|
|
Số 39, Ngày 12-3-2005
Quyền Năng Về Sự Sống Lại Của Đức Kitô - Nguyễn Chính Kết Đức Tin Thực Nghiệm - Giao Duyên Ăn Năn - Liên Thái Phụ Nữ Trong Giáo Hội - Trần Duy Nhiên Phụ Nữ Có Cá Tính So Với Phụ Nữ Có Bản Lĩnh - Michet Hubaut – Maranatha dịch Gian Hàng Của Chúa - Thái Văn Hiến dịch Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng - Maranatha dịch Những Quả Chuông Đền Thờ - Lm. Anthony de Mello - Đỗ Tân Hưng dịch Lời Cầu Nguyện Đầu Tuần - Trích Rabouni Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa Quý độc giả, Ngày 8 tháng 3 vừa qua, tại Việt Nam, Ngày Quốc Tế Phụ Nữ được tổ chức rầm rộ, thế nhưng ở Hoa Kỳ thì ngày lễ này qua đi trong thầm lặng. Điều này kể cũng ngược đời, bởi vì Ngày Quốc Tế Phụ Nữ bắt nguồn cách đây gần 150 năm tại Hoa Kỳ. Ngày 8 tháng 3, tổ chức phụ nữ đầu tiên trên thế giới đã tỏ ra đoàn kết để tranh đấu cho quyền lợi mình tại New York. Hàng ngàn phụ nữ trong các nhà máy dệt và may tại New York đã đình công để phản đối đồng lương quá thấp, số giờ làm việc quá cao và điều kiện làm việc quá phi nhân. Năm mươi ba năm sau, năm 1910, Đại Hội Phụ Nữ Quốc Tế Xã Hội tại Copenhagen quyết định tưởng nhớ ngày này là biến thành Ngày Quốc Tế Phụ Nữ. Năm 1975, trong Năm Quốc Tế Phụ Nữ, Liên Hiệp Quốc bắt đầu mừng Ngày Quốc Tế Phụ Nữ vào ngày 8 tháng 3. Hai năm sau, năm 1977, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc quyết định lấy ngày 8 tháng 3 làm ngày Liên Hiệp Quốc cho Quyền Phụ Nữ và Quốc Tế Hoà Bình. 150 năm qua tính từ ngày người nữ lên tiếng đòi quyền lợi của mình. Ba mươi năm qua từ ngày Liên Hiệp Quốc mừng Ngày Quốc Tế Phụ Nữ, thế nhưng người nữ đã thực sự có quyền bình đẳng trong mọi lãnh vực chưa? Phải chăng ở Hoa Kỳ quyền bình đẳng đã trở thành hiện thực nên không còn ai để ý đến ngày “phụ nữ vùng lên”, trong khi đó ở những nước khác, vì quyền bình đẳng chưa được đúng mức, nên Ngày Quốc Tế Phụ Nữ còn một giá trị đến như thế? Dẫu vậy, ngày 8 tháng 3 vừa qua, trong diễn văn của mình, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan đã trình bày: “Sáu mươi năm đã qua, kể từ ngày Liên Hiệp Quốc ghi vào trang đầu tiên của Hiến Chương quyền bình đẳng giữa người nữ và người nam. Kể từ đấy, những cuộc nghiên cứu cho thấy rằng không có phương tiện phát triển nào hữu hiệu hơn là thăng tiến người nữ. Không đường lối nào hiệu quả hơn để nâng cao sản lượng kinh tế, hay giảm thiểu số tử vong của mẹ và con. Không đường lối nào chắc chắn hơn để nâng cao dinh dưỡng và sức khoẻ, kể cả việc ngăn ngừa HIV – AIDS. Không đường lối nào mạnh mẽ hơn để nâng cao trình độ kiến thức cho thế hệ tương lai. Và tôi dám nói rằng không có đường lối nào quan trọng hơn để ngăn ngừa những xung đột, hay hoàn tất việc hòa giải khi xung đột đã chấm dứt. Dù những lợi ích thực sự trong việc thăng tiến phụ nữ là gì đi nữa, thì một sự kiện quan trọng vẫn còn đó: chính người nữ có quyền sống đúng phẩm giá của mình, thoát khỏi sự thiếu thốn và khỏi sự sợ hãi. Trong Ngày Quốc Tế Phụ Nữ này, ta hãy dấn thân để biến điều đó thành hiện thực…” Với niềm trân trọng đó và thao thức đó, trong tuần lễ này, tất cả Kitô hữu cùng hiệp ý với Đức Thánh Cha để cám ơn người nữ vĩnh cửu, người nữ mang gương mặt của Đức Maria, của người mẹ sinh ra mình, của tất cả những người đã đem đến cho đời một sự dịu dàng và thông cảm: “Cám ơn người, người nữ, chỉ vì người là phụ nữ! Nhờ cách nhận thức đầy nữ tính mà người đã làm phong phú cho sự thông cảm của thế giới và góp phần vào sự chính trực của các tương quan giữa người và người.” Bài Phúc Âm trong Phụng Vụ Chúa nhật thứ Năm Mùa Chay tuần này cũng nhắc đến sức mạnh ban sự sống lại của Chúa Kitô, Maranatha sẽ nói đến vai trò người nữ trong bối cảnh Chúa Giêsu phục sinh Lazarô. Và để cho tinh thần dịu dàng và thông cảm của người nữ trở nên sức sống mới cho Kitô hữu trong Mùa Chay được thấm đượm trong đời sống thường nhật của mình, Maranatha bắt đầu hướng về Phục Sinh với tinh thần cầu nguyện bằng cách trở về với sự thinh lặng. Trong thinh lặng ấy, tâm hồn tín hữu sẽ dễ dàng hướng tâm lên và cầu nguyện một cách chân thành: “Maranatha, lạy Chúa Kitô, xin ngự đến.”● MARANATHA
MÙA CHAY QUYỀN NĂNG VỀ SỰ SỐNG LẠI CỦA ĐỨC GIÊSU Nguyễn Chính Kết 1. Đức Giêsu có khả năng làm cho kẻ chết sống lại Dùng quyền năng siêu nhiên để làm cho người bệnh nan y được khỏi bệnh thì có khá nhiều người làm được. Nhưng làm cho người đã chết sống lại thì chỉ những người có sứ mạng đặc biệt của Thiên Chúa mới thực hiện được nhờ quyền năng vô biên của Ngài. Trong Cựu Ước ta thấy ngôn sứ Êlia đã làm cho con trai của bà góa ở Sarépta sống lại (xem 1Vua 17,17-24), và ngôn sứ Êlisa cũng làm như thế cho đứa con trai của bà Sunêm (xem 2Vua 4,32-37). Trong Tân Ước, ngoài Đức Giêsu ra, ta thấy có Phêrô cũng đã làm cho bà Tabitha đã chết sống lại (xem Cv 9,39-42). Còn Đức Giêsu, Ngài đã làm cho người chết sống lại ít nhất 3 lần: cho con trai bà góa thành Nain (x. Lc 7,11-15), cho con gái một ông trưởng hội đường (x. Mt 9,18-26; Mc 5,35-43; Lc 8,49-56), và cho Ladarô như bài Tin Mừng hôm nay tường thuật lại (x. Ga 11,34-45). Nơi những trường hợp được hồi sinh vừa kể, việc sống lại – hầu tiếp tục sự sống ở trần gian ít lâu nữa để rồi cũng lại chết – chỉ là một hình ảnh hay dấu chỉ của sự sống lại vĩnh viễn để sống sự sống đời đời. Sự sống lại để sống đời đời này chính Đức Giêsu đã thực hiện cho chính mình (x. Mt 28,1-8; Mc 16,1-8; Lc 24,1-7; Ga 20,1-10). Đó chính là bằng chứng bảo đảm cho niềm tin vào sự sống lại của chính chúng ta để hưởng sự sống vĩnh cửu. Thật vậy, «nếu Đức Kitô không phục sinh, thì niềm tin và lời rao giảng của chúng ta là vô ích» (1 Cr 15,14), là hoàn toàn vô căn cứ, không dựa trên một nền tảng nào. Và việc phục sinh của Ngài cũng chính là bằng chứng để ta tin Ngài là Con Thiên Chúa, đồng thời cũng là Thiên Chúa. Vì trong lịch sử nhân loại, sống lại để sống vĩnh cửu như thế – nghĩa là hiện nay, sau 2000 năm, Ngài vẫn đang sống, và sẽ còn sống mãi – thì chỉ có một mình Đức Giêsu mà thôi. 2.Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa, là Đấng Mêsia, và cũng là con người như chúng ta. Các bài Tin Mừng các Chúa Nhật Mùa Chay muốn chứng tỏ Đức Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là con người, Ngài chính là Đấng Thiên Sai mà các ngôn sứ đã hứa, mà người Do Thái trông chờ hàng mấy trăm năm. Việc Đức Giêsu chịu cám dỗ (x. Mt 4,1-11) trong Chúa Nhật thứ 1 mùa Chay cho thấy Đức Giêsu là người đích thực, Ngài rất thông cảm với sự yếu đuối của con người. Việc Đức Giêsu hiển dung (x. Mt 17,1-9) trong Chúa Nhật thứ 2 mùa Chay cho thấy thần tính của Ngài, cho thấy Ngài là Con Thiên Chúa, được chính Chúa Cha giới thiệu. Câu chuyện về nước hằng sống với người phụ nữ Samari (x. Ga 4,5-42) trong Chúa Nhật thứ 3 mùa Chay cho thấy Ngài có khả năng đem lại sự sống vĩnh cửu cho con người, và Ngài tự xác nhận mình là đấng Mêsia mà mọi người trông đợi. Việc làm sáng mắt người mù từ khi mới sinh (x. Ga 9,1-41) trong Chúa Nhật thứ 4 mùa Chay cho thấy quyền năng đặc biệt của Ngài và cách Ngài hành xử theo tình yêu hơn là theo lề luật. Quyền năng ấy lại còn đặc biệt hơn nữa với bài tường thuật Ngài làm cho kẻ chết đã 4 ngày sống lại (x. Ga 11,1-45) trong bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ 5 mùa Chay. Trong bài Tin Mừng này, Ngài còn tự xác nhận mình chính là sự sống lại và là sự sống, ai tin vào Ngài thì sẽ được sự sống đời đời. Cuối cùng, Chúa Nhật Phục Sinh thuật lại việc sống lại của chính Ngài (x. Mt 28,1-10) sau khi chịu tử nạn làm hy tế đền tội cho nhân loại. Sự sống lại này là dấu chứng vĩ đại và chắc chắn nhất chứng tỏ Ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng Mêsia. Bài Tin Mừng tuần này (Chúa Nhật thứ 5 mùa Chay) chứng minh một cách tổng hợp Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là con người, một con người đúng là con người, hết sức nhân bản. Ngài là Thiên Chúa, vì có khả năng làm cho kẻ chết sống lại. Là con người, vì khi đến nhà người mình yêu thương đã chết, Ngài cũng «thổn thức trong lòng và xao xuyến» (Ga 11,33b), Ngài đã khóc (Ga 11,35) khi đứng trước mộ Ladarô. Chắc hẳn Ngài đã tỏ ra xúc động rất nhiều đến nỗi những người có mặt ở đấy đã phải thốt lên: «Kìa xem! Ông ta thương anh Ladarô biết mấy!» (Ga 11,36). Như vậy, Ngài không chỉ yêu thương chúng ta bằng thứ tình yêu đầy tính thần linh của một vị Thiên Chúa, mà còn yêu bằng chính tình cảm đầy tính người của con người. Và dù mang tính con người, tình yêu ấy vẫn rất bao la, rộng rãi, và triệt để: «Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng» (Ga 13,1b). «Đến cùng» ở đây là tới mức tận cùng của tình yêu con người, không ai-kể cả Ngài- có thể yêu hơn được nữa: «Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình» (Ga 15,13). 3. Hãy yêu thương như Đức Giêsu đã yêu thương Đức Giêsu đã yêu thương ta và yêu thương mọi người bằng trái tim con người thế nào, Ngài cũng mời gọi ta yêu thương nhau, yêu thương tha nhân y như vậy: «Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 15,12). Có yêu thương như thế, ta mới chứng tỏ mình theo Ngài: «Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau» (Ga 13,35). Tình yêu nhân bản của Đức Giêsu được biểu lộ ra bên ngoài bằng sự xúc động mãnh liệt như trường hợp đối với Ladarô, nhất là bằng những hy sinh đến chết cho nhân loại. Tình yêu tuy ẩn sâu kín trong lòng con người không ai thấy được, nhưng nếu là tình yêu đích thực thì nó luôn luôn được biểu lộ ra ngoài thành những ánh mắt trìu mến, cử chỉ yêu thương, lời nói dịu dàng, và nhất là bằng sự quan tâm, giúp đỡ, hy sinh thật sự cho người mình yêu. Tình yêu không thể dấu kín. Tình yêu dấu kín trong lòng là tình yêu đáng nghi ngờ. Nếu «đức tin không có hành động là đức tin chết» (Gc 2,17.26), thì một cách tương tự, tình yêu không được biểu lộ cụ thể là tình yêu giả hiệu. Chính «Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, đã biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Người đối với nhân loại» (Tt 3,4), và «Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống» (1Ga 4,9). Vì thế, chúng ta hãy biểu lộ tình yêu của mình đối với mọi người bằng những cử chỉ, lời nói và hành động cụ thể●
ĐỨC TIN THỰC NGHIỆM
Giao Duyên
1. Đức tin vào Thiên Chúa phải dựa trên những kinh nghiệm trong quá khứ về tình yêu và quyền năng của Ngài Trong 28 câu của bài Tin Mừng, chúng ta thấy có đến 9 chữ «tin». Toàn bài nhấn mạnh đến sự cần thiết phải tin vào tình yêu và quyền năng Thiên Chúa để giải quyết những vấn đề cụ thể của đời sống thực tế và thường ngày của mỗi người. Nhờ tin vào tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa, chúng ta mới có đủ sức mạnh để vượt qua những khó khăn, và thực hiện những gì cần thiết cho hạnh phúc và cuộc sống của ta. Đành rằng tin là chấp nhận những gì trước mắt chưa rõ ràng và chắc chắn, nhưng Thiên Chúa không bao giờ đòi hỏi chúng ta tin Ngài cách mù quáng, không có bằng chứng xác đáng. Ngài chỉ đòi hỏi chúng ta tin những gì đáng tin mà thôi. Trước khi đòi hỏi ta tin vào tình yêu và quyền năng của Ngài, Ngài luôn luôn tạo chúng ta cơ hội để kinh nghiệm thật sự về tình yêu và quyền năng của Ngài. Kinh nghiệm ấy sẽ trở thành nền tảng để chúng ta tin vào Ngài trong những hoàn cảnh hay tình huống mới. Trong đời thường, khi hùn một số vốn thật lớn để làm ăn chung với ai, ta phải tin vào lương tâm và khả năng làm ăn của người ấy. Làm sao ta có thể tin người ấy một cách vững vàng, nếu ta chưa hề thấy người ấy chứng tỏ sự đáng tin của họ? Phải dựa vào đâu để biết được họ đáng tin? – Trước khi hùn một số vốn lớn để làm ăn với ai, ta phải có thời làm ăn với họ trong những vụ làm ăn nhỏ. Khi làm ăn nhỏ, nếu họ tỏ ra đáng tin, ta mới dám tiếp tục làm ăn với họ trong những vụ lớn hơn. Kinh nghiệm về thành quả quá khứ sẽ trở thành nền tảng cho niềm tin trong hiện tại. Những người tự tin vào mình cũng đều có kinh nghiệm về khả năng của mình trong quá khứ. Có thấy được khả năng của chính mình trong quá khứ qua những thành công nho nhỏ, ta mới dám tự tin vào mình trong những chuyện lớn hơn. Niềm tin được xây dựng trên kinh nghiệm của quá khứ như thế mới là niềm tin khôn ngoan và mới vững mạnh được. Niềm tin vào Thiên Chúa cũng phải dựa vào kinh nghiệm quá khứ như thế. 2. Thiên Chúa chỉ mời gọi ta tin và thử thách đức tin của ta khi đã cho ta những kinh nghiệm về Ngài Khi đặt niềm tin vào một người, có hai thái độ nên tránh: – một là chưa có kinh nghiệm gì về sự đáng tin của người ấy mà đã vội tin. Đây là thái độ cả tin, nhẹ dạ, rất nguy hiểm và thiếu khôn ngoan. – hai là đã thấy người ấy tỏ ra rất đáng tin trong những chuyện nhỏ, mà vẫn không dám đặt niềm tin vào người ấy trong những chuyện khác hoặc chuyện lớn hơn một chút. Như vậy, dù người ấy có đáng tin tới mức độ nào, ta cũng không dám tin. Điều này khiến ta mất đi nhiều cơ hội quý trong cuộc đời. Một người làm ăn mà có thái độ này thì không bao giờ làm ăn lớn được, và không bao giờ giàu có được. Khi tin vào Thiên Chúa, ta cần tránh hai thái độ ấy. Thiên Chúa không bao giờ mời gọi hay đòi hỏi ta tin điều gì mà ta chưa hề có kinh nghiệm về sự đáng tin của nó. Khi Ngài mời gọi hay đòi hỏi ta tin, thì chắc chắn trước đó Ngài đã từng chứng tỏ tình yêu và quyền năng của Ngài để ta có cơ sở cho niềm tin của ta trong những trường hợp sau. Nhưng khi ta đã có kinh nghiệm nhiều lần về tình yêu và quyền năng của Ngài, thì Ngài thường thử thách niềm tin của ta. Nếu ta không dám tin vào quyền năng của Ngài mà ta đã từng có kinh nghiệm trong quá khứ, thì ta sẽ không có thêm kinh nghiệm về quyền năng ấy. Đức tin của ta sẽ dừng lại đó, không lớn mạnh thêm, mà trái lại, có thể bị hao hụt đi. Ngược lại, nếu ta tin và chứng tỏ niềm tin ấy bằng sự dấn thân cụ thể, ta sẽ kinh nghiệm thêm lần nữa về quyền năng của Ngài. Nhờ đó đức tin của ta lớn mạnh hơn. Một đức tin vững mạnh sẽ biến đổi ta thành «con người mới» (Ep 2,15; 4,24; Cl 3,10) và đời sống ta thành «đời sống mới» (Rm 6,4; 8,11; Cl 3,3). Chẳng hạn, khi dân Do Thái chưa có kinh nghiệm về Ngài, thì Ngài cho họ kinh nghiệm ấy. Ngài cho họ vượt qua Biển Đỏ cách lạ lùng và cứu họ khỏi đất Ai Cập. Lần đó, Ngài đã làm cho nước ở Biển Đỏ rẽ ra trước rồi sau đó mới bảo họ bước xuống biển (x. Xh 14,21-22). Ngài không đòi hỏi họ lòng tin vì họ chưa có kinh nghiệm về quyền năng của Ngài. Nhưng khi Ngài yêu cầu các tư tế khiêng hòm bia qua sông Giođan, Ngài không còn làm cho nước rẽ ra trước, mà yêu cầu họ bước xuống sông khi nước sông vẫn còn tràn bờ. Lần này Ngài mới đòi hỏi họ phải tin, vì họ đã có kinh nghiệm về quyền năng của Ngài. Và họ đã chứng tỏ niềm tin của họ bằng hành động cụ thể là dám bước xuống sông khi còn đầy nước. Và Thiên Chúa không để họ mất niềm tin: khi chân họ vừa đụng xuống mặt nước, thì nước lập tức rẽ sang hai bên để họ đi qua (x. Gs 3,13). Cũng vậy, để chuẩn bị và củng cố niềm tin cho các tông đồ vào sự sống lại của Ngài, Đức Giêsu đã cố ý (x. Ga 11,4.15) cho các tông đồ một kinh nghiệm vô cùng sống động về quyền năng phi thường của Ngài. Đó là Ngài làm cho Ladarô sống lại, chưa kể trước đó Ngài đã từng làm kẻ chết sống lại nhiều lần trước mặt các tông đồ (x. Mt 9,25; Lc 7,14-15; Ga 4,50-53). Thế mà khi Đức Giêsu chết, nhiều tông đồ đã mất hết niềm tin đến nỗi thất vọng và sợ hãi. Các ông không rút được bài học từ những kinh nghiệm đã trải qua về quyền năng của Thầy mình. Thiên Chúa cũng cho chúng ta biết bao kinh nghiệm về tình yêu và quyền năng của Ngài, thế mà khi đối diện với những thử thách, chúng ta vẫn tỏ ra chưa dám tin vào Ngài●
Liên Thái
Nước mắt Mẹ tuôn nhỏ dòng dòng. Mẹ đây quả thật rất đau lòng. Nhìn con thân xác loang đầy máu. Đầu đội mão gai, thân dấu đòn.
Mẹ đã hiện ra với thế gian. Nước mắt tuôn rơi lệ chứa chan. Mẹ xin hãy siêng năng lần hạt. Cầu mọi ơn được Mẹ hứa ban.
Nơi nhà tạm Chúa thật đơn côi. Hãy đến thăm Ngài dăm phút thôi. Cầu nguyện với Ngài con sẽ được. Cố gắng dâng Ngài chuỗi Mân Côi.
Giờ đây con đã hối lỗi rồi. Trung thành yêu chỉ Chúa mà thôi. Xin thương xóa tội con đã phạm. Để giúp tâm hồn con thảnh thơi.
PHỤ NỮ PHỤ NỮ TRONG GIÁO HỘI Trần Duy Nhiên 1- Phụ nữ, người ở đâu? Phụ nữ và tôn giáo. Hai từ ngữ này vừa gần gũi nhau vừa chống đối nhau. Hình như trong mọi tôn giáo, phụ nữ chiếm đa số thành phần tín hữu giữ đạo (và đất nước càng phát triển thì thành phần đa số này lại càng lớn); thế nhưng quyền bính về tôn giáo thì hầu hết lại do người nam nắm giữ. Phải chăng mọi tôn giáo đều mang cái mầm ‘ghét phụ nữ’ (misogynic) hay vì các tôn giáo được khai sinh vào thời đại mà quan niệm trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào trong tổ chức tôn giáo? Với tư cách là người Việt Nam, chúng ta không thể nào không thấy rằng mình đang sống trong một thời đại mà người nữ sánh vai ngang bằng với người nam, ít ra là về mặt luật pháp, xã hội và nghề nghiệp, Và với tư cách là Kitô hữu, chúng ta lại tin rằng Đức Kitô là đấng giải phóng, và một trong các chiều kích giải phóng của Ngài là giải phóng phụ nữ. Có người còn cho rằng chính Ngài là người đã khởi xướng phong trào giải phóng phụ nữ. Trong xã hội Do Thái của thời Ngài, người nữ chỉ là một con số không, thế mà Ngài đã đối xử với họ một cách thật trân trọng. Chúa đã quí mến Matta và Maria. Trong nhóm người theo Ngài vẫn có những phụ nữ. Dưới thập giá Ngài, ngoài thánh Gioan ra, chỉ toàn là phụ nữ. Nhưng cũng bởi vì chúng ta vừa là người Việt Nam vừa là Kitô hữu, nên chúng ta mang trong trong lòng mình cùng một lúc hai truyền thống: truyền thống Việt Nam với nhiều dấu ấn của Tam giáo, và truyền thống Kitô giáo với nhiều vết tích của Do Thái giáo. Vì thế, khi nói đến người nữ, một số quan niệm - có thể rất lỗi thời, nhưng vẫn âm ỷ sống - cứ chực trào lên. Về phía Khổng giáo: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Về phía Do Thái giáo, sách Talmud ghi: “Thà đốt sách Torah (1) còn hơn là trao sách ấy cho một phụ nữ”. Xuyên qua dòng lịch sử thăng trầm, chỗ đứng của người phụ nữ trong Giáo Hội hiện nay như thế nào? Chúng tôi sẽ dựa vào một số tư liệu, đặc biệt là Actualité des Religions (2) để xem xét vấn đề này. 2- Phụ nữ trong các tôn giáo ngoài Kitô giáo Trong Do Thái giáoTrải qua một thời gian thật dài, người phụ nữ Do Thái chẳng những không có quyền lên tiếng ở Hội Đường; mà ngay cả trong tổ chức của các cộng đồng Do Thái, họ cũng không được quyền tham dự. Hai mươi năm trở lại đây, trong các cộng đoàn Do Thái giáo ở ngoài Israel, người ta đã thấy người nữ bắt đầu học hỏi về Talmud. Một số phụ nữ đã trở thành luật sư trong các tòa án cộng đồng Do Thái (avocates des tribunaux rabbiniques). Một số người đã được công nhận là rabbi, nghĩa là tiến sĩ luật Do Thái (hiện nay ở Mỹ có hơn 500 nữ rabbi). Tuy nhiên họ chỉ can thiệp vào những công việc toà án và hành chánh. Trong Hội Đường, trước sau như một, Luật Do Thái, Halakhah, vẫn cấm họ lên tiếng; nghĩa là dù họ có tài giỏi và đạo đức đến đâu, thì họ vẫn không có quyền đọc và giải thích Lời Chúa trong Hội Đường. Trong Hồi Giáo Luật Hồi Giáo Charia không nhẹ nhàng gì đối với người nữ. Họ luôn phải phục tùng chồng, hoặc cha hoặc anh em trai. Ngay về vấn đề thừa kế họ cũng không có quyền được chia gia sản đồng đều với anh hoặc em trai mình. Giá trị của họ chỉ bằng một nửa người nam. Ví dụ về giá trị của một lời chứng, Kinh Coran nói rõ ràng: lời nói của một người nam có giá trị bằng hai người nữ, vì nếu một người quên, thì người kia sẽ nhắc (II, 282). Tuy nhiên cánh cửa về quyền bính tôn giáo không hoàn toàn đóng đối với họ. Kinh Coran vẫn cho họ được bình đẳng với tư cách là tín hữu. Cho tới nay một số phụ nữ đã được học thần học, và có thể nói về đạo ngoài xã hội. Còn trong đền thờ Hồi Giáo (mosquée) thì người nữ không có quyền lên tiếng. Dĩ nhiên, người nữ chưa thể nào giữ chức vụ imam, nghĩa là trưởng một cộng đoàn cầu nguyện, người có thể xướng kinh cho cộng đoàn. Vào thế kỷ thứ XIV, triết gia Ibn Khaldoun - một người được tôn trọng như Thomas d’Aquin đối với Công giáo -, đã khẳng định rằng người nữ không thể nào giữ được chức vị ấy vì không bao giờ đáp ứng được bốn điều kiện sau: kiến thức, sự công minh, khả năng chuyên môn và sức mạnh thể lý (sic!). Tuy nhiên ông cũng nói thêm rằng: dù sao đi nữa, chức vụ này không thể trao cho phụ nữ vì sứ điệp Coran chỉ dành cho người nam. Trong Phật Giáo Phật Giáo khó lòng chấp nhận người nữ bằng hàng với người nam. Giáo lý chấp nhận rằng người nữ ‘cũng’ có khả năng đi đến giác ngộ... nhưng phải thông qua một số điều kiện, mà một trong các điều kiện là phải đầu thai làm một người nam. Ví dụ, truyền thuyết về vị công chúa, con vua Sagara (ngay tên công chúa cũng không được ghi, mà chỉ ghi tên cha mình). Cô ở vào tình trạng sắp giác ngộ. Khi nghe một môn sinh của Đức Phật giảng rằng người nữ cũng có thể trở thành Bồ Tát, cô bèn nhập vào hình hài một người nam (!) và giác ngộ. Qua các thời đại, người nữ đã bắt đầu lên tiếng. Tuy tại Việt Nam và tại Trung Quốc không thấy một sự phản kháng nổi bật nào từ phía phụ nữ, thì tại Kampuchia, tại Sri Lanka, tại Đài Loan, tại Thái Lan, một số phong trào phụ nữ đã nổi lên đòi quyền bình đẳng giữa các thượng tọa và các ni cô, nhưng kết quả cũng chẳng đi đến đâu. Quả thật, Đức Dalai Lama có kêu gọi để cho người nữ được quyền giữ các chức vị trong tôn giáo như các thượng tọa ở Tây Tạng, nhưng cho đến nay điều này vẫn chưa được thực hiện. Năm 1966 một lãnh đạo phong trào phụ nữ đề xuất một bộ luật nhằm đem đến sự bình đẳng trong chức vụ trong Phật Giáo giữa nam giới và nữ giới. Giới thẩm quyền trong đạo đã dứt khoát: “Không có luật đời nào có quyền thay đổi giáo huấn của Đức Phật.” Một tạp chí đăng tải như sau: “Than van về vấn đề kỳ thị nam nữ chỉ là công dã tràng: sự phân biệt ấy là một thực tại gắn liền với kiếp đàn bà.” 3 - Phụ nữ trong Kitô Giáo Hoài bão của phụ nữ Trong Kitô giáo thì chỗ đứng của phụ nữ có vẻ thuận lợi hơn. Những nền thần học hướng về quyền phụ nữ đã được khởi xướng từ hậu bán thế kỷ 20, cùng với những sự thăng tiến về vai trò phụ nữ trong xã hội. Những tiếng nói đòi hỏi quyền bình đẳng phụ nữ khởi đầu với hai biến cố, đó là sự ra đời của phong trào giải phóng phụ nữ và Thần Học Giải Phóng. Tuy nhiên đòi hỏi này từng gặp sự nghi ngờ của hàng giáo phẩm. Dù sao đi nữa, các nhà thần học nữ trong thế kỷ này có một hoài bão cao hơn: họ muốn được tham gia trọn vẹn vào đời sống các Giáo Hội, mà không chỉ dựa vào những khuôn mẫu do người nam đề ra mà thôi. Muốn làm như thế, họ bắt đầu đọc lại Kinh Thánh. Con đường đến với Kinh Thánh vẫn mở rộng đối với phụ nữ hơn là con đường chức vụ quyền bính trong các Giáo Hội Kitô giáo. Họ nối tiếp truyền thống các nữ ngôn sứ thời xa xưa (3) và tìm kiếm trong Kinh Thánh vai trò của họ với tư cách là người nữ. Họ tin rằng cảm nghiệm người nữ hoàn toàn khác biệt với cảm nghiệm của người nam, và họ có bổn phận phải đón nhận gia sản Kinh Thánh cho chính mình. Những hướng đọc Kinh Thánh dưới cái nhìn phụ nữ Có ít nhất là ba hướng đọc lại Kinh Thánh dưới cái nhìn phụ nữ. - Một trong phương hướng nghiên cứu là tìm cách đọc lại những đoạn Kinh Thánh hầu cho thấy rằng người phụ nữ đã từng bị coi thường. Ví dụ năm 1984, Phyllis Tribble nêu lên vài câu chuyện điển hình, và viết lại trong một tác phẩm của bà dưới nhan đề là Tragic Destinies (Những số phận bi đát): số phận của Haggar, nữ tì của Sarah, đem hiến cho Abraham rồi sau đó bị đuổi đi; số phận của Thamar, con gái của David, bị người anh cùng cha khác mẹ với mình là Amnon hãm hiếp; hay số phận của người con gái Jephté, mà thậm chí ta không biết tên: cô là nạn nhân vì một lời nguyền của cha mình là sẽ tế sát người đầu tiên ông gặp khi ông trở về trong chiến thắng. Đối với Phyllis Tribble, đấy không phải là ‘chuyện đời xưa’, nhưng đấy vẫn còn là điều đang xảy ra trong thời đại chúng ta: số phận của người nữ bị áp bức. - Hướng nghiên cứu thứ hai là tìm lại những vị trí của phụ nữ mà cách đọc của nam giới đã làm mờ nhạt đi. Điển hình là Elisabeth Schussler-Fiorenza. Trong tác phẩm In Memory of Her (Để tưởng nhớ đến Bà), bà đã nhắc lại vị trí của người phụ nữ bằng cách lập lại lời sau đây của Chúa: “Nơi nào Phúc âm được rao giảng, trên khắp thế gian, thì người ta sẽ kể lại điều bà đã làm, để tưởng nhớ đến bà”. Qua đó bà cho thấy rằng phụ nữ là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình hình thành Giáo Hội và rao giảng Tin Mừng. - Một trào lưu thứ ba là xét lại ngôn từ trong Kinh Thánh. Ví dụ Virginia Molenkott liệt kê những từ ngữ giống cái mà ngôn ngữ Do Thái dùng để chỉ định Thiên Chúa: như Shekina (Đấng Hiện Diện) hoặc Ruah (Thần Khí). Điều này cho thấy rằng Thiên Chúa là Cha nhưng đồng thời Người cũng là Mẹ; nói cách khác, Thiên Chúa cũng có nữ tính, và nữ tính này đã bị các giáo phụ làm mờ đi qua các thời đại. Do đó, chỉ có người nữ, với sự nhạy cảm và lối tiếp cận hoàn toàn mang nữ tính mới cân bằng lại quan điểm đầy nam tính từ trước đến giờ đối với Kinh Thánh. Bước thăng tiến của phụ nữ Tất cả những cố gắng của phong trào bình đẳng nữ giới đã mang nhiều thăng tiến cho phụ nữ trong các Giáo Hội Kitô giáo. Từ hai thập kỷ qua, người nữ đã có mặt trong mọi lãnh vực giáo hội: từ giáo lý viên đến giáo sư thần học, từ vai trò linh hoạt viên đến những chức vụ trong các hội đồng cao cấp. Riêng trong lãnh vực phụng tự, phụ nữ được cử hành phụng vụ lời Chúa như người nam, mà không có một sự phân biệt nào. Tuy nhiên, trong vấn đề chức thánh thì còn có giới hạn. Dù Giáo Hội Tin Lành tại Pháp đã có mục sư từ 1966 và Anh giáo chấp thuận cho phụ nữ được phép nhận chức linh mục, thì số lượng người có chức thánh này cũng còn rất ít so với người nam, trong khi đó số tín hữu giữ đạo thì nữ giới lại chiếm tuyệt đại đa số. Riêng trong giáo hội Chính Thống và Công Giáo, người nữ không thể nhận chức linh mục. 4 - Người nữ và chức linh mục trong Giáo Hội Công Giáo Một giai thoại Tháng 10 - 1987, một năm sau ngày Đức Gioan Phaolô II được tấn phong giáo hoàng, Ngài thực hiện chuyến viếng thăm mục vụ tại Mỹ và có mặt tại Vương Cung Thánh Đường Washington. Lối chừng 50 nữ tu không mặc tu phục cầm khẩu hiệu: ‘Nếu phụ nữ có khả năng làm bánh, thì họ cũng có khả năng bẻ bánh’. Nữ tu Theresa Kane được cử lên tiếp kiến Đức Giáo Hoàng và bà tuyên bố trong máy vi âm. “Thưa Đức Thánh Cha, Giáo hội phải đáp ứng những thiệt thòi của phụ nữ bằng cách xét xem khả năng của họ trong ngay cả việc lãnh nhận chức thánh.” Đám đông hoan hô, nhưng Đức Giáo Hoàng không phát biểu gì cả. Vài tuần sau, nữ tu này đến Vatican và được một cha trong Tòa Thánh tiếp kiến cùng với lời yêu cầu: ‘Đề nghị xơ làm sáng tỏ lời phát biểu của mình’. Bà đã khẳng định: ‘Con muốn cha hiểu rằng con bao hàm luôn cả việc thụ phong linh mục cho nữ giới; đúng, cả việc thụ phong nữa.’ Tòa Thánh vẫn không nói gì, nhưng sau này, khi nữ tu Theresa Kane xin yết kiến Đức Giáo Hoàng, thì được văn phòng Toà Thánh phúc đáp rằng “cuộc gặp gỡ sẽ không thích hợp (4)” Hiện nay nhiều nhóm người ở Âu Mỹ có khuynh hướng xem Đức Gioan Phaolô II là một Giáo Hoàng ‘ghét phụ nữ’ (misogynic). Những luận cứ họ đề ra như một bằng chứng là vì Ngài luôn chống đối việc phá thai và việc phong chức linh mục cho phụ nữ. Sự thật thế nào? Quan điểm của Đức Gioan Phaolô II đối với phụ nữ. Có lẽ nên trở về với những lời phát biểu của Đức Giáo Hoàng, mà mọi người chắc chắn là những lời nói xuất phát tự đáy lòng Ngài. Những lời hay nhất mà Đức Gioan Phaolô II đã phát biểu về phụ nữ xuất hiện trong Thư gởi phụ nữ (tháng 6-1995). Những lời cảm động nhất nằm trong một đoạn của Vita consecrata (tháng 3-1996) [Đời sống thánh hiến], nói lên rằng phụ nữ là ‘dấu chỉ lòng trìu mến của Thiên Chúa đối với nhân loại”. Những lời thi vị nhất nằm trong Mulieris dignitatem (tháng 9-1988) [Phẩm giá người nữ]: ‘Tiếng reo của người nam đầu tiên khi thấy người nữ vừa được tạo thành là một tiếng reo ngưỡng mộ và vui mừng, và tiếng reo ấy đã xuyên qua suốt dòng lịch sử nhân loại ở trần gian’. Trong Thư gửi phụ nữ, ta có thể đọc: “Cám ơn người, người nữ, chỉ vì người là phụ nữ! Nhờ cách nhận thức đầy nữ tính mà người đã làm phong phú cho sự thông cảm của thế giới và góp phần vào sự chính trực của các tương quan giữa người và người. Nhưng, tôi biết rằng chỉ cám ơn mà thôi thì chưa đủ. Đau lòng là chúng ta đã kế thừa từ lịch sử nhiều yếu tố tác động khiến cho, ở mọi thời và mọi nơi, con đường của phụ nữ thật khó đi: người ta coi nhẹ phẩm giá của họ, bỏ qua quyền hạn của họ, thường gạt họ ra ngoài lề xã hội và thậm chí biến họ thành nô lệ... Nhân loại đã mắc một món nợ khổng lồ vì cái “truyền thống” trọng nam khinh nữ ấy. Biết bao phụ nữ đã và đang bị đánh giá dựa trên ngoại hình hơn là dựa trên khả năng, trình độ nghiệp vụ, hoạt động trí thức, sự nhạy cảm phong phú của họ, và tóm lại, dựa trên chính cái phẩm giá của con người họ !” (Thư gửi phụ nữ, 29-06-1995) Trong tông huấn Vita consecrata, ta không thể nào bỏ qua đoạn này: “Từ kinh nghiệm về Giáo hội và lối sống của người nữ trong Giáo hội, nữ tu góp phần xóa đi một số quan niệm một chiều; những quan niệm ấy ngăn cản không cho ta nhận thấy phẩm giá của họ, phần đặc thù mà họ đóng góp vào đời sống và hoạt động mục vụ và truyền giáo của Giáo hội. Như vậy, quả là chính đáng nếu nữ tu ao ước được nhìn nhận rõ ràng hơn chân tính, khả năng, sứ mạng và trách nhiệm của họ, trong nhận thức của Giáo hội cũng như trong đời thường. [...] Do đó, khẩn thiết phải thực thi vài bước cụ thể, khởi sự bằng cách mở ra cho người nữ những không gian để họ tham gia vào nhiều khu vực khác nhau và ở mọi mức độ, kể cả trong tiến trình soạn thảo các quyết nghị, nhất là những quyết nghị liên quan đến họ.” (Tông huấn Vita consecrata, tháng 3-1996) Từ nữ tu, Đức Thánh Cha đã ngỏ lời với toàn bộ phụ nữ, và đề cao giá trị của họ. Trong một số đoạn của Mulieris dignitatem (1988), Ngài đã sửa sai thánh Phaolô (chưa một giáo hoàng nào làm như vậy trước đây) và sửa sai cả lịch sử Giáo hội, về vấn đề người nam “là chủ nhân” của người nữ và về tội lỗi của bà Eva: “Một cách nào đó, lời mô tả của Kinh Thánh về tội nguyên tổ trong sách Khởi nguyên (chuơng 3) “đã phân chia vai trò” của người nữ và người nam. Sau này, một số đoạn Kinh Thánh khác cũng qui chiếu lại, ví dụ như trong thư Thánh Phaolô gửi ông Timôthê: “Chính Adam đã được tạo dựng trước, rồi mới đến Eva. Cũng không phải Adam đã sa ngã khi bị dụ dỗ, mà là người đàn bà.” (1 Tm 2,13-14). Nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, dù cho bài mô tả của Kinh Thánh có “có phân chia các vai trò”, thì tội đầu tiên này vẫn là tội của loài người, mà Thiên Chúa đã dựng nên có nam có nữ. Đấy cũng là tội của những “cha mẹ tiên khởi”, kèm theo tính chất cha truyền con nối. Và vì thế mà ta gọi là tội nguyên tổ.” (Mulieris dignitatem, tháng 9-1988, số 9) Có lẽ không cần phải quảng diễn lâu dài về những điều mà mọi người đều đọc được và hiểu được về quan điểm của Đức Thánh Cha. Nhưng Đức Thánh Cha cũng là người đứng đầu của Giáo Hội Công Giáo, vì thế hơn ai hết, Ngài phải trung thành với lập trường Giáo Hội. (5) Lập trường Giáo Hội Về chức linh mục, Giáo Luật chỉ có một câu duy nhất liên quan đến người nữ, hay đúng hơn chỉ có một câu nói lên điều kiện mà phụ nữ không thể có được. Điều 1024 ghi một cách ngắn gọn: ‘Chỉ người thuộc nam giới đã nhận lãnh bí tích Thánh Tẩy mới được nhận lãnh thành sự chức thánh.’ Có nhiều văn bản nói lên lập trường của Giáo Hội, nhưng ở đây, chúng tôi chỉ nhắc lại ba văn bản gần chúng ta nhất. Văn bản thứ nhất là tuyên ngôn Inter Insignores mà Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin công bố năm 1967, dưới triều đại của Đức Phaolô VI. Đây là văn bản với nhiều luận cứ và khá ôn hòa, vì trong thời gian Công Đồng Vatican II, vấn đề chức linh mục của phụ nữ đã được đề ra và ý kiến phản đối cũng như ý kiến ủng hộ đều có cơ sở vững vàng. Tuy nhiên lời kết luận của văn kiện ấy thật rõ ràng. Trong phần này có một câu mà người ta đã gán một cách sai lầm cho Đức Gioan Phaolô II: “Giáo hội... cảm thấy rằng mình không được phép chấp thuận việc thụ phong linh mục cho phụ nữ.” Để chấm dứt sự tranh luận kéo dài mãi không ngơi, vào tháng năm 1994, Đức Gioan Phaolô II đã công bố Tông Thư Ordinatio sacerdotalis. Văn kiện này là một trong những văn kiện ngắn nhất, chỉ dài có 6 trang. Và dù Ngài là một Giáo Hoàng thao thức nhất từ trước đến giờ đối với vai trò phụ nữ, lập trường vào cuối thư vẫn dứt khoát: “Tôi tuyên bố rằng Giáo Hội không thể nào có quyền trao chức linh mục cho phụ nữ và lập trường này phải được mọi tín hữu xem là lập trường vĩnh viễn”. Vĩnh viễn! Thế nhưng người ta vẫn tiếp tục bàn ra tán vào. Đến năm 1997, cũng chính Giáo Hoàng đã phê chuẩn một văn kiện nữa của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin và ra lệnh công bố văn kiện ấy. Văn bản ngắn gọn nhưng rõ ràng: ‘Dựa trên Lời Chúa (nên người ta phải xem lập trường Giáo Hội về vấn đề chức linh mục của phụ nữ) là một tín điều thuộc Kho Tàng đức tin... do Huấn Quyền đề ra một cách bất khả ngộ ... Huấn Quyền yêu cầu mọi người qui thuận một cách vĩnh viễn” (Người viết nhấn mạnh). Văn bản này là văn bản tối hậu và mang tính chất tín lý. Nhưng rồi những phong trào đòi quyền thăng tiến phụ nữ vẫn tiếp tục âm ỷ bàn tán, đặc biệt là ở Mỹ châu. 5- Phụ nữ trong Giáo Hội ngày mai? Nhìn lại các tôn giáo, ta thấy rằng phụ nữ luôn bị thiệt thòi. So với các tôn giáo bạn, thì hình như Kitô Giáo dành cho người nữ sự tôn trọng cao hơn, tuy nhiên một sự bình đẳng hoàn toàn là một điều chưa được thực hiện, đặc biệt là về phương diện chức thánh. Dù sao, vấn đề này chưa phải là một vấn đề phải ray rứt đối với Giáo Hội Việt Nam. Trong Giáo Luật hiện hành (1983), điều 204 §1nêu lên như sau: Các tín hữu Kitô, với tư cách là người đã được sáp nhập vào Chúa Kitô nhờ Bí tích Thánh Tẩy, cấu thành dân Thiên Chúa và, do đó vì đã được thông phần, theo cách của mình, vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô, nên được mời gọi mỗi người, theo địa vị riêng mình, thực thi sứ mạng Thiên Chúa trao cho Giáo Hội phải chu toàn nơi trần gian. ‘Các tín hữu Kitô ... được thông phần vào chức vụ tư tế...’ Tư tưởng này đã được công bố từ thời Vatican II (Lumen Gentium, số 34), và giờ đây đã trở thành Luật. Thế nhưng bốn mươi năm sau, người giáo dân Việt Nam còn xa tít trên con đường trở nên tư tế theo địa vị riêng mình. Muốn được như thế, còn cần phải nỗ lực thật nhiều ở cả hai phía: giáo sĩ và giáo dân. Bởi lẽ hiện nay, hàng giáo sĩ Việt Nam vẫn tiếp tục ‘đau lòng’ vì giáo dân Việt Nam còn ‘ấu trĩ’; và giáo dân Việt Nam vẫn tiếp tục ‘xót xa’ vì, ở không ít nơi, họ ‘có bổn phận’ phải tỏ ra là những ‘con chiên ngô nghê và ngoan ngoãn’ để cho các ‘cha’ thể hiện quyền bính ‘chủ chăn’. Chỗ đứng của người giáo dân đã vậy, thì nói chi đến vị trí và vai trò người nữ. Do đó vấn đề chưa phải là đến lúc đặt ra ở Việt Nam, và chúng tôi lại càng không bao giờ đặt vấn đề về chức thánh của phụ nữ tại Việt Nam. Người nữ ở Việt nam, dù là nữ tu hay giáo dân, rất thoải mái trong gia đình Giáo Hội và họ cảm thấy hạnh phúc. Không lý do gì lại gieo mầm bất an cho mọi người và người mất mát đầu tiên lại là chính họ. Tuy nhiên, trong thời đại mà thế giới đã trở nên một ngôi làng thì mọi thông tin vẫn đến tai mọi người từ mọi phương trời. Vì vậy, thay cho lời kết luận, chúng tôi xin trích dẫn lời của Jean Paul Guetny, khi ông nói về quyết định vĩnh viễn của Toà thánh đối với chức linh mục của phụ nữ: “Tôi không dám xác quyết về sự phủ nhận ‘vĩnh viễn’ của Giáo Hội La mã. Không phải chỉ cần quyết định rằng một điều gì đó là vĩnh viễn thì nó sẽ trở thành vĩnh viễn. Suốt bao nhiêu thế kỷ, người ta đã quả quyết rằng phép Giải Tội chỉ được ban một lần duy nhất trong đời, và việc cho vay có lãi là một việc làm phản đạo đức. Thế nhưng Giáo Hội đã xem xét lại hai vấn đề này. Trong thế giới con người của chúng ta, mọi thứ điều chuyển biến, kể cả những điều thuộc lãnh vực tôn giáo. Và những chuyển biến ấy nhiều khi xảy ra do sức ép của các biến cố trong thực tế cuộc đời.”● Chú thích: 1. Hai sách thánh trong Do Thái Giáo. So sánh Do Thái Giáo với Công giáo, thì Torah tương đương với Phúc âm, nghĩa là Lời Chúa; còn Talmud tương đương với Giáo Luật, nghĩa là những qui định cần phải tuân giữ. 2. Actualité des Religions, số 3. Le dossier: Pour ou contre les femmes aux commandes. 3. Điều ít ai để ý tới là phụ nữ cũng từng là ngôn sứ từ ngày xa xưa. Trong biến cố Dâng Hiến Chúa Giêsu vào đến thành - Lc 2,22tt - có hai nhân vật, đó là ‘một người tên là Simêôn. Ông là người công chính và sùng đạo’ và ‘ lại có một nữ ngôn sứ tên là Anna, con ông Pơnuen, thuộc chi tộc Ase’. Thế mà ông đạo đức nọ được mọi người nhớ rõ, còn nữ ngôn sứ kia thì ít ai nhớ đến. 4. Theo ‘His Holiness John Paul II and the hidden history of our time’ của Carl Bernstein và Marco Politi; xem bản dịch « Đức Giáo Hoàng John Paul II và lịch sử bị che đậy trong thời đại chúng ta » của Nguyễn bá Long và Trần quý Thắng. Nhà xuất bản Công An Nhân Dân - Hà nội 1997 - Chuơng « Bà Eva », tr. 864tt 5. Về vấn đề thái độ và quan điểm đối với phụ nữ của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, xin tham chiếu tác phẩm: ‘Quand le pape demande pardon’ [Quando il papa chiede perdono], của Luigi Accattoli, nhà xuất bản Albin Michel 1997. Phần II, chương 4: Phụ nữ. Trang 125tt.
Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA THÁNG 3 NĂM 2005
PHỤ NỮ CÓ CÁ TÍNH so với PHỤ NỮ CÓ BẢN LĨNH Maranatha dịchNgười phụ nữ có cá tính nỗ lực hằng ngày để giữ cho ngoại hình xinh đẹp. Nhưng người phụ nữ có bản lĩnh quỳ gối nguyện cầu để giữ cho nội tâm an bình.
Người phụ nữ có cá tính không sợ hãi điều chi. Nhưng người phụ nữ có bản lĩnh tỏ ra can đảm ngay giữa lòng sợ hãi.
Người phụ nữ có cá tính không để ai cướp mất điều tốt đẹp nhất của mình Nhưng người phụ nữ có bản lĩnh đem tặng mọi người điều gì tốt đẹp nhất.
Người phụ nữ có cá tính sai lầm và tránh không sa vào sai lầm đó nữa Nhưng người phụ nữ có bản lĩnh hiểu rằng những sai lầm trong cuộc đời cũng có thể là ơn Chúa và dùng chúng để sinh lợi.
Người phụ nữ có cá tính bước từng bước vững vàng. Nhưng người phụ nữ có bản lĩnh bìết rằng Thiên Chúa sẽ nâng dậy khi mình ngã.
Người phụ nữ có cá tính bộc lộ vẻ tự tin trên gương mặt. Nhưng người phụ nữ có bản lĩnh bộc lộ những hồng ân.
Người phụ nữ có cá tính tin rằng mình đủ mạnh để dấn thân. Nhưng người phụ nữ có bản lĩnh tin rằng dân thân chính là cách để tìm được sức mạnh●
http://www.ruthshaven.com/poetry/strongwomen.html
Gian hàng cỦa Chúa Thái Văn Hiến dịch Một phụ nữ mơ thấy mình đứng giữa những gian hàng kỳ diệu của đô thị. Chị hết sức kinh ngạc khi phát hiện thấy Chúa đằng sau một quầy hàng đắt khách nhất. - "Chúa bán gì ở đây vậy, thưa Chúa ? - Chị hỏi. - "Tất cả những gì mà tâm hồn con ao ước" - Chúa đáp. Lấy làm thích thú, người phụ nữ ấy quyết định kiếm cho được những món trang sức mà một con người có thể mong muốn : - "Con muốn mua sự bình an cho tâm hồn, tình yêu, hạnh phúc, khôn ngoan và sự vô tư trước tất cả những nỗi sợ hãi lo lắng". Rồi, chị vội nói thêm : - "Không phải mua riêng cho một mình con, mà còn cho hết thảy mọi người nữa". Bấy giờ Thiên Chúa mỉm cười và bảo chị : - "Này cô bạn thân mến, Ta tin là con ngộ nhận mất rồi, ở đây Ta không bán hoa quả, mà chỉ bán hạt giống."●
("Đức Kitô, nguồn mạch sự sống, Anthony DE MELO s.j. 4.1990) [Trích dịch: Prier avec Jésus - J.M.Ségalen, F. Bourdeau & F.X.Durrwell - DCCT]
CẦU NGUYỆN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG Michel Hubaut - Maranatha dịch Tiếng ồn đã thâm nhập cuộc sống con người ngày nay như một cơn sóng thần âm thanh tràn ngập mọi ngóc ngách. Bị chìm sâu trong làn sóng từ ngữ, chao đảo theo các ngọn gió truyền thông, bị ném như một vỏ sò rỗng lên bề mặt của chính mình, họ không còn biết mình đã đến từ đâu và sẽ đi về đâu, họ đã quên mất quê hương mình. Thậm chí họ cũng quên mất con đường về căn nhà lương tâm và mảnh vườn nội tâm của ‘lòng’ mình. Trong vài trang sau đây, chúng tôi cố gắng cho thấy rằng sự thinh lặng - một cái gì hơn hẳn sự vắng mặt của tiếng ồn - không phải là một điều xa xỉ chỉ dành cho các đan sĩ hay vài nhà tư tưởng khóa mình trong phòng, nhưng đấy là một nhu cầu sống chết cho con người, giống như không khí họ thở hay lương thực họ ăn. Bởi lẽ điều này liên quan chẳng những đến căn tính họ, mà còn đến phẩm chất các tương quan và đến tương lai của toàn bộ cuộc sống xã hội của họ... 1 - CON NGƯỜI ĐÃ ĐÁNH MẤT CHÌA KHÓA NHÀ MÌNHTại góc một con đường tấp nập, chìm trong tiếng ì ầm của giao thông, đôi khi nổi lên một câu bất thường: “Im lặng - Bệnh Viện”. Giữa một bài diễn văn và tiếng kèn đồng trước đài liệt sĩ, đôi khi người ta vẫn mời gọi giữ ‘một phút im lặng’! Chẳng lẽ ngày nay im lặng chỉ dành cho người bệnh và người chết? Phải công nhận rằng không gian và thời gian im lặng càng ngày càng trở nên hiếm hoi trong đời thường của đa số con người ngày nay. Thậm chí ở nông thôn, với việc cơ giới hoá công việc đồng áng, sự thinh lặng của người nông dân bước đi chầm chậm sau một đôi bò đã trở thành một cảnh trong tranh từ lâu lắm rồi. Mục đích của tôi không phải là để cổ võ cho một hoài niệm nào đó về thời vàng son thần thánh, nhưng là để sáng suốt nhận thức về một cuộc cách mạng xã hội và văn hóa, mà cũng giống như bất cứ cuộc cách mạng nào, có thể làm nảy sinh điều tốt và điều xấu cho tương lai nhân loại. Bản tin ngắn ngay khi ra khỏi giường. Chạy vội vã đến nơi làm việc. Tiếng ầm ầm của máy móc hay vù vù của vi tính. Chuông điện thoại. Tiếng ồn trong các quán ăn hay nhà hàng. Lại xô lấn nhau trên bến xe ngoại ô hay tàu điện ngầm để về nhà. Truyền hình 24 giờ trên 24. Tại những nơi gọi là giải trí thì âm nhạc qua các loa phóng thanh vượt đến một cường độ đinh tai nhức óc. Và những máy thu thanh bỏ túi cứ theo bạn cho đến các bãi biển nghỉ hè. Thiếu im lặng, con người chẳng những sống ở bề ngoài của chính mình nhưng còn thu hẹp mọi tương quan giữa người và người thành các qui ước xã hội lạnh nhạt và hời hợt. Chúng ta đã từng nhận thấy rằng, ở nhiều bình diện khác nhau, sự vắng mặt của đời sống nội tâm đem lại biết bao hậu quả cá nhân và xã hội. Nhiều triệu chứng, ít nhiều trầm trọng, đã được các nhà tâm lý xã hội hay các nhà giáo dục phân tích rồi. Khi bị bứng rễ khỏi chiều sâu của mình, con người trở nên mỏng dòn và thiếu ổn định; điều này nhất thiết tác động đến cuộc sống của vợ chồng, của gia đình, của các nhóm xã hội. Trẻ em khó tập trung. Thuốc an thần hay thuốc ngủ ngày càng được dùng nhiều hơn. Người ta càng ngày càng thiếu khả năng thích nghi. Dễ nổi giận. Xuống tinh thần. Nghĩ ngợi lan man. Tìm kiếm vô vọng một giải pháp cho sự bất an: ma túy và giáo phái... Sự hụt hẫng, sự trống rỗng mà nhiều người ngày nay cảm nhận, chứng tỏ rằng con người hẳn đã bỏ sót một chiều kích chủ yếu của chính mình. Làm sao mình có thể là mình khi không lên cao hay xuống sâu, không giữ thinh lặng? Một sự thinh lặng ở nhiều bình diện khác nhau: thể lý, tâm lý, tâm linh. Sự thinh lặng ấy tạo điều kiện quân bình cho đời sống và sự tăng trưởng của mình. Ai không chấp nhận thinh lặng, người ấy không những đánh mất một nghệ thuật sống, một phẩm chất của cuộc sống, mà còn đánh mất một thành phần cơ hữu tạo nên con người sâu xa của mình Kierkegaard từng nói: “Nếu tôi là bác sĩ và người ta hỏi tôi khuyên gì, thì tôi sẽ trả lời: hãy giữ thinh lặng, hãy làm cho mọi người im tiếng!” Cần chăng phải đề ra một ‘biện pháp trị liệu bằng thinh lặng’ mà cơ quan An Sinh xã hội sẽ hoàn trả chi phí cũng như ‘biện pháp trị liệu bằng giấc ngủ’, thì con người ngày nay mới khám phá ra những ân ích của thinh lặng?
2. CA TỤNG SỰ NGHỈ NGƠI ĐÍCH THỰC Thinh lặng... là niềm vui lớn lao lời ca hoàn hảo, lời nguyện cao vời Thinh lặng là người bạn sâu xa mà ta nghe im tiếng Lời đầu môi đã ngừng. Lời hùng biện tạm nghỉ. Không còn lời nói. Nghỉ ngơi. Thoải mái tuyệt vời. Đầu óc chữa lành khỏi những đòn mình đã chịu đựng do tiếng ồn của những người mình gặp mà không ngừng nói ngược nói xuôi... E. Rostand, Les Musardises Càng ngày con người hiện nay tìm lại sự hữu lý của thi sĩ kia. Họ cảm thấy nhu cầu cấp bách phải tìm lại sự quân bình, ấy là thỉnh thoảng phải cắt đứt trận cuồng phong của nhịp sống hiện tại. Bởi lẽ cấp bậc đầu tiên của thinh lặng chỉ là một đòi hỏi tâm lý và sinh lý. Một viên chức trẻ thổ lộ: “Tôi bị cuốn hút ngoài sức mình vào trong guồng máy các nhiệm vụ xã hội nghiệp vụ, bị kẹt cứng giữa thu nhập và hình ảnh thất nghiệp. Tôi có cái cảm giác kỳ quặc là đang đi xuyên qua cuộc sống trên một chiếc xe lửa cao tốc không dừng bất cứ nơi nào rồi sẽ tông mạnh vào bức tường của cái chết mà không có thì giờ ngắm nhìn phong cảnh. Đôi khi, tôi về vài ngày với gia đình để nghỉ nhưng vẫn đem theo các hồ sơ... Cần phải một trở ngại lớn về sức khoẻ thì tôi mới dám kéo còi báo động trên chiếc xe ma quái này, để dừng lại giữa đồng quê mà dành thì giờ đi hái hoa dại với con cái mình.” Chúng ta nhất định phải tìm ra con đường thinh lặng. Cấp bậc thứ nhất của thinh lặng ở vừa tầm mọi người và không đòi buộc phải đọc những văn kiện bác học về vấn đề này. Đừng chờ đợi đến khi ‘gãy’ rồi mới tìm ra - tối thiểu là định kỳ - một cách sống khác, để cho thân thể và trí óc nghỉ ngơi trong một khoảng thời gian nhất định. Đấy là hình thức thứ nhất để giải độc tiếng ồn. Tìm lại hương vị của các thú vui đơn giản. Đi bộ rất sớm trên bờ biển. Hít thở hương thơm của quê hương với hết cả thân hình mình. Lắng nghe tiếng gầm thét của sóng biển hay tiếng rì rào của dòng nước nhấp nhô, phản ánh lịch sử ngàn đời của chúng ta. Lắng nghe cái im lặng của các ngọn núi tuyết phủ mà nét uy nghi nói lên sự nhỏ bé của con người, đồng thời sự cao cả của chúng ta vì chúng ta biết nghĩ suy. Đi bách bộ nơi đồng quê. Chọn những con đường vắng thay vì ánh sáng các sòng bạc. Bước chầm chậm đến bên bờ suối. Ngắm nhìn nét tế nhị của gân một lá cây, cái khéo léo cần cù của một con kiến, sự hoàn hảo của một cánh hoa, hay một mạng nhện mà sương mai đã đặt vào đấy những hạt ngọc lấp lánh muôn màu. Tìm lại một vài điều hay trong tư thế lười biếng: thưởng thức một buổi sáng dậy trể. Nằm trên thảm cỏ, dưới bóng một tàng cây. Ngữa mặt nhìn trời, để cho làn gió mơn trớn, đưa mình theo cành lá nhè nhẹ lắc lư. Không nghĩ ngợi gì cả. Trở thành một ‘cây thông đứng giữa trời mà reo’, chỉ thế thôi. Hút lấy năng lực của nhựa cây từ rễ vươn lên đến ngọn. Trở thành chốc lát nơi gặp gỡ của thế giới khoáng vật, thực vật và động vật. Tìm thú vui trò chuyện với một cụ già ngồi trên ngưỡng cửa. Chơi một ván ném hòn với người dân địa phương. Tìm lại những cử chỉ hạnh phúc đơn sơ, cảm nếm sự cô đọng và cái bất ngờ của đời thường. Thưởng thức nét duyên dáng cái tranh tối tranh sáng trong một nhà nguyện mà mình phải đi tìm chìa khóa nơi căn nhà bên cạnh. Thinh lặng. Thinh lặng. Chìm sâu vào thinh lặng như vào một bể tắm hồi sức cho mình. Thoát mình khỏi sự thống trị của truyền hình để đệt lên những liên hệ mới trong gia đình, thường căng thẳng do những đòi hỏi và giờ giấc của công việc. Thoải mái cười đùa với nhau... Chơi ô chữ. Nắm lấy tay đứa con nhỏ nhất rồi chạy vẩn vơ trên vùng đất ngát hương hoặc ngồi bệch xuống đất mà đọc với cháu cuốn sách hình mới nhất. Tuy nhiên chúng ta sẽ thấy rằng sự thoải mái thể lý này chỉ là giai đoạn đầu. Thinh lặng không chỉ là vắng đi tiếng ồn. Thinh lặng tâm lý phải tiếp theo để mở ra những cấp bậc khác của thinh lặng, thinh lặng của lương tâm, của linh hồn, của con tim lắng nghe Thần Khí. 3. TIẾNG NHẠC CỦA THINH LẶNG. Những triết gia cổ đại giải thích rằng sở dĩ ‘gương mặt trẻ sơ sinh rạng rỡ’ là vì chúng vẫn còn nghe âm vang tiếng nhạc thiêng thượng của không gian vũ trụ mà linh hồn nó vừa đi qua. Các Giáo phụ đã viết rằng: ‘con người, cấu trúc vi mô của vũ trụ được tạo dựng, có thể nghe được trong sự thinh lặng của tâm hồn mình tiếng nhạc du dương của toàn thể công trình sáng tạo.’ Và trường phái hội họa tượng trưng truyền thống đã vẽ các phẩm thiên thần nhạc sĩ đang hòa tấu, giữa đất trời, một bản nhạc khe khẽ và vĩnh cửu. Điều này cũng muốn nói rằng vũ trụ là một bản giao hưởng vĩ đại mà mọi tạo vật, sống động hoặc vô tri, đều tấu lên bè của mình để tôn vinh Đấng Tạo Dựng. Quả thực, sự im lặng tuyệt đối thì hủy hoại con người. Muốn đáp ứng cho con người, sự im lặng phải được dệt bằng những tiếng động nhỏ nhẹ mà khi lần lượt hay đồng loạt trổi lên chúng trở thành một bản nhạc êm dịu và du dương. Giai đoạn đầu tiên để học thinh lặng thường là học lại cách thuần phục một ngàn lẻ một nốt nhạc kia, những nốt làm lên bản nhạc của im lặng. Thinh lặng là một trường dạy hay đúng hơn tái giáo dục khả năng chú ý của chúng ta để mình biết lắng nghe tiếng nhạc của công trình tạo dựng. Con người không còn có thể tự nhiên chú ý đến vật thể và hữu thể và cần học cách để cho chúng hiện hữu trước khi muốn giải thích hoặc sử dụng chúng. Ngắm nhìn và lắng nghe một cái cây, một đóa hoa, một viên đá. Để cho sự vật tỏ mình trong thinh lặng. Để cho chúng ‘nói’. Đón nhận chứ không chiếm đoạt. Dù không nhất thiết phải là triết gia hay thi sĩ, thì có ai đã chẳng từng nghe được tiếng nhạc của thinh lặng? Im lặng của các ngọn núi tuyết phủ. Im lặng của hoàng hôn. Thậm chí im lặng của sóng biển đang gầm thét. Cần phải bắt đầu dành thì giờ để dừng lại. Thì giờ để tẩy rửa tai mình như giải độc cho một con nghiện. Lắng nghe tiếng thở than của gió, tiếng tí tách của lửa, tiếng ca của ve hay chim, tiếng róc rách của suối, những tiếng quen thuộc trong làng hay trong nhà, những tiếng ấy không phá vỡ im lặng mà dệt thành thinh lặng. Chỉ có tiếng ồn hung hãn mới phá vỡ im lặng. Lắng nghe một khúc nhạc như trẻ sơ sinh nghe được lần đầu. Không suy nghĩ hay phân tích. Hãy để cho âm thanh, âm sắc thấm vào trong ta. Ai không còn biết nghe tiếng nhạc của tạo vật, người ấy không biết lắng nghe người khác và lại càng không biết lắng nghe tiếng Chúa. Sự thinh lặng cũng giống như một nốt lặng giúp nghe rõ hơn nốt trước và nốt sau đó. Nó chuẩn bị để giúp ta ân cần hơn với tha nhân và làm cho những cuộc gặp gỡ của mình có chiều sâu hơn. Thinh lặng là một trường dạy lòng tôn trọng. Tôn trọng tạo vật. Tôn trọng con người... Thinh lặng là vị thầy dạy ta biết lắng nghe. Lắng nghe tiếng nhạc của tạo vật, hầu nắm bắt được sự hài hòa thầm kín. Lắng nghe lòng mình, lương tâm mình để biết rõ mình và định hướng cuộc đời. Lắng nghe con người để làm cho mình phong phú nhờ sự khác biệt và để yêu thương họ hơn. Lắng nghe tiếng Chúa, Tiếng của Người trong nội tâm ta, Thần Khí của Người, đang nói trong lòng mình để trao ban Sự Sống. Lắng nghe, nhưng cũng cảm nhận, đụng chạm, tìm lại sự tiếp xúc với vật chất thô. Vò một nắm đất. Vuốt một hòn sỏi. Đi chân không trên cát. Bước trên lá cây hay lá thông trong một khu rừng. Tất cả đều có thể trở nên trường học chú ý, nhạy cảm với tạo vật, với người khác và với chính mình. Giai đoạn một mở cửa cho những cấp bậc khác của thinh lặng. 4. NHƯ QUẢ TIM ĐANG ĐẬP Như vậy, ngay trước khi suy nghĩ về chiều kích tâm linh, chúng ta có thể nói rằng thinh lặng là một thành phần tâm sinh lý của con người. Nếu muốn tăng trưởng hài hòa, chúng ta phải phát triển theo hai chiều bổ túc cho nhau: hướng ngoại và hướng nội. Con người chỉ trở nên chính mình khi nào có được sự quân bình giữa hai chiều hướng đó: hướng ngoại, tương quan với người khác, với thế giới và hướng nội, rút lui, thinh lặng, suy tư. Cũng giống như cử động của trái tim lần lượt co thắt rồi nở ra thành những nhịp đập đều đặn. Đấy là lý do vì sao tôi cho rằng thinh lặng là một trong những quyền căn bản của con người mà chúng ta phải bảo vệ ngang hàng với hòa bình. Cần phải đấu tranh chống lại tất cả những gì ngăn cản không cho phép con người xáp nhập nhân tố chủ yếu này vào con người của mình. Nêu ý thức cho những người có trách nhiệm đô thị hóa, qui hoạch lãnh thổ, việc làm và giao thông. Thiết lập những nơi ‘thinh lặng yên tĩnh’ cho đời sống công cộng. Mở cửa các thánh đường của chúng ta, vì tiên vàn đấy không phải là những viện bảo tàng mà là những nơi thinh lặng và thờ phượng. Trong giờ giáo lý, phát triển khả năng tự nhiên của trẻ em đối với việc hướng vào nội tâm. Các đan viện ngày càng nên trở thành những nhà mở, những trường dạy sự thinh lặng tràn đầy. Các linh mục ngày càng trở nên những người rất quen suy niệm và là những bậc thầy thiêng liêng. Nếu việc xã hội hóa không kèm theo một sự hướng nội ngày càng gia tăng, chúng ta có nguy cơ gặp phải những mất quân bình trầm trọng. Điều này tác hại đến hạnh phúc con người, sự triển nở bản thân và phẩm chất của tương quan giữa người và người. Do đó, việc nhập môn vào thinh lặng, vào đời sống nội tâm, phải là một sứ vụ hàng đầu của Giáo Hội ngày nay. Giúp các cộng đoàn Kitô hữu tạo nên những môi trường huynh đệ sống thinh lặng, cầu nguyện, trở thành những lá phổi giúp cho các thành phố lớn của chúng ta khỏi phải chết ngạt. Người ta đã lặp đi lặp lại, một cách chính đáng, rằng Kitô giáo không còn là Kitô giáo nữa nếu không đứt khoát dấn thân chống lại sự nghèo đói, bất công, bạo lực đang hủy hoại phẩm giá con người và xúc phạm đến chương trình yêu thương của Chúa. Ngày nay, cần phải nói mạnh mẽ rằng Kitô giáo không thể nào chấp nhận được nếu không dấn thân cũng quyết liệt như thế để trả lại cho con người chiều kích nội tâm của họ● (còn tiếp)
Anthony de Mello Đỗ Tân Hưng dịch Ngôi đền thờ đứng sừng sững trên một hải đảo, cách bờ biển hai hải lý, ở ngoài khơi. Đền thờ có cả ngàn quả chuông: chuông lớn, chuông nhỏ, những quả chuông được nắn đúc do các tay thợ lành nghề nhất thế giới. Khi một cơn gió nổi lên hay khi một trận phong ba bão táp gầm thét, mọi quả chuông của đền thờ đều nhất loạt ngân vang, tạo thành một bản hợp tấu làm say sưa con tim của khách mộ điệu. Nhưng rồi, qua bao thế kỷ, hải đảo đó đã chìm sâu xuống biển và cuốn theo với nó là ngôi đền thờ và các quả chuông. Tương truyền rằng các quả chuông vẫn tiếp tục ngân vang không ngừng và ai để ý lắng tai đều có thể nghe được. Hấp dẫn bởi huyền thoại đó, một thanh niên đã vượt xa ngàn dặm, cương quyết nghe cho bằng được những tiếng chuông bất hủ đó. Ngày qua ngày, anh ngồi một mình bên bờ biển, mặt hướng về nơi mà xưa kia sừng sững ngôi đền thờ để lắng tai nghe, với hết tâm hồn mình. Nhưng điều duy nhất anh nghe được, ấy là tiếng sóng rì rào vỗ lên ghềnh đá. Chàng thanh niên đã làm hết sức để cố xua đuổi tiếng gầm của những đợt sóng ngõ hầu nghe được tiếng chuông. Nhưng hoài công: tiếng sóng biển vẫn vang rền không trung. Anh ta còn ở lại đó thêm nhiều tuần lễ để nghe. Khi cảm thấy không còn can đảm nữa, anh liền để ý nghe ngóng những hiền nhân khẽ bàn luận với nhau về huyền thoại những quả chuông đền thờ hay về những người đã nghe được tiếng chuông, để chứng minh rằng huyền thoại kia là điều có thực. Và con tim của anh bừng lên trở lại khi nghe những câu chuyện đó... để rồi lại nản lòng, sau nhiều tuần lễ cố gắng nữa mà chẳng đi đến kết quả nào. Cuối cùng, anh đã quyết định bỏ cuộc: có thể anh không nằm trong số những người may mắn được nghe tiếng chuông; có thể huyền thoại kia không đúng sự thật. Anh ta lui về nhà nghỉ và chấp nhận thất bại. Đó là ngày cuối cùng của anh và anh đã đến nơi mà anh thường đến, trên ghềnh đá, để giã từ biển cả, bầu trời trong xanh, tiếng gió vi vu và hàng dừa thẳng tắp. Anh nằm dài trên bãi cát, ngắm bầu trời bao la, lắng nghe tiếng sóng biển rì rào. Ngày hôm đó, anh không phản kháng với tiếng sóng biển. Trái lại, anh đã thả hồn và khám phá ra rằng tiếng sóng gầm là một âm thanh êm tai, làm lắng đọng lòng người. Rồi thì anh đã mất hút trong tiếng động và trở nên hầu như vô ý thức, bởi vì tiếng động đã tạo ra nơi lòng anh một sự thinh lặng sâu lắng làm sao! Giữa lòng thinh lặng đó, anh đã nghe thấy! Tiếng ngân vang của một quả chuông nho nhỏ rồi tiếp theo là một quả chuông khác rồi lại một quả chuông khác nữa...và cứ thế mỗi một quả chuông trong số ngàn quả chuông của đền thờ đã đua nhau ngân vang, và con tim anh ngất ngây sung sướng. Nếu bạn muốn nghe những tiếng chuông của đền thờ, bạn hãy lắng nghe tiếng biển gào thét. Nếu bạn muốn thấy Chúa, bạn hãy nhìn tạo vật của Ngài một cách chăm chú. Đừng từ khước, đừng suy tư: bạn chỉ có việc nhìn ngắm mà thôi!●
Lạy Chúa Giêsu, trong cuộc sống hằng ngày, khi bị bao vây bởi muôn tiếng ồn ào, xin cho con tìm được những giây phút thinh lặng.
Khi bị rã rời vì trăm công ngàn việc, xin cho con quý chuộng những lúc được an nghỉ trước nhan Chúa.
Khi bị xao động bởi những bận tâm và âu lo, xin cho con biết thanh thản ngồi dưới chân Chúa để nghe lời Người.
Khi bị kéo ghì bởi đam mê dục vọng, xin cho con thoát được lên cao nhờ mang đôi cánh thần kỳ của sự cầu nguyện.
Lạy chúa Giêsu, ước gì tinh thần cầu nguyện thấm nhuần vào cả đời con. Nhờ cầu nguyện, xin cho con gặp được con người thật của con và khuôn mặt thật của Chúa.
AMEN● (Trích RABOUNI)
Maranatha dịch Người ta kể rằng: có một binh sĩ trở về quê hương sau khi chiến đấu tại Việt Nam. Từ San Francisco anh điện thoại cho cha mẹ mình: "Cha mẹ ạ, con vừa về đến quê hương, nhưng con xin cha mẹ một ân huệ. Con có một người bạn, con muốn đưa bạn ấy về nhà mình với con". Họ trả lời: "Được chứ, cha mẹ sẵn lòng gặp cậu ấy". Người con trai tiếp tục: "Có một điều cha mẹ nên biết: cậu ấy bị thương nặng trong chiến tranh. Cậu ấy đạp phải một quả mìn và mất đi một tay với một chân rồi. Cậu ấy không biết đi nơi nào cả, và con muốn đưa cậu ấy về ở nhà mình." Người cha ngần ngừ giây lát rồi bảo: "Con à, ba rất lấy đau lòng khi nghe như vậy. Có lẽ chúng ta có thể giúp cậu ta tìm ra một nơi để ở". Anh lính tha thiết nói: "Không, cha mẹ à, con mong muốn cậu ấy được ở chung với chúng ta". Người cha đáp: "Con ơi, con không ý thức là con yêu cầu cha mẹ điều gì à? Một người tàn tật nặng như thế sẽ là một gánh nặng khủng khiếp cho chúng ta. Chúng ta còn phải sống cuộc đời của mình, và không thể để một điều như thế quấy rầy cuộc sống chúng ta! Cha nghĩ rằng con nên về nhà ngay và quên cậu ấy đi. Cậu ta sẽ tự mình tìm ra một cách mà sống." Nghe đến đây, người con gác điện thoại. Và cha mẹ anh không còn nghe anh nói thêm lời nào. Tuy nhiên vài ngày sau, họ nhận một cú điện thoại từ cảnh sát San Francisco. Người ta bảo rằng con của họ đã qua đời sau khi rơi từ một cao ốc xuống. Cảnh sát nghĩ rằng anh tự tử. Cha mẹ anh bàng hoàng đau đớn, vội đáp phi cơ đến San Francisco và được đưa đến nhà xác của thành phố để nhận diện con mình. Họ nhận ra anh ta ngay, nhưng họ cũng kinh hãi khi phát hiện một điều mà họ không hề biết trước: con của họ chỉ còn một tay và một chân! Cha mẹ của anh lính trong mẩu chuyện này cũng giống nhiều người trong chúng ta. Chúng ta cảm thấy dễ dàng yêu thương những người có ngoại hình đẹp hoặc làm ta thích thú, nhưng không thích những ai làm cho mình bực bội hay không thoải mái. Chúng ta muốn tránh xa những người không mạnh khoẻ, không xinh đẹp, hay không thông minh bằng chúng ta. May thay, có một Đấng không đối xử với chúng ta theo cách ấy. Một Đấng yêu thương chúng ta với một Tình Yêu vô điều kiện và đón nhận chúng ta vào gia đình Ngài mãi mãi, dù cho chúng ta có rách nát đến đâu. Đêm hôm nay, trước khi bạn đi vào giấc ngủ, hãy nguyện cầu xin Chúa ban cho bạn sức mạnh cần thiết để đón nhận người khác đúng như thực trạng của họ, và xin Ngài giúp chúng ta biết thông cảm hơn với những ai khác mình● personal.vsnl.com/ramesh/lesson26.txt
LTS: Trong tuần qua, Maranatha đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:
Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.
Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. Trân trọng, MARANATHA
THƯ BẠN ĐỌC
Thân kính, Liên Thái
Trang Nhà (website) http://www.maranatha-vietnam.net Thư từ, ý kiến, xin gửi về maranatha@saintly.com Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về Chân thành cám ơn
|