|
|
Số 38, Ngày 3-5-2005 Chủ Nhật Hồng Giữa Mùa Tím - Nguyễn Ngọc Lan Tình yêu và Luật Lệ - Điều Nào Quan Trọng Hơn? - Nguyễn Chính Kết Sống Đời Kitô Hữu – Lm. Vũ Xuân Hạnh Chức Tư Tế Do Phép Rửa - Khổng Nhuận “Nói Với Chúa” và “Nói Về Chúa” Dẫn Đến Việc Hầu Hạ Chúa – Hoàng Ngọc Minh Cầu Nguyện Thay Đổi Mọi Việc – Hoàng Quý Tình Bạn – Maranatha dịch Định Nghĩa Về Niềm Vui Hoàn Hảo – Thái Văn Hiến dịch Đầy Thì Đổ - Chuyện Ngụ Ngôn Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa Quý độc giả, Trong Năm Phụng Vụ, có hai ngày mà linh mục chủ tế mặc lễ phục màu hồng khi cử hành thánh lễ: Chúa nhật thứ tư Mùa Chay, gọi là Chúa Nhật Mừng (Laetare) và Chúa nhật thứ ba Mùa Vọng, gọi là Chúa Nhật Vui (Gaudete). Chúa Nhật Laetare được gọi như thế theo chữ đầu tiên trong lời nguyện Nhập Lễ: ‘Laetare Jerusalem, Mừng vui lên, Giêrusalem!’ Chúa nhật này cũng được gọi là Chúa Nhật Hồng. Ngày xưa, Đức Giáo Hoàng có thông lệ làm phép một đóa hoa hồng bằng vàng và gửi tặng các vua chúa đã có công đóng góp nhiều cho Giáo Hội, như một dấu chỉ lòng ưu ái của vị cha chung; vì thế trong những ngày đầu người ta gọi Chúa Nhật này là Chúa Nhật Hoa Hồng với sắc phục hồng trong phụng vụ. Về sau, sắc phục này cũng áp dụng cho Chúa nhật Gaudete trong Mùa Vọng, vì Gaudete cũng là lời kêu gọi ‘Mừng vui lên.’ Thánh lễ của Chúa Nhật Hồng trong Mùa Chay Thánh khuyến khích tín hữu kiên trì tiếp tục cuộc hành trình cầu nguyện và hãm mình. Màu hồng cũng là màu của sự khích lệ. Thánh lễ này nhắc nhở chúng ta đào sâu và tinh luyện tinh thần sống đạo của mình trong niềm vui: vượt thắng sự mù tối thiêng liêng và trở về với Chúa Cha đầy lòng yêu thương và tha thứ. Vui mừng trong mùa sám hối; Chúa Nhật Hồng trong Mùa Tím; niềm hân hoan giữa những đau thương; đó là chứng tích của Mầu Nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô, và đó cũng là điều mà mỗi Kitô hữu cần phải cảm nghiệm khi sống và huớng đến trung tâm của Mùa Chay này. Vì vậy, Maranatha_38 dành cho những suy tư và cảm nghiệm về con đường lột xác của một tín hữu, trong tinh thần cầu nguyện, để siết chặt mối dây tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với anh chị em mình. Và đời sống sám hối không chỉ là để cho riêng mình mà là để trở nên một viên gạch đứng đúng chỗ và phát huy đúng mức những ân sủng riêng tư, hầu cho mỗi người và mọi người trở nên một trong Đức Kitô, vì vinh quang Thiên Chúa và vì phần rỗi các linh hồn. Trong tinh thần đó, Maranatha nhường lời cho Thánh Phaolô để ngài kết thúc Thư Ngỏ này như một hướng sám hối của những người sống trong niềm vui vì có niềm hy vọng.
Cùng với lời dặn dò của Thánh Phaolô, chúng ta cùng hiệp lòng để dâng lên lời khấn nguyện chân thành: Maranatha, lạy Chúa Kitô xin ngự đến!● MARANATHA
MÙA CHAY Nguyễn Ngọc Lan
“ Hôm nay có thể dùng màu hồng và được sử dụng phong cầm cũng như các nhạc cụ khác” (Những ngày lễ công giáo 1995-1996, tt 55-56). “Hôm nay” là Chủ nhật IV Mùa Chay, đúng 3 tuần sau Chủ nhật đầu Mùa Chay và đúng 3 tuần trước Chủ nhật Phục Sinh, nghĩa là ngay chính giữa Mùa Chay Thánh. Hội Thánh bỗng muốn hôm nay là một Chủ nhật tưng bừng sớm. Không phải chỉ với màu hồng lễ phục và tiếng đàn phong cầm. Tù đầu lễ, Hội Thánh cho vang lên lời mời gọi của ngôn sứ Isaia như một nhật lệnh: “Mừng vui lên, Yêrusalem hỡi….và hân hoan hưởng nguồn an ủi chứa chan (Is 6, 10-11). Lời nguyện nhập lễ lại nêu rõ lý do: “Xin ban cho toàn thể Dân Chúa khắp hoàn cầu được lòng tin sống động để hăm hở đón mừng lễ Vượt Qua sắp tới.” Mùa Chay là thời gian sám hối, đền tội đặc biệt vì tưởng niệm cuộc Thương khó và Tử Nạn của Chúa Giêsu. Nhưng không phải chỉ có thế. Mùa Chay chủ yếu là Mùa Vọng Phục Sinh. Người tín hữu không cứ phải chỉ nhớ mình là tro bụi và tối tăm mặt mũi trong tro bụi mịt mù. Trái lại, tâm hồn còn phải “được bừng sáng huy hoàng” (Lời nguyện hiệp lễ) và có “lòng tin sống động” là “hăm hở đón mừng lễ Vượt qua sắp tới”, đón mừng Chúa Kitô sống lại từ cõi chết và trông mong “xác loài người ngày sau sống lại.” Chủ nhật giữa Mùa Chay này được Phụng Vụ gọi là “Chủ nhật Mừng Vui lên.” NIỀM-VUI-TUY-VẬY Mừng vui là chuyện thường tình trong cuộc sống. Mừng một đám cưới, vui vì một trẻ thơ chào đời., đầy tháng, thôi nôi. Vui vì gia đình trên thuận dưới hoà., mừng vì làm ăn phát đạt hoặc thăng tiến trong nghề nghiệp. Niềm vui của kẻ đã khá giả còn trúng số độc đắc hay niềm vui của người ăn mày không dám đòi hỏi chi hết mà bỗng dưng được đãi xôi gấc hay một tô phở nóng sốt. Vui lớn, vui nhỏ, niềm vui cũng nhiều, cũng đa dạng như những nỗi buồn; nỗi khổ trong cõi người ta. Nhưng “Mừng vui lên” như lời Hội Thánh mời gọi kẻ tin hôm nay không phải là chuyện thường tình. “Mừng vui lên” ngay giữa Mùa Chay là thời gian người tín hữu được kêu gọi phải nhìn thẳng vào cái phần sự dữ mang trong mình: tội lỗi, khổ đau và nỗi chết. Đồng thời cũng phải đối diện với tất cả sự dữ trần gian mà Chúa Giêsu đã phải gánh hết, lãnh đủ cho chính mình Ngài, vì chúng ta và thay cho chúng ta. Tóm lại “Mừng vui lên” giữa lúc người tín hữu đứng trước tất cả những nỗi bất hạnh của loài người và cuộc thụ nạn của Chúa Giêsu. Nỗi bất hạnh không phải chỉ là văn chương trừu tượng nhưng là những gì rất thật đã từng bấu vào tim gan chúng ta. Nỗi bất hạnh đã từng là nước mắt, từng là xương máu. Nỗi bất hạnh mang một khuôn mặt cụ thể, thân quen của người bạn, người yêu, của vợ, của chồng, của một đứa con, một người mẹ hay của chính mình, khi “nghĩ mình, mình lại thương nỗi mình.” Hoặc mang hàng triệu khuôn mặt của cả một dân tộc này, đất nước nọ đang lâm cảnh nghèo đói, chiến tranh hay của cả một xã hội đang mất phương hướng, đang băng hoại tinh thần đạo đức. Thậm chí cả khuôn mặt chung của thế giới hôm nay, tuy văn minh tiến bộ hơn bao giờ hết nhưng không sao xóa hết được những vềt hằn cũ mà còn để lộ ra thêm những vết thương, những nét dị dạng mới. Cuộc Thụ Nạn không chỉ có trên tranh, cho dẫu là trên những bức danh họa thời Trung Cổ. Cuộc Thụ nạn hiện thực và tàn khốc đến nỗi khi chưa nếm thử, Chúa Giêsu chỉ nghĩ tới đã “buồn phiền quá đỗi”, “mồ hôi Ngài như máu nặng nhỏ giọt rỏ xuống đất” (Mt 26,36-46 và Lc 22,39-46) và khi đã cạn chén, Ngài đã phải kêu lên tiếng kêu tuyệt vọng nhất của tác giả Thánh Vịnh mà cũng là tiếng kêu tuyệt vọng nhất của loài người” “Êli, Êli lama sabakthani, tức là: Lạy Thiên Chúa tôi, lạy Thiên Chúa tôi! Nhân sao Người lại bỏ tôi?” (Tv 22,2; Mt 27,46). Tuy vậy, cứ “Mừng vui lên, hỡi Yêrusalem…” Tuy vậy, hôm nay vẫn “có thể dùng màu hồng và được sử dụng phong cầm và các nhạc cụ khác.” Tuy vậy mà niềm vui cứ hồng lên, cứ trỗi nhạc - quả là nghịch lý, là chướng tai gai mắt nhưng cũng lại là đặc biệt Kitô giáo. Niềm vui Kitô giáo không phải là chuyện thường tình chính vì là niềm-tuy-tuy-vậy. Niềm vui Hội Thánh mời gọi phải có ngay giữa Mùa Chay này không phải là thứ niềm vui dễ dãi như loại hạnh phúc tuyệt vời Coca-Cola hoặc hạnh phúc đắm say Tiger trên màn ảnh truyền hình, lại càng không hề là “thuốc phiện của nhân dân.” Nhưng cứ là Chủ nhật Hồng giữa Mùa Tím. Nói cách khác, đây là niềm vui mà chỉ có lòng tin vào Chúa Kitô Sống Lại có thể đem đến cho chúng ta, có thể biện minh được mà thôi. Một niềm vui không hề lãng quên mồ hôi nước mắt nhân loại nhưng đảm nhận tất cả mồ hôi nước mắt ất trong Chúa Giêsu Kitô đã chết mà Sống Lại. Chúa trên Thập Giá Cũng là Chúa Niềm Vui. Kitô hữu là Kitô hữu không phải để mà buồn nhưng là để mà vui. Đức Kitô là Chúa trên thập giá nhưng lại là Chúa Niềm Vui. Ngài không xuất hiện như chim báo bão. Ngài không hề là chuyên viên nói gở. Trái lại tất cả những gì Ngài đem lại cho đời, tất cả những gì Ngài nói với đời đều được công bố, loan báo. Từ lời truyền tin của Thiên sứ Gabriel, từ tiếng ca của thiên thần, thiên binh trong đêm Bêlem cho đến tiếng nói của người thanh niên áo trắng ngồi đợi trong mồ đá. Ngài công bố Niềm vui của Thiên Chúa: “Trên trời sẽ có vui mừng vì một người tội lỗi hối cải, hơn là vì chín mươi chín người công chính…” (Lc 15,6 và Mt 18,3). Và Niềm Vui cho con người: Phúc cho kẻ có tinh thần khó nghèo, Phúc cho kẻ hiền lành, Phúc cho kẻ ưu phiền, Phúc cho kẻ đói khát công chính, Phúc cho kẻ biết thương xót, Phúc cho kẻ tinh sạch trong lòng, Phúc cho kẻ tác tạo hoà bình, Phúc cho kẻ bị bắt bớ. Những Phúc và Phúc, không biết báo nhiêu là Niềm Vui. Cũng cứ là những Niềm-Vui-Tuy-Vậy. Vẫn cứ tuy vậy “hãy vui sướng và hân hoan” (Mt 5,1-12). Vẫn cứ là những Chủ nhật Hồng giữa Mùa Tím. Chúa Giêsu không chỉ loan báo, công bố mà còn luôn sống Niềm Vui ấy trong đủ mọi sắc thái, ở đử mọi mức độ, không đơn điệu. Hãy đến mà xem Ngài đã làm gì tại tiệc cưới Ca-na: Ngài chỉ làm …rượu và rượu hảo hạng cho niềm vui rất thường tình cũng được tràn đầy. Hãy theo Ngài trên những nẻo đường Ngài đi: như các môn đồ của Gioan Tẩy Giả, ai cũng “tai nghe mắt thấy, Ngài cho “mù được sáng mắt và què được đi, phung hủi được sạch, và điếc được nghe cùng kẻ chết sống lại, và người nghèo khó được nghe loan báo Tin Mừng.” Ngài đi đến đâu là đem Niềm Vui đến đó, nhất là cho những kẻ bất hạnh nhất, những kẻ “vô phúc” nhất. Gặp gỡ Ngài, người phụ nữ Samari (Ga 4, 1-30), người đàn bà ngoại tình (Ga 8,1-11), “đứa tội lỗi” sa nước mắt đẫm ướt chân Ngài rồi xõa tóc trên đầu cố lau cho sạch (Lc 7,36-50), bà goá thành Naim (Lc 7, 11-15), người phụ nữ Canaan (Mt 15, 21-28), người phụ nữ bệnh tật từ mười hai năm (Lc 8,43-48) – ôi những người phụ nữ tầm thường nhất của cái thời ở phương trời nào - thân phận đàn bà con gái đều chẳng đáng là bao- hoặc người mù từ thuở bình sinh như trong bài Tin Mừng hôm nay (Ga 9, 1-38), hoặc viên ty trưởng quan thuế thấp bé Zakkhê, nói chi đến những Maira và Martha, những Phêrô, Gioan và Giacôbê, gặp gỡ Ngài ai cũng được biết ngày vui nhất đời họ. Ngày Chủ Nhật Hồng. Tại sao có Tin Mừng thường xuyên ấy? Tại sao có Niềm Vui tỏa lan ấy? Hoàn toàn không phải vì Ngài là một kẻ mơ mộng xa rời cuộc sống thực tế, nhưng chính là vì làm người trọn vẹn với con người, giữa lòng thực tại nhân sinh, chia sẻ đắng cay con hơn ngọi bùi trần thế, Ngài vẫn loan báo Nước Thiên Chúa và Sự Sống Lại của Ngài. Nước Thiên Chúa không còn là một hứa hẹn xa vời nữa, Nước Thiên Chúa đã đến cùng với Ngài. Ngài là Thiên Chúa được ban luôn- không bao giờ đòi lại- cho loài người. Cả cuộc đời Ngài hướng về Sự Sống Lại. Ngay cả trong giờ phút kề cận cuộc Tử nạn và Thập giá: “Quả thật, quả thật, Ta bảo anh em: anh em sẽ khóc, sẽ than: còn thế gian sẽ mừng rỡ; anh em sẽ ưu phiền, nhưng sự ưu phiền của anh em sẽ trở thành nhiềm vui. Đàn bà sinh con thì ưu phiền, vì giờ của bà đã đến; nhưng sinh con rồi thì không còn nhớ cơn khốn quẫn, vì niềm vui là đã có một người sinh ra trên thế gian. Anh em cũng vậy, bây giờ anh em phải ưu phiền, nhưng Ta sẽ gặp lại anh em và nỗi vui mừng của anh em không ai giật mất được.” (Ga 16,20-22). Hội Thánh sống và làm chứng cho Niềm Vui. Chính Niềm-Vui-Tuy-Vậy này, Niềm Vui không ai giật mất được nữa là Niềm Vui Hội Thánh mời gọi chúng ta tham dự hôm nay. Hội Thánh vẫn sống và làm chứng cho Niềm Vui này một cách kỳ diệu, đặc biệt là thuở ban đầu. Sách Công Vụ Tông Đồ cũng có thể gọi là sách “Niềm Vui Tông Đồ” hoặc “Hoan Ca Hội Thánh.” Cuộc sống không dễ dàng, không êm ả gì. Các tín hữu thuở ấy thường bị nghi kỵ, bị lùng bắt, bị bách hại, chí ít thì cũng bị gạt ra bên lề xã hội khi chưa phải sống chui rúc dưới các hầm mộ. Họ không có thánh đường cao rộng, không rước sách đình đám. Nhưng họ đã có Niềm Vui không ai giật mất được và không hề giấu giếm Niềm Vui ấy. Niềm Vui ngày Hiện Xuống đã đẩy tất cả ra đường để nói say sưa về Thiên Chúa tuy chưa phải là giờ để có thể say rượu (CV 2,1tt). Niềm Vui “bẻ bánh ở nhà, cùng nhau chia sẻ của nuôi thân, lòng đầy hân hoan dạ đơn thành…” (Cv 2,46). Niềm Vui của các Tông Đồ bị tống vào tù, bị đánh đòn rồi được thả cho về, lại: “hân hoan mà bước ra khỏi công nghị vì đã thấy mình đáng được chịu sỉ nhục vì Danh” (Cv 5,17-41). Niềm Vui của Stêphanô một thân một mình đứng trước đám đông đang “tức uất lên và nghiến răng chống lại ông.” thì lại được đầy Thánh Thần mà hào hứng nói: “Này tôi thấy các tầng trời mở ra và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa.” (Cv 7,54-56). Rồi Niềm Vui trong một xứ thành Samari, khi “được nghe và thấy các dấu lạ Philip làm” mà “người người vui mừng, hớn hở.” (Cv 8,6-8). Cũng như ở Antiôkia xứ Pisidia, được nghe Phaolô rao giảng Tin Mừng cho họ, “người ngoại mừng rỡ và ca tụng Lời Chúa” (Cv 13,13-49). Viên hoạn quan sau khi được Philip rửa tội bên đường, “không còn thấy ông, đã tiếp tục hành trình cuộc sống vì ông sẽ mãi mãi được “thấy” Chúa Kitô là Ai (Cv 8,6-39). Trong cả đế quốc Roma ngạo nghễ kiêu sa, đã có một chỗ bất ngờ nhất:ngục giam Phaolô và Sila ở thành Philip vào lối nửa đêm. Động đất, các cửa mở toang, viên cai ngục run lẩy bẩy nhưng rồi lại cùng mọi người trong nhà ông đón nhận Tin Mừng, chịu thanh tấy. Thế là ông đưa Phaolô và Sila “lên nhà ông, cho dọn bàn ăn, và hân hoan với cả nhà vì đã được tin vào Chúa.” (Cv 14,15-34). Cũng có thể “lần chuỗi” Niềm Vui như vậy trong cuộc đời và các thư của Thánh Phaolô. Không mấy ai có thể làm chứng cho Niềm Vui bất khuất và bất tận như Phaolô. Lời tâm sự trong Thư gửi các tín hữu Philip như đã đủ để tóm lại tất cả: “Mà nếu có phải đổ máu hoà dâng với hy sinh lễ tế của lòng tin nơi anh em, thì tôi vui mừng và cùng vui với anh em hết thảy. Cả anh em nữa cũng vậy, hãy vui mừng và hãy cùng vui mừng làm một với tôi.” (Pl 2,17-18). Tin cũng là Vui. “Cả anh em nữa cũng vậy…” Nhưng “hãy vui mừng” thôi chưa đủ. Niềm Vui tín hữu không phải là đột xuất, niềm vui xuân thu nhị kỳ, niềm vui theo thời vụ. Niềm Vui “hoa quả của Thần Khí” (Gl 6,22) cũng là Niềm Vui trường kỳ, gắn liền với Đức Tin. Tin từ Đức Giêsu Kitô là Tin Mừng. Đón nhận Tin Mừng, Kitô-hữu tin cũng là vui, không thể nào khác được, và trong bất cứ cảnh ngộ nào, không gì, không ai cướp mất được Niềm Vui ấy. Cho nên Phaolô còn nhấn mạnh thêm trong thư gửi tín hữu Philip: “Anh em hãy vui luôn trong Chúa! Tôi xin lập lại, hãy vui mừng!” (Ph 4,4). Chúng ta có thể không cần kêu tên cực trọng hay làm dấu thánh giá liên hồi để chứng tỏ mình là Kitô- hữu. Nhưng không thể không luôn đánh dấu đời sống đức tin của mình bằng Niềm Vui. Thế kỷ trước, một triết gia vô-tín đã thách thức cả một thế hệ Kitô giáo có lẽ phần nào đã lây nhiễm bện buồn lãng mạn mênh mang xung quanh” “Ít nữa, là các người, các người là những kẻ tin mình được sống lại, các người hãy cho chúng tôi thấy mặt mũi sống lại của các người đi chứ.” Ngày nay thế giới tiến bộ vuợt bực về khoa học- kỹ thuật nhưng loài người vẫn cứ phải đương đầu với những bi kịch tầm vóc hành tinh, chiến tranh, thiếu đói, mù chữ, dịch bệnh. Từng người vẫn cứ phải đối diện với cô đơn, khổ đau, nỗi chết. Dán mắt suốt ngày vào màn ảnh truyền hình hay máy vi tính, người ta có thể lấy làm thú vị, được khuây khoả giải trí, nhưng đâu đã được gì hơn sự giải trí- đào thoát mà Pascal đã thấy rõ từ thế kẻ XVII. Niềm Vui đích thực không xuất hiện trên màn ảnh vi tính cũng như thời Pascal đã không thể gặp được trong rừng khi triều đình tổ chức đi săn. Xung quanh chúng ta, trong khu xóm, tại chỗ làm việc, ở ngoài đường, thiên hạ không thách thức chúng ta như triết gia vô-tín nọ, nhưng người người vẫn có quyền tìm nơi ánh mắt chúng ta chút gì của Ánh Sáng Phục Sinh, và trên môi chúng ta nụ cười kín đáo mà bất tận của lòng tin Chúa Kitô đã Sống Lại. Cuộc sống người tín hữu có là Mùa Tím triền miên thế nào đi nữa thì ngày ngày – tuy vậy - vẫn phải là Chủ Nhật Hồng. Trong bất cứ cảnh ngộ nào, Niềm Vui cũng phải phản ảnh Lòng Tin. Niềm Vui thuộc về căn cước, cốt cách Kitô-hữu. Niềm Vui còn thuộc về sứ vụ của Hội Thánh. Hẳn không phải là tình cờ mà Hiến Chế Mục Vu của Công Đồng Vatican II bắt đầu và được gọi bằng hai chữ Gaudium et Spes. Vui Mừng và Hy Vọng. Loan báo Tin Mừng, Hội Thánh cũng trực giữ Niềm Vui cho thế gian năm chìm bảy nổi mà vẫn được Thiên Chúa yêu thương. Cho tới khi Chúa lại đến!●
TÌNH YÊU VÀ LUẬT
LỆ
Nguyễn Chính Kết 1. Hai cung cách giữ đạo khác nhau Trong bài Tin Mừng về việc Đức Giêsu làm sáng mắt một người mù bẩm sinh vào ngày sabát (Ga 9,1-41), ta thấy hai não trạng hay hai cung cách giữ đạo khác nhau giữa Đức Giêsu và người Pharisêu. Một đằng nhìn thấy con người để yêu thương, và còn một đằng chỉ nhìn thấy lề luật, nguyên tắc để tuân giữ. Nghĩa là một đằng quan trọng hóa con người, còn một đằng quan trọng hóa lề luật. Khi thấy một người mù cần được giúp đỡ, thì Đức Giêsu động lòng thương và ra tay cứu giúp, bất chấp hôm đó là ngày sabát, là ngày mà luật Môsê cấm ngặt không được làm việc. Như vậy, Ngài coi việc cứu người quan trọng hơn việc giữ luật sabát, cho dù đây là luật buộc rất ngặt: người vi phạm ở mức nghiêm trọng có thể bị tử hình (x. Xh 31,14-15; 35,2). Còn người Pharisêu coi việc giữ luật sabát quan trọng hơn việc cứu người, vì đây là luật buộc rất ngặt. Theo họ, thà để người khác tiếp tục bị mù, bị thiệt hại, bị chết, còn hơn là vi phạm lề luật của Thiên Chúa. 2. Quan niệm khác nhau giữa người Pharisêu và Đức Giêsu Hai thái độ ngược nhau đó luôn luôn tồn tại trong cách giữ đạo của các tín đồ trong mọi tôn giáo. Thái độ nào cũng có những lý do chính đáng và hợp lý của nó. Thái độ nào cũng đúng, nhưng đúng ở những mức độ tâm linh cao thấp khác nhau. Theo quan điểm của người Pharisêu thì luật giữ ngày sabát là luật Môsê, cũng là luật của Thiên Chúa. Vì thế, người công chính phải tuân giữ lề luật, càng công chính thì càng phải giữ luật một cách chi tiết. Do đó, khi thấy Đức Giêsu chữa bệnh trong ngày sabát, họ bàn thảo với nhau: «Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sabát» (Ga 9,16). Họ quan niệm: nếu Đức Giêsu là người của Thiên Chúa thì tất nhiên Ngài phải giữ luật Môsê, thậm chí còn nghiêm chỉnh hơn chính họ nữa. Quan điểm của họ quả hết sức hợp lý vì nó hoàn toàn được xây dựng trên rất nhiều đoạn Kinh Thánh khuyên người ta phải giữ luật (x. Đnl 27,26; 30,10; Gs 22,5; 23,6; 1V 2,3; v.v…). Vì thế, đối với họ, việc giữ luật tôn giáo là vô cùng quan trọng. Do đó, nếu có sự xung đột giữa một bên là giữ luật Chúa, một bên là đòi hỏi của lương tâm và đức ái, thì phải ưu tiên cho việc giữ lề luật. Nhưng quan điểm của Đức Giêsu thì khác hẳn. Đành rằng luật Môsê là luật của Thiên Chúa, nhưng khi có xung đột giữa luật của Thiên Chúa với những đòi hỏi của tình yêu hay đức ái, thì phải ưu tiên tuân theo luật của đức ái. Nếu ngày sabát mà tình yêu hay đức ái đòi buộc phải làm việc, phải chữa bệnh, thì phải chấp nhận lỗi luật sabát mới đúng với ý Thiên Chúa. Đức Giêsu đưa ra trường hợp rất cụ thể khi chữa bệnh cho một người phụ nữ bị quỷ ám: «Còn bà này, là con cháu ông Ápraham, bị Xatan trói buộc đã mười tám năm nay, thì chẳng lẽ lại không được cởi xiềng xích đó trong ngày sabát sao?» (x. Lc 13,10-17). Vì thế, cho dù lỗi luật sabát có thể dẫn đến tử hình, nhưng Đức Giêsu hoặc các tông đồ đã nhiều lần lỗi luật sabát vì lý do bác ái hay vì một lý do chính đáng khác. Chẳng hạn, các môn đệ Đức Giêsu bứt bông lúa mì (x. Mt 12,1-8; Mc 2,23-28; Lc 6,1-5); Đức Giêsu chữa người bị bại tay (x. Mt 12,9-14; Mc 3,1-6; Lc 6,6-11); chữa một phụ nữ còng lưng (Lc 13,10-17); chữa người mắc bệnh phù thũng (Lc 14,1-6); chữa một người đau ốm ở hồ nước tại Bếtdatha (Ga 5,1-18); chữa một người mù từ thuở mới sinh (Ga 9,1-41), tất cả đều được làm vào ngày sabát. Ngài đã bị các kinh sư và luật sĩ cảnh cáo nhiều lần về việc Ngài lỗi luật ngày sabát, và tìm cách giết Ngài, nhưng Ngài vẫn cứ lỗi luật sabát vì lý do đức ái, bất chấp nguy hiểm. Ngài không hề khuyên bảo người bệnh hãy đến với Ngài vào ngày khác thì Ngài mới chữa bệnh cho. Cũng không bảo họ đừng đến với Ngài vào ngày sabát để Ngài giữ luật sabát cho trọn vẹn. Cách hành xử của Ngài như thế chẳng phải là một mẫu gương để chúng ta noi theo sao, hỡi những người theo Đức Giêsu và những kẻ tự hào mình theo Ngài? 3. Tình yêu hay đức ái ví như hiến pháp, luật lệ khác ví như các khoản luật Điều ấy cho thấy luật bác ái cao trọng hơn bất cứ loại luật lệ nào, dù là luật thành văn của Thiên Chúa như luật Môsê, hay luật của Giáo Hội và những luật lệ do con người lập ra. Vì trong Kitô giáo, đức ái được ví như hiến pháp, còn tất cả những luật lệ thành văn khác đều chỉ được ví như luật pháp mà thôi. Luật pháp phải thể hiện tinh thần của hiến pháp, giúp hiến pháp được thực hiện trong những trường hợp cụ thể hơn trong đời sống. Vì thế, trường hợp nào mà thi hành một điều khoản của luật pháp trở thành vi phạm hiến pháp thì trường hợp ấy, ta không nên thi hành khoản luật ấy. Nếu ai vẫn cứ thi hành khoản luật ấy, thì người ấy vi phạm hiến pháp. Nếu vì muốn thi hành cho đúng hiến pháp mà đành phải vi phạm một điều khoản trong luật pháp, thì việc vi phạm đó không còn là vi phạm nữa. Vì mục đích của luật pháp là để thực hiện hiến pháp, chứ không ngược lại. Đức ái chính là hiến pháp, là luật tối thượng bao trùm tất cả mọi khoản luật, nên thánh Phaolô đã dám quả quyết: «Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật» (Rm 13,8; x. 18,10); «Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Kitô» (Gl 6,2). Thánh Giacôbê thì cho đức bác ái là luật cao nhất của Kinh Thánh: «Luật Kinh Thánh được đưa lên hàng đầu là Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình» (Gc 2,8). Lời tuyên bố của hai vị thánh này thật rõ ràng. Thánh Âu Tinh cũng nói: «Cứ yêu đi, rồi muốn làm gì thì làm» (Ama et fac quod vis). Luật Môsê là luật của Thiên Chúa, được chính Thiên Chúa truyền qua Môsê. Thế mà khi có sự xung đột giữa luật Môsê và đức ái hay điều lương tâm đòi buộc, thì Đức Giêsu đã chấp nhận lỗi luật Môsê (tức luật Chúa) chứ không chấp nhận lỗi đức ái hay lỗi luật lương tâm. Hiện nay, luật của Đức Giêsu đã thay thế luật Môsê, và luật của Ngài là luật yêu thương, nên yêu thương chính là luật tối thượng, đúng như thánh Giacôbê đã nói ở trên (Gc 2,8). Luật Môsê là luật của Thiên Chúa mà còn vậy, huống chi những luật do con người lập ra. Ai coi việc thi hành đức ái nhẹ hơn một khoản luật nào đó do con người lập ra, thì câu sau đây của Đức Giêsu đáng để cho họ suy nghĩ: «Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân» (Mt 15,8-9). Vậy, chúng ta phải theo lập trường của Đức Giêsu hay của người Pharisêu? 4. Mục đích của lề luật là hình thành đức ái trong lòng con người Cũng như một cây non cần phải buộc vào một cọc thẳng để cây mọc thẳng lên. Nhưng khi cây đã mọc thẳng và các mô mộc trong cây đã cứng cát rồi, thì người ta bỏ cọc đi. Luật lệ giống như cái cọc thẳng ấy để giúp cho tâm linh còn non yếu mọc thẳng lên. Nó có nhiệm vụ hình thành đức ái ở trong ta. Khi đức ái của ta đã được hình thành và trở nên vững chắc, thì ta phải hành động theo sự đòi hỏi của đức ái đã được hình thành ấy ở trong ta. Lúc ấy lề luật đã đóng hết vai trò và nhiệm vụ của nó. Thật vậy, theo thánh Phaolô, lề luật được lập nên không phải cho người công chính, mà cho người tội lỗi tức chưa hiểu biết được cốt tủy của sự công chính (x. 1Tm 1,8-10). Ngài cũng nói: «Không người phàm nào được nhìn nhận là công chính vì đã làm những gì Luật dạy. Ngày nay, sự công chính của Thiên Chúa đã được thể hiện mà không cần đến Luật Môsê» (Rm 3,20-21; x. Gl 3,11). Sự công chính không hệ tại việc giữ luật lệ: «Nếu người ta được nên công chính do Lề Luật, thì hoá ra Đức Kitô đã chết vô ích» (Gl 2,21); mà do việc có đức ái hay tình thương đích thực ở trong lòng hay không. Vì sự công chính hay thánh thiện hệ tại việc mình có trở nên giống Thiên Chúa hay không, có Thiên Chúa ở trong mình hay không. Mà Thiên Chúa tự bản chất chính là tình yêu, là đức ái (x. 1Ga 4,8.16)●
SỐNG ĐẠO Lm. Vũ Xuân Hạnh Để giúp người tín hữu sống mùa Chay, nhất là chuẩn bị tâm hồn bước vào tuần Thánh theo Chúa Kitô vác Thánh giá lên đồi cao, chấp nhận tử nạn và Phục Sinh, các mục tử thường tổ chức một thời gian khả dĩ nào đó gọi là tĩnh tâm để các tín hữu có dịp lắng đọng tâm hồn mình. Chắc hẳn ngoài việc được lắng đọng tâm hồn, tĩnh tâm còn nhắm tới một điều gì cao cả hơn, quan trọng hơn? Điều cao cả và quan trọng ấy chính là giúp người Kitô hữu ý thức sâu xa việc SỐNG ĐỜI KITÔ HỮU của mình. I. TẠI SAO PHẢI TĨNH TÂM? Để trả lời câu hỏi này, tôi muốn gởi bạn một câu hỏi khác: Dấu chỉ nào để biết một Kitô hữu? Hiểu theo nghĩa mặt chữ thì: Kitô hữu là người có Chúa Kitô. Trong nước rửa tội, ta gia nhập Hội Thánh của Chúa Kitô. Chúa Kitô là Đầu, Hội Thánh là thân thể của Người. Nếu Đầu là Con Thiên Chúa, thân thể một khi kết hợp với Đầu, trở thành Kitô hữu, cũng lại là Con của Thiên Chúa. Vì Đầu là con, thân thể cũng là con. Vì thế Kitô hữu có nghĩa là làm Con Thiên Chúa. Nhưng dù đã là Con Thiên Chúa, đã thuộc về Chúa Kitô, đó chưa phải là điểm kết của tên gọi Kitô hữu. Hay nói ngược lại, không bao giờ ta được phép dừng lại ở một lối suy nghĩ rằng: vì tôi là Kitô hữu, đã được rửa tội, đương nhiên tôi là Con Thiên Chúa. Vì là người có Chúa Kitô ở cùng, thế là đủ, tôi sẽ an tâm trong lối sống của mình. Chẳng cần nỗ lực, chẳng cần cố gắng làm chi. Hiểu như thế là sai lầm. Hiểu như thế là làm cớ vấp phạm cho anh chị em quanh mình, nhất là làm cớ vấp phạm cho những người mà mình lãnh trách nhiệm giáo dục họ, hoặc những anh chị em chưa cùng niềm tin Công giáo với mình… Hiểu như thế, nghĩa là ta đang tự giết chết chính đời sống Kitô hữu của mình. Độc hại hơn, chính ta sẽ là người tự tay dập tắt ơn cứu độ Chúa ban cho bản thân mình. Hiểu như thế, rất có thể ta sẽ trở thành một kẻ bê tha, độc ác, thủ đoạn, dâm đảng, say sưa, lừa lọc… Vì hiểu như thế chính là biểu hiện của một kẻ chẳng còn đức tin. Nếu không tin Thiên Chúa, không tin một Đấng thiêng liêng ở bên trên mình, có tội ác nào người ta không dám phạm! Cũng một cách hiểu như thế, người Do thái đã bị Chúa phản đối: “Thiên Chúa có thể biến những hòn đá này thành con cái Apraham.” Đúng! Chúng ta có tên gọi rất cao cả là Kitô hữu. Nhưng người Kitô hữu thì không bao giờ cho phép mình chỉ dừng ở danh xưng mà lại có thể coi mình là Kitô hữu. Vì điều quan trọng, trước hết là đời sống chứ không phải danh xưng. Bởi thế vào đạo chưa phải là tốt nhất. Điều tối cần thiết là giữ mình trong đời sống đạo, chứ không phải vì mình đã được rửa tội. Chỉ có đời sống, chứ không phải danh xưng, mới chứng minh rằng ta là một Kitô hữu. Đời sống của một Kitô hữu đích thực phải là một đời sống lương thiện, thánh thiện, biết sợ sự dữ, tránh xa dịp tội, tránh xa những gì có nguy cơ lôi kéo mình xa Chúa “Họ cũng hãy là người biết đề cao tình yêu, bác ái, vị tha, khoang dung, chung thủy.” Sống đời Kitô hữu còn là sống một tình yêu hiệp thông không ngừng với Thiên Chúa bằng sự cầu nguyện liên lỷ, bằng tuân giữ Lời Chúa, tha thiết và ước ao sống với Chúa ngày một thấm đậm hơn. Nhưng ta mang thân phận yếu hèn, dễ sa ngã, dễ làm đổ vỡ ơn Chúa, làm cho đời Kitô hữu của mình lu mờ. Thậm chí, nhiều anh em quanh mình đã ngã lòng trông cậy, có khi còn ở lỳ trong tình trạng tội lỗi. Tắt một lời, do cuộc sống lắm khắc nghiệt, hay mải bon chen đời thường và nhiều cám dỗ khác nhau, chúng ta đã làm suy giảm, hoặc đã đánh mất hoàn toàn tình trạng ơn thánh của mình. Bởi thế, ta cần có những khoảnh khắc hồi tâm để nhận ra mình, để đọc lại quá khứ đời mình mà thú nhận những lầm lỡ trước mặt Chúa. Khoảnh khắc hồi tâm ấy, gọi là tĩnh tâm. Vậy ngay giờ phút này, anh chị em, và tôi hãy xua đi mọi ồn ào quanh mình, mọi lo toan đời thời thường, dù đó là những lo lắng rất thực tế như: cơm - áo - gạo - tiền, để lắng đọng tâm hồn, hướng về Chúa, nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần chiếm lấy tâm hồn, nhờ đó mỗi một người tham dự những ngày tĩnh tâm thêm sốt mến, hiệu quả và tràn ngập ơn tha thứ của Chúa. Anh chị em hãy tạm quyên đi những nỗi thương buồ, có thể đang vươn trong tâm hồn. Anh chị em hãy cố gắng xua đi những nỗi nhọc nhằn, mồ hôi và nước mắt của một ngày sống vất vả, mỏi mệt. Anh chị em cũng hãy tạm gác lại những bộn bề của cuộc sống: nào là tranh chấp, giận hờn, nhà chưa đủ ấm, áo chưa đủ lành. Thay vào đó, anh chị em hãy dâng lên Chúa tất cả, xin Chúa thánh hóa tất cả. Hãy tạm quyên tất cả ngay trong giây phút này, để lòng mở ngỏ cho Lời và cho ơn của Chúa thấm đẫm hồn mình. Vì nếu trong một ít thời gian như thế này, ta có lo lắng, muộn phiền, thì cũng chẳng giải quyết được gì. Nhưng nếu ta dâng lên Chúa và biết chắc chắn Người không bỏ rơi ta, tâm hồn mình sẽ bình an hơn. Và nhờ Chúa, những lao nhọc đời thường kia, tưởng chừng trôi tuột, lại sinh ơn cứu độ đời đời không những cho ta mà còn cho anh chị em xung quanh nữa. Vậy hãy lắng đọng tâm hồn để tĩnh tâm. Và tĩnh tâm để tìm lại ý nghĩa trọn vẹn cho chức vị làm con Thiên Chúa của một tâm hồn vốn đã là Kitô hữu, nhưng lắm khi đã đánh mất hình ảnh của Chúa Kitô. II. ƠN GỌI KITÔ HỮU (ngày thứ hai) Trong lịch sử Giáo Hội, từ ngàn xưa, để trao cho ai nhiệm vụ gì, Chúa ban cho họ ơn gọi, mời gọi họ thực thi sứ mạng theo ý của Người. chẳng hạn: - Để làm dấu chỉ cho sự ăn năn sám hối, cũng là dấu chỉ của tình yêu bao la mà Chúa dành cho dân của Người, Người dạy tiên tri Hôsê cưới lấy một người vợ đàn điếm, phản bội. Còn tiên tri phải yêu thương, tha thứ cho người vợ ấy. Qua đó, tiên tri Hôsê minh chứng rằng: con người luôn phản bội, còn Thiên Chúa luôn yêu thương, đón nhận, thủy chung, tha thứ… Trong ơn gọi của mình, tiên tri đã vâng lời Chúa. - Thiên Chúa đã kêu gọi Abraham, để nơi ông, Người thành lập cho riêng mình một dân tộc cưu mang ơn cứu độ của toàn thế giới. - Để thành lập Giáo Hội, Chúa Giêsu đã tuyển chọn và mời gọi các thánh Tông Đồ và nhiều môn đệ khác đi theo Người. - Để tiếp nối dòng lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã tuyển chọn bao nhiêu vị thánh. Chẳng hạn: Thánh Phaolô, thánh Augustinô, thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, và nhiều vị thánh của Giáo Hội. Hôm nay, Người tiếp tục mời gọi chúng ta bước vào đời sống của một Kitô hữu. Trên nền tảng của ơn gọi Kitô hữu ấy, ta sẽ thực thi cách cụ thể theo từng ơn gọi riêng của đời mình như: ơn gọi tu trì, ơn gọi sống giữa đời, sống độc thân, làm người công nhân, làm thầy cô giáo, làm anh nông dân, làm cha, làm mẹ, làm anh, làm chị, làm cô thương gia, làm anh kỹ sư, làm một cô thiếu nữ vừa chớm bước vào tuổi thanh xuân, làm một chàng trai mạnh mẽ và nghị lực hiên ngang bước vào đời, hay chỉ đơn giản là người anh em sống giữa muôn người bằng thái độ yêu thương, đón nhận và được đón nhận. Nhưng đó chưa phải là điểm cuối cùng của ơn gọi Kitô hữu. Tất cả những sứ mạng mà chúng ta lãnh nhận như đã nói bên trên, đều phải nhắm đến một ơn gọi nền tảng: ƠN GỌI NÊN THÁNH. Muốn nên thánh, Người Kitô hữu phải sống mẫu mực, sống như đang có Chúa Kitô sống trong tâm hồn mình. Từ đây ơn gọi Kitô hữu kéo theo những liên hệ mới: Sống như Chúa Kitô là sống một đời sống chứng tá hoàn hảo. Mà sống chứng tá là thực thi ơn gọi truyền giáo. Nếu nói cho đến kỳ cùng: Ơn gọi sống đời Kitô hữu phải được thể hiện trong ơn gọi truyền giáo bằng đời sống chứng tá. Và đích đến cuối cùng của ơn gọi Kitô hữu chính là nên thánh. III. ĐỨC MARIA - MẪU GƯƠNG CÁC KITÔ HỮU (ngày thứ ba) Chúng ta có thể nêu ra rất nhiều những nhân đức mà Đức Maria, một Kitô hữu hoàn hảo đã để lại cho mình, như: khiêm nhường, hiều hậu, từ bi, khoan dung, bác ái, chịu đựng, lắng nghe lời Chúa. Nhưng ở đây, chúng ta chỉ nhắc đến một nhân đức tuyệt vời của Đức Maria: Xin Vâng đến cùng. Cả cuộc đời của Mẹ là một chuỗi dài của lời xin vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Mẹ vâng phục trong một lối sống thánh thiện ở giữa gia đình, bên cạnh cha mẹ của mình là thánh Anna và thánh Gioan Kim. Mẹ vâng phục khi đón nhận một gia đình, đón nhận Chúa Giêsu làm con của mình từ khi thành thai đến lúc kết thúc cuộc đời dương thế của Người Con ấy. Đặc biệt, hình ảnh Đức Maria giữa pháp trường, cùng hiện diện bên cạnh Cây Tử Nạn của Con là một lời xin Vâng mãnh liệt, một lời xin Vâng lớn lao đến nỗi Mẹ đã chấp nhận trao hiến chính Người Con Một yêu dấu của mình. Nơi lời xin Vâng của Mẹ, ngoài Chúa Kitô, có còn lời xin Vâng nào đẹp lòng Chúa như thế. Sở dĩ lời xin Vâng của Mẹ nên cao cả, và là mẫu gương cho mọi lời xin vâng của mọi Kitô hữu, bởi lẽ lời xin Vâng ấy, không chỉ bằng lời, nhưng trước hết, là một thái độ Vâng Phục của đức tin: tín thác hoàn toàn, trông cậy đến mức không một trở lực nào có thể cản bước. Yêu mến trọn vẹn cho dù tan cõi nát lòng. Lời xin Vâng của Mẹ đã gợi hứng cho lời ca ngợi đầy lòng tin trong bài ca “Calvê Mặt Trời Đã Tắt” của tác giả Phương Anh “Khi mặt trời đồi Calvê đã tắt, muôn trăng sao khóc thương Ngài lìa đời. Khi Giêsu dang tay nhìn loài người, khi Giêsu trút hết hơi thở tình yêu, thì mẹ Maria vẫn tin vững vàng đó là Thiên Chúa, Đấng chí tôn toàn năng. Thì Mẹ maria vẫn tin vững vàng, đó là Thiên Chúa, Đấng Cứu Tinh trần gian.” Mẹ Maria có rất nhiều nhân đức. Mỗi nhân đức của Mẹ đều là bài học quý giá để ta học lấy mà sống đời Kitô hữu hoàn hảo như Mẹ. Nhưng bây giờ chỉ còn một ít thời gian nữa, cả Giáo Hội cùng bước theo Chúa Kitô trên đường thương khó để sống lại hành trình thập giá trong những ngày cuối đời dương thế của Người. Bởi vậy, anh chị em hãy cùng tôi, ngắm nhìn Đức Maria để học lấy tiếng xin Vâng của Mẹ. Nhất là tiếng xin Vâng được dâng hiến trên đường thập giá đến mức tuyệt vời. Học lấy tiếng xin Vâng của Mẹ để cùng đi với Mẹ, cùng chấp nhận thập giá đớn đau, cùng chịu lột trần, chịu đâm thấu và gục đầu chết tan thương, nhục nhã trong cái chết của Người Con dấu ái, cũng chính là Chúa của Mẹ và Chúa của chúng ta. Tiếng Xin Vâng của Mẹ Maria là nối dài tiếng xin Vâng của Chúa Kitô. Vì thế, hôm nay bên cạnh Chúa Kitô, sống lại đường Thánh Giá của Người trong suốt mùa Chay, nhất là trong tuần Thánh sắp tới, ta hãy bắt chước Mẹ dâng hiến trọn vẹn thập giá đời ta, để Thánh Giá Chúa Kitô thánh hóa mình. Và khi xin vâng như Chúa Kitô đã xin Vâng, điều mà Đức Maria đã thực hành trước chúng ta, xét ở một khía cạnh nào đó, chúng ta đã sống trọn vẹn chức danh Kitô hữu của mình. Nếu ơn gọi Kitô hữu là một ơn gọi gắn liền với đời sống chứng nhân: nhắm công tác truyền giáo, thì thái độ xin vâng trong đức tin, mà anh chị em, cùng tôi hiến dâng lên Thiên Chúa sẽ là những chứng tá cụ thể mà mỗi Kitô hữu thực hiện, để hướng về một ơn gọi mang tính vĩnh cửu: ơn gọi nên thánh. Nói cách khác cho dễ hiểu: Thái độ xin vâng của một đức tin tuyệt đối, trong mọi hoàn cảnh của đời người Kitô hữu, sẽ là bằng chứng để mọi người nhận ra Chúa Kitô. Thái độ xin vâng của đức tin trong từng ngày sống, sẽ là những bậc thang quý giá, đưa ta tiến tới sự trọn hảo của ơn gọi nên thánh. Nguyện xin Đức Mẹ cầu bàu và trợ lực, để không chỉ trong mùa Chay hay suốt Tuần Thánh, nhưng là mỗi ngày trong cả cuộc đời chúng ta, trở thành một chuỗi xin vâng và dâng hiến như Mẹ Maria đã thực hiện bằng cả cuộc đời trần thế của mình●
Khổng Nhuận Bài Tin Mừng Chúa nhật thứ Hai mùa chay vừa đi qua, nhưng ý nghĩa vẫn còn mãi mãi thâm sâu “Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem.22 Các người thờ Đấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái.23 Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật.” (Ga 4:21-23) Thờ phượng trong Thần Khí và sự thật là một điều rất khó hiểu đối với đa số giáo dân vì Thần Khí và chân lý vừa vô hình vừa mang vẻ cao siêu huyền bí. Để dễ hiểu hơn, chúng ta có thể tìm hiểu việc thờ phượng với thiên chức tư tế do Phép Rửa. Qua bài “Giáo dân thời giáo hội sơ khai: những viên gạch xây dựng một nền thần học giáo dân”, Lm. Phan Đình Cho đã bàn về chức tư tế do phép rửa do Phép Rửa khá lý thú và đưa ra những kết luận tích cực sau đây: Mọi Kitô hữu được trở thành tư tế do phép rửa và vì thế họ (giáo hoàng, giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân) đều bình đẳng với nhau do được tham dự vào chức tư tế của Chúa Giêsu Kitô, là phẩm giá cao nhất của mọi Kitô hữu. Không có một chức tư tế nào khác trong giáo hội cao trọng hơn chức tư tế này. Theo lược đồ này thì Giáo hội gồm thành phần đại đa số Giáo dân và một phần thiểu số gồm linh mục, giám mục, giáo hoàng, mà mỗi thành phần đều mang một sứ vụ chuyên biệt - tuỳ hoàn cảnh, nhưng tất cả các sứ vụ đó đều nhắm vào lợi ích cho toàn giáo hội. Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí.5 Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa.6 Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người.7 Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung..(1Cr 12:4-7) Vậy giáo dân mang những sứ vụ nào? Có nhiều, nhưng trong khuôn khổ bài này chúng ta cùng nhau bàn về sứ vụ tư tế do phép rửa. Tế tự hình thức: Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha,không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lemNếu chỉ hiểu theo nghĩa tế tự bên ngoài thì vô phương. Ngay cả những người trưởng thành cũng dễ lâm vào cảnh bị động vì chủ tế hầu như bao sân tới 80%. Giáo dân chỉ đáp vài câu, hát vài bài, nhiều nơi ở Viêtnam khoán trắng cho ca đoàn. Cuối cùng thì giáo dân cũng chỉ chủ yếu là xem lễ và nghe hát. Còn chức tư tế dường như cũng chỉ để lộng kiếng (liệng cống!)mà thôi! Hơn nữa, nếu chỉ hiểu theo nghĩa tế tự thì thời gian dành cho sứ vụ này quá ít - nhiếu lắm là 2 tiếng đồng hồ một tuần - khi tham dự lễ ngày Chúa nhật. Tính theo tỷ lệ 2/ 168 giờ Tế tự tâm linh: Những người thờ phượng đích thựcsẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thậtNhư vậy tư tế phải được hiểu theo nghĩa tâm linh.
"Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy."(Cr 11:24) Đức Giêsu đã làm gương cho chúng ta bằng cách hiến dâng chính mình trên đồi Can-vê, vậy chúng ta cũng cần phải nghe theo thánh Phaolô Anh em là những người sống đã từ cõi chết trở về, anh em hãy hiến toàn thân cho Thiên Chúa, và dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều công chính, phục vụ Thiên Chúa.14 Tội lỗi sẽ không còn quyền chi đối với anh em nữa, vì anh em không còn lệ thuộc vào Lề Luật, nhưng lệ thuộc vào ân sủng.(Rm 6:13-14) Thế nào là hiến toàn thân cho Thiên Chúa? Trước kia chúng tôi đã từng nghe các cha dạy rằng: Sáng sớm dâng cả ngày cho Chúa thì cả ngày hôm đó coi như đã được thánh hoá. Nhưng rồi chúng tôi nhận ra rằng không phải như vậy. Sống với Chúa phút nào thì mới được phút ấy. Chính vì vậy chúng ta mới nhắc nhở nhau: trong mỗi ngày, nên dành nhiều giây phút Thức Tỉnh để ý thức chúng ta chỉ là khí cụ còn Chúa mới chính là người đang thực hiện và làm chủ công việc của mình qua bàn tay, môi miệng của mình..Càng nhiều lần càng tốt – đây cũng chính là hiến dâng thân mình - thực hiện vai trò tư tế của mình một cách sống động nhất, thánh thiện nhất, đẹp lòng Chúa nhất. 2. Thêm vào đó, thực thi ý Chúa cũng là một cách thực hiện chức vụ tư tế một cách sâu xa và đích thực . Đức Ki-tô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể.6 Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội.7 Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài, (Dt 10:5-7) Ý Chúa là một vấn đề gay go, tế nhị, và dễ bị người ta sử dụng để sai bảo, cai trị cấp thừa hành với chiêu bài: Ý huynh trưởng là ý Chúa. giữa những ý kiến khác nhau thì ý của huynh trưởng nào cao nhất trong đám sẽ mặc nhiên coi là ý Chúa. Tai hại hơn nữa, người ra thường dùng ý của huynh trưởng là ý Chúa để khủng bố tinh thần anh em với lý luận: Ở trên giao công tác mà không nhận thì làm việc cho Satan. Còn cấp dưới mà có ý kiến khác, hay dù có sáng kiến hữu ích nâng đỡ cộng đoàn nhưng không hợp ý huynh trưởng cấp cao thì lập tức bị chụp mũ là không vâng phục, làm rối loạn trật tự cộng đoàn, khiến anh em hoang mang không biết nghe ai!! Thực ra, theo ánh mắt tâm linh, có một tiêu chuẩn khá rõ: khi làm bất cứ việc gì nếu chúng ta làm với ý thức giống như Đức Giêsu: Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình.(Ga 14:10) thì chắc chắn những giây phút đó chúng ta đang thực thi ý Chúa. Tôi xin phép được nhắc lại chỉ những giây phút ý thức Chúa thực sự sống trong ta mới có giá trị, bởi vì có khi chỉ 3 phút sau, hàng chục tiếng nói thế gian, tiếng nói xác thịt chen vào hoặc chúng ta lại tiếp tục làm việc như cái máy thì đừng kể đó là ý Chúa nhé! Tế nhị hơn nữa là rất nhiều trường hợp rõ ràng khởi đấu là ý Chúa nhưng rồi ý tôi nhè nhẹ xen vào, nhưng vì được khoác một áo choàng thánh thiện, nên bên ngoài rõ ràng là chúng ta đang thực thi ý Chúa nhưng ẩn nấp tận đáy lòng - nơi âm u khó phát hiện nhất – cái tôi đang thúc đẩy và giật giây toàn bộ. Thí dụ như tôi muốn loại một tay hay có sáng kiến – tuy có phần tích cực, nhưng dễ làm tôi lu mờ trước những ý kiến độc đáo đó. Thế là tôi mượn bức bình phong “duy trì sự ổn định cộng đoàn” tìm cách loại hắn ta bắng cách thăng chức cho ngồi chơi xơi nước. Cuối cùng hắn nản quá, rời bỏ cộng đoàn. Với tư cách là một người canh cửa, tôi đã loại được một tên làm mất sự ổn định ù lỳ của cộng đoàn; Với tư cách một lính cứu hoả, tôi đã dập tắt những sáng kiến làm mất sự bình lặng của cộng đoàn. Nhưng bề ngoài tôi vẫn an tâm và tự hào là một người làm tròn trách nhiệm một huynh trưỏng cao cấp theo đúng ý Chúa. Hậu quả là hiện nay tôi một mình phải quán xuyết mọi chuyện trong cả cộng đoàn lên tới hàng ngàn thành viên, tôi phải loay hoay giải quyết hết sức lúng túng vấn đề nhiều người rời bỏ cộng đoàn, một vài nơi ra hàng loạt..Rõ ràng khởi đầu là tôi hiến dâng cả đời mình cho Chúa, để thực thi ý Chúa nhưng quá trình thực hiện thì ý của cái tôi xen vào lúc nào không hay.
Tôi viết thế là dựa vào ân sủng Thiên Chúa đã ban cho tôi16 làm người phục vụ Đức Giê-su Ki-tô giữa các dân ngoại, lo việc tế tự là rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa, để các dân ngoại được Thánh Thần thánh hoá mà trở nên một lễ phẩm đẹp lòng Thiên Chúa. (Rm 15:16) Như vậy chúng ta loan báo Tin Mừng cũng là một hình thức thực hiện nhiệm vụ tư tế của một người Kitô hữu. Thời gian tế tự |