Số 40, Ngày 19-3-2005

 

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Nghịch Lý Của Thập Giá Lm. Vũ Xuân Hạnh

Bài Giảng Trên Núi…Sọ Trần Duy Nhiên

Để Được Vào Nước Trời - Cần Có Tình Yêu và Lòng Dũng Cảm - Nguyễn Chính Kết

Thánh Giuse - Người Cha Của Đức Giêsu  - Trần Duy Nhiên

Chiếc Cầu Thang Kỳ Lạ -  Phạm Hoàng Nghị viết theo Arthur Gordon

Những Vị Mục Tử Không Nhà - Nguyễn Khánh Linh

Chân Dung Người Con - Maranatha dịch

Tâm Tình Cùng Bạn ĐọcThư Bạn Đọc

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa quý độc giả,

Chúa nhật Lễ Lá đến để đưa chúng ta vào Tuần Thương Khó. Một tuần lễ mà bao biến cố trọng đại trong cuộc đời Chúa Kitô được tái hiện qua phụng vụ, và truyền thống của mỗi giáo xứ đã khắc ghi vào lòng mọi tín hữu những dấu ấn khó phai mờ. Nhưng phải chăng chúng ta lại vào trong Tuần Thánh với tâm trạng của những người ‘vờ’ buồn rầu trong bảy ngày của tuần lễ linh thiêng này, để rồi cũng’vờ’ vui trong Đêm Vọng Phục Sinh, mà mọi sự thì đã ‘biết rồi, nói mãi, khổ lắm!’

Nếu như thế thì chúng ta lại đánh mất một dịp để cùng với Giáo Hội trở về với Niềm Vui sâu xa và đích thực của Lời gieo Tin Mừng.

Lời Chúa là Lời Hằng Sống. Nghĩa là Ngài vẫn sống trong ngày hôm nay, ở nơi này. Những bài đọc Thương Khó ta nghe lại những ngày sắp tới không phải là một ‘chuyện đời xưa’, mà là một sự kiện thời sự.

Thuở xưa, Vua Đavid đã ngoại tình với Bethsabê, và để bịt miệng thế gian, ông đã tìm cách để giết Uria, chồng Bethsabê, rồi đưa bà về sống với mình trong danh chính ngôn thuận. Khi xã hội chấp nhận việc làm sai trái của mình, thì ý thức tội lỗi cũng mờ đi. Đavid yên hàn ca ngợi Chúa với một lương tâm bình thản. Thế rồi một người đến kể cho ông nghe một ‘chuyện cổ tích’. Người đó là tiên tri Nathan, và ông kể chuyện cổ tích với nội dung như sau: “Một người chủ giàu có hằng trăm con chiên, nhưng khi khách đến thì không giết con nào của mình để đãi khách, mà lại giết con chiên duy của một người nghèo, một người xem con chiên là lẽ sống duy nhất của mình.” Nghe như thế, Đavid nổi trận lôi đình và đòi phạt tội ông phú hộ kia. Lúc bấy giờ Nathan nói rõ: “Người ấy chính là ông đấy!” (Sm 12,9). Chuyện cổ tích không còn là cổ tích nữa, mà là chuyện thật của Đavid. Ông xé áo, rắc tro, và khóc lóc ăn năn.

Những nghi lễ trong Tuần Thánh, với những bài đọc Thương Khó cảm động kia vẫn không phá vỡ được sự yên hàn giả tạo trong mỗi chúng ta, cho đến khi chúng ta biết rằng đấy không phải là ‘chuyện đời xưa’, mà là chuyện của chính mình.

Chúa Giêsu đã bị bắt bớ, lăng nhục, đánh đập, chết treo hai ngàn năm trước, thì ngày nay Ngài vẫn còn bị bắt bớ, lăng nhục, đánh đập, chết treo trong những người bị bỏ rơi về vật chất hay tinh thần trên khắp thế giới này, và ngay bên cạnh chúng ta.

“Người đó chính là ông!” Giuđa phản Thầy mình, người đó chính là bạn và tôi! Philatô làm ngơ để người ta giết người vô tội, người đó chính là bạn và tôi! Phêrô chối thầy mình ba lần liên tiếp, người đó chính là bạn và tôi! Người la ó trong sân Philatô: hãy giết nó đi, người đó chính là bạn và tôi! Có thấy như thế thì chúng ta mới hiểu vì sao Chúa vẫn còn bị bắt bớ, lăng nhục, đánh đập, bị bỏ rơi và chết đau thương trên thập giá khắp nơi trên trần gian này ngày hôm nay.

Trong ý thức đó, Maranatha sẽ cùng theo Chúa Kitô để sống lại cái nghịch lý của Mùa Thương Khó năm nay, với những bài suy tư và câu chuyện kể lạ thường.

Những suy tư lạ thường đó, lại đến với quý vị năm nay trong ngày lễ của một Đấng cũng lạ thường, ấy là Thánh Giuse mà Giáo Hội mừng kính vào ngày thứ bảy 19 tháng 3.

Lạ thường thay một vị Thánh Cả mà không làm gì cả, ngoại trừ sống trong âm thầm, từng ngày một. Cuộc khổ nạn kéo dài của Chúa Giêsu, một cuộc khổ nạn đi từ biến cố rung chuyển từng trời đêm Giáng Sinh cho đến ngày Phục Sinh huy hoàng sau lễ Vượt Qua. Và Thánh Giuse đã mất hút trong hành trình Thương Khó đó. Vì thế, Maranatha_40 cũng dành nhiều trang để học hỏi nơi ngài.

Và vì Thánh Giuse là vị thánh Quan Thầy của rất nhiều Kitô hữu trong cộng đồng dân Chúa, Maranatha xin gửi lời chúc mừng lễ tất cả quý vị cộng tác viên và độc giả mà thánh Giuse là bổn mạng. Nguyện xin Thánh Cả Giuse đưa quý vị vào con đường hẹp của ngài để cho Chúa Kitô phục sinh trong các tâm hồn mà khởi sự là tâm hồn của chính mình.

Trong tất cả những người mừng lễ quan thầy Giuse, Maranatha đặc biệt gửi đến Đức Tân Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt lời chúc mừng hân hoan nhất, bởi vì ngày 19 tháng 3 này, chẳng những là ngày lễ quan thầy mà còn là ngày Đức Cha nhận trách vụ mới để đi con đường thánh giá của Chúa Kitô hầu hướng đến phục sinh. Con đường thánh giá đó đã khởi điểm từ tuần lễ vừa qua, khi Chúa đã gọi thân mẫu của Đức Cha về với Người, cứ như thể Chúa muốn cho chính người mẹ trần thế của Đức Cha luôn ở cạnh Người hầu gần gũi Đức Cha hơn.

Xin Đức Mẹ Maria, quan thầy của Bà Cố, và Thánh Cả Giuse, quan thầy của Đức Cha, luôn nâng đỡ Đức Cha trên hành trình của một chủ chăn, theo gương Chúa Kitô, Đấng ‘không có một hòn đá gối đầu.” (Mt 8:20).

Và trên hành trình lên núi Calvê của Tuần Thương Khó, cùng với Đức Tân Tổng Giám Mục và quý vị mang tên Thánh Giuse, quý vị có lòng yêu mến Thánh Giuse, mong sao tất cả chúng ta đón nhận Chúa Kitô không chỉ là ngày vào Giêrusalem vinh quang, nhưng mà ngay lúc Ngài hấp hối trên Thập Giá, với lời nguyện cầu hướng đến Phục Sinh: Maranatha, lạy Chúa Kitô, xin ngự đến!

MARANATHA

Trở về Muc Lục

 LỄ LÁ - TUẦN THÁNH  

NGHỊCH LÝ CỦA THẬP GIÁ

 

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Với việc cử hành rước lá của Chúa nhật Lễ Lá, Tuần Thánh bắt đầu.

Suy nghĩ các bài Thương khó trong tuần Thánh, sao tôi thấy có quá nhiều trái ngược. Những trái ngược ấy lớn cho đến mức trở thành những nghịch lý. Và lớn hơn nữa: trở thành mâu thuẫn đến nỗi có những lúc như tàn nhẫn, như đớn đau.

1. Đó là nghịch lý xuất phát từ phía dân chúng: Cuộc tiến vào Giêrusalem giữa một đám đông dân chúng hân hoan, nô nức, tay vẫy cao cành lá, còn có kẻ tỏ lòng mộ mến đến nỗi đã trải áo xuống đường, miệng thì không ngớt tung hô: ‘Hoan hô con vua Đavit’ để long trọng rước Chúa Giêsu vào thủ đô Giêrusalem.

Nhưng có ai ngờ rằng, giữa những tiếng tung hô dậy trời ấy, giữa mọi cử chỉ, mọi hành động vô cùng tốt đẹp ấy, giữa cảnh tượng huy hoàng tưởng như Chúa Kitô đang chiến thắng, đang khải hoàn, và ngay giữa lòng dân chúng có vẻ như chỉ có niềm vui chan chứa, lại đang chất chứa cả một sự phản bội ghê gớm, một sự phản bội như dồn, như thúc để sau đó sẽ bùng nổ dữ dội trước mặt Tổng Trấn Philatô trong tiếng gào thét và những bàn tay nắm chặt đưa lên một cách dứt khoát, đầy quyết tâm: ‘Đóng đinh nó đi! Đóng đinh nó đi! Đóng đinh nó vào thập giá.’ Dù cho Philatô có thật lòng và ngàn lần muốn tha bỗng đi nữa, thì sự quyết tâm đóng đinh Giêsu một cách mãnh liệt như thế, sẽ không có chỗ cho ông thực hiện ý muốn của mình, đừng nói gì đến chuyện một Philatô lòng vẫn còn đó đầy dẫy ham hố quyền - danh - lợi.

Cứ như thế, hết thời đại này đến thời đại khác, bất công nối tiếp bất công chỉ vì quyền - danh - lợi ấy.

2. Đó cũng là những nghịch lý khởi đi từ phía các môn đệ: Bao nhiêu tháng ngày được hướng dẫn, dạy dỗ, nhìn xem Thầy làm biết bao nhiêu phép lạ, chứng kiến Thầy hiển dung uy nghi trên núi cao, vậy mà những lời dạy thân thương, những việc làm tốt đẹp ấy đã tan biến đâu hết. Đến giờ này, chính trong hàng ngũ những môn đệ thân tín nhất của Chúa Giêsu lại xuất hiện những tâm hồn rắp tâm phản bội người Thầy khả ái và khả kính của mình.

Không biết 30 đồng thời ấy so với 30 đồng thời nay, khoảng cách chênh lệch đến mức nào, nhưng dẫu cho giá trị có lớn đến đâu, thì khi bán đứng Thầy mình cho chính những người đang hận Thầy đến phát điên lên, Giuđatrở thành biểu tượng của kẻ phản bội. Hình ảnh thọ ơn và trả ơn bằng bội ơn không nghịch lý lắm sao. Nghịch lý ấy đã làm cho đời sống, không phải chỉ trong thời Chúa Giêsu, nhưng là mọi thời, trở nên nhiều lẽ xấu hơn, lòng người tệ bạc hơn.

Sự yếu đuối của thánh Phêrô cũng là một nghịch lý. Được Thầy yêu thương lắm, nên đã biến Phêrô thành người học trò hàng đầu, làm tông đồ trưởng, sau này sẽ là giáo hoàng tiên khởi của Giáo Hội. Vậy mà trước quyền lực của thế gian, đã làm Phêrô sợ hãi đến độ chối Thầy Ba lần. Nhưng không phải ba lần trong ba tháng hay ba ngày, nhưng ba lần liên tục trong một đêm, chỉ trước mấy canh gà có vài giờ đồng hồ mà thôi trong. Nghịch lý về sự chối Thầy của Phêrô đối diện với lòng thương vô cùng của Chúa Giêsu, sao cứ mãi là nghịch lý khi loài người đã không biết ơn Thiên Chúa, không chỉ vô tâm với lòng thương xót của Thiên Chúa, mà còn đi xa hơn trong lầm lạc: phủ nhận và chối từ chính Thiên Chúa!

3. Đó còn là nghịch lý trong phiên tòa Philatô. Chúa Kitô, Thiên Chúa làm người, bản thân Ngài đã là một nghịch lý: Từ một vì Thiên Chúa cao sang, quyền năng vô biên, lại hóa thân làm người sống như chính con người là người, đã là một sự khiêm hạ khó hiểu.  Vậy mà Thiên Chúa quyền năng vô biên ấy giờ lại để cho loài người ‘xử án’. Một nghịch lý nhiệm mầu quá đỗi!

Phiên tòa Philatô đại diện cho cả loài người tàn nhẫn, bạo ngược đồng loạt tuyên án tử chính Thiên Chúa của mình. Bởi thế, Phiên tòa Philatô là một phiên tòa hết sức bất công, hết sức ngược ngạo, chỉ có một không hai từ thuở tạo thiên lập địa cho đến ngàn đời sau: Con người ‘xử tội’ Thiên Chúa, một vì Thiên Chúa thánh thiện tuyệt đối, tạo dựng chính con người, và nắm quyền xét xử con người.

Dù ngày hôm nay, không còn những phiên tòa mặc nhiên xét xử Thiên Chúa như Philatô đã từng xét xử Chúa Giêsu, nhưng vẫn còn đó những lời phạm thượng, những hàng động, những lối suy nghĩ mà trong đó hàm chứa sự oán trách và kết án Thiên Chúa.

Vẫn còn đó những phiên tòa xét xử, kết án những người vô tội, người nghèo khổ, cô thân cô thế không một quyền bính nào bảo vệ, dù quyền bính đó có thể là pháp luật. Và đôi lúc chính chúng ta cũng đã lên án nhau. Dù không nói ra, nhưng lương tâm ta đã từng lên án những cô gái điếm, những em bé nghèo cơ nhở phải trộm cắp, những thanh niên nghiện nghập, những nạn nhân của nhiều vụ tự tử hay của con bệnh AIDS.

4. Hình ảnh Đức Maria cùng với thánh Gioan hiện diện giữa pháp trường cũng lại là một nghịc lý lớn không kém. Có ai ngờ rằng, những thanh niên trai tráng như các tông đồ, tưởng chừng đầy sức mạnh, đầy can trường, khó có một trở ngại nào làm chùn bước, làm thoái lui. Vậy mà khi Thầy lâm nạn, đã trở thành những kẻ bạc nhược, khiếp đảm và run sợ. Các ngài không hiểu nỗi tại sao bình thường Chúa Giêsu quyền năng là thế, có sức thu hút là thế, đã có lần những hào quang ấy làm cho các ngài tưởng mình đã mạnh mẽ lắm, nên đã phát ngôn có khi nghe chướng tai: Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó không? (Lc 9, 54). Sao bây giờ phải chứng kiến Chúa Giêsu ngã gục dưới làn roi, dưới thập giá, dưới những lời phỉ báng ô nhục… Ảo ảnh về một cứu chúa trần thế huy hoàng sụp đổ, đã kéo tinh thần của các tông đồ đổ quỵ theo.

Chỉ có Đức Maria, một phụ nữ chân yếu tay mềm như mọi phụ nữ, vì tình yêu đối với Con của mình đã trở nên mạnh mẽ, bất chấp mọi nguy hiểm, mọi sĩ nhục, mọi đớn đau..., đối mặt với thập giá kinh hoàng. Người phụ nữ ấy đã kiên trung, đã can đảm đến cùng, để chứng kiến cho bằng được người con ruột thịt yêu quí của mình quằn quại trên thập giá. Chứng kiến cảnh đau cõi xót lòng khi người con duy nhất của mình trao linh hồn cho Chúa Cha và thở hơi lần cuối trong sức tàn. Chính vì tình yêu màlúc những mũi đinh đau đớn treo Con của Mẹ, lúc Chúa Giêsu đang lịm dần, lúc máu chảy tràn từ cạnh nương long,  cũng là lúc Mẹ chết từng giây và tan nát tâm hồn.

Cũng thế, thánh Gioan chỉ là một người em út trong đoàn tông đồ, đã can đảm không kém để cùng với Mẹ Chúa Giêsu chứng kiến đến giây phút sau cùng của một đời làm người của Chúa Giêsu. Thánh Gioan thật xứng đáng với chức vị của ‘Người môn đệ được Chúa yêu.’Bởi vậy, Nhìn vào quang cảnh ấy, một lần nữa ta lại phát hiện ra rằng, chia sẻ thập giá Chúa, sao chỉ có những người yếu đuối về sức lực, nhỏ bé về thể xác lại lớn lao quá đổi về sức chịu đựng, quá đổi về sự dũng mãnh và can trường. Tất cả có được chỉ nhờ tình yêu. Hãy yêu để vác thập giá giữa đời mà bước đi với Chúa Kitô. Hãy yêu để xác quyết đức tin nơi thập giá cứu độ tuyệt vời ấy. Hãy yêu và hãy tin để sức mạnh của tình yêu và sức mạnh của niềm tin nâng đỡ sức người. Nhờ đó, cho dù bé nhỏ, mỏng dòn đến đâu, sức người vẫn có thể chấp nhận sức nặng của thập giá, không phải một lần mà một đời.

5. Kết luận: Nếu chỉ nhìn bằng cái nhìn hiện thực và lịch sử, bất cứ ai góp phần đưa đến cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá, cụ thể là những người Do-thái và La-mã của thời Chúa Giêsu, là hành động tội ác.

Nhưng nếu nhìn bằng ánh mắt đức tin, cái chết bi thương trên thập giá của Chúa Giêsu là một mầu nhiệm. Mầu nhiệm là bởi bạn và tôi đều cảm nhận rằng, ngay cả ngày hôm nay, bạn và tôi cùng có mặt trong vụ án Chúa Giêsu để cùng tham dự vào việc đóng đinh Người. Dẫu ta vẫn cùng nhau tuyên xưng rằng, Chúa chịu đóng đinh vì ta, thì ngay trong lời tuyên xưng ấy đủ để tố cáo chúng ta: bởi tội lỗi, cho nên đã cách xa hai ngàn năm, ta vẫn là một kẻ chối bỏ, một tiếng reo hò, một lời cáo gian, một sự sỉ vả hoặc chính là một cái đinh đóng vào thân thể Chúa Giêsu.

Nghịch lý về thập giá Chúa Kitô, một nghịch lý mà muôn đời sau phải ghi nhớ: nghịch lý về một Thiên Chúa vì yêu đã làm người, cúi xuống nâng phận người bé nhỏ lên. Nghịch lý về một Thiên Chúa tình yêu đã làm người chết thay cho muôn người. Nghịch lý về một Thiên Chúa đã sử dụng chính hành vi tội ác của con người để làm nên hoa trái của ơn cứu chuộc, quay lại cứu chuộc chính con người.

Từ những suy nghĩ về thập giá và nghịch lý của thập giá như thế, tôi muốn mời bạn cùng tôi cầu nguyện bằng một lời cầu nguyện ai đó đã viết khi ngắm nhìn những nghịch lý của thập giá Chúa Kitô:

Lạy Chúa,

Sao cứ để con giàu có dư dật

Nhưng lại mời gọi con phải sống khó nghèo?

Sao cứ cho con thành công, danh giá

Nhưng lại bảo con phải sống khiêm nhường?

Sao ban cho con một trí khôn minh mẫn

Nhưng lại để con ‘ngu dốt’ trong tình Ngài yêu con?

Sao đặt trong con một quả tim muốn độc chiếm

Nhưng lại muốn con phải mở ra với mọi người?

Sao dựng nên con một thân xác muốm hưởng thụ

Nhưng lại khuyên con phải phục vụ, hy sinh?

Sao để trong con mạnh mẽ một cá tính

Nhưng lại bảo con phải bỏ ý riêng mình?

 

Và tại sao ban cho con tất cả

Rồi lại dạy con phải bỏ hết để theo Chúa?

***

Chúa ơi, bây giờ con mới biết

Chỉ khi nào sống được nghịch lý này

Con mới hiểu ra một nghịch lý khác:

Nghịch lý về một kẻ phạm tội

Nhưng một người khác lại đền tội vì yêu!

Trở về Muc Lục

BÀI GIẢNG TRÊN NÚI... SỌ

Trần Duy Nhiên

Càng đến gần Tuần Thánh, mọi người lại càng hướng về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, và cao điểm của hành trình thương khó là cái chết của Ngài trên thập giá. Thần học và truyền thống đã nói nhiều về những đau đớn thể chất và tinh thần của Đức Giêsu, Đấng muốn mang trọn vẹn thân phận của loài người để biến đau khổ thành ơn cứu độ... Những giáo lý và truyền thống đó vẫn còn nguyên giá trị.

Thế nhưng, Mùa Chay này, tôi bỗng nghĩ rằng mình phải trực tiếp lắng nghe tiếng Chúa chứ không thông qua một ai, dù cho đó là truyền thống đáng kính của Giáo Hội.

Tôi tự nhủ rằng giáo huấn của Thầy thì nhiều và câu nào cũng có giá trị, nhưng những lời cô đọng nhất ắt phải là những lời trối trăn khi cái chết gần kề. Thật như vậy, trên thập giá, mỗi câu nói của Chúa Giêsu không chỉ là bản tóm lược các giáo huấn của Ngài, mà còn nói lên rõ mồn một rằng Ngài đã sống những điều Ngài dạy từng giây từng phút trong trọn cuộc đời mình. Tôi đã biết nhiều người thầy dạy: ‘Hãy làm điều tôi nói, đừng làm điều tôi làm’. Tôi không đủ kiến thức để biết được từ cổ chí kim có bao nhiêu bậc thầy sống trọn vẹn điều mình dạy, nhưng khi lắng nghe những lời trăn trối của Thầy Giêsu, tôi biết rằng Thầy của tôi là vị thầy đã sống không sai một li những điều Ngài dạy dỗ các môn sinh mình. Thế rồi tôi khám phá một sự thật làm tôi ngỡ ngàng: Thập Giá là nơi mà hạnh phúc của Đức Giêsu lên cao đến tuyệt đỉnh, và từ đó tôi hiểu rằng cuộc đời của Ngài ở thế gian là một cuộc đời hạnh phúc.

Lời nói của tôi hẳn gây chói tai. Người ta ghi khắc trong đầu tôi một Đức Kitô bất hạnh giữa thế gian này, và rồi dạy tôi phải đối diện với cuộc đời với bộ mặt u sầu đau khổ nếu tôi muốn làm một môn đệ Chúa Kitô. Nhưng những lời trăn trối của Thầy buộc tôi phải nhớ lại Hiến Chương Nước Trời, một hiến chương đặt hạnh phúc của tôi lên hàng tối thượng.

Lời dạy dỗ đầu tiên được ghi lại trong Tân Ước là bài giảng mà Đức Giêsu thực hiện trên một ngọn đồi thành Ca-phac-na-um. Bài giảng khởi sự bằng Tám Mối Phúc của một con người. Và nơi đồi Calvê, Chúa Giêsu cũng nói 8 lời, và mỗi lời đều chứng tỏ rằng Ngài đã sống từng mối phúc một. Chúa Giêsu đã đi đến tuyệt đỉnh của hạnh phúc nhân loại lúc Ngài hấp hối trên thập giá, bởi vì Bài Giảng Trên Núi Galilê đã được hoàn tất nơi Bài Giảng Trên Núi Sọ.

1. Phúc cho ai có tinh Thần nghèo khó: Lạy Cha, Con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha (Lc 23,46)

Chúa Giêsu đã sống nghèo vật chất: con chim có tổ, con cáo có hang, nhưng Con Người...’. Nhưng hơn cả nghèo vật chất, Ngài nghèo khó tinh thần. Ngài không có một ý muốn của Ngài, một tình cảm của Ngài, một lời nói của Ngài... Trọn đời Ngài, Ngài chỉ thực hiện ý muốn của Cha, chỉ truyền thông tình yêu của Cha, chỉ chuyển lại những lời Ngài nghe Cha nói. Người nghèo là một người hoàn toàn lệ thuộc một ai khác. Đức Giêsu hoàn toàn lệ thuộc Chúa Cha: ngay cả mạng sống, ngay cả linh hồn, Ngài cũng phó thác cho Cha... Trên thập giá, Ngài đã khó nghèo đến tuyệt đỉnh: Ngài hạnh phúc đến tuyệt đỉnh

2. Phúc cho ai hiền lành: Này Bà, đây là Con Bà (Ga 19, 26)

Chúa Giêsu là Đấng hiền lành và khiêm nhường trong lòng’ Hành động Trên Núi Sọ cho thấy cách thể hiện cao độ của sự hiền lành đó. Ngài mong mỏi Đức Mẹ chia sẻ trọn vẹn cuộc khổ nạn của Ngài và trở thành Đấng “Đồng Công Chuộc Tội”. Thế nhưng đường Ngài đưa Mẹ đi vẫn là con đường hiền lành chứ không phải là con đường áp đặt thô bạo. Trước giây phút phải vĩnh viễn xa lìa người Mẹ, Ngài giao Mẹ cho người môn đệ yêu thương để nối tiếp mình chăm sóc Mẹ. Trên thập giá Ngài đã đòi hỏi Đức Mẹ đến tột độ trong một thái độ hiền lành cũng tuyệt đỉnh: Ngài đã có phúc đến tuyệt đỉnh

3. Phúc cho ai sầu khổ: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con!” ( Mt 27, 46 ).

Ngài đã sầu khổ: sầu khổ cho những người bơ vơ như đàn chiên không chủ chăn, sầu khổ cho những người thấp cổ bé miệng bị gạt ra ngoài lề xã hội, sầu khổ cho những kẻ cứng lòng tin... Sầu khổ vì những kẻ nhân danh đạo đức lên án Ngài, sầu khổ vì một môn đệ phản bội Ngài, sầu khổ vì những tông đồ bỏ rơi Ngài, và nỗi sầu khổ cay đắng nhất là thấy chương trình của Cha dường như thất bại đến độ Người bỏ rơi Ngài và Ngài phải kêu van... dù cho lời kêu van ấy là câu khởi đầu cho một bài ca cảm tạ ngợi khen (Tv 22). Trên thập giá, Đức Giêsu đã sầu khổ đến tuyệt đỉnh: Ngài hạnh phúc đến tuyệt đỉnh

4. Phúc cho ai khao khát:Tôi  khát (Ga 19, 28)

Trong cuộc đời Chúa, Ngài đã có lần khát nước thực sự, chẳng hạn bên bờ giếng ở Samaria... Nhưng điều Ngài khao khát nhất, ấy là khao khát sự công chính, khao khát các linh hồn. Ngài sẵn sàng trao máu mình để cho mọi người sống bằng sự sống của Ngài, thế mà đến cuối đời, có vẻ như không ai nhận lấy sự sống ấy: Cơn khát của linh hồn và cơn khát trong thể lý đã lên đến tột đỉnh trên Núi Sọ, khiến Ngài phải mở miệng than vãn lần đầu tiên và duy nhất trong đời: Tôi Khát’. Trên thập giá, cơn khát của Ngài đã lên đến tuyệt đỉnh: Ngài đã hạnh phúc đến tuyệt đỉnh.

5. Phúc cho ai có lòng thương xót: “Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng” (Lc, 23, 43).

Suốt đời, bất cứ lời nói hành vi nào của Ngài cũng đầy tâm tình xót thương. Chính vì lòng xót thương mà Ngài buộc phải làm phép lạ; chính vì xót thương mà Ngài đã khóc cho Lazarô và cho Giêrusalem, chính vì xót thương mà Ngài đã bảo vệ cho người nữ ngoại tình, chính vì xót thương mà Ngài đã tha thứ cho Phêrô trước khi ông chối Ngài... Nhưng lòng thương xót ấy đạt đến cao điểm khi Ngài hứa đồng hành về Thiên Đàng với một kẻ trộm mà không hề thắc mắc gì về tội lỗi của người ấy: Ngài chỉ biết rằng người ấy là một kẻ bị đóng đinh bên cạnh Ngài, như Ngài. Trên thập giá, lòng thương xót của Ngài đạt đến tuyệt đỉnh: Ngài đã hạnh phúc đến tuyệt đỉnh.

6. Phúc cho ai có lòng trong sạch: Này Anh, đây là Mẹ anh (Ga 19,27)

Có lòng trong sạch nghĩa là không bao giờ có một ý nghĩ nào sai lệch. Người có lòng trong sạch là người mà lời nói luôn trung thực với ý nghĩ mình. Trong xã hội loài người, không thiếu gì trường hợp người ta nghĩ một điều mà lại nói một điều khác, vì cả nể, vì tư lợi, hay vì sợ hãi. Ngài là Đấng mà suốt đời Có thì nói có và không thì nói không”. Khi trao phó thánh Gioan cho Mẹ mình, Đức Giêsu thực sự muốn Mẹ Ngài yêu thương Gioan như yêu thương chính Ngài, và qua Gioan, tất cả nhân loại trở nên thực sự anh em Ngài. Ý nghĩ tha thiết nhất của Ngài tuôn ra thành lời nói cũng thiết tha nhất. Trên thập giá, lòng trong sạch của Ngài đã lên đến tuyệt đỉnh: Ngài hạnh phúc đến tuyệt đỉnh.

7. Phúc cho người xây dựng hoà bình: “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34 )

Trong sứ điệp Mùa Chay năm nay, Đức Thánh Cha ghi lại một chân lý muôn đời:Những biến cố trong cuộc sống hàng ngày chứng tỏ rõ ràng rằng sự tha thứ và hòa giải cần thiết biết bao cho sự canh tân cá nhân và xã hội Muốn xây dựng hòa bình, bình an, điều đòi hỏi tối cao là phải tha thứ, và cái tha thứ khó thực hiện nhất là tha thứ cho kẻ làm hại mình. Chúa Giêsu xây dựng Hoà Bình bằng cách tha thứ, và hơn thế nữa, Ngài cầu nguyện để xin Cha cũng tha thứ cho họ. Hãy yêu kẻ thù, và cầu nguyện cho kẻ bách hại”. Lời nói ngược đời này đã được chính Ngài thực hiện đến tuyệt đỉnh trên thập giá để kiến tạo hoà bình: Ngài hạnh phúc đến tuyệt đỉnh.

8. Phúc cho kẻ bị bách hại vì lẽ công chính. “Mọi sự đã hoàn tất”. (Ga 19, 30)

Cứ như thể Chúa Giêsu nói lời kết thúc cho bài giảng khởi sự trên núi Galilê và đến Núi Sọ mới chấm dứt. Cuộc đời Ngài là một cuộc đời bị bách hại vì lẽ công chính. Bị bách hại ngay từ ngày Ngài nhìn thấy đền thờ Cha Ngài ‘biến thành hang kẻ trộm’ và vắng bóng Thiên Chúa. Bị bách hại trong anh em nghèo khó của Ngài: Ta đói các người không cho ta ăn, Ta khát các ngươi không cho Ta uống...’. Bị bách hại vì lời Ngài bị coi là chói tai và họ ném đá Ngài. Và để cho ‘mọi việc hoàn tất’ cuộc bách hại ấy đã đưa Ngài lên Núi Sọ. Trên thập giá, cuộc bách hại đã đi đến cùng, đã được hoàn tất: Hạnh phúc của Ngài ở đấy đã hoàn hảo.

Trong ngôn ngữ Phúc Âm, tuyệt đỉnh của hạnh phúc là được kết hiệp với Thiên Chúa, và sự kết hiệp này còn được gọi là ‘hưởng Nước Trời’ hoặc ‘chết cho xác thịt’. Và chúng ta lại thấy sự trùng hợp giữa những lời thốt lên ở cả hai ngọn núi. Tại Galilê, mối phúc của người nghèo khó (thứ nhất) và của người bị bách hại (thứ tám) được kết bằng : “vì Nước Trời (hiện nay) là của họ’. Trên Núi Sọ, lời ‘phó thác linh hồn’ (tương ứng với nghèo khó) và lời ‘mọi sự hoàn tất’ (tương ứng với bách hại) đều được tiếp nối bằng ‘rồi ngài tắt thở’.

Khi một người hấp hối thì không còn tâm trí đâu mà kìm hãm miệng lưỡi mình, điều khiển phản ứng mình; chính vì thế mà trên thập giá con người thật của Đức Giêsu được bộc lộ không che chắn: Tám Mối Phúc Thật toát lên qua 8 lời nói cuối cùng của Ngài, lúc Ngài hưởng niềm hạnh phúc tuyệt đỉnh. Những lời này làm chứng cho giáo huấn của Ngài: Hiến Chương Nước Trời là con đường để cho môn đệ Ngài cảm nhận hạnh phúc khi họ chịu đóng trên thập giá như Ngài.

Tôi biết rằng những suy tư của mình rất gượng ép, rất chủ quan, và không có một cơ sở thần học nào. Nhưng có một điều hẳn không chủ quan tí nào, đó là Chúa Giêsu trên thập giá đã đạt đến tuyệt đỉnh của hạnh phúc trần gian. Nếu thập giá chỉ là khổ đau thì Ngài đã không đem thập giá mà bắt môn sinh Ngài vác. Tại sao chúng ta cứ nhất định biến Thầy Chí Thánh của mình thành một tay sadist, một kẻ bạo tàn thích gây đau đớn cho những người mình thương? Chính thập giá là nơi duy nhất mà Kitô hữu sẽ tìm thấy hạnh phúc, với điều kiện là phải chấp nhật ‘trút linh hồn’. Cái mất mát lớn nhất của Kitô hữu là không nhìn thấy hạnh phúc của mình trên thập giá: họ tiếp tục sống đời sống của những người chưa bao giờ cảm nghiệm thập giá, để rồi rao giảng một Đức Kitô tách rời với thập giá, nghĩa là một Đức Kitô vô phúc.

Nếu đến giờ này chúng ta vẫn còn nghĩ rằng thập giá là điều khổ nhục mà mỗi Kitô hữu phải nai lưng gánh chịu, để đền tội (chẳng lẽ Chúa Giêsu chưa đền đủ?), để lập công (chẳng lẽ chúng ta được cứu nhờ công trạng mình chứ không phải nhờ Chúa Giêsu?) hầu mai sau được hưởng phước đời đời; nếu ta nghĩ như thế, thì có nghĩa là chúng ta chưa hiểu gì về tám mối phúc thật mà Chúa Giêsu đã sống; và tội nghiệp hơn nữa, chúng ta không cảm nhận được cái hạnh phúc tuyệt đỉnh nơi thập giá. Có lẽ vì thế  mà thánh Phaolô đã lên tiếng kêu gào, khi ngài đang ở tù, đang bị đóng đinh, đang cảm nếm hạnh phúc: Tôi đã nói nhiều lần và y giờ tôi phải khóc mà nói lại: có nhiều người sống đối nghịch với Thập giá Đức Kitô (Pl 3, 18)

Trong Tuần Thánh, và nhất là vào ngày Thứ Sáu Tôn Vinh Thánh Giá, Kitô hữu mọi nơi thường hát: Vinh quang của ta là Thánh Giá Chúa Kitô, nơi Người ơn Cứu Độ của ta...” Lời hát này sẽ mãi là một ‘sáo ngữ’ ngày nào bạn và tôi chưa chịu đóng đinh với Chúa trên thập giá để cảm nếm được cái hạnh phúc tuyệt đỉnh của một người nghèo, hiền lành, đói khát, sầu khổ, trong sạch, bình an, xót thương và bị bách hại. Và nếu hạnh phúc Thánh Giá của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh - của hôm nay - chưa trở thành thành hiện thực trong mỗi một chúng ta, thì e rằng hạnh phúc Sống Lại của ngày Chúa Nhật Phục Sinh - của mai sau - sẽ chỉ là một ảo tưởng

Trở về Muc Lục

ĐỂ vào NưỚc TrỜi,
phẢi có tình yêu và lòng dũng cẢm

Nguyễn Chính Kết

1. Thái độ hèn nhát của Philatô

Trong bài Thương Khó Chủ Nhật lễ Lá (x. Mt 27,11-54), Philatô hỏi Đức Giêsu: «Ông là vua dân Do Thái sao?» Là một vị quan và là một nhà chính trị của đế quốc, ông có bổn phận phải xác định lập trường chính trị của Đức Giêsu để tùy theo đó mà xét xử. Vì thế, xác nhận mình là vua trước mặt Philatô là một điều khá nguy hiểm, thậm chí đến tính mạng, vì xưng mình là vua là mặc nhiên chống lại hoàng đế Rôma. Thế mà Đức Giêsu vẫn xác định như thế (Mt 27,11b). Tuy nhiên Ngài cũng xác định thêm: «Nước tôi không thuộc về thế gian này» (Ga 18,36). Chính vì xác định này mà Philatô nhận thấy Ngài không phải là một người đối lập nguy hiểm cho đế quốc Rôma.

Phải nói rằng Philatô cũng có ít nhiều lương tâm khi dám lên tiếng bênh vực Đức Giêsu: «Thế ông ấy đã làm điều gì gian ác?» (Mt 27,23); «Ta không tìm thấy lý do nào để kết tội người này» (Ga 18,38); «Ta không thấy người này có tội gì!» (Lc 23,14). Và ông đã thật sự tìm cách tha Đức Giêsu bằng cách đưa một tên cướp nổi tiếng ra cùng với Ngài để dân chúng lựa chọn tha cho ai. Ông đoán chắc dân chúng sẽ chọn tha cho Đức Giêsu. Ông nghĩ Baraba là một tên cướp nổi tiếng, nên nếu phải lựa chọn để tha một trong hai, ắt họ phải chọn Đức Giêsu. Nhưng ông không ngờ họ lại chọn Baraba và quyết tâm muốn Đức Giêsu phải chết. Quả là Philatô có phần nào hèn nhát khi đành phải chiều theo ý dân chúng để Đức Giêsu bị giết. Nhưng phải nói rằng ông đã tìm đủ cách để tha Đức Giêsu. Điều ông hy vọng cuối cùng để dựa vào đó làm cơ sở tha cho Ngài là chính Đức Giêsu tự lên tiếng biện hộ cho mình. Ông khuyến khích Đức Giêsu làm điều ấy: «Ông không nghe bao nhiêu điều họ làm chứng chống lại ông đó sao?» Nhưng hy vọng của ông tắt ngấm khi thấy «Đức Giêsu không trả lời về một điều nào», sự im lặng này «khiến ông rất đỗi ngạc nhiên», và làm cho ông không còn lý do nào mạnh mẽ để tha cho Ngài.

Chúng ta có thói quen kết án Philatô là hèn nhát, và quả thật ông có phần nào như thế. Nhưng nếu tự xét mình, thì chính chúng ta, nhất là những người có quyền lên tiếng trước công chúng, hay có nghĩa vụ phải bảo vệ công lý, có thể chúng ta sẽ nhận ra mình còn hèn nhát hơn Philatô rất nhiều. Thật vậy, đôi khi ta biết chắc chắn một ai đó là vô tội, thậm chí là người bênh vực Giáo Hội, bảo vệ chân lý hay công lý, nhưng bị kết án oan ức. Thế mà chúng ta đành chấp nhận thái độ hoàn toàn câm lặng, ngay cả một câu như Philatô: «Tôi không thấy người này có tội gì!» (Lc 23,14), chúng ta cách không đủ can đảm nói lên được, cho dù có nói thì ta cũng chỉ bị phiền hà đôi chút chứ chẳng đến nỗi nào. Vì thế, mạnh miệng kết án Philatô là hèn nhát, chúng ta không thể không cảm thấy ngượng ngùng.

2. Thái độ dũng cảm của Đức Giêsu

Trái với Philatô, sợ bị mất chức, sợ bị phiền nhiễu mà đành để Đức Giêsu bị xử án bất công, Đức Giêsu sẵn sàng chịu đau khổ, chịu chết để cứu mọi người, để làm chứng cho chân lý và công lý. Ngài sẵn sàng bênh vực các em nhỏ khi các tông đồ muốn la rầy xua đuổi chúng (x. Lc 18,15-17), Ngài dám chữa lành những con bệnh đến với Ngài cả vào những ngày nghỉ lễ (sabát) bất chấp sẽ bị phiền hà rất nhiều bởi những kẻ đạo đức giả (x. Ga 5,1-18; 9,1-41; Lc 6,6-11; 13,10-17; 14,1-6). Tình yêu và sự dũng cảm của Ngài đã được thánh Phaolô tóm gọn trong bài đọc 2: «Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự» (Pl 2,6-8). Tình yêu to tát đối với con người khiến Ngài không sợ bị mất địa vị, mất hạnh phúc đang có, mà sẵn sàng chịu đau khổ, chịu hủy diệt. Vì thế, Ngài rất xứng đáng là Vua trong Nước Trời, vương quốc của chân lý, công lý và tình yêu. Tư cách Vua Nước Trời đòi hỏi một tình yêu cao cả và một sự dũng cảm to tát như vậy.

Cũng vậy, để là công dân của Nước Trời, chúng ta cũng phải noi gương tình yêu và sự dũng cảm của Ngài. Nếu không, chúng ta sẽ không xứng đáng là công dân của vương quốc ấy. Làm sao chúng ta có thể vào vương quốc của tình yêu khi ta không có tình yêu hay không đủ tình yêu để có thể dũng cảm hy sinh chút ít theo sự đòi hỏi của tình yêu? Trong vương quốc của tình yêu, sự có mặt của những người không có tình yêu hay có quá ít tình yêu sẽ làm ô nhiễm môi trường tinh khiết ấy, và biến nó trở lại thành trần gian điên loạn này!

3. Để có được tình yêu và sự dũng cảm theo gương Đức Giêsu

Để xứng đáng vào Nước Trời, điều tối cần là chúng ta không những phải có tình yêu mà còn phải thể hiện tình yêu bằng lòng dũng cảm nữa. Đức Giêsu nói: Để vào Nước Trời, «ai cũng phải dùng sức mạnh mà vào» (Lc 16,16). «Sức mạnh» ở đây chính là sự dũng cảm của tình yêu. Sự dũng cảm trong tình yêu chứng tỏ tình yêu ấy là tình yêu đích thực, không chỉ trên môi miệng. Muốn có tình yêu và lòng dũng cảm ấy, ta phải thật sự nhận Đức Giêsu làm vua của tâm hồn mình. Nhận Ngài làm vua của lòng mình có nghĩa là coi mệnh lệnh của Ngài lên trên hết tất cả, sẵn sàng thi hành thánh ý của Ngài với bất cứ giá nào. Khi quyết tâm như thế và thường xuyên lập lại quyết tâm ấy hằng giờ hằng phút, đến nỗi nó trở thành ý thức thường hằng trong tâm trí ta, tâm hồn ta sẽ tự động được biến đổi nên giống Ngài. Như thế, nhận Ngài làm vua của tâm hồn mình, chính là chấp nhận để «cái tôi» của mình chết đi, cùng với tất cả ý riêng của nó. Chỉ khi «cái tôi» ấy thật sự chết đi, nghĩa là trở nên «đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người» (Pl 3,10), thì nó mới được phục sinh hay biến đổi thành «cái tôi» mới, «đồng hình đồng dạng với Người trong tình yêu và sự dũng cảm của Người». Chính khi ta thật sự tôn Ngài làm vua của tâm hồn ta, ta sẽ thấy mình thật mạnh mẽ, và sức mạnh ấy phát xuất từ chính Ngài

Trở về Muc Lục

 

MỪNG KÍNH THÁNH GIUSE

THÁNH GIUSE

NGƯỜI CHA CỦA ĐỨC GIÊSU

Trần Duy Nhiên

Nếu bạn hỏi mười người xem, ngoài Đức Mẹ, vị thánh lớn nhất đối với họ là ai, thì có sáu đến bảy người sẽ nói rằng đó là thánh Giuse. Nhưng nếu đề nghị họ kể bạn nghe những điều thánh Giuse đã làm thì rất ít người có thể nói một cái gì mới lạ; họ sẽ bảo rằng thánh Giuse là cha nuôi của Chúa Giêsu hoặc kể vài chuyện truyền kỳ về ngài mà ta không biết đúng sai đến độ nào: ví dụ như câu chuyện chàng thanh niên Giuse được chọn làm hôn phu của cô Maria vì cây gậy của chàng trổ hoa...

Ta hãy trở lại Kinh Thánh để xem các tác giả viết gì về thánh Giuse. Thánh Mat-thêu giới thiệu như sau:

Bà Maria thân mẫu của Đức Giêsu đính hôn với ông Giuse, nhưng trước khi chung sống thì đã có thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, vốn là người công chính, không muốn tố cáo bà công khai, nên định bỏ bà kín đáo. Ông tính làm như vậy thì có sứ thần của Chúa đến báo mộng rằng: “Này Giuse, đừng sợ rước Maria về...” Thức giấc, ông Giuse vâng theo sứ thần Chúa dạy rước vợ mình về nhà. (Mt 1, 18-24)

Bạn thuộc đoạn văn trên nằm lòng đến độ tôi rất ngại ngùng khi phải chép lại. Mọi chuyện đã rõ: thánh Giuse có do dự đấy, nhưng thiên sứ đã đến sắp xếp mọi việc và đâu lại vào đấy đúng với ‘chương-trình-mầu-nhiệm-của-Thiên-Chúa’

Mọi chuyện có thực sự xảy ra dễ dàng như thế không?

Tôi không chắc đâu.

Hình ảnh thánh Giuse luôn luôn là một cụ già râu tóc uy nghi, một người cha nhân lành và không biết thế nào là đam mê tuổi trẻ. Xin bạn nhớ cho: Cô Maria lúc ấy là một thiếu nữ vào độ tuổi 15-17, thế thì chàng hôn phu không thể là một ông già! Chàng Giuse lúc bấy giờ là một chàng trai đầy sức sống ở lứa tuổi đôi mươi. Chàng và Maria yêu nhau thắm thiết. Cặp tình nhân đẹp tuyệt vời, nhất là ở nét đẹp tâm hồn. Giuse thật hạnh phúc và bình an: một người như Maria thì không thể có gì bất trắc xảy ra khiến cho cuộc sống gia đình tương lai họ bị đe dọa.

Thế mà đùng một cái người hôn thê thánh thiện của chàng lại mang thai! Giuse có giàu óc tưởng tượng đến đâu cũng không thể hình dung nổi một tiếng sét giữa trưa hè chói chang như thế!

Thế nhưng, sự việc đã hiển nhiên như vậy đó. Dù vậy, tự thâm sâu, tình yêu của Giuse vẫn trỗi vượt. Ông không hề quay lại bản thân để cảm thấy mình bị lừa dối, bị xúc phạm, mà chỉ hướng về người yêu để tiếp tục tin rằng người hôn thê mình trong sạch vẹn tuyền. Ông không hề tra hỏi dằn xéo Maria một lời, ông im lặng ôm lấy nỗi đau và âm thầm trả Maria về với bí mật của cô.

Bạn sẽ bảo rằng tình yêu này đã được tưởng thưởng, bởi vì sau đó sứ thần đã đến trình bày mọi sự. Bạn có đi quá xa thực tế chăng?

Kinh Thánh ghi rõ: Sứ thần đến báo mộng...” Bạn thử sống lại hoàn cảnh của Giuse lúc ấy xem. Bạn có một người hôn thê, bỗng nàng có mang, bạn nằm mộng thấy thiên thần bảo rằng hôn thê mình chưa bao giờ liên hệ với một thanh niên nào và bào thai trong lòng là do phép lạ Thiên Chúa. Khi thức giấc, bạn có tin không? Tôi thì dứt khoát không. Thế mà Giuse đã làm gì nào? Thức giấc, Giuse vâng theo sứ thần rước vợ mình về nhà.” Đơn giản chỉ có thế. Đơn giản đến độ vô lý.

Vâng, thế đấy! Giuse vâng phục thánh ý Chúa một cách chóng vánh, quyết liệt và dứt khoát đến độ vô lý. Ông chỉ cần một dấu hiệu cỏn con là đọc được thánh ý Chúa và thực thi ngay lập tức: đó là lý do mà ông được gọi là người công chính’.

Còn bạn và tôi thì sao? Chúng ta có tự coi mình là công chính chăng? Chúng ta có sẵn sàng đón nhận thánh ý Chúa qua một dấu hiệu thật nhỏ và tuân theo mà không bàn cãi chăng? Hay chúng ta chờ đợi những phép lạ nhãn tiền và sau đó lý luận, mặc cả trước khi hành động?

‘Người công chính’ Giuse suốt đời là một người luôn thức tỉnh trước thánh ý Chúa, thức tỉnh ngay cả trong giấc ngủ. Bằng chứng? Bằng chứng là mỗi lần Chúa tỏ ý là mỗi lần ông nằm mộng.

Ngoài lần nằm mộng ở Nazaret thì ít nhất còn ba lần khác:

- Ở Bêlem: Sứ thần đến với ông Giuse báo mộng rằng: Hãy chỗi dậy, đem Hài nhi trốn sang Ai-cập... (Mt 2,3)

- Ở Ai-cập: Sứ thần hiện ra báo mộng cho ông Giuse ở bên Ai-cập bảo rằng: Hãy chỗi dậy, đem Hài nhi về Israel... (Mt 2,19)

- Ở Giuđê: Khi biết Akêlao thay Hêrôđê thì ông sợ, thế là theo như lời Thiên Chúa báo mộng ông lánh sang vùng Galilê (Mt 2,23)

Sở dĩ Giuse xác tín rằng các giấc mộng của mình đúng là thánh ý Chúa, ấy là vì cứ mỗi lần nằm mộng là mỗi lần ông phải quyết định ngược lại với mọi toan tính của mình.

Khi ông dự định âm thầm rời bỏ Maria thì Thiên Chúa bảo ông ở lại với hôn thê mình.

Ngược lại, khi ba vị đạo sĩ đến xác nhận vương quyền của Hài nhi và hẳn là người cha nuôi nghĩ rằng mình sẽ có thể thoải mái ở lại Bêlem cho đến khi con mạnh mẹ khỏe, thì chính lúc đó Chúa lại bảo ông trỗi dậy đi ngay, giữa đêm khuya, không hành trang, không tiền bạc; không phải về quê nhà mà sang Ai-cập để sống kiếp lưu đày. Ông nghĩ gì khi trước mặt là đường dài vạn dặm mà vợ yếu con sơ? Ông nghĩ gì khi ngày mai, ở xứ lạ quê người, tương lai ông cũng tối đen như trời khuya hôm ấy? Thánh Kinh nói rất gọn: “Giuse trỗi dậy, đem Hài nhi và Mẹ trốn sang Ai-cập ngay giữa đêm khuya (Mt 2,13). Lại thật đơn giản. Đơn giản đến độ vô lý.

Sau những ngày đầu khó khăn ở Ai-cập, giờ đây Giuse hẳn đã sắp xếp ổn định cuộc sống gia đình. Thế nhưng, một lần nữa, Chúa lại bảo ông phải bỏ tất cả mà ra đi. Ông nghĩ gì khi nhìn lại cơ ngơi mà ông đã xây dựng từ hai bàn tay trắng? Ông nghĩ gì khi nhìn về cái quê hương đã muốn giết hại con mình, rồi giờ này ông lại phải trở về mà không biết sẽ cư ngụ nơi đâu? Nhưng Giuse vẫn là Giuse. Giuse trỗi dậy đem Hài nhi và Mẹ về đất Israel(Mt 2,21). Cũng lại đơn giản đến độ vô lý.

Tất cả những truân chuyên mà Giuse gánh chịu rốt cuộc để làm gì? Phải chăng vì lợi ích bản thân? Tuyệt nhiên là không. Tất cả là để bảo vệ Hài nhi, mà có lần trong mộng ai đó đã bảo rằng Hài nhi ấy sẽ là vị cứu tinh dân tộc. Giuse không bao giờ đặt lại vấn đề. Không bao giờ ông cho rằng con trẻ gây cho ông quá nhiều rắc rối, ông chỉ một mực canh giữ con trẻ, người con do Thánh Thần, trong mọi toan tính hằng ngày.

Bạn và tôi có sẵn sàng trả giá để cho Chúa Giêsu luôn mãi sống trong mình chăng? Hay nhiều khi quá mệt mỏi, ta chỉ muốn yên thân lo toan chuyện của mình và bỏ mặc dung mạo Chúa Giêsu ra thế nào thì ra?

Giuse đã trả mọi giá để giữ gìn Giêsu, nhưng đôi khi sức người cũng có hạn. Trong chuyến đi Giêrusalem, năm con trẻ 12 tuổi, ông đã để Giêsu vuột khỏi tầm tay. Ba ngày ròng ông kiếm tìm, ba ngày ròng ông bà ‘đau khổ tìm con’. Và khi tìm thấy thì ông được gì? Một gáo nước lạnh tạt vào mặt:Sao lại phải tìm con? Các người không biết là con phải ở trong nhà của Cha con sao?” (Lc 2,49)

Cậu bé ấy khi ra đời chỉ là một hài nhi nằm gọn trong máng cỏ. Mười hai năm trời chịu kham chịu khổ để cho cậu khôn lớn thế này. Mười hai năm trời yêu thương để thêm da thêm thịt cho cậu thành một thiếu niên nặng cân như thế. Mà tình thương thì có nặng gì cho cam, phải tốn bao nhiêu tình thương cậu mới được như ngày hôm nay! Vậy mà một tiếng “Cha” Giuse cũng không được nghe. Ông không hiểu gì cả, nhưng ông vẫn đón nhận lặng thinh.

Và đấy cũng là chiều kích bất ngờ của thánh Giuse. Trong suốt bốn cuốn Tin Mừng, không thấy ghi lại một câu nói nào của thánh Giuse. Đức Maria được xem là mẫu mực của sự thinh lặng nguyện cầu, Người luôn ghi nhận và suy niệm trong lòng, thế nhưng cũng có 6 lần Người lên tiếng.   (2 lần ngày truyền tin, 1 lần trước Ysave, 1 lần khi tìm lại trẻ Giêsu, 2 lần trong tiệc cưới Cana). Còn thánh Giuse thì tuyệt đối không hề nói một lời. Ngay cả lần tìm lại con ở đền thờ, thì cũng chính người mẹ lên tiếng: Sao con lại làm như thế, cha con và mẹ đã đau khổ tìm con” (Lc 2,48)

Trong xã hội Do Thái lúc bấy giờ, phụ nữ là hạng người không đáng kể. Phúc âm thánh Mat-thêu ghi lại hai lần Chúa làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, lần đầu để nuôi 5000 người, không kể đàn bà và trẻ con, lần thứ hai 4000 người, không kể đàn bà và trẻ con (x. Mt 14,21; 15,38). Giuse biết mình là chủ gia đình, nhưng người lên tiếng vẫn là Maria.

Giuse sống cuộc sống càng ngày càng mờ để cho Đức Giêsu càng ngày càng sáng. Ông sống mờ nhạt đến độ những người trong thị trấn Nazaret không buồn nhớ đến tên ông, mà chỉ gọi là ‘ông thợ mộc’.

Theo thánh Mat-thêu và Mac-cô, khi Đức Giêsu trở về Nazaret sau những ngày rao giảng, người đồng hương bàn tán: “Ông ấy không phải là con ông thợ mộc và bà Maria sao?” (Mt 13,55; Mc 6,3). Sau này, khi viết lại Phúc âm, thánh Luca hẳn đã thấy cái chua chát đó nên đã sửa lại: Ông ấy không phải là con ông Giuse sao?” (Lc 4, 23).

Dù sao đi nữa, sự âm thầm của Giuse quả là một đặc trưng của thánh nhân. Âm thầm đến độ mà khi Đức Giêsu bắt đầu lên tiếng trong đời sống công khai, thì Giuse không còn được nhắc đến mảy may; thậm chí thánh nhân chết lúc nào, thế nào, ở đâu thì cũng chẳng ai nói đến. Trong cuộc đời công khai của Chúa thì thánh Giuse, người cha của Đức Giêsu, có vẻ như bị xem nhẹ hơn cả bà gia của Phêrô hay đứa con gái của Zairô.

Nhưng chính điều đó đã biến thánh Giuse thành một vị đại thánh, bởi vì ngài đã đem cuộc đời mình biến thành một Lời Chúa sống động.

Gioan Tẩy giả đã khiêm tốn rao giảng:Chúa phải lớn lên và tôi phải nhỏ lại”. Thánh Giuse đã sống điều đó mà không nói một lời.

Tiếng xin vâng’ của Đức Mẹ ở Nazaret và tiếng xin vângcủa Chúa Giêsu ở Getsêmani đã được hoà âm trong trọn cuộc đời thánh Giuse.

Và thánh Giuse sẽ mãi mãi là tấm gương cho bạn và tôi.

Tấm gương của một con người luôn luôn thao thức lắng nghe tiếng Chúa, và khi nghe được thì đáp lại không chần chừ dù cho phải trả giá.

Tấm gương của một con người luôn luôn làm đủ mọi cách để gìn giữ Chúa với mình, và nếu chẳng may lạc nhau thì đi tìm Chúa không ngơi nghỉ cho đến khi gặp lại.

Tấm gương của một ‘người công chính’, chỉ làm có mỗi một điều là trình bày Chúa Giêsu cho mọi người, rồi âm thầm xóa mình đi khi Chúa bắt đầu lên tiếng với các linh hồn

Trở về Muc Lục

 

CHIẾC CẦU THANG KỲ LẠ

Phạm Hoàng Nghị - viết theo Arthur Gordon

Một ngày đầu tháng chạp năm 1878. Mặt trời mùa đông chiếu lấp lánh trên mái ngói đỏ tươi của ngôi nhà nguyện Đức Mẹ Ánh Sáng và trên cửa sổ trường học của các nữ tu Loretto. Bên trong tu viện, Mẹ Bề Trên đang bận sắp xếp đồ đạc để đi xa thì nghe tiếng gõ cửa. Mẹ nói "Cứ vào đi" nhưng có vẻ hơi bực bội vì phải ngưng công việc lại.
            Sơ Frances Louise xin lỗi và bước vào:
            - Thưa Mẹ, lại một người thợ mộc khác mới đến. Con bảo ông ấy là Mẹ sắp đi bây giờ, không có thì giờ nói chuyện với ông, nhưng ông ấy nói...
            - Tôi biết ông ấy nói gì rồi, - Mẹ Magdalene trả lời - Chắc ổng nói ổng là thợ khéo nhất vùng New Mexico, ổng biết cái khó khăn của ngôi nhà nguyện mới cất của chúng ta, ổng chắc chắn là có thể làm được cái cầu thang lên gác đàn, mặc dầu cái ông kiến trúc sư giỏi giang ở mãi tận Paris đã vẽ họa đồ xây cất nhà nguyện mà lại đãng trí quên không để chỗ làm cầu thang, và có tới năm ông thợ cả đã đến thử mà làm không được. Sơ nói đúng đấy, tôi không có thời giờ nghe lại câu chuyện đó nữa đâu.
            - Nhưng coi ổng thật tử tế, ổng đang ở ngoài kia cạnh con lừa... Sơ Frances Louise nói tiếp.
            - Tôi biết chắc ổng là người tử tế rồi, và cả con lừa cũng dễ thương nữa. Nhưng bệnh đang hoành hành ở Santo Domingo, có thể là bệnh tả. Sơ Mary Helen và tôi phải đi bây giờ vì chỉ hai chúng tôi đã bị bệnh đó rồi nên được miễn nhiễm. Trong lúc chúng tôi đi xa, sơ ở nhà phải coi sóc trường học. Chỉ vậy thôi. Sơ nói với ổng trở lại trong khoảng hai hay ba tuần nữa.

Nói xong Mẹ cất tiếng gọi:
            - Manuela!
Một cô bé da đỏ khoảng 12 tuổi, tóc đen láy, rón rén bước vào không gây một tiếng động. Cô bé bị câm nhưng có thể nghe và hiểu. Các dì phước đã cố dậy nhưng cô không nói được. Mẹ bề trên nói thật dịu dàng:

     - Manuela, con mang đồ đạc của mẹ ra xe đi. Xe ở ngoài kia kìa.
            Rồi bà quay sang sơ Frances Louise:

     - Sơ ra nói với ông thợ mộc là tôi sẽ gặp ổng hai hoặc ba tuần nữa.

     - Hai hay ba tuần. Vậy là chắc mẹ sẽ về vào dịp Giáng sinh?
            - Còn tùy theo ý Chúa. Nhưng tôi cứ hy vọng như vậy.
            Từ chỗ cỗ xe đang đậu, Mẹ bề trên nhìn thấy ông thợ mộc đứng kia. Đó là một người khỏe mạnh cao lớn hơn những người Mễ quanh vùng, ông để râu, đôi mắt đen trên khuôn mặt dạn dầy sương gió. Cạnh ông đứng thật nhẫn nại một con lừa nhỏ da màu xám tro lưng đeo đồ nghề thợ mộc và những khúc gỗ. Cô bé Manuela đang đứng vuốt ve cái mũi con lừa và nhìn người thợ mộc mỉm cười e lệ.
            - Sơ nên giải thích cho ông thợ biết là con bé nghe được nhưng không nói được.

     Sau những lời từ biệt vội vã, chiếc xe ngựa đi theo hướng tây nam trên con đường đầy bụi về phía những rặng núi. Bên trái là dòng sông Rio Grande như một giải lụa xanh. Chiếc xe chạy chậm chậm. Trong xe, Mẹ bề trên và sơ Mary Helen hát thánh ca và kể chuyện Giáng Sinh, người tài xế dạn dày sương nắng chăm chú nghe, thỉnh thoảng gật gù cái đầu ra vẻ thích thú.

Hai ngày sau họ tới San Domingo mới thấy không có bệnh dịch tả nhưng là bệnh sởi, nhưng cũng đã gây chết chóc cho bao nhiêu em bé da đỏ. Họ làm việc luôn tay để phụ giúp với cha Sebastian lúc đó đã mệt nhoài. Họ đến thăm các em bé bị sốt đang cố chống chọi với căn bệnh chết người trong các ngôi nhà tối tăm vách làm bằng đất nện.

Trở lại Santa Fe nơi tu viện mà sơ Frances Louise có nhiệm vụ phải báo cho ông thợ mộc những lời Mẹ bề trên đã dạy là hai hay ba tuần nữa hãy trở lại. Ông quay lại nhìn khi Sơ bước tới. Sơ cảm thấy thật nhỏ bé như một đứa trẻ dưới cái nhìn chăm chú của ông.

     - Thưa ông, Mẹ bề trên phải đi Santo Domingo Pueblo vì đang có bệnh ở đó, hai ba tuần nữa Mẹ mới về, lúc đó ông hãy tới.
            - Vậy thì tôi không trở lại được đâu, nhưng tôi đã coi nhà nguyện rồi và chắc sẽ làm được cái cầu thang lên gác đàn. Thang sẽ có hai vòng trôn ốc và 33 bậc.
            Sơ Frances Louise cãi lại:
            - Nhưng đã có tới năm ông thợ chính không làm được. Họ bảo không có chỗ để làm trụ cho cầu thang dựa vào, vậy tại sao ông lại chắc là ông làm được?
            Một lần nữa đôi mắt ông nhìn Sơ chăm chú, nhưng rồi ông mỉm cười và nói:
            - Thang tôi làm không cần trụ dựa, và tôi làm được. Cứ tin tôi đi.
            Thật là chuyện trớ trêu đây. Sơ không có quyền cho người lạ mặt này làm cầu thang, nhưng thâm tâm lại tin chắc ông làm được. Sơ tin ổng. Mẹ bề trên chắc phải vui lắm nếu dùng được gác đàn hôm khánh thành nhà nguyện vào mùa xuân tới. Vậy Sơ nên làm gì bây giờ?
            - Tôi không làm rộn ai cả. Ngay cả Sơ cũng không biết có tôi ở đây đâu. Nhà nguyện thật đẹp, chỉ thiếu cái thang lên gác đàn, mà tôi thì làm được.

Sơ nghĩ bụng: Hai ba tuần nữa thì ông ấy không trở lại. Vậy đây là cơ hội duy nhất để hoàn thành ngôi nhà nguyện theo đề án của một kiến trúc sư người Pháp nổi tiếng. Cứ tưởng tượng sau bao ngày bực bội mà nay lại dùng được cái gác đàn thật đẹp....

     - Tôi không có quyền cho ông làm cầu thang đâu, nhưng bây giờ tôi bảo ông cứ làm đi.
            Người thợ mộc mỉm cười nói:
            - Sơ sẽ không phải ân hận đâu. Tôi bắt đầu ngay bây giờ đây.

Ông quay lại Manuela, đặt bàn tay lên đầu cô bé. Sơ vội nói là cô bé bị câm nhưng nghe và hiểu được. Ông trả lời:

- Vâng, tôi đã biết về Manuela rồi. Tôi phải đi làm đây. Nói xong ông hạ đồ nghề xuống khỏi lưng lừa.

     Sơ Frances Louise bước những bước run rẩy trở lại tu viện, dường như không tin được những gì nàng mới làm. Mẹ bề trên sẽ nói gì với Sơ khi trở về? Quả thật người thợ mộc l