Số 41, Ngày 26-3-2005

Xin gửi đến Quý cộng tác viên và độc giả lời chúc mừng đang rền vang trên toàn thế giới:

Mừng Chúa Phục Sinh! Joyeuses Pâques! Felices Pascuas! Buona Pasqua!

Frohe Ostern! Happy Easter! Kαλό Πασχά!

HALLELUIAH!

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Chúa Kitô Phục Sinh – Lm. Vũ Xuân Hạnh

Hãy Phục Sinh Đức Kitô Trong Tâm Thức Ta – Nguyễn Chính Kết

Chúng Ta Nay Đã Phục Sinh!- Khổng Nhuận

Cách Tính Ngày Chúa Nhật Phục Sinh Maranatha sưu tầm

Chúa Giê-su ‘Sống Lại’ Hay ‘Trỗi Dậy’? - Nguyễn Công Bình

Làm Thế Nào Để Bài Giảng Sống Động Hơn? – Lm. Christopher Chatteris S.J.

Những Giọt Lệ Ngày Đầu Tuần - Trần Duy Nhiên

Học Bạ Của Giêsu- Sưu - Sưu tầm

Nếm Thử Mà Xem - Sưu tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa Quý độc giả,

Một trong hai tác phẩm bất tử của đại văn hào Léon Tolstoi có tên là PHỤC SINH (BOCKRECEHIE - Phiên âm: Va-skri-xê-nhi-ê). Cuốn tiểu thuyết này nói về tiến trình của hai biến cố phục sinh. Biến cố phục sinh thứ nhất xảy ra ở tại một làng quê. Theo tục lệ của Chính Thống giáo, sau khi dự thánh lễ đêm Phục Sinh, từng cặp chào mừng nhau. Một người xướng: Chúa Kitô đã sống lại, và người kia đáp: Người đã sống lại thật”; rồi hai người ôm hôn ba lần để trao niềm vui cho nhau. Chính lễ nghi này đã khiến ông hoàng Neklioudov, trong một lần về thôn quê, ôm hôn người hầu gái của bà cô mình và xuất thần cảm nhận tình yêu. Trong khoảnh khắc thánh thiện ấy, ‘tình yêu đã đạt đến tuyệt đỉnh, nơi không còn mảy may gì là suy nghĩ, là xác thịt, mà chỉ là sự hợp nhất giữa hai người.’ Cũng vì giây phút thần thiêng ấy mà cô hầu Caterina đã trở thành người tình một đêm của ông hoàng kia, để rồi ông trở về thành phố mà không còn bận tâm gì đến hành vi của mình trong cái đêm Phục Sinh nông thôn ấy.

Biến cố phục sinh thứ hai xảy ra nhiều năm sau đó. Ông hoàng Neklioudov ngồi ghế bồi thẩm đoàn để xem người ta kết tội một cô gái thứ dân phạm một tội không rõ rệt. Cô gái ấy chính là Caterina mà ông hoàng đã ân ái một đêm rồi xóa đi trong ký ức. Ông nhận ra rằng hành động vô trách nhiệm của mình đã đẩy cô gái xuống vực thẳm và giờ đây bị kết án oan. Lương tâm bừng dậy, ông đã bỏ lại tất cả, theo cô gái suốt hành trình đi đày đến tận Sibêri và chia sẻ mọi cơ cực của những kẻ tù đày... để rồi cuối cùng đã xin được ân xá cho Caterina, và cũng là ân xá cho tâm hồn mình. Tiến trình Phục Sinh thứ hai này là đoạn đường dài nhất trong 600 trang sách. Thế nhưng tiến trình Phục Sinh này không được nêu lên một cách minh nhiên mà đòi hỏi độc giả phải tiếp tục suy tư tìm kiếm.

Hai tiến trình Phục Sinh ấy gợi ý cho chúng ta tiếp cận giáo huấn của Giáo Hội. Bài Tin Mừng theo Thánh Gioan được Giáo Hội chọn đọc trong thánh lễ Ngày Phục Sinh chỉ nói đến ngôi mộ, cùng với khăn liệm..(Ga 20, 1-10). Điều mà các Tông Đồ gặp chỉ là một ngôi mộ trống, chứ không phải là Chúa Kitô Phục Sinh. Họ trở thành những Kitô hữu nhiệt thành, không phải là vì nghe ai đó kể về biến cố Phục Sinh mà vì chính Đức Kitô đã được phục sinh trong tâm hồn họ. Vì sao tôi có thể nói thế? Thánh Gioan đã xác tín điều này trong một câu rất ngắn nhưng âm vang thật dài thật sâu: Ông đã thấy và ông đã tin.(Ga 20, 8).

Chữ ‘tin’ trong Phúc Âm Thánh Gioan là cả một khung trời. Không phải như tôi tin ở Pháp có tháp Eiffel, tin ở Mỹ có một người thu nhập bằng tất cả dân Việt Nam cộng lại, tin ở Ý có người tìm ra thuốc trị ung thư. Những điều tin ấy chẳng đụng chạm gì đến bản thân tôi, đến ngôi nhà lụp xụp, đến đồng lương ít ỏi, đến những chán chường ngao ngán khi buổi chiều về kẹt xe trên xa lộ sau giờ tan sở, đến những căng thẳng của công việc và giao tiếp hàng ngày, đến nỗi cô đơn, căn bệnh nhức mỏi của tôi... Và cuộc đời của tôi vẫn thế, dù có tin hay không. Trái lại, đức tin của Tông Đồ Gioan chính là một sự sống thay đổi cả đời ông, và chỉ có Đấng Phục Sinh trong ông mới khiến cho ông thấy cuộc đời mình không còn như cũ nữa.

Xét cho cùng, đối với bạn và tôi, những gì người khác kể về Đức Kitô Phục Sinh - cho dù người ấy có thánh thiện và khả kính đến đâu - thì cũng không quan trọng lắm. Điều họ trình bày rốt cục cũng chỉ là một ngôi mộ trống! Điều thật sự quan trọng là Đức Kitô phải sống lại trong bạn và trong tôi, bởi vì nếu Ngài sống lại cho mọi người mà không sống lại trong tôi, thì Mầu Nhiệm Phục Sinh chẳng có ý nghĩa gì đối với tôi cả, và niềm tin của tôi đối với Chúa đã Phục Sinh cũng chẳng khác gì tôi tin có một ông tư bản giàu sụ bên Mỹ bên Tây. Thế nhưng làm sao biết được rằng Chúa Đã Phục Sinh trong bản thân mình.

Ta trở lại với tiểu thuyết Phục Sinh của Léon Tolstoi. Ông hoàng Neklioudov đã thông qua hành trình cam go đến với miền giá lạnh Sibêri, đã đối diện với đau khổ, đã chứng kiến cảnh tù đày phi nhân... để rồi ông thực sự phục sinh. Chương cuối cùng của cuốn sách trứ danh kia hầu như dành trọn vẹn cho những trích dẫn Phúc Âm, trước khi kết thúc bằng câu sau đây: “Kể từ đêm hôm ấy, một cuộc sống mới khởi sự cho Neklioudov, không phải vì điều kiện sống của ông đã thay đổi, nhưng bởi vì kể từ giây phút ấy, mọi biến cố trong cuộc đời đều mang một ý nghĩa khác.”

Mọi biến cố trong cuộc đời tôi mang một ý nghĩa khác: đấy là thước đo để biết xem Thiên Chúa đã phục sinh trong bản thân tôi hay chưa.

Hướng về ‘một ý nghĩa khác’ cho đời sống Kitô hữu, Maranatha tuần này gần như dành trọn cho biến cố Phục Sinh, qua những học hỏi và suy nghĩ nhiều hướng khác nhau. Và điều tiên quyết, ấy là mỗi Kitô hữu cần đón Chúa Kitô Phục Sinh đến ngự trong tâm hồn mình, bằng lời cầu nguyện trường kỳ: Maranatha, Lạy Chúa Kitô, xin ngự đến!

MARANATHA 

Trở về mục lục >>


 

MỪNG CHÚA PHỤC SINH 

CHÚA KITÔ PHỤC SINH

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Chiếm vị trí quan trọng trong Kitô giáo, Mầu Nhiệm Phục Sinh trở thành mầu nhiệm trung tâm của niềm hy vọng vĩnh cửu mà loài người mong đợi. Bởi thế không lạ gì thời gian cử hành mầu nhiệm Phục sinh là thời gian cao điểm của cả năm phụng vụ. Vì là mầu nhiệm cao cả, lễ Phục Sinh trở thành Đại lễ mà không lễ nào có thể vượt qua.

Nhưng không phải chỉ có phụng vụ mới nhấn mạnh tầm quan trọng của lễ Phục sinh. Đúng hơn, phụng vụ chỉ dựa trên những gì đã được mạc khải, vì thế ta hãy nhìn lại chính lời mạc khải của Chúa từ trong Thánh Kinh, nhất là nơi các sách Tin Mừng như nền tảng của đời sống Giáo Hội để mà suy nghĩ, để cầu nguyện và để sống.

Chỉ nơi bốn sách Tin Mừng mà thôi, ta đã có đến 131 câu đề cập đến biến cố Phục sinh, kể từ lúc các phụ nữ đi thăm mồ từ sáng sớm, đã phát hiện ra ngôi mộ trống và được báo cho biết Chúa đã sống lại, đến biến cố thăng thiên. Sách Công vụ Tông đồ và các thư Tân Ước còn cung cấp thêm 160 câu về đề tài Phục Sinh của Chúa chúng ta. Chỉ riêng thánh Phaolô đã có 22 lần nhắc đến.

Không ai phủ nhận rằng, Mầu Nhiệm Nhập Thể của Chúa Kitô là mầu nhiệm có tầm quan trọng. Vì khởi đi từ mầu nhiệm này, Con Thiên Chúa làm người. Phải có một con người - Thiên Chúa ấy, thì hôm nay mới có Đại lễ Vượt qua thánh thiện này. Biến cố Giáng Sinh còn là một sự kiện lịch sử quan trọng, không chỉ vì biến cố ấy trở thành cái mốc quan trọng của thời gian, nhờ đó loài người biết được năm tháng ngày giờ, nhưng biến cố nhập thể còn quan trọng hơn nhiều trong niềm tin vào một dòng lịch sử có bàn tay Thiên Chúa đang điều khiển từng ngày, để hướng dẫn, lèo lái mọi biến cố lịch sử theo ý Ngài: lịch sử cứu độ. Chính biến cố nhập thể ấy, đã làm cho lịch sử cứu độ lật sang trang mới. Và Đấng Phục Sinh hôm nay là trung tâm của cả dòng lịch sử đang trôi giữa mọi chiều kích lịch sử của con người và thế giới. Bởi thế, không ai còn nghi ngờ rằng, mầu nhiệm Nhập thể và Giáng sinh là mầu nhiệm rất quang trọng. Thế nhưng mầu nhiệm quan trọng ấy chỉ được nhắc đến ít hơn nhiều so với mầu nhiệmVượt Qua.

Vì sao sự Phục sinh của Chúa Kitô lại quan trọng như thế? Là bởi vì Kitô giáo không bao giờ là một mớ lý thuyết trừu tượng, nhằm cung cấp một hệ thống giáo điều hay tín lý. Nhưng Kitô giáo trước tiên là một phẩm vị, là một lẽ sống, là chân lý được cụ thể nơi một con người. Con người ấy cũng chính là Con Thiên Chúa đã đến trần gian, sống trong trần gian và dạy người ta phải sống các giá trị cao cả, các giá trị mang chiều kích thánh thiêng hướng về Thiên Chúa: “‘phúc cho các ngươi là những kẻ nghèo’; ‘phúc cho các người là người hiền lành’; ‘phúc cho các ngươi là những người phải chịu đau khổ’; ‘phúc cho các ngươi là những người ao ước trọn lành’; ‘phúc cho các ngươi vì các ngươi biết xót thương’; ‘phúc cho các ngươi vì đã giữ lòng trong sạch’; ‘phúc cho các ngươi là người mang lại bình an’; ‘phúc cho các ngươi vì lẽ đạo mà bị bắt bớ.”

Vì Kitô giáo đặt trung tâm vào Chúa Kitô, bởi thế tất cả những gì là chân lý Kitô giáo phải thuộc về một chân lý nguồn, chân lý mà từ đó phát xuất mọi lẽ sống. Do đó, những giá trị cao cả hướng về Thiên Chúa được tóm gọn trong các mối phúc ấy, đã bị người đời đóng đinh cùng với Đấng đã từng giảng dạy nó. Và hôm nay, hay cho hết mọi thời, nếu loài người đã đóng đi Giêsu, thì những giá trị mà Giêsu rao giảng cũng đã chết một cái chết đáng thương như chính Giêsu vậy.

Nhưng không, Giêsu đã chiến thắng. Giêsu là một con người rất bình thường, nhưng cũng là một Thiên Chúa mà tình yêu của Người có sức cứu độ diệu kỳ. Vì thế, một khi Giêsu đã bước ra khỏi mồ, đã toàn thắng, đã khải hoàn phục sinh, thì tất cả những giá trị cao cả mà Giêsu đã rao giảng, đã sống, và đã chết cho nó, trở thành những giá trị vĩnh cửu, những giá trị mà tất cả những ai nghe theo và sống, sẽ mang trong mình chiều kích phục sinh như chính Giêsu, Đức Chúa chúng ta.

Bởi thế, nếu giáo thuyết của Chúa Giêsu có cao đến đâu, siêu phàm cách mấy, nhưng bản thân Người không phục sinh, Người chỉ là một kẻ nói dối, một tên bịp bợm. Và những giáo thuyết ấy sẽ không có bất cứ một giá trị nào. Nhưng hôm nay Chúa Giêsu đã sống lại và vẫn đang sống, sống đến muôn đời, cho nên nếu Kitô giáo là chân lý cụ thể nơi một con người mang tên Giêsu,  và chính Đấng mang tên Giêsu là trung tâm của Kitô giáo, thì giáo thuyết của Người là một giáo thuyết tuyệt đối, một giáo thuyết chứa chan niềm an ủi, niềm hy vọng và vĩnh cửu.

Tắt một lời: Đối với Kitô giáo, chỉ có Chúa Kitô, nhờ Chúa Kitô, và trong Chúa Kitô, mọi giá trị của cuộc sống trở thành vĩnh cửu. Trung thành với giáo huấn của Chúa Kitô, Kitô giáo mãi mãi đặt niềm hy vọng cánh chung của mình nơi Người. Bởi thế mà Phục sinh trở thành Đại lễ, và niềm tin phục sinh chiếm chỗ quan trọng trong mọi sinh hoạt của đời sống Giáo Hội, đi từ Lời mạc khải của Thánh Kinh, đến phụng vụ, và đến từng ngõ ngách của đời sống riêng tư nơi mỗi Kitô hữu. Vì nói như thánh Phaolô: Nếu Chúa Kitô không sống lại, chúng ta là những người vô phúc nhất, ngu đần nhất, vì đã đặt tin tưởng và một chuyện hảo huyền. Nếu Chúa Kitô đã không sống lại, ta vẫn mang tội lỗi ở trong mình, không ai có thể giải cứu được, không ai đưa ta đến gặp Thiên Chúa được. Nếu Chúa Kitô không sống lại, thập giá chỉ là dấu của nhục nhã, đau khổ của con người sẽ không có lối thoát, cái chết của con người sẽ là đường cùng, là ngõ cụt (1Cr 15, 12 tt).

Lạy Đấng Phục Sinh là Đức Chúa chúng con tôn thờ, chúng con tin Chúa và hy vọng vào Chúa, vì chỉ có Chúa, Đấng Phục Sinh duy nhất mới có thể đưa chúng con đến với Thiên Chúa. Xin ban bình an cho chúng con, để dù vác thập giá nặng nề đến đâu, dù thập giá có làm chúng con ngã xuống vì hết sức, vì tàn hơi, chúng con vẫn can đảm đặt niềm tin và hy vọng vào Chúa, Đấng Phục Sinh vinh hiển đang đổ tràn Ân Sủng Phục Sinh trong cuộc đời chúng con

Trở về mục lục >>

 

 

HÃY PHỤC SINH ĐỨC GIÊSU
TRONG TÂM THỨC TA

Nguyễn Chính Kết

1.      Đức Giêsu đang sống hay đã chết trong tâm hồn ta?

Đức Giêsu đã sống lại. Điều ấy có ảnh hưởng gì đến ta không? Đức tin dạy ta rằng: «Nếu Đức Kitô không phục sinh, thì niềm tin và lời rao giảng của chúng ta là ích»  (1 Cr 15,14). Thật vậy, nếu Đức Giêsu không sống lại, thì cho dù có Ngài, cũng sẽ không có Kitô giáo, vì người ta không có một bằng chứng cụ thể và chắc chắn nào để tin rằng Ngài là Con Thiên Chúa. Và nếu như thế, ta cũng như mọi Kitô hữu khác đều chẳng phải là Kitô hữu, và lúc ấy đối với ta, Đức Giêsu cũng chỉ là một đạo sư như bao đạo sư khác. Nhưng nếu Ngài đã thật sự phục sinh và ta đã là Kitô hữu, thì sự phục sinh của Ngài có ảnh hưởng gì đến ta một cách hiện sinh không? Có làm ta thay đổi cuộc sống hiện nay của ta không? Biết bao lễ phục sinh qua đi, mà lòng ta hay cuộc sống ta đâu có gì thay đổi! Ta vẫn là ta, vẫn có biết bao thói hư thật xấu như trước, chẳng thay đổi bao nhiêu, đôi khi tệ hơn!

Tại sao? Vì ta đã coi sự phục sinh của Đức Giêsu như một biến cố xảy ra hoàn toàn ở bên ngoài ta, chứ không xảy ra chút nào trong bản thân ta cả. Một nhà tu đức nói: «Nếu Đức Giêsu chỉ sinh ra tại Bêlem, chỉ sống tại đất nước Do Thái, chỉ chịu chết trên đồi Canvê, và chỉ phục sinh trong lịch sử cách đây 2000 năm, mà không sinh ra, sống, chịu chết và phục sinh ngay trong tâm hồn ta, tại đây và lúc này, thì tất cả những biến cố ấy của Ngài đều hoàn toàn vô ích đối với ta». Vì thế, điều quan trọng để sự phục sinh của Ngài có ích lợi cho ta, là Ngài phải phục sinh ngay trong bản thân ta, trong tâm thức của ta.

Theo niềm tin và sự tuyên xưng của ta, Ngài vẫn đang sống và hiển trị, nhưng dường như tất cả đều xảy ra ở bên ngoài ta. Còn ở trong ta, trong tâm thức ta, Ngài đã chết và đã được an táng từ lâu. Thỉnh thoảng ta chỉ tưởng nhớ đến Ngài như một người đã sống cách đây 2000 năm, tương tự như ta vẫn nhớ đến ông bà tổ tiên ta, hay đến một đức Trần Hưng Đạo nào đấy trong lịch sử. Trong tâm thức ta, Ngài được coi như một người quá cố. Một người chết như thế đương nhiên chẳng có thể ảnh hưởng hay thay đổi gì ta được!

2.  Hãy phục sinh Đức Giêsu trong tâm thức ta

Vậy, để được biến đổi nên một con người mới, mạnh mẽ, tốt đẹp, tràn đầy thần khí của Thiên Chúa, trước hết ta phải phục sinh Đức Giêsu ở ngay bản thân ta, trong tâm hồn ta, trong tâm thức ta. Ngài có thật sự sống và hoạt động trong ta, thì ta mới được biến đổi để trở nên như Ngài.

Trong Tin Mừng có đoạn mô tả Đức Giêsu ngủ say như chết, bất động, trên thuyền của các tông đồ giữa cơn phong ba bão táp, để mặc các tông đồ phải đối phó trong hốt hoảng sợ hãi (x. Mt 8,23-27; Mc 4,35-41; Lc 8,22-25). Đó chính là hình ảnh mô tả thật chính xác tình trạng của Đức Giêsu trong tâm hồn ta: Ngài đang ngủ, hay Ngài đã chết, nghĩa là Ngài bất động. Nếu Ngài thức hay sống trong tâm hồn ta, tất nhiên Ngài sẽ hoạt động, Ngài sẽ làm những việc lạ lùng, thậm chí phép lạ để biến đổi ta, tương tự như Ngài đã làm sóng gió yên lặng sau khi các tông đồ đánh thức Ngài dậy trên thuyền.

Cuộc đời ta, tâm hồn ta nhiều khi ảm đạm, buồn tẻ, không có gì hứng thú hay khởi sắc về mặt tâm linh, chính vì ta đã để Đức Giêsu ngủ yên hay còn nằm chết trong ngôi mộ của tâm thức ta. Lúc nào Ngài cũng hiện diện trong ta, đầy quyền năng của một vị Thiên Chúa. Ngài sẵn sàng làm mọi sự để biến đổi ta nên hoàn thiện, mạnh mẽ, để cứu giúp ta khi gặp cùng khốn. Nhưng thái độ lãng quên và hờ hững của ta đối với Ngài đã khiến sự hiện diện của Ngài trong ta thành một hiện diện thụ động của một xác chết, hay của một người đang ngủ. Một cách khách quan, Ngài vẫn luôn hiện diện trong ta từng giây phút, nhưng ta không hề ý thức điều ấy, ta chẳng nhớ gì đến Ngài. Ngài hiện diện ở đó, nhưng đối với tâm thức ta, Ngài dường như không hiện diện. Nói cách khác, Ngài dường như vắng mặt trong tâm thức ta. Chính vì thế, sự hiện diện khách quan nhưng thụ động của Ngài chẳng đem lại lợi ích gì cho ta, chẳng làm cho đời sống ta thêm dồi dào phong phú, bình an hạnh phúc, đang khi ta rất cần và rất mong điều ấy. Ngài hiện diện nhưng chẳng khác gì vắng mặt, Ngài vẫn sống nhưng chẳng khác gì đã chết, vẫn thức nhưng chẳng khác gì đang ngủ, vì ta đã không để Ngài hiện diện hay sống động trong tâm thức ta. Ngài giống như một kho tàng rất lớn chôn dấu ngay trong nhà ta, nhưng vì ta không biết, nên ta nghèo vẫn hoàn nghèo, và kho tàng ấy chẳng ích lợi gì cả. Nếu nhờ ý thức, Ngài trở nên hiện diện trong tâm thức ta, lập tức sự hiện diện ấy sẽ trở thành sự hiện diện hoạt động, hữu ích. Ngài sẽ biến đổi ta một cách hữu hiệu. Cũng như khó tàng bị chôn dấu kín kia, nếu được biết đến và đem ra sử dụng, sẽ đem lại một cuộc sống hết sức phong phú và hạnh phúc.

3.  Sự phục sinh của Ngài trong ta tùy thuộc vào ta

Ngài ngủ hay thức, chết hay sống trong tâm hồn ta, điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào ta có đánh thức hay để Ngài sống và hiện diện trong ta hay không. Ngài để ta hoàn toàn tự do quyết định điều đó. Trong chương trình của Ngài, rất nhiều việc Ngài đòi hỏi sự cộng tác tự nguyện của ta thì mới thành sự. đó là cách Ngài trọng phẩm giá của ta, là hình ảnh của Ngài, một Thiên Chúa hoàn toàn tự do. Phẩm giá đó buộc Ngài phải tôn trọng tự do của ta, Ngài không muốn đơn phương làm mọi việc, dù Ngài có thể làm, nhất là sự hoạt động tự do trong tâm thức ta.

Như vậy, tuy Ngài hiện diện và hoạt động cùng khắp, nhưng vẫn có chỗ mà ngài không thể tự do hiện diện và hoạt động theo ý Ngài. Đó là hiện diện và hoạt động trong tâm thức ta. Tâm thức ta là một không gian bất khả xâm phạm đối với chính Ngài, nghĩa là chính Ngài cũng không dám xâm phạm. Ngài chỉ vào đó để hiện diện và hoạt động trong tâm thức ta khi nào ta cho phép Ngài, bằng cách hướng về Ngài, ý thức được sự hiện diện khách quan của Ngài và nhất là hết mình sống với sự hiện diện đó. Sự hiện diện của Ngài trong tâm thức ta chỉ đạt tới tuyệt đỉnh và trở nên tích cực hoạt động khi nào ta có thể nói được như thánh Phaolô: «Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi» (Gl 2,20).

Muốn thế, ta phải để Đức Giêsu chiếm trọn bầu trời tâm thức ta. Bình thường, «cái tôi» của ta chiếm trọn bầu trời ấy, vì lúc nào ta cũng nghĩ về ta, về quyền lợi, hạnh phúc, đau khổ của ta. Mọi hoạt động của ta đều bị cái tôi ích kỷ đó chi phối, điều khiển, huy động, khiến ta lúc nào cũng chỉ biết lo cho bản thân mình. Nhưng càng lo cho bản thân ta bao nhiêu, ta càng cảm thấy thiếu thốn, trống rỗng và đau khổ bấy nhiêu, vì đòi hỏi của ta thì vô hạn, mà sức của ta thì có hạn. Trong bầu trời tâm thức đó, ta chỉ dành một khung rất nhỏ cho Thiên Chúa và người khác. Vậy, nếu muốn Đức Giêsu luôn hiện diện sống động và sử dụng được toàn bộ năng lực của Ngài trong ta, ta phải dành trọn bầu trời tâm thức của ta cho Ngài. Ngài phải là một ưu tư, lo lắng lớn lao nhất của ta, và ta chỉ nên dành một khoảng trời bé nhỏ nào đó cho chính ta thôi. Làm như thế là ta đã phục sinh Ngài, đã đánh thức Ngài dậy trong ta, để Ngài thi thố quyền năng của Ngài. Làm như thế là ta đã đào được cái kho tàng quí báu nhất mà ta vẫn vùi sâu chôn chặt trong tâm thức ta, để biến kho tàng ấy trở nên ích lợi cho ta. Và đương nhiên sau đó, nhờ sự sống và hoạt động của Ngài trong ta, ta sẽ hoàn toàn được biến đổi, cuộc sống trở nên phong phú và hạnh phúc hơn

Trở về mục lục >>

CHÚNG TA NAY ĐÃ PHỤC SINH!

Khổng Nhuận 

“Trong Mùa Phục Sinh, các con hãy sống Mầu Nhiệm Phục Sinh.” Đó là lời khuyên của các cha giáo chủng viện ngày xưa. Nhưng bọn chủng sinh chúng tôi có hiểu gì đâu. Nghe tai này bay qua tai kia. Chúng tôi như một đàn cừu lẽo đẽo theo nhau mà chẳng biết mình đi tới đâu.

Sau một thời gian lênh đênh trên dòng đời, theo tâm tình chu kỳ Phụng vụ, vào Mùa Vọng chúng tôi cũng cố gắng sửa một vài tật xấu. Chưa sửa được bao nhiêu, thì mùa Giáng Sinh huyền diệu đã tới, chúng tôi nao nức đón mừng Chúa giáng trần. Rồi mùa chay lại tiếp nối, những bài thánh ca Hãy trở về, Hãy trở về với Cha, hãy xé lòng đừng xé áo…chúng tôi chau chuốt giọng ca cho thật hay theo cánh tay bay bướm của ca trưởng. Còn chuyện trở về thì chúng tôi ngơ ngơ ngác ngác giống như ông Philipphê ngày xưa "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường? " (Ga 14:5) Vẫn biết là trở về với Chúa, nhưng chúng tôi nào có biết Chúa ở đâu. Ở trên trời ư? Xa xôi cách trở ngàn trùng! Ở trong nhà tạm ư? Chúng tôi gặp mỗi tuần, thế mà vẫn vô duyên đối diện bất tương phùng!trong lòng chúng tôi ư? Sao chúng tôi chẳng cảm thấy gì! Ở nơi tha nhân ư? Ở trong người ăn xin nghèo khổ lê lết, dơ dáy, bẩn thỉu trên hè phố ư? Hoang đường! Hão huyền! Chúa ở ngay trong lòng mình mà còn không nhận ra thì lấy cặp mắt kiếng nào mà nhìn thấy Chúa trong anh em khốn khổ, tàn tật, trông chẳng dễ thương chút nào! Chúng tôi cùng lắm là thương hại thôi, chứ làm sao mà nhìn ra Chúa đang hiện diện trong họ. Nếu có giúp họ chút ít tiền bạc hay quà cáp thì cũng mang phong cách của người ban phát, ra vẻ ta đây là đạo đức và thì thầm nhắc nhở Chúa: Chúa nhớ ghi vào sổ đấy nhé!

Vì thế,chúng tôi chỉ đơn giản nghĩ rằng Mùa Chay là mùa ăn chay, kiêng thịt và hy sinh hãm mình. Nhiều giáo xứ tổ chức tĩnh tâm - chủ yếu là nghe cha giảng - về các đề tài về mùa chay cho giới trẻ, các ông gia trưởng, các bà hiền mẫu. Các giáo hạt còn tổ chức giải tội vần công với một lúc hàng chục toà hoà giải để giáo dân tha hồ mà xưng hết tội của mình với các cha khách. Xưng tội với cha nhà, sợ ngài nhận ra tiếng thì nguy to. Rồi Mùa Phục Sinh lại tới, chúng tôi hân hoan tưng bừng đón mừng  Chúa sống lại trong thánh lễ nửa đêm ngập tràn ánh sáng. Biết bao bài thánh ca đã được hát lên trong đêm cực thánh này: Chúa nay thực đã phục sinh Alleluia!Alleluia!

Để mừng Chúa sống lại, nhiều nhóm, nhiều đoàn thể, đặc biệt là ca đoàn thường tổ chức Réveillion ngay sau thánh lễ với bia rượu tràn ly. Chúa đã chiến thắng sự chết, Chúa đã chiến thắng tử thần còn chúng tôi chỉ biết reo mừng với những màn cụng ly Dô! Dô!!!

Một ngày kia, mấy anh em chúng tôi ngồi lại với nhau và nghiêm chỉnh đặt cho chính mình một câu hỏi: Chúa nay thực đã phục sinh. Còn chúng ta, chúng ta nay đã phục sinh chưa? Cả lũ ặt cổ ra, thế là cả bọn quyết tâm tìm cho ra câu trả lời hóc búa này mới được.

Xin quý vị độc giả coi đây chỉ là những chia sẻ chân thành của một nhóm giáo dân thao thức mò mẫm tìm cho mình một con đường phục sinh như Đức Giêsu mà thôi.

Thế là một hội nghị bàn tròn mà chỉ có 3 người đang vò đầu bóp trán để tìm ra phương pháp nào hữu hiệu mau đạt được kết quả. Khởi đầu chúng tôi đi theo con đường cổ điển: đi lễ mỗi ngày, khi gặp điều tức tối khó chịu, thì cố mà dằn lòng mình xuống.... Một hai tháng sau chúng tôi cảm thấy mình có vẻ đạo đức hơn, gần Chúa hơn, nhưng chẳng cảm cảm thấy một chút gì gọi là phục sinh. Thế là phải tìm một hướng khác. Chúng tôi quyết tâm đọc lại toàn bộ cuốn Tân Ước và tham khảo một số đoạn Cựu Ước. Suốt một năm, mỗi tuần gặp nhau, chúng tôi nêu suy nghĩ, thắc mắc, chia sẻ những khám phá mới trong một quán café vắng người. Đôi khi, một vấn đề được đưa ra, nhưng mỗi người đều hiểu và giải thích khác nhau. Tuy nhiên chúng tôi vẫn tiếp tục hứng thú cùng nhau tìm hiểu thêm. Cuối cùng, chúng tôi làm một đúc kết nho nhỏ ghi lại những khám phá thú vị về việc phục sinh của người giáo dân.

Trước hết, chúng tôi đưa ra một loạt câu hỏi rồi tự trả lời cho nhau nghe.

Chúa nay thực đã phục sinh, đúng rồi, nhưng Ngài phục sinh cái gì?

Tất nhiên là Ngài phục sinh thân xác.

Nếu bảo phục sinh thân xác thì vô nghĩa, chính Ngài đã dạy chúng ta: Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống. (Ga 6:83).

Nếu Ngài không phục sinh thân xác, vậy Ngài phục sinh cái gì?

Vậy thì Ngài phục sinh tâm hồn!

Không thể nói Ngài phục sinh tâm hồn vì "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống”.(Ga 11:26) Nếu thế thì sự phục sinh của Ngài mang ý nghĩa: Ngài đã chiến thắng tử thần.

À, có lý! thế thì chúng ta cùng nhau tìm hiểu và khám phá Lời Chúa sau đây.

Vậy khi cái thân phải hư nát này mặc lấy sự bất diệt, khi cái thân phải chết này mặc lấy sự bất tử, thì bấy giờ sẽ ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng! (1Cr 15:54)

Rõ ràng câu trên có nghĩa là: điều kiện để phục sinh là khi thân xác hư nát hay chết này mặc lấy sự bất tử, bất diệt. Chính lúc đó: Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng!   Nói cách khác, chúng ta nay đã phục sinh.

Vấn đề quan trọng trước mắt là làm cách nào để cái thân xác phải chết này mặc lấy sự bất tử. Và đây cũng chính là quá trình từ cõi chết bước vào cõi sống.

Quá trình biến chuyển từ cõi chết bước vào cõi sống

Quá trình từ cái chết tâm linh chuyển sang sự sống dồi dào bắt nguồn từ Thiên Chúa: chúng ta có thể chia làm 3 giai đoạn chính:

Giai đoạn một: Làm cách nào để mặc lấy sự bất tử? - cũng chính là sự sống đời đời của Chúa.

Muốn nhận ra sự sống đời đời của Chúa, không gì tốt hơn là chúng ta tìm hiểu con người của Đức Giêsu: Thật, tôi bảo thật các ông: giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa; ai nghe thì sẽ được sống. Quả thật, Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy. (Ga 5:25-26) Qua câu này, chúng tôi khám phá ra rằng: Chúa Cha không chỉ ban cho Đức Giêsu mà còn ban cho tất cả chúng ta nữa - những người em của Anh Cả Giêsu - bắt nguồn từ tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa , cho nên:  Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc (Rm 8:29).

Lúc đó, chúng tôi xoáy vào 3 hình ảnh tuyệt vời của Đức Kitô:

Con Thiên Chúa: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người." (Mt 3:17).

Đầy Thần Khí Thiên Chúa: “Đức Giê-su được đầy Thánh Thần,” (Lc 4:1).

Nên một với Chúa Cha: “Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa Cha."   (Ga 10:38)

Và người Kitô hữu, vì được đồng hình đồng dạng với Đức Kitô - nên cũng mang 3 hình ảnh tuyệt vời y như Đức Kitô:

Con Thiên Chúa: “Thực sự chúng ta là con Thiên Chúa”.  (1Ga 3:1) 

Đầy Thần Khí Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta”. (Rm 5:5)

Nên một với Chúa: “Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một như chúng ta là một”.  (Ga 17:23)

 Trước kia, chúng tôi sống theo con người xác thịt, mê mẩn trong cơn lốc tình, tiền, tài, danh vọng, lạc thú của thế gian. Nhưng từ khi chúng tôi khám phá ra khuôn mặt thật của mình dựa vào con người của Đức Kitô. chúng tôi đã cảm nhận được phần nào cái thân xác hay chết này đang mặc lấy sự bất tử. Giờ đây viết lại, chỉ ngắn ngủi 5, 6 hàng, nhưng chúng tôi đã phải tốn gần cả năm trời nghiên cứu, tìm hiểu mới phát hiện ra những điều nghe có vẻ thật đơn giản này.

Giai đoạn hai: Từ khi nhận ra khuôn mặt đích thực của mình, chúng tôi tập sống trong tâm tình của người con yêu dấu của Chúa, nhờ sức mạnh Thần Khí ngay trong tâm mình. Bỗng một hôm, kẻ trước người sau, mỗi người trong chúng tôi âm thầm nhưng cực kỳ xác tín: Tôi đã phục sinh.  Hôm đó, bỗng nhiên tôi thấy mình không phải là mình giống như trước kia nữa. Tôi nhìn người ta đi lại trên đường mà như nửa thật nửa mộng - dù lúc đó tôi rất tỉnh. Tôi phóng xe giữa dòng thành phố mà như chốn không người - trong khi đang chạy xe rất dàng hoàng và đúng luật. Những bon chen thường ngày tự nhiên gần như vô nghĩa. Lúc đó, tôi không còn quá thiết tha với những đam mê thủa trước mà trong lòng vẫn thơ thới hân hoan. Hơn một tuần sau, chúng tôi gặp lại nhau và chia sẻ cho nhau những cảm nghiệm mới nhất. Thì ra cả ba chúng tôi đều nhận ra thân xác hư nát hay chết này lần đầu tiên đã mặc lấy sự bất tử, bất diệt. Và chúng tôi cùng reo lên:  chúng ta nay đã phục sinh! Chúng tôi đã tìm được câu trả lời!

Giai đoạn ba: Từ khi nhận ra mình đã phục sinh. Chúng tôi bắt đầu sống cuộc sống dồi dào như Đức Giêsu đã từng mong ước: sống tự do, tự chủ, đầy sức mạnh Thần Khí Thiên Chúa, ngập tràn hạnh phúc và bình an.  Nhưng vì chúng tôi đã nhiễm quá nặng tư tưởng thế gian suốt mấy chục năm, thành thử ra chúng tôi hay phản ứng theo cách của con người cũ đã in dấu quá đậm trong trí não của chúng tôi. Thường thường khi có một biến cố gì xảy ra thì tiếng nói của con người cũ luôn luôn lên tiếng trước với những lý luận hết sức thuyết phục. Hay thỉnh thoảng, nghe lời ngon ngọt của thân xác, chúng tôi vấp ngã.  Tuy nhiên, chúng tôi có thể đứng dậy dễ dàng sau những vấp ngã, phần thì chúng tôi đã nhận ra bộ mặt giả mạo của thân xác hay chết, phần thì chúng tôi ý thức sức mạnh vô biên của Thần Khí Thiên Chúa ngay trong tâm mình.

Có một điều rất kỳ lạ! Lẽ ra chúng ta phải cởi bỏ con người cũ hay hư nát, rồi mới khoác cho mình con người mới. Đàng này, chúng tôi lai lo tìm gương mặt con người mới theo khuôn mặt tuyệt vời của Đức Kitô. Ai ngờ, khi khám phá ra khuôn mặt đích thực của mình thì những mặt nạ tiền tài, danh vọng, đạo đức giả, đam mê… con người cũ hay hư nát tự nhiên rơi xuống, và lập tức  cái thân xác hư nát hay chết này lần đầu tiên đã  mặc lấy sự bất diệt - cuộc phục sinh bắt đầu…

Nói như vậy thì chúng ta dẹp bỏ chu kỳ phụng vụ của Giáo hội hay sao? Xin trả lời : Hoàn toàn không phải vậy. Như vừa trình bày, tuy chúng ta đã bắt đầu cuộc sống mới nhưng chúng ta đã bị nhiễm quá nặng tư tưởng thế gian nên vẫn cần phải có mùa vọng để ta tiếp tục bạt, tiếp tục lấp những lối sống cũ; vẫn cần mùa chay để tiếp tục cởi bỏ con người cũ với cách nhìn của nhân loại, và  mặc con người mới theo lối nhìn tâm linh phát xuất từ Thần Khí Thiên Chúa để ngày càng giống hình ảnh của Thiên Chúa hơn. Và tất nhiên là, trong Mùa Phục Sinh chúng ta lại có nhiều dịp để thực hiện ý tưởng chúng ta nay đã phục sinh  mỗi năm càng hoàn hảo hơn

Trở về mục lục >>

TÌM HIỂU - HỌC HỎI 

Cách tính ngày Chúa NhẬt PhỤc Sinh

Trong Giáo HỘi Phương Đông & Giáo HỘi Phương Tây

Maranatha tổng hợp

Lưu ý: Để cho gọn, bài viết giả tạm sử dụng (và chỉ có giá trị trong bài này thôi) cụm từ ‘Giáo Hội Phương Đông’ để chỉ định các Giáo Hội Chính Thống; và ‘Giáo Hội Phương Tây’ để chỉ định các Giáo Hội Công Giáo và Tin Lành.

I. Xác định Ngày Phục Sinh.

Phục Sinh là ngày Chúa Nhật sau ngày 14 âm lịch, và đấy là ngày 21 tháng 3 hoặc ngày hôm sau.” Đấy là qui tắc mà Công Đồng Nicê đề ra năm 325, để xác định ngày mừng lễ Phục Sinh trong Giáo Hội Phương Đông cũng như Phương Tây. Như thế ta hiểu vì sao Chúa Nhật Phục Sinh không bao giờ có một ngày nhất định theo dương lịch. Và đối với Giáo Hội Tây Phương, ngày Chúa Nhật Phục Sinh sớm nhất là ngày 23 tháng 3 (nếu trăng tròn ngày 22, và chúa nhật ngày 23); và ngày trễ nhất là ngày 25 tháng 4 (nếu trăng tròn 28 ngày sau ngày 21 tháng3, và 6 ngày sau ngày trăng tròn mới đến chủ nhật). Ta cũng nghe nói một cách ngắn gọn hơn: “Phục Sinh là ngày Chúa Nhật đầu tiên sau ngày trăng tròn mùa xuân.”

Theo hai câu trên, thì phải xem ngày bắt đầu mùa xuân là ngày 21 tháng 3. Thế nhưng đối với các nhà thiên văn, mùa xuân bắt đầu vào ngày Xuân Phân, nghĩa là lúc mà ngày và đêm có độ dài bằng nhau. Vào thời Cộng Đồng Nicê, thì Xuân Phân rơi đúng vào ngày 21 tháng 3, nhưng dần dần (như ta sẽ thấy ở phần sau) hai ngày này không còn trùng nhau nữa.

Mặt khác, trên lý thuyết, phải xem là trăng tròn ở ngày thứ 14 kể từ ngày Xuân Phân.

Bởi lẽ ngày Phục Sinh được xét trên cùng một qui tắc, thế thì vì sao lễ Phục Sinh trong Giáo Hội Chính Thống lại ít khi trùng với lễ Phục Sinh trong Giáo Hội Công Giáo và Tin Lành?

Có hai lý do:

1. Phương đông và phương tây sử dụng hai lịch khác nhau: Phương tây đã thay đổi lịch để đúng hơn với vòng xoay của mặt trời.

2. Không cách tính nào căn cứ vào ngày trăng tròn thực tế, mà theo một cách tính toán khác.

II. Ngày 21 tháng 3 không trùng nhau trên hai lịch.

Ngày Phục Sinh của Giáo Hội Đông Phương căn cứ theo lịch Juliô, còn Phương Tây thì sử dụng lịch Grêgôriô. Lịch Juliô do Juliô Xêsa lập ra năm 708 La Mã, nghĩa là năm 45 trước Công Nguyên. Đây là nguồn gốc của niên lịch quốc tế mà hiện nay mọi nơi đều sử dụng, được gọi là lịch Grêgôriô, vì do Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XIII ấn định cho các xã hội công giáo La Mã vào năm 1582.

Sự khác biệt chủ yếu giữa hai lịch là cách xác định năm nhuần: Theo lịch Juliô, mọi năm chia chẳn cho 4 đều là năm nhuần; còn theo lịch Grêgôriô, chỉ những năm tận cùng bằng 00 (hai số không) mà chia chẳn cho 400 thì mới là năm nhuần. (Như vậy, năm 2000 là nhuần, các năm 1700, 1800, 1900 không phải là nhuần).

Lý do có sự cải cách này là vì năm Dương Lịch – từ Xuân Phân này đến Xuân Phân kia – kéo dài độ chừng 365,2422 ngày. Thế nhưng một năm trong lịch Juliô dài 365,25 ngày, còn đối với lịch Grêgôriô là 365,2425 ngày.

Khoảng cách 0,0078 ngày (0,2500 – 0,2422) là một thời gian rất nhỏ, nhưng sau 400 năm thì cũng đã trở thành 0,0078 x 400 nghĩa là 3,12 ngày. Như vậy, lịch Juliô, sau 400 năm, lại chậm thêm hơn 3 ngày so với mặt trời. Do đó, theo lịch Julien thì Xuân Phân đến sớm hơn thực tế.

Năm 1582, khi Giáo Hội La Mã quyết định sử dụng lịch Grêgôriô thì người ta quyết định bắt lại 10 ngày đã trễ so với mặt trời, và như vậy, năm 1582, sau ngày 4 tháng 10 là đến ngay ngày 15 tháng 10. Thế là có một sai biệt 10 ngày giữa lịch Juliô và Grêgôriô. Rồi đến các năm 1700, 1800, 1900, thì lại thêm 1 ngày cách biệt. Như thế, hiện nay, lịch Juliô trễ hơn 13 ngày so với lịch Grêgôriô.

Ví dụ: Năm 1919, Nước Nga sử dụng lịch Grêgôriô thay cho lịch Juliô, nên họ phải nhảy từ thứ tư 31 tháng 1 sang ngày thứ năm 14 tháng 12. Do đó ‘Cách Mạng Tháng Mười’ (24 /10/1917 lịch Juliô) lại được mừng hàng năm vào tháng Muời Một (6/11 lịch Grêgôriô).

Tuy nhiên, các Giáo Hội Phương Đông vẫn dùng lịch Juliô để tính một số các ngày lễ, trong đó có Lễ Phục Sinh. Sự thay đổi lịch này còn nảy sinh một sự sai biệt khác liên quan đến Giáng Sinh. Năm 1800, ngày 25 tháng 12 trong lịch Julien tương đương với ngày 6 tháng 1 trong lịch Grêgôriô. Vì thế, Giáo Hội Phương Tây Mừng Lễ Giáng Sinh ngày 25 tháng 12, nhưng mừng ngày 6/1 là lễ Hiển Linh. Trong khi đó Giáo Hội Chính Thống vẫn mừng Lễ Giáng Sinh vào 6/1 hàng năm. (Hiện nay, mặc dù ngày 6/1 vẫn là lễ Hiển Linh trong GH công giáo, nhưng ngày lễ Giáng Sinh trong Giáo Hội Chính thống là ngày 7/1).

Tuy nhiên sự khác biệt về các ngày trong hai lịch không phải là yếu tố duy nhất khiến cho ngày Lễ Phục Sinh không trùng với nhau ở hai Giáo Hội. Yếu tố thứ hai là cách tính ngày trăng tròn.

III. Mỗi lịch có một cách tính ngày trăng tròn khác nhau.

Lễ Phục Sinh còn tùy thuộc vào ngày trăng tròn mùa xuân, vì thế mà người ta muốn biết trước thật lâu ngày nào là ngày trăng tròn. Bởi lẽ không thể chờ đợi xem mặt trăng rồi mới xác định ngày, nên hai lịch có cách tính khác nhau.

Hai ngày trăng rằm cách nhau khoảng 29,53 ngày. Từ năm 433 trước Công Nguyên, Méton thành Athènes đã khám phá rằng 235 tuần trăng thì tương đương với 19 năm dương lịch. Thật vậy, một năm trung bình có 365,24 ngày và như thế 235 x 29,53 = 6939, 55 ngày, nghĩa là rất gần với 19 x 365,24 = 6939,56 ngày.

Vào khoảng năm 532, đan sĩ Denys le Petit sử dụng chu kỳ Méton để tính ngày rằm mỗi tháng trong vòng 19 năm rồi bắt đầu trở lại. Và vì thế mà có các tháng 29 và 30 ngày xen kẽ nhau.  Thời gian đầu thì cách tính này khá chính xác, nhưng trên thực tế thì sau 19 năm dương lịch có sai biệt là 1giờ 29 phút so với 235 tuần trăng. Tuy sai biệt này là ít, nhưng sau 3 thế kỷ thì sai biệt giữa ngày rằm lý thuyết (theo lịch Juliô) và ngày rằm thực tế là 1 ngày. Và cách tính này đã kéo dài gần 1500 năm, vì thế cách tính ngày rằm theo lịch Juliô lại thêm một sai biệt 4 đến 5 ngày sao với lịch Grêgôriô (gần đúng với chu kỳ mặt trời hơn). Đó là lý do vì sao có sự khác biệt giữa hai cách tính ngày Lễ Phục Sinh của các Giáo Hội Phương Đông và Phương Tây.

Và cũng vì thế năm nay, Giáo Hội Phương Tây mừng lễ Phục Sinh ngày 27 – 03 thì Giáo Hội Phương Đông sẽ mừng vào ngày 01-05 (cách nhau hơn một tháng).

4. So sánh lễ Phục Sinh của Giáo Hội Phương Đông và Giáo Hội Phương Tây:

Từ 2003 đến 2008

 

Năm

 

2003

2004

2005

2006

2007

2008

Trăng tròn theo lịch Juliô

Lịch Juliô

CN 7/4

T6- 27/3

T5- 15/4l

T2- 4/4l

T6 - 24/3

T6 – 12/4

Tương đương

Lịch Gregorio

CN 20/4

T5 9/4

T5 28/4

T2 17/4

T6 6/4

T6 25/4

 

Lễ  PS  GH Phương Đông

Lịch Jjuliô

CN 14/4l

CN 29/3

CN 18/4

CN 10/4

CN 26/3

CN 14/4

Tương đưong

Lịch Gregorio

CN 27/4

CN 11/4

CN 1/5

CN 23/4

CN 8/4

CN 27/4

Trăng tròn theo lịch Grêgôriô

 

T4-16/4

T2- 5/4

T6-25/3

T5-13/4

T2 - 2/4

T7 22/3

Lễ  PS  GH Phương Tây

 

CN 20/4

CN 11/4

CN 27/3

CN 16/4

CN 8/4

CN 23/3

 

Trở về mục lục >>

  

Chúa Giê-Su "sỐng lẠi" hay "TRỖi dẬy"?

Nguyễn Công Bình

LTS: Bài  viết sau đây của cộng tác viên - tác giả Nguyễn Công Bình. MARANATHA đăng lên để giới thiệu một cách nhìn. Những tư tưởng trong các bài được đăng hoàn toàn là suy nghĩ cá nhân của các tác giả (nhưng không bao giờ đi ra ngoài đường lối của Giáo Hội). Tuy nhiên không nhất thiết phản ảnh quan điểm của tuần báo MARANATHA.

Chúa sống lại là một sự kiện lịch sử, không kể các thánh tông đồ mà ngay những người chống đối hay tìm giết Chúa cũng không thể phủ nhận, (trong đó xin kể cả thánh Phaolô trước ngày ngài được ơn trở lại). 

Chúa Giê-Su đã báo trước Ngài sẽ sống lại trước ngày Ngài sống lại: Chúa là ông thầy giáo tài tình vì Chúa dậy chúng ta theo nhiều phương pháp rất là loài người: Trước hết để chúng ta dễ hiểu thì Chúa rất ít dùng danh tự mà thường dùng động tự, qua các dùng dụ ngôn. Và căn dặn ta làm điều gì Chúa thường làm gương trước như ân cần chú ý người mẹ đi đưa xác con, săn sóc người bệnh người cùi, giúp đỡ phục vụ, rửa chân cho môn đệ và tha thứ cho kẻ đóng đinh Ngài dù đang trên Thánh Giá.  

Chúa dậy về sự sống lại rất nhiều lần song các tông đồ hơi.. chậm hiểu. Vì thế Chúa đã phải biến hình.  Câu chuyện Chúa biến hình được Ðức Thánh Cha đặt thành một trong các mầu nhiệm Sự Sáng để dậy chúng ta rằng: hiện nay trên trời đã có Chúa Giê-Su và Ðức Mẹ được sống lại thật, uy nghi sáng láng và sẽ đến lượt chúng ta được huy hoàng như thế (miễn là hãy luôn thứ tha và đừng rời xa Chúa) vì thân xác loài người, vốn là hình ảnh Cha, thuộc về Cha thì sau khi đã chết sẽ được lấy lại huy hoàng của Cha.  Song có anh chị còn thắc mắc vì tại sao lại có vài bản Tân Ước đã chỉ dịch chữ anistemi và egeiro là  "trỗi dậy" mà không dùng chữ "sống lại"?

Nghĩa đen thứ nhất của cả 2 động tự Greek anistemiegeirođứng lên, đứng dậy, trỗi dậy hay thức dậy (danh tự là anastasis). Có nhiều chỗ Tân Ước dùng chữ này: Thật vậy, chỉ vừa nghe câu "Hãy theo Thầy," Matthêu đã trỗi dậy để theo Người (Mat 9: 19). Bà mẹ vợ của Pherô sau khi được Chúa chữa lành bệnh cúm đã trỗi dậy để nấu nướng phục vụ người ( Lc 4:39 ) v.v.. Chúa dùng tiếng mẹ đẻ là Aram để nói Chúa Sống Lại thế nào thì các thánh tông đồ không ghi lại. Song ý nghĩa sống lại theo tiếng Hy Lạp, hay Latinh, chỉ được thêm vào từ ngày Chúa sống lại. Thời ấy, vì chưa ai thấy được sự sống lại nên không thể nào lại có động tự sống lại trong tự điển Hy Lạp hay Latinh, kể cả các ngôn ngữ khác. Các thánh tông đồ vốn gốc Do Thái, không đủ trình độ tạo ra một động tự Hy lạp hay Latinh mới nên mượn đỡ chữ " trỗi dậy."  Song với ý nghĩa được ấn định là “sống lại.” Ý nghĩa này do chính Chúa dùng và Chúa đã thực hiện ý nghĩa ấy và còn hứa cho chúng ta ơn sống lại. Sau này khi Giáo Hội dùng tiếng Latinh thì ngay chữ surgere chỉ có nghĩa đen là đứng dậy và chữ re-surgere (danh tự ressurectio/ ressurection) nghĩa đen là lại đứng dậy song chúng ta phải hiểu ý nghĩa mới là sống lại.

Nên đọc là  Chúa Giê-Su đã  " sống lại " hay "trỗi dậy”?

Vì thế trộm nghĩ người chưa biết Ðạo Chúa khi đọc Tin Mừng nếu chỉ theo như tự điển nói, thì chỉ giản dị hiểu là Chúa đứng dậy, trỗi dậy, thức dậy. Còn ta thì mới hiểu là Chúa sống lại. Có anh chị sẽ cho rằng tôi khó tính quá khi bắt bẻ chữ nghĩa song quan niệm của tôi là Ðấng không cần phải chết song đã chịu đóng đinh nhục nhã, và đáng lẽ chỉ cần chết vài giây, vài giờ và đã có thể  sống lại ngay trước khi được táng xác song còn tiếp tục chịu nhục nhã để bị chôn vì tội của chúng ta, đến ngày thứ ba mới sống lại.  Nay khi nói lại sự kiện này mà chỉ được chúng ta nói là "trỗi dậy" mà lại không nói rõ là trỗi dậy  từ cõi chết thì thiếu sót. Nếu chữ" sống lại" được dịch rõ ràng thì ý nghĩa Mầu Nhiệm Phục Sinh sẽ tránh bị nhạt nhòa.

Các cụ tổ tiên của chúng ta, qua nhiều thời các thánh tử đạo cũng được nghe giảng giải chữ Latinh surgere và re-surgere; song các cụ nhất định dùng chữ sống lại. Mẹ tôi đã chết, mong các cụ già còn nhớ được toàn bộ các kinh và vãn cổ, tôi chỉ nhớ lõm bõm ba chữ sống lại thật. Nay kinh đã được cải sửa song ta vẫn đọc như sau:

Lạy Ðức Nữ Ðồng Trinh Maria,

Hãy hỉ hoan khoái lạc!  Halleluiah.

Vì Ðấng Mẹ đã cưu mang trong lòng - Halleluiah..

Người đã sống lại thật như lời đã phán hứa - Halleluiah

Xin cầu cùng Chúa cho chúng tôi!  Halleluiah.

Tôi lấy làm mãn nguyện khi tổ tiên ta không giản dị dịch chữ gaudere, gaudete là hãy vui lên (rejoice) song lại dùng đến 4 chữ xin Ðức Mẹ hãy hỉ hoan khoái lạc - Halleluiah!

Halelu Yahweh! Hãy ngợi khen Chúa là tiếng Giáo Hội reo vui khi nghe Chúa sống lại. Linh mục hát 3 lần với cung giọng cố gắng lên cao. Ðọc liền thành Halleluiah. Niềm vui tăng lên nữa. Hỉ hoan là vui trong lòng, khi tràn đầy sự hỉ hoan thì xác thân rung động khoái lạc. Hóa ra tổ tiên ta rất rành tâm lý học và thể lý học để  hiểu rằng lòng đau khổ thì mặt mũi nhăn nhó và  ruột có thể bị đứt từng đoạn. Ba ngày ba đêm Chúa trẻ thơ 12 tuổi bị lạc trong đền thánh, Ðức Mẹ và thánh Giu-Se không ăn không ngủ vì lo lắng và mặt mũi Ðức Mẹ hôm ấy chắc chắn là dài ra và... xấu xí lắm, nếu bị chụp hình.  Ba ngày Chúa nằm trong mồ, tâm trạng và thể lý Ðức Mẹ cũng như thế.  Song Tin Vui Chúa Sống Lại có thể đọc được cả trên ánh mắt, nụ cười và chân tay của Ðức Mẹ. Biết đâu Ðức Mẹ cũng líu lưỡi nói chẳng đủ câu  Hallelu Yahweh - Halleluiah. Ta chia vui với Ðức Mẹ song thực ra chính chúng ta cần hỉ hoan khoái lạc hơn cả.  Ðức Mẹ khi được hứa Ơn Sống Lại vì Ðức Mẹ chẳng phạm tội gì, nên xứng đáng hưởng ơn Sống Lại, còn riêng chúng ta đáng lẽ đã phải chết đời đời vì tội lỗi, linh hồn chúng ta chẳng còn đáng giá gì, thì lại được Chúa Giê-Su đem cả thân mình ra chuộc tội cứu rỗi.  Chúng ta mỉn cười nghe dụ ngôn bà cụ già ... lẩm cẩm đánh mất mấy đồng bạc cắc,  đã thắp đèn sáng choang cả đêm, tốn cả trăm bạc, thức suốt đêm đi tìm những đồng bạc cắc ấy, và tìm được rồi thì gọi cả xóm đến mở tiệc liên hoan. Chúa Giê-Su còn làm hơn thế nữa, bỏ cả Trời Cao xuống thế rồi đành  bị giết chỉ vì để tìm những linh hồn tội lỗi chẳng đáng giá vài đồng bạc cắc 

Chữ sống lại đã được  tổ tiên ta dùng từ lâu đờ 

Thực vậy, tổ tiên ta chỉ thích nói tiếng Việt. [Các thánh tử đạo của ta lúc ấy còn búi tóc củ hành, mặc áo the thâm dài, nên có lẽ thánh Phaolo lấy làm... buồn cười vì thời ngài còn là" cha xứ già Phao Lô" thì không thích đàn ông để tóc dài vào nhà thờ xem lễ đâu - xem 1 Corinto 11 - song thánh Phao lô mừng và khen các thánh tử đạo hiểu và nói rõ ba chữ Chúa Sống Lại] Trước ngày các thánh linh mục truyền giáo đề nghị ta dùng mẫu tự Latinh để viết tiếng Việt như tôi đang viết đây, thì các cụ tổ tiên muốn để lại điều gì bằng tiếng Việt cho con cháu thì phải mượn cái xác, cái âm của chữ Hán viết ra chữ Nôm ( tức chữ Việt Nam ).  Tổ tiên ta viết chữ Sống Lại như sau. (Xin tra Ðại Nam Quấc Âm Tự Vị của cụ Paulus Huỳnh Tịnh Của, in vào thế kỷ 19).

Sống [Lộng + Sinh] tức là đang sống, đang hít thở, đang sống nhăn.  Theo cha Alexandre de Rhodes nhận xét thì chữ sống có cổ âm là tlống nên các cụ viết chữ lộng.

Lại thì các cụ dùng chữ lai sẵn có của Hán vốn dị nghĩa mà trùng âm song đọc là lạiTheo cha Alexandre de Rhodes thì chữ lại có cổ âm là mlạiCó cụ viết hơi khác bằng cách dùng chữ hựu của Hán song đọc là lại với nghĩa  là thêm một lần nữa.

Sống lại viết chung là đã chết rồi song lại được sống thêm một lần nữa.  Hóa ra tổ tiên ta khi nghe câu Chúa phán  Ta là Sự Sống Lại và là Sự Sống thì đã hiểu và hiểu rất rõ.

Trỗi dậy theo tiếng Việt  chỉ có nghĩa là đang nằm hay đang ngồi mà đứng bật dậy.  Viết trỗi thì các cụ dùng chữ túc (cái chân) để chỉ nghĩa và chữ chí để chỉ cách phát âm, viết chữ dậy thì viết chữ duệ mà đọc thành dậy (mặc dù chữ duệ tiếng Hán chỉ có nghĩa là kéo đi). Chẳng có nghĩa sống lại nào qua chữ trỗi dậy cả.

Tổ tiên Việt Nam tin rằng sau khi chết

thì được sống trở lại để sống mãi mãi trong Cõi Trời

Chúa phán:

Egw eimi h anastasiV kai h zwh

Ego sum resurrectio et vita

Ta là Nguồn Sống Lại và là Ơn Sống Mãi Mãi (Jn11:25)

Các thánh tử vì đạo dùng chữ sống lại để dịch câu ấy vì người Việt Nam đã tin rằng có sự sống lạisự sống mãi mãi trong Nước Trời từ thời các vua Hùng, tức đã cả 5000 năm.  Nhiều người Do Thái, dù nghe chính Chúa giảng về Ơn Sống Lại và Ngài là Nguồn Sống Mãi thì không những không tin mà còn diễu cợt với Chúa qua câu chuyện người đàn bà có đến 7 chồng thì dù lên trời sẽ phải sống với ông chồng nào.

Ðoạn này dĩ nhiên không có trong Tân Ước hay Cựu Ước song tôi dựa vào lịch sử nước Việt . Tổ tiên chúng ta đã theo Ðạo thờ Trời vì đã có sự soi sáng của Chúa Thánh Thần, dù quan niệm về Trời chưa được rõ ràng. Tổ tiên chúng ta (a) có đức tin vào Ông Trời vì tin rằng con người từ Trời Cao mà ra (b) nên dậy con cái phải thờ Trời, cầu khấn với Trời, nhất là sống thương yêu theo đạo Trời và (c) tin rằng sau khi chết thì mọi người được tha thứ tội lỗi và được rước về sống trở lại, sống lại , sống lần nữa trên cõi trời, chớ không bị đầu thai qua kiếp nào khác cả. Sự sống lại dĩ nhiên chưa được hiểu rõ là sống lại cả hồn cả xác (vì người thì có hồn xác, có hồn xác mới gọi là người), song là sống trở lại (tlộng + sinh + mlai), sống lần nữa (hoạt + sinh+ hựu) mãi mãi với Ông Trời là Ðấng Hằng Có●

Trở về mục lục >>

                                                                             

DI SẢN CỦA MỘT GIÁM MỤC

Làm Thế Nào Để Bài Giảng Sống Động Hơn?

Lm. Christopher Chatteris, S.J.

LTS: Giám Mục Kenneth Edward Untener - VỊ MỤC TỬ KHÔNG NHÀ đã được giới thiệu trong Maranatha_40.  Tuần này, xin gửi đến quý độc giả bài viết của Linh Mục Christopher Chatteris, đề cập đến việc GIẢNG THUYẾT, dựa trên kinh nghiệm và các tác phẩm của vị Giám Mục độc đáo này. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả Maranatha.

Giám mục Kenneth Untener qua đời năm ngoái vì bệnh ung thư sau gần 25 năm là giám mục cai quản giáo phận Saginaw, bang Michigan, Hoa Kỳ.  Ngài là một mục tử hết lòng với việc nghệ thuật rao giảng Lời Chúa. Trong tác phẩm “Giảng Tốt Hơn”, (do nhà xuất bản Paulist ấn hành) ngài viết, “khi chúng ta soạn bài giảng có nghĩa là chúng ta tham dự vào cùng một công việc của Chúa Thánh Thần, Đấng đã hình thành chính bản văn Kinh Thánh.” Ngài cũng nhắc nhở cho người đọc rằng, soạn bài giảng là một phần thiết yếu không thể thiếu trong cử hành phụng vụ, và khi một linh mục rao giảng tức là vị ấy đang “ở cùng vị trí với Thiên Chúa.”

Đức cha Untener luôn quan tâm tìm cách giúp cho bài giảng của mình cũng như của các linh mục trong giáo phận được tốt hơn. Ngài thường hỏi ý kiến các giáo dân nhận xét về chất lượng các bài giảng họ nghe; ngài có thói quen giữ một sổ tay để có thể ghi chú những nhận xét, ấn tượng. Ngài tin rằng vox populi, vox Dei:  tiếng dân là tiếng Chúa.

Điều đáng tiếc là ít có Giám mục nào theo gương của Đức cha Untener. Hiếm khi các giáo dân được hỏi ý kiến hoặc phê bình về các bài giảng, tuy thế, theo kinh nghiệm cho biết, họ lại thường thích bàn tán về việc giảng dạy của các cha. Lý thuyết về truyền thông hiện đại cho biết rằng, điều ta nghe thì cũng quan trọng như điều đang nói.

Những bài giảng yếu kém thường ảnh hưởng nặng nề trong việc đi nhà thờ của người Công giáo. Tôi thường gặp những người bỏ giáo xứ chỉ vì chất lượng các bài giảng. Khuynh hướng này càng ngày càng gia tăng trong xã hội có phương tiện đi lại dễ dàng. Người ta bỏ phiếu bằng bánh xe. Thật là lầm lẫn nếu ta coi thường hiện tượng này, và cho đó chẳng qua chỉ là sản phẩm của kinh tế thị trường hay não trạng của người thời nay, thích lên mạng internet hơn là đi nhà thờ. Nếu giáo dân ngày nay có khuynh hướng shop around, đi vòng vòng tìm nhà thờ, thì nguyên nhân chính là do vấn đề giảng thuyết, không phải là vì chiếc xe của họ. Điều đáng mừng là vẫn còn nhiều người khao khát nghe giảng Lời Chúa.

Trong tác phẩm Giảng Tốt Hơn, Đức cha Untener đưa ra vài gợi ý được lấy ra từ những buổi phỏng vấn một số tín hữu trong giáo phận. Ngài viết rằng, người Mỹ chú trọng đến hiệu quả công việc, nên thường không thích những bài giảng nặng nề, dài dòng. Đừng nhập đề vòng vo, đặc biệt khi nó chẳng liên quan gì đến sứ điệp chính mà ta muốn trình bày. Ngài khuyên, “Đi ngay vào vấn đề.” Điều này cũng hợp lý thuận tình thôi, vì bài giảng cần phải lấy từ Thánh Kinh. Người nghe thường dị ứng, khó chịu nếu bài giảng bắt đầu với một câu chuyện chẳng ăn nhập gì, hoặc với một truyện cười không thích hợp, hay mở đầu bài giảng bằng một thông báo 

Một cách giảng khác cũng làm cho người Công giáo bực mình là việc vị giảng thuyết lập lại bài Thánh Kinh vừa đọc bằng chính lời lẽ của mình. Điều này, theo Đức cha Untener, hàm ý rằng cộng đoàn hoặc không nghe, hoặc vị giảng thuyết cho rằng họ đần độn quá chẳng hiểu gì những bài đọc ấy cả. Một điều cấm kỵ nữa là đừng mất công giải thích tại sao phải chọn giảng điều này mà không chọn điều khác. Người nghe không thích biết những khó khăn đó. Họ cũng có đủ những vất vả và phải chiến đấu với những khó khăn trong nghề nghiệp và cuộc sống của họ rồi.

Vì thế, cần “đi ngay vào trọng tâm của vấn đề.” Câu mở đầu một bài thơ hay một ca khúc nhằm để giới thiệu chủ đề tác phẩm cần phải mạnh mẽ và rõ ràng. Bài giảng cũng nên như thế. Có lẽ ai cũng biết việc mở đầu khó khăn như thế nào. Kinh nghiệm cho biết nên tránh bắt đầu một cách vòng vo - thường chỉ làm rối trí người nghe. Đức cha khuyên nên soạn trọng tâm bài giảng trước, rồi nhập đề và kết thúc tự nó sẽ đến một cách dễ dàng hơn.

Tuy vậy kết thúc bài giảng cũng không phải là việc dễ dàng. Những người mà Đức cha Untener gặp đã cho biết việc kết thúc bài giảng vụng về cũng làm người nghe chia trí lắm. Lúc đó cử toạ không đặt tâm vào nội dung sứ điệp truyền đạt, mà chỉ chú ý vào cách thức vị giảng thuyết đang “hạ cánh, đáp tầu bay.” Đức cha viết rằng, người giảng thuyết luôn luôn  phải thuộc nằm lòng đoạn kết, không bao giờ được để cho nó bay lơ lửng. Kết thúc không cần cầu kỳ phức tạp; thường thì đơn giản lại mang đến kết quả tốt hơn nhiều. Chẳng hạn, khi giảng cho các tu sĩ về lý tưởng của đời tu, thì kết luận chỉ cần ngắn gọn, mạnh mẽ như sau, “Quý tu sĩ đã sống và làm chứng bằng cả cuộc đời mình, và chúng tôi rất cảm kích vì sự hy sinh này.” Giảng như thế cũng giúp nâng cao tâm hồn người nghe lắm chứ.

Cũng không phải là điều đáng ngạc nhiên khi những người được phỏng vấn đánh giá cao những bài giảng ngắn gọn và có tư tưởng rõ ràng. Để bài giảng được ngắn gọn, Đức cha khuyên chỉ nên khai triển một ý chủ đạo hay một “điểm son nào đó - một viên ngọc quý” thay vì theo đuổi nhiều ý tưởng phụ thuộc. Thật là vô lý nếu biết rằng càng nói nhiều người ta càng không nghe mà lại cứ nói thêm. Điều quan trọng là trình bày một điểm chính thật kỹ càng, một điểm thôi nhưng có chiều sâu. Giảng thuyết là công việc lao động thực sự - một lao động của tình yêu, của học hỏi, của cầu nguyện, của thảo luận, và của suy tư.

“chiều sâu” cũng là một điểm mà người nghe rất quan tâm. Đức cha có ghi lại được nhận định của một vài tín hữu như thế này: “Ông cha ấy ăn nói được lắm, chỉ tiếc là không có gì để nói cả.” Bài giảng không thể sâu sắc nếu chính vị giảng thuyết không sâu về mặt tâm linh, trí tuệ, và văn hoá. “Khi tôi nghe giảng, thiết nghĩ, tôi có thể nói cho bạn biết thế giới của vị giảng thuyết như thế nào, phong phú hay nhỏ hẹp. Tôi có thể đoán vị đó có đọc nhiều hay không.” Một người đã nhận xét như thế. Tín hữu nghe giảng cần người giảng thuyết đọc nhiều, có suy tư và có đời sống cầu nguyện. Cùng một thể, các tín hữu cũng mong bài giảng nối kết được với những vấn đề liên hệ đến cuộc sống của họ.

Đức cha Untener cũng nhắc nhở các vị giảng thuyết nên soạn bài bằng cách viết ra để vấn đề được rõ ràng, sáng sủa. Ngài không khuyên cầm giấy để đọc bài giảng của mình – ít ai có thể làm điều này mà vẫn lôi cuốn và thuyết phục được cử tọa. Nhưng ngài cũng đồng ý với câu của La Rochefoucauld, thế kỷ thứ 17, trong tập Maximes (Châm Ngôn) của ông: “Hùng biện đích thực là nói tất cả mọi điều cần nói và chỉ nói những điều cần nói mà thôi.” (Maxime 250:   La véritable éloquence consiste à dire tout ce qu’il faut, et à ne dire que ce qu’il faut).

Đức cha nhận xét rằng, khoảng cách giữa những bài giảng xoàng xĩnh và tuyệt tác là do biết trau chuốt kỹ lưỡng bài giảng của mình.

Sự buồn tẻ là kẻ thù lớn nhất của việc rao giảng. Điều đáng tiếc là thường chính các vị giảng thuyết tạo ra kẻ thù cho chính họ. Trách nhiệm của người giảng thuyết là làm thế nào để duy trì được sự chú ý của cử tọa, không thể biện minh đâu phải lỗi của tôi. Ngài phê bình nghiêm khắc: “Giảng mà người ta không chịu nghe nữa có nghĩa là bài giảng đã quá dài”. Cũng cần để ý xem cử toạ có cựa quậy hay không. Đó là thước đo mức độ tập trung của cộng đoàn. Người ta càng cựa quậy bao nhiêu, chứng tỏ họ càng ít nghe điều anh em nói. Chỉ khi nào cả nhà thờ thật yên lặng, thậm chí anh em có thể nghe được tiếng ruồi bay hay một chiếc kim rơi (rất hiếm có), thì lúc ấy anh em có thể nói rằng bài giảng thật sự lôi cuốn.

David Buttrick, chuyên viên giảng dạy về môn hùng biện, đã từng phát biểu rằng: “Chính người giảng thuyết, chứ không ai khác, có trách nhiệm phải tìm phương cách tạo ra sự chú ý và giúp cho cử toạ tập trung. Còn ai vào đây? Đổ lỗi cho cộng đoàn không biết chú ý là vạch tội chính mình đấy!”  Đức cha Unterner có một trắc nghiệm thú vị để xem bài giảng của mình có thắng được sự buồn chán hay không bằng cách đặt câu hỏi: “Sau 6 tháng còn ai nhớ đến bài giảng ấy?” Thật không thể biện minh cho mình. Chính chúng ta, những nhà thuyết giảng là người đã làm cho cộng đoàn chán ngấy những gì chúng ta vẫn trình bày.

Một lời khuyên khác của Đức cha Untener là phải thuộc câu châm ngôn này: “Lễ càng trọng thể lâu giờ thì bài giảng càng phải ngắn gọn. Vì các bài giảng trong những dịp trọng đại như thế, chẳng mấy ai nhớ đến điều họ đã nghe.” Thường chúng ta dễ đồng ý với những nhận định trên, nhưng trong tâm mình, khi chuẩn bị những bài giảng cho các lễ lớn, chúng ta lại phải cố gắng giảng giải sao cho xứng với tinh thần buổi lễ. Không nên giảng ngắn quá, làm như thế là hạ thấp tầm quan trọng của cuộc lễ. Hẳn nhiên, như trong thánh lễ Vọng Phục Sinh, nhà thờ thì đông nghịt người và trang trí lại quá rực rỡ, thì việc làm cho cộng đoàn quan tâm và nhớ đến bài giảng của mình thật là một điều hãn hữu.

Tác giả Walter Brueggemann trong tác phẩm Cuối Cùng Nhà Thơ Đã Đến cho rằng văn hoá của người Mỹ tin vào sự thật của Tin Mừng, nhưng là một sự thật đã bị thu nhỏ, đã bị bóp méo, bị tầm thường hoá, một sự thật không còn phẩm chất nữa. Nhưng điều này không có nghĩa là người ta không còn khao khát tìm một sứ điệp tiên tri, đầy lôi cuốn chuyển tải bằng ngôn ngữ của thi ca, tươi mát. Giống như Đức cha Untener, tôi thấy đề tài giảng thuyết không bao giờ nhàm chán. Trái lại, nó làm cho người ta hăng hái muốn tham gia thảo luận nhiều hơn. Hơn nữa, hầu như ai trong chúng ta cũng ít nhiều có kinh nghiệm về giảng thuyết, nên việc đóng góp cho nhau lại càng giá trị. Nếu các bài giảng của chúng ta làm người nghe thích thú tham gia giống như họ thích thảo luận về việc giảng thuyết, thì chắc là chúng ta đang đi đúng đường. Các tín hữu khao khát Tin Mừng, nhưng không thích nghe những bài giảng giải luân lý khô khan. Họ mong muốn có được viên ngọc quý đã được chuẩn bị chu đáo, đã suy tư kỹ càng, đượm thấm đời cầu nguyện. Viên ngọc giảng thuyết này kết thúc gãy gọn, và giúp nâng tâm hồn con người hướng thượng hơn. Chúng ta cần phải rao giảng tốt hơn. Đó cũng có nghĩa là phải chuẩn bị kỹ càng hơn và cũng cần đón nhận những góp ý chân thành

Lm. Christopher Chatteris, Dòng Tên, giảng dạy môn Thuyết Giảng và Phương Pháp Giáo Dục tại Viện Thần Học Thánh Giuse - KwaZulu-Naral - Nam Phi.

Trở về mục lục >>

 

TRUYỆN NGẮN

GIỌT NƯỚC MẮT NGÀY ĐẦU TUẦN.

Trần Duy Nhiên

Chỉ ngày hôm nay thôi, chị đã phải khóc đến ba lần.

(Chị nào? - Đợi tí, sẽ biết ngay thôi mà)

Suốt đêm hôm qua, chị hầu như không thể nào ngủ được. Mọi hình ảnh cứ dồn về. Hình ảnh người ấy cứ lởn vởn trong tâm não chị. Chị phải gọi người ấy như thế nào bây giờ nhỉ? Là cha, là thầy, là anh, là bạn, thậm chí là em... Chị không biết nữa. Quả là người ấy đối với chị từng ấy cùng một lúc. Chưa ai ban cho chị nhiều cho bằng người ấy, hơn bất cứ một người cha nào. Chưa ai dạy dỗ chị nhiều cho bằng người ấy, hơn bất cứ một người thầy nào. Chưa ai bênh vực chị nhiều cho bằng người ấy, hơn bất cứ một người anh nào. Chưa ai thân thiết với chị cho bằng người ấy, hơn bất cứ một người bạn nào. Chưa ai tin tưởng vào chị nhiều bằng người ấy, hơn bất cứ một người em nào. Và nhất là chưa ai yêu thương chị như người ấy, hơn bất cứ người cha, người thầy, người bạn, người anh nào. Biết bao lần chị đã từng nghe người ta nói với chị: “em là tất cả đối với với anh”, và chị thấy câu nói ấy rỗng tuếch đến nhói đau. Thế mà những ngày qua chị thấy bằng kinh nghiệm những đêm thức trắng rằng người ấy là tất cả đối với chị. Trọn cuộc đời chị chưa biết một người cha, một người thầy, một người anh, một người em. Chị tìm thấy tất cả nơi Người ấy, để rồi chưa kịp mừng chị đã phải mang một cái tang: Người ấy chết rồi... Chết rồi? Tự thâm sâu chị vẫn không thể nào tin được rằng người ấy đã chết. Không thể nào chết được. Một người có một con tim như thế thì không thể nào chết được. Thế mà người ấy chết thật rồi. Chính chị đã nhìn thấy tận mắt ở trên đồi khi người ấy chết, đã chứng kiến người ta tẩm liệm người, đã tiễn đưa người đến phần mộ, đã nhìn chằm chặp khi người ta lăn đá lấp cửa mồ, rồi ngồi quay mặt vào mồ cho đến tối mới chịu về... Người chết thật rồi. Không còn ai muốn nhớ đến người... Không, còn chị chứ. Dù mọi người quên thì chị không thể quên được người ấy.

Trời đã hừng sáng. Chị có thể ra ngoài rồi. Việc đầu tiên là đến thăm mộ người. Chị sẽ là người đầu tiên đến đấy, có thể là người duy nhất, nhưng có sao đâu: chị đâu còn tim óc nào để nghĩ đến ai khác? Chị đến mộ và khởi đầu ngày của mình với những giọt lệ: chị khóc. Ai đã đánh mất xác người rồi. Sao người ta lại ác thế nhỉ? Hành hạ người đến như thế chưa đủ sao? Bây giờ chỉ còn là cái xác mà họ cũng không để cho người yên. Mắt đẫm lệ, chị tìm quanh. Một ông làm vườn đang ở đấy. Chị chẳng buồn tìm hiểu sao ở đây lại có một người làm vườn vào sáng tinh sương thế này. Chị chẳng cần biết rằng một người làm vườn thì không ăn nhằm gì đến một thi hài. Nhưng chị vẫn bám vào ông như người chết đuối bám vào thanh gỗ mục.

- Bác ơi, nếu bác có dấu thi hài của Thầy tôi thì cho tôi biết. Tôi van bác.

Người làm vườn mỉm cười: “Maria!”Tiếng nói này! Giọng nói này! Thôi đúng rồi! Ơ kìa, không phải là người làm vườn, Thầy đấy. Chị dụi mắt. Chị không hiểu gì cả. Vô lý, nhưng quả thật là Thầy. Đúng là Thầy rồi. “Ôi Rabbi”. Chị sà vào lòng Thầy. Thầy ngăn lại: “Maria, đừng giữ lấy Thầy. Hãy đi gặp anh em Thầy và báo cho họ.”

(Chuyện này biết rồi, nói cái mới đi chứ!)

Maria chạy vù xuống Nhà Tiệc Ly. Chị chạy như đôi chân mọc cánh. Nỗi vui mừng chưa lau kịp những giọt lệ còn đọng trên mi. Có thể nào... Có thể nào? Nhưng sự thật hiển nhiên rồi mà. Chị chạy báo tin cho các tông đồ. Chị vào phòng tiệc ly.

- Này các anh ơi, Chúa đã sống lại rồi! Tôi đã gặp Ngài...

Các tông đồ nhìn chị với ánh mắt thương hại và không có một phản ứng nào. Rồi họ im lặng gục mặt trở về gặm nhắm nỗi thất vọng của mình.

- Thực sự Chúa đã sống lại rồi mà. Tôi ra mộ thì thấy ngôi mộ trống không. Sau đó tôi vào vườn tìm kiếm xác Ngài, và đã gặp Ngài. Chính Ngài sai tôi đi báo tin cho các anh đây...

Đáp lại lời reo vui của chị là những tiếng thở dài:

- Anh Gioan, anh cũng không tin tôi sao?

Gioan trả lời chị với giọng nói thật dịu dàng:

- Chị Madalena à, chị cần phải xem chừng và giữ gìn sức khỏe đấy. Từ ngày thứ sáu đến nay chị chẳng lo ăn uống ngủ nghỉ gì cả. Chị phải cố gắng lên, cố gắng mà vượt qua.

Maria bật khóc. “Anh Phêrô, có phải cả anh cũng nghĩ như Gioan không?”

Phêrô nhìn chị với cái nhìn ái ngại, rồi cúi mặt để khỏi khóc theo chị. Maria thét lên:

- Tôi hiểu rồi, tại vì tôi là con người tội lỗi, chẳng ra làm sao cả, nên các anh không chịu tin tôi. Phải chi tôi là người có thế giá và có đời sống đàng hoàng hơn để các anh tin... Trời ơi, chẳng lẽ các anh lại không chịu tin rằng Chúa có quyền đến và Ngài đã đến với một con người hèn hạ như tôi sao?

Philip nãy giờ đứng im, tiến lại gần chị an ủi:

- Chị Madalena à, vấn đề không phải là ở chỗ đó. Có bao giờ chúng tôi đặt vấn đề thế giá hay nhân đức với ai đâu. Có lẽ là chị yêu thương Chúa quá đến độ chị hoa cả mắt, gặp ai cũng tưởng tượng là Chúa cả. Chúng tôi thông cảm với chị lắm. Chị biết đó, đám tang của Thầy cũng làm cho chúng tôi đau đớn lắm chứ...”

Maria gào lên:

- Không phải thế đâu anh Philip à. Tôi có thể tưởng tượng được mọi chuyện, nhưng tôi không thể nào tưởng tượng nổi là Thầy sống lại. Chính Thầy đã gặp và nói với tôi mà...

Bây giờ Phêrô mới chịu lên tiếng:

- Chị Madalena à, có lẽ chị cần đi nghỉ đấy thôi...

- Đi nghỉ, đi nghỉ.... Không, đã đến lúc không thể nghỉ ngơi nữa rồi. Chính các anh là những người đầu tiên tôi loan báo Tin Mừng mà các anh không chịu nghe. Lời khuyên duy nhất của các anh, những người Thầy đã chọn, những người Thầy đã trao tất cả mọi bí mật của Thầy, lời khuyên duy nhất của các anh là bảo tôi đi nghỉ... Chao ôi, thế mà lời đầu tiên của Thầy lại cũng là một lời nhắn nhủ gởi đến các anh. Thầy bảo các anh đi về Galilê để gặp Thầy nữa đấy. Thôi! các anh có nghe không thì tùy ý... Tôi đi đây.

Chị ra khỏi phòng tiệc ly, chị tức tưởi khóc. Lần thứ hai trong ngày chị lại khóc. Chị ra cổng thành. Chị không còn muốn ở lại trong cái thành mà các tông đồ ngồi nhớ lại những lời hứa vinh quang, và giờ đây đang sợ hãi nuối tiếc. Chị ra cổng thành, nơi mà người ta đã muốn ném đá chị. Nơi mà lần đầu tiên chị đã bắt gặp ánh mắt thứ tha cùng với tình yêu đã thay đổi cuộc đời mình, một tình yêu vượt qua cái chết... Chị đã thấy Tình Yêu phục sinh, nhưng chị vẫn đau quặn thắt vì những người tin cẩn nhất của Thầy lại không chịu tin. Họ còn ngồi toan tính phải tiếp tục sống với một xác chết! Chị gục mặt khóc, gục mặt sâu hơn ngày bị người ta chửi bới, lên án, dày vò...

- Maria!

Chị nhìn lên Thầy với đôi mắt đẫm lệ. Phải nói với Thầy làm sao đây? Chắc Thầy buồn lắm. Mà quả thật gương mặt Thầy thật buồn

- Thầy biết rồi! Con đừng buồn nữa. Hãy đi cùng Thầy đến thăm họ.

Nụ cười chợt nở lên môi. Maria chạy theo Thầy trở về phòng tiệc ly. Các môn đệ vẫn còn ngồi đấy... Thầy vào: “Bình an cho anh em!”

Mọi người ngơ ngác. Họ vẫn chưa tin. Họ hoa mắt hết như Maria Madalêna rồi chăng?  Thầy phải bảo họ mang lại một cái gì đó cho Thầy ăn. Bây giờ họ mới biết rằng Thầy đã sống lại...

- Thầy đã nói với anh em nhiều lần là Thầy sẽ sống lại, anh em quên rồi sao?

Gioan đáp thay cho mọi người: Thưa Thầy, con tin mà! Con tin từ khi thấy lưỡi đòng đâm qua lồng ngực Thầy, con tin từ khi con và Phêrô nhìn thấy ngôi mộ trống.

Sự ngạc nhiên chẳng mấy chốc biến thành một niềm vui ồn ào, và các tông đồ lên tiếng hỏi: “Thưa Thầy, có phải giờ này là lúc Thầy khôi phục vương quyền cho Israel không?” Giọng Chúa buồn hẳn xuống: “Anh em không cần biết giờ ấy, nhưng anh em hãy đi làm chứng cho khắp thế gian rằng Thầy đã sống lại, thế thôi”

Nói xong, Chúa cúi mặt ra đi, mà không dừng lại nhìn Maria.

Maria bật khóc, nước mắt chị cứ trào mà chị không làm sao giữ lại được. (Sao lại khóc nữa?) Chị nhớ lại ánh mắt yêu thương của Thầy, một tình yêu đưa Ngài lên Thập giá. Chị nhớ lại tiếng kêu thảm thiết trước khi trút linh hồn: Ta Khát! Chị hiểu rằng Thầy còn phải khát lâu lắm. Thầy chỉ là Tình Yêu, Thầy có chút quyền bính nào để trao cho ai đâu, vậy mà môn sinh của Thầy chỉ biết có thế, họ mong ngồi bên hữu bên tả Ngài không phải để yêu thương mà là để hưởng phần quyền bính. Chị không thể nói thành lời, nhưng chị đau lòng quá khi thấy rằng những người Ngài tuyển chọn đã không chịu nhìn nhận sự Phục Sinh của Tình Yêu mà chỉ hướng vào sự phục sinh của uy quyền.

Chúa Giêsu bỏ đi mà không nói lời nào với Maria, dù Ngài thừa biết rằng đây là lần thứ ba chị khóc trong ngày hôm nay, một ngày mà đáng ra chị phải vui mừng nhảy múa. Hai lần trước, Ngài đã yên ủi chị, nhưng lần này thì không. Ngài vội vã ra khỏi phòng tiệc ly. Ngài cúi mặt bước nhanh. Hình như Ngài cũng khóc

Trở về mục lục >>

 

HỌC BẠ CỦA GIÊSU

 

Cậu Giêsu, học sinh trường Nazaret, đem học bạ về nhà. Thật tình mà nói, kết quả không mấy tốt. Mẹ cậu biết thế nhưng không nói gì, bà chỉ ghi nhớ mọi sự trong lòng mà suy đi nghĩ lại. Nhưng điều gay do nhất bây giờ là phải trình học bạ này cho ông Giu-se.

Người gửi: Trường Simêôn tại Nazaret

Ngưòi nhận: Ông Bà Giuse và Maria David

Nội dung: Học bạ của Giêsu

Toán học: Hầu như chẳng làm được bài toán nào, ngoại trừ nhân bánh và cá lên nhiều lần. Không biết làm toán cộng: cậu khẳng định rằng mình cộng với Cha thành một.

Tập Viết: Không bao giờ mang tập vở bút viết đến lớp, đành phải viết trên cát.

Địa Lý: Không có khái niệm về phương hướng. Cậu khẳng định rằng chỉ có mỗi một con đường để về nhà Cha thôi.

Hóa Học : Không chịu làm các bài tập thí nghiệm, cứ hễ thầy giáo quay lưng đi chỗ khác, là y như rằng lấy nước hóa thành rượu để làm trò vui cho các bạn học.

Thể Dục: Thay vì học bơi như mọi người, lại chỉ biểu diễn đi trên mặt nước.

Luận Thuyết: Khó có thể nói năng rõ ràng, nói gì cũng bằng dụ ngôn.

Trật Tự: Đã đánh mất mọi thứ đồ đạc, rồi tuyên bố xoành xoạch rằng mình chẳng  có được một viên đá gối đầu!

Hạnh Kiểm: Có khuynh hướng thích giao du trò chuyện với kẻ lạ, bọn nghèo, hạ cấp và cánh phụ nữ trắc nết.

Đọc xong học bạ, ông Giu-se tự nhủ rằng tình trạng này không được kéo dài thêm, mà cần phải có biện pháp cứng rắn: “Này, Giêsu, đã như vậy thì kỳ Phục Sinh này con đành phải vác thánh giá thôi!”

http://www.labibleparlesaguenay.org/amusons_nous_un_peu/Bulletin_scolaire_de_Jesus.htm

Trở về mục lục >>

NẾM THỬ MÀ XEM

 

Tại trường Thần Học thuộc Đại Học Chicago, hằng năm chúng tôi có một ngày gọi là ‘Ngày Thanh Tẩy’ (Baptist Day). Trong ngày ấy, mọi người đem theo bữa ăn trưa để dùng ngoài trời trên thảm cỏ cắm trại. Mỗi ‘Ngày Thanh Tẩy’, nhà trường mời một trong số các nhân vật nổi danh đến giảng thuyết tại Trung Tâm Thần Học. Một năm nọ, ban tổ chức mời Tiến sĩ Paul Tillich. Vị này nói trong vòng hai giờ rưỡi để ‘chứng minh’ rằng việc sống lại của Chúa Giêsu là không có thật. Ông trích dẫn hết học giả này đến học giả khác và hết sách này đến sách khác. Ông kết luận rằng, do không có việc sống lại trong lịch sử, thế nên truyền thống Giáo Hội không có cơ sở, chỉ là tình cảm, tào lao, vì truyền thống ấy đặt nền tảng trên tương quan với một Đức Giêsu phục sinh, nhưng thật ra, vị ấy chưa hề sống lại theo nghĩa đen. Rồi ông hỏi có ai thắc mắc gì không?

Sau độ 30 giây, một nhà truyền giảng già nua, da màu, với mái tóc bạc cắt ngắn, đứng dậy phía sau tiến sĩ ấy.  Cụ già bảo: “Thưa tiến sĩ Tillich, tôi muốn đặt một câu hỏi”; thế là mọi cặp mắt hướng về vị truyền giảng. Lúc này, cụ già đưa tay vào túi xách đựng bữa ăn và rút ra một quả táo (apple) rồi bắt đầu ăn, vừa nhai miếng táo, nuốt và nói:

“Thưa tiến sĩ Tillich... (nhai, nuốt) Câu hỏi tôi là một câu hỏi rất đơn giản... (tiếp tục nhai, nuốt)... Thực ra, tôi chưa bao giờ đọc các cuốn sách mà tiến sĩ  đọc ... (nhai, nuốt) và tôi không thể đọc lên các câu Kinh Thánh bằng tiếng Hy Lạp... (nhai, nuốt)..tôi không biết gì về Niebuhr hay Heidegger... (nhai, nuốt)”. Ông đã ăn xong quả táo. “Điều duy nhất tôi muốn biết ấy là: Quả táo tôi vừa ăn.... nó đắng hay ngọt?”.

Tiến sĩ Tillich im lặng một lúc rồi trả lời theo phong cách kinh điển mẫu mực: “Tôi không thể nào trả lời câu hỏi ấy được, vì tôi không hề nếm quả táo của cụ.”

Vị truyền giảng đầu bạc kia bỏ hạt trái táo vào bao giấy nhăn nheo, nhìn lên Tiến sĩ Tillich và bình thản nói: “và ông cũng không hề nếm Chúa Giêsu của tôi.”

Hơn 1,000 người tham dự hôm ấy không thể nào ngồi yên được. Tất cả vỗ tay và cười rộ lên. Tiến sĩ cám ơn cử tọa rồi rời hội trường thật nhanh.

 

 Bạn đã nếm Chúa Giêsu chưa? Hãy nếm mà xem Thiên Chúa diụ ngọt dường nào; phúc cho ai trú ẩn nơi Ngài. Nếu bạn đã nếm Ngài rồi, thì hãy vui lên trong niềm hy vọng Phục Sinh mà Đức Tin đem đến cho bạn

http://www.abarnett.demon.co.uk/atheis

Trở về mục lục >>

TÂM TÌNH BẠN ĐỌC

     
  • Chân thành cám ơn Quý độc giả đã giới thiệu thân hữu nhận MARANATHA. Nếu có thể, xin trân trọng kính mời và mong Quý Vị tiếp tay để chuyển báo đến bạn bè với tư cách là Cộng Tác Viên của MARANATHA. Quý vị nào có thể tiếp tay hàng tuần để chuyển cho thân hữu mình xin vui lòng cho biết để mỗi khi phát hành, MARANATHA sẽ gửi đến quí vị trước hết. 

  • Hàng tuần, nếu không có gì trở ngại, MARANATHA sẽ cố gắng phát hành vào chiều thứ năm ở Hoa Kỳ, là sáng thứ sáu tại Việt nam. Trong thời gian này, xin quý độc giả vui lòng xoá bớt các thư cũ hoặc chuẩn bị chỗ trong hộp thư e-mail của mình. MARANATHA vẫn phải nhận lại báo vì hộp thư của Quý Vị đã quá đầy, hệ thống e-mail không nhận và gửi đi nữa. MARANATHA rất tiếc buộc lòng phải xoá những địa chỉ này trong danh sách gửi báo hàng tuần.

  • Tuy nhiên, cũng xin thông báo cho quý độc giả cũng như cộng tác viên: Những tên và địa chỉ của hotmail hầu như đều bị gửi trả lại. Xin vui lòng báo tin cho thân hữu biết nếu họ không nhận được báo hàng tuần.

  • Hiện nay, Yahoo và Gmail đang tặng free địa chỉ với nhiều chỗ chứa hơn cho hình ảnh và thư từ bài vở gửi đến. Hy vọng quý độc giả có thể tạo hộp thư mới cho mình để trong tương lai MARANATHA có thể gửi những loạt bài trên 300 KB.

  • Trong vài tuần qua, có khá nhiều độc giả ghi danh nhận báo và hỏi lại xin các số báo cũ. Trong tương lai, MARANATHA sẽ cố gắng đưa tất cả các số báo đã phát hành lên một trang báo điện tử để Quý độc giả có thể vào lấy xuống và lưu trữ trong máy của mình.

  • Chân thành cáo lỗi với độc giả một lần nữa - Bài NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG sẽ được tiếp tục trong số báo 42 vì phải dành trang cho các bài liên quan đến chủ đề MỪNG CHÚA PHỤC SINH trong số này. Kính mong thông cảm.

  • Trong tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:

Phạm Hùng Sơn – CVK, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Nguyễn Văn Nội, Nguyễn Hữu Dõng - Cơ Sở Thánh Gioan Tẩy Giả, YQ, Bùi Thị Xuân, Lập Phương, Đỗ Mạnh Dũng, Lớp Giáo Lý Cho Người Trưởng Thành, Lm. Nguyễn Phong Sương, Cha Trọng, Tâm Nguyễn, Đaminh Phạm Văn Lý, Tuấn Anh, Thanh Vũ, (Tom) Vũ Lê, Lm. Giuse Võ Công Tiến, Mai Khôi, Nguyễn Duyên, Phúc Andy Nguyễn, Nguyễn Hy-Vọng, Vũ Minh Hiếu, Jose Khoa, Nguyễn Hữu Long, Thanh Tuyền Viện Mến Thánh Giá Đà Lạt, Nguyễn Văn Lâm, A. Tú, Sr. Maria Vũ, Lm. Vincent Piere- SBD, Thanh - ICM, Gkhiep Pham, Trần Thủy, Ngọc Lâm, Lợi Nguyễn, Lm. Trần Liên Sơn, Lm. Stêphanô Bùi Thượng Lưu – Chủ nhiệm Dân Chúa Âu Châu, Lm. Antôn Nguyễn Văn Toàn, Lm. P. Đinh Quang Tri - SSS, Nguyễn Thế Tống, Nữ tu Anne- Marie Hữu Phước - ocd, Lê Đình Hùng,  Giuse Đệ, Hoàng Diễm, Martha Hiền Muội, Bùi Quang Thạch, Lm Hồng Anh Kiệt - Giáo hạt Vi Thanh, Giáo Phận Cần Thơ, Joseph Trần Minh Trí, Phạm Thị Hoa, Thiên Thắng, Ngô Minh Phước,...

         Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.

Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

       Trân trọng, 

       MARANATHA

Trở về mục lục >>

 

THƯ BẠN ĐỌC

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

  • Chào quý vị toà soạn, Tôi ở nước ngoài, rất mong mỏi được đọc những tài liệu đức tin bằng tiếng Việt. Xin toà soạn gửi E-magazine cho tôi mỗi tuần theo địa chỉ email này. Xin cám ơn và cầu xin Cha thiên thượng ở cùng quý vị luôn. Thân ái, YQ, Bùi Thị Xuân.

  • Kính thăm Quí Vị trong Ban Điều Hành Tuần Báo Điện Tử MARANATHA: Xin chân thành cám ơn Quý Vị đã gửi Tuần Báo Điện Tử MARANATHA đến gia đình chúng tôi. Sự hy sinh và tinh thần phục vụ của Quý Vị là một MÓN QUÀ TINH THẦN rất quí báu cho chúng tôi hàng tuần….Kính chúc Quý Vị luôn khoẻ mạnh, bình an và hạnh phúc trong Tình Yêu của Thiên Chúa và Mẹ Maria. Xin chân thành cám ơn, Lập Phương

  • Chân thành cảm tạ Maranatha đã đem những của ăn tinh thần quý giá. Kính chúc Quý Vị và các Bạn đầy tràn ơn Cứu Chuộc trong Tuần Thánh, Niềm Vui và ơn An Bình của Chúa Phục Sinh, Đấng đã chết và sống lại vì chúng  ta. Lm. Stêphanô Bùi Thượng Lưu – Chủ nhiệm Dân Chúa Âu Châu.

  • Con là Giuse Đỗ Mạnh Dũng, qua sự giới thiệu xin cho con được đăng ký số báo MARANATHA. Nếu có thể được hoặc bằng cách nào đó, xin vui lòng có thể gửi cho con những số báo mà con còn thiếu (tức là từ số Maranatha số 35 đến số 39). Trong khi chờ đợi xin  nhận nơi con lòng biết ơn chân thành. Chúc cha luôn khoẻ mạnh, tràn đầy hồng ân Chúa. Con, Đỗ Mạnh Dũng 

  • Chúng tôi là một số học viên Lớp Giáo Lý Cho Người Trưởng Thành tại Mai Khôi, Q.3, Sàigòn. Kính đề nghị quý vị gửi cho chúng tôi báo điện tử Maranatha tại địa chỉ…Chân thành cám ơn. Kính chúc quý vị nhiều sức khoẻ. Lớp GLCNTT.

  • Xin quý vị phụ trách báo Maranatha gửi cho tôi số báo để thuận tiện cho việc mục vụ bà con giáo dân. Kính chào, Lm. Nguyễn Phong Sương.

  • Em xin đăng ký nhận báo MARANATHA hằng tuần. Xin cám ơn ban biên tập. Nguyện xin Thầy Giêsu luôn đồng hành với quý bạn trong sứ vụ loan báo Tin Mừng và chia sẻ đức tin cho tha nhân. Thân ái, Cao Chu Vũ.

  • Tôi mong muốn được có tuần báo Maranatha. Xin chân thành cám ơn. Cha Trọng. 

  • Con muốn xin được nhận các đợt báo của Maranatha và con muốn có những kỳ báo trước, không biết có được không? Nếu được, thì phải làm thế nào? Con xin cám ơn nhiều. Xin Chúa luôn chúc lành cho toà báo. Thanh Vũ.

  •  Kính xin quý vị gởi báo cho con. Con đang làm Giáo Lý Viên. Con xin cám ơn. Tuấn Anh.

  • Kính thưa Ban biên tập. Tôi bắt đầu nhận được MARANATHA từ số 22 ngày 02.10.2004, tôi thấy các bài viết rất bổ ích. Càng đọc, càng tư duy, càng thấm thía, nên tôi thỉnh thoảng tóm lược rồi copy để tặng bè bạn, nhưng nguyên tắc của tôi là mỗi bài chỉ là 1 hoặc cùng lắm là 2 tờ A4, và tôi thấy hiệu quả rất tốt, nếu dài quá họ cũng lười đọc. Còn viết bài gửi cho MARANATHA tôi cũng muốn lắm nhưng tự xét mình không đủ trình độ, vậy việc copy MARANATHA cũng coi như biểu lộ lòng yêu mến, tri ân của tôi đối với MARANATHA… “Tôi sẽ làm việc theo sức tôi, để quyền lợi của Thiên Chúa và Hội Thánh Chúa được tôn trọng…” (Kinh của giáo phận Hà Nội).  Kính chúc Quí Bạn một lễ Phục Sinh tràn đầy ơn Chúa. Kính thư, Đaminh Phạm Văn Lý.

  • Kính thưa ban điều  hành báo Maranatha, Kính xin quí vị cho tôi được ghi danh nhận báo của quí vị để có thêm điều kiện phục vụ cách hữu hiệu hơn. Xin chân thành cám ơn. Lm. Giuse Võ Công Tiến.

  • Xin Quý Báo gởi báo cho bạn con theo địa chỉ:….Con xin cám ơn. Hôm nay Giáo Hội mừng     kính Thánh Cả GIUSE, con kính chúc Quý Báo được CHÚA chúc lành, gìn giữ, duy trì Tuần     Báo của chúng ta qua bàn tay nhân từ của Thánh Cả. Chào kính, Mai Khôi.

  • Muốn “Góp Ý” xây dựng. Kính thưa Maranatha, Tôi là một người thường làm việc bên nhiều chương trình Công Giáo. Đã viết cho nhiều chương trình trên webpage. Đây là một  ý kiến muốn tặng cho…toà soạn một trang web để bỏ tất cả các bài lên đó. Xin vui lòng cho tôi biết ý kiến này. Nếu có thể được thì xin cho biết và tôi sẽ giúp làm nên cái web này cho quý vị.  Xin chân thành cám ơn và xin Hồng Ân Thiên Chúa đổ tràn đầy trên các vị. Phúc Andy Nguyễn.

  • Cám ơn Maranatha Vietnam đã gởi Tin Mừng và chia sẻ tâm thức niềm tin. ..Nhưng rất tiếc có những kỳ không thể open không hiểu tại sao. Chúng ta cố gắng với những gì có thể. Xin Chúa chúc lành cho quý vị. Kính chúc Quý Vị TUẦN THÁNH SỐT SẮNG VÀ MỪNG LỄ PHỤC SINH TRONG HY VỌNG VÀ CHIẾN THẮNG. ALLELUIA. Nguyễn Duyên

  • Lần đầu tiên được "Lang Thang Chiều Tím" giới thiệu tuần báo MARANATHA. Một tờ báo rất hữu ích không những đối với các bậc tu trì mà còn có ích cho toàn thể Cộng đoàn Dân Chúa. Nay tôi chỉ là một Giáo dân cũng như mọi Giáo dân khác, xin được ghi danh nhận các số báo tiếp theo. Xin cám ơn, xin Chúa nhân lành luôn chúc phúc cho Quý báo. Trân trọng, Vũ Minh Hiếu. 

  • Kính thưa Ban Biên Tập báo Maranatha, tôi rất vui khi được giới thiệu tờ báo điện tử Maranatha, tôi ước mong được nhận tờ báo này thường xuyên, để tăng cường thêm kiến thức đạo. Xin vui lòng gửi tờ báo này cho tôi. Nếu có cách nào truy nạp những số báo trước đây, thì xin vui lòng cho tôi được biết. Xin chân thành cám ơn và cầu chúc Ban Biên Tập dồi dào ơn Chúa để hoạt động làm vinh danh Chúa. Nguyễn Hữu Long. 

  • Kính gửi Ban Biên Tập Tuần Báo MARANATHA. Thanh Tuyền Viện chúng con rất bỡ ngỡ và rất vui vì bất ngờ nhận được tờ báo MARANATHA đến với chúng con. Qua nội dung chứa đựng trong đó, chúng con đã biết thêm được nhiều vấn đề và những câu chuyện thiết thực cho từng thời điểm nữa. Chúng con xin Ban Biên Tập tiếp tục gửi báo đến cho chúng con và xin cũng gửi cho một số địa chỉ người quen của chúng con dưới đây nữa. Chúng con xin chân thành cám ơn Quí Vị trong Ban Biên Tập. Nguyện xin hồng ân Chúa luôn tràn đầy trên Quí Vị để những hạt giống mà Quí Vi đang gieo trồng được trổ sinh dồi dào. Xin kính chúc Quí Vị được đầy Ơn Thánh của Chúa trong Tuần Thánh và Mùa Phục Sinh. Xin chân thành cám ơn. Thanh Tuyền Viện Mến Thánh Giá Đà Lạt

  • Kính thưa ban biên tập Maranatha, xin chân thành cám ơn quí vị đã gửi báo cho tôi. Những bài suy niệm rất giúp ích cho tôi trong Mùa Chay thánh này. Xin Chúa chúc lành cho báo mỗi ngày một phát triển và cho công việc tông đồ này được mãi mãi sáng danh Cha và giúp ích cho nhiều linh hồn. Xin đa tạ, Sr. Maria Vũ.

  • Kính thưa Quý Ban Biên Tập, Tôi là một linh mục thuộc Dòng Don Bosco, hiện đang phục vụ tại giáo xứ Ba Thôn, giáo phận Sài gòn, Việt Nam. Xin vui lòng gửi các số báo Maranatha cho tôi. Hy vọng tôi sẽ dùng để phục vụ cộng đoàn dân Chúa ngày một hữu hiệu hơn. Kính chúc Quý Ban Biên Tập một Tuần Thánh thật sốt sắng  và một Lễ Phục Sinh vui tươi trong Tình Yêu Cứu Độ của Chúa! Chân thành cảm tạ. Thân ái trong Chúa Kitô, Lm.Vincent Piere 

  • Kính gửi ban Biên Tập Tuần Báo Maranatha. Tôi ước mong nhận được các bài vở của tuần báo. Xin gửi cho tôi hàng tuần. Chân thành cảm tạ. Thanh, ICM. 

  • Xin giới thiệu tuần báo MARANATHA đến cùng quý linh mục, tu sĩ và anh chị em giáo dân trong Việt-sharing, đặc biệt là những vùng xa xôi hẻo lánh cần thêm tài liệu về tôn giáo. Nếu ai muốn nhận báo MARANATHA hàng tuần thì xin gởi e-mail về maranatha@saintly.com cho biết muốn nhận báo. Lang Thang Chiều Tím.

  • Cám ơn  Maranatha. Con là một Linh Mục trẻ, rất cần nhiều tài liệu để học hỏi và trau dồi kiến thức. Xin gởi cho cho tài liệu nhé. Chúc Tuần Thánh sốt sắng và Niềm Vui Phục Sinh đến với quý vị. Thân ái, Lm. Trần Liên Sơn.

  • Mình là Lm. Antôn Nguyễn Văn Toàn, đang phụ trách giáo xứ Quãng Nghệ - Hạt Bình Giả - Giáo Phận Xuân Lộc - Việt Nam. Tiếc là MARANATHA đã đến số 40 rồi mà nay mình mới nhận dược số đầu tiên (số 40). Vậy, mình xin được nhận báo hàng tuần nhé Rất cám ơn Ban Biên Tập nhé. Lm. Antôn Nguyễn Văn Toàn.

  • Kính thăm quý báo, Con được mục suy niệm của Lang Thang Chiều Tím giới thiệu về quý báo, nay con viết thư này, mong quý báo cho con được các số báo ấy. Chân thành cám ơn. Lm. P. Đinh Quang Tri, SSS.

  • Kính thưa các vị toà soạn Maranatha, xin cho tôi được nhận báo. Tôi xin thành kính tạ ơn. Nguyễn Thế Tống.

  •  Kính chào toàn ban biên tập, Chúng tôi rất hân hạnh được tham dự vào những độc giả tuần báo Maranatha: Xin Chúa mau ngự đến. Quả thật nơi bắc cực lạnh lẽo, được những dòng chữ tiếng Mẹ đẻ vẫn là nguồn an ủi cho chúng tôi nhất là cho vài nữ tu đã lớn tuổi. Thành thật cám ơn chân thành. Chúc một Tuần Thánh đầy sốt sắng và ơn Thánh Cứu Chuộc. Chúng tôi cũng mạn phép gửi đến quý vị một người ân nhân đang gặp vạn sự khó khăn. Ông ta tên là Giuse Trần. Xin thương giúp và cầu cho gia đình ông ta nữa. Hiệp nhau trong lời cầu. Nữ tu Anne- Marie Hữu Phước, ocd.

  •  Xin kính gửi tuần báo Maranatha, xin gửi báo. Đa tạ. Lê Đình Hùng.

  •  Xin cho con được báo hàng tuần nhé. Muôn vàn tạ ơn. Giuse Đệ. 

  • Linh mục Andre Hồng Anh Kiệt, Giáo hạt Vi Thanh – Giáo Phận Cần Thơ muốn nhận báo. 
  • Chân thành cám ơn những việc làm tông đồ của quí vị. Xin Đức Kitô luôn chúc lành cho quí vị. Nếu được, xin quí vị vui lòng gửi tuần báo MARANATHA cho những giáo dân sau đây:…Xin kính chào, Bùi Quang Thạch.

  • Request new Maranatha send to email addresses... Thanks! God Bless you. May God be your reward for the wonderful job.  Hienmuoi.

  • Tôi hết sức cám ơn Maranatha đã gửi báo cho tôi. Tôi  lấy  làm tiếc vì giờ mới biết đến Maranatha. Nhưng muộn còn hơn không. Xin cảm tạ Chúa đã qua tay quý báo để giúp đỡ tinh thần và đức tin của tôi. Nguyện Chúa đổ tràn ân sủng của Người trên mọi thành viên cũng như mọi độc giả của Maranatha. Cám ơn Chú Nam đã viết thư đề nghị gửi báo cho cháu. Hoàng Diễm.

Trở về mục lục >>

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn