân, đặc biệt là người nghèo khó và thiếu thốn. Ta hãy mở lòng để lắng nghe những gợi ý của ân sủng từ nội tâm. Chớ gì lòng ích kỷ nhường bước cho tình yêu, hầu chúng ta có thể cảm nghiệm được niềm vui của việc tha thứ và hòa giải thân tình với Thiên Chúa và với anh chị em mình.”

Với lời nhắn nhủ ấy, Maranatha_37 tuần này dành những suy tư cho tình yêu tha nhân và sự chia sẻ, với tâm tình của những tín hữu tin vào Chúa, trong tinh thần suy tư và cầu nguyện.

Nhưng trong giữa mùa chay này, Giáo Hội Việt Nam nhận được hai tin vui: Tổng Giáo Phận  Huế có thêm một Giám Mục phụ tá, và Tổng Giáo Phận Hà Nội có một Tổng Giám Mục mới.

Bản tin Zenit ngày 20 tháng 02 đưa vắn tắt hai tin ấy như sau:

- Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã bổ nhiệm Giám Mục phụ tá giáo phận Huế, linh mục Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng, chính xứ và phụ trách cập nhật thần học cho linh mục giáo phận này. Ngài sẽ là Giám Mục hiệu tòa Gadiaufala.

- Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chấp thuận đơn từ nhiệm mục vụ giáo phận Hà nội của Đức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, 85 tuổi. Ngài đã gánh trách vụ này 10 năm lâu hơn tuổi dự kiến về hưu. Đức Giáo Hoàng đã bổ nhiệm kế vị ngài là Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt, hiện là Giám Mục giáo phận Lạng Sơn - Cao Bằng và giám quản tông tòa giáo phận Hà Nội trong thời gian qua.  Vi tân Tổng Giám Mục Hà Nội sinh năm 1953, tại thành phố Mỹ Sơn. Ngài được thụ phong linh mục năm 1991, và tấn phong giám mục năm 1999.

Mẫu tin mờ nhạt này được đăng tải trong bản tin cùng với các tin của Giáo Hội hoàn vũ, lại là một niềm vui đậm nét cho người Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới. Một vị giám mục trẻ tuổi là Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt được nhiều người biết đến sẽ là Tổng Giám Mục Hà Nội thì tân Giám Mục phụ tá Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng năm nay 65 tuổi là một vị âm thầm hơn được sinh ra trong một gia đình nông dân tại làng Trí Bưu, xã Hải Trí, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị: một tỉnh lỵ nhỏ bé nghèo nàn nhưng được Mẹ Lavang thương hiện đến. Trong số này, Maranatha dành hai bài viết giới thiệu vài nét về vị tân tổng giám mục Hà Nội trong khi chưa có nhiều thông tin về tân Giám Mục  phụ tá tổng giáo phận Huế.

Xin dâng lời ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa, xin hiệp lòng với biết bao lời cầu chúc và tạ ơn của thân nhân, bạn hữu của tân Giám Mục phụ tá Tổng Giáo Phận Huế và tân Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Hà Nội với lòng quý mến trân trọng và hiệp lòng tạ ơn Thiên Chúa, nguyện xin Chúa chúc lành cho hai đức cha, cho trọng trách mục tử của đoàn dân Chúa mà Chúa đã gọi hai đức cha đến để phục vụ, xin Thiên Chúa ban cho hai đức cha ân sủng và sức mạnh của chính Ngài, cùng với Đức Kitô là người bạn đồng hành với lời hứa: “Thầy sẽ ở cùng các anh mọi ngày...”

MARANATHA

 Trở về mục lục >>

 MÙA CHAY

CÒN TIN CHÚA HAY KHÔNG?

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Có lần, tôi được một linh mục chia sẻ: Một anh sinh viên gởi thư nêu thắc mắc bao gồm một nỗi khổ rất lớn, liên quan dữ dội đến đức tin. Anh sinh viên hỏi rằng, Thưa Cha, chỉ còn có ba tháng nữa, con sẽ tốt nghiệp đại học. Dù lúc này, ba con rất yếu, nhưng con cầu xin Chúa cho ba con được sống cho tới ngày con cầm mảnh bằng tốt nghiệp về khoe với ba: ‘Thưa ba, đây là bằng tốt nghiệp của con’. Cha có biết không, cái bằng tốt nghiệp đó, con đã phải chờ phải đợi biết là chừng nào. Ba con cũng thế, đêm ngày mong mỏi và chờ đợi để được nhìn thấy con tốt nghiệp đại học. Niềm hy vọng của ba con lớn lắm, cứ y như là khi con đậu đại học thì cũng chính ba con đậu đại học vậy. Đúng thôi cha ạ. Vì mảnh bằng tốt nghiệp, nếu con đạt được thì đâu chỉ của riêng con mà là của cả hai cha con cộng lại. Đó là công lao nuôi dưỡng của ba con hai mươi mấy năm trời và công lao học tập miệt mài của con bao nhiêu năm mới có nó. Nhưng Chúa không nghe lời con xin. Cách nay một tuần, Chúa đã cất ba con. Ba con chết mà không nhìn thấy kết quả do mình tạo ra, và ngày đêm mong mỏi. Sao Chúa lại làm như vậy? Sao vậy cha?”.

Và trong lá thư gởi theo địa chỉ mà anh sinh viên cho biết, vị linh mục trả lời: “Tôi cũng không biết nữa, không hiểu vì sao Thiên Chúa lại làm như vậy. Nhưng chắc Chúa có lý do của Người. Đọc thư bạn, tôi thông cảm với bạn, thông cảm nhiều lắm, vì tôi cũng đã từng gặp đau khổ tương tự như bạn. Tôi cầu nguyện cho bạn và dâng những đau khổ, dâng sự đồng cảm của hai chúng ta, để Chúa tìm cách bù cho bạn trong kết quả thi tốt nghiệp sắp tới. Điều tôi quan tâm hơn hết, đó là bạn còn tin Chúa nữa hay không?

“Còn tin Chúa nữa hay không?”. Tôi nghĩ rằng, lời hỏi đó không chỉ dành cho người sinh viên nào đó đang khủng hoảng đức tin, nhưng còn là một lời hỏi rất cần cho bạn và tôi. Có những lúc đau khổ tột cùng, những lúc tưởng như cuộc đời mình bế tắc…, chính những lúc như thế, chúng ta có còn tin Chúa nữa hay không?

Không biết có bi quan quá không, khi nói rằng, sống trong cuộc đời, mang thân phận loài người mong manh, hình như con người phải lo âu, chật vật, phải long đong chèo chống, suốt đời là một chuyến đi rong xuôi ngược, để cuối cùng buông xuôi đôi bàn tay nhuộm đầy sương gió bước ra khỏi cuộc đời. Còn nỗi sung sướng, và hưởng thụ trong hạnh phúc hoàn toàn, hình như chỉ là một khoảnh khắc bất chợt mà thôi. Có thể nói gọn, kiếp người lận đận là một thường lệ, và hạnh phúc mỹ mãn chỉ là một ngoại lệ.

Cảm nghiệm nỗi đau trong cuộc đời của nhiều anh chị em, rồi đọc lại quá khứ đã diễn ra mấy chục năm trong đời mình, đôi lúc tôi mất bình an, cảm thấy đức tin chao đảo. Thiên Chúa như xa vời, như tàn nhẫn và lạnh lùng quá đỗi trước nỗi đau của lòng người. Những lúc như thế, tôi phải đi tìm nguồn an ủi, tìm chốn nương thân, lui vào cõi thinh lặng của lòng mình, mong muốn được yên bình, thanh thản hơn. Nếu không, tự bản thân, tôi thấy rằng mình không thể sống nổi.

Lui vào cõi lòng, nguồn sống duy nhất có thể giúp mình giải quyết mọi ẩn khuất, cả đến đau đớn thê lương, chỉ có Thiên Chúa và Chúa Giêsu, con của Người mà thôi. Tôi đã mở Thánh Kinh. Đọc lại những trang Thánh Kinh ấy, mới khám phá ra rằng, nỗi bấp bênh của ta hiện nay, đâu phải của riêng ta. Chính Con Thiên Chúa làm người cũng không thoát khỏi, các tổ phụ, các tiên tri ngày xưa đã từng chung số phận. Các thánh tông đồ cũng từng nếm trải nỗi thương đau ô nhục.

Rất nhiều những con người đạo đức, thánh thiện, lẽ ra được tràn đầy hạnh phúc, thì ngược lại, số phận cứ mãi lênh đênh bạc bẽo, đau khổ tột cùng như ông Gióp, tiên tri Giona, Êlia, Giêrêmia, Tôbia, Isaia, Amốt… Đến vị tiên tri cuối cùng của Cựu ước là thánh Gioan Tẩy giả cũng đã từng hoang mang đến mức nghi ngờ: Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay chúng tôi phải chờ đợi ai khác?” (Mt 11, 3). Cuối đời, vì lẽ sống và sự thật, thánh Gioan cũng không đi ngoài con đường mà những người tiền nhiệm đã đi: nếm trải nỗi đau khổ, tù tội và cái chết bi ai (Mc 6, 17 –29)…

Trong số những gương mặt phải chịu đựng nhiều thử thách khắc nghiệt, ta không thể nào quên tổ phụ Abraham. Tổ phụ Abraham được Chúa kêu gọi: “Hãy bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi đến đất Ta sẽ chỉ cho (St 12, 1). Thế là ông ra đi. Lao mình vào vô định. Đi trong mịt mù. Đi trong tăm tối. Đi mà chẳng biết mình đi đâu, chỉ có một hành trang duy nhất là đức tin mà thôi. Suốt đời ông mơ ước một đứa con nối dõi tông đường, vậy mà chẳng có. Đến khi ông cả trăm tuổi, vợ ông cũng cao niên chẳng kém, Thiên Chúa mới hứa ban một đứa con. Một lời hứa như thế thật khó chấp nhận làm sao. Một lần nữa Abraham vẫn tin.

Đến khi đứa con trai duy nhất của ông, đứa con thừa tự, đứa con của lời hứa, đứa con ngọc, đứa con ngà đã lớn khôn, Thiên Chúa lại đòi ông đem nó đi sát tế cho Người. Có tội ác nào lớn cho bằng tội của một người cha giết con. Có còn lời dạy nào khủng khiếp cho bằng dạy một người cha giết chính đứa con là máu, là mủ, hơn nữa là cả cuộc sống của người cha già nua đã từng rút ruột mình sinh ra. Còn đâu là một Thiên Chúa yêu thương, một Thiên Chúa gần gũi với con người, hay chỉ là Thiên Chúa tàn nhẫn, say máu cho đến độ đòi một người cha phải thủ tiêu con của ông làm của lễ tế hiến cho mình. Đúng là một Thiên Chúa độc ác, không còn gì độc ác hơn.

Càng suy nghĩ như thế về hình ảnh của Thiên Chúa bao nhiêu, ta càng thấy đức tin của Abraham lớn bấy nhiêu. Cứ bắt đầu bằng tình cảm con người, ta suy diễn, sẽ thấy, chắc tâm hồn ông chao đảo lắm, lương tâm giày vò lắm, cuộc sống của ông mất bình an lắm. Có lẽ nước mắt đã tràn ngập, đã dàn dụa tâm hồn ông. Và có lẽ giọt nước mắt ấy rất âm thầm, vì ông không thể để lộ cho con mình biết. Làm sao dám cho con biết khi chính ông sẽ giết chết con! Mà tiếng khóc càng âm thầm, tiếng nấc càng nghẹn ứ, nước mắt càng chảy ngược vào hồn nhiều bao nhiêu, thì nỗi đau càng dằn xé, càng tê tái, càng buốt giá bấy nhiêu. Nhất là mỗi khi ông nhìn đôi bàn tay của mình. Ngày nào đôi tay ấy bồng ẵm con, nâng niu con, bây giờ cũng chính đôi tay ấy sẽ thủ tiêu con. Là cha, là mẹ như bao người cha, người mẹ khác, Abraham se thắt lòng mình. Nhưng Abraham đã vượt qua tất cả. Đức tin của ông lớn hơn tất cả. Chính đức tin dạy cho ông biết: Thiên Chúa vẫn yêu thương ông vô cùng. Người vẫn nhìn thấy ông. Người biết rõ lòng ông. Người có cách của Người để trù liệu cho ông những điều tốt đẹp nhất.

Vì tình yêu vô cùng mãnh liệt, vì tình yêu mến Thiên Chúa ngất trời cao, Abraham đã không mất  bất cứ điều gì, dù là nhỏ nhoi nhất. Còn hơn bất cứ một người nào trong nhân loại, qua muôn ngàn thế hệ, bằng miệng lưỡi của thiên thần, Thiên Chúa ca tụng ông: “Đừng giơ tay hại đứa trẻ, đừng làm gì nó! Bây giờ Ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa: đối với Ta, con của ngươi, con một của ngươi, ngươi cũng chẳng tiếc!… Đây là sấm ngôn của Đức Chúa, Ta lấy chính danh Ta mà thề: Bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển…” (St 22, 12. 16 –18).

Người ta nói: “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”. Và tôi thêm, đối với người có đạo, đau khổ trui rèn đức tin của họ. Với anh sinh viên, tôi tin rằng, nếu anh đọc và suy nghĩ Lời Chúa, suy nghĩ về cuộc đời của Chúa Kitô, về sự chết và sống lại của Người, chắc chắn anh sẽ vượt qua nỗi buồn mất cha, dù anh rất yêu cha. Tôi cũng tin y như thế về bạn và chính bản thân tôi. Nếu chúng ta để cho Lời Chúa thấm đẫm trong cuộc đời mình, thì có nỗi đau nào bạn và tôi không vượt qua!

Mỗi người đều có nỗi buồn: gia đình đang sum họp, bỗng dưng người vợ hay người chồng phản bội, rẽ sang hướng khác. Gia đình đang sung túc, bỗng dưng một người thân ra đi vĩnh viễn, mà người thân đó có khi là cột trụ của đời sống, của kinh tế gia đình. Gia đình đang bằng yên, hạnh phúc, bỗng nhiên một tai ương bất ngờ ập đến. Người thân phải tù tội, của cải bị trưng thu, mọi người trong gia đình chới với, hoang mang, con cai mất cả sự học hành, lối xóm chê cười, họ hàng ghét bỏ… Mất mát thật to, nỗi buồn càng lớn.

 Hay con đường tương lai của mình đang rộng mở, hay sự thành công đang ở trước mặt, nhà cửa vừa mới xây dựng khang trang, phương tiện đi lại mới được hoàn hảo một chút…, bỗng dưng một biến cố đau thương xảy đến, làm mất hết tất cả. Hay hy vọng đang ngời ngời sáng phía trước, bỗng dưng mất mát người thân yêu nhất đời mình như trường hợp anh sinh viên kia… Những lúc bi đát đến cùng cực ấy, bạn và tôi hãy nhớ lại lời vị linh mục hỏi chàng sinh viên kia mà tự hỏi lòng mình: “Tôi có còn tin Chúa nữa hay không?”. Sau đó mở Thánh Kinh ra mà suy niệm để sưởi ấm lòng mình, lấy lại đức tin đã cạn kiệt, lấy lại tình mến dẫu chỉ còn như  tim đèn chực tắt…

Sau hết bạn cùng tôi dâng lời cầu nguyện, chỉ một lời ngắn thôi nhưng bằng tất cả tình yêu thẳm sâu tận đáy tâm hồn: “Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn vững tin vào Chúa”

 

Trở về mục lục >>

HAI THỨ TÌNH YÊU - HAI THỨ ĐẠO ĐỨC

Giao Duyên

1.    Hai khuynh hướng tâm lý

Trong đời sống gia đình và xã hội, ai cũng đều đối diện với hai thực tại căn bản này, là «mình» và «người khác». Dựa trên hai thực tại căn bản này, người ta có hai khuynh hướng tâm lý khác nhau:

khuynh hướng vị kỷ: coi «cái tôi» của mình là quan trọng, là trên hết, là mục đích cho mọi hoạt động của mình. Vì thế, cũng coi hạnh phúc hay đau khổ của mình, ý kiến hay ước muốn của mình là quan trọng. Tính vị kỷ có thể là thô thiển mà cũng có thể rất vi tế. Người vị kỷ cách thô thiển thì ai cũng nhìn vào cũng thấy họ vị kỷ, vì họ chỉ làm những gì trực tiếp có lợi cho họ mà thôi. Còn người vị kỷ cách tinh vi là người dấu kỹ bản tính vị kỷ của mình dưới vẻ bên ngoài vị tha, thậm chí rất vị tha. Người ta thấy họ hy sinh cho người khác khá nhiều, nhưng thật ra nếu có hy sinh cho người khác thì họ cũng đều nhắm sự hy sinh ấy cuối cùng phải có lợi cho mình thì mình mới hy sinh.

khuynh hướng vị tha: coi người khác và sự đau khổ hay hạnh phúc của người khác là quan trọng; ngược lại, coi bản thân mình và đau khổ hay hạnh phúc của mình không quan trọng bằng. Vì thế, người có khuynh hướng vị tha sẵn sàng hy sinh cho tha nhân một cách vô vị lợi.

2.    Hai thứ tình yêu

Từ hai khuynh hướng căn bản trên phát sinh hai thứ tình yêu: tình yêu vị kỷ và tình yêu vị tha.

Tình yêu vị kỷ là một tình cảm hướng đến người khác nhưng cuối cùng lại quy về chính mình. Ai cũng bị hấp dẫn bởi những cái hay, cái đẹp, cái có lợi cho mình nơi sự vật hoặc nơi người khác, khiến cho mình thích thưởng thức cái hay, đẹp, có lợi ấy để mình vui thú, hạnh phúc hơn. Tình yêu vị kỷ là sự gắn bó với một vật hay một người để có thể thưởng thức cái hay, đẹp, có lợi cho mình nơi vật hay người đó. Ta thích tiếng hót của một con chim vì nó làm ta thích thú, quên đi sầu não. Vì thế, ta nuôi nó, trìu mến nó, vì nó có lợi cho ta. Chung quy ta gắn bó với nó cũng vì nhu cầu của hay hạnh phúc của ta. Khi ta yêu một người chỉ vì người ấy đẹp, người ấy dễ thương, ở bên người ấy thì ta dễ chịu, thoải mái, và vì người ấy thỏa mãn được nhu cầu tình cảm, v.v… của ta. Tình yêu đó là một tình yêu vị kỷ.

Tình yêu vị tha là một sự dấn thân của ý chí tự do hơn là một tình cảm tự nhiên. Nó là sự thúc đẩy của lương tri, của lương tâm khiến ta gắn bó và hy sinh cho một đối tượng nào đó. Đối tượng này có thể không có được những cái hay, cái đẹp, cái có lợi cho ta. Và ta yêu họ không phải chỉ vì những cái hay, cái đẹp, cái có lợi ấy. Thậm chí họ còn có thể là cái gì bất lợi cho ta, làm hại ta. Ta yêu họ chỉ vì ta nhận thức được họ là hình ảnh hay hiện thân của Thiên Chúa, cũng là «cái tôi nối dài» của ta trong Nhiệm Thể của Thiên Chúa (x. 1Cr 12,12-30). Và sự hy sinh của ta cho họ là vô vị lợi, là vì hạnh phúc của họ chứ không phải của ta. Đó mới chính là tình yêu mà Thiên Chúa muốn ta có. Và với tình yêu này thì yêu tha nhân cũng chính là yêu Thiên Chúa.

3.    Hai khuynh hướng đạo đức

Từ hai thực tại căn bản nói trên – là «mình» và «người khác» –, và từ hai thứ tình yêu nói trên, phát xuất hai khuynh hướng đạo đức khác nhau: đạo đức vị kỷ và đạo đức vị tha.

Đạo đức vị kỷ là thứ đạo đức của người có khuynh hướng vị kỷ, và có tình yêu vị kỷ. Mọi việc làm đạo đức của họ đều lấy chính họ làm mục đích. Họ chỉ làm những việc tốt đẹp khi nào việc ấy có lợi cho họ, cho hạnh phúc của họ, hoặc ở đời này hoặc ở đời sau. Họ «yêu Chúa», «yêu tha nhân» – tạm gọi như vậy – vì luật Chúa đòi hỏi như vậy, vì nếu không yêu Chúa, không yêu tha nhân thì họ sẽ không được lên thiên đàng. Làm việc gì thì họ cũng đều phải nghĩ đến chuyện Chúa sẽ trả công bội hậu cho công việc ấy, ở đời này hoặc đời sau. Nếu Chúa không trả công thì làm có ích lợi gì? Đó là những người đạo đức vị kỷ kiểu vi tế.

Còn những người đạo đức vị kỷ kiểu thô thiển thì họ thực tế hơn nhiều, họ không nhắm Chúa trả công cho bằng được người khác hay được mọi người “trả công”. Chẳng hạn khi làm một việc tốt lành nào thì họ muốn mọi người đều biết để khen ngợi, nể phục họ, để họ được tiếng là thánh thiện, đạo đức, tốt lành, nhân hậu, biết thương người, v.v… Nhờ vậy, họ có uy tín trước mặt người đời, được mọi người trọng vọng, và có thể vì thế mà họ được nhiều cái lợi khác về mặt xã hội: làm ăn dễ dàng hơn, dễ thăng quan tiến chức, dễ có những địa vị cao ngoài xã hội, trong Giáo Hội.

Tóm lại, người đạo đức vị kỷ kiểu thô thiển hay vi tế, trong các hoạt động của họ, đều không thể có một động lực nào khác hơn lợi ích của chính bản thân họ.

Đạo đức vị tha là thứ đạo đức của người có khuynh hướng vị tha và có tình yêu vị tha. Họ yêu Chúa là vì Chúa, yêu tha nhân là vì tha nhân, không cần một sự trả công hay phần thưởng nào cho những hy sinh hay hoạt động của họ, cho dù ở đời này hay đời sau. Tình yêu tự nó là động lực duy nhất thúc đẩy họ làm tất cả cho người mình yêu. Họ đúng là người thật sự quên mình, từ bỏ mình như Đức Giêsu đòi buộc đối với những ai theo Ngài. Tuy dù họ không làm vì ích lợi cho họ, nhưng họ chính là người có khả năng hy sinh nhiều nhất cho Thiên Chúa và tha nhân. Vì thế, tuy dù họ chẳng cần một phần thưởng hay sự trả công nào cả, nhưng họ mới chính là những người đáng thưởng nhất, và phần thưởng dành cho họ phải là bội hậu nhất. Vì họ mới chính là người yêu thật sự.

Hôm nay chúng ta bước vào mùa Chay, thiết tưởng đây là thời điểm thuận tiện nhất để ta sám hối, để ta suy nghĩ về tình yêu của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân. Hãy nghiêm túc phản tỉnh, hồi tâm, xét lại xem tình yêu của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân có đích thực là tình yêu hay không? Hay đó chỉ là một tình yêu giả hiệu, tình yêu vị kỷ: có vẻ như ta yêu Thiên Chúa và tha nhân, nhưng thực ra là ta chỉ yêu chính bản thân ta thôi. Và đạo đức của ta là thứ đạo đức gì? Đạo đức vị kỷ hay đạo đức vị tha? Muốn biết được tình yêu và đạo đức của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân có đích thực hay không, khi làm điều gì tốt đẹp, hãy tự hỏi: Nếu tôi làm việc tốt lành này mà không ai biết tới, mà Thiên Chúa không trả công cho tôi, thì tôi có còn muốn làm hay không?

 

Trở về mục lục >>

NGHÈO TIỀN BẠC VÀ NGHÈO TẤM LÒNG

 

Trần Duy Nhiên

Khi nói đến người nghèo, ta nghĩ ngay đến những người thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu nhà, thiếu cửa, nghĩa là nghèo tiền bạc... Tuy nhiên, có thể còn nhiều thứ nghèo khác nữa: nghèo thì giờ, nghèo sức khỏe, nghèo kiến thức, và nhất là nghèo trái tim.

Cha Anthony de Mello đã viết câu chuyện sau trong cuốn Như Tiếng Chim Ca:

Tôi thấy ngoài đường một cô bé gái đang run cầm cập trong chiếc áo mỏng tanh, với chút hy vọng mong manh là có được một bữa ăn kha khá. Tôi phẫn uất và thưa với Chúa: "Tại sao Chúa đã để cho sự việc đó xảy ra? Chúa không nhìn thấy sao? Tại sao Chúa không làm gì hết?" Trong một thời gian khá lâu, Chúa không nói gì. Rồi một đêm kia, Chúa đã trả lời rất bất ngờ: "Dĩ nhiên là Cha đã thấy điều đó rồi: vì thế mà Cha tạo dựng nên con, con đấy! (Trích bản dịch của Đỗ Tân Hưng)

Câu chuyện này cứ lảng vảng mãi trong đầu tôi mỗi khi tôi đối diện với người nghèo, người hoạn nạn, người đau khổ. Trước cái nghèo vật chất mà tôi dửng dưng thì rõ ràng là tôi nghèo lòng trắc ẩn. Tôi biết rằng tôi có trách nhiệm chia sẻ với người nghèo, tuy nhiên, tôi cũng yên tâm ít nhiều khi nghĩ rằng người nghèo đã có những người khác lo. Tôi từng biết cha Đông đi vào rừng sâu chăm sóc cho người dân tộc nghèo xơ nghèo trên rừng núi Pleiku. Tôi từng thấy cha Hậu chăm sóc cho người nghèo ở những nơi hẻo lánh xa xôi tận Mũi Cà mau. Tôi từng theo cha Chung đến với những người Aids ở Saigon. Tôi từng lên với những dì Dòng Thánh Phaolô ở vùng cao Bảo lộc để xem họ sống với gần một trăm em khuyết tật. Tôi từng đồng hành với một dì dòng Đa Minh tổ chức nhiều khóa cai nghiện ma túy cho những thanh niên bị xã hội ruồng bỏ. Vâng! Tôi có bức xúc vì người nghèo tại Việt Nam, nhưng đã có những linh mục và tu sĩ chăm lo bởi vì việc giúp đỡ người nghèo vượt tầm khả năng của tôi.

Thế rồi đêm hôm qua, duyên may đã khiến tôi xem hai DVD của Hội Help The Poor, và tôi lại ray rứt. Những thành viên của Hội là những người sống giữa thế gian và có trăm ngàn ưu tư về cơm áo gạo tiền như tôi. Họ đã về Việt Nam mà đi đến những với những người nghèo từ Bắc chí Nam, họ đến những nơi mà chưa bao giờ có một nhóm từ thiện nào bén mảng đến như Cam Lộ hay Gio Linh, họ đến những hang cùng ngõ hẻm của thành phố Saigon để thăm những nhà nuôi trẻ em bị bỏ rơi mà không ai buồn công nhận, cả giáo quyền lẫn chính quyền. Họ trao phong bì hàng ngàn đô la một cách từ tốn, cứ như là họ e dè thay mặt cho những người phương xa đến chia sẻ một phần quá nhỏ bé với những người đem suốt cuộc đời mình mà phục vụ những người nghèo. Tôi biết rõ mồn một rằng quà tặng của họ không phải là những món tiền dư thừa của những người vứt tiền ra cửa sổ. Đó là từng đồng bạc đẫm mồ hôi mà những người có lòng phải hy sinh đến nhói đau dù đang sống trên một đất nước giàu có vào bậc nhất trần gian. Có lẽ họ đã nhìn ra điều cơ bản: Họ không thể làm gì nhiều cho người nghèo, nhưng họ có thể góp một chút công sức mình để đồng cảm với anh chị em kém may mắn của họ. Và trong sự chia sẻ đó, họ cũng tìm được niềm vui khi thấy trong lồng ngực mình vẫn còn đập một trái tim người.

Mẹ Têrêxa thành Calcutta thuật lại câu chuyện sau, trong bài diễn văn nhận Giải Nobel Hòa Bình tại Oslo, năm 1979:  Tôi đã có một kinh nghiệm lạ lùng với một gia đình theo Ấn Giáo. Hôm nọ, một người đến nhà chúng tôi và bảo: “Mẹ Têrêxa à, có một gia đình 8 con; họ không có gì ăn lâu rồi; Mẹ làm điều gì đi!” Thế là tôi lấy một ít gạo rồi lập tức đi đến đấy. Tôi thấy mấy em bé với cặp mắt ánh lên vì đói. Tôi không biết anh chị em có bao giờ thấy ai đói chưa. Tôi thì thấy nhiều lắm ở Ấn Độ. Tôi trao gạo cho bà, bà cầm lấy, chia ra hai phần, rồi đi ra ngoài. Khi bà trở về, tôi hỏi bà: “Bà đi đâu vậy? Làm gì vậy?” Bà đơn sơ trả lời: “Họ cũng đói!”. Bà đã sang nhà bên cạnh để chia nửa phần gạo vừa nhận được, trước khi nấu cơm cho những đứa con đói lả của mình. Điều làm tôi choáng váng nhất là bà ấy biết họ là ai: là một gia đình Hồi Giáo. Tôi không đem thêm gạo tối hôm ấy vì tôi muốn để cho họ hưởng trọn vẹn niềm vui chia sẻ.

Nhưng thiết nghĩ, điều hội Help The Poor làm không chỉ là tạo niềm vui chia sẻ bằng cách đi vá một mảnh áo nát mà mình biết rằng thế nào cũng rách trở lại. Hội không chỉ nhằm xoa dịu cái nghèo vật chất mà còn muốn xóa bỏ cái nghèo nhân phẩm do một quan niệm sai lầm về giá trị con người. Hội muốn tiếp phần nâng cao trình độ để mai này các em bé nghèo nàn kia biết phẩm giá của mình và, ngay bây giờ, đường hướng của hội là góp phần đổi mới cái nhìn về người nghèo qua một quá trình giáo dục mọi người.

Help The Poor! Hãy giúp người nghèo! Người nghèo vật chất và người nghèo trái tim. Khi kêu gọi mọi người nghĩ đến người nghèo vật chất ở Việt Nam thì Hội cũng gián tiếp giúp đỡ những người ở hải ngoại cơ hội để chứng tỏ rằng mình không hề nghèo tình yêu thương.

Trích Bản Tin tháng 12 -2004 của Hội Help The Poor

www.helpthepoorvietnam.org

Trở về mục lục >>

  TƯ HỌC HỎI

NGƯỜI GIÁO DÂN TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA

VÀ KHÍA CẠNH TRẦN THẾ CỦA GIÁO HỘI

(tiếp theo Maranatha_36)

Nguyễn Đăng Trúc

III- Giáo dân trong Giáo hội ngày hôm nay

Tài liệu mới nhất về giáo huấn của Giáo hội về Giáo dân là Tông huấn Christi Fideles Laici, do Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II ban hành ngày 30.12.1988, tiếp theo Thượng Hội đồng Giám mục về Tông đồ Giáo dân tổ chức vào năm 1987 tại Rôma. Giáo huấn vừa nhắc lại toàn bộ nội dung của Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân năm 1965 trong Công đồng Vaticanô II, vừa cập nhật hoàn cảnh Giáo hội lúc bấy gìờ nhưng đi vào chi tiết hơn.

Với tâm thức cũ, tiền Công đồng, nhiều Kitô hữu , giáo sĩ cũng như giáo dân dường như cảm thấy không cần phải đi vào nội dung giáo huấn của Giáo hội  và sẵn có một định kiến là: chắc chắn đây là bản văn thúc giục giáo dân, đặc biệt các xứ Tây âu, đi lễ Chủ nhật, tổ chức sinh hoạt rước kiệu, tham gia vào các chức vụ của Hội đồng giáo xứ để giúp các linh mục; hoặc trao cho một số giáo dân có thêm uy quyền trong việc điều hành Cộng đồng giáo xứ.

Những nội dung nầy không phải nằm ngoài ưu tư chung của toàn bộ giáo huấn của Giáo hội về giáo dân , nhưng lối hiểu tiêu cực, què quặt nầy (như đóng khung vào sinh hoạt giáo xứ; tương quan giáo sĩ - giáo dân đặt nền trên ý niệm quyền uy trần tục; sinh hoạt cộng đồng dân Chúa o ép lại trong một hội đóng kín, tự đủ cho mình...) đi ngược lại đường hướng canh tân và quan điểm Giáo hội học mới của Công đồng Vaticanô II.

III.1- Những nét cá biệt của Giáo hội nêu lên trong văn kiện

* Giáo hội  là cộng đồng huynh đệ có phận vụ truyền giáo.

Tựa đề "Ơn gọi và sứ mệnh của người giáo dân..." tưởng chừng đã nói lên hầu hết điều muốn nói. Trước đây khi nói đến ơn gọi, người ta hiểu đó là phần dành riêng cho giáo sĩ , tu sĩ làm như chỉ giới sau nầy  mới là môn đệ Chúa Giêsu.

Không phải thế. Chữ ơn gọi áp dụng cho bất cứ ai là người, hướng đến việc thực hiện hoàn toàn nhân tính của mình. Nhưng chữ ơn gọi ở đây được nêu lên đi liền với sứ mệnh, nhằm nói đến lý lịch của tất cả những ai đã tin vào Đức Kitô là con Thiên Chúa hằng sống và đã lãnh nhận phép rửa. Sự kiện sau nầy (sứ mệnh) xác minh sự bất khả phân ly giữa phép rửa và sứ mệnh rao truyền Phúc âm hay còn gọi là sống đạo.

Bản văn Christi Fideles Laici đưa ngay vào phần dẫn nhập yếu tố sứ mệnh nghĩa là phục vụ, hành động qua hình ảnh người thợ được gọi làm trong vườn nho. Chịu phép rửa là để làm việc. Câu hỏi đặt cho Giáo hội hôm nay trong cuộc canh tân của Công đồng Vaticanô II đối với người giáo dân là "Tại sao ở đấy suốt ngày mà không làm gì hết?" Và nếu giáo dân trước đây đã trả lời với Giáo hội : "Vì không ai mướn chúng tôi". Thì hôm nay qua Công đồng Vaticanô II, Giáo hội lặp lại lời Chúa: "Các ông cũng thế, hãy vào làm vườn nho của ta" (Mt. 2, 6-7) (xem Christi Fideles Laici, số 1 và 3).

* Vườn nho là thế giới: sống đạo mọi nơi, mọi lúc.

Cũng ở phần dẫn nhập, Tông huấn nầy nói ngay "Vườn nho đó là toàn thế giới (Mt. 13, 38), và thế giới nầy phải được biến đổi theo ý định của Thiên Chúa trong một viễn ảnh của vương quốc Ngài vào ngày thế mạt" (Christi Fideles Laici).

Giáo xứ, giáo phận, dòng tu trước đây là khung cảnh hạn chế cho sinh hoạt tôn giáo. Trên mặt pháp lý xã hội, chúng ta ngày nay cũng khó lòng hiểu khác đi được! Nhưng sống đạo có phải chỉ thực thi các nghi lễ tuy cần thiết nhưng giới hạn trong lãnh vực tôn giáo hình thức nầy không? Không phải. Vườn nho là toàn thế giới mà người thợ là Kitô hữu, giáo sĩ cũng như giáo dân mỗi người một việc phải chu toàn mọi nơi và mọi lúc. Trước đây ta thấy , mỗi lần Giáo hội đề xuất và thực hiện một công tác nào, thì thường định chế hoá qua một hình thức xem là có tính Giáo hội như là cộng đoàn các giáo sĩ hoặc cộng đoàn tu sĩ. Các thế kỷ trước đây các hội dòng tu nam, nữ là đã "làm", đã "sống đạo" trong khuôn khổ tổ chức nầy. Tiếp đến, các đoàn thể giáo dân, hoặc có mục tiêu phục vụ cuộc sống trần tục, như Hội đoàn Công giáo, các tổ chức từ thiện Công giáo, ngay cả đảng phái cũng mang tên Kitô giáo... Nhưng từ Công đồng, kinh nghiệm và sinh hoạt đó tuy vẫn còn tiếp tục nhưng còn được nới rộng hơn khi Giáo hội thoát dần khỏi tiêu chuẩn trần tục của việc tổ chức và qui chiếu vào lời Phúc âm: "Các con là Muối đất, là Men trong bột, là Ánh sáng thế gian..."

Vừa bứt bỏ được  các giới hạn quá hình thức, vừa đi gần hơn tinh thần của Phúc âm, cuộc sống đạo trải tràn ra trong cuộc sống toàn diện của con người: từ những người đau yếu đến những khoa học gia thám hiểm không gian, từ người đấu tranh chính trị cho đến vị đan sĩ ngày ngày lao tác  và cầu nguyện, từ Giáo hoàng đến người mẹ gia đình...sống đạo làm nên Giáo hội không nhất thiết phải là giáo sĩ hay giáo dân, vì không phải quyền uy điều hành là yếu tố then chốt làm nên Giáo hội  nhưng "biến đổi thế giới, hay cuộc sống con người theo ý định Thiên Chúa" làm nên sinh hoạt Giáo hội .

* Một nhu cầu thực tế cấp bách cần đến vai trò giáo dân

Vườn nho là thế giới thực tế trước mắt, chúng không phải một hình ảnh nào đó của một ý hệ. Giáo hội xác minh lại rằng mọi người chịu phép rửa đều là anh em và phải có sứ mạng rao truyền Tin mừng. Nhưng trước mắt Giáo hội chứng kiến gì:

Một thế giới đang đi xa dần ý định của Thiên Chúa, "Một thế giới với hiện tình kinh tế, xã hội, chính trị và văn hoá đầy dẫy các vấn đề và khó khăn trầm trọng hơn cả những gì được Công đồng diễn tả trong Hiến chế mục vụ Vui mừng và Hy vọng" (Christi Fideles Laici số 3). Và thế giới hay vườn nho đó cần đến thợ gặt.

Giáo hội trong hiện tình ngày nay đào sâu khủng hoảng thế giới, và sự uể oải thụ động, thờ ơ của người giáo dân như những dấu chỉ thời đại để khám phá được rằng:

"Thế giới trở thành môi trường và phương thế cho ơn gọi Kitô hữu của người tín hữu giáo dân...họ không được gọi để bỏ mất vị trí của họ trong thế giới nhưng...được Chúa gọi để làm việc, như ngầm ở bên trong, nhằm thánh hoá thế giới, như hình ảnh men trong bột, trong nổ lực thi hành các trách nhiệm riêng của mình dưới ánh sáng của tinh thần Phúc âm".

Do đó, khi nêu lên nhu cầu cấp bách phải đưa giáo dân lên tuyến đầu của công cuộc rao truyền Phúc âm trong thời buổi ngày nay, thì một mặt Giáo hội nêu lên một lề lối sinh hoạt mới về sống đạo. Trong khung cảnh mới nầy không có phân cấp hay loại trừ theo khuôn khổ tổ chức trần thế: Giáo sĩ không hề bị loại ra  khỏi sinh hoạt trần thế; và giáo dân cũng không có mục tiêu sống đạo một cách tích cực để có được một vai vế trên trước nào trong cộng đồng dân Chúa. Đồng thời những tiêu chuẩn bên ngoài, nhãn hiệu tôn giáo của mình hay uy thế cho một tổ chức cũng không phải là cùng đích của nổ lực truyền giáo của người giáo dân ngày nay.

* Đào tạo

Để có thể đưa giáo dân, tất cả giáo dân vào tuyến đầu của việc truyền giáo, hẳn nhiên phải cần có đào tạo. Không ai cho cái mà mình không có. Đào tạo khó khăn nhất là làm sao thay đổi tâm thức sống đạo? Bản văn Tông huấn trước hết nêu lên tầm mức phải đạt đến đó là mức trưởng thành. Tiêu chuẩn ưu tiên của trưởng thành là sống cho kẻ khác, nhìn nhận kẻ khác, nghĩa là tinh thần phục vụ một cách đại độ.

Và đây cũng là điểm mới lạ của tinh thần sống đạo, vì Kitô hữu cần trút bỏ tâm tình sợ hãi bị trừng phạt trong tâm thức tôn giáo của mình, hoặc tìm kiếm lợi ích riêng tư cho mình trong Giáo hội nơi trần thế mỗi khi thi hành các công tác  tông đồ. Tiêu chuẩn quan trọng hơn nữa trong việc đào tạo là hướng đến sinh hoạt cộng đồng hiệp nhất, từ nơi gia đình, đến hội đoàn, giáo xứ đến cấp quốc gia, quốc tế, trong giáo hội, đến với các tổ chức, tôn giáo khác mình...

Sinh hoạt tông đồ không chỉ là hành động cá thể mà hơn hết là kết hợp thành hành động chung của cộng đồng, nhất là các đoàn thể hướng đến những cơ cấu rộng lớn điều hành cuộc sống con người.

III.2- Những khó khăn

Sự cách biệt giữa giáo huấn của Giáo hội  và nếp sống của đa số người giáo dân như một thực tế trước mắt làm nhiều người nêu lên những nhận định bi quan. Giáo huấn được xem là một yêu sách của mẫu mực Phúc âm đòi hỏi phải thực hiện cấp bách trong thực tế, tiếc thay lại đi kèm với một sự thiếu vắng các yếu tố thiết yếu để có thể thực hiện! Chẳng hạn:

* Khuôn khổ tổ chức tối thiểu

Trước đây một dòng tu được lập ra thường đi theo những điều kiện tinh thần, vật chất, tổ chức để có thể tồn tại: một số công tác phục vụ cụ thể để thi hành, để kiểm điểm công tác; một sự nhìn nhận của giáo phẩm, và sự hỗ trợ của cộng đồng; tiêu chuẩn, thời gian huấn luyện; kỷ thuật và tổ chức nội bộ...

Ngày nay, khi nói đến tông đồ giáo dân, không khác gì đọc một bản Phúc âm; công tác mênh mông vượt lên mọi hình thức tổ chức, đòi hỏi một sự uyển chuyển của một tâm thức hết sức trưởng thành như đã có sẵn tự bao giờ! Và vì yêu sách quá rộng, quá cao, kỳ cùng giáo huấn dễ bị xem là một lý thuyết dành cho ai khác chứ không phải cho mình và cộng đồng mình! Và thực tế đã xảy ra khi những gì đã nêu lên trong tông huấn Christi Fideles Laici thường được chính Giáo hoàng, Giáo triều Rôma qua các thánh bộ và hội đồng giáo hoàng: Công lý Hoà bình, Đối thoại Tôn giáo, Di dân,Văn hoá, Giáo dục, Gia đình...thực hiện; càng xuống các cấp gần với chính cuộc sống hằng ngày  của giáo dân như gia đình, xứ đạo... thì ảnh hưởng hầu như chưa có tác dụng gì mấy (những phê phán cho rằng Giáo triều Rôma không lưu ý đến sinh hoạt trần thế, xa cuộc sống cụ thể... là lối nói thuộc lòng do báo chí quảng cáo hơn là một nhận định bám trên thực tế).

* Đào tạo

Công việc đào tạo giáo dân quá phức tạp và khó khăn. Yêu sách đòi hỏi phải có sáng kiến truyền giáo xây dựng Giáo hội, canh tân  xã hội, phải đi tuyến đầu, phải trưởng thành phân biệt những nguy cơ tinh vi của chủ nghĩa thế tục và đường hướng Phúc âm, phải uyển chuyển chọn lựa phương thức tổ chức và hành động..., lắm lúc cho chúng ta có cảm tưởng rằng một cán bộ giáo dân như thế hẳn phải được đào tạo 3 lần hơn một giáo sĩ !  Thế mà, ý chí và phương tiện để thực hiện giáo huấn của Giáo hội về Giáo dân, khởi đầu bằng công tác đào tạo lại èo uột. Có những vùng, những xứ..., dường như chưa tùng có kế hoạch hay một dự án, ngân sách nào hướng đến nổ lực nầy. Về phía tổ chức Giáo hội  trên mặt hỗ trợ, sự hiệp thông giữa giáo sĩ - giáo dân trong mục tiêu đào tạo giáo dân lại càng hiếm hoi. Trong công tác mục vụ, việc đào tạo gìáo sĩ hướng đến công tác nầy ít được thực hiện, chẳng hạn không mấy giáo sĩ am tường về phương cách hoạt động tông đồ giáo dân, các đoàn thể, theo từng bộ môn, lứa tuổi...; các đoàn thể hay các sinh hoạt giáo dân thường đành chấp nhận sự hiện diện một giáo sĩ bất chừng nào đó ở cạnh mình như một chuyện tự phát, đã rồi.

* Tâm thức

Tâm thức  xã hội - và ngay cả Kitô hữu , giáo sĩ  cũng như giáo dân - như còn xa lạ với tinh thần Công đồng Vaticanô II về ý nghĩa sống đạo. Hãy thử làm một bản trắc nghiệm đa số giáo sĩ và giáo dân tại cơ sở để xem khi nói đến việc trả thuế, đi bầu cử, đóng góp giúp người nghèo, dạy con, giúp vợ, săn sóc chồng, thăm viếng bạn bè, tham gia cổ võ nhân quyền .v.v...có nằm trong khung cảnh sinh hoạt cuộc sống đạo không, thì rõ. Phải chăng dư luận và tâm thức nơi nơi vẫn chỉ lấy việc dự lễ chủ nhật làm thước đo hành đạo ! Và như thế giáo huấn Giáo hội dạy phải dấn thân vào bất cứ sinh hoạt nào của trần thế: chính trị, bác ái,  xã hội , văn hoá, tu đức đặc loại của giáo dân... có giá trị như thế nào trong cuộc sống hằng ngày của việc điều hành Cộng đồng và sống đạo? Xa lạ trong tâm thức, điều đó còn có thể hiểu vì cần thì giờ thích ứng; nhưng ngay cả trong giáo huấn chính thức của cộng đồng cấp quốc gia, giáo phận, giáo xứ, trong các cơ sở truyền thông của Giáo hội địa phương, trong nội dung đào tạo giáo sĩ, giáo dân ... việc mạnh dạn truyền đạt giáo huấn của Giáo hội và áp dụng vào cuộc sống mục vụ thiết thực, tất cả còn ngập ngừng như có vẽ hoài nghi!

III.3- Niềm hy vọng

Những khó khăn nêu lên có những cơ sở giải thích của chúng. Tuy nhiên chúng ta biết việc cổ võ Công việc tông đồ giáo dân, nêu cao sứ mạng và ơn gọì của người tín hữu nầy nằm trong khuôn khổ một cuộc canh tân Giáo hội học, nghĩa là toàn bộ sinh hoạt Giáo hội chiếu theo Mẫu mực Phúc âm. Cuộc canh tân đó luôn luôn khởi đầu lại, trường kỳ vì gắn với bản tính luôn sinh động mà luôn phải canh cải để kiện toàn Giáo hội .

Bên cạnh những đổi thay còn khó khăn, đôi lúc chậm chạp đến độ như chết chìm so với vận tốc đổi thay phi mã của cuộc sống văn minh trần thế, thì cũng phải nhìn nhận rằng chưa một cộng đồng tôn giáo hay một nền văn hoá nào trong gần 50 năm qua đã thay đổi nhanh chóng tâm thức và nếp sinh hoạt của mình (dĩ nhiên là đối chiếu vào kiểu mẫu Phúc âm) hơn là Giáo hội  Công giáo. Làm sao trước đây chúng ta có thể tưởng tượng có một hiệp hội như Focolare do một phụ nữ (trăm phần trăm ở trong đời sống giáo dân) đứng đầu, với sự tham gia của từng trăm hồng y, giám mục, hàng ngàn linh mục làm hội viên, để còn qui tụ những thành phần không phải chỉ là công giáo! Một điển hình, tuy quá chọn lựa, nhưng không còn gây ngỡ ngàng, thắc mắc bên trong và bên ngoài Giáo hội, cho phép chúng ta lượng giá một chặng đường rất dài đã vượt qua được, và tiên liệu những thành quả còn sáng ngời hơn nữa.

IV- Giáo dân trong hoàn cảnh tại Việt Nam

Hiện nay, có lẽ chúng ta có dịp để kiểm điểm lại nếp sống cá nhân và cộng đồng đối chiếu với giáo huấn của Giáo hội và tinh thần Phúc âm. Nếu những khó khăn để cổ võ việc tông đồ giáo dân là tình trạng chung của Cộng đồng Kitô hữu trong hoàn vũ, thì đối với Giáo hội Việt Nam chúng ta trong và ngoài nước lại còn có những khó khăn mười lần hơn.

Khó khăn riêng của Cộng đồng Kitô hữu chúng ta trước hết phát xuất do tiền kiến lấy mẫu mực tiền Công đồng để đánh giá cao nếp sống đức tin của chúng ta. Mỗi lần nêu lên sinh hoạt Giáo hội, chúng ta có sẵn các con số tham gia Thánh lễ chủ nhật để xí xoá tất cả: chúng ta cho rằng Giáo hội nêu lên khủng hoảng là chỉ nói đến tình trạng Giáo hội Tây phương, vì giáo dân không còn "giữ đạo"! Tiên kiến đó hàm ngụ rằng thực ra giáo huấn của Giáo hội về giáo dân cũng chỉ để cổ động giáo dân đi lễ; và tiền kiến kế tiếp là  xã hội và cộng đồng Công giáo Việt Nam muôn năm sẽ không bao giờ thay đổi. Vượt lên trên tâm thức không chịu canh tân nầy chúng ta cần đọc lại giáo huấn của Giáo hội để đối chiếu với sinh hoạt của các cộng đồng, các sinh hoạt tôn giáo của chúng ta, và chúng ta sẽ có được một sự lượng giá chính xác!

Nhưng niềm hy vọng đang lên đường trong cộng đồng giáo hội Việt Nam

Trong công cuộc chuẩn bị họp Thượng Hội đồng Giám mục cho Á châu (tháng 4 và 5.98 tại Vatican) các giám mục Việt Nam đã xác nhận rằng Giáo dân là thành phần tích cực truyền giáo trong giai đoạn qua, và đề nghị một khung cảnh sinh hoạt sống đạo trong tình huynh đệ gia đình, ăn khớp với tâm thức văn hoá Việt Nam. Hai yếu tố quan trọng đã được nêu lên nhằm khai triển giáo huấn của Giáo hội áp dụng cho Kitô hữu Việt Nam.

- Trở lại tinh thần giáo sĩ  - giáo dân sát cánh nhau năng nổ truyền giáo trong giai đoạn thành lập Giáo hội Việt Nam, khi kẻ sĩ Ignace, chàng thanh niên André Phú Yên cùng với linh mục Alexadre de Rhodes xây dựng cộng đồng. Ở đây phục vụ, truyền giáo, đi sâu vào văn hoá, ngôn ngữ, tâm thức người Việt không phải chỉ là lý thuyết mà là nếp sinh hoạt hằng ngày của cộng đồng những người "yêu thương nhau".

-          Kinh nghiệm sống Đạo lý làm người của  xã hội Việt Nam đã sớm biết một nề nếp vượt lên các hình thức tôn giáo quá nặng nề hệ thống, cấp bậc: Đạo lý Khổng-Mạnh đi vào  xã hội như một tinh thần sống; cuộc sống đạo nghĩa trong việc thờ cúng tổ tiên trong gia đình và đại gia đình... Đây là những kinh nghiệm quí giá để giúp Cộng đồng Công giáo Việt Nam trong tương lai thoát dần nét quá trần-tục-hoá của một tổ chức phẩm cấp trong Giáo hội chịu ảnh hưởng phần nào sinh hoạt cũ của nền hành chánh La-mã và  xã hội Trung cổ Tây phương. Phải chăng đây là lý do thúc đẩy các Giám mục hy vọng cho tương lai Cộng đồng huynh đệ Kitô hữu Việt Nam, muốn lấy mẫu mực thời Tông đồ Công vụ làm điểm qui chiếu.

***

Để kết luận, xin lấy lại lời Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong phần cuối Tông huấn Christi Fideles Laici:

"Trước ngưỡng cửa Đệ III Thiên niên, toàn thể Giáo hội , Chủ chăn, cũng như Tín hữu, phải nhận ra một cách mạnh mẽ hơn nữa trách nhiệm của mình và vâng theo mệnh lệnh của Chúa Kitô: "Các con hãy đi khắp thế giới mà rao giảng Tin mừng cho muôn dân" (Mc. 16, 15) là tái tạo một lối truyền giáo mới, Giáo hội được giao phó để thực hiện một công trình có tầm vóc lớn lao, khó khăn và cao cả: Đó là việc tiến hành "một lối rao giảng Phúc âm mới mà thế giới ngày nay đòi hỏi một cách cấp thiết. Tín hữu giáo dân phải thấy rằng mình là phần tử tích cực trong công cuộc đó: Họ được gọi để loan báo và sống Phúc âm, bằng công tác phục vụ con người và xã hội trong tất cả những giá trị và đòi hỏi của chúng" (C.L. số 64)

Trở về mục lục >>

 

GIẢ NHƯ TÔI LÀ MỘT GIÁO DÂN

LÃNH ĐẠO TRONG GIÁO XỨ

(tiếp theo Maranatha_36)

Linh mục tiến sĩ Herchel H. Sheets

            Thứ năm, giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ xa lánh thái độ bi quan như xa lánh dịch hạch.

Một hôm, tôi ra xe sau khi mua một vài món hàng. Cạnh đó, một cậu thanh niên giúp một bà cụ già đưa hàng lên xe. Cậu cố gắng bắt chuyện với bà, nên vui vẻ nói: “Hôm nay trời đẹp quá, hả bác?” Bà đáp: “Ờ, nhưng ngày mai lại mưa nữa cho mà xem!” Cái đẹp của trời hôm nay đã bị cơn mưa ngày mai làm xấu đi mất rồi! Thái độ này cũng có thể đưa vào giáo xứ nữa, và ít có điều gì nguy hại cho sức khoẻ của giáo xứ cho bằng thái độ bi quan. Nếu quá nhiều người nghĩ những điều tồi tệ về Giáo Hội, thì những điều tồi tệ ấy có thể xảy ra. Dĩ nhiên, thực tế phải có chỗ  đứng, nhưng bởi lẽ Giáo Hội là Giáo Hội của Chúa Kitô, nên thái độ lạc quan cũng phải có chỗ đứng chứ. Stuart Briscoe từng là cha xứ của Giáo Xứ Elmbrook ở Milwaukee, Wisconsin, hơn 15 năm trường. Trong một cuộc phỏng vấn, người ta hỏi cha muốn được ghi gì trên bia mộ của mình. Người nhà của cha trả lời: “Nơi đây yên nghỉ Stuart Briscoe, người không bao giờ lo lắng trước cho một khó khăn chưa đến”. Có thể như thế là đi hơi xa, nhưng trong giáo xứ nào cũng cần có ít ra là một vài người tích cực khẳng định lập trường và thái độ lạc quan của mình. Giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ cố gắng làm một người như thế.

            Thứ sáu, giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ tìm cách có được và gìn giữ một cái nhìn bao quát trên đời sống giáo xứ tôi.

Biết bao lần bạn nghe nói đến một hoạt động nào đó của giáo xứ và co người thốt lên: “Tôi đâu biết rằng chúng ta đang làm chuyện ấy”? Giáo xứ càng lớn, thì càng khó biết chuyện gì xảy ra, và trong một số giáo xứ, nếu chỉ có một người duy nhất biết mọi điều đang xảy ra, thì có nghĩa là chưa đủ. Chúng ta mong cha xứ biết rõ đời sống và chương trình giáo xứ. Nhưng nếu người giáo dân lãnh đạo sống đúng với ý nghĩa hạn từ ấy, thì có một người khác cũng cần biết rõ đời sống và chương trình giáo xứ. Chỉ khi nào bạn biết giáo xứ thì mới lãnh đạo được giáo xứ. Một khía cạnh khác, ấy là nếu bạn nhìn thấy tổng thể của giáo xứ, thì bạn ở vị thế tốt hơn để lượng giá. Tôi vừa mới đọc cuốn sách có tựa đề là Phúc Âm về sự Trùng Khớp (The Gospel of Coincidence). Tác giả của cuốn sách trình bày vai trò của Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời chúng ta, nhưng vẫn yêu cầu chúng ta cũng cần phải cầu nguyện cho hoàn cảnh của mình. Ông bảo: cầu nguyện về những hoàn cảnh đó là một cách để đối diện với chúng, lượng giá lại, có những ý tưởng mới để giải quyết chúng, và thay đổi thái độ chúng ta đối với các hoàn cảnh ấy. Ông bảo rằng lời khuyên chúng ta hãy đặt những ưu tư mình dưới chân Chúa là một lời khuyên đúng đắn, không phải vì Thiên Chúa sẽ giải quyết vấn đề của chúng ta, nhưng khi chúng ta đặt ưu tư dưới chân Người, thì chúng ta có thể bắt đầu nhìn chúng dưới góc độ khác. Nhìn giáo xứ với một cái nhìn tổng thể cũng có tác dụng đối với góc nhìn của chúng ta. Chúng ta có thể nhìn thấy những khía cạnh đặc biệt của giáo xứ dưói góc độ rõ hơn, nếu ta nhìn chúng trong tổng thể. Giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ cố gắng có được và gìn giữ một cái nhìn bao quát trên đời sống và chương trình giáo xứ tôi.

            Thứ bảy, giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ tìm cách biết rõ hơn về ‘hiệp thông’ và phát huy khả năng trình bày sự hiệp thông ấy với cộng đoàn tôi.

            Với tư cách là hội thánh, căn tính và nhiệm vụ của chúng ta liên quan mật thiết đến việc chúng ta hiểu và sống chiều kích hiệp thông. Thời buổi này, cảm thức về sự hiệp thông đang lâm nguy. Đây là điều khá kỳ lạ, bởi lẽ tinh thần cục bộ còn rất mạnh, dẫu cho thế giới trở nên nhỏ bé hơn bao giờ hết, nhờ những phương tiện thông tin và vận chuyển hiện đại. Yêu cầu phải tay nắm tay và làm chủ địa phương mình, tuy chính đáng, cũng có thể làm hỏng tinh thần hiệp thông. Ngay cả những giáo xứ rộng lớn của chúng ta cũng có thể trở thành khép kín, có thể nghĩ rằng mình đầy đủ rồi, có thể muốn độc lập và không dính dấp với bất cứ ai và bất cứ gì khác. Thế nhưng nếu tinh thần hiệp thông bị phá hủy, thì phần lớn tính chất duy nhất của Giáo hội cũng sẽ tiêu tan. Chính qua tinh thần hiệp thông mà chúng ta thực thi sứ mạng của mình trên khắp cùng mặt đất. Giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ không trao hết công việc ấy cho một mình cha xứ. Tôi sẽ chia sẻ trách nhiệm ấy với ngài. Tôi sẽ liên lỉ theo dỏi về giáo hạt, về buổi gặp gỡ thường niên, về pháp lý, về Giáo Hội toàn cầu. Tôi sẽ thường xuyên học làm quen với vô vàn cách thức mà chúng ta thực thi sứ mệnh vì Chúa Kitô trên khắp thế gian này, và tôi sẽ học cách kể lại câu chuyện ấy mà giúp cộng đồng giáo xứ tôi tự hào và vui mừng trong Giáo Hội chúng ta, đồng thời đáp ứng và chia sẻ sứ mệnh ấy một cách hân hoan và quảng đại.

            Thứ tám, giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ cố gắng nhớ và giúp đỡ anh chị em mình nhớ rằng Giáo Hội là của Thiên Chúa.

            Giáo Hội là gì? Dĩ nhiên Giáo Hội là những con người, có nghĩa là chúng ta làm nên Giáo Hội. Nếu chúng ta là Giáo Hội thì Giáo Hội không phải là của chúng ta. Chúng ta không thể nào là một sở hữu của chính mình; chúng ta là của Thiên Chúa. Giáo Hội là một sở hữu của Thiên Chúa, chứ không phải là của chúng ta. Nếu chúng ta thực sự hiểu và tin như thế thì chúng ta hẳn vừa kính trọng vừa hy vọng đối với Giáo Hội: Kính trọng, vì nếu Giáo Hội là của Thiên Chúa, thì Giáo Hội không phải là một tổ chức vô nghĩa; và hy vọng, vì  nếu Giáo Hội là của Thiên Chúa, thì cả tương lai lẫn cùng đích của Giáo Hội không nằm trong tay của chúng ta. Đức Cha Helder Camara từng là Tổng Giám mục giáo phận Olinda và Recife ở miền đông bắc Brazil từ 1964 đến 1985. Với tư cách là chủ chăn trên một vùng nông thôn rộng lớn và nghèo xơ nghèo xác, ngài trở nên phát ngôn viên cho người dân ở mọi nơi, những người cùng chia sẻ niềm xác tin của ngài về sự thật, công lý và tự do chống lại mọi hình thức áp bức. Trong những chuyến công du của ngài tại Âu Châu, ngài trả lời cho rất nhiều câu hỏi, mà có những câu phản ánh một sự kính trọng và hy vọng đối với Giáo Hội ít hơn là thái độ của ngài. Khi trả lời một trong những câu như thế, ngài công nhận rằng “Giáo Hội không phải lúc nào cũng dễ thương và tinh tuyền, can đảm và thành thật, như là đáng lẽ phải như vậy”. Ngài bảo rằng khi thiết lập Giáo Hội, Chúa đã mặc lấy sự yếu hèn của con người, nhưng qua lời hứa không bao giờ bỏ rơi Giáo Hội, Ngài đã ban cho Giáo Hội một sức mạnh đặc biệt. Ngài nói: “Tôi là một giám mục già, và tôi đủ tự tin để yêu cầu các bạn đừng bao giờ chịu thua những yếu hèn, những thỏa hiệp, thậm chí những gian trá của Giáo Hội, nghĩa là không bao giờ thất vọng đối với Thần Khí của Chúa, Đấng không bao giờ ngưng ở lại trong Giáo Hội”. Giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ cố gắng nhớ và giúp đỡ anh chị em mình nhớ rằng Giáo Hội là của Ai.

Có lẽ nói như thế là đủ rồi. Tôi đã không nói gì về cầu nguyện hay học hỏi Kinh Thánh hoặc việc bác ái hay đi nhà thờ. Tôi cho rằng những việc đó là đương nhiên. Tôi cho rằng ai trung thành với Giáo Hội thì đương nhiên sẽ cầu nguyện,  làm việc bác ái và tham gia phụng vụ. Tôi mong rằng mọi giáo xứ đều có nhiều giáo dân trung thành với giao ước của họ qua phép rửa và với lời hứa của một tín hữu trong Giáo Hội. Nhưng tôi cũng mong rằng mỗi giáo xứ đều có một vài Giáo Dân Lãnh Đạo có lòng thông cảm và những đức tính nêu trên. Tôi sẽ không bao giờ là một Giáo Dân Lãnh Đạo, nhưng giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo, tôi sẽ cố gắng trở thành một nhà lãnh đạo như thế...

Nếu bạn chưa phải là một Giáo Dân Lãnh Đạo giống như tôi mô tả, tôi nguyện cầu cho bạn trở nên một nhà lãnh đạo như thế!

Trở về mục lục >>

 CẦU NGUYỆN

 

SỨC MẠNH CỦA CẦU NGUYỆN

Hoàng Quý -

viết theo Jeffery L. Sheler

Cho người hiền hòa và người quyền quý, thánh nhân và tên vô lại, một thôi thúc quyết liệt là hãy tiếp xúc với một Đấng cao cả hơn.

Tuần báo US News & World Report, số đặc biệt Giáng Sinh 2004 đã viết về chủ đề Cầu Nguyện. Trước khi đi vào nội dung của bài viết, chúng tôi xin giới thiệu bản thăm dò ý kiến về cầu nguyện mới nhất (polling prayers) cũng của tuần báo này, một trong những tuần báo nổi tiếng của Hoa Kỳ.

 

Một số người cầu nguyện khi quỳ gối, một số khác lại lần chuỗi. Một số quỳ gối nơi thánh đường, số khác lại cầu nguyện ở bất cứ nơi đâu. Dưới bất cứ hình thức nào, cầu nguyện trở thành phần chính yếu của đa số các tôn giáo trên thế giới qua các thời đại. U.S.News đã thiết lập một Trang nhà lấy tên là Beliefnet (mạng lưới niềm tin) dùng để  khảo sát về tại sao, thế nào, khi nào, và nơi đâu người ta thường dành thời giờ cho hành động trọng yếu này. Sau đây là bản tổng lược của hơn 6.500 câu trả lời cho cuộc khảo sát.

75.6 phần trăm những người trả lời là Kitô hữu.

64 phần trăm trả lời họ cầu nguyện mỗi ngày nhiều hơn một lần.

65.1 phần trăm nói rằng khi lời cầu nguyện của họ liên quan đến sức khỏe, họ cầu nguyện cho sức khỏe tâm trí hoặc bị buồn phiền, chán nản.

56 phần trăm nói rằng họ thường cầu nguyện nhiều nhất cho các phần tử trong gia đình.

3.3 phần trăm nói rằng họ cầu nguyện cho các người xa lạ.

38.3 phần trăm cho rằng mục tiêu quan trọng nhất của cầu nguyện là kết hiệp thân tình với Thiên Chúa.

41.2 phần trăm nói rằng các lời cầu nguyện của họ được trả lời.

1.5 phần trăm nói rằng các lời cầu nguyện của họ không bao giờ được đáp ứng.

73.9 phần trăm cho rằng khi lời cầu nguyện của họ không được trả lời, lý do quan trọng nhất là vì những lời cầu xin đó không phù hợp với chương trình của Chúa.

5.1 phần trăm nói rằng họ thường cầu nguyện trong các nơi thờ phượng.

79.4 phần trăm nói rằng họ thường cầu nguyện ở nhà nhất.

67 phần trăm nói rằng trong sáu tháng qua, các lời cầu nguyện của họ liên quan tới việc tạ ơn Chúa trong mọi lúc.

Trở lại với đề tài của bài viết, tác giả quan sát thấy một người đàn ông xỏ bông tai và xâm mình đang lặng lẽ cúi đầu tại quầy ăn trưa ồn ào. Một em bé trong bộ đồ ngủ hồng đang quỳ gối bên cạnh giường và đọc kinh quen thuộc. Một cầu thủ túc cầu làm dấu Thánh Giá khi bước lên lãnh giải trong chương trình truyền hình quốc gia. Một phụ nữ tóc trắng thắp đèn cầy và im lặng khóc thương người chồng đang hấp hối. Một giáo sĩ mặc phẩm phục đen đang cầu nguyện cho hoà bình trên trái đất và cộng đoàn cùng đồng thanh đáp lại, "Amen."

Cầu nguyện đã trở thành một lãnh địa quen thuộc tại Hoa Kỳ, một quốc gia tiên tiến nhất nhân loại. Cầu nguyện đã được đan dệt bằng các nhịp đập của cuộc sống, các đặc tính của cầu nguyện đã tác động trên các kinh nghiệm riêng tư cũng như công cộng của hàng triệu người. Thật vậy, theo cuộc thăm dò mới đây của Roper, hầu như một nửa người Hoa Kỳ nói rằng họ cầu nguyện hoặc suy niệm hàng ngày - nhiều hơn nhiều những người thường tham dự các nghi lễ tôn giáo.

Đã hàng bao thế kỷ, những người thực hành cầu nguyện, bao gồm cả thánh nhân cũng như hạng vô lại, người đa nghi cũng như người tin tưởng, người hiền hòa cũng như kẻ quyền quý - mọi dân tộc thuộc mọi niềm tin và văn hóa và thuộc mọi hoàn cảnh sống, hoặc với niềm tin thành kính hoặc với nỗi sợ hãi bạc nhược, đều đã tiến tới một thực tại cao cả hơn chính họ, đó là cầu nguyện.

Cầu nguyện được gọi là "ngôn ngữ bẩm sinh" của tâm hồn - một diễn đạt phổ thông của một ao ước bẩm sinh của con người muốn tiếp xúc với thần linh. Thánh Têrêsa thành Avila, một nhà thần bí thế kỷ thứ mười sáu đã diễn tả cầu nguyện thật thâm sâu như "một tình bạn thân mật, một lần trò truyện thân tình một mình với Người Yêu." Một câu ngạn ngữ Hồi giáo xác định rằng cầu nguyện và là tín đồ Hồi giáo đồng nghĩa với nhau. Và trong Ấn độ giáo, say mê cầu nguyện được coi như đang trên đường tiến đến tình trạng ngây ngất.

James P. Moore trong cuốn "One Nation Under God: The History of Prayer in America" đã diễn tả: "Đã từ lâu trước khi Môsê vượt qua Biển Đỏ, trước khi Đức Phật chỉ dậy con đường tiến tới Niết Bàn, trước khi Chúa Giêsu chết trên thập giá và trước khi Môhamét biểu lộ sứ điệp trong kinh Koran, đã có cầu nguyện rồi."

Những đối thoại thân mật

Gác qua một bên những nguồn gốc xác thực về bản chất của cầu nguyện, từ lâu cầu nguyện đã có những đường nét thật uyên áo của mỗi tôn giáo sống động. Trong Do Thái giáo và Kitô giáo, cầu nguyện đã đâm rễ sâu từ những hiểu biết Kinh Thánh về Thiên Chúa như một nhân vật đang nghe và trả lời cho Dân của Ngài. Những lời cầu nguyện đầu tiên trong Kinh Thánh là những lời đối thoại thật thân tình: Ađam đàm đạo với Chúa "trong một ngày mát mẻ" trong Vườn Địa đàng; tổ phụ Abraham bạo dạn diễn đạt niềm bối rối của ông về lời Chúa hứa cho ông trở thành người cha của một dân tộc vĩ đại, "Chúa ơi, Ngài sẽ ban cho con điều gì, vì con vẫn tiếp tục là kẻ chưa sinh con cái?; Môsê kinh hãi trước lời phán ra "Có Ta đây" từ bụi gai bốc cháy và sau đó ông tuân hành tiếng gọi của Thiên Chúa để dẫn dắt dân Do Thái vượt thoát khỏi ác nô lệ Ai Cập.

Trong Tân Ước, Chúa Giêsu được phác họa như một bậc tôn sư, một tấm gương của cầu nguyện.Trong lúc Ngài vẫn tuân thủ các phong tục truyền thống của người Do Thái về cầu nguyện trong Đền thờ và các hội đường, Ngài cũng thường xuyên cầu nguyện thân mật trong những cơ hội quan trọng khác: lúc nhận Phép Rửa, khi gọi kêu gọi các môn đồ, trong vườn Cây Dầu, và trên cây thập giá. Ngài chỉ dậy các ai theo Ngài hãy tránh lối cầu nguyện phô trương, "Hãy coi chừng thực hành việc đạo đức trước mặt người khác để họ xem thấy", cầu nguyện một cách tín thác "Hãy xin, anh em sẽ được", và hãy nguyện ước Ý Chúa lên trên ý của riêng mình, "Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện".

Trong Hồi giáo, cầu nguyện được coi trên hết là hành động tôn thờ ăn sâu vào đời sống thường ngày qua salat, một nghi thức cầu nguyện được đọc mỗi ngày năm lần  hướng về Mecca. Những lời cầu nguyện khẩn xin cá nhân gọi là du'a, được coi như hạng thứ. Tương tự thế, trong Ấn Độ giáo những lời cầu nguyện phụng tự  thường nhấn mạnh vào các lời xin ơn cá nhân và giải thích kinh Vệ Đà. Và trong một số giáo phái Phật giáo, nhiều lời cầu nguyện của tu viện được thực hiện sáng, trưa, tối theo tiếng mõ.

Kitô giáo cũng có những truyền thống cầu nguyện vào một giờ cố định trong một số tu viện hoặc tu hội của Công giáo, Anh giáo, Chính Thống giáo. Các tín hữu thời sơ khai có thói quen đọc kinh Lạy Cha ngày ba lần. Họ cũng theo gương Đức Giêsu giữ phong tục của người Do Thái cầu nguyện trước các bữa ăn.

Dầu cho những dáng vẻ bề ngoài các ngành Kitô giáo giống nhau, nhưng một số những khác biệt lịch sử cũng đã biểu lộ ra những bất đồng tôn giáo không tương dung với nhau lại được. Tuy nhiên Moore diễn đạt, "trong lúc giáo lý, nghi lễ, và lịch sử tôn giáo đã chia lìa nhau, thì cầu nguyện luôn luôn có sức mạnh nối kết nhau." Và không gì thể hiện hiển nhiên hơn tại Vương cung Thánh đường Quốc gia Washington, tại Vận động trường Yankee và tại hàng trăm các ngôi nhà thờ phượng khắp quốc gia, các Kitô hữu, Do Thái và Hồi giáo cùng quy tụ nhau cầu nguyện sau ngày đại nạn 9/11. Moore diễn tả tiếp, "Trong khi cơn bi thảm, đau khổ và mất niềm tin đã đem những sắc dân khác nhau xích lại gần nhau trong những ngày thảm thương này, thì cầu nguyện, được phối kết với tinh thần ái quốc, đã hướng tầm nhìn của quốc gia lên cao cả hơn và đã giúp người Hoa Kỳ một lần nữa nhận biết mối giây liên kết với Thiên Chúa và với nhau nhiều hơn."

Hăng say cầu nguyện như người Hoa Kỳ, nhưng nhiều người vẫn phải vật lộn với câu hỏi nhức nhối: Tại sao lại có những lời cầu nguyện được đáp ứng trong khi nhiều lời cầu nguyện khác lại không được trả lời? Nếu cầu nguyện là một lần đối thại, tâm sự, tại sao Thiên Chúa vẫn im lặng? C.S. Lewis, nhà tu đức nổi danh thế kỷ 20 bảo chúng ta hãy đi vào cầu nguyện vì nơi đây "Thiên Chúa tỏ lộ Ngài cho chúng ta." Chính Chúa Giêsu trong Vườn Cây Dầu cũng đã cầu nguyện, "Xin Cha cất cho con khỏi chén đắng này," nhưng cũng không được chấp thuận. Và nhà tu đức đề nghị chúng ta đừng dùng cầu nguyện như một thứ mánh lới, một trao đổi. Hãy thành tâm đến đàm đạo với Thiên Chúa và Ngài là người cha đầy yêu thương và khôn ngoan, Ngài biết phải đáp ứng cho con cái thân yêu của Ngài như thế nào. Tình yêu và sự khôn ngoan của Ngài vượt quá tình yêu và khôn ngoan nhỏ bé cũng như thiển cận của chúng ta.

Sức mạnh của cầu nguyện không hệ tại lời cầu nguyện của chúng ta được trả lời, bằng cầu nguyện nâng chúng ta lên phía cao cả, an bình và trong sáng mà giầu sang, danh lợi và uy quyền trần gian không thể cung cấp cho chúng ta được như thế

Trở về mục lục >>

 TIN VUI GIÁO HỘI

ĐẠI HỘI GIÁO LÝ LOS ANGELES

và ĐỨC TÂN TỔNG GIÁM MỤC HÀ NỘI.

Tham dự viên ĐHGL

            Đại Hội Giáo Lý – Religious Education Congress 2005

“Tỉnh Thức Để Đón Nhận Ân Sủng”, đó là chủ đề chính của Đại Hội Giáo Lý (ĐHGL) do Tổng Giáo Phận Los Angeles tổ chức lần thứ 37 tại Anaheim Convention Center, Orange County, California. Nhiều kinh nghiệm, kỷ niệm lý thú và bổ ích cho những tham dự viên được trở về đây hàng năm, và lần này là lần thứ 37, có nghĩa là ĐHGL này đã được hình thành 37 năm qua, một sinh hoạt đặc biệt về tôn giáo không chỉ dành riêng cho những người ở tại Los Angeles, hoặc Orange County nhưng là cho các tham dự viên từ khắp nơi trên thế giới tụ về trong một cuối tuần để học hỏi, đào sâu giáo lý, đức tin. Hằng năm, khoảng chừng hơn 200 diễn giả gồm các thần học gia, chuyên gia được Ban Tổ Chức mời đến để trình bày các đề tài về giáo lý, thánh nhạc, phụng vụ, gia đình… Và năm nay theo lời của Sister Edith Prendergast, RSC, giám đốc Văn Phòng Giáo Lý và Đại Hội công bố thì có hơn 38,500 tham dự viên từ 15 quốc gia trên thế giới đã đến trong cuối tuần qua để học hỏi và tham dự các sinh hoạt, gồm có các buổi hoà nhạc, chầu thánh thể, cầu nguyện Taizé, thánh lễ giới trẻ…Tuy ĐHGL đã có mặt 37 năm qua nhưng các sinh hoạt và các buổi hội thảo dành cho nguời Việt thì mới chỉ có khoảng chừng 10 năm trở lại đây. Linh Mục Giáo Sư Tiến Sĩ Phêrô Phan Đình Cho là vị diễn giả duy nhất được vinh dự được mời giảng dạy và thuyết trình tại ĐHGL này liên tục trong hơn 10 năm qua, gần đây Sư Huynh Trần Trọng An Phong, dòng La San cũng được mời đến liên tục trong khoảng vài năm gần đây. Các diễn giả  khác đuợc mời trước đây, trong đó phải kể đến Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Đức Giám Mục Phụ Tá Vũ Duy Thống, linh mục tuyên úy Mục Vụ Giới Trẻ Sài Gòn Nguyễn Văn Hiền, linh mục Đào Quang Chính, giám đốc văn phòng Mục Vụ và Di dân thuộc Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ…Năm nay, người Việt tại hải ngoại được đón tiếp Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, giám mục giáo phận Lạng Sơn, giám quản tông tòa Hà nội đến trình bày 2 buổi hội thảo tại Đại Hội.

Ân Sủng và Thánh Thể.

Những ngày mưa dầm dề hiếm hoi ở California bỗng xuất hiện trong lúc thành phố Anaheim đón chào những vị khách từ phương xa. Vài trăm bạn trẻ từ San Jose đi cùng xe về Nam Cali, niềm vui dâng trào vì được về tụ họp trong một cuối tuần với nhiều bất ngờ, thú vị. Chủ đề về Ân Sủng đã được Linh mục Phan Đình Cho trình bày phong phú trong hai bài hội thảo Anh và Việt ngữ vào sáng thứ sáu 18 tháng 2. Cha đã trình bày về sự liên đới của Social Sin và Social Grace (tội xã hội và ân sủng cộng đồng). Ngoài rất đông các tham dự viên giáo dân Việt Nam và ngoại quốc, còn có một số các nam nữ tu sĩ, linh mục Việt Nam đến học hỏi. Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt cùng linh mục Nguyễn Văn Diễm, giáo sư Đại Chủng Viện Hà Nội tháp tùng Đc Giuse trong chuyến đi cũng là những tham dự viên trong buổi hội thảo Anh ngữ này. Sáng thứ bảy, Đức cha Giuse đã dành thì giờ đến tham dự buổi nói chuyện chuyên đề của ĐHGL do Đức Giám Mục Donald Trautman trình bày tại Đại Sảnh Đường chính (Arena) về đề tài Thánh Thể và Đời Sống của Người Tín Hữu. Vào chiều ngày thứ bảy, trong hội truờng không còn một ghế trống, Đức cha Giuse triển khai đề tài của Đại Hội trong bối cảnh của Năm Thánh Thể bằng cách dựa trên cảm nghiệm cá nhân của ngài: Kinh nghiệm về Thánh Thể và việc Truyền Giáo tại Lạng Sơn.

Tân Tổng Giám Mục Hà Nội

Trước khi Đức cha Giuse chính thức bắt đầu thuyết trình, đại diện Ban Tổ Chức giới thiệu diễn giả với một tin vui bất ngờ… “Đây là lần cuối cùng Đức Cha Giuse đến giảng thuyết ở một Đại Hội với tư cách là Giám Mục Lạng Sơn, vì ngài vừa được tin tòa thánh thông báo rằng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã chính thức bổ nhiệm ngài vào chức vụ Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Hà Nội…” Hội trường như lặng đi rồi nỗi hân hoan ùa vỡ vì tin vui bất ngờ đó. Tin chính thức đầu tiên được loan đi, công bố ở nơi một Đại Hội Giáo Lý xa nhà, như ý chỉ trong bài chia sẻ, “vị giám mục không nhà…” Và giờ đây, khi tin vui được loan báo cho mọi người hiện diện, vị Tân Tổng Giám Mục bước lên bục giảng không mão áo đại triều, không vương trượng quyền bính, mà đơn sơ bình dị trong chiếc áo đen thường ngày. Điều bất ngờ nhất không phải chỉ là câu chào của ngài khi người viết từng được bất ngờ khi nghe tiếng chào đơn sơ nhẹ nhàng qua điện thoại: “Hello, Kiệt đây!”, nhưng còn bất ngờ hơn nữa, khi nghe vị tân Tổng Giám Mục xưng ‘con’ với cử tọa trong khi trình bày chứng tích của mình qua hai buổi hội thảo cuối tuần này.

Hình như không ai trong hội trường thoáng nghĩ rằng một tân giám mục tự xưng ‘con’ như thế có phải lẽ không, nếu có, cũng là một bất ngờ thú vị và cảm phục vì sự khiêm nhu đặc biệt của vị tân tổng giám mục trẻ tuổi; điều làm cho mọi người đều bị cuốn hút vào một vùng vượt xa hơn lời nói, bởi vì qua phong cách và ngôn ngữ của vị tân tổng giám mục, ai ai cũng cảm thấy được sống và chứng kiến hình ảnh của Chúa Kitô quỳ xuống rửa chân môn đệ mình như một người tôi tớ muôn đời. Hơn thế nữa, sau khi lắng nghe những diễn giả khác và tiếp xúc với dân Chúa bên lề Đại Hội, vị Alter Christus này không cứng nhắc với những gì đã vạch sẵn, mà biết đón nhận, uyển chuyển cho phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu, con người, cộng đồng dân Chúa nơi mình được sai đến để phục vụ. Trong bài giảng của mình, đức cha đã trích dẫn từ các bài giảng của linh mục Phan Đình Cho: Ngài dùng nguyên văn Anh ngữ đã được nghe trong các bài thuyết trình: Social Grace là một bản chất (nature) chứ không phải là một điều gì khi cần thì chạy đến mà xin; và của Đức Giám Mục Trautman: (Eucharist) Bí Tích Thánh Thể đang tạo hình và biến hình (is forming and transforming) mỗi một người và toàn thể cộng đoàn dân Chúa. Chỉ vài hôm ngắn ngủi với những công việc và sinh hoạt dầy đặc của ĐHGL, vị tân Tổng Giám Mục đã để lại nhiều dấu ấn rất đẹp của sự khiêm nhu, cởi mở, biết lắng nghe và đón nhận ý kiến của người khác, dù đó là giáo dân, linh mục, tu sĩ, nam hay nữ. Những đức tính này hẳn là cần thiết cho vị mục tử của Tổng Giáo Phận Hà Nội sau bao nhiêu năm chiến tranh và hoàn cảnh tế nhị của đất nước và Giáo Hội, những đức tính quý báu của vị quan thầy Giuse của ngài.

Hướng đến ngày mai.

Trong thánh lễ đại trào bế mạc tại đại sảnh đường chính (Arena) với hơn vài chục ngàn người tham dự, nhiều linh mục và 11 giám mục từ Anh Quốc, Canada, Guatuamela và các giáo phận tại Hoa Kỳ, hòa với lời ca tiếng hát, điệu vũ của rất nhiều sắc dân trên thế giới tụ về Đại Hội. Cuối lễ, vị chủ lễ, Tổng Giám Mục Giáo Phận Los Angeles, Đức Hồng Y Mahony cám ơn các anh em linh mục, giám mục và giới thiệu tên từng vị giám mục; trong hân hoan, Đức Hồng Y Mahony đã thông báo và chúc mừng vị Tân Tổng Giám Mục Hà Nội, đức cha Giuse trẻ trung với nụ cười đứng lên vẫy tay chào cộng đồng dân Chúa, các tham dự viên Việt Nam chiều chúa nhật hôm ấy cùng với cả cầu trường vang dội tiếng vỗ tay chúc mừng và hoan hô… Không biết vì ưu ái ngài, hay vì ưu ái cộng đồng người Việt ở khắp nơi tuôn về (có lẽ là cả hai), nên Thánh Lễ chiều hôm ấy được dành chỗ cho phụng vụ tiếng Việt do một phụ nữ Việt Nam mặc áo dài với bài đọc 2 và bài hát dâng lễ bằng tiếng Việt hòa điệu trong tiếng sáo quê hương.

Thánh lễ kết thúc Đại Hội với những rộn ràng lễ lạc, mọi người lại trở về với cuộc sống và những bận rộn, bổn phận của mình mang theo niềm vui và đức tin vừa được hâm nóng. Vị tân giám mục Giuse cũng thế, sẽ sớm rời Hoa Kỳ để trở về Hà Nội nhận nhiệm sở và công việc mới của mình. Lại một con đường chưa ai vạch sẵn để hướng về ngày mai. Trong bài nói chuyện chiều thứ bảy, Ngài đã chia sẻ: khi đến Lạng sơn, thì cần tìm những con đường mới để đi, và những con đường đó trong rừng sâu núi cao với những con  người bình dị mộc mạc, đơn sơ; nhưng với nhiệm vụ mới thì cũng sẽ cần phải làm những con đường, nhưng là những con đường trong lòng con người… cũng như khi trình bày về các quan hệ, ngài đã cho biết, sự tôn trọng, đối thoại và yêu thương là những điều cần thiết cho các mối quan hệ, dù bất cứ với ai.

Ưu tư của vị tổng giám mục trẻ tuổi được chia sẻ trong buổi nói chuyện và khiêm tốn xin cộng đoàn dân Chúa thêm lời cầu nguyện cho trong nhiệm vụ mới đã được mọi người hiệp thông ngay sau bài nói chuyện trong bài hát dâng kính Đức Mẹ. Ngoài sự phù trợ của Thánh Quan Thầy Giuse và bạn đời của Thánh Giuse là Đức Mẹ, chắc chắn rồi ngài sẽ rất cần đến những tấm lòng mở ra để tiếp tay trong nhiệm vụ mới xây dựng và chuẩn bị cho mùa gặt bội thu trong tương lai.

Xin ngợi khen và tạ ơn Chúa cho Giáo Hội và quê hương Việt Nam yêu dấu, xin chúc mừng Tổng Giáo Phận Hà Nội và xin gửi đến tân Tổng Giám mục lời cảm ơn chân thành vì đã đến với Đại Hội và chia sẻ đức tin cùng những chứng từ quý báu qua những ngày đại hội để lòng tin yêu Chúa của dân Chúa được tràn đầy hơn, để ước mong được cống hiến và phục vụ nhiều hơn

Xin vào trang www.RECongress.org để tìm hiểu thêm về ĐHGL.

Trở về mục lục >>

NHỚ NHỮNG LẦN GẶP GỠ VỚI

ĐỨC TÂN TỔNG GIÁM MỤC GIUSE NGÔ QUANG KIỆT

Kim Lệ 

Những ngày vừa qua, trên phương tiện truyền thông của các báo, đài trong nước cũng như ở hải ngoại đã đưa tin vui về Đức Tân Tổng Giám Mục Hà Nội Giuse Ngô Quang Kiệt. Vừa qua Tuần Báo CG&DT cũng có đăng những cảm nghĩ của các vị Giám Mục từng sống và làm việc với Đức Tân Tổng Giám Mục, nhiều cảm nghĩ rất sâu sắc và chính xác về tin vui nầy. Tôi cũng muốn ghi lại những kỷ niệm khó quên về những lần được gặp gỡ ngài từ khi ngài bắt đầu nhận sứ mệnh cai quản Giáo Phận Lạng Sơn xa xôi với thật nhiều khó khăn, thử thách …

Còn nhớ cách đây khoảng 6 năm khi ngài vừa được Tấn Phong Giám Mục vào ngày Lễ Hai Đấng Tông Đồ 29.06.1999.  Không bao lâu sau, ngài chuyển từ Miền Nam ra Lạng Sơn vào ngày 11.07.1999 để mở đầu những tháng ngày hy sinh, vất vả cho mảnh đất Cao Bằng-Lạng Sơn bằng tất cả lòng nhiệt thành của một vị chủ chiên nhân lành trước một giáo phận theo cách nói dí dỏm của Đức Hồng Y G.B Phạm Minh Mẫn là:  Ba Không; 1. Không Linh Mục, 2. Không Giáo Dân, 3. Không Dòng Tu.

Dạo đó, tôi vẫn âm thầm theo dõi hoạt động của Đức Cha Kiệt qua báo CG&DT, tờ báo duy nhất của người Công Giáo tại Việt Nam vẫn thường đưa tin về Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt với những hình ảnh Đức Cha đang tập hát cho ca đoàn hoặc dạy Giáo Lý hay đi dâng lễ Misa cách mấy chục cây số đường đèo núi vv…vv… tất cả những điều đó khiến tôi, một nghệ sĩ Công Giáo không khỏi không đem lòng ngưỡng mộ ngài với sự kính trọng nhất mà tôi đã dành cho ngài, làm gì để bày tỏ tấm lòng của mình bây giờ đây nhỉ ? tôi cứ phân vân, suy nghĩ mãi… cho đến những ngày chuẩn bị đón xuân năm 2000, mùa xuân Thiên Niên Kỷ, chào Thế Kỷ 21. Lúc ấy, tôi được chọn để thay mặt các nghệ sĩ trong chương trình Tiếng Thơ chúc Tết thính giả nghe Đài trong đêm Giao Thừa Thiên Niên Kỷ với bài thơ: “Xuân” do tôi sáng tác. Với những câu kết:

“Nâng ly mừng xuân tới

   Giao thừa cất giọng ngâm

   Chợt qua làn hương khói

   Nghe tiếng xuân thì thầm.”

Tôi đã viết bài thơ đó bằng nét thư bút của mình gửi đến ngài, kèm theo lời cầu chúc chân thành của một con chiên ngưỡng mộ vị chủ chăn chưa quen biết và nghĩ rằng: “ Ít ra, bằng cách thức nhỏ bé nầy cũng phần nào chia sẻ những vất vã, hy sinh vì Nước Chúa của ngài. “  và đến gần giờ Giao Thừa năm ấy, tôi đã gọi phone từ Sài Gòn ra Lạng Sơn để chúc mừng năm mới Đức Cha, cũng chỉ là để có thêm một chút ấm áp trong giờ đón giao thừa đầu tiên xa Miền Nam, xa vùng đồng bằng sông nước mà ngài đã sống mấy chục năm… Hơi hồi hộp trong lúc tiếng chuông điện thoại đầu giây bên kia đổ mấy tiếng… “ Alô! Kiệt đây ! “ Ôi! giọng nói của ngài tôi chỉ mới nghe lần đầu tiên mà sao cảm thấy gần gũi lạ lùng! “ Thưa Đức Cha, con là Kim Lệ….“ Chưa nói hết để giới thiệu mình, thì ngài đã nói như reo lên “Ô ! chào Kim Lệ, giao thừa rồi muốn nghe ngâm thơ có được không?” Vậy đó, rồi cha con nói chuyện…. Thì ra ngài cũng đã biết tôi từ lâu rồi, đã xem tôi ngâm thơ khi ngài còn chưa là Giám Mục, ngài nói: “Lúc đó Kim Lệ đâu biết mình là ai …” vậy là khoảng cách ban đầu đã không còn nữa.

Hai năm sau, tôi có dịp ra Hải Phòng để hát và ngâm thơ trong Lễ Tấn Phong Giám Mục Hải Phòng 02.01.2002 lúc ấy cha con mới có dịp gặp nhau và hôm ấy sau lễ, tôi đã cùng đoàn dự lễ từ Miền Nam ra thẳng Lạng Sơn để thăm Đức Cha Kiệt, hầu như đoàn nào cũng muốn ra tham quan Lạng Sơn để nhìn xem những biến đổi kỳ diệu ở đó. Còn nhớ vào mùa đó trời Lạng Sơn lạnh lắm! chỉ còn khoảng 6 độ C, tôi đã ngồi nhặt rau đắng gần cả giờ đồng hồ với “cô Mến” người nữ tu hơn 100 tuổi nổi tiếng đến khi hai tay lạnh cóng không còn cảm giác mới thôi. Món rau đắng luộc để nhớ Miền Nam của Đức Cha Kiệt hôm ấy có công của tôi…

Những ngày thăm Lạng Sơn năm ấy đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm khó quên, buổi sáng chia tay với Đức Cha Kiệt và các cha ở Toà Giám Mục Lạng Sơn tôi đã hát tặng các ngài bài hát mà tôi thích nhất của cố Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Lặng Lẽ Nơi Nầy” và ngài cũng đã hát tặng lại tôi bài hát mà Linh mục – Nhạc sĩ Xuân Thảo phổ nhạc từ Kinh Hoà Bình của Thánh Phanxicô, ngài nói lâu lắm rồi ngài không có hát … và tôi cũng thật hạnh phúc khi được nghe tiếng hát không thua gì ca sĩ của ngài. Thỉnh thoảng sau nầy tôi vẫn được gặp ngài có khi ở Sài Gòn, có khi ở Đà Lạt và gần đây nhất là Lễ Khánh Thành Nhà Thờ Chính Toà Lạng Sơn tháng 10.2004 vừa qua tôi đã được ngài gọi ra để hát Solo trong Thánh Lễ Đồng Tế với ca đoàn hơn 200 người.

Nét đặc biệt của Đức Tân Tổng Giám Mục Hà Nội Giuse Ngô Quang Kiệt là ngài rất gần gũi với mọi người, tôi nhớ những ngày ở Lạng Sơn dù rất bận rộn vì công việc nhưng sau khi dâng Thánh Lễ sáng xong, ngài vẫn đứng cuối sân nhà thờ để thăm hỏi từng người một cách rất ân cần, bữa cơm của ngài luôn ngắt quãng vì ngài thường xuyên đi chào hỏi mọi người… Buổi tối 7giờ 30 cơm nước xong, ngài lại vội vã lên xe để đi dâng lễ cách đó mấy chục cây số mãi đến gần 10 giờ đêm mới về và dù bao lâu không gặp, ngài vẫn nhận ra ngay giọng nói của tôi qua điện thoại… điều đó làm cho không chỉ tôi mà những ai đến với ngài đều không cảm thấy khoảng cách.

Một vị Giám Mục ở vùng cao là vậy đó! bao việc phải làm, bao ưu tư để làm sao cho Giáo phận của mình được thăng tiến nhưng vẫn thật nhẹ nhàng, thật chu đáo, thật gần gũi với tất cả những ai đến với ngài.

Xin được cầu chúc Đức Tân Tổng Giám Mục trong sứ vụ mới, luôn luôn là hình ảnh thân thương trong ánh mắt của mọi người.

Trở về mục lục >>

 

CHIA SẺ

TÂM SỰ VỚI CÔ CON DÂU CỨNG ĐẦU LTCT

Khổng Nhuận

LTCT thân mến,

Nhân dịp mùa chay mà đọc bài “Chia sẻ - trò chơi Kinh Thánh của “cô con dâu cứng đầu LTCT với một bà già chồng khó tính” trên Maranatha số 36 thì quả là thú vị.

Đầu tiên là “lâu lâu cứ phải dòm chừng cái chân nếu không nó lại tự động trở về vị trí cũ rất hợp với tinh thần mùa chay. Đây là bước đầu tiên trong quá trình cởi bỏ con người cũ. Đặc điểm của con người cũ là rất khoái trở về vị trí cũ - như con ngựa bất kham luôn muốn quay lại lối mòn thói quen muôn thủa. Vì thế, chúng ta lâu lâu phải dòm chừng kẻo con người cũ lại trở về với lối sống xưa của mình.

Tiếp theo là cảm giác vừa ngao ngán vừa khó chịu vì con người cũ không còn được thể hiện theo ý thích của mình nữa. Chính vì vậy mà cô con dâu LTCT thở dài ngao ngán, theo Chúa chua quá!  Mình không còn là mình nữa, Mình ở đây chính là tiếng nói xác thịt của con người cũ luôn luôn giành quyền làm vua, làm chủ, luôn tìm cách khẳng định con người mình. Có lẽ đây là lần đầu tiên LTCT ý thức rõ rệt và mãnh liệt nỗi đau đớn của lần lột da con người cũ của chính mình - một chút rướm máu, một chút cay đắng, một chút ngao ngán và chua chát…Nhưng yên trí đi cô con dâu ngang bướng và cứng đầu, nếu cứ tiếp tục cá nhân hoá Lời Chúa như thế trong một thời gian nữa, bảo đảm LTCT còn khám phá ra nhiều điều thú vị hấp dẫn hơn nhiều. Một khi Mình càng không còn là mình thì cái Mình ấy càng trở nên giống Chúa hơn. Bằng chứng là LTCT cười thầm trong lòng khi thấy tự dưng mình hiền như con chi chi và nhẫn nhục chịu đựng quá!  Đây chính là bước chập chững đầu tiên LTCT đã thực hiện lời Đức Giêsu đã dạy: Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng (Mt 11:29) Tâm hồn bỗng trở nên hiền như con chi chi, lúc đó trong chua chát đã pha mùi ngọt ngào, và đây có lẽ cũng là lần đầu tiên LTCT nếm thử và nhìn coi cho biết Chúa thiện hảo biết bao!!

LTCT tiếp tục tâm sự với Chúa: nếu con đọc không được thì xin giữ đâu đó trong đầu con để lúc cần thì Chúa nhắc con, đúng như tác giả nói, con có suốt cả đời để đọc, đọc đi đọc lại cho đến khi con về với Chúa!  Đến lúc đó con không nhận ra con là ai nữa!

Đúng rồi, chúng ta có suốt đời để đọc nhưng không cần phải chờ dài cổ cho đến khi chúng ta về với Chúa đâu, như thế thì lâu quá và dễ nản chí lắm! Nếu chúng ta kiên trì, quyết tâm thực hiện việc cá nhân hoá Lời Chúa  mỗi ngày thì thời gian ta không nhận ra ta là ai nữa – vì con người cũ dần dần chuyển biến thành con người mới - sẽ xảy ra ngay tại trần gian này. Có thể 1,2,3.. năm tùy sức gõ của mỗi người để cửa có thể mở ra. Việc NGỘ này sẽ xảy ra ngay khi chúng ta vẫn còn sống trên trái đất, để hưởng bình an và hoan lạc trong Thành Thần giữa thế giới đầy bát nháo này.

Cuối cùng, LTCT chận đầu trước với Chúa: Hôm nay con đọc được câu này và chỉ tới đây thôi, còn ngày mai, ngày mốt, chắc chắn phải có ơn Chúa con mới đủ can đảm đọc tiếp được. Yên trí đi, ơn Chúa tràn ngập trong ta, LTCT quên rồi sao? Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ (2Tm 1:7)

Nếu mỗi ngày nhiều lần, chúng ta thỏ thẻ với Chúa: Chúa à, con xác tín rằng Thần Khí Thiên Chúa đang tràn ngập trong con và là nguồn sức mạnh vô biên giúp con tương đối dễ dàng cởi bỏ con người cũ của mình để mặc lấy con người mới theo hình ảnh của Thiên Chúa. Có thể lúc đầu chúng ta chưa thấy gì hoặc mới thấy sơ sơ, nhưng dần dần, chúng ta càng cảm nghiệm được sức mạnh của Thần Khí Thiên Chúa. Bắt đầu là những con sóng lăn tăn nhưng sau đó càng lớn dần đến khi trở thành cơn sóng thần càn quét con người cũ một cách không thương tiếc. Lúc đó thay vì ngao ngán, chua chát, ta lại  cảm thấy phấn khởi, ngọt ngào. Cuối cùng ta chợt khám phá ra rằng: theo Chúa không còn là gánh nặng, trái lại ta sẽ cảm nghiệm được niềm bình an, hoan lạc thực sự một cách rất tự nhiên không một chút gượng ép.

Theo bài viết “Làm cách nào để mặc con người mới” trong Maranatha số 36, thì rõ ràng LTCT đang thực hiện gợi ý thứ nhất: Đọc Kinh Thánh từ từ, cá nhân hoá và nội tâm hóa để Lời Chúa ngày càng thấm vào tâm. Còn gợi ý thứ hai mỗi tối, chúng ta xét mình xem trong ngày qua, chúng ta đã nhớ Chúa, sống với Chúa được mấy phút thì không biết cô con dâu này đã thực hiện chưa. Còn gợi ý thứ ba: Bạn tâm giao, hiện nay LTCT không chỉ có một bạn tâm giao đâu nhé, mà tới hàng ngàn bạn tâm giao với LTCT ngay trên tuần báo Maranatha này - bất kể tuổi tác – chúng ta là anh chị em con một Cha mà. Thích nhé! Vì vậy nếu có khám phá nào mới nữa, LTCT mau mắn chia sẻ trên báo Maranatha để các bạn tâm giao cùng rút kinh nghiệm, cùng nâng đỡ nhau giúp cho cuộc sống đạo của người Kitô hữu – người con yêu dấu của Cha - trọn vẹn hơn.

Trước khi dứt lời, mến chúc LTCT thì nhẫn nhục, LTCT thì hiền hậu LTCT thì đầy sức mạnh, LTCT thì yêu thương,LTCT thì tha thứ, LTCT thì tự chủ… để ngày càng nhận ra mình không còn là mình nữa. Đó chính là quá trình cởi bỏ con người cũ, mặc con người mới bắt đầu hình thành. Và mùa chay năm nay mới đích thực là mùa chay của cô con dâu cứng đầu theo lòng Chúa mong ước.

Trở về mục lục >>

 

 HẠT CÀ PHÊ

Maranatha dịch

Một cô gái đến gặp mẹ mình và than thở rằng cô gặp quá nhiều thử thách trong đời mình. Cô không biết phải chống đỡ thế nào với nghịch cảnh và muốn buông xuôi mọi sự. Cô quá mệt mỏi rối. Cứ giải quyết một vấn đề thì dường như một vấn đề khác lại nảy sinh.

Mẹ cô đưa cô xuống bếp. Bà đổ nước vào ba nồi. Trong nồi thứ nhất bà bỏ vào vài củ cà rốt, nồi thứ hai vài quả trứng, và nồi thứ ba vài hạt cà phê đã rang rồi. Bà đặt lên bếp nấu cho nước sôi mà không nói một lời. Sau khoảng 20 phút bà tắt bếp. Bà lấy cà rốt ra và đặt vào tô. Bà lấy trứng ra và đặt vào tô khác. Rồi bà rót cà phê vào cái tô thứ ba.

Bà quay lại hỏi con gái mình: “Con thấy gì trước mắt con?” – “Cà rốt, trứng và cà phê”. Bà đưa tô cà rốt cho cô gái cầm lấy. Cô cảm thấy rằng cà rốt rất mềm. Bà bảo con mình đập vỏ trứng ra. Sau khi lột vỏ, trứng đã đông cứng lại. Cuối cùng bà bảo con mình ngữi cà phê. Cô gái nói rằng nước đã có hương vị cà phê.

Cô gái bền hỏi: “Nhưng mẹ muốn nói gì vậy?”.

Bà mẹ giải thích rằng ba vật này đều gặp một nghịch cảnh giống nhau là nước sôi, nhưng phản ứng ba cách khác nhau. Thoạt đầu, cà rốt cứng, nhưng sau khi bị nước sôi tác động thì trở nên mềm nhũn. Trước đó, trứng là một chất lõng và phải được võ trứng che đậy. Nhưng sau một thời gian ở trong nước sôi, nó đã cứng lên. Tuy nhiên, hạt cà phê thì độc đáo nhất. Sau khi thông qua nước sôi, nó đã biến đổi nước.

Bà mỉm cười nói với con mình: “Con là cái gì nào? Khi nghịch cảnh xuất hiện con phản ứng thế nào. Con  là cà rốt, là trứng hay là hạt cà phê?”

Phải chăng tôi là cũ cà rốt, bình thường thì có vẻ cứng rắn, nhưng khi gặp nghịch cảnh, tôi trở nên mềm yếu mà mất hết sức lực? Phải chăng tôi là quả trứng, khởi đầu thì có một con tim dịu mềm, nhưng càng đối diện với thử thách thì càng trở nên cứng cõi. Phải chăng nhìn ngoài vỏ thì tôi vẫn như xưa, nhưng trong tôi, con tim đã xơ cứng rồi? Hay phải chăng tôi là hạt cà phê? Hạt cà phê đã thay đổi qua quá trình chịu đựng bao nhiêu hoàn cảnh khó khăn. Khi nước sôi lên, nó pha hương vị mình vào nước và làm cho nước đổi thay. Nếu bạn giống như hạt cà phê, khi mọi sự tồi tệ, thì bạn sẽ tốt hơn lên và thay đổi môi trường sống của bạn. Đối diện với những giờ phút cam go và thử thách, bạn có thăng tiến bản thân không và tác động tích cực vào môi trường sống của mình không? BẠN, chính bạn, phản ứng thế nào trước một nghịch cảnh? Bạn là Cà Rốt, là Quả Trứng, hay hạt Cà Phê?

http://www.waeb.com/foodforthought.html

Trở về mục lục >>

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC

THÔNG BÁO: Để thuận tiện cho việc nhận bài, kính xin quý cộng tác viên và các tác giả gửi bài vở cho MARANATHA về địa chỉ: maranatha.vietnam@gmail.com.

Các đóng góp, ý kiến xin gửi về địa chỉ: maranatha@saintly.com.  Kính cám ơn.

LTS: Trong tuần qua, Maranatha đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:

 Phạm Hùng Sơn – CVK,  Ca Đoàn MariaCecilia, Nguyễn Văn Nội, Nguyễn Hữu Dõng - Cơ Sở Thánh Gioan Tẩy Giả, Khổng Nhuận, Lm. Giuse Nguyễn Trường Xuân, CSsR,  Lm. Vũ Xuân Hạnh, Nguyễn Công Bình, Nguyễn Tâm Giao, Mai Khôi Bùi, Phạm Định, Sr. Maira Giuse Trần Thị Thông, Josephine Thu Cúc,…

 Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.

Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

Trân trọng, 

MARANATHA

Trở về mục lục >>

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong hai tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

  •         Kính xin Quý Báo gửi bài cho con chia sẻ, học hỏi, nguyện cầu…để con tập sống đức tin giữa đời…Con sẽ cầu nguyện cho quý báo được nhiều HỒNG ÂN CHÚA…Kính chúc quý báo luôn được sự dìu dắt của CHÚA THÁNH THẦN và sự trợ giúp của MẸ MARIA. Kính, maikhôibùi

  •          Thân ái kính chào quý vị, Tôi vừa nhận được từ một người bạn trong cộng đoàn số báo 36 ngày 19/02/05. Những bài đăng của quý vị thật là phong phú và hữu ích, có thể dùng để làm tài liệu để hướng dẫn các em trong việc phục vụ cộng đoàn và phụng vụ thánh lễ. Nếu được, xin Ban Biên Tập gởi đến địa chỉ của tôi những bài viết thật hữu ích như thế này trong những số báo tới. Xin chân thành cảm tạ. Phạm Định, California

  •      Vậy xin giúp hủy bỏ địa chỉ cũ, vì tôi đã đổi sang xứ mới, không còn ở “Nhà Thờ Boot” nữa. Xin cám  ơn.

  •          Mến chào Ban Biên Tập, MariaCecilia đã nhận được bài viết Maranatha gửi đến! Xin chân thành cám ơn Ban Biên Tập. Mến chúc Quý Vị thật nhiều sức khoẻ, và thật nhiều Ơn Phúc trong Mùa Chay Thánh Thể 2005! Mến chào, Mariacecilia. 

  •            Kính thưa Maranatha và ban biên tập! Nguyện Hồng Ân Chúa luôn ban ơn hồn xác cho quí vị ban biên tập báo Maranatha, một năm mới có nhiều tiếng GÀ GÁY đánh thức mọi người trở về và nhận ra tiếng Chúa, đáp trả lời Chúa kêu mời nơi Bí Tích Thánh Thể. Lần đầu tiên con được đọc báo này từ một người bạn bên Mỹ gửi cho. Con nghĩ đây là hồng ân, một tiếng Chúa mời gọi và thức tỉnh đem niềm vui đến cho mọi người. Mong ước cho con nhận được báo thường xuyên nhé. Xin chân thành cám ơn quí vị và ban biên tập. Kính xin, Sr. Maria Giuse Trần Thị Thông, Tu Viện Đa Minh - Thái Xuân, Long Khánh, Đồng Nai.

  •             Kính chào Quý vị, Lời đầu tiên xin gửi đến quý vị là lời cám ơn chân thành vì sự nhiệt tình của quý vị. Tôi đã nhận được thư hồi âm của quý vị, và trong vài ngày qua đã nhận được 2 số Maranatha 35 và 36 gửi về địa chỉ e-mail mới. Thể theo lời yêu cầu của quý vị tôi cũng xin được phép giới thiệu rất tổng quát về bản thân: Tôi là linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, đồng thời phụ trách việc dạy giáo lý dự tòng cho  người lớn tại giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.  Một lần nữa, xin chân thành cám ơn quý vị và kính chúc quý vị được tràn đầy Thánh Thần để luôn hăng say trong công việc làm sáng danh Chúa. Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho quý vị và công việc tốt đẹp của qúy vị. Lm. Giuse Nguyễn Trường Xuân, DCCT. 

  •          Xin cám ơn tuần báo MARANATHA. Nhờ một người bạn forward mà tôi được thưởng thức món ăn tinh thần rất hay và hữu ích cho đời sống đạo của tôi. Trong số này, xin được chia sẻ “nỗi niềm” của cô LCTC trong mục Trò Chơi Kinh Thánh. Quả thật, sống và tuân giữ Lời Chúa thì rất khó, phải cố gắng thắng được cái tôi mà trên hết là có lòng yêu mến Chúa mới thực hành được. Tôi rất thích bài viết của cô ấy vì ít nhiều tôi cũng thấy mình giống giống như vậy. Xin cám ơn và chúc Quý báo sẽ sống mạnh hơn nữa trong lòng người tín hữu. Josephine Thu Cúc (Việt Nam).

Trở về mục lục >>

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn