|
|
Số 41, Ngày 26-3-2005
Mừng Chúa Phục Sinh! Joyeuses Pâques! Felices Pascuas! Buona Pasqua! Frohe Ostern! Happy Easter! Kαλό Πασχά! HALLELUIAH! Chúa Kitô Phục Sinh – Lm. Vũ Xuân Hạnh Hãy Phục Sinh Đức Kitô Trong Tâm Thức Ta – Nguyễn Chính Kết Chúng Ta Nay Đã Phục Sinh!- Khổng Nhuận Cách Tính Ngày Chúa Nhật Phục Sinh – Maranatha sưu tầm Chúa Giê-su ‘Sống Lại’ Hay ‘Trỗi Dậy’? - Nguyễn Công Bình Làm Thế Nào Để Bài Giảng Sống Động Hơn? – Lm. Christopher Chatteris S.J. Những Giọt Lệ Ngày Đầu Tuần - Trần Duy Nhiên Học Bạ Của Giêsu- Sưu - Sưu tầm Nếm Thử Mà Xem - Sưu tầm Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Thư Tòa Soạn Kính thưa Quý độc giả, Một trong hai tác phẩm bất tử của đại văn hào Léon Tolstoi có tên là PHỤC SINH (BOCKRECEHIE - Phiên âm: Va-skri-xê-nhi-ê). Cuốn tiểu thuyết này nói về tiến trình của hai biến cố phục sinh. Biến cố phục sinh thứ nhất xảy ra ở tại một làng quê. Theo tục lệ của Chính Thống giáo, sau khi dự thánh lễ đêm Phục Sinh, từng cặp chào mừng nhau. Một người xướng: “Chúa Kitô đã sống lại”, và người kia đáp: “Người đã sống lại thật”; rồi hai người ôm hôn ba lần để trao niềm vui cho nhau. Chính lễ nghi này đã khiến ông hoàng Neklioudov, trong một lần về thôn quê, ôm hôn người hầu gái của bà cô mình và xuất thần cảm nhận tình yêu. Trong khoảnh khắc thánh thiện ấy, ‘tình yêu đã đạt đến tuyệt đỉnh, nơi không còn mảy may gì là suy nghĩ, là xác thịt, mà chỉ là sự hợp nhất giữa hai người.’ Cũng vì giây phút thần thiêng ấy mà cô hầu Caterina đã trở thành người tình một đêm của ông hoàng kia, để rồi ông trở về thành phố mà không còn bận tâm gì đến hành vi của mình trong cái đêm Phục Sinh nông thôn ấy. Biến cố phục sinh thứ hai xảy ra nhiều năm sau đó. Ông hoàng Neklioudov ngồi ghế bồi thẩm đoàn để xem người ta kết tội một cô gái thứ dân phạm một tội không rõ rệt. Cô gái ấy chính là Caterina mà ông hoàng đã ân ái một đêm rồi xóa đi trong ký ức. Ông nhận ra rằng hành động vô trách nhiệm của mình đã đẩy cô gái xuống vực thẳm và giờ đây bị kết án oan. Lương tâm bừng dậy, ông đã bỏ lại tất cả, theo cô gái suốt hành trình đi đày đến tận Sibêri và chia sẻ mọi cơ cực của những kẻ tù đày... để rồi cuối cùng đã xin được ân xá cho Caterina, và cũng là ân xá cho tâm hồn mình. Tiến trình Phục Sinh thứ hai này là đoạn đường dài nhất trong 600 trang sách. Thế nhưng tiến trình Phục Sinh này không được nêu lên một cách minh nhiên mà đòi hỏi độc giả phải tiếp tục suy tư tìm kiếm. Hai tiến trình Phục Sinh ấy gợi ý cho chúng ta tiếp cận giáo huấn của Giáo Hội. Bài Tin Mừng theo Thánh Gioan được Giáo Hội chọn đọc trong thánh lễ Ngày Phục Sinh chỉ nói đến ngôi mộ, cùng với khăn liệm..(Ga 20, 1-10). Điều mà các Tông Đồ gặp chỉ là một ngôi mộ trống, chứ không phải là Chúa Kitô Phục Sinh. Họ trở thành những Kitô hữu nhiệt thành, không phải là vì nghe ai đó kể về biến cố Phục Sinh mà vì chính Đức Kitô đã được phục sinh trong tâm hồn họ. Vì sao tôi có thể nói thế? Thánh Gioan đã xác tín điều này trong một câu rất ngắn nhưng âm vang thật dài thật sâu: “Ông đã thấy và ông đã tin.” (Ga 20, 8). Chữ ‘tin’ trong Phúc Âm Thánh Gioan là cả một khung trời. Không phải như tôi tin ở Pháp có tháp Eiffel, tin ở Mỹ có một người thu nhập bằng tất cả dân Việt Nam cộng lại, tin ở Ý có người tìm ra thuốc trị ung thư. Những điều tin ấy chẳng đụng chạm gì đến bản thân tôi, đến ngôi nhà lụp xụp, đến đồng lương ít ỏi, đến những chán chường ngao ngán khi buổi chiều về kẹt xe trên xa lộ sau giờ tan sở, đến những căng thẳng của công việc và giao tiếp hàng ngày, đến nỗi cô đơn, căn bệnh nhức mỏi của tôi... Và cuộc đời của tôi vẫn thế, dù có tin hay không. Trái lại, đức tin của Tông Đồ Gioan chính là một sự sống thay đổi cả đời ông, và chỉ có Đấng Phục Sinh trong ông mới khiến cho ông thấy cuộc đời mình không còn như cũ nữa. Xét cho cùng, đối với bạn và tôi, những gì người khác kể về Đức Kitô Phục Sinh - cho dù người ấy có thánh thiện và khả kính đến đâu - thì cũng không quan trọng lắm. Điều họ trình bày rốt cục cũng chỉ là một ngôi mộ trống! Điều thật sự quan trọng là Đức Kitô phải sống lại trong bạn và trong tôi, bởi vì nếu Ngài sống lại cho mọi người mà không sống lại trong tôi, thì Mầu Nhiệm Phục Sinh chẳng có ý nghĩa gì đối với tôi cả, và niềm tin của tôi đối với Chúa đã Phục Sinh cũng chẳng khác gì tôi tin có một ông tư bản giàu sụ bên Mỹ bên Tây. Thế nhưng làm sao biết được rằng Chúa Đã Phục Sinh trong bản thân mình. Ta trở lại với tiểu thuyết Phục Sinh của Léon Tolstoi. Ông hoàng Neklioudov đã thông qua hành trình cam go đến với miền giá lạnh Sibêri, đã đối diện với đau khổ, đã chứng kiến cảnh tù đày phi nhân... để rồi ông thực sự phục sinh. Chương cuối cùng của cuốn sách trứ danh kia hầu như dành trọn vẹn cho những trích dẫn Phúc Âm, trước khi kết thúc bằng câu sau đây: “Kể từ đêm hôm ấy, một cuộc sống mới khởi sự cho Neklioudov, không phải vì điều kiện sống của ông đã thay đổi, nhưng bởi vì kể từ giây phút ấy, mọi biến cố trong cuộc đời đều mang một ý nghĩa khác.” Mọi biến cố trong cuộc đời tôi mang một ý nghĩa khác: đấy là thước đo để biết xem Thiên Chúa đã phục sinh trong bản thân tôi hay chưa. Hướng về ‘một ý nghĩa khác’ cho đời sống Kitô hữu, Maranatha tuần này gần như dành trọn cho biến cố Phục Sinh, qua những học hỏi và suy nghĩ nhiều hướng khác nhau. Và điều tiên quyết, ấy là mỗi Kitô hữu cần đón Chúa Kitô Phục Sinh đến ngự trong tâm hồn mình, bằng lời cầu nguyện trường kỳ: Maranatha, Lạy Chúa Kitô, xin ngự đến! MARANATHA
MỪNG CHÚA PHỤC SINH CHÚA KITÔ PHỤC SINH Lm. Vũ Xuân Hạnh Chiếm vị trí quan trọng trong Kitô giáo, Mầu Nhiệm Phục Sinh trở thành mầu nhiệm trung tâm của niềm hy vọng vĩnh cửu mà loài người mong đợi. Bởi thế không lạ gì thời gian cử hành mầu nhiệm Phục sinh là thời gian cao điểm của cả năm phụng vụ. Vì là mầu nhiệm cao cả, lễ Phục Sinh trở thành Đại lễ mà không lễ nào có thể vượt qua. Nhưng không phải chỉ có phụng vụ mới nhấn mạnh tầm quan trọng của lễ Phục sinh. Đúng hơn, phụng vụ chỉ dựa trên những gì đã được mạc khải, vì thế ta hãy nhìn lại chính lời mạc khải của Chúa từ trong Thánh Kinh, nhất là nơi các sách Tin Mừng như nền tảng của đời sống Giáo Hội để mà suy nghĩ, để cầu nguyện và để sống. Chỉ nơi bốn sách Tin Mừng mà thôi, ta đã có đến 131 câu đề cập đến biến cố Phục sinh, kể từ lúc các phụ nữ đi thăm mồ từ sáng sớm, đã phát hiện ra ngôi mộ trống và được báo cho biết Chúa đã sống lại, đến biến cố thăng thiên. Sách Công vụ Tông đồ và các thư Tân Ước còn cung cấp thêm 160 câu về đề tài Phục Sinh của Chúa chúng ta. Chỉ riêng thánh Phaolô đã có 22 lần nhắc đến. Không ai phủ nhận rằng, Mầu Nhiệm Nhập Thể của Chúa Kitô là mầu nhiệm có tầm quan trọng. Vì khởi đi từ mầu nhiệm này, Con Thiên Chúa làm người. Phải có một con người - Thiên Chúa ấy, thì hôm nay mới có Đại lễ Vượt qua thánh thiện này. Biến cố Giáng Sinh còn là một sự kiện lịch sử quan trọng, không chỉ vì biến cố ấy trở thành cái mốc quan trọng của thời gian, nhờ đó loài người biết được năm tháng ngày giờ, nhưng biến cố nhập thể còn quan trọng hơn nhiều trong niềm tin vào một dòng lịch sử có bàn tay Thiên Chúa đang điều khiển từng ngày, để hướng dẫn, lèo lái mọi biến cố lịch sử theo ý Ngài: lịch sử cứu độ. Chính biến cố nhập thể ấy, đã làm cho lịch sử cứu độ lật sang trang mới. Và Đấng Phục Sinh hôm nay là trung tâm của cả dòng lịch sử đang trôi giữa mọi chiều kích lịch sử của con người và thế giới. Bởi thế, không ai còn nghi ngờ rằng, mầu nhiệm Nhập thể và Giáng sinh là mầu nhiệm rất quang trọng. Thế nhưng mầu nhiệm quan trọng ấy chỉ được nhắc đến ít hơn nhiều so với mầu nhiệmVượt Qua. Vì sao sự Phục sinh của Chúa Kitô lại quan trọng như thế? Là bởi vì Kitô giáo không bao giờ là một mớ lý thuyết trừu tượng, nhằm cung cấp một hệ thống giáo điều hay tín lý. Nhưng Kitô giáo trước tiên là một phẩm vị, là một lẽ sống, là chân lý được cụ thể nơi một con người. Con người ấy cũng chính là Con Thiên Chúa đã đến trần gian, sống trong trần gian và dạy người ta phải sống các giá trị cao cả, các giá trị mang chiều kích thánh thiêng hướng về Thiên Chúa: “‘phúc cho các ngươi là những kẻ nghèo’; ‘phúc cho các người là người hiền lành’; ‘phúc cho các ngươi là những người phải chịu đau khổ’; ‘phúc cho các ngươi là những người ao ước trọn lành’; ‘phúc cho các ngươi vì các ngươi biết xót thương’; ‘phúc cho các ngươi vì đã giữ lòng trong sạch’; ‘phúc cho các ngươi là người mang lại bình an’; ‘phúc cho các ngươi vì lẽ đạo mà bị bắt bớ.” Vì Kitô giáo đặt trung tâm vào Chúa Kitô, bởi thế tất cả những gì là chân lý Kitô giáo phải thuộc về một chân lý nguồn, chân lý mà từ đó phát xuất mọi lẽ sống. Do đó, những giá trị cao cả hướng về Thiên Chúa được tóm gọn trong các mối phúc ấy, đã bị người đời đóng đinh cùng với Đấng đã từng giảng dạy nó. Và hôm nay, hay cho hết mọi thời, nếu loài người đã đóng đi Giêsu, thì những giá trị mà Giêsu rao giảng cũng đã chết một cái chết đáng thương như chính Giêsu vậy. Nhưng không, Giêsu đã chiến thắng. Giêsu là một con người rất bình thường, nhưng cũng là một Thiên Chúa mà tình yêu của Người có sức cứu độ diệu kỳ. Vì thế, một khi Giêsu đã bước ra khỏi mồ, đã toàn thắng, đã khải hoàn phục sinh, thì tất cả những giá trị cao cả mà Giêsu đã rao giảng, đã sống, và đã chết cho nó, trở thành những giá trị vĩnh cửu, những giá trị mà tất cả những ai nghe theo và sống, sẽ mang trong mình chiều kích phục sinh như chính Giêsu, Đức Chúa chúng ta. Bởi thế, nếu giáo thuyết của Chúa Giêsu có cao đến đâu, siêu phàm cách mấy, nhưng bản thân Người không phục sinh, Người chỉ là một kẻ nói dối, một tên bịp bợm. Và những giáo thuyết ấy sẽ không có bất cứ một giá trị nào. Nhưng hôm nay Chúa Giêsu đã sống lại và vẫn đang sống, sống đến muôn đời, cho nên nếu Kitô giáo là chân lý cụ thể nơi một con người mang tên Giêsu, và chính Đấng mang tên Giêsu là trung tâm của Kitô giáo, thì giáo thuyết của Người là một giáo thuyết tuyệt đối, một giáo thuyết chứa chan niềm an ủi, niềm hy vọng và vĩnh cửu. Tắt một lời: Đối với Kitô giáo, chỉ có Chúa Kitô, nhờ Chúa Kitô, và trong Chúa Kitô, mọi giá trị của cuộc sống trở thành vĩnh cửu. Trung thành với giáo huấn của Chúa Kitô, Kitô giáo mãi mãi đặt niềm hy vọng cánh chung của mình nơi Người. Bởi thế mà Phục sinh trở thành Đại lễ, và niềm tin phục sinh chiếm chỗ quan trọng trong mọi sinh hoạt của đời sống Giáo Hội, đi từ Lời mạc khải của Thánh Kinh, đến phụng vụ, và đến từng ngõ ngách của đời sống riêng tư nơi mỗi Kitô hữu. Vì nói như thánh Phaolô: Nếu Chúa Kitô không sống lại, chúng ta là những người vô phúc nhất, ngu đần nhất, vì đã đặt tin tưởng và một chuyện hảo huyền. Nếu Chúa Kitô đã không sống lại, ta vẫn mang tội lỗi ở trong mình, không ai có thể giải cứu được, không ai đưa ta đến gặp Thiên Chúa được. Nếu Chúa Kitô không sống lại, thập giá chỉ là dấu của nhục nhã, đau khổ của con người sẽ không có lối thoát, cái chết của con người sẽ là đường cùng, là ngõ cụt (1Cr 15, 12 tt). Lạy Đấng Phục Sinh là Đức Chúa chúng con tôn thờ, chúng con tin Chúa và hy vọng vào Chúa, vì chỉ có Chúa, Đấng Phục Sinh duy nhất mới có thể đưa chúng con đến với Thiên Chúa. Xin ban bình an cho chúng con, để dù vác thập giá nặng nề đến đâu, dù thập giá có làm chúng con ngã xuống vì hết sức, vì tàn hơi, chúng con vẫn can đảm đặt niềm tin và hy vọng vào Chúa, Đấng Phục Sinh vinh hiển đang đổ tràn Ân Sủng Phục Sinh trong cuộc đời chúng con●
HÃY PHỤC SINH ĐỨC GIÊSU Nguyễn Chính Kết 1. Đức Giêsu đang sống hay đã chết trong tâm hồn ta? Đức Giêsu đã sống lại. Điều ấy có ảnh hưởng gì đến ta không? Đức tin dạy ta rằng: «Nếu Đức Kitô không phục sinh, thì niềm tin và lời rao giảng của chúng ta là vô ích» (1 Cr 15,14). Thật vậy, nếu Đức Giêsu không sống lại, thì cho dù có Ngài, cũng sẽ không có Kitô giáo, vì người ta không có một bằng chứng cụ thể và chắc chắn nào để tin rằng Ngài là Con Thiên Chúa. Và nếu như thế, ta cũng như mọi Kitô hữu khác đều chẳng phải là Kitô hữu, và lúc ấy đối với ta, Đức Giêsu cũng chỉ là một đạo sư như bao đạo sư khác. Nhưng nếu Ngài đã thật sự phục sinh và ta đã là Kitô hữu, thì sự phục sinh của Ngài có ảnh hưởng gì đến ta một cách hiện sinh không? Có làm ta thay đổi cuộc sống hiện nay của ta không? Biết bao lễ phục sinh qua đi, mà lòng ta hay cuộc sống ta đâu có gì thay đổi! Ta vẫn là ta, vẫn có biết bao thói hư thật xấu như trước, chẳng thay đổi bao nhiêu, đôi khi tệ hơn! Tại sao? Vì ta đã coi sự phục sinh của Đức Giêsu như một biến cố xảy ra hoàn toàn ở bên ngoài ta, chứ không xảy ra chút nào trong bản thân ta cả. Một nhà tu đức nói: «Nếu Đức Giêsu chỉ sinh ra tại Bêlem, chỉ sống tại đất nước Do Thái, chỉ chịu chết trên đồi Canvê, và chỉ phục sinh trong lịch sử cách đây 2000 năm, mà không sinh ra, sống, chịu chết và phục sinh ngay trong tâm hồn ta, tại đây và lúc này, thì tất cả những biến cố ấy của Ngài đều hoàn toàn vô ích đối với ta». Vì thế, điều quan trọng để sự phục sinh của Ngài có ích lợi cho ta, là Ngài phải phục sinh ngay trong bản thân ta, trong tâm thức của ta. Theo niềm tin và sự tuyên xưng của ta, Ngài vẫn đang sống và hiển trị, nhưng dường như tất cả đều xảy ra ở bên ngoài ta. Còn ở trong ta, trong tâm thức ta, Ngài đã chết và đã được an táng từ lâu. Thỉnh thoảng ta chỉ tưởng nhớ đến Ngài như một người đã sống cách đây 2000 năm, tương tự như ta vẫn nhớ đến ông bà tổ tiên ta, hay đến một đức Trần Hưng Đạo nào đấy trong lịch sử. Trong tâm thức ta, Ngài được coi như một người quá cố. Một người chết như thế đương nhiên chẳng có thể ảnh hưởng hay thay đổi gì ta được! 2. Hãy phục sinh Đức Giêsu trong tâm thức ta Vậy, để được biến đổi nên một con người mới, mạnh mẽ, tốt đẹp, tràn đầy thần khí của Thiên Chúa, trước hết ta phải phục sinh Đức Giêsu ở ngay bản thân ta, trong tâm hồn ta, trong tâm thức ta. Ngài có thật sự sống và hoạt động trong ta, thì ta mới được biến đổi để trở nên như Ngài. Trong Tin Mừng có đoạn mô tả Đức Giêsu ngủ say như chết, bất động, trên thuyền của các tông đồ giữa cơn phong ba bão táp, để mặc các tông đồ phải đối phó trong hốt hoảng sợ hãi (x. Mt 8,23-27; Mc 4,35-41; Lc 8,22-25). Đó chính là hình ảnh mô tả thật chính xác tình trạng của Đức Giêsu trong tâm hồn ta: Ngài đang ngủ, hay Ngài đã chết, nghĩa là Ngài bất động. Nếu Ngài thức hay sống trong tâm hồn ta, tất nhiên Ngài sẽ hoạt động, Ngài sẽ làm những việc lạ lùng, thậm chí phép lạ để biến đổi ta, tương tự như Ngài đã làm sóng gió yên lặng sau khi các tông đồ đánh thức Ngài dậy trên thuyền. Cuộc đời ta, tâm hồn ta nhiều khi ảm đạm, buồn tẻ, không có gì hứng thú hay khởi sắc về mặt tâm linh, chính vì ta đã để Đức Giêsu ngủ yên hay còn nằm chết trong ngôi mộ của tâm thức ta. Lúc nào Ngài cũng hiện diện trong ta, đầy quyền năng của một vị Thiên Chúa. Ngài sẵn sàng làm mọi sự để biến đổi ta nên hoàn thiện, mạnh mẽ, để cứu giúp ta khi gặp cùng khốn. Nhưng thái độ lãng quên và hờ hững của ta đối với Ngài đã khiến sự hiện diện của Ngài trong ta thành một hiện diện thụ động của một xác chết, hay của một người đang ngủ. Một cách khách quan, Ngài vẫn luôn hiện diện trong ta từng giây phút, nhưng ta không hề ý thức điều ấy, ta chẳng nhớ gì đến Ngài. Ngài hiện diện ở đó, nhưng đối với tâm thức ta, Ngài dường như không hiện diện. Nói cách khác, Ngài dường như vắng mặt trong tâm thức ta. Chính vì thế, sự hiện diện khách quan nhưng thụ động của Ngài chẳng đem lại lợi ích gì cho ta, chẳng làm cho đời sống ta thêm dồi dào phong phú, bình an hạnh phúc, đang khi ta rất cần và rất mong điều ấy. Ngài hiện diện nhưng chẳng khác gì vắng mặt, Ngài vẫn sống nhưng chẳng khác gì đã chết, vẫn thức nhưng chẳng khác gì đang ngủ, vì ta đã không để Ngài hiện diện hay sống động trong tâm thức ta. Ngài giống như một kho tàng rất lớn chôn dấu ngay trong nhà ta, nhưng vì ta không biết, nên ta nghèo vẫn hoàn nghèo, và kho tàng ấy chẳng ích lợi gì cả. Nếu nhờ ý thức, Ngài trở nên hiện diện trong tâm thức ta, lập tức sự hiện diện ấy sẽ trở thành sự hiện diện hoạt động, hữu ích. Ngài sẽ biến đổi ta một cách hữu hiệu. Cũng như khó tàng bị chôn dấu kín kia, nếu được biết đến và đem ra sử dụng, sẽ đem lại một cuộc sống hết sức phong phú và hạnh phúc. 3. Sự phục sinh của Ngài trong ta tùy thuộc vào ta Ngài ngủ hay thức, chết hay sống trong tâm hồn ta, điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào ta có đánh thức hay để Ngài sống và hiện diện trong ta hay không. Ngài để ta hoàn toàn tự do quyết định điều đó. Trong chương trình của Ngài, rất nhiều việc Ngài đòi hỏi sự cộng tác tự nguyện của ta thì mới thành sự. đó là cách Ngài trọng phẩm giá của ta, là hình ảnh của Ngài, một Thiên Chúa hoàn toàn tự do. Phẩm giá đó buộc Ngài phải tôn trọng tự do của ta, Ngài không muốn đơn phương làm mọi việc, dù Ngài có thể làm, nhất là sự hoạt động tự do trong tâm thức ta. Như vậy, tuy Ngài hiện diện và hoạt động cùng khắp, nhưng vẫn có chỗ mà ngài không thể tự do hiện diện và hoạt động theo ý Ngài. Đó là hiện diện và hoạt động trong tâm thức ta. Tâm thức ta là một không gian bất khả xâm phạm đối với chính Ngài, nghĩa là chính Ngài cũng không dám xâm phạm. Ngài chỉ vào đó để hiện diện và hoạt động trong tâm thức ta khi nào ta cho phép Ngài, bằng cách hướng về Ngài, ý thức được sự hiện diện khách quan của Ngài và nhất là hết mình sống với sự hiện diện đó. Sự hiện diện của Ngài trong tâm thức ta chỉ đạt tới tuyệt đỉnh và trở nên tích cực hoạt động khi nào ta có thể nói được như thánh Phaolô: «Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi» (Gl 2,20). Muốn thế, ta phải để Đức Giêsu chiếm trọn bầu trời tâm thức ta. Bình thường, «cái tôi» của ta chiếm trọn bầu trời ấy, vì lúc nào ta cũng nghĩ về ta, về quyền lợi, hạnh phúc, đau khổ của ta. Mọi hoạt động của ta đều bị cái tôi ích kỷ đó chi phối, điều khiển, huy động, khiến ta lúc nào cũng chỉ biết lo cho bản thân mình. Nhưng càng lo cho bản thân ta bao nhiêu, ta càng cảm thấy thiếu thốn, trống rỗng và đau khổ bấy nhiêu, vì đòi hỏi của ta thì vô hạn, mà sức của ta thì có hạn. Trong bầu trời tâm thức đó, ta chỉ dành một khung rất nhỏ cho Thiên Chúa và người khác. Vậy, nếu muốn Đức Giêsu luôn hiện diện sống động và sử dụng được toàn bộ năng lực của Ngài trong ta, ta phải dành trọn bầu trời tâm thức của ta cho Ngài. Ngài phải là một ưu tư, lo lắng lớn lao nhất của ta, và ta chỉ nên dành một khoảng trời bé nhỏ nào đó cho chính ta thôi. Làm như thế là ta đã phục sinh Ngài, đã đánh thức Ngài dậy trong ta, để Ngài thi thố quyền năng của Ngài. Làm như thế là ta đã đào được cái kho tàng quí báu nhất mà ta vẫn vùi sâu chôn chặt trong tâm thức ta, để biến kho tàng ấy trở nên ích lợi cho ta. Và đương nhiên sau đó, nhờ sự sống và hoạt động của Ngài trong ta, ta sẽ hoàn toàn được biến đổi, cuộc sống trở nên phong phú và hạnh phúc hơn●
Khổng Nhuận “Trong Mùa Phục Sinh, các con hãy sống Mầu Nhiệm Phục Sinh.” Đó là lời khuyên của các cha giáo chủng viện ngày xưa. Nhưng bọn chủng sinh chúng tôi có hiểu gì đâu. Nghe tai này bay qua tai kia. Chúng tôi như một đàn cừu lẽo đẽo theo nhau mà chẳng biết mình đi tới đâu. Sau một thời gian lênh đênh trên dòng đời, theo tâm tình chu kỳ Phụng vụ, vào Mùa Vọng chúng tôi cũng cố gắng sửa một vài tật xấu. Chưa sửa được bao nhiêu, thì mùa Giáng Sinh huyền diệu đã tới, chúng tôi nao nức đón mừng Chúa giáng trần. Rồi mùa chay lại tiếp nối, những bài thánh ca Hãy trở về, Hãy trở về với Cha, hãy xé lòng đừng xé áo…chúng tôi chau chuốt giọng ca cho thật hay theo cánh tay bay bướm của ca trưởng. Còn chuyện trở về thì chúng tôi ngơ ngơ ngác ngác giống như ông Philipphê ngày xưa "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường? " (Ga 14:5) Vẫn biết là trở về với Chúa, nhưng chúng tôi nào có biết Chúa ở đâu. Ở trên trời ư? Xa xôi cách trở ngàn trùng! Ở trong nhà tạm ư? Chúng tôi gặp mỗi tuần, thế mà vẫn vô duyên đối diện bất tương phùng! Ở trong lòng chúng tôi ư? Sao chúng tôi chẳng cảm thấy gì! Ở nơi tha nhân ư? Ở trong người ăn xin nghèo khổ lê lết, dơ dáy, bẩn thỉu trên hè phố ư? Hoang đường! Hão huyền! Chúa ở ngay trong lòng mình mà còn không nhận ra thì lấy cặp mắt kiếng nào mà nhìn thấy Chúa trong anh em khốn khổ, tàn tật, trông chẳng dễ thương chút nào! Chúng tôi cùng lắm là thương hại thôi, chứ làm sao mà nhìn ra Chúa đang hiện diện trong họ. Nếu có giúp họ chút ít tiền bạc hay quà cáp thì cũng mang phong cách của người ban phát, ra vẻ ta đây là đạo đức và thì thầm nhắc nhở Chúa: Chúa nhớ ghi vào sổ đấy nhé! Vì thế,chúng tôi chỉ đơn giản nghĩ rằng Mùa Chay là mùa ăn chay, kiêng thịt và hy sinh hãm mình. Nhiều giáo xứ tổ chức tĩnh tâm - chủ yếu là nghe cha giảng - về các đề tài về mùa chay cho giới trẻ, các ông gia trưởng, các bà hiền mẫu. Các giáo hạt còn tổ chức giải tội vần công với một lúc hàng chục toà hoà giải để giáo dân tha hồ mà xưng hết tội của mình với các cha khách. Xưng tội với cha nhà, sợ ngài nhận ra tiếng thì nguy to. Rồi Mùa Phục Sinh lại tới, chúng tôi hân hoan tưng bừng đón mừng Chúa sống lại trong thánh lễ nửa đêm ngập tràn ánh sáng. Biết bao bài thánh ca đã được hát lên trong đêm cực thánh này: Chúa nay thực đã phục sinh Alleluia!Alleluia! Để mừng Chúa sống lại, nhiều nhóm, nhiều đoàn thể, đặc biệt là ca đoàn thường tổ chức Réveillion ngay sau thánh lễ với bia rượu tràn ly. Chúa đã chiến thắng sự chết, Chúa đã chiến thắng tử thần còn chúng tôi chỉ biết reo mừng với những màn cụng ly Dô! Dô!!! Một ngày kia, mấy anh em chúng tôi ngồi lại với nhau và nghiêm chỉnh đặt cho chính mình một câu hỏi: Chúa nay thực đã phục sinh. Còn chúng ta, chúng ta nay đã phục sinh chưa? Cả lũ ặt cổ ra, thế là cả bọn quyết tâm tìm cho ra câu trả lời hóc búa này mới được. Xin quý vị độc giả coi đây chỉ là những chia sẻ chân thành của một nhóm giáo dân thao thức mò mẫm tìm cho mình một con đường phục sinh như Đức Giêsu mà thôi. Thế là một hội nghị bàn tròn mà chỉ có 3 người đang vò đầu bóp trán để tìm ra phương pháp nào hữu hiệu mau đạt được kết quả. Khởi đầu chúng tôi đi theo con đường cổ điển: đi lễ mỗi ngày, khi gặp điều tức tối khó chịu, thì cố mà dằn lòng mình xuống.... Một hai tháng sau chúng tôi cảm thấy mình có vẻ đạo đức hơn, gần Chúa hơn, nhưng chẳng cảm cảm thấy một chút gì gọi là phục sinh. Thế là phải tìm một hướng khác. Chúng tôi quyết tâm đọc lại toàn bộ cuốn Tân Ước và tham khảo một số đoạn Cựu Ước. Suốt một năm, mỗi tuần gặp nhau, chúng tôi nêu suy nghĩ, thắc mắc, chia sẻ những khám phá mới trong một quán café vắng người. Đôi khi, một vấn đề được đưa ra, nhưng mỗi người đều hiểu và giải thích khác nhau. Tuy nhiên chúng tôi vẫn tiếp tục hứng thú cùng nhau tìm hiểu thêm. Cuối cùng, chúng tôi làm một đúc kết nho nhỏ ghi lại những khám phá thú vị về việc phục sinh của người giáo dân. Trước hết, chúng tôi đưa ra một loạt câu hỏi rồi tự trả lời cho nhau nghe. Chúa nay thực đã phục sinh, đúng rồi, nhưng Ngài phục sinh cái gì? Tất nhiên là Ngài phục sinh thân xác. Nếu bảo phục sinh thân xác thì vô nghĩa, chính Ngài đã dạy chúng ta: Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống. (Ga 6:83). Nếu Ngài không phục sinh thân xác, vậy Ngài phục sinh cái gì? Vậy thì Ngài phục sinh tâm hồn! Không thể nói Ngài phục sinh tâm hồn vì "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống”.(Ga 11:26) Nếu thế thì sự phục sinh của Ngài mang ý nghĩa: Ngài đã chiến thắng tử thần. À, có lý! thế thì chúng ta cùng nhau tìm hiểu và khám phá Lời Chúa sau đây. Vậy khi cái thân phải hư nát này mặc lấy sự bất diệt, khi cái thân phải chết này mặc lấy sự bất tử, thì bấy giờ sẽ ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng! (1Cr 15:54) Rõ ràng câu trên có nghĩa là: điều kiện để phục sinh là khi thân xác hư nát hay chết này mặc lấy sự bất tử, bất diệt. Chính lúc đó: Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng! Nói cách khác, chúng ta nay đã phục sinh. Vấn đề quan trọng trước mắt là làm cách nào để cái thân xác phải chết này mặc lấy sự bất tử. Và đây cũng chính là quá trình từ cõi chết bước vào cõi sống. Quá trình biến chuyển từ cõi chết bước vào cõi sốngQuá trình từ cái chết tâm linh chuyển sang sự sống dồi dào bắt nguồn từ Thiên Chúa: chúng ta có thể chia làm 3 giai đoạn chính: Giai đoạn một: Làm cách nào để mặc lấy sự bất tử? - cũng chính là sự sống đời đời của Chúa. Muốn nhận ra sự sống đời đời của Chúa, không gì tốt hơn là chúng ta tìm hiểu con người của Đức Giêsu: Thật, tôi bảo thật các ông: giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa; ai nghe thì sẽ được sống. Quả thật, Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy. (Ga 5:25-26) Qua câu này, chúng tôi khám phá ra rằng: Chúa Cha không chỉ ban cho Đức Giêsu mà còn ban cho tất cả chúng ta nữa - những người em của Anh Cả Giêsu - bắt nguồn từ tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa , cho nên: Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc (Rm 8:29). Lúc đó, chúng tôi xoáy vào 3 hình ảnh tuyệt vời của Đức Kitô: Con Thiên Chúa: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người." (Mt 3:17). Đầy Thần Khí Thiên Chúa: “Đức Giê-su được đầy Thánh Thần,” (Lc 4:1). Nên một với Chúa Cha: “Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa Cha." (Ga 10:38) Và người Kitô hữu, vì được đồng hình đồng dạng với Đức Kitô - nên cũng mang 3 hình ảnh tuyệt vời y như Đức Kitô: Con Thiên Chúa: “Thực sự chúng ta là con Thiên Chúa”. (1Ga 3:1) Đầy Thần Khí Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta”. (Rm 5:5) Nên một với Chúa: “Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một như chúng ta là một”. (Ga 17:23) Trước kia, chúng tôi sống theo con người xác thịt, mê mẩn trong cơn lốc tình, tiền, tài, danh vọng, lạc thú của thế gian. Nhưng từ khi chúng tôi khám phá ra khuôn mặt thật của mình dựa vào con người của Đức Kitô. chúng tôi đã cảm nhận được phần nào cái thân xác hay chết này đang mặc lấy sự bất tử. Giờ đây viết lại, chỉ ngắn ngủi 5, 6 hàng, nhưng chúng tôi đã phải tốn gần cả năm trời nghiên cứu, tìm hiểu mới phát hiện ra những điều nghe có vẻ thật đơn giản này. Giai đoạn hai: Từ khi nhận ra khuôn mặt đích thực của mình, chúng tôi tập sống trong tâm tình của người con yêu dấu của Chúa, nhờ sức mạnh Thần Khí ngay trong tâm mình. Bỗng một hôm, kẻ trước người sau, mỗi người trong chúng tôi âm thầm nhưng cực kỳ xác tín: Tôi đã phục sinh. Hôm đó, bỗng nhiên tôi thấy mình không phải là mình giống như trước kia nữa. Tôi nhìn người ta đi lại trên đường mà như nửa thật nửa mộng - dù lúc đó tôi rất tỉnh. Tôi phóng xe giữa dòng thành phố mà như chốn không người - trong khi đang chạy xe rất dàng hoàng và đúng luật. Những bon chen thường ngày tự nhiên gần như vô nghĩa. Lúc đó, tôi không còn quá thiết tha với những đam mê thủa trước mà trong lòng vẫn thơ thới hân hoan. Hơn một tuần sau, chúng tôi gặp lại nhau và chia sẻ cho nhau những cảm nghiệm mới nhất. Thì ra cả ba chúng tôi đều nhận ra thân xác hư nát hay chết này lần đầu tiên đã mặc lấy sự bất tử, bất diệt. Và chúng tôi cùng reo lên: chúng ta nay đã phục sinh! Chúng tôi đã tìm được câu trả lời! Giai đoạn ba: Từ khi nhận ra mình đã phục sinh. Chúng tôi bắt đầu sống cuộc sống dồi dào như Đức Giêsu đã từng mong ước: sống tự do, tự chủ, đầy sức mạnh Thần Khí Thiên Chúa, ngập tràn hạnh phúc và bình an. Nhưng vì chúng tôi đã nhiễm quá nặng tư tưởng thế gian suốt mấy chục năm, thành thử ra chúng tôi hay phản ứng theo cách của con người cũ đã in dấu quá đậm trong trí não của chúng tôi. Thường thường khi có một biến cố gì xảy ra thì tiếng nói của con người cũ luôn luôn lên tiếng trước với những lý luận hết sức thuyết phục. Hay thỉnh thoảng, nghe lời ngon ngọt của thân xác, chúng tôi vấp ngã. Tuy nhiên, chúng tôi có thể đứng dậy dễ dàng sau những vấp ngã, phần thì chúng tôi đã nhận ra bộ mặt giả mạo của thân xác hay chết, phần thì chúng tôi ý thức sức mạnh vô biên của Thần Khí Thiên Chúa ngay trong tâm mình. Có một điều rất kỳ lạ! Lẽ ra chúng ta phải cởi bỏ con người cũ hay hư nát, rồi mới khoác cho mình con người mới. Đàng này, chúng tôi lai lo tìm gương mặt con người mới theo khuôn mặt tuyệt vời của Đức Kitô. Ai ngờ, khi khám phá ra khuôn mặt đích thực của mình thì những mặt nạ tiền tài, danh vọng, đạo đức giả, đam mê… con người cũ hay hư nát tự nhiên rơi xuống, và lập tức cái thân xác hư nát hay chết này lần đầu tiên đã mặc lấy sự bất diệt - cuộc phục sinh bắt đầu… Nói như vậy thì chúng ta dẹp bỏ chu kỳ phụng vụ của Giáo hội hay sao? Xin trả lời : Hoàn toàn không phải vậy. Như vừa trình bày, tuy chúng ta đã bắt đầu cuộc sống mới nhưng chúng ta đã bị nhiễm quá nặng tư tưởng thế gian nên vẫn cần phải có mùa vọng để ta tiếp tục bạt, tiếp tục lấp những lối sống cũ; vẫn cần mùa chay để tiếp tục cởi bỏ con người cũ với cách nhìn của nhân loại, và mặc con người mới theo lối nhìn tâm linh phát xuất từ Thần Khí Thiên Chúa để ngày càng giống hình ảnh của Thiên Chúa hơn. Và tất nhiên là, trong Mùa Phục Sinh chúng ta lại có nhiều dịp để thực hiện ý tưởng chúng ta nay đã phục sinh mỗi năm càng hoàn hảo hơn●
Cách tính ngày Chúa NhẬt PhỤc Sinh Trong Giáo HỘi Phương Đông & Giáo HỘi Phương Tây Maranatha tổng hợp Lưu ý: Để cho gọn, bài viết giả tạm sử dụng (và chỉ có giá trị trong bài này thôi) cụm từ ‘Giáo Hội Phương Đông’ để chỉ định các Giáo Hội Chính Thống; và ‘Giáo Hội Phương Tây’ để chỉ định các Giáo Hội Công Giáo và Tin Lành. I. Xác định Ngày Phục Sinh. “Phục Sinh là ngày Chúa Nhật sau ngày 14 âm lịch, và đấy là ngày 21 tháng 3 hoặc ngày hôm sau.” Đấy là qui tắc mà Công Đồng Nicê đề ra năm 325, để xác định ngày mừng lễ Phục Sinh trong Giáo Hội Phương Đông cũng như Phương Tây. Như thế ta hiểu vì sao Chúa Nhật Phục Sinh không bao giờ có một ngày nhất định theo dương lịch. Và đối với Giáo Hội Tây Phương, ngày Chúa Nhật Phục Sinh sớm nhất là ngày 23 tháng 3 (nếu trăng tròn ngày 22, và chúa nhật ngày 23); và ngày trễ nhất là ngày 25 tháng 4 (nếu trăng tròn 28 ngày sau ngày 21 tháng3, và 6 ngày sau ngày trăng tròn mới đến chủ nhật). Ta cũng nghe nói một cách ngắn gọn hơn: “Phục Sinh là ngày Chúa Nhật đầu tiên sau ngày trăng tròn mùa xuân.” Theo hai câu trên, thì phải xem ngày bắt đầu mùa xuân là ngày 21 tháng 3. Thế nhưng đối với các nhà thiên văn, mùa xuân bắt đầu vào ngày Xuân Phân, nghĩa là lúc mà ngày và đêm có độ dài bằng nhau. Vào thời Cộng Đồng Nicê, thì Xuân Phân rơi đúng vào ngày 21 tháng 3, nhưng dần dần (như ta sẽ thấy ở phần sau) hai ngày này không còn trùng nhau nữa. Mặt khác, trên lý thuyết, phải xem là trăng tròn ở ngày thứ 14 kể từ ngày Xuân Phân. Bởi lẽ ngày Phục Sinh được xét trên cùng một qui tắc, thế thì vì sao lễ Phục Sinh trong Giáo Hội Chính Thống lại ít khi trùng với lễ Phục Sinh trong Giáo Hội Công Giáo và Tin Lành? Có hai lý do: 1. Phương đông và phương tây sử dụng hai lịch khác nhau: Phương tây đã thay đổi lịch để đúng hơn với vòng xoay của mặt trời. 2. Không cách tính nào căn cứ vào ngày trăng tròn thực tế, mà theo một cách tính toán khác. II. Ngày 21 tháng 3 không trùng nhau trên hai lịch. Ngày Phục Sinh của Giáo Hội Đông Phương căn cứ theo lịch Juliô, còn Phương Tây thì sử dụng lịch Grêgôriô. Lịch Juliô do Juliô Xêsa lập ra năm 708 La Mã, nghĩa là năm 45 trước Công Nguyên. Đây là nguồn gốc của niên lịch quốc tế mà hiện nay mọi nơi đều sử dụng, được gọi là lịch Grêgôriô, vì do Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XIII ấn định cho các xã hội công giáo La Mã vào năm 1582. Sự khác biệt chủ yếu giữa hai lịch là cách xác định năm nhuần: Theo lịch Juliô, mọi năm chia chẳn cho 4 đều là năm nhuần; còn theo lịch Grêgôriô, chỉ những năm tận cùng bằng 00 (hai số không) mà chia chẳn cho 400 thì mới là năm nhuần. (Như vậy, năm 2000 là nhuần, các năm 1700, 1800, 1900 không phải là nhuần). Lý do có sự cải cách này là vì năm Dương Lịch – từ Xuân Phân này đến Xuân Phân kia – kéo dài độ chừng 365,2422 ngày. Thế nhưng một năm trong lịch Juliô dài 365,25 ngày, còn đối với lịch Grêgôriô là 365,2425 ngày. Khoảng cách 0,0078 ngày (0,2500 – 0,2422) là một thời gian rất nhỏ, nhưng sau 400 năm thì cũng đã trở thành 0,0078 x 400 nghĩa là 3,12 ngày. Như vậy, lịch Juliô, sau 400 năm, lại chậm thêm hơn 3 ngày so với mặt trời. Do đó, theo lịch Julien thì Xuân Phân đến sớm hơn thực tế. Năm 1582, khi Giáo Hội La Mã quyết định sử dụng lịch Grêgôriô thì người ta quyết định bắt lại 10 ngày đã trễ so với mặt trời, và như vậy, năm 1582, sau ngày 4 tháng 10 là đến ngay ngày 15 tháng 10. Thế là có một sai biệt 10 ngày giữa lịch Juliô và Grêgôriô. Rồi đến các năm 1700, 1800, 1900, thì lại thêm 1 ngày cách biệt. Như thế, hiện nay, lịch Juliô trễ hơn 13 ngày so với lịch Grêgôriô. Ví dụ: Năm 1919, Nước Nga sử dụng lịch Grêgôriô thay cho lịch Juliô, nên họ phải nhảy từ thứ tư 31 tháng 1 sang ngày thứ năm 14 tháng 12. Do đó ‘Cách Mạng Tháng Mười’ (24 /10/1917 lịch Juliô) lại được mừng hàng năm vào tháng Muời Một (6/11 lịch Grêgôriô). Tuy nhiên, các Giáo Hội Phương Đông vẫn dùng lịch Juliô để tính một số các ngày lễ, trong đó có Lễ Phục Sinh. Sự thay đổi lịch này còn nảy sinh một sự sai biệt khác liên quan đến Giáng Sinh. Năm 1800, ngày 25 tháng 12 trong lịch Julien tương đương với ngày 6 tháng 1 trong lịch Grêgôriô. Vì thế, Giáo Hội Phương Tây Mừng Lễ Giáng Sinh ngày 25 tháng 12, nhưng mừng ngày 6/1 là lễ Hiển Linh. Trong khi đó Giáo Hội Chính Thống vẫn mừng Lễ Giáng Sinh vào 6/1 hàng năm. (Hiện nay, mặc dù ngày 6/1 vẫn là lễ Hiển Linh trong GH công giáo, nhưng ngày lễ Giáng Sinh trong Giáo Hội Chính thống là ngày 7/1). Tuy nhiên sự khác biệt về các ngày trong hai lịch không phải là yếu tố duy nhất khiến cho ngày Lễ Phục Sinh không trùng với nhau ở hai Giáo Hội. Yếu tố thứ hai là cách tính ngày trăng tròn. III. Mỗi lịch có một cách tính ngày trăng tròn khác nhau. Lễ Phục Sinh còn tùy thuộc vào ngày trăng tròn mùa xuân, vì thế mà người ta muốn biết trước thật lâu ngày nào là ngày trăng tròn. Bởi lẽ không thể chờ đợi xem mặt trăng rồi mới xác định ngày, nên hai lịch có cách tính khác nhau. Hai ngày trăng rằm cách nhau khoảng 29,53 ngày. Từ năm 433 trước Công Nguyên, Méton thành Athènes đã khám phá rằng 235 tuần trăng thì tương đương với 19 năm dương lịch. Thật vậy, một năm trung bình có 365,24 ngày và như thế 235 x 29,53 = 6939, 55 ngày, nghĩa là rất gần với 19 x 365,24 = 6939,56 ngày. Vào khoảng năm 532, đan sĩ Denys le Petit sử dụng chu kỳ Méton để tính ngày rằm mỗi tháng trong vòng 19 năm rồi bắt đầu trở lại. Và vì thế mà có các tháng 29 và 30 ngày xen kẽ nhau. Thời gian đầu thì cách tính này khá chính xác, nhưng trên thực tế thì sau 19 năm dương lịch có sai biệt là 1giờ 29 phút so với 235 tuần trăng. Tuy sai biệt này là ít, nhưng sau 3 thế kỷ thì sai biệt giữa ngày rằm lý thuyết (theo lịch Juliô) và ngày rằm thực tế là 1 ngày. Và cách tính này đã kéo dài gần 1500 năm, vì thế cách tính ngày rằm theo lịch Juliô lại thêm một sai biệt 4 đến 5 ngày sao với lịch Grêgôriô (gần đúng với chu kỳ mặt trời hơn). Đó là lý do vì sao có sự khác biệt giữa hai cách tính ngày Lễ Phục Sinh của các Giáo Hội Phương Đông và Phương Tây. Và cũng vì thế năm nay, Giáo Hội Phương Tây mừng lễ Phục Sinh ngày 27 – 03 thì Giáo Hội Phương Đông sẽ mừng vào ngày 01-05 (cách nhau hơn một tháng). 4. So sánh lễ Phục Sinh của Giáo Hội Phương Đông và Giáo Hội Phương Tây:
Chúa Giê-Su "sỐng lẠi" hay "TRỖi dẬy"? Nguyễn Công Bình
Chúa sống lại là một sự kiện lịch sử, không kể các thánh tông đồ mà ngay những người chống đối hay tìm giết Chúa cũng không thể phủ nhận, (trong đó xin kể cả thánh Phaolô trước ngày ngài được ơn trở lại). Chúa Giê-Su đã báo trước Ngài sẽ sống lại trước ngày Ngài sống lại: Chúa là ông thầy giáo tài tình vì Chúa dậy chúng ta theo nhiều phương pháp rất là loài người: Trước hết để chúng ta dễ hiểu thì Chúa rất ít dùng danh tự mà thường dùng động tự, qua các dùng dụ ngôn. Và căn dặn ta làm điều gì Chúa thường làm gương trước như ân cần chú ý người mẹ đi đưa xác con, săn sóc người bệnh người cùi, giúp đỡ phục vụ, rửa chân cho môn đệ và tha thứ cho kẻ đóng đinh Ngài dù đang trên Thánh Giá. Chúa dậy về sự sống lại rất nhiều lần song các tông đồ hơi.. chậm hiểu. Vì thế Chúa đã phải biến hình. Câu chuyện Chúa biến hình được Ðức Thánh Cha đặt thành một trong các mầu nhiệm Sự Sáng để dậy chúng ta rằng: hiện nay trên trời đã có Chúa Giê-Su và Ðức Mẹ được sống lại thật, uy nghi sáng láng và sẽ đến lượt chúng ta được huy hoàng như thế (miễn là hãy luôn thứ tha và đừng rời xa Chúa) vì thân xác loài người, vốn là hình ảnh Cha, thuộc về Cha thì sau khi đã chết sẽ được lấy lại huy hoàng của Cha. Song có anh chị còn thắc mắc vì tại sao lại có vài bản Tân Ước đã chỉ dịch chữ anistemi và egeiro là "trỗi dậy" mà không dùng chữ "sống lại"? Nghĩa đen thứ nhất của cả 2 động tự Greek anistemi và egeiro là đứng lên, đứng dậy, trỗi dậy hay thức dậy (danh tự là anastasis). Có nhiều chỗ Tân Ước dùng chữ này: Thật vậy, chỉ vừa nghe câu "Hãy theo Thầy," Matthêu đã trỗi dậy để theo Người (Mat 9: 19). Bà mẹ vợ của Pherô sau khi được Chúa chữa lành bệnh cúm đã trỗi dậy để nấu nướng phục vụ người ( Lc 4:39 ) v.v.. Chúa dùng tiếng mẹ đẻ là Aram để nói Chúa Sống Lại thế nào thì các thánh tông đồ không ghi lại. Song ý nghĩa sống lại theo tiếng Hy Lạp, hay Latinh, chỉ được thêm vào từ ngày Chúa sống lại. Thời ấy, vì chưa ai thấy được sự sống lại nên không thể nào lại có động tự sống lại trong tự điển Hy Lạp hay Latinh, kể cả các ngôn ngữ khác. Các thánh tông đồ vốn gốc Do Thái, không đủ trình độ tạo ra một động tự Hy lạp hay Latinh mới nên mượn đỡ chữ " trỗi dậy." Song với ý nghĩa được ấn định là “sống lại.” Ý nghĩa này do chính Chúa dùng và Chúa đã thực hiện ý nghĩa ấy và còn hứa cho chúng ta ơn sống lại. Sau này khi Giáo Hội dùng tiếng Latinh thì ngay chữ surgere chỉ có nghĩa đen là đứng dậy và chữ re-surgere (danh tự ressurectio/ ressurection) nghĩa đen là lại đứng dậy song chúng ta phải hiểu ý nghĩa mới là sống lại. Nên đọc là Chúa Giê-Su đã " sống lại " hay "trỗi dậy”? Vì thế trộm nghĩ người chưa biết Ðạo Chúa khi đọc Tin Mừng nếu chỉ theo như tự điển nói, thì chỉ giản dị hiểu là Chúa đứng dậy, trỗi dậy, thức dậy. Còn ta thì mới hiểu là Chúa sống lại. Có anh chị sẽ cho rằng tôi khó tính quá khi bắt bẻ chữ nghĩa song quan niệm của tôi là Ðấng không cần phải chết song đã chịu đóng đinh nhục nhã, và đáng lẽ chỉ cần chết vài giây, vài giờ và đã có thể sống lại ngay trước khi được táng xác song còn tiếp tục chịu nhục nhã để bị chôn vì tội của chúng ta, đến ngày thứ ba mới sống lại. Nay khi nói lại sự kiện này mà chỉ được chúng ta nói là "trỗi dậy" mà lại không nói rõ là trỗi dậy từ cõi chết thì thiếu sót. Nếu chữ" sống lại" được dịch rõ ràng thì ý nghĩa Mầu Nhiệm Phục Sinh sẽ tránh bị nhạt nhòa. Các cụ tổ tiên của chúng ta, qua nhiều thời các thánh tử đạo cũng được nghe giảng giải chữ Latinh surgere và re-surgere; song các cụ nhất định dùng chữ sống lại. Mẹ tôi đã chết, mong các cụ già còn nhớ được toàn bộ các kinh và vãn cổ, tôi chỉ nhớ lõm bõm ba chữ sống lại thật. Nay kinh đã được cải sửa song ta vẫn đọc như sau: Lạy Ðức Nữ Ðồng Trinh Maria, Hãy hỉ hoan khoái lạc! Halleluiah. Vì Ðấng Mẹ đã cưu mang trong lòng - Halleluiah.. Người đã sống lại thật như lời đã phán hứa - Halleluiah Xin cầu cùng Chúa cho chúng tôi! Halleluiah. Tôi lấy làm mãn nguyện khi tổ tiên ta không giản dị dịch chữ gaudere, gaudete là hãy vui lên (rejoice) song lại dùng đến 4 chữ xin Ðức Mẹ hãy hỉ hoan khoái lạc - Halleluiah! Halelu Yahweh! Hãy ngợi khen Chúa là tiếng Giáo Hội reo vui khi nghe Chúa sống lại. Linh mục hát 3 lần với cung giọng cố gắng lên cao. Ðọc liền thành Halleluiah. Niềm vui tăng lên nữa. Hỉ hoan là vui trong lòng, khi tràn đầy sự hỉ hoan thì xác thân rung động khoái lạc. Hóa ra tổ tiên ta rất rành tâm lý học và thể lý học để hiểu rằng lòng đau khổ thì mặt mũi nhăn nhó và ruột có thể bị đứt từng đoạn. Ba ngày ba đêm Chúa trẻ thơ 12 tuổi bị lạc trong đền thánh, Ðức Mẹ và thánh Giu-Se không ăn không ngủ vì lo lắng và mặt mũi Ðức Mẹ hôm ấy chắc chắn là dài ra và... xấu xí lắm, nếu bị chụp hình. Ba ngày Chúa nằm trong mồ, tâm trạng và thể lý Ðức Mẹ cũng như thế. Song Tin Vui Chúa Sống Lại có thể đọc được cả trên ánh mắt, nụ cười và chân tay của Ðức Mẹ. Biết đâu Ðức Mẹ cũng líu lưỡi nói chẳng đủ câu Hallelu Yahweh - Halleluiah. Ta chia vui với Ðức Mẹ song thực ra chính chúng ta cần hỉ hoan khoái lạc hơn cả. Ðức Mẹ khi được hứa Ơn Sống Lại vì Ðức Mẹ chẳng phạm tội gì, nên xứng đáng hưởng ơn Sống Lại, còn riêng chúng ta đáng lẽ đã phải chết đời đời vì tội lỗi, linh hồn chúng ta chẳng còn đáng giá gì, thì lại được Chúa Giê-Su đem cả thân mình ra chuộc tội cứu rỗi. Chúng ta mỉn cười nghe dụ ngôn bà cụ già ... lẩm cẩm đánh mất mấy đồng bạc cắc, đã thắp đèn sáng choang cả đêm, tốn cả trăm bạc, thức suốt đêm đi tìm những đồng bạc cắc ấy, và tìm được rồi thì gọi cả xóm đến mở tiệc liên hoan. Chúa Giê-Su còn làm hơn thế nữa, bỏ cả Trời Cao xuống thế rồi đành bị giết chỉ vì để tìm những linh hồn tội lỗi chẳng đáng giá vài đồng bạc cắc Chữ sống lại đã được tổ tiên ta dùng từ lâu đờ Thực vậy, tổ tiên ta chỉ thích nói tiếng Việt. [Các thánh tử đạo của ta lúc ấy còn búi tóc củ hành, mặc áo the thâm dài, nên có lẽ thánh Phaolo lấy làm... buồn cười vì thời ngài còn là" cha xứ già Phao Lô" thì không thích đàn ông để tóc dài vào nhà thờ xem lễ đâu - xem 1 Corinto 11 - song thánh Phao lô mừng và khen các thánh tử đạo hiểu và nói rõ ba chữ Chúa Sống Lại] Trước ngày các thánh linh mục truyền giáo đề nghị ta dùng mẫu tự Latinh để viết tiếng Việt như tôi đang viết đây, thì các cụ tổ tiên muốn để lại điều gì bằng tiếng Việt cho con cháu thì phải mượn cái xác, cái âm của chữ Hán viết ra chữ Nôm ( tức chữ Việt Nam ). Tổ tiên ta viết chữ Sống Lại như sau. (Xin tra Ðại Nam Quấc Âm Tự Vị của cụ Paulus Huỳnh Tịnh Của, in vào thế kỷ 19). Sống [Lộng + Sinh] tức là đang sống, đang hít thở, đang sống nhăn. Theo cha Alexandre de Rhodes nhận xét thì chữ sống có cổ âm là tlống nên các cụ viết chữ lộng. Lại thì các cụ dùng chữ lai sẵn có của Hán vốn dị nghĩa mà trùng âm song đọc là lại. Theo cha Alexandre de Rhodes thì chữ lại có cổ âm là mlại. Có cụ viết hơi khác bằng cách dùng chữ hựu của Hán song đọc là lại với nghĩa là thêm một lần nữa. Sống lại viết chung là đã chết rồi song lại được sống thêm một lần nữa. Hóa ra tổ tiên ta khi nghe câu Chúa phán Ta là Sự Sống Lại và là Sự Sống thì đã hiểu và hiểu rất rõ. Trỗi dậy theo tiếng Việt chỉ có nghĩa là đang nằm hay đang ngồi mà đứng bật dậy. Viết trỗi thì các cụ dùng chữ túc (cái chân) để chỉ nghĩa và chữ chí để chỉ cách phát âm, viết chữ dậy thì viết chữ duệ mà đọc thành dậy (mặc dù chữ duệ tiếng Hán chỉ có nghĩa là kéo đi). Chẳng có nghĩa sống lại nào qua chữ trỗi dậy cả. Tổ tiên Việt Nam tin rằng sau khi chết thì được sống trở lại để sống mãi mãi trong Cõi Trời Chúa phán: Egw eimi h anastasiV kai h zwh Ego sum resurrectio et vita Ta là Nguồn Sống Lại và là Ơn Sống Mãi Mãi (Jn11:25) Các thánh tử vì đạo dùng chữ sống lại để dịch câu ấy vì người Việt Nam đã tin rằng có sự sống lại và sự sống mãi mãi trong Nước Trời từ thời các vua Hùng, tức đã cả 5000 năm. Nhiều người Do Thái, dù nghe chính Chúa giảng về Ơn Sống Lại và Ngài là Nguồn Sống Mãi thì không những không tin mà còn diễu cợt với Chúa qua câu chuyện người đàn bà có đến 7 chồng thì dù lên trời sẽ phải sống với ông chồng nào. Ðoạn này dĩ nhiên không có trong Tân Ước hay Cựu Ước song tôi dựa vào lịch sử nước Việt . Tổ tiên chúng ta đã theo Ðạo thờ Trời vì đã có sự soi sáng của Chúa Thánh Thần, dù quan niệm về Trời chưa được rõ ràng. Tổ tiên chúng ta (a) có đức tin vào Ông Trời vì tin rằng con người từ Trời Cao mà ra (b) nên dậy con cái phải thờ Trời, cầu khấn với Trời, nhất là sống thương yêu theo đạo Trời và (c) tin rằng sau khi chết thì mọi người được tha thứ tội lỗi và được rước về sống trở lại, sống lại , sống lần nữa trên cõi trời, chớ không bị đầu thai qua kiếp nào khác cả. Sự sống lại dĩ nhiên chưa được hiểu rõ là sống lại cả hồn cả xác (vì người thì có hồn xác, có hồn xác mới gọi là người), song là sống trở lại (tlộng + sinh + mlai), sống lần nữa (hoạt + sinh+ hựu) mãi mãi với Ông Trời là Ðấng Hằng Có●
Làm Thế Nào Để Bài Giảng Sống Động Hơn? Lm. Christopher Chatteris, S.J. LTS: Giám Mục Kenneth Edward Untener - VỊ MỤC TỬ KHÔNG NHÀ đã được giới thiệu trong Maranatha_40. Tuần này, xin gửi đến quý độc giả bài viết của Linh Mục Christopher Chatteris, đề cập đến việc GIẢNG THUYẾT, dựa trên kinh nghiệm và các tác phẩm của vị Giám Mục độc đáo này. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả Maranatha. Giám mục Kenneth Untener qua đời năm ngoái vì bệnh ung thư sau gần 25 năm là giám mục cai quản giáo phận Saginaw, bang Michigan, Hoa Kỳ. Ngài là một mục tử hết lòng với việc nghệ thuật rao giảng Lời Chúa. Trong tác phẩm “Giảng Tốt Hơn”, (do nhà xuất bản Paulist ấn hành) ngài viết, “khi chúng ta soạn bài giảng có nghĩa là chúng ta tham dự vào cùng một công việc của Chúa Thánh Thần, Đấng đã hình thành chính bản văn Kinh Thánh.” Ngài cũng nhắc nhở cho người đọc rằng, soạn bài giảng là một phần thiết yếu không thể thiếu trong cử hành phụng vụ, và khi một linh mục rao giảng tức là vị ấy đang “ở cùng vị trí với Thiên Chúa.” Đức cha Untener luôn quan tâm tìm cách giúp cho bài giảng của mình cũng như của các linh mục trong giáo phận được tốt hơn. Ngài thường hỏi ý kiến các giáo dân nhận xét về chất lượng các bài giảng họ nghe; ngài có thói quen giữ một sổ tay để có thể ghi chú những nhận xét, ấn tượng. Ngài tin rằng vox populi, vox Dei: tiếng dân là tiếng Chúa. Điều đáng tiếc là ít có Giám mục nào theo gương của Đức cha Untener. Hiếm khi các giáo dân được hỏi ý kiến hoặc phê bình về các bài giảng, tuy thế, theo kinh nghiệm cho biết, họ lại thường thích bàn tán về việc giảng dạy của các cha. Lý thuyết về truyền thông hiện đại cho biết rằng, điều ta nghe thì cũng quan trọng như điều đang nói. Những bài giảng yếu kém thường ảnh hưởng nặng nề trong việc đi nhà thờ của người Công giáo. Tôi thường gặp những người bỏ giáo xứ chỉ vì chất lượng các bài giảng. Khuynh hướng này càng ngày càng gia tăng trong xã hội có phương tiện đi lại dễ dàng. Người ta bỏ phiếu bằng bánh xe. Thật là lầm lẫn nếu ta coi thường hiện tượng này, và cho đó chẳng qua chỉ là sản phẩm của kinh tế thị trường hay não trạng của người thời nay, thích lên mạng internet hơn là đi nhà thờ. Nếu giáo dân ngày nay có khuynh hướng shop around, đi vòng vòng tìm nhà thờ, thì nguyên nhân chính là do vấn đề giảng thuyết, không phải là vì chiếc xe của họ. Điều đáng mừng là vẫn còn nhiều người khao khát nghe giảng Lời Chúa. Trong tác phẩm Giảng Tốt Hơn, Đức cha Untener đưa ra vài gợi ý được lấy ra từ những buổi phỏng vấn một số tín hữu trong giáo phận. Ngài viết rằng, người Mỹ chú trọng đến hiệu quả công việc, nên thường không thích những bài giảng nặng nề, dài dòng. Đừng nhập đề vòng vo, đặc biệt khi nó chẳng liên quan gì đến sứ điệp chính mà ta muốn trình bày. Ngài khuyên, “Đi ngay vào vấn đề.” Điều này cũng hợp lý thuận tình thôi, vì bài giảng cần phải lấy từ Thánh Kinh. Người nghe thường dị ứng, khó chịu nếu bài giảng bắt đầu với một câu chuyện chẳng ăn nhập gì, hoặc với một truyện cười không thích hợp, hay mở đầu bài giảng bằng một thông báo Một cách giảng khác cũng làm cho người Công giáo bực mình là việc vị giảng thuyết lập lại bài Thánh Kinh vừa đọc bằng chính lời lẽ của mình. Điều này, theo Đức cha Untener, hàm ý rằng cộng đoàn hoặc không nghe, hoặc vị giảng thuyết cho rằng họ đần độn quá chẳng hiểu gì những bài đọc ấy cả. Một điều cấm kỵ nữa là đừng mất công giải thích tại sao phải chọn giảng điều này mà không chọn điều khác. Người nghe không thích biết những khó khăn đó. Họ cũng có đủ những vất vả và phải chiến đấu với những khó khăn trong nghề nghiệp và cuộc sống của họ rồi. Vì thế, cần “đi ngay vào trọng tâm của vấn đề.” Câu mở đầu một bài thơ hay một ca khúc nhằm để giới thiệu chủ đề tác phẩm cần phải mạnh mẽ và rõ ràng. Bài giảng cũng nên như thế. Có lẽ ai cũng biết việc mở đầu khó khăn như thế nào. Kinh nghiệm cho biết nên tránh bắt đầu một cách vòng vo - thường chỉ làm rối trí người nghe. Đức cha khuyên nên soạn trọng tâm bài giảng trước, rồi nhập đề và kết thúc tự nó sẽ đến một cách dễ dàng hơn. Tuy vậy kết thúc bài giảng cũng không phải là việc dễ dàng. Những người mà Đức cha Untener gặp đã cho biết việc kết thúc bài giảng vụng về cũng làm người nghe chia trí lắm. Lúc đó cử toạ không đặt tâm vào nội dung sứ điệp truyền đạt, mà chỉ chú ý vào cách thức vị giảng thuyết đang “hạ cánh, đáp tầu bay.” Đức cha viết rằng, người giảng thuyết luôn luôn phải thuộc nằm lòng đoạn kết, “không bao giờ được để cho nó bay lơ lửng.” Kết thúc không cần cầu kỳ phức tạp; thường thì đơn giản lại mang đến kết quả tốt hơn nhiều. Chẳng hạn, khi giảng cho các tu sĩ về lý tưởng của đời tu, thì kết luận chỉ cần ngắn gọn, mạnh mẽ như sau, “Quý tu sĩ đã sống và làm chứng bằng cả cuộc đời mình, và chúng tôi rất cảm kích vì sự hy sinh này.” Giảng như thế cũng giúp nâng cao tâm hồn người nghe lắm chứ. Cũng không phải là điều đáng ngạc nhiên khi những người được phỏng vấn đánh giá cao những bài giảng ngắn gọn và có tư tưởng rõ ràng. Để bài giảng được ngắn gọn, Đức cha khuyên chỉ nên khai triển một ý chủ đạo hay một “điểm son nào đó - một viên ngọc quý” thay vì theo đuổi nhiều ý tưởng phụ thuộc. Thật là vô lý nếu biết rằng càng nói nhiều người ta càng không nghe mà lại cứ nói thêm. Điều quan trọng là trình bày một điểm chính thật kỹ càng, một điểm thôi nhưng có chiều sâu. Giảng thuyết là công việc lao động thực sự - một lao động của tình yêu, của học hỏi, của cầu nguyện, của thảo luận, và của suy tư. Có “chiều sâu” cũng là một điểm mà người nghe rất quan tâm. Đức cha có ghi lại được nhận định của một vài tín hữu như thế này: “Ông cha ấy ăn nói được lắm, chỉ tiếc là không có gì để nói cả.” Bài giảng không thể sâu sắc nếu chính vị giảng thuyết không sâu về mặt tâm linh, trí tuệ, và văn hoá. “Khi tôi nghe giảng, thiết nghĩ, tôi có thể nói cho bạn biết thế giới của vị giảng thuyết như thế nào, phong phú hay nhỏ hẹp. Tôi có thể đoán vị đó có đọc nhiều hay không.” Một người đã nhận xét như thế. Tín hữu nghe giảng cần người giảng thuyết đọc nhiều, có suy tư và có đời sống cầu nguyện. Cùng một thể, các tín hữu cũng mong bài giảng nối kết được với những vấn đề liên hệ đến cuộc sống của họ. Đức cha Untener cũng nhắc nhở các vị giảng thuyết nên soạn bài bằng cách viết ra để vấn đề được rõ ràng, sáng sủa. Ngài không khuyên cầm giấy để đọc bài giảng của mình – ít ai có thể làm điều này mà vẫn lôi cuốn và thuyết phục được cử tọa. Nhưng ngài cũng đồng ý với câu của La Rochefoucauld, thế kỷ thứ 17, trong tập Maximes (Châm Ngôn) của ông: “Hùng biện đích thực là nói tất cả mọi điều cần nói và chỉ nói những điều cần nói mà thôi.” (Maxime 250: La véritable éloquence consiste à dire tout ce qu’il faut, et à ne dire que ce qu’il faut). Đức cha nhận xét rằng, khoảng cách giữa những bài giảng xoàng xĩnh và tuyệt tác là do biết trau chuốt kỹ lưỡng bài giảng của mình. Sự buồn tẻ là kẻ thù lớn nhất của việc rao giảng. Điều đáng tiếc là thường chính các vị giảng thuyết tạo ra kẻ thù cho chính họ. Trách nhiệm của người giảng thuyết là làm thế nào để duy trì được sự chú ý của cử tọa, không thể biện minh đâu phải lỗi của tôi. Ngài phê bình nghiêm khắc: “Giảng mà người ta không chịu nghe nữa có nghĩa là bài giảng đã quá dài”. Cũng cần để ý xem cử toạ có cựa quậy hay không. Đó là thước đo mức độ tập trung của cộng đoàn. Người ta càng cựa quậy bao nhiêu, chứng tỏ họ càng ít nghe điều anh em nói. Chỉ khi nào cả nhà thờ thật yên lặng, thậm chí anh em có thể nghe được tiếng ruồi bay hay một chiếc kim rơi (rất hiếm có), thì lúc ấy anh em có thể nói rằng bài giảng thật sự lôi cuốn. David Buttrick, chuyên viên giảng dạy về môn hùng biện, đã từng phát biểu rằng: “Chính người giảng thuyết, chứ không ai khác, có trách nhiệm phải tìm phương cách tạo ra sự chú ý và giúp cho cử toạ tập trung. Còn ai vào đây? Đổ lỗi cho cộng đoàn không biết chú ý là vạch tội chính mình đấy!” Đức cha Unterner có một trắc nghiệm thú vị để xem bài giảng của mình có thắng được sự buồn chán hay không bằng cách đặt câu hỏi: “Sau 6 tháng còn ai nhớ đến bài giảng ấy?” Thật không thể biện minh cho mình. Chính chúng ta, những nhà thuyết giảng là người đã làm cho cộng đoàn chán ngấy những gì chúng ta vẫn trình bày. Một lời khuyên khác của Đức cha Untener là phải thuộc câu châm ngôn này: “Lễ càng trọng thể lâu giờ thì bài giảng càng phải ngắn gọn. Vì các bài giảng trong những dịp trọng đại như thế, chẳng mấy ai nhớ đến điều họ đã nghe.” Thường chúng ta dễ đồng ý với những nhận định trên, nhưng trong tâm mình, khi chuẩn bị những bài giảng cho các lễ lớn, chúng ta lại phải cố gắng giảng giải sao cho xứng với tinh thần buổi lễ. Không nên giảng ngắn quá, làm như thế là hạ thấp tầm quan trọng của cuộc lễ. Hẳn nhiên, như trong thánh lễ Vọng Phục Sinh, nhà thờ thì đông nghịt người và trang trí lại quá rực rỡ, thì việc làm cho cộng đoàn quan tâm và nhớ đến bài giảng của mình thật là một điều hãn hữu. Tác giả Walter Brueggemann trong tác phẩm Cuối Cùng Nhà Thơ Đã Đến cho rằng văn hoá của người Mỹ tin vào sự thật của Tin Mừng, nhưng là một sự thật đã bị thu nhỏ, đã bị bóp méo, bị tầm thường hoá, một sự thật không còn phẩm chất nữa. Nhưng điều này không có nghĩa là người ta không còn khao khát tìm một sứ điệp tiên tri, đầy lôi cuốn chuyển tải bằng ngôn ngữ của thi ca, tươi mát. Giống như Đức cha Untener, tôi thấy đề tài giảng thuyết không bao giờ nhàm chán. Trái lại, nó làm cho người ta hăng hái muốn tham gia thảo luận nhiều hơn. Hơn nữa, hầu như ai trong chúng ta cũng ít nhiều có kinh nghiệm về giảng thuyết, nên việc đóng góp cho nhau lại càng giá trị. Nếu các bài giảng của chúng ta làm người nghe thích thú tham gia giống như họ thích thảo luận về việc giảng thuyết, thì chắc là chúng ta đang đi đúng đường. Các tín hữu khao khát Tin Mừng, nhưng không thích nghe những bài giảng giải luân lý khô khan. Họ mong muốn có được viên ngọc quý đã được chuẩn bị chu đáo, đã suy tư kỹ càng, đượm thấm đời cầu nguyện. Viên ngọc giảng thuyết này kết thúc gãy gọn, và giúp nâng tâm hồn con người hướng thượng hơn. Chúng ta cần phải rao giảng tốt hơn. Đó cũng có nghĩa là phải chuẩn bị kỹ càng hơn và cũng cần đón nhận những góp ý chân thành●
|