Số 40, Ngày 19-3-2005

 

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Nghịch Lý Của Thập Giá Lm. Vũ Xuân Hạnh

Bài Giảng Trên Núi…Sọ Trần Duy Nhiên

Để Được Vào Nước Trời - Cần Có Tình Yêu và Lòng Dũng Cảm - Nguyễn Chính Kết

Thánh Giuse - Người Cha Của Đức Giêsu  - Trần Duy Nhiên

Chiếc Cầu Thang Kỳ Lạ -  Phạm Hoàng Nghị viết theo Arthur Gordon

Những Vị Mục Tử Không Nhà - Nguyễn Khánh Linh

Chân Dung Người Con - Maranatha dịch

Tâm Tình Cùng Bạn ĐọcThư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

Chúa nhật Lễ Lá đến để đưa chúng ta vào Tuần Thương Khó. Một tuần lễ mà bao biến cố trọng đại trong cuộc đời Chúa Kitô được tái hiện qua phụng vụ, và truyền thống của mỗi giáo xứ đã khắc ghi vào lòng mọi tín hữu những dấu ấn khó phai mờ. Nhưng phải chăng chúng ta lại vào trong Tuần Thánh với tâm trạng của những người ‘vờ’ buồn rầu trong bảy ngày của tuần lễ linh thiêng này, để rồi cũng’vờ’ vui trong Đêm Vọng Phục Sinh, mà mọi sự thì đã ‘biết rồi, nói mãi, khổ lắm!’

Nếu như thế thì chúng ta lại đánh mất một dịp để cùng với Giáo Hội trở về với Niềm Vui sâu xa và đích thực của Lời gieo Tin Mừng.

Lời Chúa là Lời Hằng Sống. Nghĩa là Ngài vẫn sống trong ngày hôm nay, ở nơi này. Những bài đọc Thương Khó ta nghe lại những ngày sắp tới không phải là một ‘chuyện đời xưa’, mà là một sự kiện thời sự.

Thuở xưa, Vua Đavid đã ngoại tình với Bethsabê, và để bịt miệng thế gian, ông đã tìm cách để giết Uria, chồng Bethsabê, rồi đưa bà về sống với mình trong danh chính ngôn thuận. Khi xã hội chấp nhận việc làm sai trái của mình, thì ý thức tội lỗi cũng mờ đi. Đavid yên hàn ca ngợi Chúa với một lương tâm bình thản. Thế rồi một người đến kể cho ông nghe một ‘chuyện cổ tích’. Người đó là tiên tri Nathan, và ông kể chuyện cổ tích với nội dung như sau: “Một người chủ giàu có hằng trăm con chiên, nhưng khi khách đến thì không giết con nào của mình để đãi khách, mà lại giết con chiên duy của một người nghèo, một người xem con chiên là lẽ sống duy nhất của mình.” Nghe như thế, Đavid nổi trận lôi đình và đòi phạt tội ông phú hộ kia. Lúc bấy giờ Nathan nói rõ: “Người ấy chính là ông đấy!” (Sm 12,9). Chuyện cổ tích không còn là cổ tích nữa, mà là chuyện thật của Đavid. Ông xé áo, rắc tro, và khóc lóc ăn năn.

Những nghi lễ trong Tuần Thánh, với những bài đọc Thương Khó cảm động kia vẫn không phá vỡ được sự yên hàn giả tạo trong mỗi chúng ta, cho đến khi chúng ta biết rằng đấy không phải là ‘chuyện đời xưa’, mà là chuyện của chính mình.

Chúa Giêsu đã bị bắt bớ, lăng nhục, đánh đập, chết treo hai ngàn năm trước, thì ngày nay Ngài vẫn còn bị bắt bớ, lăng nhục, đánh đập, chết treo trong những người bị bỏ rơi về vật chất hay tinh thần trên khắp thế giới này, và ngay bên cạnh chúng ta.

“Người đó chính là ông!” Giuđa phản Thầy mình, người đó chính là bạn và tôi! Philatô làm ngơ để người ta giết người vô tội, người đó chính là bạn và tôi! Phêrô chối thầy mình ba lần liên tiếp, người đó chính là bạn và tôi! Người la ó trong sân Philatô: hãy giết nó đi, người đó chính là bạn và tôi! Có thấy như thế thì chúng ta mới hiểu vì sao Chúa vẫn còn bị bắt bớ, lăng nhục, đánh đập, bị bỏ rơi và chết đau thương trên thập giá khắp nơi trên trần gian này ngày hôm nay.

Trong ý thức đó, Maranatha sẽ cùng theo Chúa Kitô để sống lại cái nghịch lý của Mùa Thương Khó năm nay, với những bài suy tư và câu chuyện kể lạ thường.

Những suy tư lạ thường đó, lại đến với quý vị năm nay trong ngày lễ của một Đấng cũng lạ thường, ấy là Thánh Giuse mà Giáo Hội mừng kính vào ngày thứ bảy 19 tháng 3.

Lạ thường thay một vị Thánh Cả mà không làm gì cả, ngoại trừ sống trong âm thầm, từng ngày một. Cuộc khổ nạn kéo dài của Chúa Giêsu, một cuộc khổ nạn đi từ biến cố rung chuyển từng trời đêm Giáng Sinh cho đến ngày Phục Sinh huy hoàng sau lễ Vượt Qua. Và Thánh Giuse đã mất hút trong hành trình Thương Khó đó. Vì thế, Maranatha_40 cũng dành nhiều trang để học hỏi nơi ngài.

Và vì Thánh Giuse là vị thánh Quan Thầy của rất nhiều Kitô hữu trong cộng đồng dân Chúa, Maranatha xin gửi lời chúc mừng lễ tất cả quý vị cộng tác viên và độc giả mà thánh Giuse là bổn mạng. Nguyện xin Thánh Cả Giuse đưa quý vị vào con đường hẹp của ngài để cho Chúa Kitô phục sinh trong các tâm hồn mà khởi sự là tâm hồn của chính mình.

Trong tất cả những người mừng lễ quan thầy Giuse, Maranatha đặc biệt gửi đến Đức Tân Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt lời chúc mừng hân hoan nhất, bởi vì ngày 19 tháng 3 này, chẳng những là ngày lễ quan thầy mà còn là ngày Đức Cha nhận trách vụ mới để đi con đường thánh giá của Chúa Kitô hầu hướng đến phục sinh. Con đường thánh giá đó đã khởi điểm từ tuần lễ vừa qua, khi Chúa đã gọi thân mẫu của Đức Cha về với Người, cứ như thể Chúa muốn cho chính người mẹ trần thế của Đức Cha luôn ở cạnh Người hầu gần gũi Đức Cha hơn.

Xin Đức Mẹ Maria, quan thầy của Bà Cố, và Thánh Cả Giuse, quan thầy của Đức Cha, luôn nâng đỡ Đức Cha trên hành trình của một chủ chăn, theo gương Chúa Kitô, Đấng ‘không có một hòn đá gối đầu.” (Mt 8:20).

Và trên hành trình lên núi Calvê của Tuần Thương Khó, cùng với Đức Tân Tổng Giám Mục và quý vị mang tên Thánh Giuse, quý vị có lòng yêu mến Thánh Giuse, mong sao tất cả chúng ta đón nhận Chúa Kitô không chỉ là ngày vào Giêrusalem vinh quang, nhưng mà ngay lúc Ngài hấp hối trên Thập Giá, với lời nguyện cầu hướng đến Phục Sinh: Maranatha, lạy Chúa Kitô, xin ngự đến!

MARANATHA

Trở về Muc Lục

 LỄ LÁ - TUẦN THÁNH  

NGHỊCH LÝ CỦA THẬP GIÁ

 

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Với việc cử hành rước lá của Chúa nhật Lễ Lá, Tuần Thánh bắt đầu.

Suy nghĩ các bài Thương khó trong tuần Thánh, sao tôi thấy có quá nhiều trái ngược. Những trái ngược ấy lớn cho đến mức trở thành những nghịch lý. Và lớn hơn nữa: trở thành mâu thuẫn đến nỗi có những lúc như tàn nhẫn, như đớn đau.

1. Đó là nghịch lý xuất phát từ phía dân chúng: Cuộc tiến vào Giêrusalem giữa một đám đông dân chúng hân hoan, nô nức, tay vẫy cao cành lá, còn có kẻ tỏ lòng mộ mến đến nỗi đã trải áo xuống đường, miệng thì không ngớt tung hô: ‘Hoan hô con vua Đavit’ để long trọng rước Chúa Giêsu vào thủ đô Giêrusalem.

Nhưng có ai ngờ rằng, giữa những tiếng tung hô dậy trời ấy, giữa mọi cử chỉ, mọi hành động vô cùng tốt đẹp ấy, giữa cảnh tượng huy hoàng tưởng như Chúa Kitô đang chiến thắng, đang khải hoàn, và ngay giữa lòng dân chúng có vẻ như chỉ có niềm vui chan chứa, lại đang chất chứa cả một sự phản bội ghê gớm, một sự phản bội như dồn, như thúc để sau đó sẽ bùng nổ dữ dội trước mặt Tổng Trấn Philatô trong tiếng gào thét và những bàn tay nắm chặt đưa lên một cách dứt khoát, đầy quyết tâm: ‘Đóng đinh nó đi! Đóng đinh nó đi! Đóng đinh nó vào thập giá.’ Dù cho Philatô có thật lòng và ngàn lần muốn tha bỗng đi nữa, thì sự quyết tâm đóng đinh Giêsu một cách mãnh liệt như thế, sẽ không có chỗ cho ông thực hiện ý muốn của mình, đừng nói gì đến chuyện một Philatô lòng vẫn còn đó đầy dẫy ham hố quyền - danh - lợi.

Cứ như thế, hết thời đại này đến thời đại khác, bất công nối tiếp bất công chỉ vì quyền - danh - lợi ấy.

2. Đó cũng là những nghịch lý khởi đi từ phía các môn đệ: Bao nhiêu tháng ngày được hướng dẫn, dạy dỗ, nhìn xem Thầy làm biết bao nhiêu phép lạ, chứng kiến Thầy hiển dung uy nghi trên núi cao, vậy mà những lời dạy thân thương, những việc làm tốt đẹp ấy đã tan biến đâu hết. Đến giờ này, chính trong hàng ngũ những môn đệ thân tín nhất của Chúa Giêsu lại xuất hiện những tâm hồn rắp tâm phản bội người Thầy khả ái và khả kính của mình.

Không biết 30 đồng thời ấy so với 30 đồng thời nay, khoảng cách chênh lệch đến mức nào, nhưng dẫu cho giá trị có lớn đến đâu, thì khi bán đứng Thầy mình cho chính những người đang hận Thầy đến phát điên lên, Giuđatrở thành biểu tượng của kẻ phản bội. Hình ảnh thọ ơn và trả ơn bằng bội ơn không nghịch lý lắm sao. Nghịch lý ấy đã làm cho đời sống, không phải chỉ trong thời Chúa Giêsu, nhưng là mọi thời, trở nên nhiều lẽ xấu hơn, lòng người tệ bạc hơn.

Sự yếu đuối của thánh Phêrô cũng là một nghịch lý. Được Thầy yêu thương lắm, nên đã biến Phêrô thành người học trò hàng đầu, làm tông đồ trưởng, sau này sẽ là giáo hoàng tiên khởi của Giáo Hội. Vậy mà trước quyền lực của thế gian, đã làm Phêrô sợ hãi đến độ chối Thầy Ba lần. Nhưng không phải ba lần trong ba tháng hay ba ngày, nhưng ba lần liên tục trong một đêm, chỉ trước mấy canh gà có vài giờ đồng hồ mà thôi trong. Nghịch lý về sự chối Thầy của Phêrô đối diện với lòng thương vô cùng của Chúa Giêsu, sao cứ mãi là nghịch lý khi loài người đã không biết ơn Thiên Chúa, không chỉ vô tâm với lòng thương xót của Thiên Chúa, mà còn đi xa hơn trong lầm lạc: phủ nhận và chối từ chính Thiên Chúa!

3. Đó còn là nghịch lý trong phiên tòa Philatô. Chúa Kitô, Thiên Chúa làm người, bản thân Ngài đã là một nghịch lý: Từ một vì Thiên Chúa cao sang, quyền năng vô biên, lại hóa thân làm người sống như chính con người là người, đã là một sự khiêm hạ khó hiểu.  Vậy mà Thiên Chúa quyền năng vô biên ấy giờ lại để cho loài người ‘xử án’. Một nghịch lý nhiệm mầu quá đỗi!

Phiên tòa Philatô đại diện cho cả loài người tàn nhẫn, bạo ngược đồng loạt tuyên án tử chính Thiên Chúa của mình. Bởi thế, Phiên tòa Philatô là một phiên tòa hết sức bất công, hết sức ngược ngạo, chỉ có một không hai từ thuở tạo thiên lập địa cho đến ngàn đời sau: Con người ‘xử tội’ Thiên Chúa, một vì Thiên Chúa thánh thiện tuyệt đối, tạo dựng chính con người, và nắm quyền xét xử con người.

Dù ngày hôm nay, không còn những phiên tòa mặc nhiên xét xử Thiên Chúa như Philatô đã từng xét xử Chúa Giêsu, nhưng vẫn còn đó những lời phạm thượng, những hàng động, những lối suy nghĩ mà trong đó hàm chứa sự oán trách và kết án Thiên Chúa.

Vẫn còn đó những phiên tòa xét xử, kết án những người vô tội, người nghèo khổ, cô thân cô thế không một quyền bính nào bảo vệ, dù quyền bính đó có thể là pháp luật. Và đôi lúc chính chúng ta cũng đã lên án nhau. Dù không nói ra, nhưng lương tâm ta đã từng lên án những cô gái điếm, những em bé nghèo cơ nhở phải trộm cắp, những thanh niên nghiện nghập, những nạn nhân của nhiều vụ tự tử hay của con bệnh AIDS.

4. Hình ảnh Đức Maria cùng với thánh Gioan hiện diện giữa pháp trường cũng lại là một nghịc lý lớn không kém. Có ai ngờ rằng, những thanh niên trai tráng như các tông đồ, tưởng chừng đầy sức mạnh, đầy can trường, khó có một trở ngại nào làm chùn bước, làm thoái lui. Vậy mà khi Thầy lâm nạn, đã trở thành những kẻ bạc nhược, khiếp đảm và run sợ. Các ngài không hiểu nỗi tại sao bình thường Chúa Giêsu quyền năng là thế, có sức thu hút là thế, đã có lần những hào quang ấy làm cho các ngài tưởng mình đã mạnh mẽ lắm, nên đã phát ngôn có khi nghe chướng tai: Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó không? (Lc 9, 54). Sao bây giờ phải chứng kiến Chúa Giêsu ngã gục dưới làn roi, dưới thập giá, dưới những lời phỉ báng ô nhục… Ảo ảnh về một cứu chúa trần thế huy hoàng sụp đổ, đã kéo tinh thần của các tông đồ đổ quỵ theo.

Chỉ có Đức Maria, một phụ nữ chân yếu tay mềm như mọi phụ nữ, vì tình yêu đối với Con của mình đã trở nên mạnh mẽ, bất chấp mọi nguy hiểm, mọi sĩ nhục, mọi đớn đau..., đối mặt với thập giá kinh hoàng. Người phụ nữ ấy đã kiên trung, đã can đảm đến cùng, để chứng kiến cho bằng được người con ruột thịt yêu quí của mình quằn quại trên thập giá. Chứng kiến cảnh đau cõi xót lòng khi người con duy nhất của mình trao linh hồn cho Chúa Cha và thở hơi lần cuối trong sức tàn. Chính vì tình yêu màlúc những mũi đinh đau đớn treo Con của Mẹ, lúc Chúa Giêsu đang lịm dần, lúc máu chảy tràn từ cạnh nương long,  cũng là lúc Mẹ chết từng giây và tan nát tâm hồn.

Cũng thế, thánh Gioan chỉ là một người em út trong đoàn tông đồ, đã can đảm không kém để cùng với Mẹ Chúa Giêsu chứng kiến đến giây phút sau cùng của một đời làm người của Chúa Giêsu. Thánh Gioan thật xứng đáng với chức vị của ‘Người môn đệ được Chúa yêu.’Bởi vậy, Nhìn vào quang cảnh ấy, một lần nữa ta lại phát hiện ra rằng, chia sẻ thập giá Chúa, sao chỉ có những người yếu đuối về sức lực, nhỏ bé về thể xác lại lớn lao quá đổi về sức chịu đựng, quá đổi về sự dũng mãnh và can trường. Tất cả có được chỉ nhờ tình yêu. Hãy yêu để vác thập giá giữa đời mà bước đi với Chúa Kitô. Hãy yêu để xác quyết đức tin nơi thập giá cứu độ tuyệt vời ấy. Hãy yêu và hãy tin để sức mạnh của tình yêu và sức mạnh của niềm tin nâng đỡ sức người. Nhờ đó, cho dù bé nhỏ, mỏng dòn đến đâu, sức người vẫn có thể chấp nhận sức nặng của thập giá, không phải một lần mà một đời.

5. Kết luận: Nếu chỉ nhìn bằng cái nhìn hiện thực và lịch sử, bất cứ ai góp phần đưa đến cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá, cụ thể là những người Do-thái và La-mã của thời Chúa Giêsu, là hành động tội ác.

Nhưng nếu nhìn bằng ánh mắt đức tin, cái chết bi thương trên thập giá của Chúa Giêsu là một mầu nhiệm. Mầu nhiệm là bởi bạn và tôi đều cảm nhận rằng, ngay cả ngày hôm nay, bạn và tôi cùng có mặt trong vụ án Chúa Giêsu để cùng tham dự vào việc đóng đinh Người. Dẫu ta vẫn cùng nhau tuyên xưng rằng, Chúa chịu đóng đinh vì ta, thì ngay trong lời tuyên xưng ấy đủ để tố cáo chúng ta: bởi tội lỗi, cho nên đã cách xa hai ngàn năm, ta vẫn là một kẻ chối bỏ, một tiếng reo hò, một lời cáo gian, một sự sỉ vả hoặc chính là một cái đinh đóng vào thân thể Chúa Giêsu.

Nghịch lý về thập giá Chúa Kitô, một nghịch lý mà muôn đời sau phải ghi nhớ: nghịch lý về một Thiên Chúa vì yêu đã làm người, cúi xuống nâng phận người bé nhỏ lên. Nghịch lý về một Thiên Chúa tình yêu đã làm người chết thay cho muôn người. Nghịch lý về một Thiên Chúa đã sử dụng chính hành vi tội ác của con người để làm nên hoa trái của ơn cứu chuộc, quay lại cứu chuộc chính con người.

Từ những suy nghĩ về thập giá và nghịch lý của thập giá như thế, tôi muốn mời bạn cùng tôi cầu nguyện bằng một lời cầu nguyện ai đó đã viết khi ngắm nhìn những nghịch lý của thập giá Chúa Kitô:

Lạy Chúa,

Sao cứ để con giàu có dư dật

Nhưng lại mời gọi con phải sống khó nghèo?

Sao cứ cho con thành công, danh giá

Nhưng lại bảo con phải sống khiêm nhường?

Sao ban cho con một trí khôn minh mẫn

Nhưng lại để con ‘ngu dốt’ trong tình Ngài yêu con?

Sao đặt trong con một quả tim muốn độc chiếm

Nhưng lại muốn con phải mở ra với mọi người?

Sao dựng nên con một thân xác muốm hưởng thụ

Nhưng lại khuyên con phải phục vụ, hy sinh?

Sao để trong con mạnh mẽ một cá tính

Nhưng lại bảo con phải bỏ ý riêng mình?

 

Và tại sao ban cho con tất cả

Rồi lại dạy con phải bỏ hết để theo Chúa?

***

Chúa ơi, bây giờ con mới biết

Chỉ khi nào sống được nghịch lý này

Con mới hiểu ra một nghịch lý khác:

Nghịch lý về một kẻ phạm tội

Nhưng một người khác lại đền tội vì yêu!

Trở về Muc Lục

BÀI GIẢNG TRÊN NÚI... SỌ

Trần Duy Nhiên

Càng đến gần Tuần Thánh, mọi người lại càng hướng về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, và cao điểm của hành trình thương khó là cái chết của Ngài trên thập giá. Thần học và truyền thống đã nói nhiều về những đau đớn thể chất và tinh thần của Đức Giêsu, Đấng muốn mang trọn vẹn thân phận của loài người để biến đau khổ thành ơn cứu độ... Những giáo lý và truyền thống đó vẫn còn nguyên giá trị.

Thế nhưng, Mùa Chay này, tôi bỗng nghĩ rằng mình phải trực tiếp lắng nghe tiếng Chúa chứ không thông qua một ai, dù cho đó là truyền thống đáng kính của Giáo Hội.

Tôi tự nhủ rằng giáo huấn của Thầy thì nhiều và câu nào cũng có giá trị, nhưng những lời cô đọng nhất ắt phải là những lời trối trăn khi cái chết gần kề. Thật như vậy, trên thập giá, mỗi câu nói của Chúa Giêsu không chỉ là bản tóm lược các giáo huấn của Ngài, mà còn nói lên rõ mồn một rằng Ngài đã sống những điều Ngài dạy từng giây từng phút trong trọn cuộc đời mình. Tôi đã biết nhiều người thầy dạy: ‘Hãy làm điều tôi nói, đừng làm điều tôi làm’. Tôi không đủ kiến thức để biết được từ cổ chí kim có bao nhiêu bậc thầy sống trọn vẹn điều mình dạy, nhưng khi lắng nghe những lời trăn trối của Thầy Giêsu, tôi biết rằng Thầy của tôi là vị thầy đã sống không sai một li những điều Ngài dạy dỗ các môn sinh mình. Thế rồi tôi khám phá một sự thật làm tôi ngỡ ngàng: Thập Giá là nơi mà hạnh phúc của Đức Giêsu lên cao đến tuyệt đỉnh, và từ đó tôi hiểu rằng cuộc đời của Ngài ở thế gian là một cuộc đời hạnh phúc.

Lời nói của tôi hẳn gây chói tai. Người ta ghi khắc trong đầu tôi một Đức Kitô bất hạnh giữa thế gian này, và rồi dạy tôi phải đối diện với cuộc đời với bộ mặt u sầu đau khổ nếu tôi muốn làm một môn đệ Chúa Kitô. Nhưng những lời trăn trối của Thầy buộc tôi phải nhớ lại Hiến Chương Nước Trời, một hiến chương đặt hạnh phúc của tôi lên hàng tối thượng.

Lời dạy dỗ đầu tiên được ghi lại trong Tân Ước là bài giảng mà Đức Giêsu thực hiện trên một ngọn đồi thành Ca-phac-na-um. Bài giảng khởi sự bằng Tám Mối Phúc của một con người. Và nơi đồi Calvê, Chúa Giêsu cũng nói 8 lời, và mỗi lời đều chứng tỏ rằng Ngài đã sống từng mối phúc một. Chúa Giêsu đã đi đến tuyệt đỉnh của hạnh phúc nhân loại lúc Ngài hấp hối trên thập giá, bởi vì Bài Giảng Trên Núi Galilê đã được hoàn tất nơi Bài Giảng Trên Núi Sọ.

1. Phúc cho ai có tinh Thần nghèo khó: Lạy Cha, Con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha (Lc 23,46)

Chúa Giêsu đã sống nghèo vật chất: con chim có tổ, con cáo có hang, nhưng Con Người...’. Nhưng hơn cả nghèo vật chất, Ngài nghèo khó tinh thần. Ngài không có một ý muốn của Ngài, một tình cảm của Ngài, một lời nói của Ngài... Trọn đời Ngài, Ngài chỉ thực hiện ý muốn của Cha, chỉ truyền thông tình yêu của Cha, chỉ chuyển lại những lời Ngài nghe Cha nói. Người nghèo là một người hoàn toàn lệ thuộc một ai khác. Đức Giêsu hoàn toàn lệ thuộc Chúa Cha: ngay cả mạng sống, ngay cả linh hồn, Ngài cũng phó thác cho Cha... Trên thập giá, Ngài đã khó nghèo đến tuyệt đỉnh: Ngài hạnh phúc đến tuyệt đỉnh

2. Phúc cho ai hiền lành: Này Bà, đây là Con Bà (Ga 19, 26)

Chúa Giêsu là Đấng hiền lành và khiêm nhường trong lòng’ Hành động Trên Núi Sọ cho thấy cách thể hiện cao độ của sự hiền lành đó. Ngài mong mỏi Đức Mẹ chia sẻ trọn vẹn cuộc khổ nạn của Ngài và trở thành Đấng “Đồng Công Chuộc Tội”. Thế nhưng đường Ngài đưa Mẹ đi vẫn là con đường hiền lành chứ không phải là con đường áp đặt thô bạo. Trước giây phút phải vĩnh viễn xa lìa người Mẹ, Ngài giao Mẹ cho người môn đệ yêu thương để nối tiếp mình chăm sóc Mẹ. Trên thập giá Ngài đã đòi hỏi Đức Mẹ đến tột độ trong một thái độ hiền lành cũng tuyệt đỉnh: Ngài đã có phúc đến tuyệt đỉnh

3. Phúc cho ai sầu khổ: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con!” ( Mt 27, 46 ).

Ngài đã sầu khổ: sầu khổ cho những người bơ vơ như đàn chiên không chủ chăn, sầu khổ cho những người thấp cổ bé miệng bị gạt ra ngoài lề xã hội, sầu khổ cho những kẻ cứng lòng tin... Sầu khổ vì những kẻ nhân danh đạo đức lên án Ngài, sầu khổ vì một môn đệ phản bội Ngài, sầu khổ vì những tông đồ bỏ rơi Ngài, và nỗi sầu khổ cay đắng nhất là thấy chương trình của Cha dường như thất bại đến độ Người bỏ rơi Ngài và Ngài phải kêu van... dù cho lời kêu van ấy là câu khởi đầu cho một bài ca cảm tạ ngợi khen (Tv 22). Trên thập giá, Đức Giêsu đã sầu khổ đến tuyệt đỉnh: Ngài hạnh phúc đến tuyệt đỉnh

4. Phúc cho ai khao khát:Tôi  khát (Ga 19, 28)

Trong cuộc đời Chúa, Ngài đã có lần khát nước thực sự, chẳng hạn bên bờ giếng ở Samaria... Nhưng điều Ngài khao khát nhất, ấy là khao khát sự công chính, khao khát các linh hồn. Ngài sẵn sàng trao máu mình để cho mọi người sống bằng sự sống của Ngài, thế mà đến cuối đời, có vẻ như không ai nhận lấy sự sống ấy: Cơn khát của linh hồn và cơn khát trong thể lý đã lên đến tột đỉnh trên Núi Sọ, khiến Ngài phải mở miệng than vãn lần đầu tiên và duy nhất trong đời: Tôi Khát’. Trên thập giá, cơn khát của Ngài đã lên đến tuyệt đỉnh: Ngài đã hạnh phúc đến tuyệt đỉnh.

5. Phúc cho ai có lòng thương xót: “Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng” (Lc, 23, 43).

Suốt đời, bất cứ lời nói hành vi nào của Ngài cũng đầy tâm tình xót thương. Chính vì lòng xót thương mà Ngài buộc phải làm phép lạ; chính vì xót thương mà Ngài đã khóc cho Lazarô và cho Giêrusalem, chính vì xót thương mà Ngài đã bảo vệ cho người nữ ngoại tình, chính vì xót thương mà Ngài đã tha thứ cho Phêrô trước khi ông chối Ngài... Nhưng lòng thương xót ấy đạt đến cao điểm khi Ngài hứa đồng hành về Thiên Đàng với một kẻ trộm mà không hề thắc mắc gì về tội lỗi của người ấy: Ngài chỉ biết rằng người ấy là một kẻ bị đóng đinh bên cạnh Ngài, như Ngài. Trên thập giá, lòng thương xót của Ngài đạt đến tuyệt đỉnh: Ngài đã hạnh phúc đến tuyệt đỉnh.

6. Phúc cho ai có lòng trong sạch: Này Anh, đây là Mẹ anh (Ga 19,27)

Có lòng trong sạch nghĩa là không bao giờ có một ý nghĩ nào sai lệch. Người có lòng trong sạch là người mà lời nói luôn trung thực với ý nghĩ mình. Trong xã hội loài người, không thiếu gì trường hợp người ta nghĩ một điều mà lại nói một điều khác, vì cả nể, vì tư lợi, hay vì sợ hãi. Ngài là Đấng mà suốt đời Có thì nói có và không thì nói không”. Khi trao phó thánh Gioan cho Mẹ mình, Đức Giêsu thực sự muốn Mẹ Ngài yêu thương Gioan như yêu thương chính Ngài, và qua Gioan, tất cả nhân loại trở nên thực sự anh em Ngài. Ý nghĩ tha thiết nhất của Ngài tuôn ra thành lời nói cũng thiết tha nhất. Trên thập giá, lòng trong sạch của Ngài đã lên đến tuyệt đỉnh: Ngài hạnh phúc đến tuyệt đỉnh.

7. Phúc cho người xây dựng hoà bình: “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34 )

Trong sứ điệp Mùa Chay năm nay, Đức Thánh Cha ghi lại một chân lý muôn đời:Những biến cố trong cuộc sống hàng ngày chứng tỏ rõ ràng rằng sự tha thứ và hòa giải cần thiết biết bao cho sự canh tân cá nhân và xã hội Muốn xây dựng hòa bình, bình an, điều đòi hỏi tối cao là phải tha thứ, và cái tha thứ khó thực hiện nhất là tha thứ cho kẻ làm hại mình. Chúa Giêsu xây dựng Hoà Bình bằng cách tha thứ, và hơn thế nữa, Ngài cầu nguyện để xin Cha cũng tha thứ cho họ. Hãy yêu kẻ thù, và cầu nguyện cho kẻ bách hại”. Lời nói ngược đời này đã được chính Ngài thực hiện đến tuyệt đỉnh trên thập giá để kiến tạo hoà bình: Ngài hạnh phúc đến tuyệt đỉnh.

8. Phúc cho kẻ bị bách hại vì lẽ công chính. “Mọi sự đã hoàn tất”. (Ga 19, 30)

Cứ như thể Chúa Giêsu nói lời kết thúc cho bài giảng khởi sự trên núi Galilê và đến Núi Sọ mới chấm dứt. Cuộc đời Ngài là một cuộc đời bị bách hại vì lẽ công chính. Bị bách hại ngay từ ngày Ngài nhìn thấy đền thờ Cha Ngài ‘biến thành hang kẻ trộm’ và vắng bóng Thiên Chúa. Bị bách hại trong anh em nghèo khó của Ngài: Ta đói các người không cho ta ăn, Ta khát các ngươi không cho Ta uống...’. Bị bách hại vì lời Ngài bị coi là chói tai và họ ném đá Ngài. Và để cho ‘mọi việc hoàn tất’ cuộc bách hại ấy đã đưa Ngài lên Núi Sọ. Trên thập giá, cuộc bách hại đã đi đến cùng, đã được hoàn tất: Hạnh phúc của Ngài ở đấy đã hoàn hảo.

Trong ngôn ngữ Phúc Âm, tuyệt đỉnh của hạnh phúc là được kết hiệp với Thiên Chúa, và sự kết hiệp này còn được gọi là ‘hưởng Nước Trời’ hoặc ‘chết cho xác thịt’. Và chúng ta lại thấy sự trùng hợp giữa những lời thốt lên ở cả hai ngọn núi. Tại Galilê, mối phúc của người nghèo khó (thứ nhất) và của người bị bách hại (thứ tám) được kết bằng : “vì Nước Trời (hiện nay) là của họ’. Trên Núi Sọ, lời ‘phó thác linh hồn’ (tương ứng với nghèo khó) và lời ‘mọi sự hoàn tất’ (tương ứng với bách hại) đều được tiếp nối bằng ‘rồi ngài tắt thở’.

Khi một người hấp hối thì không còn tâm trí đâu mà kìm hãm miệng lưỡi mình, điều khiển phản ứng mình; chính vì thế mà trên thập giá con người thật của Đức Giêsu được bộc lộ không che chắn: Tám Mối Phúc Thật toát lên qua 8 lời nói cuối cùng của Ngài, lúc Ngài hưởng niềm hạnh phúc tuyệt đỉnh. Những lời này làm chứng cho giáo huấn của Ngài: Hiến Chương Nước Trời là con đường để cho môn đệ Ngài cảm nhận hạnh phúc khi họ chịu đóng trên thập giá như Ngài.

Tôi biết rằng những suy tư của mình rất gượng ép, rất chủ quan, và không có một cơ sở thần học nào. Nhưng có một điều hẳn không chủ quan tí nào, đó là Chúa Giêsu trên thập giá đã đạt đến tuyệt đỉnh của hạnh phúc trần gian. Nếu thập giá chỉ là khổ đau thì Ngài đã không đem thập giá mà bắt môn sinh Ngài vác. Tại sao chúng ta cứ nhất định biến Thầy Chí Thánh của mình thành một tay sadist, một kẻ bạo tàn thích gây đau đớn cho những người mình thương? Chính thập giá là nơi duy nhất mà Kitô hữu sẽ tìm thấy hạnh phúc, với điều kiện là phải chấp nhật ‘trút linh hồn’. Cái mất mát lớn nhất của Kitô hữu là không nhìn thấy hạnh phúc của mình trên thập giá: họ tiếp tục sống đời sống của những người chưa bao giờ cảm nghiệm thập giá, để rồi rao giảng một Đức Kitô tách rời với thập giá, nghĩa là một Đức Kitô vô phúc.

Nếu đến giờ này chúng ta vẫn còn nghĩ rằng thập giá là điều khổ nhục mà mỗi Kitô hữu phải nai lưng gánh chịu, để đền tội (chẳng lẽ Chúa Giêsu chưa đền đủ?), để lập công (chẳng lẽ chúng ta được cứu nhờ công trạng mình chứ không phải nhờ Chúa Giêsu?) hầu mai sau được hưởng phước đời đời; nếu ta nghĩ như thế, thì có nghĩa là chúng ta chưa hiểu gì về tám mối phúc thật mà Chúa Giêsu đã sống; và tội nghiệp hơn nữa, chúng ta không cảm nhận được cái hạnh phúc tuyệt đỉnh nơi thập giá. Có lẽ vì thế  mà thánh Phaolô đã lên tiếng kêu gào, khi ngài đang ở tù, đang bị đóng đinh, đang cảm nếm hạnh phúc: Tôi đã nói nhiều lần và y giờ tôi phải khóc mà nói lại: có nhiều người sống đối nghịch với Thập giá Đức Kitô (Pl 3, 18)

Trong Tuần Thánh, và nhất là vào ngày Thứ Sáu Tôn Vinh Thánh Giá, Kitô hữu mọi nơi thường hát: Vinh quang của ta là Thánh Giá Chúa Kitô, nơi Người ơn Cứu Độ của ta...” Lời hát này sẽ mãi là một ‘sáo ngữ’ ngày nào bạn và tôi chưa chịu đóng đinh với Chúa trên thập giá để cảm nếm được cái hạnh phúc tuyệt đỉnh của một người nghèo, hiền lành, đói khát, sầu khổ, trong sạch, bình an, xót thương và bị bách hại. Và nếu hạnh phúc Thánh Giá của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh - của hôm nay - chưa trở thành thành hiện thực trong mỗi một chúng ta, thì e rằng hạnh phúc Sống Lại của ngày Chúa Nhật Phục Sinh - của mai sau - sẽ chỉ là một ảo tưởng

Trở về Muc Lục

ĐỂ vào NưỚc TrỜi,
phẢi có tình yêu và lòng dũng cẢm

Nguyễn Chính Kết

1. Thái độ hèn nhát của Philatô

Trong bài Thương Khó Chủ Nhật lễ Lá (x. Mt 27,11-54), Philatô hỏi Đức Giêsu: «Ông là vua dân Do Thái sao?» Là một vị quan và là một nhà chính trị của đế quốc, ông có bổn phận phải xác định lập trường chính trị của Đức Giêsu để tùy theo đó mà xét xử. Vì thế, xác nhận mình là vua trước mặt Philatô là một điều khá nguy hiểm, thậm chí đến tính mạng, vì xưng mình là vua là mặc nhiên chống lại hoàng đế Rôma. Thế mà Đức Giêsu vẫn xác định như thế (Mt 27,11b). Tuy nhiên Ngài cũng xác định thêm: «Nước tôi không thuộc về thế gian này» (Ga 18,36). Chính vì xác định này mà Philatô nhận thấy Ngài không phải là một người đối lập nguy hiểm cho đế quốc Rôma.

Phải nói rằng Philatô cũng có ít nhiều lương tâm khi dám lên tiếng bênh vực Đức Giêsu: «Thế ông ấy đã làm điều gì gian ác?» (Mt 27,23); «Ta không tìm thấy lý do nào để kết tội người này» (Ga 18,38); «Ta không thấy người này có tội gì!» (Lc 23,14). Và ông đã thật sự tìm cách tha Đức Giêsu bằng cách đưa một tên cướp nổi tiếng ra cùng với Ngài để dân chúng lựa chọn tha cho ai. Ông đoán chắc dân chúng sẽ chọn tha cho Đức Giêsu. Ông nghĩ Baraba là một tên cướp nổi tiếng, nên nếu phải lựa chọn để tha một trong hai, ắt họ phải chọn Đức Giêsu. Nhưng ông không ngờ họ lại chọn Baraba và quyết tâm muốn Đức Giêsu phải chết. Quả là Philatô có phần nào hèn nhát khi đành phải chiều theo ý dân chúng để Đức Giêsu bị giết. Nhưng phải nói rằng ông đã tìm đủ cách để tha Đức Giêsu. Điều ông hy vọng cuối cùng để dựa vào đó làm cơ sở tha cho Ngài là chính Đức Giêsu tự lên tiếng biện hộ cho mình. Ông khuyến khích Đức Giêsu làm điều ấy: «Ông không nghe bao nhiêu điều họ làm chứng chống lại ông đó sao?» Nhưng hy vọng của ông tắt ngấm khi thấy «Đức Giêsu không trả lời về một điều nào», sự im lặng này «khiến ông rất đỗi ngạc nhiên», và làm cho ông không còn lý do nào mạnh mẽ để tha cho Ngài.

Chúng ta có thói quen kết án Philatô là hèn nhát, và quả thật ông có phần nào như thế. Nhưng nếu tự xét mình, thì chính chúng ta, nhất là những người có quyền lên tiếng trước công chúng, hay có nghĩa vụ phải bảo vệ công lý, có thể chúng ta sẽ nhận ra mình còn hèn nhát hơn Philatô rất nhiều. Thật vậy, đôi khi ta biết chắc chắn một ai đó là vô tội, thậm chí là người bênh vực Giáo Hội, bảo vệ chân lý hay công lý, nhưng bị kết án oan ức. Thế mà chúng ta đành chấp nhận thái độ hoàn toàn câm lặng, ngay cả một câu như Philatô: «Tôi không thấy người này có tội gì!» (Lc 23,14), chúng ta cách không đủ can đảm nói lên được, cho dù có nói thì ta cũng chỉ bị phiền hà đôi chút chứ chẳng đến nỗi nào. Vì thế, mạnh miệng kết án Philatô là hèn nhát, chúng ta không thể không cảm thấy ngượng ngùng.

2. Thái độ dũng cảm của Đức Giêsu

Trái với Philatô, sợ bị mất chức, sợ bị phiền nhiễu mà đành để Đức Giêsu bị xử án bất công, Đức Giêsu sẵn sàng chịu đau khổ, chịu chết để cứu mọi người, để làm chứng cho chân lý và công lý. Ngài sẵn sàng bênh vực các em nhỏ khi các tông đồ muốn la rầy xua đuổi chúng (x. Lc 18,15-17), Ngài dám chữa lành những con bệnh đến với Ngài cả vào những ngày nghỉ lễ (sabát) bất chấp sẽ bị phiền hà rất nhiều bởi những kẻ đạo đức giả (x. Ga 5,1-18; 9,1-41; Lc 6,6-11; 13,10-17; 14,1-6). Tình yêu và sự dũng cảm của Ngài đã được thánh Phaolô tóm gọn trong bài đọc 2: «Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự» (Pl 2,6-8). Tình yêu to tát đối với con người khiến Ngài không sợ bị mất địa vị, mất hạnh phúc đang có, mà sẵn sàng chịu đau khổ, chịu hủy diệt. Vì thế, Ngài rất xứng đáng là Vua trong Nước Trời, vương quốc của chân lý, công lý và tình yêu. Tư cách Vua Nước Trời đòi hỏi một tình yêu cao cả và một sự dũng cảm to tát như vậy.

Cũng vậy, để là công dân của Nước Trời, chúng ta cũng phải noi gương tình yêu và sự dũng cảm của Ngài. Nếu không, chúng ta sẽ không xứng đáng là công dân của vương quốc ấy. Làm sao chúng ta có thể vào vương quốc của tình yêu khi ta không có tình yêu hay không đủ tình yêu để có thể dũng cảm hy sinh chút ít theo sự đòi hỏi của tình yêu? Trong vương quốc của tình yêu, sự có mặt của những người không có tình yêu hay có quá ít tình yêu sẽ làm ô nhiễm môi trường tinh khiết ấy, và biến nó trở lại thành trần gian điên loạn này!

3. Để có được tình yêu và sự dũng cảm theo gương Đức Giêsu

Để xứng đáng vào Nước Trời, điều tối cần là chúng ta không những phải có tình yêu mà còn phải thể hiện tình yêu bằng lòng dũng cảm nữa. Đức Giêsu nói: Để vào Nước Trời, «ai cũng phải dùng sức mạnh mà vào» (Lc 16,16). «Sức mạnh» ở đây chính là sự dũng cảm của tình yêu. Sự dũng cảm trong tình yêu chứng tỏ tình yêu ấy là tình yêu đích thực, không chỉ trên môi miệng. Muốn có tình yêu và lòng dũng cảm ấy, ta phải thật sự nhận Đức Giêsu làm vua của tâm hồn mình. Nhận Ngài làm vua của lòng mình có nghĩa là coi mệnh lệnh của Ngài lên trên hết tất cả, sẵn sàng thi hành thánh ý của Ngài với bất cứ giá nào. Khi quyết tâm như thế và thường xuyên lập lại quyết tâm ấy hằng giờ hằng phút, đến nỗi nó trở thành ý thức thường hằng trong tâm trí ta, tâm hồn ta sẽ tự động được biến đổi nên giống Ngài. Như thế, nhận Ngài làm vua của tâm hồn mình, chính là chấp nhận để «cái tôi» của mình chết đi, cùng với tất cả ý riêng của nó. Chỉ khi «cái tôi» ấy thật sự chết đi, nghĩa là trở nên «đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người» (Pl 3,10), thì nó mới được phục sinh hay biến đổi thành «cái tôi» mới, «đồng hình đồng dạng với Người trong tình yêu và sự dũng cảm của Người». Chính khi ta thật sự tôn Ngài làm vua của tâm hồn ta, ta sẽ thấy mình thật mạnh mẽ, và sức mạnh ấy phát xuất từ chính Ngài

Trở về Muc Lục

 

MỪNG KÍNH THÁNH GIUSE

THÁNH GIUSE

NGƯỜI CHA CỦA ĐỨC GIÊSU

Trần Duy Nhiên

Nếu bạn hỏi mười người xem, ngoài Đức Mẹ, vị thánh lớn nhất đối với họ là ai, thì có sáu đến bảy người sẽ nói rằng đó là thánh Giuse. Nhưng nếu đề nghị họ kể bạn nghe những điều thánh Giuse đã làm thì rất ít người có thể nói một cái gì mới lạ; họ sẽ bảo rằng thánh Giuse là cha nuôi của Chúa Giêsu hoặc kể vài chuyện truyền kỳ về ngài mà ta không biết đúng sai đến độ nào: ví dụ như câu chuyện chàng thanh niên Giuse được chọn làm hôn phu của cô Maria vì cây gậy của chàng trổ hoa...

Ta hãy trở lại Kinh Thánh để xem các tác giả viết gì về thánh Giuse. Thánh Mat-thêu giới thiệu như sau:

Bà Maria thân mẫu của Đức Giêsu đính hôn với ông Giuse, nhưng trước khi chung sống thì đã có thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, vốn là người công chính, không muốn tố cáo bà công khai, nên định bỏ bà kín đáo. Ông tính làm như vậy thì có sứ thần của Chúa đến báo mộng rằng: “Này Giuse, đừng sợ rước Maria về...” Thức giấc, ông Giuse vâng theo sứ thần Chúa dạy rước vợ mình về nhà. (Mt 1, 18-24)

Bạn thuộc đoạn văn trên nằm lòng đến độ tôi rất ngại ngùng khi phải chép lại. Mọi chuyện đã rõ: thánh Giuse có do dự đấy, nhưng thiên sứ đã đến sắp xếp mọi việc và đâu lại vào đấy đúng với ‘chương-trình-mầu-nhiệm-của-Thiên-Chúa’

Mọi chuyện có thực sự xảy ra dễ dàng như thế không?

Tôi không chắc đâu.

Hình ảnh thánh Giuse luôn luôn là một cụ già râu tóc uy nghi, một người cha nhân lành và không biết thế nào là đam mê tuổi trẻ. Xin bạn nhớ cho: Cô Maria lúc ấy là một thiếu nữ vào độ tuổi 15-17, thế thì chàng hôn phu không thể là một ông già! Chàng Giuse lúc bấy giờ là một chàng trai đầy sức sống ở lứa tuổi đôi mươi. Chàng và Maria yêu nhau thắm thiết. Cặp tình nhân đẹp tuyệt vời, nhất là ở nét đẹp tâm hồn. Giuse thật hạnh phúc và bình an: một người như Maria thì không thể có gì bất trắc xảy ra khiến cho cuộc sống gia đình tương lai họ bị đe dọa.

Thế mà đùng một cái người hôn thê thánh thiện của chàng lại mang thai! Giuse có giàu óc tưởng tượng đến đâu cũng không thể hình dung nổi một tiếng sét giữa trưa hè chói chang như thế!

Thế nhưng, sự việc đã hiển nhiên như vậy đó. Dù vậy, tự thâm sâu, tình yêu của Giuse vẫn trỗi vượt. Ông không hề quay lại bản thân để cảm thấy mình bị lừa dối, bị xúc phạm, mà chỉ hướng về người yêu để tiếp tục tin rằng người hôn thê mình trong sạch vẹn tuyền. Ông không hề tra hỏi dằn xéo Maria một lời, ông im lặng ôm lấy nỗi đau và âm thầm trả Maria về với bí mật của cô.

Bạn sẽ bảo rằng tình yêu này đã được tưởng thưởng, bởi vì sau đó sứ thần đã đến trình bày mọi sự. Bạn có đi quá xa thực tế chăng?

Kinh Thánh ghi rõ: Sứ thần đến báo mộng...” Bạn thử sống lại hoàn cảnh của Giuse lúc ấy xem. Bạn có một người hôn thê, bỗng nàng có mang, bạn nằm mộng thấy thiên thần bảo rằng hôn thê mình chưa bao giờ liên hệ với một thanh niên nào và bào thai trong lòng là do phép lạ Thiên Chúa. Khi thức giấc, bạn có tin không? Tôi thì dứt khoát không. Thế mà Giuse đã làm gì nào? Thức giấc, Giuse vâng theo sứ thần rước vợ mình về nhà.” Đơn giản chỉ có thế. Đơn giản đến độ vô lý.

Vâng, thế đấy! Giuse vâng phục thánh ý Chúa một cách chóng vánh, quyết liệt và dứt khoát đến độ vô lý. Ông chỉ cần một dấu hiệu cỏn con là đọc được thánh ý Chúa và thực thi ngay lập tức: đó là lý do mà ông được gọi là người công chính’.

Còn bạn và tôi thì sao? Chúng ta có tự coi mình là công chính chăng? Chúng ta có sẵn sàng đón nhận thánh ý Chúa qua một dấu hiệu thật nhỏ và tuân theo mà không bàn cãi chăng? Hay chúng ta chờ đợi những phép lạ nhãn tiền và sau đó lý luận, mặc cả trước khi hành động?

‘Người công chính’ Giuse suốt đời là một người luôn thức tỉnh trước thánh ý Chúa, thức tỉnh ngay cả trong giấc ngủ. Bằng chứng? Bằng chứng là mỗi lần Chúa tỏ ý là mỗi lần ông nằm mộng.

Ngoài lần nằm mộng ở Nazaret thì ít nhất còn ba lần khác:

- Ở Bêlem: Sứ thần đến với ông Giuse báo mộng rằng: Hãy chỗi dậy, đem Hài nhi trốn sang Ai-cập... (Mt 2,3)

- Ở Ai-cập: Sứ thần hiện ra báo mộng cho ông Giuse ở bên Ai-cập bảo rằng: Hãy chỗi dậy, đem Hài nhi về Israel... (Mt 2,19)

- Ở Giuđê: Khi biết Akêlao thay Hêrôđê thì ông sợ, thế là theo như lời Thiên Chúa báo mộng ông lánh sang vùng Galilê (Mt 2,23)

Sở dĩ Giuse xác tín rằng các giấc mộng của mình đúng là thánh ý Chúa, ấy là vì cứ mỗi lần nằm mộng là mỗi lần ông phải quyết định ngược lại với mọi toan tính của mình.

Khi ông dự định âm thầm rời bỏ Maria thì Thiên Chúa bảo ông ở lại với hôn thê mình.

Ngược lại, khi ba vị đạo sĩ đến xác nhận vương quyền của Hài nhi và hẳn là người cha nuôi nghĩ rằng mình sẽ có thể thoải mái ở lại Bêlem cho đến khi con mạnh mẹ khỏe, thì chính lúc đó Chúa lại bảo ông trỗi dậy đi ngay, giữa đêm khuya, không hành trang, không tiền bạc; không phải về quê nhà mà sang Ai-cập để sống kiếp lưu đày. Ông nghĩ gì khi trước mặt là đường dài vạn dặm mà vợ yếu con sơ? Ông nghĩ gì khi ngày mai, ở xứ lạ quê người, tương lai ông cũng tối đen như trời khuya hôm ấy? Thánh Kinh nói rất gọn: “Giuse trỗi dậy, đem Hài nhi và Mẹ trốn sang Ai-cập ngay giữa đêm khuya (Mt 2,13). Lại thật đơn giản. Đơn giản đến độ vô lý.

Sau những ngày đầu khó khăn ở Ai-cập, giờ đây Giuse hẳn đã sắp xếp ổn định cuộc sống gia đình. Thế nhưng, một lần nữa, Chúa lại bảo ông phải bỏ tất cả mà ra đi. Ông nghĩ gì khi nhìn lại cơ ngơi mà ông đã xây dựng từ hai bàn tay trắng? Ông nghĩ gì khi nhìn về cái quê hương đã muốn giết hại con mình, rồi giờ này ông lại phải trở về mà không biết sẽ cư ngụ nơi đâu? Nhưng Giuse vẫn là Giuse. Giuse trỗi dậy đem Hài nhi và Mẹ về đất Israel(Mt 2,21). Cũng lại đơn giản đến độ vô lý.

Tất cả những truân chuyên mà Giuse gánh chịu rốt cuộc để làm gì? Phải chăng vì lợi ích bản thân? Tuyệt nhiên là không. Tất cả là để bảo vệ Hài nhi, mà có lần trong mộng ai đó đã bảo rằng Hài nhi ấy sẽ là vị cứu tinh dân tộc. Giuse không bao giờ đặt lại vấn đề. Không bao giờ ông cho rằng con trẻ gây cho ông quá nhiều rắc rối, ông chỉ một mực canh giữ con trẻ, người con do Thánh Thần, trong mọi toan tính hằng ngày.

Bạn và tôi có sẵn sàng trả giá để cho Chúa Giêsu luôn mãi sống trong mình chăng? Hay nhiều khi quá mệt mỏi, ta chỉ muốn yên thân lo toan chuyện của mình và bỏ mặc dung mạo Chúa Giêsu ra thế nào thì ra?

Giuse đã trả mọi giá để giữ gìn Giêsu, nhưng đôi khi sức người cũng có hạn. Trong chuyến đi Giêrusalem, năm con trẻ 12 tuổi, ông đã để Giêsu vuột khỏi tầm tay. Ba ngày ròng ông kiếm tìm, ba ngày ròng ông bà ‘đau khổ tìm con’. Và khi tìm thấy thì ông được gì? Một gáo nước lạnh tạt vào mặt:Sao lại phải tìm con? Các người không biết là con phải ở trong nhà của Cha con sao?” (Lc 2,49)

Cậu bé ấy khi ra đời chỉ là một hài nhi nằm gọn trong máng cỏ. Mười hai năm trời chịu kham chịu khổ để cho cậu khôn lớn thế này. Mười hai năm trời yêu thương để thêm da thêm thịt cho cậu thành một thiếu niên nặng cân như thế. Mà tình thương thì có nặng gì cho cam, phải tốn bao nhiêu tình thương cậu mới được như ngày hôm nay! Vậy mà một tiếng “Cha” Giuse cũng không được nghe. Ông không hiểu gì cả, nhưng ông vẫn đón nhận lặng thinh.

Và đấy cũng là chiều kích bất ngờ của thánh Giuse. Trong suốt bốn cuốn Tin Mừng, không thấy ghi lại một câu nói nào của thánh Giuse. Đức Maria được xem là mẫu mực của sự thinh lặng nguyện cầu, Người luôn ghi nhận và suy niệm trong lòng, thế nhưng cũng có 6 lần Người lên tiếng.   (2 lần ngày truyền tin, 1 lần trước Ysave, 1 lần khi tìm lại trẻ Giêsu, 2 lần trong tiệc cưới Cana). Còn thánh Giuse thì tuyệt đối không hề nói một lời. Ngay cả lần tìm lại con ở đền thờ, thì cũng chính người mẹ lên tiếng: Sao con lại làm như thế, cha con và mẹ đã đau khổ tìm con” (Lc 2,48)

Trong xã hội Do Thái lúc bấy giờ, phụ nữ là hạng người không đáng kể. Phúc âm thánh Mat-thêu ghi lại hai lần Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, lần đầu để nuôi 5000 người, không kể đàn bà và trẻ con, lần thứ hai 4000 người, không kể đàn bà và trẻ con (x. Mt 14,21; 15,38). Giuse biết mình là chủ gia đình, nhưng người lên tiếng vẫn là Maria.

Giuse sống cuộc sống càng ngày càng mờ để cho Đức Giêsu càng ngày càng sáng. Ông sống mờ nhạt đến độ những người trong thị trấn Nazaret không buồn nhớ đến tên ông, mà chỉ gọi là ‘ông thợ mộc’.

Theo thánh Mat-thêu và Mac-cô, khi Đức Giêsu trở về Nazaret sau những ngày rao giảng, người đồng hương bàn tán: “Ông ấy không phải là con ông thợ mộc và bà Maria sao?” (Mt 13,55; Mc 6,3). Sau này, khi viết lại Phúc âm, thánh Luca hẳn đã thấy cái chua chát đó nên đã sửa lại: Ông ấy không phải là con ông Giuse sao?” (Lc 4, 23).

Dù sao đi nữa, sự âm thầm của Giuse quả là một đặc trưng của thánh nhân. Âm thầm đến độ mà khi Đức Giêsu bắt đầu lên tiếng trong đời sống công khai, thì Giuse không còn được nhắc đến mảy may; thậm chí thánh nhân chết lúc nào, thế nào, ở đâu thì cũng chẳng ai nói đến. Trong cuộc đời công khai của Chúa thì thánh Giuse, người cha của Đức Giêsu, có vẻ như bị xem nhẹ hơn cả bà gia của Phêrô hay đứa con gái của Zairô.

Nhưng chính điều đó đã biến thánh Giuse thành một vị đại thánh, bởi vì ngài đã đem cuộc đời mình biến thành một Lời Chúa sống động.

Gioan Tẩy giả đã khiêm tốn rao giảng:Chúa phải lớn lên và tôi phải nhỏ lại”. Thánh Giuse đã sống điều đó mà không nói một lời.

Tiếng xin vâng’ của Đức Mẹ ở Nazaret và tiếng xin vângcủa Chúa Giêsu ở Getsêmani đã được hoà âm trong trọn cuộc đời thánh Giuse.

Và thánh Giuse sẽ mãi mãi là tấm gương cho bạn và tôi.

Tấm gương của một con người luôn luôn thao thức lắng nghe tiếng Chúa, và khi nghe được thì đáp lại không chần chừ dù cho phải trả giá.

Tấm gương của một con người luôn luôn làm đủ mọi cách để gìn giữ Chúa với mình, và nếu chẳng may lạc nhau thì đi tìm Chúa không ngơi nghỉ cho đến khi gặp lại.

Tấm gương của một ‘người công chính’, chỉ làm có mỗi một điều là trình bày Chúa Giêsu cho mọi người, rồi âm thầm xóa mình đi khi Chúa bắt đầu lên tiếng với các linh hồn

Trở về Muc Lục

 

CHIẾC CẦU THANG KỲ LẠ

Phạm Hoàng Nghị - viết theo Arthur Gordon

Một ngày đầu tháng chạp năm 1878. Mặt trời mùa đông chiếu lấp lánh trên mái ngói đỏ tươi của ngôi nhà nguyện Đức Mẹ Ánh Sáng và trên cửa sổ trường học của các nữ tu Loretto. Bên trong tu viện, Mẹ Bề Trên đang bận sắp xếp đồ đạc để đi xa thì nghe tiếng gõ cửa. Mẹ nói "Cứ vào đi" nhưng có vẻ hơi bực bội vì phải ngưng công việc lại.
            Sơ Frances Louise xin lỗi và bước vào:
            - Thưa Mẹ, lại một người thợ mộc khác mới đến. Con bảo ông ấy là Mẹ sắp đi bây giờ, không có thì giờ nói chuyện với ông, nhưng ông ấy nói...
            - Tôi biết ông ấy nói gì rồi, - Mẹ Magdalene trả lời - Chắc ổng nói ổng là thợ khéo nhất vùng New Mexico, ổng biết cái khó khăn của ngôi nhà nguyện mới cất của chúng ta, ổng chắc chắn là có thể làm được cái cầu thang lên gác đàn, mặc dầu cái ông kiến trúc sư giỏi giang ở mãi tận Paris đã vẽ họa đồ xây cất nhà nguyện mà lại đãng trí quên không để chỗ làm cầu thang, và có tới năm ông thợ cả đã đến thử mà làm không được. Sơ nói đúng đấy, tôi không có thời giờ nghe lại câu chuyện đó nữa đâu.
            - Nhưng coi ổng thật tử tế, ổng đang ở ngoài kia cạnh con lừa... Sơ Frances Louise nói tiếp.
            - Tôi biết chắc ổng là người tử tế rồi, và cả con lừa cũng dễ thương nữa. Nhưng bệnh đang hoành hành ở Santo Domingo, có thể là bệnh tả. Sơ Mary Helen và tôi phải đi bây giờ vì chỉ hai chúng tôi đã bị bệnh đó rồi nên được miễn nhiễm. Trong lúc chúng tôi đi xa, sơ ở nhà phải coi sóc trường học. Chỉ vậy thôi. Sơ nói với ổng trở lại trong khoảng hai hay ba tuần nữa.

Nói xong Mẹ cất tiếng gọi:
            - Manuela!
Một cô bé da đỏ khoảng 12 tuổi, tóc đen láy, rón rén bước vào không gây một tiếng động. Cô bé bị câm nhưng có thể nghe và hiểu. Các dì phước đã cố dậy nhưng cô không nói được. Mẹ bề trên nói thật dịu dàng:

     - Manuela, con mang đồ đạc của mẹ ra xe đi. Xe ở ngoài kia kìa.
            Rồi bà quay sang sơ Frances Louise:

     - Sơ ra nói với ông thợ mộc là tôi sẽ gặp ổng hai hoặc ba tuần nữa.

     - Hai hay ba tuần. Vậy là chắc mẹ sẽ về vào dịp Giáng sinh?
            - Còn tùy theo ý Chúa. Nhưng tôi cứ hy vọng như vậy.
            Từ chỗ cỗ xe đang đậu, Mẹ bề trên nhìn thấy ông thợ mộc đứng kia. Đó là một người khỏe mạnh cao lớn hơn những người Mễ quanh vùng, ông để râu, đôi mắt đen trên khuôn mặt dạn dầy sương gió. Cạnh ông đứng thật nhẫn nại một con lừa nhỏ da màu xám tro lưng đeo đồ nghề thợ mộc và những khúc gỗ. Cô bé Manuela đang đứng vuốt ve cái mũi con lừa và nhìn người thợ mộc mỉm cười e lệ.
            - Sơ nên giải thích cho ông thợ biết là con bé nghe được nhưng không nói được.

     Sau những lời từ biệt vội vã, chiếc xe ngựa đi theo hướng tây nam trên con đường đầy bụi về phía những rặng núi. Bên trái là dòng sông Rio Grande như một giải lụa xanh. Chiếc xe chạy chậm chậm. Trong xe, Mẹ bề trên và sơ Mary Helen hát thánh ca và kể chuyện Giáng Sinh, người tài xế dạn dày sương nắng chăm chú nghe, thỉnh thoảng gật gù cái đầu ra vẻ thích thú.

Hai ngày sau họ tới San Domingo mới thấy không có bệnh dịch tả nhưng là bệnh sởi, nhưng cũng đã gây chết chóc cho bao nhiêu em bé da đỏ. Họ làm việc luôn tay để phụ giúp với cha Sebastian lúc đó đã mệt nhoài. Họ đến thăm các em bé bị sốt đang cố chống chọi với căn bệnh chết người trong các ngôi nhà tối tăm vách làm bằng đất nện.

Trở lại Santa Fe nơi tu viện mà sơ Frances Louise có nhiệm vụ phải báo cho ông thợ mộc những lời Mẹ bề trên đã dạy là hai hay ba tuần nữa hãy trở lại. Ông quay lại nhìn khi Sơ bước tới. Sơ cảm thấy thật nhỏ bé như một đứa trẻ dưới cái nhìn chăm chú của ông.

     - Thưa ông, Mẹ bề trên phải đi Santo Domingo Pueblo vì đang có bệnh ở đó, hai ba tuần nữa Mẹ mới về, lúc đó ông hãy tới.
            - Vậy thì tôi không trở lại được đâu, nhưng tôi đã coi nhà nguyện rồi và chắc sẽ làm được cái cầu thang lên gác đàn. Thang sẽ có hai vòng trôn ốc và 33 bậc.
            Sơ Frances Louise cãi lại:
            - Nhưng đã có tới năm ông thợ chính không làm được. Họ bảo không có chỗ để làm trụ cho cầu thang dựa vào, vậy tại sao ông lại chắc là ông làm được?
            Một lần nữa đôi mắt ông nhìn Sơ chăm chú, nhưng rồi ông mỉm cười và nói:
            - Thang tôi làm không cần trụ dựa, và tôi làm được. Cứ tin tôi đi.
            Thật là chuyện trớ trêu đây. Sơ không có quyền cho người lạ mặt này làm cầu thang, nhưng thâm tâm lại tin chắc ông làm được. Sơ tin ổng. Mẹ bề trên chắc phải vui lắm nếu dùng được gác đàn hôm khánh thành nhà nguyện vào mùa xuân tới. Vậy Sơ nên làm gì bây giờ?
            - Tôi không làm rộn ai cả. Ngay cả Sơ cũng không biết có tôi ở đây đâu. Nhà nguyện thật đẹp, chỉ thiếu cái thang lên gác đàn, mà tôi thì làm được.

Sơ nghĩ bụng: Hai ba tuần nữa thì ông ấy không trở lại. Vậy đây là cơ hội duy nhất để hoàn thành ngôi nhà nguyện theo đề án của một kiến trúc sư người Pháp nổi tiếng. Cứ tưởng tượng sau bao ngày bực bội mà nay lại dùng được cái gác đàn thật đẹp....

     - Tôi không có quyền cho ông làm cầu thang đâu, nhưng bây giờ tôi bảo ông cứ làm đi.
            Người thợ mộc mỉm cười nói:
            - Sơ sẽ không phải ân hận đâu. Tôi bắt đầu ngay bây giờ đây.

Ông quay lại Manuela, đặt bàn tay lên đầu cô bé. Sơ vội nói là cô bé bị câm nhưng nghe và hiểu được. Ông trả lời:

- Vâng, tôi đã biết về Manuela rồi. Tôi phải đi làm đây. Nói xong ông hạ đồ nghề xuống khỏi lưng lừa.

     Sơ Frances Louise bước những bước run rẩy trở lại tu viện, dường như không tin được những gì nàng mới làm. Mẹ bề trên sẽ nói gì với Sơ khi trở về? Quả thật người thợ mộc là người xa lạ nhưng nàng tin tưởng hoàn toàn nơi ông. Thâm tâm nàng tin rằng ông ấy nói được là làm được. Sơ quyết định không lo nghĩ gì nữa, phó mặc mọi sự nơi tay ông vì nàng nghĩ ông làm được. Công việc của Sơ bây giờ là lo điều hành trường học thôi. Nhưng Sơ thấy Manuela đang phụ giúp người thợ mộc đem đồ nghề vào nhà nguyện. Ông có vẻ quý mến con bé, và biết con bé bị câm ngay cả trước khi nàng nói cho ông hay. Ông quả thật là một người kỳ lạ.

Công việc ở trường và các việc khác chiếm hết thì giờ, làm nàng không có lúc nào rảnh rỗi. Sơ biết ông thợ mộc đang làm trong nhà nguyện vì mỗi khi đi ngang qua đó nàng nghe tiếng đục đẽo. Sơ cũng biết lúc nào không thấy Manuela là chắc cô bé đang ở trong nhà nguyện coi ông thợ làm việc. Con bé có vẻ quyến luyến người thợ lạ mặt này. Nhiều ngày trôi qua sơ mới có dịp thăm ngôi nhà nguyện và thấy công việc đã tiến hành.

Chiếc cầu thang bắc từ nền nhà đã lên tới gác đàn! Mặc dầu không biết gì về nghề mộc, nhưng Sơ cũng thấy không có trụ để thang bám vào. Cũng không có cả tay vịn, nhưng các bậc thang xoáy tròn vỏ ốc từ mặt đất lên tới gác đàn. Ông thợ mộc đã làm đúng như lời hứa. Sơ bước lên một vài bậc thang xem có chịu nổi sức nặng hay không. Các bậc thang quả thật rất chắc chắn. Thế sao ông ấy làm được trong khi bao nhiêu ông thợ giỏi đều chịu thua? Sơ không biết, nhưng ông ấy hình như có những hiểu biết và khả năng mà những người thợ mộc khác không có.

Sơ biết mình phải báo cho Mẹ bề trên biết rằng người thợ mộc đang làm ở nhà nguyện nhưng phải đợi đến lúc Mẹ về mới có thể giải thích mọi sự việc. Sơ bắt buộc phải viết một lá thư cho Mẹ. Sơ cảm thấy có lỗi vì đã tự tiện cho phép người thợ mộc làm cầu thang, nhưng cả ngày bận rộn công việc, tối đến thì mệt mỏi lăn ra ngủ khi đầu vừa chạm gối.

Sơ biết người thợ cần thêm gỗ nhưng không hỏi ông lấy gỗ ở đâu. Sơ viết một lá thư khác cho Mẹ bề trên, nói rằng công việc đang tiến triển khả quan. Sơ hy vọng Mẹ sẽ mau về vì cảm thấy cái lỗi của mình quá nặng không sao kham nổi, sơ sẽ thú lỗi với mẹ vì việc đã làm.

Thế rồi một ngày Manuela tới và dẫn Sơ ra nhà nguyện. Có điều gì không ổn chăng? Sơ do dự không muốn vô, nhưng Manuela lấy tay đẩy nàng đi vào cửa. Nhà nguyện trống vắng, nhưng khi ngước mắt nhìn chiếc cầu thang thì nàng dụi mắt như không tin ở đôi mắt mình: sừng sững trước mặt là một chiếc cầu thang xoáy trôn ốc từ nền nhà lên tới gác đàn đã hoàn tất! Nó rất đẹp khiến nàng tưởng tượng như có các thiên thần đi lên đi xuống cất cao giọng hát mà âm thanh đang văng vẳng đâu đây...

Ngày mai là giáp lễ Giáng sinh và như vậy năm nay các học sinh trong trường có thể từ cầu thang này đi lên gác đàn hát những bản thánh ca. Giọng của chúng sẽ trầm bổng như giọng các thiên thần ca hát từ trên cao. Và ôi, nếu Mẹ bề trên có mặt để mà nghe chúng ca hát . Dòng nước mắt vì quá vui chảy trên đôi má Sơ, nàng kéo Manuela đi ra khỏi nhà nguyện.
Nhưng người thợ mộc đâu rồi? Sơ phải tìm ông ấy. Sơ không biết tên ông, và cũng không có thỏa thuận phải trả ông bao nhiêu để làm công việc này. Tiền thì đã có quỹ trường học đài thọ. Nhưng phải tìm ra ông ấy đã.

 - Manuela, con có thấy ông thợ mộc đâu không?

Con bé gật đầu, đưa tay ra dấu là ông ấy đi rồi.

- Ông có mang theo đồ nghề và dẫn con lừa theo không?

Con bé gật đầu.

- Ông ấy mới đi chiều nay à?

Một lần nữa, cô bé lại gật đầu. Bỗng dưng, sơ Frances Louise biết là sẽ không bao giờ gặp ông ấy nữa. Ông ấy đến làm xong một việc mà không ai làm được và rồi đi mất.

Tại San Domingo. Đêm xuống, cả Mẹ bề trên và dì phước Mary Helen đều mệt nhoài, nhưng đôi lúc Mẹ cũng nói chuyện với cha Sebastian về lễ khánh thành ngôi nhà nguyện mới xây dự tính vào khoảng tháng tư và Đức Tổng Giám Mục sẽ tới. Lẽ ra lễ thánh hiến sẽ sớm hơn nếu không có chuyện cái gác đàn không ai lên được trừ phi phải bắc thang mà trèo! Mẹ nói:
            - Tôi đã nói với Đức Giám Mục Lamy rằng đề án mà vẽ mãi tận Paris là cả một lỗi lầm. Nếu có gì trục trặc thì chúng tôi biết làm sao? Nhưng ngài nói rằng nhà nguyện của chúng tôi ở Santa Fe là rập khuôn theo ngôi nhà nguyện Sainte Chapelle tại Paris, nên tôi là ai mà dám cãi lại ngài? Vậy là cái ông Mouly tài ba vẽ ra cái gác đàn quá cao ngay bên trên cái cửa sổ màu hồng làm chẳng ai trèo lên được.

Cha Sebastian thở dài nói:

     - Có lẽ ông ấy nghĩ là để dành cho ca đoàn thiên quốc hát đấy. Loại ca viên có cánh ấy mà.
            Mẹ bề trên đáp:

     - Thật chẳng thú vị vậy đâu. Tôi đã cầu nguyện rồi cầu nguyện, nhưng không thấy có giải pháp nào cả. Đơn giản là vì không có chỗ trên nền nhà nguyện để làm nơi tựa cho một loại cầu thang như thế.

Ngày qua ngày, lễ Giáng sinh đã gần kề. Hai lần, người cỡi ngựa từ Santa Fe đến Alberquerque mang thư của Sơ Frances Louise tới. Mọi chuyện ở tu viện đều đâu vào đấy cả, nhưng Mẹ bề trên có thắc mắc về mấy đoạn trong thư: "Các em nhỏ đã sửa soạn mừng Giáng sinh. Cô bé Manuela và người thợ mộc rất thân thiện với nhau. Thật kỳ lạ là ông ấy hình như biết rất nhiều về chúng ta."

Mẹ tự hỏi: Ông thợ mộc làm gì ở đấy nhỉ?

Bức thư thứ hai đến cũng có đề cập đến người thợ mộc: "Mỗi sáng ông lại mang gỗ đến, rồi mỗi đêm ông ấy lại đi. Khi chúng con hỏi để trả tiền cây và công thợ, ông ấy chỉ mỉm cười không nói."

Không biết Sơ ấy nói chuyện gì đây. Hay là lại nhẹ dạ mà cho cái ông ấy làm ở nhà nguyện? Mẹ quyết định phải trở về xem sự thể ra sao. Lúc đó, bệnh tình ở San Domingo đã ổn định, và tuyết có thể rơi làm cản lối về trước ngày lễ Giáng sinh. Vậy là họ sửa soạn cho chuyến trở về.
            Tuyết rơi xuống thật, làm chuyến về rất chậm. Khuya ngày giáp lễ Giáng sinh, mãi gần nửa đêm những con ngựa mệt mỏi mới ngừng lại trước cửa tu viện. Đèn vẫn còn thắp sáng. Manuela chạy vù xuống các bậc thềm, theo sau là dì phước Frances Louise. Mặc dầu thấm lạnh và mỏi mệt,  Mẹ bề trên cảm thấy có nỗi nao nức gì quanh đây mà bà không hiểu nổi.

Và bà cũng không hiểu nổi khi họ dẫn bà, vẫn còn đang mặc áo choàng ấm quấn quanh người, xuống dãy hành lang đi tới ngôi nhà nguyện còn mới tinh khôi. Mấy ngọn đèn cầy leo lét cháy. Sơ Frances Louise thì thầm vào tai mẹ:

- Thưa mẹ, coi kìa. Nhìn coi kìa!

Trông giống như một cuộn khói, chiếc cầu thang đứng sững trước mặt họ như trong một giấc mơ. Đế thang nằm trên nền nhà nguyện, còn đỉnh thì sát vào gác đàn. Nó không tựa vào đâu, mà cứ như trôi trong không gian. Không có cả tay vịn. Thang có hai vòng tròn trôn ốc, màu gỗ sơn bóng loáng chập chờn dưới ánh bạch lạp. Dì phước Frances Louise thì thầm:

- Ba mươi ba bậc, mỗi bậc là một năm trong đời Chúa.

Mẹ bề trên bước tới như người đi trong mơ. Bà đặt một chân trên bậc thứ nhất, rồi bậc thứ hai và bậc thứ ba. Không cả một tiếng rung rinh. Bà nhìn xuống cô bé Manuela đang ngước mặt lên.

- Không thể được! Thời giờ đâu mà làm xong được!

Sơ Frances Louise nói:

- Ông ấy mới làm xong ngày hôm qua. Hôm nay ông không đến. Không ai thấy ông ở Santa Fe cả. Chắc là đi rồi.

- Nhưng ông ấy là ai mới được chứ? Sơ cũng không biết tên ông ấy à?

Dì phước lắc đầu, nhưng Manuela bước tới, gục gặc cái đầu ra vẻ quả quyết. Miệng cô bé há ra, nó hít một hơi thở mạnh và phát ra một thanh âm giống như tiếng hổn hển. Hai dì phước nhìn bé chăm chăm. Cô bé cố một lần nữa, và lần này miệng nó phát ra một vần, rồi một vần nữa:

- Jo--se

Cô bé níu lấy tay Mẹ bề trên và lặp lại cái tiếng đầu tiên mà bé nói được: "Jose"

Dì phước Frances Louise làm dấu thánh giá, còn mẹ bề trên thấy lòng mình thắt lại. Jose là tiếng Tây ban nha, có nghĩa là Giuse. Giuse Người Thợ Mộc. Giuse, Người Thợ Cả..

- Jose! Mắt Manuela ứa lệ. Jose!

Tất cả đều im lặng trong ngôi nhà nguyện dưới bóng đèn leo lét. Không ai cử động gì. Mẹ Magdelene nghe tiếng chuông nửa đêm vọng lại qua thành phố đầy tuyết trắng bao phủ. Bà đi xuống khỏi cầu thang, nắm tay cô bé. Bà thấy như được nâng bổng lên cao bằng nỗi bàng hoàng kỳ diệu, lòng tri ân và tình thương mến. Bà biết đó là gì rồi, đó là tinh thần của ngày lễ Giáng sinh đang tỏa ngập quanh ba người

Ghi Chú:

1/ Đây là một truyện truyền kỳ, và giống như bao nhiêu truyện truyền kỳ khác, đều được kể đi kể lại mỗi lần lại thêm một ít chi tiết. Nhưng chiếc cầu thang này có thật, và vẫn còn ở Santa Fe, thủ phủ tiểu bang New Mexico. Sơ Mary Magdelene là Mẹ Bề Trên đầu tiên của Nhà Nguyện Đức Mẹ Ánh Sáng (Our Lady of Light) và ngôi trường học do các dì phước dòng Loretto điều hành. Bà đến Santa Fe năm 1852 bằng tầu thủy và xe ngựa. Lúc đó Giám Mục Santa Fe là J.B. Lamy. Kiến trúc sư vẽ kiểu nhà nguyện là ông Projectus Mouly ở Paris. Hồ sơ trường học không thấy có ghi khoản tiền trả cho chi phí làm chiếc cầu thang, cũng không thấy ghi ai là người đã làm cầu thang đó nơi khoảng trống nhỏ bé tưởng không thể làm cầu thang được, khiến cho du khách đến thăm ai cũng lắc đầu và các kiến trúc sư ai cũng chăm chú nhìn và nói: "Không thể được!"

2/ Khi ngôi nhà nguyện sắp hoàn thành, thợ mộc mới thấy cái gác đàn cao quá, sát ngay trần nhà, và nếu làm chiếc cầu thang đi lên thì chiếm mất quá nhiều chỗ trên nền nhà nguyện. Trong cơn bối rối các dì phước hướng tới thánh Giuse, quan thày những người thợ mộc, và làm một tuần cửu nhật cầu xin Người. Đến ngày thứ chín, một người lạ mặt xuất hiện xin làm thử cầu thang. Mất từ 6 đến 8 tháng và chỉ dùng có một cái cưa, một cái búa, một thước thợ hình chữ T, một cái thùng để ngâm gỗ, người thợ hoàn thành kiệt tác thật lạ lùng này. Ông thợ đi mất trước khi mẹ bề trên Magdelene trả tiền công cho ông.

Cầu thang cao 22 feet (khoảng 7 mét). Các bậc thang không có điểm tựa ở trung tâm, kết thành hai vòng tròn 360 độ, tổng cộng là 33 bậc. Các đường vòng cung được ráp nối hết sức tinh vi, gỗ được nối ghép bẩy chỗ ở phía trong, chín chỗ ở phía ngoài, không dùng một chiếc đinh sắt nào mà toàn dùng những miếng chốt bằng cây. Gỗ làm cầu thang lấy từ cây thông loại cứng không thấy có tại New Mexico. Tay vịn cầu thang sau này mới được thêm vào để thêm an toàn cho người xử dụng.

3/ Nhà nguyện hiện nay đổi tên là Nhà Nguyện Loretto (Loretto Chapel), được coi là kiến trúc Gothic đầu tiên tại miền tây Mississipi. Một công ty tư nhân điều hành nhà nguyện cho khách hành hương và du khách. Nhiều đám cưới được tổ chức tại đây, cô dâu chú rể thích chụp ảnh đứng trên giữa cầu thang nhìn xuống.

Địa chỉ nhà nguyện: 207 Old Santa Fe Trail, Santa Fe, NM 87501. Số điện thoại: 505-982-0092

Trở về Muc Lục

 

CHÚC MỪNG TÂN TỔNG GIÁM MỤC GIUSE NGÔ QUANG KIỆT 

NHỮNG VỊ MỤC TỬ KHÔNG NHÀ

Nguyễn Khánh Linh

Kính tặng Tân Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt - Giáo Phận Hà Nội

Nhân dịp lễ Quan Thầy và nhậm chức 19 tháng 3 năm 2005.

Đọc Tin Mừng và nhìn lại hai ngàn năm truớc, các Tông Đồ nghe tiếng gọi của Đức Giêsu, đã từ bỏ mọi sự lên đường rong ruổi và đi theo tiếng kêu mời của Đấng "Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” (Mt 8: 20). Theo dòng thời gian biến đổi, Giáo Hội phải thích ứng với cuộc sống, con người và thời thế, các vị mục tử, là những người kế vị các thánh Tông Đồ, lại được thừa hưởng gia sản phong phú, với những cơ sở vật chất lớn lao, phương tiện dồi dào. Thế nhưng vẫn còn đây đó, một vài ‘homeless bishops’ ‘những giám mục không nhà’. Ngoài những gương mặt lừng danh thế giới như TGM Dom Helder Camara tại Brazil, TGM Oscar Romero tại El Salvador hay GM Jacques Gaillot tại Pháp, còn rất nhiều vị khác âm thầm hơn như Đức Giám Mục Kenneth Edward Untener tại Hoa Kỳ và Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt tại Việt Nam

 

Đức Giám Mục Kenneth Edward Untener

Tháng 11 năm 1980, khi được thụ phong để nhận trách vụ cai quản giáo phận Saginaw, thuộc tiểu bang Michigan, vị giám mục 43 tuổi này đã ngỏ lời với đàn chiên mình: Tôi tên là Ken, tôi sẽ là người hầu bàn (waiter) cho anh chị em một thời gian dài. Và suốt 23 năm sau đó, ‘người hầu bàn’ đã biến thành hiện thực điều mà Đức Cha John R. Quinn, vị tổng giám mục lừng danh một thời của giáo phận San Francisco, trích dẫn thánh Cy-pri-a-nô, để nói về ngài, trong thánh lễ an táng ngày 1-4-2004: Chúng tôi không nói lời lẽ to tát, chúng tôi sống những lời ấy.”

Quả thật như vậy, vừa khi đến nhậm chức tại Saginaw, ngài bán đi lâu đài dành cho các giám mục, để sống cuộc đời rày đây mai đó từ giáo xứ này đến giáo xứ kia. Và ở tuổi 66, khi ngài trở về nhà Cha sau một đời rong ruổi, thì ngài đã từng di chuyển chỗ ở đến 69 lần, trên khắp 11 hạt của giáo phận mình.

Trên hành trình đăng đẳng đó, với trách vụ giám mục trên vai, ngài không bao giờ quên ơn trọng đại mà ngài đã lãnh nhận khi được thụ phong linh mục năm 1963. Suốt đời, ngài sẽ là một linh mục say mê với công việc của mình, và đặt hết tâm trí vào đó như một nghệ sĩ, mà không phải lo lắng đến việc gì nữa. 

Ngài từng viết: “Cách đây không lâu, tôi xem một chương trình truyền hình về một anh chàng sản xuất vĩ cầm (violon) và hồ cầm (violoncelle) tại một thành phố nhỏ ở Nebraska... Việc làm của anh ta cuốn hút tôi, vì một cách nào đó, đấy cũng là cách tôi hành động...”

Nghệ nhân ấy có tay nghề rất cao, dù tuổi đời còn trẻ. Anh ta chỉ thích làm đàn, và không lo nghĩ gì hơn là chỉ muốn làm những cây đàn có âm thanh thật hay. Khắp nơi trên thế giới người ta đến mua đàn của anh, nhưng anh cũng không bị áp lực phải mở thêm cửa hàng, bành trướng, thêm chi nhánh, kiếm thêm tiền. Anh ta chỉ làm điều anh thích, tức là giúp người nhạc sĩ có những cây đàn với âm thanh tuyệt vời. Đạt được như thế tức là anh ta đang làm đẹp cuộc đời, làm đẹp con người, làm đẹp thế giới mà Thiên Chúa đã tạo dựng. Và khi làm như thế, anh đã làm đẹp Đấng Sáng Tạo ra mọi loài, mọi sự tốt đẹp.

Công việc một linh mục coi xứ cũng như thế, ngài giải thích. Cha chỉ làm việc mình cần làm: soạn bài giảng, viết suy gẫm, nói lời cần thiết cho bổn đạo giữ Lời Chúa, cử hành phụng vụ, xức dầu bệnh nhân, làm lễ hôn phối, dọn mình cho con chiên chết lành, giảng giải và chia sẻ Lời Chúa. Con người bình thường hay bị những áp lực bên ngoài, động lực bên trong đòi hỏi: phải thăng tiến trong nghề nghiệp, phải có nhiều tiền hơn, người ta xem mình lái xe loại gì, mặc áo hiệu chi, ở nhà khu vực nào, nhà có tiện nghi hiện đại không…Bạn bè và người thân đều đánh giá con người trên những tiêu chuẩn đó.

Với tinh thần linh mục như thế, dù phải điều hành giáo phận, di chuyển không ngừng, nhưng đức cha vẫn có thời giờ viết sách, và trước tác một số loạt bài chuyên đề, giảng tĩnh tâm cho linh mục, hội nghị thần học, mục vụ trên toàn Hoa Kỳ, cũng như tại Alaska, Úc châu, và nhiều nơi trên thế giới. Hai cuốn sách của Ngài mang tên “Phụng vụ Ngày Chúa Nhật Có Thể Tốt Hơn” và “Giảng Tốt Hơn.” Ấy là chưa nói đến hàng loạt bài giảng được ghi lại trong bộ ‘Những Tập Sách Nhỏ cho Mùa Vọng, Mùa Chay và Phục Sinh’, cũng như về lãnh đạo. Trong các tập sách đó, ngài khuyến khích đàn chiên mình dành 6 phút mỗi ngày để cầu nguyện bằng cách suy niệm một đoạn Kinh Thánh.

Niềm vui của người làm công việc mình yêu thích, sự bình an và hạnh phúc đến từ việc phục vụ của người linh mục, chính là tự do, và là xưởng thợ cũng như nơi làm đàn vi-ô-lông của người nghệ nhân trẻ. Nói thế, nhưng Đức cha Untener cũng không hề có ý coi thường những nghề nghiệp tốt đẹp khác trong xã hội. Mỗi cuộc đời, mỗi con người sống trọn vẹn cho Chúa đều tốt đẹp, dù đó là bậc hôn nhân, độc thân, làm thương mại, hay phục vụ công ích. Nếu tất cả đều nhìn công việc mình làm để phục vụ tha nhân, để làm sáng danh Chúa, sử dụng tài năng Chúa ban cho, thì người làm như thế đã tìm được sự tự do, tìm được ngôi nhà của chính mình, tìm được sự bình an đích thực của người con Chúa, như lời của Thánh Vịnh 16, câu 5 và 6:

Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng,
       là chén phúc lộc dành cho con;
       số mạng con, chính Ngài nắm giữ.
      Phần tuyệt hảo may mắn đã về con,
     Vâng, gia nghiệp ấy làm con thoả mãn. 
(Bản dịch của Các Giờ Kinh Phụng Vụ)

Ngày 27 tháng 3 năm 2004, ngài nằm xuống như một người thợ gặt được nghỉ sớm vì đã hoàn tất công việc của mình. Bốn mươi năm linh mục, hai mươi ba năm giám mục, Kenneth Edward Untener luôn là một chủ chăn không nhà cửa, không tiếng tăm, dù từng là thành viên trong nhiều Ủy Ban của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ và là thành viên Ban Chấp Hành của Mạng Lưới Truyền Hình Công Giáo Hoa Kỳ. Một giám mục ‘hầu bàn’ theo chân Chúa Kitô là đấng hầu hạ môn sinh mình, và rồi chết đi mà không để lại một ấn tượng nào về bản thân mình, không làm một việc gì ngoạn mục trong đời. Nhưng chính vì ngài âm thầm mục nát đi như hạt lúa chôn vùi dưới đất để cho ngọn lúa Kitô lớn lên, nên ngài xứng đáng với những lời mà Đức Cha Quinn nói với ngài trong thánh lễ tiễn biệt cuối cùng:

Tôi nghĩ rằng Đức cha đã đề ra cho tất cả giám mục chúng tôi một thách thức dứt khoát, mạnh mẽ nhưng dịu dàng: ấy là phải sống Tin Mừng một cách minh bạch. Tôi từng thấy đức cha bị chỉ trích và hiểu lầm, thế nhưng đức cha đã nghe theo tiếng gọi Phúc Âm, mà không phản ứng lại một cách bực bội hay cay đắng. Đức cha đã đưa tất cả vào nội tâm và sống những lời trong thư thứ I của thánh Phêrô: “Chúa Kitô đau khổ vì anh em, và để lại cho anh em gương mẫu của Ngài... Bị nguyền rủa, Ngài không nguyền rủa lại...” (I Pr 22, 23). Lời rao truyền của đức cha trước mặt thiên hạ luôn cắm sâu trong thần học, bàng bạc một đức tin sống động, và mang dấu ấn của sự nhã nhặn đặc thù nơi một giám mục. Chiều sâu và sự khôn ngoan của đức cha là một đóng góp quý báu cho Giáo Hội…

 

Tân Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang KiỆt.

Một hình ảnh khác nhưng cũng mang âm hưởng và hình ảnh của vị chủ chăn không nhà: Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt, được gọi để phục vụ tại một giáo phận nghèo và hẻo lánh của tuyến đầu đất nước - Lạng sơn. Nơi đây,  đồng bào là những người dân quê hiền lành mộc mạc, đời sống rất khó khăn vì hậu quả của chiến tranh. Nước Việt Nam vốn đã chịu nhiều cảnh nghèo: dân nghèo, địa phương nghèo thì Giáo Hội ở đó cũng nghèo theo. Cùng hồi tưởng lại lời chia sẻ của ngài trong lời mở đầu của bài hội thảo tại Đại Hội Giáo Lý do Tổng Giáo Phận Los Angeles tổ chức và tân Tổng Giám Mục Hà Nội là diễn giả: ‘Tháng 10 năm 2000, tôi được hân hạnh tham dự đoàn hành hương Năm Thánh của một số Giám mục Việt nam. Trong dịp vào chầu Đức Thánh Cha, Đức Tổng Giám mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, bây giờ là Hồng Y đã giới thiệu tôi là một giám mục 3 không: không có toà giám mục, không có nhà thờ chính toà, không có linh mục tu sĩ. Và Đức Thánh Cha đã gọi tôi là homeless bishop.’...  ‘Chỉ có một mình, nên tôi miệt mài dong duổi. Hết xứ nọ sang xứ kia. Hết làng này sang làng khác. Ở trên xe nhiều hơn ở trong phòng. Ở trên đường nhiều hơn ở trong nhà. Trời đất là quê hương. Núi rừng là giáo phận. Đường là nhà. Xe là phòng. Cứ đi không ngừng…’

Vâng, vị Tông Đồ mục tử ấy, Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, quê quán ở chính nơi được gọi về phục vụ như là vị mục tử ngày nào ‘không nhà’ ở Lạng Sơn. Ngài sinh ngày 4 tháng 9 năm 1952 tại Mỹ Sơn, Lạng Sơn. Được đào tạo tại Tiểu Chủng viện Têrêsa, thuộc giáo phận Long Xuyên rồi theo học tại Đại Chủng Viện Tôma, trong cùng giáo phận. Hoàn cảnh đất nước đổi thay, nhiều khó khăn cho các ơn gọi và tâm hồn ước ao tận hiến; nhưng với riêng ngài, tuân phục ơn Chúa dẫn đưa và lòng kiên trì theo đuổi, mùa hè năm 1991 ngài được chọn bước lên bàn thánh cử hành sứ vụ linh mục. Sau thời gian phục vụ tại Nhà Thờ Chính Toà Long Xuyên, ngài được theo học tại Institut Catholique de Paris, Pháp. Khi về nước, cũng tiếp tục phục vụ tại giáo phận nhà cho đến khi trở thành Giám mục coi sóc giáo phận quê quán mình. Tại đó, ngài đã chia sẻ với những giáo dân nghèo và lam lũ trong thân phận hẩm hiu với họ. Một giám mục phục vụ dân nghèo thì làm gì có mũ gậy quyền bính, nhưng là một ông từ quét dọn nhà thờ nghèo xơ xác, vừa làm ca trưởng và cũng vừa là giáo lý viên, và là linh mục cử hành các bí tích, mục vụ cho những người dân bản làng. Ấy thế mà ngài vẫn dành thì giờ để viết những loạt bài chia sẻ Tin Mừng hàng tuần, và cùng với một số linh mục anh em biên soạn sách vở, dịch thuật để giúp cho dân Chúa thêm lương thực cho đời sống đức tin.

 Chạnh Lòng Thương - khẩu hiệu của Đức cha Giuse khi được gọi làm Giám Mục đã được ngài sống hết nình qua những thể hiện của những hy sinh chính bản thân mình. Bất kể thì giờ, mưa nắng, trong những năm tháng qua, ngài đã cùng với dân làng ở Lạng Sơn tìm kiếm lại khuôn mặt Đấng đã Chết và Sống Lại cho họ bấy lâu đã nhạt nhoà. Mà ở đó, theo ngài ‘…Biết bao tâm hồn thiện chí đang khao khát chờ đợi ta. Biết bao niềm tin câm lặng đang chờ dịp tỏ lộ. Biết bao nỗi mất mát đau thương chờ được thông cảm. Biết bao cảnh lầm than cơ cực chờ được nâng đỡ. Những tiếng mời gọi tha thiết nhưng rất âm thầm. Phải mở lòng ra mới nghe thấy. Phải mở trái tim ra mới hiểu được. Hôm nay tiếng Chúa vẫn vang lên qua những lời giáo huấn của Hội thánh. Tiếng Chúa vẫn mãnh liệt trong tâm hồn mỗi vị mục tử. Tiếng Chúa bàng bạc, âm thầm nhẹ nhàng nhưng sâu thẳm tha thiết “Hãy ra khơi truyền giáo.’ (Hội Thảo 20/2/2005, ĐHGL Los Angeles).

Tháng 5 năm 2003, bận rộn hơn vì nhiệm vụ mới, rong ruổi hơn khi ngài được gọi về phục vụ trong nhiệm vụ Giám Quản Tông Toà Hà Nội vì Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng đến tuổi về hưu. Rày đây - Lạng Sơn, mai đó - Hà Nội, bận rộn như con thoi chạy đi chạy về vì việc nhà Chúa và bổn phận. Thứ bảy 19 tháng 3 sắp tới đây, đúng vào ngày lễ Quan Thầy Giuse, ngài được chính thức tấn phong Tổng Giám Mục Giáo Phận Hà Nội. Xin hiệp lòng tạ ơn Chúa và chúc mừng Giáo phận Hà Nội có được vị chủ chăn trẻ tuổi, khôn ngoan và thánh đức. Thành phố lớn, người đông, hoàn cảnh tế nhị hơn, hẳn rồi Tân Tổng Giám Mục Giuse sẽ cần phải rong ruổi nhiều hơn, bởi ở đó, những con đường cần phải mở là trong lòng người (Religious Education Congress – Los Angeles, Hội Thảo 19/2/2005). Cầu nguyện xin Thánh Quan Thầy Giuse, cầu bầu gìn giữ Đức Tổng Giám Mục trong nhiệm vụ mới để phục vụ và chăm lo cho đời sống đức tin và tinh thần hiệp nhất cho cộng đoàn dân Chúa nơi đây. Hiệp lòng cầu nguyện cho ngài luôn được sống như lời đã chia sẻ “Tôi hăng hái ra đi không ngừng vì tôi tin tưởng vững chắc rằng việc truyền giáo là của Chúa. Tôi chỉ là dụng cụ. Tôi an tâm vì tôi biết rằng Chúa không để tôi cô đơn. Chúa hằng ở bên tôi như lời Ngài đã hứa : ‘Này đây Thày ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.’ Amen!●

Trở về Muc Lục

        

PHÚT TRẦM TƯ 

CHÂN DUNG NGƯỜI CON

Maranatha dịch.

Xưa kia, có một người rất giàu thường chia sẻ công việc sưu tập các hoạ phẩm với con trai mình. Họ cùng đi vòng quanh thế giới, mua sắm những tuyệt tác quý báu nhất. Các bức tường trong lâu đài ông được trang hoàng bằng những tác phẩm vô giá của Picasso, Van Gogh, Monet và nhiều danh họa khác được. Người cha góa vợ hài lòng nhìn con mình trở nên một nhà sưu tập dày dạn kinh nghiệm. Cặp mắt sắc sảo và trí óc lanh lợi trong kinh doanh của cậu con khiến người cha rất tự hào khi giao dịch với những nhà sưu tầm trên khắp thế gian. Khi mùa đông đến, chiến tranh bao trùm đất nước, và cậu trai trẻ phải lên đưòng tòng quân. Sau vài tuần, cha cậu nhận một điện tín. Cậu con yêu dấu của ông bị mất tích. Nhà sưu tầm nghệ thuật bồn chồn chờ đợi tin tức, lo rằng mình chẳng bao giờ gặp lại con. Ngày qua ngày, điều ông lo lắng đã trở thành sự thực, chàng trai đã chết khi đưa một đồng đội mình đến trạm cứu thương. Buồn rầu và cô đơn, cụ già chờ đợi ngài đại lễ đến với tâm trạng u uất thảm sầu. Niềm vui ngày lễ mà cha con ông chờ đợi giờ đây chẳng bao giờ đến trong nhà ông nữa.

Sáng ngày lễ Phục Sinh, tiếng gõ cửa đánh thức cụ già chán chường kia dậy. Trên đường  bước ra cửa, những tuyệt tác đắt tiền trên các bức tường chỉ gợi cho ông nhớ rằng con ông không còn trở về. Ông mở cửa ra, và một quân nhân chào ông mà trên tay cầm một cuộn giấy lớn. Anh tự giới thiệu: “Cháu là bạn của con bác. Cháu là người mà con bác đã cứu và đã chết thay. Con có thể vào nhà một lúc không? Con có cái này trình cho bác.” Cụ già bắt đầu mở cuộn giấy và nhìn thấy chân dung của con trai đã khuất của mình. Dù cho chẳng ai xem đây là tác phẩm của một thiên tài, nhưng bức họa vẽ lại gương mặt của con ông với những chi tiết rất sống động. Giấu kín nỗi xúc động, ông cám ơn người lính và hứa sẽ treo trên lò sưởi. Vài giờ sau, sau khi người quân nhân đã đi về, cụ già bắt tay vào việc. Giữ đúng lời hứa, ông treo bức họa trên lò sưởi, và gạt qua một bên những họa phẩm đáng giá hàng ngàn mỹ kim. Làm xong việc, ông ngồi xuống ghế và sống qua ngày lễ bằng cách ngắm nhìn món quà mà ông vừa nhận.

Những ngày tháng tiếp theo, người cha hiểu rằng dù con mình không còn bên cạnh, nhưng anh vẫn tiếp tục sống qua những người mà anh đã cứu giúp. Không bao lâu sau, ông biết rằng con ông đã cứu hằng chục quân nhân bị thương trước khi bị một viên đạn xuyên qua trái tim từ ái của anh. Những mẩu chuyện về chiến tích của nguời con ngày càng đến tai ông, và lòng tự hào và mãn nguyện dần dần xóa tan nỗi buồn của mình, thì bức họa về người con trở nên của cải quí giá nhất của ông, làm mờ đi những tác phẩm đắt tiền mà các viện bảo tàng trên thế giới uớc mong. Ông nói với bè bạn láng giềng rằng bức họa về con ông là món quà quí giá nhất mà ông từng nhận được.

   Một năm sau, cụ già lâm bệnh và qua đời. Thế giới nghệ thuật xôn xao, vì nhà sưu tập qua đời và con ông đã chết, nên các họa phẩm của ông sẽ được đem ra bán đấu giá. Theo ý nguyện của cụ già, mọi tác phẩm nghệ thuật được đem bán đấu giá vào ngày Lễ Phục Sinh, vì ấy là ngày mà ông nhận được món quà ông tha thiết nhất.

Đã đến ngày dự định và các nhà sưu tập nghệ thuật khắp thế giới tuôn về để hy vọng mua được những họa phẩm lừng danh thế giới. Bao nhiêu giấc mơ sẽ trở thành hiện thực hôm nay – hẳn là nhiều người sẽ tự hào khi có quyền tuyên bố: “Tôi có được bộ sưu tập giá trị nhất”. Buổi đấu giá bắt đầu với một họa phẩm không nằm trong danh sách các viện bảo tàng. Ấy là bức họa chân dung con trai nhà sưu tập. Nhân viên bán đấu giá đề nghị khách hàng đề ra một giá khởi điểm, như ai ai cũng im lặng. Ông hỏi: “Ai muốn ra giá khởi điểm là 100 Mỹ Kim?”

Vài phút trôi qua mà không ai nói một lời. Cuối cùng, từ cuối căn phòng vang lên một tiếng nói. “Ai mà thèm bức họa này? Chỉ là ảnh của con ông ấy thôi. Thôi quên nó đi và chuyển sang những hàng có giá trị kìa.”  Nhiều tiếng nói khác cũng nhao lên đồng ý. Nhân viên đấu giá đáp lại: “Không, chúng tôi cần phải bán họa phẩm này trước đã! Có ai mua hình người con này không?” Cuối cùng, người láng giềng của cụ già lên tiếng: “Ông có thể bán cho tôi 10 Mỹ Kim không? Thực tình tôi chỉ có bấy nhiêu thôi – nhưng vì tôi từng biết cậu trai, nên tôi muốn có được bức họa này.”

Sau một khoảnh khắc im lặng, nhân viên đấu giá nói: “Một người ra giá 10 Mỹ Kim, có ai trả cao hơn không?” Rồi ông hô: “Một,  hai, bán!” Chiếc búa gõ xuống bàn. Cả phòng cưòi ồ và có người nói to: “Bây giờ ta có thể quên nó đi và khởi sự đấu giá cái kho tàng thực sự kia.” Nhân viên đấu giá nhìn cử tọa và thông báo rằng cuộc bán đấu giá đã kết thúc.
            Căn phòng lặng đi vì ngạc nhiên. Rồi một người lên tiếng hỏi
: “Kết thúc, thế là làm sao? Chúng tôi đâu đến đây để mua hình của con lão già ấy. Còn các bức họa kia thì sao? Còn những tác phẩm nghệ thuật giá hàng triệu kia kìa. Yêu cầu ông giải thích xem thế nào!” Những tiếng nói khác cũng lao xao đồng tình.
            Nhân viên đấu giá đưa tay lên yêu cầu phòng im lặng. Thế rồi ông trả lời:
“Chỉ đơn giản thôi. Vị luật sư của gia trang ngày bảo rằng theo di chúc của người cha, ai nhận được người con, thì nhận được tất cả.”
           
Đời người là một cuộc bán đấu giá. Chúng ta là khách mua hàng. Có những thứ vật chất và những thứ tâm linh để mình mua. Biết bao nhiêu lần, giống như những khách hàng này, chúng ta tìm kiếm những thứ vật chất to lớn có vẻ có giá trị cao, và lại xem thường những thứ tâm linh mà ta xem là không đáng gì cả, thế nhưng chúng lại quyết định cho đời sống vĩnh cửu của mình? Dường như không cần phải trả giá cao lắm để đón nhận tình yêu của Chúa Giêsu Kitô vào tâm hồn mình. Tình yêu ấy là một tình yêu cho không, và lòng trung thành đáp trả của chúng ta là một cái giá gần như không đáng kể. Có lẽ chúng ta cần phải khám phá lại, giống như các khách hàng kia, rằng khi ta có được Người Con, thì ta có được mọi sự!

Anh chị em quí mến trong Chúa Kitô, câu chuyện này minh họa cho tình yêu của Thiên Chúa, Cha chúng ta trên trời. Người đã ban Người Con chí ái của Người, và ai tin và Ngài thì sẽ không chết mà được sự sống đời đời. Đấy là món quà tình yêu lớn nhất đối với mỗi người chúng ta 

“Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta – thì lẽ nào Người lại chẳng ban cho chúng ta tất cả mọi sự cùng với Ngài?” (Rm 8:32) 

http://www.cob-net.org/inspire/auction.htm

1. Tháng 8 năm 1968, Đức Hồng Y Richard James  Cushing giảng trong một khu ổ chuột vùng ngoại ô Lima, Pêru; ngài khởi sự như sau:  Chúng ta đọc trong Tân Ước rằng ngày xưa Chúa Giêsu cưỡi một con lừa để  vào Giêrusalem một cách vinh hiển, hôm nay, Ngài cưỡi một con lừa khác để đến với anh chị em, con lừa đó là tôi đây. Tôi không thể nói được ngôn ngữ của anh chị  em (Ngài giảng bằng tiếng Anh và có một người dịch ra tiếng Tây Ban Nha), tôi chỉ biết có mỗi một ngôn ngữ, ngôn ngữ của tình yêu: Tôi yêu thương anh chị em hết lòng…

2. Đây là câu chuyện cảm động về nhà họa sĩ lừng danh Steinberg và một cô gái bụi đời. Bị thu hút do sắc đẹp của cô, nên Steinberg mời cô về xưởng để ngồi làm người mẫu cho mình vẽ. Vào thời ấy, ông đang thực hiện tuyệt tác của mình “Chúa Kitô trên Thập Giá”. Cô gái thường nhìn ông vẽ bức tranh ấy. Một hôm, cô bảo: “Cái ông này chắc là một người dữ ác lắm nên mới bị người ta đóng đinh trên thập giá như vậy!”. Họa sĩ trả lời “Không phải đâu. Trái lại, ông ấy là một người tốt lành. Người tốt lành nhất từng sống trên đời. Ông chết cho kẻ khác đấy”. Cô gái nhìn vào mắt ông và hỏi: “Ông ấy có chết cho bác không?”. Lúc bấy giờ, Steinberg là một người giữ đạo theo thói quen, nhưng câu hỏi của cô gái bụi đời kia đã đánh động ông khiến ông đã ‘trở lại’ trong đức tin của mình.

            Chúa Giêsu đã chết ‘vì loài người chúng ta, và để cứu rỗi chúng ta...’ Câu này bạn và tôi đọc đi đọc lại trong mọi thánh lễ ngày Chúa Nhật... Thế nhưng trong Tuần Thánh này, khi tưởng niệm cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, câu hỏi của cô gái bụi đời kia vẫn còn đặt lại với chúng ta: “Chúa Giêsu có chết cho bạn không?” Hãy chân thành trả lời câu hỏi ấy, và rồi bạn sẽ sống cuộc đời của bạn khác hơn trước!  

Trở về Muc Lục

 

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC

  • Chân thành cám ơn và cáo lỗi với các tác giả, cộng tác viên đã gửi bài về trong tuần qua. Vì trang báo Maranatha giới hạn nên một số bài nhận được phải tạm gác lại.

  • Bài NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG sẽ được tiếp tục trong số báo 41 vì phải dành trang cho các bài liên quan đến chủ đề TUẦN THÁNH và MỪNG KÍNH THÁNH GIUSE trong số này. Kính mong quý cộng tác viên và độc giả thông cảm.

  • Trong tuần qua, Maranatha đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:

 Huyền Linh- Tu Hội Nữ Tỳ Thánh Thể, Hoàng Vĩnh, Phaolô Vy Trinh, Lê Thu Bích, Phạm Hùng Sơn – CVK, Cory Hoàng, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Thái Văn Hiến, Nguyễn Oanh, Nguyễn Văn Nội, Nguyễn Hữu Dõng - Cơ Sở Thánh Gioan Tẩy Giả, Phan Đức Thông, Lm. Damian Trần Minh Công- TMC, Thanh Bùi, Phan Chính, Mai-Khôi Bùi, Lawenrence Tống Ngô, Lm. Pet. Nguyễn Đình Sáng, Trịnh Duy Nam, Nguyễn Hoàng Kim Vũ, Paul Nguyễn, Lê Tùng, Vân Nguyễn…

  Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.

Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

            Trân trọng, 

            MARANATHA

Trở về Muc Lục

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

  • Chúng con là Tập Viện Dòng Nữ Tỳ Thánh Thể, chúng con xin đăng ký báo. MB Huyền Linh.

  • Vừa mới điểm qua tuần báo của quý vị, rất hay. Bài của tác giả Trần Duy Nhiên viết về Phụ Nữ, tuyệt! Báo tuần này hay lắm. Xin gởi lời khen ngợi. Hoàng Vĩnh, Orange, California.

  • Thân gửi ban biên tập Maranatha, Cám ơn quý anh đã gởi tuần báo Maranatha đến cho tôi mỗi tuần. Cám ơn quý vị rất nhiều bài báo và nội dung rất phong phú và đã giúp ích cho tôi rất nhiều về cuộc sống nội tâm. Tôi chân thành cám ơn quý vị và cầu xin Chúa luôn trả công bội hậu và luôn luôn tràn đầy Thần Khí cho những công việc của quý anh đang phục vụ Giáo Hội và tha nhân. Kính, Phaolô Vy Trinh.

  • Cám ơn MARANATHA rất nhiều đã gửi báo cho em. Hàng tuần cứ vào chiều thứ năm là em đi ra đi vào, em hồi hộp, thấp thỏm chờ đợi mở máy để đọc MARANATHA. Hôm nào chưa hoặc không nhận được là thấy …nhớ...  Em thích nhất là đọc mục Thư Tòa Soạn hàng tuần...mục Thư Bạn Đọc. Em đọc mấy cái tâm tình trong mục Thư Bạn Đọc không thể nhịn cười được và hôm nay em cười muốn toét cả cái miệng đã rộng sẵn của em dzồi đây :-)))))))))))))))))) Vì sao có người viết y chang ý nghĩ của mình như vậy :-))))))))))))) Hy vọng người ta gặp gỡ được “Người Tình Muôn Thuở” là Chúa Giêsu trong những câu chuyện “Tình Thiên Thu” ấy. Maranatha dọn bàn tiệc ngon như thế, người ta nhớ nhung chờ đợi, thấy mà thương. Em cám ơn ban biên tập nhiều nhé, nhất là những người nghèo xơ nghèo xác về thì giờ đó!!!! Thương chúc ban biên tập một cuối tuần thật vui và bình an! Em, Lê Thu Bích, San Jose, California.

  • Sau khi chuyển tiếp mấy số báo Maranatha cho linh mục Trần Minh Công, Thụy Sĩ, cũng như một vài địa chỉ người quen ở Việt nam, họ rất thích và muốn nhận báo Maranatha. Vậy xin chuyển báo trực tiếp cho các địa chỉ email… Kính, Phan Đức Thông.

  • MARANATHA quí mến, Hết lòng biết ơn MARANATHA vì vẫn đều đặn chia sẻ báo cho mình. Tuần tới, MARANATHA vui lòng gửi báo cho các địa chỉ này với…Kính chúc vạn sự an lành trong Chúa. Tận tình, Thái Văn Hiến.

  • Xin vui lòng gởi tuần báo MARANATHA cho tôi, vì tôi đã được đọc qua, thấy rất hay và bổ ích. Xin thành thật cám ơn rất nhiều. Thanh Bùi.

  • Kính gởi Ban Biên Tập Tuần Báo Điện Tử Maranatha, Tôi vừa nhận được ba số báo Maranatha guí vị gửi tặng. Sau  khi đọc qua một lượt, tôi thấy báo được trình bày khá hấp dẫn đẹp mắt. Nội dung cũng được và một số bài khá hay và bổ ích. Xin chân thành cám ơn quí vị đã có nhã ý hàng tuần gởi báo nầy cho tôi. Nguyện xin Chúa Thánh Linh ban ơn và hướng dẫn quí vị trong công việc mục vụ báo chi để rao truyền Lời Chúa và tôn vinh Ngài! Thân mến chào quí vị và cầu chúc sức khoẻ và bình an để rao truyền Lời Chúa. Lm. Dan. Trần Minh Công, TMC.

  • Kính gửi Maranatha, Tôi đã nhận được báo Maranatha. Xin cám ơn nhiều. Chúc Maranatha càng ngày càng có nhiều bạn đọc. Phan Chính.

  • Cám ơn quý vị đã gởi báo MARANATHA Việtnam cho tôi. Tôi rất hoan nghênh việc truyền bá và rao giảng Tin Mừng qua điện thư. ..Xin quý vị gởi cho tôi qua địa chỉ mới của gmail. Sở dĩ tôi đổi email vì gmail cho nhiều memory để trở lại tra cứu mà không phải copy and paste. Kính chúc quý báo vạn an và sống mãi trong ơn Chúa. Kính thư, Lawrence Tống Ngô. 

  • Con đã đọc được ba bài báo của báo MARANATHA. Con rất vui mừng và cám ơn Quý Báo vì với con đây là những “viên thuốc bổ” nó mang lại cho con sự bình an trong tâm hồn giữa cuộc sống ồn ào tất bật hôm nay....Con đã giới thiệu báo đến bạn bè của con. Vậy kính xin Quý Báo gởi báo cho cho theo các địa chỉ sau:….Kính chào và kính chúc một PHUC SINH VUI TƯƠI, THÁNH THIỆN. Con, Mai Khôi.

  • Kính gửi Ban Biên Tập Báo MARANATHA, Thật là tình cờ và hạnh phúc cho bản thân tôi vì tối nay ngồi vào máy mở mail thì nhận được các số báo 34, 35, 36 của Maranatha. Xin cám ơn, xin cám ơn thật nhiều Ban Biên Tập và những người gởi thư để nhiều người có thêm chất liệu sống để cuộc đời đẹp hơn, xứng hợp hơn…trong đó có chính tôi. Xin đa tạ, và nguyện xin Ân Sủng của Đức Kitô, Tình Yêu của Chúa Cha và ơn Hiệp Thông của Chúa Thánh Thần ở cùng chúng ta. Chào hiệp nhất trong Chúa. Lm. Pet. Nguyễn Đình Sáng, Nhà Thờ Cù Mi, Phan Thiết.

  • Xin kính chào Maranatha, Xin cám ơn quý báo vẫn đều đặn gởi bài cho tôi, một người Việt sống xa quê hương. Những bài viết của quý báo giúp tôi rất nhiều. Xin Chúa chúc lành cho quý báo và cho tất cả những ai đang đóng góp vào trang này. Xin Maranatha gởi cho một người cháu của tôi theo địa chỉ… Xin chân thành cám ơn. Duy Nam.

  • Mình tên là Nguyễn Hoàng Kim Vũ, hiện đang là giáo lý viên Giáo Xứ Thuận Phát, xin đăng kí để nhận báo Maranatha. Nguyễn Hoàng Kim Vũ.

  • Tôi có đọc qua tuần báo Maranatha từ người bạn, tôi rất interest do đó tôi xin quí báo có thể cho tôi ghi tên để được gởi báo. Xin Chúa chúc lành cho anh chị em tuần báo Maranatha. Trân trọng, Paul Nguyễn.

  • Xin nhận báo. Lê Tùng.

  • Báo rất hay và hữu ích. Xin ban biên tập gởi báo cho tôi về email này. Rất cám ơn. Vân Nguyễn.

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn