NHỮNG VỊ MỤC TỬ KHÔNG NHÀ

Nguyễn Khánh Linh

Kính tặng Tân Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt - Giáo Phận Hà Nội

Nhân dịp lễ Quan Thầy và nhậm chức 19 tháng 3 năm 2005.

Đọc Tin Mừng và nhìn lại hai ngàn năm truớc, các Tông Đồ nghe tiếng gọi của Đức Giêsu, đã từ bỏ mọi sự lên đường rong ruổi và đi theo tiếng kêu mời của Đấng "Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” (Mt 8: 20). Theo dòng thời gian biến đổi, Giáo Hội phải thích ứng với cuộc sống, con người và thời thế, các vị mục tử, là những người kế vị các thánh Tông Đồ, lại được thừa hưởng gia sản phong phú, với những cơ sở vật chất lớn lao, phương tiện dồi dào. Thế nhưng vẫn còn đây đó, một vài ‘homeless bishops’ ‘những giám mục không nhà’. Ngoài những gương mặt lừng danh thế giới như TGM Dom Helder Camara tại Brazil, TGM Oscar Romero tại El Salvador hay GM Jacques Gaillot tại Pháp, còn rất nhiều vị khác âm thầm hơn như Đức Giám Mục Kenneth Edward Untener tại Hoa Kỳ và Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt tại Việt Nam

 

Đức Giám Mục Kenneth Edward Untener

Tháng 11 năm 1980, khi được thụ phong để nhận trách vụ cai quản giáo phận Saginaw, thuộc tiểu bang Michigan, vị giám mục 43 tuổi này đã ngỏ lời với đàn chiên mình: Tôi tên là Ken, tôi sẽ là người hầu bàn (waiter) cho anh chị em một thời gian dài. Và suốt 23 năm sau đó, ‘người hầu bàn’ đã biến thành hiện thực điều mà Đức Cha John R. Quinn, vị tổng giám mục lừng danh một thời của giáo phận San Francisco, trích dẫn thánh Cy-pri-a-nô, để nói về ngài, trong thánh lễ an táng ngày 1-4-2004: Chúng tôi không nói lời lẽ to tát, chúng tôi sống những lời ấy.”

Quả thật như vậy, vừa khi đến nhậm chức tại Saginaw, ngài bán đi lâu đài dành cho các giám mục, để sống cuộc đời rày đây mai đó từ giáo xứ này đến giáo xứ kia. Và ở tuổi 66, khi ngài trở về nhà Cha sau một đời rong ruổi, thì ngài đã từng di chuyển chỗ ở đến 69 lần, trên khắp 11 hạt của giáo phận mình.

Trên hành trình đăng đẳng đó, với trách vụ giám mục trên vai, ngài không bao giờ quên ơn trọng đại mà ngài đã lãnh nhận khi được thụ phong linh mục năm 1963. Suốt đời, ngài sẽ là một linh mục say mê với công việc của mình, và đặt hết tâm trí vào đó như một nghệ sĩ, mà không phải lo lắng đến việc gì nữa. 

Ngài từng viết: “Cách đây không lâu, tôi xem một chương trình truyền hình về một anh chàng sản xuất vĩ cầm (violon) và hồ cầm (violoncelle) tại một thành phố nhỏ ở Nebraska... Việc làm của anh ta cuốn hút tôi, vì một cách nào đó, đấy cũng là cách tôi hành động...”

Nghệ nhân ấy có tay nghề rất cao, dù tuổi đời còn trẻ. Anh ta chỉ thích làm đàn, và không lo nghĩ gì hơn là chỉ muốn làm những cây đàn có âm thanh thật hay. Khắp nơi trên thế giới người ta đến mua đàn của anh, nhưng anh cũng không bị áp lực phải mở thêm cửa hàng, bành trướng, thêm chi nhánh, kiếm thêm tiền. Anh ta chỉ làm điều anh thích, tức là giúp người nhạc sĩ có những cây đàn với âm thanh tuyệt vời. Đạt được như thế tức là anh ta đang làm đẹp cuộc đời, làm đẹp con người, làm đẹp thế giới mà Thiên Chúa đã tạo dựng. Và khi làm như thế, anh đã làm đẹp Đấng Sáng Tạo ra mọi loài, mọi sự tốt đẹp.

Công việc một linh mục coi xứ cũng như thế, ngài giải thích. Cha chỉ làm việc mình cần làm: soạn bài giảng, viết suy gẫm, nói lời cần thiết cho bổn đạo giữ Lời Chúa, cử hành phụng vụ, xức dầu bệnh nhân, làm lễ hôn phối, dọn mình cho con chiên chết lành, giảng giải và chia sẻ Lời Chúa. Con người bình thường hay bị những áp lực bên ngoài, động lực bên trong đòi hỏi: phải thăng tiến trong nghề nghiệp, phải có nhiều tiền hơn, người ta xem mình lái xe loại gì, mặc áo hiệu chi, ở nhà khu vực nào, nhà có tiện nghi hiện đại không…Bạn bè và người thân đều đánh giá con người trên những tiêu chuẩn đó.

Với tinh thần linh mục như thế, dù phải điều hành giáo phận, di chuyển không ngừng, nhưng đức cha vẫn có thời giờ viết sách, và trước tác một số loạt bài chuyên đề, giảng tĩnh tâm cho linh mục, hội nghị thần học, mục vụ trên toàn Hoa Kỳ, cũng như tại Alaska, Úc châu, và nhiều nơi trên thế giới. Hai cuốn sách của Ngài mang tên “Phụng vụ Ngày Chúa Nhật Có Thể Tốt Hơn” và “Giảng Tốt Hơn.” Ấy là chưa nói đến hàng loạt bài giảng được ghi lại trong bộ ‘Những Tập Sách Nhỏ cho Mùa Vọng, Mùa Chay và Phục Sinh’, cũng như về lãnh đạo. Trong các tập sách đó, ngài khuyến khích đàn chiên mình dành 6 phút mỗi ngày để cầu nguyện bằng cách suy niệm một đoạn Kinh Thánh.

Niềm vui của người làm công việc mình yêu thích, sự bình an và hạnh phúc đến từ việc phục vụ của người linh mục, chính là tự do, và là xưởng thợ cũng như nơi làm đàn vi-ô-lông của người nghệ nhân trẻ. Nói thế, nhưng Đức cha Untener cũng không hề có ý coi thường những nghề nghiệp tốt đẹp khác trong xã hội. Mỗi cuộc đời, mỗi con người sống trọn vẹn cho Chúa đều tốt đẹp, dù đó là bậc hôn nhân, độc thân, làm thương mại, hay phục vụ công ích. Nếu tất cả đều nhìn công việc mình làm để phục vụ tha nhân, để làm sáng danh Chúa, sử dụng tài năng Chúa ban cho, thì người làm như thế đã tìm được sự tự do, tìm được ngôi nhà của chính mình, tìm được sự bình an đích thực của người con Chúa, như lời của Thánh Vịnh 16, câu 5 và 6:

Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng,
       là chén phúc lộc dành cho con;
       số mạng con, chính Ngài nắm giữ.
      Phần tuyệt hảo may mắn đã về con,
     Vâng, gia nghiệp ấy làm con thoả mãn. 
(Bản dịch của Các Giờ Kinh Phụng Vụ)

Ngày 27 tháng 3 năm 2004, ngài nằm xuống như một người thợ gặt được nghỉ sớm vì đã hoàn tất công việc của mình. Bốn mươi năm linh mục, hai mươi ba năm giám mục, Kenneth Edward Untener luôn là một chủ chăn không nhà cửa, không tiếng tăm, dù từng là thành viên trong nhiều Ủy Ban của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ và là thành viên Ban Chấp Hành của Mạng Lưới Truyền Hình Công Giáo Hoa Kỳ. Một giám mục ‘hầu bàn’ theo chân Chúa Kitô là đấng hầu hạ môn sinh mình, và rồi chết đi mà không để lại một ấn tượng nào về bản thân mình, không làm một việc gì ngoạn mục trong đời. Nhưng chính vì ngài âm thầm mục nát đi như hạt lúa chôn vùi dưới đất để cho ngọn lúa Kitô lớn lên, nên ngài xứng đáng với những lời mà Đức Cha Quinn nói với ngài trong thánh lễ tiễn biệt cuối cùng:

Tôi nghĩ rằng Đức cha đã đề ra cho tất cả giám mục chúng tôi một thách thức dứt khoát, mạnh mẽ nhưng dịu dàng: ấy là phải sống Tin Mừng một cách minh bạch. Tôi từng thấy đức cha bị chỉ trích và hiểu lầm, thế nhưng đức cha đã nghe theo tiếng gọi Phúc Âm, mà không phản ứng lại một cách bực bội hay cay đắng. Đức cha đã đưa tất cả vào nội tâm và sống những lời trong thư thứ I của thánh Phêrô: “Chúa Kitô đau khổ vì anh em, và để lại cho anh em gương mẫu của Ngài... Bị nguyền rủa, Ngài không nguyền rủa lại...” (I Pr 22, 23). Lời rao truyền của đức cha trước mặt thiên hạ luôn cắm sâu trong thần học, bàng bạc một đức tin sống động, và mang dấu ấn của sự nhã nhặn đặc thù nơi một giám mục. Chiều sâu và sự khôn ngoan của đức cha là một đóng góp quý báu cho Giáo Hội…

 

Tân Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang KiỆt.

Một hình ảnh khác nhưng cũng mang âm hưởng và hình ảnh của vị chủ chăn không nhà: Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt, được gọi để phục vụ tại một giáo phận nghèo và hẻo lánh của tuyến đầu đất nước - Lạng sơn. Nơi đây,  đồng bào là những người dân quê hiền lành mộc mạc, đời sống rất khó khăn vì hậu quả của chiến tranh. Nước Việt Nam vốn đã chịu nhiều cảnh nghèo: dân nghèo, địa phương nghèo thì Giáo Hội ở đó cũng nghèo theo. Cùng hồi tưởng lại lời chia sẻ của ngài trong lời mở đầu của bài hội thảo tại Đại Hội Giáo Lý do Tổng Giáo Phận Los Angeles tổ chức và tân Tổng Giám Mục Hà Nội là diễn giả: ‘Tháng 10 năm 2000, tôi được hân hạnh tham dự đoàn hành hương Năm Thánh của một số Giám mục Việt nam. Trong dịp vào chầu Đức Thánh Cha, Đức Tổng Giám mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, bây giờ là Hồng Y đã giới thiệu tôi là một giám mục 3 không: không có toà giám mục, không có nhà thờ chính toà, không có linh mục tu sĩ. Và Đức Thánh Cha đã gọi tôi là homeless bishop.’...  ‘Chỉ có một mình, nên tôi miệt mài dong duổi. Hết xứ nọ sang xứ kia. Hết làng này sang làng khác. Ở trên xe nhiều hơn ở trong phòng. Ở trên đường nhiều hơn ở trong nhà. Trời đất là quê hương. Núi rừng là giáo phận. Đường là nhà. Xe là phòng. Cứ đi không ngừng…’

Vâng, vị Tông Đồ mục tử ấy, Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, quê quán ở chính nơi được gọi về phục vụ như là vị mục tử ngày nào ‘không nhà’ ở Lạng Sơn. Ngài sinh ngày 4 tháng 9 năm 1952 tại Mỹ Sơn, Lạng Sơn. Được đào tạo tại Tiểu Chủng viện Têrêsa, thuộc giáo phận Long Xuyên rồi theo học tại Đại Chủng Viện Tôma, trong cùng giáo phận. Hoàn cảnh đất nước đổi thay, nhiều khó khăn cho các ơn gọi và tâm hồn ước ao tận hiến; nhưng với riêng ngài, tuân phục ơn Chúa dẫn đưa và lòng kiên trì theo đuổi, mùa hè năm 1991 ngài được chọn bước lên bàn thánh cử hành sứ vụ linh mục. Sau thời gian phục vụ tại Nhà Thờ Chính Toà Long Xuyên, ngài được theo học tại Institut Catholique de Paris, Pháp. Khi về nước, cũng tiếp tục phục vụ tại giáo phận nhà cho đến khi trở thành Giám mục coi sóc giáo phận quê quán mình. Tại đó, ngài đã chia sẻ với những giáo dân nghèo và lam lũ trong thân phận hẩm hiu với họ. Một giám mục phục vụ dân nghèo thì làm gì có mũ gậy quyền bính, nhưng là một ông từ quét dọn nhà thờ nghèo xơ xác, vừa làm ca trưởng và cũng vừa là giáo lý viên, và là linh mục cử hành các bí tích, mục vụ cho những người dân bản làng. Ấy thế mà ngài vẫn dành thì giờ để viết những loạt bài chia sẻ Tin Mừng hàng tuần, và cùng với một số linh mục anh em biên soạn sách vở, dịch thuật để giúp cho dân Chúa thêm lương thực cho đời sống đức tin.

 Chạnh Lòng Thương - khẩu hiệu của Đức cha Giuse khi được gọi làm Giám Mục đã được ngài sống hết nình qua những thể hiện của những hy sinh chính bản thân mình. Bất kể thì giờ, mưa nắng, trong những năm tháng qua, ngài đã cùng với dân làng ở Lạng Sơn tìm kiếm lại khuôn mặt Đấng đã Chết và Sống Lại cho họ bấy lâu đã nhạt nhoà. Mà ở đó, theo ngài ‘…Biết bao tâm hồn thiện chí đang khao khát chờ đợi ta. Biết bao niềm tin câm lặng đang chờ dịp tỏ lộ. Biết bao nỗi mất mát đau thương chờ được thông cảm. Biết bao cảnh lầm than cơ cực chờ được nâng đỡ. Những tiếng mời gọi tha thiết nhưng rất âm thầm. Phải mở lòng ra mới nghe thấy. Phải mở trái tim ra mới hiểu được. Hôm nay tiếng Chúa vẫn vang lên qua những lời giáo huấn của Hội thánh. Tiếng Chúa vẫn mãnh liệt trong tâm hồn mỗi vị mục tử. Tiếng Chúa bàng bạc, âm thầm nhẹ nhàng nhưng sâu thẳm tha thiết “Hãy ra khơi truyền giáo.’ (Hội Thảo 20/2/2005, ĐHGL Los Angeles).

Tháng 5 năm 2003, bận rộn hơn vì nhiệm vụ mới, rong ruổi hơn khi ngài được gọi về phục vụ trong nhiệm vụ Giám Quản Tông Toà Hà Nội vì Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng đến tuổi về hưu. Rày đây - Lạng Sơn, mai đó - Hà Nội, bận rộn như con thoi chạy đi chạy về vì việc nhà Chúa và bổn phận. Thứ bảy 19 tháng 3 sắp tới đây, đúng vào ngày lễ Quan Thầy Giuse, ngài được chính thức tấn phong Tổng Giám Mục Giáo Phận Hà Nội. Xin hiệp lòng tạ ơn Chúa và chúc mừng Giáo phận Hà Nội có được vị chủ chăn trẻ tuổi, khôn ngoan và thánh đức. Thành phố lớn, người đông, hoàn cảnh tế nhị hơn, hẳn rồi Tân Tổng Giám Mục Giuse sẽ cần phải rong ruổi nhiều hơn, bởi ở đó, những con đường cần phải mở là trong lòng người (Religious Education Congress – Los Angeles, Hội Thảo 19/2/2005). Cầu nguyện xin Thánh Quan Thầy Giuse, cầu bầu gìn giữ Đức Tổng Giám Mục trong nhiệm vụ mới để phục vụ và chăm lo cho đời sống đức tin và tinh thần hiệp nhất cho cộng đoàn dân Chúa nơi đây. Hiệp lòng cầu nguyện cho ngài luôn được sống như lời đã chia sẻ “Tôi hăng hái ra đi không ngừng vì tôi tin tưởng vững chắc rằng việc truyền giáo là của Chúa. Tôi chỉ là dụng cụ. Tôi an tâm vì tôi biết rằng Chúa không để tôi cô đơn. Chúa hằng ở bên tôi như lời Ngài đã hứa : ‘Này đây Thày ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.’ Amen!●

 

Trở về Muc Lục