|
|
Số 37, Ngày 26-02-2005 Còn Tin Chúa Hay Không? - Lm. Vũ Xuân Hạnh Hai Thứ Tình Yêu – Hai Thứ Đạo Đức - Giao Duyên Nghèo Tiền Bạc và Nghèo Tấm Lòng - Trần Duy Nhiên Người Giáo Dân Trong Cộng Đồng Dân Chúa (tt) - Nguyễn Đăng Trúc Giả Như Tôi Là Một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo Xứ (tt) - Lm. Herchel H. Sheets) Sức Mạnh của Cầu Nguyện - Hoàng Quý Đại Hội Giáo Lý Los Angeles và Tân Tổng Giám Mục Hà Nội - Người Tham Dự Nhớ Những Lần Gặp Gỡ với Tân T.G.M. Giuse Ngô Quang Kiệt - Kim Lệ Tâm Sự với Cô Con Dâu Cứng Đầu LTCT - Khổng Nhuận Hạt Cà Phê - Maranatha dịch Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc
Kính thưa quý độc giả, Ngày thứ tư vừa qua, Đức Thánh Cha đã ngỏ lời với những khách hành hương qui tụ tại phòng Phaolô VI ở Vatican đển tiếp kiến ngài. “Anh chị em rất thân mến, Tôi ưu ái chào mừng anh chị em đang quy tụ trong phòng này để dự buổi gặp gỡ truyền thống ngày thứ tư. Tôi chân thành cám ơn sự hiện diện của anh chị em. Chúng ta đang đi trên hành trình Mùa Chay, cùng với sự trợ lực và thôi thúc của phụng vụ. Mùa Chay khuyên chúng ta dấn thân nhiều hơn vào cuộc sống cầu nguyện, ăn chay và đền tội, đồng thời liên kết chặt chẽ hơn với tha nhân, đặc biệt là người nghèo khó và thiếu thốn. Ta hãy mở lòng để lắng nghe những gợi ý của ân sủng từ nội tâm. Chớ gì lòng ích kỷ nhường bước cho tình yêu, hầu chúng ta có thể cảm nghiệm được niềm vui của việc tha thứ và hòa giải thân tình với Thiên Chúa và với anh chị em mình.” Với lời nhắn nhủ ấy, Maranatha_37 tuần này dành những suy tư cho tình yêu tha nhân và sự chia sẻ, với tâm tình của những tín hữu tin vào Chúa, trong tinh thần suy tư và cầu nguyện. Nhưng trong giữa mùa chay này, Giáo Hội Việt Nam nhận được hai tin vui: Tổng Giáo Phận Huế có thêm một Giám Mục phụ tá, và Tổng Giáo Phận Hà Nội có một Tổng Giám Mục mới. Bản tin Zenit ngày 20 tháng 02 đưa vắn tắt hai tin ấy như sau: - Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã bổ nhiệm Giám Mục phụ tá giáo phận Huế, linh mục Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng, chính xứ và phụ trách cập nhật thần học cho linh mục giáo phận này. Ngài sẽ là Giám Mục hiệu tòa Gadiaufala. - Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chấp thuận đơn từ nhiệm mục vụ giáo phận Hà nội của Đức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, 85 tuổi. Ngài đã gánh trách vụ này 10 năm lâu hơn tuổi dự kiến về hưu. Đức Giáo Hoàng đã bổ nhiệm kế vị ngài là Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt, hiện là Giám Mục giáo phận Lạng Sơn - Cao Bằng và giám quản tông tòa giáo phận Hà Nội trong thời gian qua. Vi tân Tổng Giám Mục Hà Nội sinh năm 1953, tại thành phố Mỹ Sơn. Ngài được thụ phong linh mục năm 1991, và tấn phong giám mục năm 1999. Mẫu tin mờ nhạt này được đăng tải trong bản tin cùng với các tin của Giáo Hội hoàn vũ, lại là một niềm vui đậm nét cho người Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới. Một vị giám mục trẻ tuổi là Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt được nhiều người biết đến sẽ là Tổng Giám Mục Hà Nội thì tân Giám Mục phụ tá Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng năm nay 65 tuổi là một vị âm thầm hơn được sinh ra trong một gia đình nông dân tại làng Trí Bưu, xã Hải Trí, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị: một tỉnh lỵ nhỏ bé nghèo nàn nhưng được Mẹ Lavang thương hiện đến. Trong số này, Maranatha dành hai bài viết giới thiệu vài nét về vị tân tổng giám mục Hà Nội trong khi chưa có nhiều thông tin về tân Giám Mục phụ tá tổng giáo phận Huế. Xin dâng lời ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa, xin hiệp lòng với biết bao lời cầu chúc và tạ ơn của thân nhân, bạn hữu của tân Giám Mục phụ tá Tổng Giáo Phận Huế và tân Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Hà Nội với lòng quý mến trân trọng và hiệp lòng tạ ơn Thiên Chúa, nguyện xin Chúa chúc lành cho hai đức cha, cho trọng trách mục tử của đoàn dân Chúa mà Chúa đã gọi hai đức cha đến để phục vụ, xin Thiên Chúa ban cho hai đức cha ân sủng và sức mạnh của chính Ngài, cùng với Đức Kitô là người bạn đồng hành với lời hứa: “Thầy sẽ ở cùng các anh mọi ngày...”
MARANATHA
MÙA
CHAY CÒN TIN CHÚA HAY KHÔNG? Lm. Vũ Xuân Hạnh Có lần, tôi được một linh mục chia sẻ: Một anh sinh viên gởi thư nêu thắc mắc bao gồm một nỗi khổ rất lớn, liên quan dữ dội đến đức tin. Anh sinh viên hỏi rằng, “Thưa Cha, chỉ còn có ba tháng nữa, con sẽ tốt nghiệp đại học. Dù lúc này, ba con rất yếu, nhưng con cầu xin Chúa cho ba con được sống cho tới ngày con cầm mảnh bằng tốt nghiệp về khoe với ba: ‘Thưa ba, đây là bằng tốt nghiệp của con’. Cha có biết không, cái bằng tốt nghiệp đó, con đã phải chờ phải đợi biết là chừng nào. Ba con cũng thế, đêm ngày mong mỏi và chờ đợi để được nhìn thấy con tốt nghiệp đại học. Niềm hy vọng của ba con lớn lắm, cứ y như là khi con đậu đại học thì cũng chính ba con đậu đại học vậy. Đúng thôi cha ạ. Vì mảnh bằng tốt nghiệp, nếu con đạt được thì đâu chỉ của riêng con mà là của cả hai cha con cộng lại. Đó là công lao nuôi dưỡng của ba con hai mươi mấy năm trời và công lao học tập miệt mài của con bao nhiêu năm mới có nó. Nhưng Chúa không nghe lời con xin. Cách nay một tuần, Chúa đã cất ba con. Ba con chết mà không nhìn thấy kết quả do mình tạo ra, và ngày đêm mong mỏi. Sao Chúa lại làm như vậy? Sao vậy cha?”. Và trong lá thư gởi theo địa chỉ mà anh sinh viên cho biết, vị linh mục trả lời: “Tôi cũng không biết nữa, không hiểu vì sao Thiên Chúa lại làm như vậy. Nhưng chắc Chúa có lý do của Người. Đọc thư bạn, tôi thông cảm với bạn, thông cảm nhiều lắm, vì tôi cũng đã từng gặp đau khổ tương tự như bạn. Tôi cầu nguyện cho bạn và dâng những đau khổ, dâng sự đồng cảm của hai chúng ta, để Chúa tìm cách bù cho bạn trong kết quả thi tốt nghiệp sắp tới. Điều tôi quan tâm hơn hết, đó là bạn còn tin Chúa nữa hay không?” “Còn tin Chúa nữa hay không?”. Tôi nghĩ rằng, lời hỏi đó không chỉ dành cho người sinh viên nào đó đang khủng hoảng đức tin, nhưng còn là một lời hỏi rất cần cho bạn và tôi. Có những lúc đau khổ tột cùng, những lúc tưởng như cuộc đời mình bế tắc…, chính những lúc như thế, chúng ta có còn tin Chúa nữa hay không? Không biết có bi quan quá không, khi nói rằng, sống trong cuộc đời, mang thân phận loài người mong manh, hình như con người phải lo âu, chật vật, phải long đong chèo chống, suốt đời là một chuyến đi rong xuôi ngược, để cuối cùng buông xuôi đôi bàn tay nhuộm đầy sương gió bước ra khỏi cuộc đời. Còn nỗi sung sướng, và hưởng thụ trong hạnh phúc hoàn toàn, hình như chỉ là một khoảnh khắc bất chợt mà thôi. Có thể nói gọn, kiếp người lận đận là một thường lệ, và hạnh phúc mỹ mãn chỉ là một ngoại lệ. Cảm nghiệm nỗi đau trong cuộc đời của nhiều anh chị em, rồi đọc lại quá khứ đã diễn ra mấy chục năm trong đời mình, đôi lúc tôi mất bình an, cảm thấy đức tin chao đảo. Thiên Chúa như xa vời, như tàn nhẫn và lạnh lùng quá đỗi trước nỗi đau của lòng người. Những lúc như thế, tôi phải đi tìm nguồn an ủi, tìm chốn nương thân, lui vào cõi thinh lặng của lòng mình, mong muốn được yên bình, thanh thản hơn. Nếu không, tự bản thân, tôi thấy rằng mình không thể sống nổi. Lui vào cõi lòng, nguồn sống duy nhất có thể giúp mình giải quyết mọi ẩn khuất, cả đến đau đớn thê lương, chỉ có Thiên Chúa và Chúa Giêsu, con của Người mà thôi. Tôi đã mở Thánh Kinh. Đọc lại những trang Thánh Kinh ấy, mới khám phá ra rằng, nỗi bấp bênh của ta hiện nay, đâu phải của riêng ta. Chính Con Thiên Chúa làm người cũng không thoát khỏi, các tổ phụ, các tiên tri ngày xưa đã từng chung số phận. Các thánh tông đồ cũng từng nếm trải nỗi thương đau ô nhục. Rất nhiều những con người đạo đức, thánh thiện, lẽ ra được tràn đầy hạnh phúc, thì ngược lại, số phận cứ mãi lênh đênh bạc bẽo, đau khổ tột cùng như ông Gióp, tiên tri Giona, Êlia, Giêrêmia, Tôbia, Isaia, Amốt… Đến vị tiên tri cuối cùng của Cựu ước là thánh Gioan Tẩy giả cũng đã từng hoang mang đến mức nghi ngờ: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay chúng tôi phải chờ đợi ai khác?” (Mt 11, 3). Cuối đời, vì lẽ sống và sự thật, thánh Gioan cũng không đi ngoài con đường mà những người tiền nhiệm đã đi: nếm trải nỗi đau khổ, tù tội và cái chết bi ai (Mc 6, 17 –29)… Trong số những gương mặt phải chịu đựng nhiều thử thách khắc nghiệt, ta không thể nào quên tổ phụ Abraham. Tổ phụ Abraham được Chúa kêu gọi: “Hãy bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi đến đất Ta sẽ chỉ cho” (St 12, 1). Thế là ông ra đi. Lao mình vào vô định. Đi trong mịt mù. Đi trong tăm tối. Đi mà chẳng biết mình đi đâu, chỉ có một hành trang duy nhất là đức tin mà thôi. Suốt đời ông mơ ước một đứa con nối dõi tông đường, vậy mà chẳng có. Đến khi ông cả trăm tuổi, vợ ông cũng cao niên chẳng kém, Thiên Chúa mới hứa ban một đứa con. Một lời hứa như thế thật khó chấp nhận làm sao. Một lần nữa Abraham vẫn tin. Đến khi đứa con trai duy nhất của ông, đứa con thừa tự, đứa con của lời hứa, đứa con ngọc, đứa con ngà đã lớn khôn, Thiên Chúa lại đòi ông đem nó đi sát tế cho Người. Có tội ác nào lớn cho bằng tội của một người cha giết con. Có còn lời dạy nào khủng khiếp cho bằng dạy một người cha giết chính đứa con là máu, là mủ, hơn nữa là cả cuộc sống của người cha già nua đã từng rút ruột mình sinh ra. Còn đâu là một Thiên Chúa yêu thương, một Thiên Chúa gần gũi với con người, hay chỉ là Thiên Chúa tàn nhẫn, say máu cho đến độ đòi một người cha phải thủ tiêu con của ông làm của lễ tế hiến cho mình. Đúng là một Thiên Chúa độc ác, không còn gì độc ác hơn. Càng suy nghĩ như thế về hình ảnh của Thiên Chúa bao nhiêu, ta càng thấy đức tin của Abraham lớn bấy nhiêu. Cứ bắt đầu bằng tình cảm con người, ta suy diễn, sẽ thấy, chắc tâm hồn ông chao đảo lắm, lương tâm giày vò lắm, cuộc sống của ông mất bình an lắm. Có lẽ nước mắt đã tràn ngập, đã dàn dụa tâm hồn ông. Và có lẽ giọt nước mắt ấy rất âm thầm, vì ông không thể để lộ cho con mình biết. Làm sao dám cho con biết khi chính ông sẽ giết chết con! Mà tiếng khóc càng âm thầm, tiếng nấc càng nghẹn ứ, nước mắt càng chảy ngược vào hồn nhiều bao nhiêu, thì nỗi đau càng dằn xé, càng tê tái, càng buốt giá bấy nhiêu. Nhất là mỗi khi ông nhìn đôi bàn tay của mình. Ngày nào đôi tay ấy bồng ẵm con, nâng niu con, bây giờ cũng chính đôi tay ấy sẽ thủ tiêu con. Là cha, là mẹ như bao người cha, người mẹ khác, Abraham se thắt lòng mình. Nhưng Abraham đã vượt qua tất cả. Đức tin của ông lớn hơn tất cả. Chính đức tin dạy cho ông biết: Thiên Chúa vẫn yêu thương ông vô cùng. Người vẫn nhìn thấy ông. Người biết rõ lòng ông. Người có cách của Người để trù liệu cho ông những điều tốt đẹp nhất. Vì tình yêu vô cùng mãnh liệt, vì tình yêu mến Thiên Chúa ngất trời cao, Abraham đã không mất bất cứ điều gì, dù là nhỏ nhoi nhất. Còn hơn bất cứ một người nào trong nhân loại, qua muôn ngàn thế hệ, bằng miệng lưỡi của thiên thần, Thiên Chúa ca tụng ông: “Đừng giơ tay hại đứa trẻ, đừng làm gì nó! Bây giờ Ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa: đối với Ta, con của ngươi, con một của ngươi, ngươi cũng chẳng tiếc!… Đây là sấm ngôn của Đức Chúa, Ta lấy chính danh Ta mà thề: Bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển…” (St 22, 12. 16 –18). Người ta nói: “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”. Và tôi thêm, đối với người có đạo, đau khổ trui rèn đức tin của họ. Với anh sinh viên, tôi tin rằng, nếu anh đọc và suy nghĩ Lời Chúa, suy nghĩ về cuộc đời của Chúa Kitô, về sự chết và sống lại của Người, chắc chắn anh sẽ vượt qua nỗi buồn mất cha, dù anh rất yêu cha. Tôi cũng tin y như thế về bạn và chính bản thân tôi. Nếu chúng ta để cho Lời Chúa thấm đẫm trong cuộc đời mình, thì có nỗi đau nào bạn và tôi không vượt qua! Mỗi người đều có nỗi buồn: gia đình đang sum họp, bỗng dưng người vợ hay người chồng phản bội, rẽ sang hướng khác. Gia đình đang sung túc, bỗng dưng một người thân ra đi vĩnh viễn, mà người thân đó có khi là cột trụ của đời sống, của kinh tế gia đình. Gia đình đang bằng yên, hạnh phúc, bỗng nhiên một tai ương bất ngờ ập đến. Người thân phải tù tội, của cải bị trưng thu, mọi người trong gia đình chới với, hoang mang, con cai mất cả sự học hành, lối xóm chê cười, họ hàng ghét bỏ… Mất mát thật to, nỗi buồn càng lớn. Hay con đường tương lai của mình đang rộng mở, hay sự thành công đang ở trước mặt, nhà cửa vừa mới xây dựng khang trang, phương tiện đi lại mới được hoàn hảo một chút…, bỗng dưng một biến cố đau thương xảy đến, làm mất hết tất cả. Hay hy vọng đang ngời ngời sáng phía trước, bỗng dưng mất mát người thân yêu nhất đời mình như trường hợp anh sinh viên kia… Những lúc bi đát đến cùng cực ấy, bạn và tôi hãy nhớ lại lời vị linh mục hỏi chàng sinh viên kia mà tự hỏi lòng mình: “Tôi có còn tin Chúa nữa hay không?”. Sau đó mở Thánh Kinh ra mà suy niệm để sưởi ấm lòng mình, lấy lại đức tin đã cạn kiệt, lấy lại tình mến dẫu chỉ còn như tim đèn chực tắt… Sau hết bạn cùng tôi dâng lời cầu nguyện, chỉ một lời ngắn thôi nhưng bằng tất cả tình yêu thẳm sâu tận đáy tâm hồn: “Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn vững tin vào Chúa”
HAI THỨ TÌNH YÊU - HAI THỨ ĐẠO ĐỨC Giao Duyên 1. Hai khuynh hướng tâm lý Trong đời sống gia đình và xã hội, ai cũng đều đối diện với hai thực tại căn bản này, là «mình» và «người khác». Dựa trên hai thực tại căn bản này, người ta có hai khuynh hướng tâm lý khác nhau: – khuynh hướng vị kỷ: coi «cái tôi» của mình là quan trọng, là trên hết, là mục đích cho mọi hoạt động của mình. Vì thế, cũng coi hạnh phúc hay đau khổ của mình, ý kiến hay ước muốn của mình là quan trọng. Tính vị kỷ có thể là thô thiển mà cũng có thể rất vi tế. Người vị kỷ cách thô thiển thì ai cũng nhìn vào cũng thấy họ vị kỷ, vì họ chỉ làm những gì trực tiếp có lợi cho họ mà thôi. Còn người vị kỷ cách tinh vi là người dấu kỹ bản tính vị kỷ của mình dưới vẻ bên ngoài vị tha, thậm chí rất vị tha. Người ta thấy họ hy sinh cho người khác khá nhiều, nhưng thật ra nếu có hy sinh cho người khác thì họ cũng đều nhắm sự hy sinh ấy cuối cùng phải có lợi cho mình thì mình mới hy sinh. – khuynh hướng vị tha: coi người khác và sự đau khổ hay hạnh phúc của người khác là quan trọng; ngược lại, coi bản thân mình và đau khổ hay hạnh phúc của mình không quan trọng bằng. Vì thế, người có khuynh hướng vị tha sẵn sàng hy sinh cho tha nhân một cách vô vị lợi. 2. Hai thứ tình yêu Từ hai khuynh hướng căn bản trên phát sinh hai thứ tình yêu: tình yêu vị kỷ và tình yêu vị tha. – Tình yêu vị kỷ là một tình cảm hướng đến người khác nhưng cuối cùng lại quy về chính mình. Ai cũng bị hấp dẫn bởi những cái hay, cái đẹp, cái có lợi cho mình nơi sự vật hoặc nơi người khác, khiến cho mình thích thưởng thức cái hay, đẹp, có lợi ấy để mình vui thú, hạnh phúc hơn. Tình yêu vị kỷ là sự gắn bó với một vật hay một người để có thể thưởng thức cái hay, đẹp, có lợi cho mình nơi vật hay người đó. Ta thích tiếng hót của một con chim vì nó làm ta thích thú, quên đi sầu não. Vì thế, ta nuôi nó, trìu mến nó, vì nó có lợi cho ta. Chung quy ta gắn bó với nó cũng vì nhu cầu của hay hạnh phúc của ta. Khi ta yêu một người chỉ vì người ấy đẹp, người ấy dễ thương, ở bên người ấy thì ta dễ chịu, thoải mái, và vì người ấy thỏa mãn được nhu cầu tình cảm, v.v… của ta. Tình yêu đó là một tình yêu vị kỷ. – Tình yêu vị tha là một sự dấn thân của ý chí tự do hơn là một tình cảm tự nhiên. Nó là sự thúc đẩy của lương tri, của lương tâm khiến ta gắn bó và hy sinh cho một đối tượng nào đó. Đối tượng này có thể không có được những cái hay, cái đẹp, cái có lợi cho ta. Và ta yêu họ không phải chỉ vì những cái hay, cái đẹp, cái có lợi ấy. Thậm chí họ còn có thể là cái gì bất lợi cho ta, làm hại ta. Ta yêu họ chỉ vì ta nhận thức được họ là hình ảnh hay hiện thân của Thiên Chúa, cũng là «cái tôi nối dài» của ta trong Nhiệm Thể của Thiên Chúa (x. 1Cr 12,12-30). Và sự hy sinh của ta cho họ là vô vị lợi, là vì hạnh phúc của họ chứ không phải của ta. Đó mới chính là tình yêu mà Thiên Chúa muốn ta có. Và với tình yêu này thì yêu tha nhân cũng chính là yêu Thiên Chúa. 3. Hai khuynh hướng đạo đức Từ hai thực tại căn bản nói trên – là «mình» và «người khác» –, và từ hai thứ tình yêu nói trên, phát xuất hai khuynh hướng đạo đức khác nhau: đạo đức vị kỷ và đạo đức vị tha. – Đạo đức vị kỷ là thứ đạo đức của người có khuynh hướng vị kỷ, và có tình yêu vị kỷ. Mọi việc làm đạo đức của họ đều lấy chính họ làm mục đích. Họ chỉ làm những việc tốt đẹp khi nào việc ấy có lợi cho họ, cho hạnh phúc của họ, hoặc ở đời này hoặc ở đời sau. Họ «yêu Chúa», «yêu tha nhân» – tạm gọi như vậy – vì luật Chúa đòi hỏi như vậy, vì nếu không yêu Chúa, không yêu tha nhân thì họ sẽ không được lên thiên đàng. Làm việc gì thì họ cũng đều phải nghĩ đến chuyện Chúa sẽ trả công bội hậu cho công việc ấy, ở đời này hoặc đời sau. Nếu Chúa không trả công thì làm có ích lợi gì? Đó là những người đạo đức vị kỷ kiểu vi tế. Còn những người đạo đức vị kỷ kiểu thô thiển thì họ thực tế hơn nhiều, họ không nhắm Chúa trả công cho bằng được người khác hay được mọi người “trả công”. Chẳng hạn khi làm một việc tốt lành nào thì họ muốn mọi người đều biết để khen ngợi, nể phục họ, để họ được tiếng là thánh thiện, đạo đức, tốt lành, nhân hậu, biết thương người, v.v… Nhờ vậy, họ có uy tín trước mặt người đời, được mọi người trọng vọng, và có thể vì thế mà họ được nhiều cái lợi khác về mặt xã hội: làm ăn dễ dàng hơn, dễ thăng quan tiến chức, dễ có những địa vị cao ngoài xã hội, trong Giáo Hội. Tóm lại, người đạo đức vị kỷ kiểu thô thiển hay vi tế, trong các hoạt động của họ, đều không thể có một động lực nào khác hơn lợi ích của chính bản thân họ. – Đạo đức vị tha là thứ đạo đức của người có khuynh hướng vị tha và có tình yêu vị tha. Họ yêu Chúa là vì Chúa, yêu tha nhân là vì tha nhân, không cần một sự trả công hay phần thưởng nào cho những hy sinh hay hoạt động của họ, cho dù ở đời này hay đời sau. Tình yêu tự nó là động lực duy nhất thúc đẩy họ làm tất cả cho người mình yêu. Họ đúng là người thật sự quên mình, từ bỏ mình như Đức Giêsu đòi buộc đối với những ai theo Ngài. Tuy dù họ không làm vì ích lợi cho họ, nhưng họ chính là người có khả năng hy sinh nhiều nhất cho Thiên Chúa và tha nhân. Vì thế, tuy dù họ chẳng cần một phần thưởng hay sự trả công nào cả, nhưng họ mới chính là những người đáng thưởng nhất, và phần thưởng dành cho họ phải là bội hậu nhất. Vì họ mới chính là người yêu thật sự. Hôm nay chúng ta bước vào mùa Chay, thiết tưởng đây là thời điểm thuận tiện nhất để ta sám hối, để ta suy nghĩ về tình yêu của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân. Hãy nghiêm túc phản tỉnh, hồi tâm, xét lại xem tình yêu của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân có đích thực là tình yêu hay không? Hay đó chỉ là một tình yêu giả hiệu, tình yêu vị kỷ: có vẻ như ta yêu Thiên Chúa và tha nhân, nhưng thực ra là ta chỉ yêu chính bản thân ta thôi. Và đạo đức của ta là thứ đạo đức gì? Đạo đức vị kỷ hay đạo đức vị tha? Muốn biết được tình yêu và đạo đức của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân có đích thực hay không, khi làm điều gì tốt đẹp, hãy tự hỏi: Nếu tôi làm việc tốt lành này mà không ai biết tới, mà Thiên Chúa không trả công cho tôi, thì tôi có còn muốn làm hay không?
NGHÈO TIỀN BẠC VÀ NGHÈO TẤM LÒNG
Trần Duy NhiênKhi nói đến người nghèo, ta nghĩ ngay đến những người thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu nhà, thiếu cửa, nghĩa là nghèo tiền bạc... Tuy nhiên, có thể còn nhiều thứ nghèo khác nữa: nghèo thì giờ, nghèo sức khỏe, nghèo kiến thức, và nhất là nghèo trái tim. Cha Anthony de Mello đã viết câu chuyện sau trong cuốn Như Tiếng Chim Ca: “Tôi thấy ngoài đường một cô bé gái đang run cầm cập trong chiếc áo mỏng tanh, với chút hy vọng mong manh là có được một bữa ăn kha khá. Tôi phẫn uất và thưa với Chúa: "Tại sao Chúa đã để cho sự việc đó xảy ra? Chúa không nhìn thấy sao? Tại sao Chúa không làm gì hết?" Trong một thời gian khá lâu, Chúa không nói gì. Rồi một đêm kia, Chúa đã trả lời rất bất ngờ: "Dĩ nhiên là Cha đã thấy điều đó rồi: vì thế mà Cha tạo dựng nên con, con đấy! (Trích bản dịch của Đỗ Tân Hưng) Câu chuyện này cứ lảng vảng mãi trong đầu tôi mỗi khi tôi đối diện với người nghèo, người hoạn nạn, người đau khổ. Trước cái nghèo vật chất mà tôi dửng dưng thì rõ ràng là tôi nghèo lòng trắc ẩn. Tôi biết rằng tôi có trách nhiệm chia sẻ với người nghèo, tuy nhiên, tôi cũng yên tâm ít nhiều khi nghĩ rằng người nghèo đã có những người khác lo. Tôi từng biết cha Đông đi vào rừng sâu chăm sóc cho người dân tộc nghèo xơ nghèo trên rừng núi Pleiku. Tôi từng thấy cha Hậu chăm sóc cho người nghèo ở những nơi hẻo lánh xa xôi tận Mũi Cà mau. Tôi từng theo cha Chung đến với những người Aids ở Saigon. Tôi từng lên với những dì Dòng Thánh Phaolô ở vùng cao Bảo lộc để xem họ sống với gần một trăm em khuyết tật. Tôi từng đồng hành với một dì dòng Đa Minh tổ chức nhiều khóa cai nghiện ma túy cho những thanh niên bị xã hội ruồng bỏ. Vâng! Tôi có bức xúc vì người nghèo tại Việt Nam, nhưng đã có những linh mục và tu sĩ chăm lo bởi vì việc giúp đỡ người nghèo vượt tầm khả năng của tôi. Thế rồi đêm hôm qua, duyên may đã khiến tôi xem hai DVD của Hội Help The Poor, và tôi lại ray rứt. Những thành viên của Hội là những người sống giữa thế gian và có trăm ngàn ưu tư về cơm áo gạo tiền như tôi. Họ đã về Việt Nam mà đi đến những với những người nghèo từ Bắc chí Nam, họ đến những nơi mà chưa bao giờ có một nhóm từ thiện nào bén mảng đến như Cam Lộ hay Gio Linh, họ đến những hang cùng ngõ hẻm của thành phố Saigon để thăm những nhà nuôi trẻ em bị bỏ rơi mà không ai buồn công nhận, cả giáo quyền lẫn chính quyền. Họ trao phong bì hàng ngàn đô la một cách từ tốn, cứ như là họ e dè thay mặt cho những người phương xa đến chia sẻ một phần quá nhỏ bé với những người đem suốt cuộc đời mình mà phục vụ những người nghèo. Tôi biết rõ mồn một rằng quà tặng của họ không phải là những món tiền dư thừa của những người vứt tiền ra cửa sổ. Đó là từng đồng bạc đẫm mồ hôi mà những người có lòng phải hy sinh đến nhói đau dù đang sống trên một đất nước giàu có vào bậc nhất trần gian. Có lẽ họ đã nhìn ra điều cơ bản: Họ không thể làm gì nhiều cho người nghèo, nhưng họ có thể góp một chút công sức mình để đồng cảm với anh chị em kém may mắn của họ. Và trong sự chia sẻ đó, họ cũng tìm được niềm vui khi thấy trong lồng ngực mình vẫn còn đập một trái tim người. Mẹ Têrêxa thành Calcutta thuật lại câu chuyện sau, trong bài diễn văn nhận Giải Nobel Hòa Bình tại Oslo, năm 1979: Tôi đã có một kinh nghiệm lạ lùng với một gia đình theo Ấn Giáo. Hôm nọ, một người đến nhà chúng tôi và bảo: “Mẹ Têrêxa à, có một gia đình 8 con; họ không có gì ăn lâu rồi; Mẹ làm điều gì đi!” Thế là tôi lấy một ít gạo rồi lập tức đi đến đấy. Tôi thấy mấy em bé với cặp mắt ánh lên vì đói. Tôi không biết anh chị em có bao giờ thấy ai đói chưa. Tôi thì thấy nhiều lắm ở Ấn Độ. Tôi trao gạo cho bà, bà cầm lấy, chia ra hai phần, rồi đi ra ngoài. Khi bà trở về, tôi hỏi bà: “Bà đi đâu vậy? Làm gì vậy?” Bà đơn sơ trả lời: “Họ cũng đói!”. Bà đã sang nhà bên cạnh để chia nửa phần gạo vừa nhận được, trước khi nấu cơm cho những đứa con đói lả của mình. Điều làm tôi choáng váng nhất là bà ấy biết họ là ai: là một gia đình Hồi Giáo. Tôi không đem thêm gạo tối hôm ấy vì tôi muốn để cho họ hưởng trọn vẹn niềm vui chia sẻ. Nhưng thiết nghĩ, điều hội Help The Poor làm không chỉ là tạo niềm vui chia sẻ bằng cách đi vá một mảnh áo nát mà mình biết rằng thế nào cũng rách trở lại. Hội không chỉ nhằm xoa dịu cái nghèo vật chất mà còn muốn xóa bỏ cái nghèo nhân phẩm do một quan niệm sai lầm về giá trị con người. Hội muốn tiếp phần nâng cao trình độ để mai này các em bé nghèo nàn kia biết phẩm giá của mình và, ngay bây giờ, đường hướng của hội là góp phần đổi mới cái nhìn về người nghèo qua một quá trình giáo dục mọi người. Help The Poor! Hãy giúp người nghèo! Người nghèo vật chất và người nghèo trái tim. Khi kêu gọi mọi người nghĩ đến người nghèo vật chất ở Việt Nam thì Hội cũng gián tiếp giúp đỡ những người ở hải ngoại cơ hội để chứng tỏ rằng mình không hề nghèo tình yêu thương. Trích Bản Tin tháng 12 -2004 của Hội Help The Poor www.helpthepoorvietnam.org
TƯ
HỌC HỎI NGƯỜI GIÁO DÂN TRONG CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA VÀ KHÍA CẠNH TRẦN THẾ CỦA GIÁO HỘI (tiếp theo Maranatha_36) Nguyễn Đăng Trúc III- Giáo dân trong Giáo hội ngày hôm nay Tài liệu mới nhất về giáo huấn của Giáo hội về Giáo dân là Tông huấn Christi Fideles Laici, do Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II ban hành ngày 30.12.1988, tiếp theo Thượng Hội đồng Giám mục về Tông đồ Giáo dân tổ chức vào năm 1987 tại Rôma. Giáo huấn vừa nhắc lại toàn bộ nội dung của Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân năm 1965 trong Công đồng Vaticanô II, vừa cập nhật hoàn cảnh Giáo hội lúc bấy gìờ nhưng đi vào chi tiết hơn. Với tâm thức cũ, tiền Công đồng, nhiều Kitô hữu , giáo sĩ cũng như giáo dân dường như cảm thấy không cần phải đi vào nội dung giáo huấn của Giáo hội và sẵn có một định kiến là: chắc chắn đây là bản văn thúc giục giáo dân, đặc biệt các xứ Tây âu, đi lễ Chủ nhật, tổ chức sinh hoạt rước kiệu, tham gia vào các chức vụ của Hội đồng giáo xứ để giúp các linh mục; hoặc trao cho một số giáo dân có thêm uy quyền trong việc điều hành Cộng đồng giáo xứ. Những nội dung nầy không phải nằm ngoài ưu tư chung của toàn bộ giáo huấn của Giáo hội về giáo dân , nhưng lối hiểu tiêu cực, què quặt nầy (như đóng khung vào sinh hoạt giáo xứ; tương quan giáo sĩ - giáo dân đặt nền trên ý niệm quyền uy trần tục; sinh hoạt cộng đồng dân Chúa o ép lại trong một hội đóng kín, tự đủ cho mình...) đi ngược lại đường hướng canh tân và quan điểm Giáo hội học mới của Công đồng Vaticanô II. III.1- Những nét cá biệt của Giáo hội nêu lên trong văn kiện * Giáo hội là cộng đồng huynh đệ có phận vụ truyền giáo. Tựa đề "Ơn gọi và sứ mệnh của người giáo dân..." tưởng chừng đã nói lên hầu hết điều muốn nói. Trước đây khi nói đến ơn gọi, người ta hiểu đó là phần dành riêng cho giáo sĩ , tu sĩ làm như chỉ giới sau nầy mới là môn đệ Chúa Giêsu. Không phải thế. Chữ ơn gọi áp dụng cho bất cứ ai là người, hướng đến việc thực hiện hoàn toàn nhân tính của mình. Nhưng chữ ơn gọi ở đây được nêu lên đi liền với sứ mệnh, nhằm nói đến lý lịch của tất cả những ai đã tin vào Đức Kitô là con Thiên Chúa hằng sống và đã lãnh nhận phép rửa. Sự kiện sau nầy (sứ mệnh) xác minh sự bất khả phân ly giữa phép rửa và sứ mệnh rao truyền Phúc âm hay còn gọi là sống đạo. Bản văn Christi Fideles Laici đưa ngay vào phần dẫn nhập yếu tố sứ mệnh nghĩa là phục vụ, hành động qua hình ảnh người thợ được gọi làm trong vườn nho. Chịu phép rửa là để làm việc. Câu hỏi đặt cho Giáo hội hôm nay trong cuộc canh tân của Công đồng Vaticanô II đối với người giáo dân là "Tại sao ở đấy suốt ngày mà không làm gì hết?" Và nếu giáo dân trước đây đã trả lời với Giáo hội : "Vì không ai mướn chúng tôi". Thì hôm nay qua Công đồng Vaticanô II, Giáo hội lặp lại lời Chúa: "Các ông cũng thế, hãy vào làm vườn nho của ta" (Mt. 2, 6-7) (xem Christi Fideles Laici, số 1 và 3). * Vườn nho là thế giới: sống đạo mọi nơi, mọi lúc. Cũng ở phần dẫn nhập, Tông huấn nầy nói ngay "Vườn nho đó là toàn thế giới (Mt. 13, 38), và thế giới nầy phải được biến đổi theo ý định của Thiên Chúa trong một viễn ảnh của vương quốc Ngài vào ngày thế mạt" (Christi Fideles Laici). Giáo xứ, giáo phận, dòng tu trước đây là khung cảnh hạn chế cho sinh hoạt tôn giáo. Trên mặt pháp lý xã hội, chúng ta ngày nay cũng khó lòng hiểu khác đi được! Nhưng sống đạo có phải chỉ thực thi các nghi lễ tuy cần thiết nhưng giới hạn trong lãnh vực tôn giáo hình thức nầy không? Không phải. Vườn nho là toàn thế giới mà người thợ là Kitô hữu, giáo sĩ cũng như giáo dân mỗi người một việc phải chu toàn mọi nơi và mọi lúc. Trước đây ta thấy , mỗi lần Giáo hội đề xuất và thực hiện một công tác nào, thì thường định chế hoá qua một hình thức xem là có tính Giáo hội như là cộng đoàn các giáo sĩ hoặc cộng đoàn tu sĩ. Các thế kỷ trước đây các hội dòng tu nam, nữ là đã "làm", đã "sống đạo" trong khuôn khổ tổ chức nầy. Tiếp đến, các đoàn thể giáo dân, hoặc có mục tiêu phục vụ cuộc sống trần tục, như Hội đoàn Công giáo, các tổ chức từ thiện Công giáo, ngay cả đảng phái cũng mang tên Kitô giáo... Nhưng từ Công đồng, kinh nghiệm và sinh hoạt đó tuy vẫn còn tiếp tục nhưng còn được nới rộng hơn khi Giáo hội thoát dần khỏi tiêu chuẩn trần tục của việc tổ chức và qui chiếu vào lời Phúc âm: "Các con là Muối đất, là Men trong bột, là Ánh sáng thế gian..." Vừa bứt bỏ được các giới hạn quá hình thức, vừa đi gần hơn tinh thần của Phúc âm, cuộc sống đạo trải tràn ra trong cuộc sống toàn diện của con người: từ những người đau yếu đến những khoa học gia thám hiểm không gian, từ người đấu tranh chính trị cho đến vị đan sĩ ngày ngày lao tác và cầu nguyện, từ Giáo hoàng đến người mẹ gia đình...sống đạo làm nên Giáo hội không nhất thiết phải là giáo sĩ hay giáo dân, vì không phải quyền uy điều hành là yếu tố then chốt làm nên Giáo hội nhưng "biến đổi thế giới, hay cuộc sống con người theo ý định Thiên Chúa" làm nên sinh hoạt Giáo hội . * Một nhu cầu thực tế cấp bách cần đến vai trò giáo dân Vườn nho là thế giới thực tế trước mắt, chúng không phải một hình ảnh nào đó của một ý hệ. Giáo hội xác minh lại rằng mọi người chịu phép rửa đều là anh em và phải có sứ mạng rao truyền Tin mừng. Nhưng trước mắt Giáo hội chứng kiến gì: Một thế giới đang đi xa dần ý định của Thiên Chúa, "Một thế giới với hiện tình kinh tế, xã hội, chính trị và văn hoá đầy dẫy các vấn đề và khó khăn trầm trọng hơn cả những gì được Công đồng diễn tả trong Hiến chế mục vụ Vui mừng và Hy vọng" (Christi Fideles Laici số 3). Và thế giới hay vườn nho đó cần đến thợ gặt. Giáo hội trong hiện tình ngày nay đào sâu khủng hoảng thế giới, và sự uể oải thụ động, thờ ơ của người giáo dân như những dấu chỉ thời đại để khám phá được rằng: "Thế giới trở thành môi trường và phương thế cho ơn gọi Kitô hữu của người tín hữu giáo dân...họ không được gọi để bỏ mất vị trí của họ trong thế giới nhưng...được Chúa gọi để làm việc, như ngầm ở bên trong, nhằm thánh hoá thế giới, như hình ảnh men trong bột, trong nổ lực thi hành các trách nhiệm riêng của mình dưới ánh sáng của tinh thần Phúc âm". Do đó, khi nêu lên nhu cầu cấp bách phải đưa giáo dân lên tuyến đầu của công cuộc rao truyền Phúc âm trong thời buổi ngày nay, thì một mặt Giáo hội nêu lên một lề lối sinh hoạt mới về sống đạo. Trong khung cảnh mới nầy không có phân cấp hay loại trừ theo khuôn khổ tổ chức trần thế: Giáo sĩ không hề bị loại ra khỏi sinh hoạt trần thế; và giáo dân cũng không có mục tiêu sống đạo một cách tích cực để có được một vai vế trên trước nào trong cộng đồng dân Chúa. Đồng thời những tiêu chuẩn bên ngoài, nhãn hiệu tôn giáo của mình hay uy thế cho một tổ chức cũng không phải là cùng đích của nổ lực truyền giáo của người giáo dân ngày nay. * Đào tạo Để có thể đưa giáo dân, tất cả giáo dân vào tuyến đầu của việc truyền giáo, hẳn nhiên phải cần có đào tạo. Không ai cho cái mà mình không có. Đào tạo khó khăn nhất là làm sao thay đổi tâm thức sống đạo? Bản văn Tông huấn trước hết nêu lên tầm mức phải đạt đến đó là mức trưởng thành. Tiêu chuẩn ưu tiên của trưởng thành là sống cho kẻ khác, nhìn nhận kẻ khác, nghĩa là tinh thần phục vụ một cách đại độ. Và đây cũng là điểm mới lạ của tinh thần sống đạo, vì Kitô hữu cần trút bỏ tâm tình sợ hãi bị trừng phạt trong tâm thức tôn giáo của mình, hoặc tìm kiếm lợi ích riêng tư cho mình trong Giáo hội nơi trần thế mỗi khi thi hành các công tác tông đồ. Tiêu chuẩn quan trọng hơn nữa trong việc đào tạo là hướng đến sinh hoạt cộng đồng hiệp nhất, từ nơi gia đình, đến hội đoàn, giáo xứ đến cấp quốc gia, quốc tế, trong giáo hội, đến với các tổ chức, tôn giáo khác mình... Sinh hoạt tông đồ không chỉ là hành động cá thể mà hơn hết là kết hợp thành hành động chung của cộng đồng, nhất là các đoàn thể hướng đến những cơ cấu rộng lớn điều hành cuộc sống con người. III.2- Những khó khăn Sự cách biệt giữa giáo huấn của Giáo hội và nếp sống của đa số người giáo dân như một thực tế trước mắt làm nhiều người nêu lên những nhận định bi quan. Giáo huấn được xem là một yêu sách của mẫu mực Phúc âm đòi hỏi phải thực hiện cấp bách trong thực tế, tiếc thay lại đi kèm với một sự thiếu vắng các yếu tố thiết yếu để có thể thực hiện! Chẳng hạn: * Khuôn khổ tổ chức tối thiểu Trước đây một dòng tu được lập ra thường đi theo những điều kiện tinh thần, vật chất, tổ chức để có thể tồn tại: một số công tác phục vụ cụ thể để thi hành, để kiểm điểm công tác; một sự nhìn nhận của giáo phẩm, và sự hỗ trợ của cộng đồng; tiêu chuẩn, thời gian huấn luyện; kỷ thuật và tổ chức nội bộ... Ngày nay, khi nói đến tông đồ giáo dân, không khác gì đọc một bản Phúc âm; công tác mênh mông vượt lên mọi hình thức tổ chức, đòi hỏi một sự uyển chuyển của một tâm thức hết sức trưởng thành như đã có sẵn tự bao giờ! Và vì yêu sách quá rộng, quá cao, kỳ cùng giáo huấn dễ bị xem là một lý thuyết dành cho ai khác chứ không phải cho mình và cộng đồng mình! Và thực tế đã xảy ra khi những gì đã nêu lên trong tông huấn Christi Fideles Laici thường được chính Giáo hoàng, Giáo triều Rôma qua các thánh bộ và hội đồng giáo hoàng: Công lý Hoà bình, Đối thoại Tôn giáo, Di dân,Văn hoá, Giáo dục, Gia đình...thực hiện; càng xuống các cấp gần với chính cuộc sống hằng ngày của giáo dân như gia đình, xứ đạo... thì ảnh hưởng hầu như chưa có tác dụng gì mấy (những phê phán cho rằng Giáo triều Rôma không lưu ý đến sinh hoạt trần thế, xa cuộc sống cụ thể... là lối nói thuộc lòng do báo chí quảng cáo hơn là một nhận định bám trên thực tế). * Đào tạo Công việc đào tạo giáo dân quá phức tạp và khó khăn. Yêu sách đòi hỏi phải có sáng kiến truyền giáo xây dựng Giáo hội, canh tân xã hội, phải đi tuyến đầu, phải trưởng thành phân biệt những nguy cơ tinh vi của chủ nghĩa thế tục và đường hướng Phúc âm, phải uyển chuyển chọn lựa phương thức tổ chức và hành động..., lắm lúc cho chúng ta có cảm tưởng rằng một cán bộ giáo dân như thế hẳn phải được đào tạo 3 lần hơn một giáo sĩ ! Thế mà, ý chí và phương tiện để thực hiện giáo huấn của Giáo hội về Giáo dân, khởi đầu bằng công tác đào tạo lại èo uột. Có những vùng, những xứ..., dường như chưa tùng có kế hoạch hay một dự án, ngân sách nào hướng đến nổ lực nầy. Về phía tổ chức Giáo hội trên mặt hỗ trợ, sự hiệp thông giữa giáo sĩ - giáo dân trong mục tiêu đào tạo giáo dân lại càng hiếm hoi. Trong công tác mục vụ, việc đào tạo gìáo sĩ hướng đến công tác nầy ít được thực hiện, chẳng hạn không mấy giáo sĩ am tường về phương cách hoạt động tông đồ giáo dân, các đoàn thể, theo từng bộ môn, lứa tuổi...; các đoàn thể hay các sinh hoạt giáo dân thường đành chấp nhận sự hiện diện một giáo sĩ bất chừng nào đó ở cạnh mình như một chuyện tự phát, đã rồi. * Tâm thức Tâm thức xã hội - và ngay cả Kitô hữu , giáo sĩ cũng như giáo dân - như còn xa lạ với tinh thần Công đồng Vaticanô II về ý nghĩa sống đạo. Hãy thử làm một bản trắc nghiệm đa số giáo sĩ và giáo dân tại cơ sở để xem khi nói đến việc trả thuế, đi bầu cử, đóng góp giúp người nghèo, dạy con, giúp vợ, săn sóc chồng, thăm viếng bạn bè, tham gia cổ võ nhân quyền .v.v...có nằm trong khung cảnh sinh hoạt cuộc sống đạo không, thì rõ. Phải chăng dư luận và tâm thức nơi nơi vẫn chỉ lấy việc dự lễ chủ nhật làm thước đo hành đạo ! Và như thế giáo huấn Giáo hội dạy phải dấn thân vào bất cứ sinh hoạt nào của trần thế: chính trị, bác ái, xã hội , văn hoá, tu đức đặc loại của giáo dân... có giá trị như thế nào trong cuộc sống hằng ngày của việc điều hành Cộng đồng và sống đạo? Xa lạ trong tâm thức, điều đó còn có thể hiểu vì cần thì giờ thích ứng; nhưng ngay cả trong giáo huấn chính thức của cộng đồng cấp quốc gia, giáo phận, giáo xứ, trong các cơ sở truyền thông của Giáo hội địa phương, trong nội dung đào tạo giáo sĩ, giáo dân ... việc mạnh dạn truyền đạt giáo huấn của Giáo hội và áp dụng vào cuộc sống mục vụ thiết thực, tất cả còn ngập ngừng như có vẽ hoài nghi! III.3- Niềm hy vọng Những khó khăn nêu lên có những cơ sở giải thích của chúng. Tuy nhiên chúng ta biết việc cổ võ Công việc tông đồ giáo dân, nêu cao sứ mạng và ơn gọì của người tín hữu nầy nằm trong khuôn khổ một cuộc canh tân Giáo hội học, nghĩa là toàn bộ sinh hoạt Giáo hội chiếu theo Mẫu mực Phúc âm. Cuộc canh tân đó luôn luôn khởi đầu lại, trường kỳ vì gắn với bản tính luôn sinh động mà luôn phải canh cải để kiện toàn Giáo hội . Bên cạnh những đổi thay còn khó khăn, đôi lúc chậm chạp đến độ như chết chìm so với vận tốc đổi thay phi mã của cuộc sống văn minh trần thế, thì cũng phải nhìn nhận rằng chưa một cộng đồng tôn giáo hay một nền văn hoá nào trong gần 50 năm qua đã thay đổi nhanh chóng tâm thức và nếp sinh hoạt của mình (dĩ nhiên là đối chiếu vào kiểu mẫu Phúc âm) hơn là Giáo hội Công giáo. Làm sao trước đây chúng ta có thể tưởng tượng có một hiệp hội như Focolare do một phụ nữ (trăm phần trăm ở trong đời sống giáo dân) đứng đầu, với sự tham gia của từng trăm hồng y, giám mục, hàng ngàn linh mục làm hội viên, để còn qui tụ những thành phần không phải chỉ là công giáo! Một điển hình, tuy quá chọn lựa, nhưng không còn gây ngỡ ngàng, thắc mắc bên trong và bên ngoài Giáo hội, cho phép chúng ta lượng giá một chặng đường rất dài đã vượt qua được, và tiên liệu những thành quả còn sáng ngời hơn nữa. IV- Giáo dân trong hoàn cảnh tại Việt Nam Hiện nay, có lẽ chúng ta có dịp để kiểm điểm lại nếp sống cá nhân và cộng đồng đối chiếu với giáo huấn của Giáo hội và tinh thần Phúc âm. Nếu những khó khăn để cổ võ việc tông đồ giáo dân là tình trạng chung của Cộng đồng Kitô hữu trong hoàn vũ, thì đối với Giáo hội Việt Nam chúng ta trong và ngoài nước lại còn có những khó khăn mười lần hơn. Khó khăn riêng của Cộng đồng Kitô hữu chúng ta trước hết phát xuất do tiền kiến lấy mẫu mực tiền Công đồng để đánh giá cao nếp sống đức tin của chúng ta. Mỗi lần nêu lên sinh hoạt Giáo hội, chúng ta có sẵn các con số tham gia Thánh lễ chủ nhật để xí xoá tất cả: chúng ta cho rằng Giáo hội nêu lên khủng hoảng là chỉ nói đến tình trạng Giáo hội Tây phương, vì giáo dân không còn "giữ đạo"! Tiên kiến đó hàm ngụ rằng thực ra giáo huấn của Giáo hội về giáo dân cũng chỉ để cổ động giáo dân đi lễ; và tiền kiến kế tiếp là xã hội và cộng đồng Công giáo Việt Nam muôn năm sẽ không bao giờ thay đổi. Vượt lên trên tâm thức không chịu canh tân nầy chúng ta cần đọc lại giáo huấn của Giáo hội để đối chiếu với sinh hoạt của các cộng đồng, các sinh hoạt tôn giáo của chúng ta, và chúng ta sẽ có được một sự lượng giá chính xác! Nhưng niềm hy vọng đang lên đường trong cộng đồng giáo hội Việt Nam Trong công cuộc chuẩn bị họp Thượng Hội đồng Giám mục cho Á châu (tháng 4 và 5.98 tại Vatican) các giám mục Việt Nam đã xác nhận rằng Giáo dân là thành phần tích cực truyền giáo trong giai đoạn qua, và đề nghị một khung cảnh sinh hoạt sống đạo trong tình huynh đệ gia đình, ăn khớp với tâm thức văn hoá Việt Nam. Hai yếu tố quan trọng đã được nêu lên nhằm khai triển giáo huấn của Giáo hội áp dụng cho Kitô hữu Việt Nam. - Trở lại tinh thần giáo sĩ - giáo dân sát cánh nhau năng nổ truyền giáo trong giai đoạn thành lập Giáo hội Việt Nam, khi kẻ sĩ Ignace, chàng thanh niên André Phú Yên cùng với linh mục Alexadre de Rhodes xây dựng cộng đồng. Ở đây phục vụ, truyền giáo, đi sâu vào văn hoá, ngôn ngữ, tâm thức người Việt không phải chỉ là lý thuyết mà là nếp sinh hoạt hằng ngày của cộng đồng những người "yêu thương nhau". - Kinh nghiệm sống Đạo lý làm người của xã hội Việt Nam đã sớm biết một nề nếp vượt lên các hình thức tôn giáo quá nặng nề hệ thống, cấp bậc: Đạo lý Khổng-Mạnh đi vào xã hội như một tinh thần sống; cuộc sống đạo nghĩa trong việc thờ cúng tổ tiên trong gia đình và đại gia đình... Đây là những kinh nghiệm quí giá để giúp Cộng đồng Công giáo Việt Nam trong tương lai thoát dần nét quá trần-tục-hoá của một tổ chức phẩm cấp trong Giáo hội chịu ảnh hưởng phần nào sinh hoạt cũ của nền hành chánh La-mã và xã hội Trung cổ Tây phương. Phải chăng đây là lý do thúc đẩy các Giám mục hy vọng cho tương lai Cộng đồng huynh đệ Kitô hữu Việt Nam, muốn lấy mẫu mực thời Tông đồ Công vụ làm điểm qui chiếu.*** Để kết luận, xin lấy lại lời Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong phần cuối Tông huấn Christi Fideles Laici: "Trước ngưỡng cửa Đệ III Thiên niên, toàn thể Giáo hội , Chủ chăn, cũng như Tín hữu, phải nhận ra một cách mạnh mẽ hơn nữa trách nhiệm của mình và vâng theo mệnh lệnh của Chúa Kitô: "Các con hãy đi khắp thế giới mà rao giảng Tin mừng cho muôn dân" (Mc. 16, 15) là tái tạo một lối truyền giáo mới, Giáo hội được giao phó để thực hiện một công trình có tầm vóc lớn lao, khó khăn và cao cả: Đó là việc tiến hành "một lối rao giảng Phúc âm mới mà thế giới ngày nay đòi hỏi một cách cấp thiết. Tín hữu giáo dân phải thấy rằng mình là phần tử tích cực trong công cuộc đó: Họ được gọi để loan báo và sống Phúc âm, bằng công tác phục vụ con người và xã hội trong tất cả những giá trị và đòi hỏi của chúng" (C.L. số 64)
GIẢ NHƯ TÔI LÀ MỘT GIÁO DÂN LÃNH ĐẠO TRONG GIÁO XỨ (tiếp theo Maranatha_36) Linh mục tiến sĩ Herchel H. Sheets Thứ năm, giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ xa lánh thái độ bi quan như xa lánh dịch hạch. Một hôm, tôi ra xe sau khi mua một vài món hàng. Cạnh đó, một cậu thanh niên giúp một bà cụ già đưa hàng lên xe. Cậu cố gắng bắt chuyện với bà, nên vui vẻ nói: “Hôm nay trời đẹp quá, hả bác?” Bà đáp: “Ờ, nhưng ngày mai lại mưa nữa cho mà xem!” Cái đẹp của trời hôm nay đã bị cơn mưa ngày mai làm xấu đi mất rồi! Thái độ này cũng có thể đưa vào giáo xứ nữa, và ít có điều gì nguy hại cho sức khoẻ của giáo xứ cho bằng thái độ bi quan. Nếu quá nhiều người nghĩ những điều tồi tệ về Giáo Hội, thì những điều tồi tệ ấy có thể xảy ra. Dĩ nhiên, thực tế phải có chỗ đứng, nhưng bởi lẽ Giáo Hội là Giáo Hội của Chúa Kitô, nên thái độ lạc quan cũng phải có chỗ đứng chứ. Stuart Briscoe từng là cha xứ của Giáo Xứ Elmbrook ở Milwaukee, Wisconsin, hơn 15 năm trường. Trong một cuộc phỏng vấn, người ta hỏi cha muốn được ghi gì trên bia mộ của mình. Người nhà của cha trả lời: “Nơi đây yên nghỉ Stuart Briscoe, người không bao giờ lo lắng trước cho một khó khăn chưa đến”. Có thể như thế là đi hơi xa, nhưng trong giáo xứ nào cũng cần có ít ra là một vài người tích cực khẳng định lập trường và thái độ lạc quan của mình. Giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ cố gắng làm một người như thế. Thứ sáu, giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ tìm cách có được và gìn giữ một cái nhìn bao quát trên đời sống giáo xứ tôi. Biết bao lần bạn nghe nói đến một hoạt động nào đó của giáo xứ và co người thốt lên: “Tôi đâu biết rằng chúng ta đang làm chuyện ấy”? Giáo xứ càng lớn, thì càng khó biết chuyện gì xảy ra, và trong một số giáo xứ, nếu chỉ có một người duy nhất biết mọi điều đang xảy ra, thì có nghĩa là chưa đủ. Chúng ta mong cha xứ biết rõ đời sống và chương trình giáo xứ. Nhưng nếu người giáo dân lãnh đạo sống đúng với ý nghĩa hạn từ ấy, thì có một người khác cũng cần biết rõ đời sống và chương trình giáo xứ. Chỉ khi nào bạn biết giáo xứ thì mới lãnh đạo được giáo xứ. Một khía cạnh khác, ấy là nếu bạn nhìn thấy tổng thể của giáo xứ, thì bạn ở vị thế tốt hơn để lượng giá. Tôi vừa mới đọc cuốn sách có tựa đề là Phúc Âm về sự Trùng Khớp (The Gospel of Coincidence). Tác giả của cuốn sách trình bày vai trò của Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời chúng ta, nhưng vẫn yêu cầu chúng ta cũng cần phải cầu nguyện cho hoàn cảnh của mình. Ông bảo: cầu nguyện về những hoàn cảnh đó là một cách để đối diện với chúng, lượng giá lại, có những ý tưởng mới để giải quyết chúng, và thay đổi thái độ chúng ta đối với các hoàn cảnh ấy. Ông bảo rằng lời khuyên chúng ta hãy đặt những ưu tư mình dưới chân Chúa là một lời khuyên đúng đắn, không phải vì Thiên Chúa sẽ giải quyết vấn đề của chúng ta, nhưng khi chúng ta đặt ưu tư dưới chân Người, thì chúng ta có thể bắt đầu nhìn chúng dưới góc độ khác. Nhìn giáo xứ với một cái nhìn tổng thể cũng có tác dụng đối với góc nhìn của chúng ta. Chúng ta có thể nhìn thấy những khía cạnh đặc biệt của giáo xứ dưói góc độ rõ hơn, nếu ta nhìn chúng trong tổng thể. Giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ cố gắng có được và gìn giữ một cái nhìn bao quát trên đời sống và chương trình giáo xứ tôi. Thứ bảy, giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ tìm cách biết rõ hơn về ‘hiệp thông’ và phát huy khả năng trình bày sự hiệp thông ấy với cộng đoàn tôi. Với tư cách là hội thánh, căn tính và nhiệm vụ của chúng ta liên quan mật thiết đến việc chúng ta hiểu và sống chiều kích hiệp thông. Thời buổi này, cảm thức về sự hiệp thông đang lâm nguy. Đây là điều khá kỳ lạ, bởi lẽ tinh thần cục bộ còn rất mạnh, dẫu cho thế giới trở nên nhỏ bé hơn bao giờ hết, nhờ những phương tiện thông tin và vận chuyển hiện đại. Yêu cầu phải tay nắm tay và làm chủ địa phương mình, tuy chính đáng, cũng có thể làm hỏng tinh thần hiệp thông. Ngay cả những giáo xứ rộng lớn của chúng ta cũng có thể trở thành khép kín, có thể nghĩ rằng mình đầy đủ rồi, có thể muốn độc lập và không dính dấp với bất cứ ai và bất cứ gì khác. Thế nhưng nếu tinh thần hiệp thông bị phá hủy, thì phần lớn tính chất duy nhất của Giáo hội cũng sẽ tiêu tan. Chính qua tinh thần hiệp thông mà chúng ta thực thi sứ mạng của mình trên khắp cùng mặt đất. Giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ không trao hết công việc ấy cho một mình cha xứ. Tôi sẽ chia sẻ trách nhiệm ấy với ngài. Tôi sẽ liên lỉ theo dỏi về giáo hạt, về buổi gặp gỡ thường niên, về pháp lý, về Giáo Hội toàn cầu. Tôi sẽ thường xuyên học làm quen với vô vàn cách thức mà chúng ta thực thi sứ mệnh vì Chúa Kitô trên khắp thế gian này, và tôi sẽ học cách kể lại câu chuyện ấy mà giúp cộng đồng giáo xứ tôi tự hào và vui mừng trong Giáo Hội chúng ta, đồng thời đáp ứng và chia sẻ sứ mệnh ấy một cách hân hoan và quảng đại. Thứ tám, giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ cố gắng nhớ và giúp đỡ anh chị em mình nhớ rằng Giáo Hội là của Thiên Chúa. Giáo Hội là gì? Dĩ nhiên Giáo Hội là những con người, có nghĩa là chúng ta làm nên Giáo Hội. Nếu chúng ta là Giáo Hội thì Giáo Hội không phải là của chúng ta. Chúng ta không thể nào là một sở hữu của chính mình; chúng ta là của Thiên Chúa. Giáo Hội là một sở hữu của Thiên Chúa, chứ không phải là của chúng ta. Nếu chúng ta thực sự hiểu và tin như thế thì chúng ta hẳn vừa kính trọng vừa hy vọng đối với Giáo Hội: Kính trọng, vì nếu Giáo Hội là của Thiên Chúa, thì Giáo Hội không phải là một tổ chức vô nghĩa; và hy vọng, vì nếu Giáo Hội là của Thiên Chúa, thì cả tương lai lẫn cùng đích của Giáo Hội không nằm trong tay của chúng ta. Đức Cha Helder Camara từng là Tổng Giám mục giáo phận Olinda và Recife ở miền đông bắc Brazil từ 1964 đến 1985. Với tư cách là chủ chăn trên một vùng nông thôn rộng lớn và nghèo xơ nghèo xác, ngài trở nên phát ngôn viên cho người dân ở mọi nơi, những người cùng chia sẻ niềm xác tin của ngài về sự thật, công lý và tự do chống lại mọi hình thức áp bức. Trong những chuyến công du của ngài tại Âu Châu, ngài trả lời cho rất nhiều câu hỏi, mà có những câu phản ánh một sự kính trọng và hy vọng đối với Giáo Hội ít hơn là thái độ của ngài. Khi trả lời một trong những câu như thế, ngài công nhận rằng “Giáo Hội không phải lúc nào cũng dễ thương và tinh tuyền, can đảm và thành thật, như là đáng lẽ phải như vậy”. Ngài bảo rằng khi thiết lập Giáo Hội, Chúa đã mặc lấy sự yếu hèn của con người, nhưng qua lời hứa không bao giờ bỏ rơi Giáo Hội, Ngài đã ban cho Giáo Hội một sức mạnh đặc biệt. Ngài nói: “Tôi là một giám mục già, và tôi đủ tự tin để yêu cầu các bạn đừng bao giờ chịu thua những yếu hèn, những thỏa hiệp, thậm chí những gian trá của Giáo Hội, nghĩa là không bao giờ thất vọng đối với Thần Khí của Chúa, Đấng không bao giờ ngưng ở lại trong Giáo Hội”. Giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo trong Giáo xứ, tôi sẽ cố gắng nhớ và giúp đỡ anh chị em mình nhớ rằng Giáo Hội là của Ai. Có lẽ nói như thế là đủ rồi. Tôi đã không nói gì về cầu nguyện hay học hỏi Kinh Thánh hoặc việc bác ái hay đi nhà thờ. Tôi cho rằng những việc đó là đương nhiên. Tôi cho rằng ai trung thành với Giáo Hội thì đương nhiên sẽ cầu nguyện, làm việc bác ái và tham gia phụng vụ. Tôi mong rằng mọi giáo xứ đều có nhiều giáo dân trung thành với giao ước của họ qua phép rửa và với lời hứa của một tín hữu trong Giáo Hội. Nhưng tôi cũng mong rằng mỗi giáo xứ đều có một vài Giáo Dân Lãnh Đạo có lòng thông cảm và những đức tính nêu trên. Tôi sẽ không bao giờ là một Giáo Dân Lãnh Đạo, nhưng giả như tôi là một Giáo Dân Lãnh Đạo, tôi sẽ cố gắng trở thành một nhà lãnh đạo như thế... Nếu bạn chưa phải là một Giáo Dân Lãnh Đạo giống như tôi mô tả, tôi nguyện cầu cho bạn trở nên một nhà lãnh đạo như thế!
SỨC MẠNH CỦA CẦU NGUYỆN Hoàng Quý - viết theo Jeffery L. Sheler Cho người hiền hòa và người quyền quý, thánh nhân và tên vô lại, một thôi thúc quyết liệt là hãy tiếp xúc với một Đấng cao cả hơn. Tuần báo US News & World Report, số đặc biệt Giáng Sinh 2004 đã viết về chủ đề Cầu Nguyện. Trước khi đi vào nội dung của bài viết, chúng tôi xin giới thiệu bản thăm dò ý kiến về cầu nguyện mới nhất (polling prayers) cũng của tuần báo này, một trong những tuần báo nổi tiếng của Hoa Kỳ.
Một số người cầu nguyện khi quỳ gối, một số khác lại lần chuỗi. Một số quỳ gối nơi thánh đường, số khác lại cầu nguyện ở bất cứ nơi đâu. Dưới bất cứ hình thức nào, cầu nguyện trở thành phần chính yếu của đa số các tôn giáo trên thế giới qua các thời đại. U.S.News đã thiết lập một Trang nhà lấy tên là Beliefnet (mạng lưới niềm tin) dùng để khảo sát về tại sao, thế nào, khi nào, và nơi đâu người ta thường dành thời giờ cho hành động trọng yếu này. Sau đây là bản tổng lược của hơn 6.500 câu trả lời cho cuộc khảo sát. 75.6 phần trăm những người trả lời là Kitô hữu. 64 phần trăm trả lời họ cầu nguyện mỗi ngày nhiều hơn một lần. 65.1 phần trăm nói rằng khi lời cầu nguyện của họ liên quan đến sức khỏe, họ cầu nguyện cho sức khỏe tâm trí hoặc bị buồn phiền, chán nản. 56 phần trăm nói rằng họ thường cầu nguyện nhiều nhất cho các phần tử trong gia đình. 3.3 phần trăm nói rằng họ cầu nguyện cho các người xa lạ. 38.3 phần trăm cho rằng mục tiêu quan trọng nhất của cầu nguyện là kết hiệp thân tình với Thiên Chúa. 41.2 phần trăm nói rằng các lời cầu nguyện của họ được trả lời. 1.5 phần trăm nói rằng các lời cầu nguyện của họ không bao giờ được đáp ứng. 73.9 phần trăm cho rằng khi lời cầu nguyện của họ không được trả lời, lý do quan trọng nhất là vì những lời cầu xin đó không phù hợp với chương trình của Chúa. 5.1 phần trăm nói rằng họ thường cầu nguyện trong các nơi thờ phượng. 79.4 phần trăm nói rằng họ thường cầu nguyện ở nhà nhất. 67 phần trăm nói rằng trong sáu tháng qua, các lời cầu nguyện của họ liên quan tới việc tạ ơn Chúa trong mọi lúc. Trở lại với đề tài của bài viết, tác giả quan sát thấy một người đàn ông xỏ bông tai và xâm mình đang lặng lẽ cúi đầu tại quầy ăn trưa ồn ào. Một em bé trong bộ đồ ngủ hồng đang quỳ gối bên cạnh giường và đọc kinh quen thuộc. Một cầu thủ túc cầu làm dấu Thánh Giá khi bước lên lãnh giải trong chương trình truyền hình quốc gia. Một phụ nữ tóc trắng thắp đèn cầy và im lặng khóc thương người chồng đang hấp hối. Một giáo sĩ mặc phẩm phục đen đang cầu nguyện cho hoà bình trên trái đất và cộng đoàn cùng đồng thanh đáp lại, "Amen." Cầu nguyện đã trở thành một lãnh địa quen thuộc tại Hoa Kỳ, một quốc gia tiên tiến nhất nhân loại. Cầu nguyện đã được đan dệt bằng các nhịp đập của cuộc sống, các đặc tính của cầu nguyện đã tác động trên các kinh nghiệm riêng tư cũng như công cộng của hàng triệu người. Thật vậy, theo cuộc thăm dò mới đây của Roper, hầu như một nửa người Hoa Kỳ nói rằng họ cầu nguyện hoặc suy niệm hàng ngày - nhiều hơn nhiều những người thường tham dự các nghi lễ tôn giáo. Đã hàng bao thế kỷ, những người thực hành cầu nguyện, bao gồm cả thánh nhân cũng như hạng vô lại, người đa nghi cũng như người tin tưởng, người hiền hòa cũng như kẻ quyền quý - mọi dân tộc thuộc mọi niềm tin và văn hóa và thuộc mọi hoàn cảnh sống, hoặc với niềm tin thành kính hoặc với nỗi sợ hãi bạc nhược, đều đã tiến tới một thực tại cao cả hơn chính họ, đó là cầu nguyện. Cầu nguyện được gọi là "ngôn ngữ bẩm sinh" của tâm hồn - một diễn đạt phổ thông của một ao ước bẩm sinh của con người muốn tiếp xúc với thần linh. Thánh Têrêsa thành Avila, một nhà thần bí thế kỷ thứ mười sáu đã diễn tả cầu nguyện thật thâm sâu như "một tình bạn thân mật, một lần trò truyện thân tình một mình với Người Yêu." Một câu ngạn ngữ Hồi giáo xác định rằng cầu nguyện và là tín đồ Hồi giáo đồng nghĩa với nhau. Và trong Ấn độ giáo, say mê cầu nguyện được coi như đang trên đường tiến đến tình trạng ngây ngất. James P. Moore trong cuốn "One Nation Under God: The History of Prayer in America" đã diễn tả: "Đã từ lâu trước khi Môsê vượt qua Biển Đỏ, trước khi Đức Phật chỉ dậy con đường tiến tới Niết Bàn, trước khi Chúa Giêsu chết trên thập giá và trước khi Môhamét biểu lộ sứ điệp trong kinh Koran, đã có cầu nguyện rồi." Những đối thoại thân mật Gác qua một bên những nguồn gốc xác thực về bản chất của cầu nguyện, từ lâu cầu nguyện đã có những đường nét thật uyên áo của mỗi tôn giáo sống động. Trong Do Thái giáo và Kitô giáo, cầu nguyện đã đâm rễ sâu từ những hiểu biết Kinh Thánh về Thiên Chúa như một nhân vật đang nghe và trả lời cho Dân của Ngài. Những lời cầu nguyện đầu tiên trong Kinh Thánh là những lời đối thoại thật thân tình: Ađam đàm đạo với Chúa "trong một ngày mát mẻ" trong Vườn Địa đàng; tổ phụ Abraham bạo dạn diễn đạt niềm bối rối của ông về lời Chúa hứa cho ông trở thành người cha của một dân tộc vĩ đại, "Chúa ơi, Ngài sẽ ban cho con điều gì, vì con vẫn tiếp tục là kẻ chưa sinh con cái?; Môsê kinh hãi trước lời phán ra "Có Ta đây" từ bụi gai bốc cháy và sau đó ông tuân hành tiếng gọi của Thiên Chúa để dẫn dắt dân Do Thái vượt thoát khỏi ác nô lệ Ai Cập. Trong Tân Ước, Chúa Giêsu được phác họa như một bậc tôn sư, một tấm gương của cầu nguyện.Trong lúc Ngài vẫn tuân thủ các phong tục truyền thống của người Do Thái về cầu nguyện trong Đền thờ và các hội đường, Ngài cũng thường xuyên cầu nguyện thân mật trong những cơ hội quan trọng khác: lúc nhận Phép Rửa, khi gọi kêu gọi các môn đồ, trong vườn Cây Dầu, và trên cây thập giá. Ngài chỉ dậy các ai theo Ngài hãy tránh lối cầu nguyện phô trương, "Hãy coi chừng thực hành việc đạo đức trước mặt người khác để họ xem thấy", cầu nguyện một cách tín thác "Hãy xin, anh em sẽ được", và hãy nguyện ước Ý Chúa lên trên ý của riêng mình, "Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện". |