Số 42, Ngày 2-4-2005

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Phục Sinh Không Giết Chết Thánh Giá - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Hãy Chứng Nghiệm Thánh Thần Trong Cuộc Sống Của Mình - Nguyễn Chính Kết

Ơn Cứu Độ - Chính Là Lúc Này Đây - Khổng Nhuận

Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng - Lm. Michet Hubaut – Maranatha dịch

Cầu Nguyện Thay Đổi Mọi Sự - Hoàng Quý

Nguyện Cầu Cho Sự Sống - ĐTC Gioan Phaolô II

Tôi Đã Học Được Rằng - Sưu Tầm

Khi Chúa Nói - Sưu Tầm

Một Chuyện Tình - Maranatha dịch

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa quý độc giả,

Trong những ngày qua, báo chí khắp nơi trên thế giới đề cập đến trường hợp cô Terri Schiavo, một người đã sống trong tình trạng thực vật suốt 15 năm qua. Tòa án tại Hoa Kỳ đã chấp thuận đơn của người chồng để cho các bác sĩ rút ống truyền sinh cho cô và để cho cô chết đi. Anh lý luận rằng vợ mình hẳn muốn được chết hơn là sống trong tình trạng như thế. Hành động này đã gây  nhiều phản ứng trái ngược: cha mẹ của cô đã yêu cầu người ta xét lại bản án; và dưới áp lực của rất nhiều người phò sự sống, trong đó phải kể đến sự can thiệp của Toà Bạch Ốc và Quốc Hội Hoa Kỳ, Tòa phá án Atlanta đã chấp thuận xét lại lời yêu cầu của cha mẹ cô, rồi lại từ khước. Mọi sự đều quá trễ, sau 13 ngày không được tiếp chất dinh dưỡng, cô Schiavo đã từ giã cõi đời vào ngày 31 tháng 3.

Song song với biến cố đó là tình trạng sức khoẻ của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Trưa Chúa Nhật Phục Sinh, 27 tháng 3, Đức Thánh Cha đã xuất hiện trên khung cửa sổ để ban phúc lành “urbi et orbi”(cho thành phố và thế giới). Thế nhưng ngài yếu đến độ không thể mở lời đọc công thức ban phép lành. Sự cố gắng của ngài để nói lên một tiếng với con cái mình đang qui tụ tại công trường thánh Phêrô đã làm cho nhiều người bật khóc. Và rồi trưa ngày thứ tư, 30 tháng 3, ngài cũng xuất hiện một phút để thinh lặng nhìn con cái ngài và để cho đoàn con được nhìn ngài trong khoảnh khắc.

Theo con mắt phàm trần, hai con người đó hầu như không còn ích gì cho thế gian này. Hai người mà cuộc đời đã trở thành thừa thãi cho bản thân và gây khó khăn cho những người chung quanh mình. Cái thế giới thực dụng hiện nay đánh giá con người dưới khía cạnh lợi ích. Khi một người không còn lợi ích gì nữa thì hãy chết đi hoặc tránh chỗ cho người khác sống. Cũng vì thế mà người ta muốn rút ống dinh dưỡng khỏi cô Terry. Cũng vì thế mà một số người âm ỷ mong mỏi Đức Giáo Hoàng từ chức. Và cũng vì thế mà theo thông tin của báo Tuổi Trẻ, tại Sàigòn mà thôi, thì trong năm 2004, thì con số phá thai đã vượt trên 300.000.

Trước thực trạng đó, trong tuần lễ Bát Nhật Phục Sinh này đòi buộc ta đặt lại vấn đề về ‘sự sống con người.’ Sự sống lại của Chúa Kitô, tiền đề cho sự sống lại của con người, chỉ có ý nghĩa khi sự sống tự nó là một điều đáng quí. Con người trên khắp thế gian đã được lịch sử và xã hội ‘nhồi sọ’ để thấy rằng một người chỉ đáng sống khi mình còn hiệu quả. Thế nhưng Niềm Tin Kitô giáo không bao giờ nói đến hiệu quả của một cuộc đời, mà chỉ nói đến ‘sự sống’ ‘sự sống lại’; bởi vì sự sống - tự nó - là một giá trị tối thượng. Sự sống khiến một con người trở nên ‘hiện hữu’ và được chia sẻ sự ‘hiện hữu’ của chính Thiên Chúa. Lời cám tạ đầu tiên và quan trọng nhất trong Kinh Cám Ơn là “Con cám ơn Đức Chúa Trời.. chẳng để con (là) ‘không’ đời đời, mà lại sinh ra con, cho con được sống làm người (sống)...” Cũng vì thế mà bao nhiêu người vẫn yêu cầu đừng giết Terri Schiavo, cũng vì thế mà Đức Thánh Cha không từ chức, cũng vì thế mà Giáo Hội không ngừng kêu gào đừng giết thai nhi.

Mặc dù Giáo Luật 332 đã dự kiến trường hợp Giáo Hoàng từ chức, và trong lịch sử Giáo Hội cũng từng có những vị Giáo Hoàng từ chức; thế nhưng đến giờ này, Đức Gioan Phaolô không nói gì về việc từ chức cả. Dĩ nhiên, ngài ở lại trong cương vị Giáo Hoàng không hề là do ‘tham quyền cố vị’, nhưng vì những lý do gắn liền với bản chất của Giáo Hội. John L. Allen Jr. đã đưa ra bốn lý do, mà một trong các lý do đó là ngài đang đưa ra chứng tích về giá trị của sự sống con người, từ ngày tượng thai cho đến ngày chấm dứt. Trong một nền văn minh mà người ta tôn thờ sự trẻ trung, vẻ đẹp ngoại hình và hiệu quả thực dụng, thì ngài muốn nhắc lại rằng người già cả, bệnh hoạn và tật nguyền vẫn có thể đóng góp một phần rất quan trọng cho con người nói chung và cho Giáo Hội nói riêng.

Trong tinh thần ‘phò sự sống’ của tuần lễ Bát Nhật Phục Sinh, Maranatha_42 xin gửi đến quý độc giả những hướng suy nghĩ khác nhau về điều gọi là cốt lõi của cuộc sống, một sự sống xuất phát từ Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống. Đức Kitô Phục Sinh đã nhắc nhở giá trị của sự sống đó bằng cách chết đi và phục sinh. Làm thế nào cho sự sống của Thiên Chúa, được biểu hiện dưới mọi hình thức, trở thành sự sống của mỗi một người em của Chúa Kitô, Đấng đã sống lại vì chúng ta.

Và cũng theo đường hướng trường kỳ của Maranatha là suy gẫm trong tinh thần cầu nguyện, nên những bài về Cầu Nguyện luôn bàng bạc trong nội dung của từng số báo. Làm thế nào để cho phản ứng của mỗi một Kitô hữu, trước mọi vấn đề của cuộc đời, luôn là lời khấn nguyện: Maranatha, Lạy Chúa Kitô, xin hãy đến!

MARANATHA

Trở về mục lục >>


 BÁT NHẬT PHỤC SINH

PHỤC SINH: KHÔNG GIẾT CHẾT THÁNH GIÁ

 

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Có lần, một linh mục bạn của tôi chia sẻ: Có một nam sinh viên có ý hướng muốn đi tu, đang trọ trong lưu xá của một dòng tu gởi thư và nêu thắc mắc bao gồm một nỗi khổ rất lớn, liên quan nhiều đến lý tưởng ơn gọi của bản thân anh. Anh hỏi rằng: “Thưa Cha, hiện nay con đang hoang mang lo lắng cho ơn gọi của con không được bền đỗ. Con luôn bất an vì linh cảm rằng, rất có thể mình sẽ rời bỏ nhà dòng trong một thời gian không xa.

Bởi từ khi ba con qua đời, nhà nội con không bằng lòng để con đi tu. Mọi người bên nội chống đối ơn gọi của con ra mặt dữ dội, không cần che đậy gì. Con lo sợ lắm, vì nội con nói rằng, nếu đi tu thì từ nay đừng nhìn mặt nội nữa. Nặng hơn, nội không cho để tang khi nội qua đời.

Có hai lý do để nội cấm con vào nhà dòng, thứ nhất, đó là vì con là đứa cháu trai duy nhất của nội. Nhưng lý do thứ hai mới là điều quan trọng. Tuy vậy, đối với con chẳng đáng là gì, nhưng đối với nội, đó là một chuyện quá lớn. Nội bảo, ngày xưa nội rất tin các linh mục, nhưng từ khi cha sở của nội có một vấn đề gì đó, mà nội cho rằng cha sở xúc phạm Mình Thánh Chúa và xúc phạm giáo dân, cho nên nội không còn tin bất cứ một nhà tu nào.

Con xin thú thật, nhiều lúc con thấy bên nội cố chấp quá đáng, nhưng phận làm con cháu, con không thể nói gì hơn, chỉ còn cách trình bày suy nghĩ của mình, nhưng chẳng ai nghe. Con hiểu rằng, lỗi lầm của một ai đó, dù là giáo hoàng đi nữa, cũng đâu phải là cớ đánh mất ơn gọi của mình phải không cha? Nếu nghĩ như nội của con, chắc Giáo Hội sẽ không còn ai đi tu. Từ đó, chắc đến một ngày sẽ không còn Giáo Hội? Nhưng Giáo Hội làm sao mà mất được. Vì bên cạnh nhiều người sống chưa tốt, vẫn có rất nhiều người khác đã nên thánh và vẫn tiếp tục nên thánh trong ơn gọi của mình. Thưa cha, con hiểu rằng, một bên vẫn còn nhiều gương mù, nhưng bên kia vẫn có đó rất nhiều tấm gương sáng. Chỉ bấy nhiêu thôi, cũng đủ để con thấy rằng, sự ham thích đi tu của mình là niềm ao ước quý giá. Nhưng con buồn vì gia đình bên nội của con không thể hiểu được điều đó.

Chỉ có mỗi mình mẹ con vẫn âm thầm chiều ý con, và chấp nhận để cho đứa con trai duy nhất của bà đi tu. Bản thân con thì không sao, vì đi học xa nhà, sống tạm trú tại lưu xá của nhà dòng, nơi con muốn nhập tu. Chỉ có mẹ con là phải chịu đựng mọi nỗi khổ, mọi lời trách móc, thậm chí có lúc nội không dằn lòng được, đã nói những lời lẽ rất khó nghe, nghe rất xót xa, đau đớn, do mẹ con không đứng về phía nhà nội.

Thương mẹ, không muốn để mẹ phải chịu đựng vì mình, đã có lần con nói dối với nội rằng, con đã thay đổi ý định, không muốn đi tu nữa. Chính lúc ấy, nội con có vẻ vui nhưng mẹ con lại đau khổ hơn. Mẹ đã gọi con lại và mắng con như được dịp trút tất cả nỗi đau của bà. Chỉ khi con cho mẹ con biết rằng, con đã nói dối nội, mẹ con mới yên tâm. Nhưng ngay sau đó, con lại giật mình vì biết, mình vừa lừa dối mẹ. Vì thực tế, đã không ít lần, con muốn bỏ ý định đi tu.

Thưa cha, trong suy nghĩ của con bây giờ nhiều mâu thuẫn quá, lòng con hoang mang quá. Con không biết mình chọn lý tưởng tu trì là đúng hay sai? Con cảm thấy thánh giá Chúa gởi cho con lớn quá. Ba mất, con đã mất đi một điểm tựa. Giờ chỉ còn lại mẹ. Mẹ lại phải gánh nặng vì con mình chọn đường tu.

Giờ con rối lắm, không tìm thấy lối thoát. Có những khi con ngồi bên Thánh Thể suốt ngày, mong tìm sự bình an, nhưng rồi trở về với cuộc sống, con lại mất hy vọng. Thưa cha, con phải làm gì bây giờ. Nhiều lúc chính con cũng không thể hiểu nổi mình nữa. Con đã cau có, nặng lời không ít với nhiều người. Dù không dám ghét nội, nhưng con thầm trách nội không ít. Không những thế, nhiều lúc con còn nặng lời một cách thầm kín với vị linh mục đã để lại ác cảm trong lòng nội con. Con có tội không, khi tự mình nổi loạn như thế?  Con phải làm sao để có bình an?”

Và trong lá thư hồi âm cho người thanh niên ấy, vị linh mục viết: “Tôi hiểu bạn lắm. Nỗi khổ tâm của bạn quả là một vấn nạn lớn không dễ gì có thể giải quyết ngay, cũng không dễ gì một mình bạn lại có thể đảm nhận trách nhiệm giải quyết nó. Và nếu tôi có trả lời cho bạn, thì một vài con chữ trên một lá thư như thế này, cũng sẽ không đi tới đâu. Nó không thể giúp bạn giải tỏa những gì mà bạn phải mang, phải gánh, càng không thể giúp người thân của bạn đứng về phía bạn. Vì mọi quyết định cho chính đời sống của mình, tùy thuộc và trở nên quan trọng bởi chính mình, người khác, nếu có, chỉ là một đóng góp rất nhỏ bé mà thôi. Về phần tôi, chỉ có mấy điều tôi có thể làm được cho bạn đó là:

1. Xin cho tôi được đồng cảm bằng một sự cảm thông, chia sớt sâu xa nỗi buồn của bạn. Ước mong với sự thông cảm này, bạn có thêm một người hiểu mình, để bạn hiểu rằng bạn không cô đơn. Chính vì thế, cũng giống như người mẹ kính yêu của bạn, tôi ủng hộ bạn đến cùng trong quyết định dấn thân cho ơn gọi tu trì. Vì đó là một ước muốn tốt; một lý tưởng đẹp; một con đường mà mỗi cá nhân đều có quyền và hết sức tự do quyết định theo hay không theo; một chuẩn bị cho tương lai bằng tất cả sự chọn lựa của cá nhân chứ không phải ai khác có thể chọn lựa thay thế; một hướng sống mà sau khi đã chọn lựa rồi, chính bản thân là người trực tiếp sống cho chọn lựa ấy chứ không phải một người thứ hai nào có thể “nhảy vào” để có thể sống “giùm” mình, sống “giúp” mình, sống “thay cho” mình.

2. Bạn thân mến, chọn lựa có khi là cả một thái độ can đảm, đòi hỏi sự cứng rắn, dứt khoát. Chọn lựa là đón nhận nhưng cũng là hy sinh. Đón nhận điều mình chọn  lựa và hy sinh để sự chọn lựa thành toàn. Đã gọi là hy sinh chắc chắn không bao giờ là điều dễ dãi. Ngược lại hy sinh nào cũng đòi phải chết đi, phải chấp nhận thương tích, chấp nhận đớn đau, có lúc ê chề, có lúc nặng nề tưởng như khó có thể mang vác nổi. Tắt một lời: mãi mãi chọn lựa cần chiến đấu. Chiến đấu để vươn lên cho chọn lựa thành toàn.

3. Trong thư có chỗ bạn viết rằng: “Có những khi con ngồi bên Thánh Thể suốt ngày.” Đúng lắm! Bạn đã làm một điều đúng trên tất cả mọi điều đúng. Hãy tiếp tục làm như thế. Vì ơn gọi theo Chúa, chứ không phải theo một ai khác, phải được chính Chúa quyết định cho theo hay không cho theo. Đàng khác, theo ai phải bộc lộ, phải tỏ tình với người mình theo để chiếm lấy họ. Theo Chúa mà không bày tỏ lòng mình, không lo chiếm lấy Chúa thì làm sao có thể theo. Vì thế, cầu nguyện là điều kiện trước nhất và trên hết cho bất cứ ai dấn thân cho ơn gọi tu trì. Không thể hiểu được nếu ai đó nói rằng mình muốn đi tu mà lại lãng tránh sự cầu nguyện.

 

Bạn đừng lo mỗi khi đến với Chúa Giêsu Thánh Thể “mong tìm sự bình an, nhưng rồi trở về với cuộc sống, con lại mất hy vọng” rồi chán nản bỏ cuộc. Đừng bỏ cuộc dẫu mất hy vọng đến ngàn lần. Càng mất hy vọng và chới với bao nhiêu, càng phải cầu nguyện nhiều bấy nhiêu. Vì chính sự cầu nguyện đã là sức mạnh, là niềm an ủi, là trợ lực giúp ta có khả năng chấp nhận mình, chấp nhận hoàn cảnh, chấp nhận anh chị em quanh mình. Ngay chính sự cầu nguyện đã là biểu hiện của đức tin, càng cho ta thêm lòng tin, thêm niềm yêu mến.

Mặt khác, nếu những khi không còn ai có thể hiểu mình, không còn biết thổ lộ cùng ai, không còn có sức mạnh nào để mình nương tựa, mà lại bỏ luôn cả sự cầu nguyện, nghĩa là bỏ luôn nguồn an ủi cuối cùng, sẽ cô đơn, sẽ đau thương, sẽ mất mát, sẽ càng quay quắt trong chính nội tâm đau khổ không lối thoát của mình… Đó là nguy hiểm lớn bạn ạ. Không còn có nguy hiểm nào bằng khi lòng người chỉ còn mỗi một mình đối diện với thương đau của chính mình. Nó có thể cướp mất đức tin của ta. Có người đã đầu hàng số phận đến nổi tự tìm đến cái chết, coi như đó là cách giải quyết cuối cùng cho một kiếp người bi ai. Có thể người chọn đường tu trì không đi theo cách giải quyết cuối cùng ấy, nhưng tự để mình cô đơn với chính nỗi đau của mình, vẫn là một nguy hiểm khó có thể nói trước điều gì. Vì thế, ngoài sự cầu nguyện, bạn cũng có thể chọn một vị linh hướng đáng tin cậy để vị ấy giúp bạn làm sáng vấn đề. Vị linh hướng cũng sẽ là người cầu nguyện cho bạn, đồng hành với bạn như một người bạn đáng tin cậy.

Quan trọng hơn, khi cầu nguyện, bạn đừng đòi Chúa phải “làm phép lạ” y như mình là chúa của Chúa, Chúa phải nghe mình, phải chiều theo ý muốn của mình lập tức vậy. Không! Bạn đừng hiểu sự cầu nguyện một cách lệch lạc như thế. Đúng hơn, cầu nguyện là tìm thánh ý Chúa để vâng theo, là tìm sức mạnh trong ơn Chúa, nhờ đó giúp mình can đảm chấp nhận thực tại mà mình đang đối diện.

4. Điều cuối cùng, tôi muốn mời gọi bạn, đó là hãy mở Thánh Kinh ra và suy niệm mỗi ngày, những tấm gương kiên trung của đức tin nơi những con người dám đặt đời mình trong tay Thiên Chúa. Chẳng hạn: ông Abraham, ông Môisen, ông Gióp, ông Samson, tiên tri Êlia, tiên tri Giêrêmia, thánh Gioan Tẩy Giả, các tông đồ của Chúa Giêsu, nhất là tấm gương của Đức Mẹ, cũng như của chính Chúa Giêsu...

Mở Thánh Kinh ra và suy niệm về đời sống của cha ông mình, ta sẽ thấy nơi các ngài cả một lòng tin đáng kính phục, sẽ thêm nghị lực, thêm sức mạnh giúp ta chấp nhận những gì đang phải đối mặt. Bởi những gì ta phải gánh lấy hôm nay, đâu phải chỉ riêng ta, nhưng Con Thiên Chúa và biết bao nhiêu người đi trước cũng đã từng gánh lấy.

Mở Thánh Kinh ra, bạn cũng sẽ nhận thấy một sự thật rằng, hình như tất cả những ai theo Chúa, được Chúa yêu thương đều phải sống trong thử thách triền miên, có lúc nặng nề đến mức như không thể thoát ra khỏi màn đêm của u uất, của thất bại. Bạn và tôi đang đối mặt với đau khổ, phải chăng, đó chính là dấu ấn của tình thương Thiên Chúa dành cho ta như đã dành cho nhiều kẻ mà Người yêu thương đã từng có mặt trong cuộc đời, trước chúng ta!”.

Hôm nay, sống mùa Phục Sinh, tôi muốn ghi lại hai lá thư trên để bạn và tôi cùng cảm nhận điều mà người bạn thân của tôi, một linh mục đã cảm nhận: Đau khổ “chính là dấu ấn của tình thương Thiên Chúa dành cho ta.” Bởi không phải đơn giản, và nếu không có chiều sâu nội tâm, hay thiếu tinh thần cầu nguyện, lại có thể thốt lên những lời đáng trân trọng như thế. Tôi nghĩ rằng, cả hai lá thư, nhất là những lời động viên của vị linh mục rất cần thiết cho bạn và tôi. Vì có những lúc đau khổ tột cùng, những lúc tưởng như cuộc đời mình bế tắt…, chúng ta có dám đặt đời mình, đặt cả con người mình trong vòng tay Thiên Chúa nữa hay không? Ta có cảm nhận rằng đó chính là dấu ấn của tình thương Thiên Chúa dành cho ta”?

Đọc các bài tường thuật về việc Chúa Phục Sinh hiện ra bằng chính hình ảnh của Đấng đã chịu đóng đinh, nay sống lại, sẽ là câu trả lời quý giá về nỗi đau trong cuộc đời của bạn và của tôi. Vì hiểu được ý nghĩa của Tin Mừng Phục Sinh, sẽ giúp ta vững tin hơn. Chẳng hạn Ga 20, 19-31 mà Giáo Hội suy niệm trong Chúa nhật thứ II Phục sinh, chỉ là một bài Tin Mừng không dài lắm, nhưng thánh Gioan có đến hai lần kể lại việc Chúa Phục sinh hiện ra với các môn đệ.

Có lẽ bạn sẽ thắc mắc: hôm nay Giáo Hội đang cử hành mầu nhiệm Phục sinh là mầu nhiệm của niềm vui, một niềm vui lớn. Đàng khác bài Tin Mừng kể lại việc Chúa Phục sinh hiện ra với các môn đệ, lại là một niềm vui không nhỏ. Vậy mà từ đầu tới giờ, tôi chỉ toàn nói đến đau khổ. Vì sao lại nói đến đau khổ giữa mùa Phục sinh? Là bởi vì Chúa không tự nhiên mà phục sinh. Nhưng Chúa phục sinh từ trong đau khổ. Chúa phục sinh từ trên thánh giá. Hôm nay, dù đã sống lại, đã chiến thắng khải hoàn, thân xác Phục sinh chói ngời đã cùng quyền năng Thiên Chúa bước vào vô biên, bước vào vĩnh cửu… nhưng bây giờ hiện ra với các môn đệ, thân xác Phục sinh rạng rỡ ấy vẫn còn y nguyên dấu của thập giá.

Cả hai lần trong Ga 20, 19-31 đều chứng minh Chúa hiện ra chỉ có cùng một hình ảnh như thế. Lần thứ nhất, thánh Gioan ghi nhận, ngay khi hiện ra “Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người.” Bạn có biết điều gì trên tay và trên cạnh sườn mà Chúa cho xem ? Vì nơi ấy, dấu thập giá không bị phai nhòa. Trên đôi cánh tay ấy và trên cạnh sườn ấy, còn nguyên dấu tích của những cây đinh, của lưỡi đòng đâm thấu qua. Chỉ sau khi xem tay và cạnh sườn bị thương tích như thế, các môn đệ mới hết nghi ngờ, mới cảm thấy “vui mừng vì xem thấy Chúa.” Như vậy dấu của thập giá là bảo đảm cho đức tin của các môn đệ.

Nhưng lần ấy, khi Chúa hiện ra, thánh Tôma không có mặt, nên thánh Tôma nhất quyết không tin. Bởi đó tám ngày sau, Chúa lại hiện ra một lần nữa, có mặt thánh Tôma. Lần này thái độ của Chúa mạnh hơn lần trước, dứt khoát hơn lần trước. Người không chỉ đưa tay và cạnh sườn cho xem, nhưng Chúa Giêsu Phục sinh còn lên tiếng đòi: “Tôma, hãy xỏ ngón tay của con vào lổ đinh trên tay Thầy đây, hãy thọc bàn tay của con vào cạnh sườn của Thầy. Con đừng cứng lòng tin nữa, mà hãy tin”. Ví dụ có một ngày nào Chúa hiện ra và cũng nói với bạn những lời mà Chúa đã từng nói với thánh Tôma: “Hãy xỏ ngón tay con vào đây, hãy thọc bàn tay con vào đây”, bạn có còn dám nhìn Chúa nữa không? Chẳng những không dám nhìn, càng không dám đưa ngón tay, đưa bàn tay, mà có khi run rẫy chết khiếp, bạt vía kinh hồn. Thánh Tôma cũng không hề là trường hợp ngoại lệ. Mới hôm nào dõng dạc tuyên bố: “Nếu tôi chưa xỏ ngón tay tôi vào lỗ đinh của Chúa, nếu tôi chưa thọc bàn tay tôi vào cạnh sườn Người, tôi không tin.” Tuyên bố mạnh mẽ là thế, kiên quyết là thế, dứt khoát là thế, nhưng bây giờ trước dấu thập giá còn in sâu một cách hùng hồn trên thân thể của Đấng Phục sinh, thánh Tôma đã phải cúi đầu tuyên xưng: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi.” Một lần nữa, thánh Gioan lại cho thấy, dấu thập giá là bảo đảm cho đức tin của chúng ta.

Vì dấu thập giá là bảo đảm cho đức tin, nên trong mùa phục sinh, ta lại bàn đến vấn đề đau khổ, đó cũng là điều hợp lý. Chúa Phục sinh đã không tự xóa bỏ dấu vết đau khổ trên thân thể của mình. Trái lại, dấu vết của đau khổ, của thập giá vẫn còn trên thân thể sáng láng của Đấng Phục sinh, lại làm cho các môn đệ dễ nhận ra đức tin, vững tin và được củng cố đức tin.

Người ta nói: “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”. Cũng vậy, đau khổ rèn luyện đức tin của người có đạo. Đau khổ là trường dạy đức tin cho những ai dám dấn mình theo Chúa.

Trường hợp của anh sinh viên bên trên, tôi tin rằng, nếu anh chịu khó nghiền ngẫm Lời Chúa, suy nghĩ nhiều về cuộc đời của Chúa Kitô, về sự chết và sống lại của Người, chắc anh sẽ có một chọn lựa đúng đắn, phù hợp với Thánh Ý Thiên Chúa và phù hợp với chính niềm hy vọng của anh. Chính khi phải chọn lựa giữa muôn vàn thử thách, chọn lựa trong đau đớn nhưng ngoan cường và dứt khoát, anh mới nhận ra giá trị lớn vô cùng của ơn gọi. Cái giá phải trả cho ơn gọi mà mình chọn lựa không phải là vật chất, hay chỉ một tiếng đáp trả là xong, nhưng là cả một sự tự hiến rát xót. Vì thế, ơn gọi không bao giờ là một chọn lựa dễ dãi, càng không bao giờ là một trò chơi để khi thích thì tham gia, hết thích thì nghỉ chơi. Có nhận ra ơn gọi quý giá như thế, mới mong sự chọn lựa của anh là một chọn lựa tinh ròng trong tự do, trong sự quả cảm, cả đến hy sinh nhức buốt

Nhưng đâu chỉ là người thanh niên ấy. Mỗi chúng ta đều có nỗi buồn: gia đình đang sum họp, bỗng dưng người vợ hay người chồng phản bội, rẽ sang hướng khác. Gia đình đang sung túc, bỗng dưng một người thân ra đi vĩnh viễn, mà người thân đó có khi là cột trụ của đời sống, của kinh tế gia đình, như trường hợp anh thanh niên mất cha, chỗ dựa của cần thiết của anh. Hay con đường tương lai của mình, hay sự thành công đang ở trước mặt, bỗng dưng một biến cố đau thương xảy đến, làm mất hết tất cả. Hay hy vọng đang ngời ngời sáng phía, bỗng dưng mất mát người thân yêu nhất đời mình… Mất mát thật to, nỗi buồn càng lớn. Những lúc bi đát đến cùng cực ấy, bạn và tôi hãy nhớ lại lời vị linh mục: Đó chính là dấu ấn của tình thương Thiên Chúa dành cho ta” mà cố giữ lấy đức tin, vượt qua mọi thác ghềnh, chèo chống đến cùng để tự tin đạp trên mọi sóng gió, mọi thăng trầm của đời mình.

Chúng ta rất may mắn vì được tôn thờ một Thiên Chúa đã từng biết đến đau khổ. Và hôm nay, sau khi phục sinh, Chúa của chúng ta vẫn còn nguyên trên thân thể dấu tích của khổ giá. Chính vì thế, những lỗ gai nhọn đâm vào đầu, những lỗ đinh xuyên thủng bàn tay, bàn chân, và dấu của cạnh sườn bị lưỡi đòng đâm thấu… mãi mãi vẫn là câu trả lời trọn vẹn nhất cho chính đau khổ của chúng ta. Bởi Chúa đã phục sinh từ trên thánh giá, ta cũng đi qua “chốn lưu đày” mà bước vào vinh quang của Đấng Cứu Chuộc, nay đã Phục Sinh.

Đó cũng chính là lý do vì sao tôi cứ miên man suy nghĩ về sự đau khổ, trong khi những ngày này vẫn vang vọng lời ca Allêluia hạnh phúc, chúc tụng Đấng Phục Sinh vinh quang và khải hoàn. Bởi lẽ Chúa cứu chuộc chúng ta trên thánh giá của Chúa, nhưng Người không làm điều đó một mình, mà cần đến sự cộng tác của ta, cần đến thánh giá đời ta tháp nhập vào thánh giá của Người. Mới hay rằng Chúa đã chiến thắng, nhưng Người không xóa vết tích của thánh giá. Điều đó có nghĩa là PHỤC SINH KHÔNG BAO GIỜ GIẾT CHẾT THÁNH GIÁ

Trở về mục lục >>

 

HÃY CHỨNG NGHIỆM THÁNH THẦN
TRONG CUỘC SỐNG CỦA MÌNH

 

Nguyễn Chính Kết  

 1. Vai trò quan trọng của Thánh Thần trong đời sống tâm linh

        Lần đầu tiên gặp lại các môn đệ sau khi sống lại, Đức Giêsu đã «thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần» (Ga 20,22). Thánh Thần là một yếu tố vô cùng cần thiết cho đời sống tâm linh, siêu nhiên. Đời sống tâm linh của ta có tồn tại và phát triển hay không là do Thánh Thần. Thánh Thần chính là thần khí của Thiên Chúa, mà tâm linh của ta cũng là thần khí. Vì thế, điều làm cho ta «giống Thiên Chúa» (St 1,26) và là «hình ảnh của Thiên Chúa» (St 1,27) chính là ta có tâm linh, có thần khí. Thánh Thần chính là sự sống, sức mạnh, trí tuệ, tình yêu của tâm linh ta. Thánh Thần làm cho thần khí ta hoạt động và phát triển. Không một hoạt động nào của tâm linh ta, của Giáo Hội mà lại không do Thánh Thần tác động. Nhưng dường như đối với ta, Thánh Thần chỉ là một ý niệm trừu tượng, một thực tại mà ta thường không hiểu, không cảm nghiệm được. Vì thế, đời sống tâm linh của ta không phát triển, và ta không được biến đổi nên «con người mới», là con người sống theo thần khí.

        Tại sao vậy? Vì chúng ta quá dễ dàng chấp nhận một thứ đức tin hình thức không nội dung, một thứ đức tin tương tự như một kiến thức không ăn nhập gì với cuộc sống thực tế. Đức tin hình thức là thái độ sẵn sàng chấp nhận và tuyên xưng ngoài miệng tất cả những gì Giáo Hội truyền dạy, mà không hề xác tín từ bên trong để có thể thật sự sống theo đức tin ấy. Đức tin kiểu này khiến chúng ta có ảo tưởng rằng mình có đức tin. Nhưng khi đụng chuyện – chẳng hạn khi gặp khó khăn, thử thách, khi hoàn cảnh đòi buộc ta phải dấn thân cho Thiên Chúa, cho tha nhân, cho chân lý, công lý và tình thương – bấy giờ ta mới nhận ra: thì ra ta đã thật sự tin bao giờ đâu!? Vì trong những hoàn cảnh ấy, ta hành xử chẳng khác gì những người không tin. Đúng ra, người có đức tin đích thực sẽ hành xử rất khác với những người không có đức tin. Một đức tin thật sự phải là một đức tin sống động, được xây dựng trên những kinh nghiệm thực tế của đời sống.

    2. Đức tin thực nghiệm của Tôma

        Nếu các tông đồ không được gặp Đức Giêsu phục sinh bằng xương bằng thịt sau khi Ngài chết, mà chỉ được nghe Ngài tiên báo rằng Ngài sẽ sống lại sau khi chết 3 ngày, chắc chắn các ông sẽ không tin và không thể mạnh dạn rao giảng sự sống lại của Ngài. Vì thế, việc Tôma đòi hỏi phải «xỏ ngón tay vào lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn Người» thì mới tin, là một đòi hỏi chính đáng. Và chỉ sau khi đã chứng kiến Đức Giêsu sống lại thật sự, các ông mới vững tin rao giảng. Có lẽ chính vì chúng ta sẵn sàng tin mà không hề đòi hỏi một chứng nghiệm nào của đức tin, nên đức tin của chúng ta chỉ là một thứ đức tin kiểu «ngọn đèn trước gió», khi gặp khó khăn, thử thách là đức tin của ta bị lung lay ngay. Và vì thế, đức tin yếu ớt ấy chẳng ảnh hưởng bao nhiêu lên cuộc sống của ta, chẳng làm ta sống mạnh mẽ, hạnh phúc, tích cực hơn những kẻ không có đức tin. Tệ hơn nữa, nhiều khi miệng ta mạnh mẽ tuyên xưng một đằng, mà đời sống và hành động của ta có vẻ như tuyên xưng ngược lại, một cách mạnh mẽ không kém.

    3. Cần tăng triển đức tin một cách có phương pháp

        Muốn có một đức tin sống động, chúng ta cần phải chứng nghiệm bằng cuộc sống những gì chúng ta tin. Chẳng hạn, muốn củng cố đức tin để ngày càng tin vững mạnh vào quyền năng của Thiên Chúa, chúng ta phải thật sự chứng nghiệm quyền năng ấy. Trong những thử thách nho nhỏ, chúng ta hãy tin vào sức mạnh của Thiên Chúa, tin rằng Ngài sẽ giúp chúng ta vượt qua thử thách ấy. Nếu chúng ta thật sự tin, ta sẽ thấy quyền năng Thiên Chúa thật sự biểu lộ trong trường hợp ấy. Nhờ có kinh nghiệm nho nhỏ ấy, chúng ta sẽ dám tin tưởng vào quyền năng của Ngài hơn khi gặp những thử thách lớn hơn. Và đức tin của ta vào quyền năng Thiên Chúa sẽ càng ngày càng lớn mạnh, khiến chúng ta có thể rất vững tin khi gặp những thử thách vô cùng lớn lao.

    Trên con đường thăng tiến đức tin, phương pháp sư phạm đòi hỏi chúng ta phải thăng tiến từng bước một, không được đốt giai đoạn. Con đường thăng tiến đức tin tương tự như việc lên cầu thang, phải đứng trên bậc một và lấy bậc một làm nền tảng để bước lên bậc hai, và lấy bậc hai làm nền tảng để bước lên bậc ba. Một khi ta đã có kinh nghiệm về quyền năng của Thiên Chúa trong những thử thách nhỏ, Thiên Chúa sẽ tạo nên những thử thách lớn hơn một chút đòi hỏi ta phải tin mạnh hơn một chút mới có thể vượt qua thử thách ấy cách tốt đẹp. Nếu ta dám dựa vào những chứng nghiệm về đức tin trong quá khứ như nền tảng để dấn thân cao hơn, sâu hơn trong đức tin, thì ta sẽ có được những chứng nghiệm đức tin cao hơn. Và cứ thế đức tin ta sẽ ngày lớn mạnh. Đức tin có lớn mạnh, đời sống tâm linh của ta mới phát triển.

        Đó là phương pháp sư phạm của Thiên Chúa trong việc huấn luyện đức tin chúng ta. Chẳng hạn, để giúp các tông đồ tin vào việc sống lại của mình, Đức Giêsu đã phải chuẩn bị cho các tông đồ từ mấy năm trước. Bước đầu, Ngài cho các ông chứng kiến nhiều lần việc Ngài làm người chết sống lại: trường hợp con trai bà góa thành Nain (x. Lc 7,11-15), con gái một ông trưởng hội đường (x. Mt 9,18-26), v.v… Và mấy ngày ngay trước khi bước vào cuộc tử nạn, Ngài đã làm cho Ladarô – đã chết 4 ngày và đã có mùi – sống lại trước mắt các ông (x. Ga 11,34-45). Nhờ những kinh nghiệm ấy, các ông mới có cơ sở để tin vào khả năng sống lại từ cõi chết của Ngài.

    4. Phải chứng nghiệm Thánh Thần trong cuộc sống

        Thánh Thần – hay Thần Khí của Thiên Chúa – là một thực tại vô hình, không ai thấy được bằng con mắt xác thịt, nhưng những biểu hiện của Thánh Thần thì rất cụ thể. Tương tự như dòng điện: không ai thấy được dòng điện, nhưng người ta có thể biết chắc chắn trong nhà hay trong phòng có điện hay không, nhờ những biểu hiện của dòng điện. Thật vậy, khi thấy đèn trong phòng sáng lên, quạt máy quay tít, bàn ủi nóng lên, ta có thể quả quyết có dòng điện đang chạy vào những dụng cụ ấy. Và đó chính là kinh nghiệm của chúng ta về dòng điện. Cũng vậy, khi ta thấy mình được thúc đẩy làm một điều gì tốt, như yêu thương và hy sinh cho người khác, tha thứ những lầm lỗi cho họ, hay khi ta cảm thấy muốn cầu nguyện với Thiên Chúa… ta biết ngay và biết chắc chắn rằng Thánh Thần đang hoạt động trong ta, thúc đẩy ta làm những việc ấy. Vì không có một việc gì tốt đẹp khởi lên trong lòng ta mà không phải do Thánh Thần. «Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa» (1Cr 2,11b); «Chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó» (1Cr 12,11); «Hoa quả của Thần Khí là, bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ» (Gl 5,22-23a).

        Thánh Thần tràn ngập trong cuộc sống của ta, nhưng ta lại không ý thức và hiểu gì về Thánh Thần cả. Ta giống như một con cá, vì sống trong môi trường nước từ khi lọt lòng mẹ, nên không có một ý thức gì về nước cả. Nghe ai nói về nước ở chung quanh mình thì nó lấy làm lạ, và bắt đầu đi tìm nước. Tìm khắp ao hồ mà chẳng thấy nước nên nó cho rằng nước chỉ là một ý niệm mà người ta tưởng tượng ra. Khi ta ý thức về Thánh Thần, chứng nghiệm được những hoạt động của Thánh Thần trong bản thân ta, trong đời sống của ta, đồng thời ngày càng vững tin vào quyền năng của Thánh Thần, thì đời sống tâm linh và siêu nhiên của ta sẽ phát triển mạnh mẽ. Vậy chúng ta hãy theo tinh thần của Tôma, đòi hỏi mình phải kinh nghiệm thật sự về Thánh Thần, về quyền năng của Thánh Thần. Nhờ đó ta sẽ có kinh nghiệm về Thánh Thần thật sự, vì «ai tìm thì sẽ thấy» (Mt 7,8). Đức tin về Thánh Thần và về quyền năng của Thánh Thần chỉ khi được xây dựng trên những chứng nghiệm thật sự mới mới vững chắc và có tác dụng thật sự trong đời sống

Trở về mục lục >>

 

ƠN CỨU ĐỘ - CHÍNH LÀ LÚC NÀY ĐÂY

Khổng Nhuận

Ngày xưa còn nhỏ - thời thập niên 50 - Chúng ta thường đọc rang rang: Chúa Giêsu xuống thế làm người,  chịu nạn chịu chết trên cây Thánh giá để chuộc tội cho cả và thiên hạ - có nghĩa là   ban ơn Cứu độ cho nhân loại để đời sau được hưởng mặt Chúa vui vẻ trên thiên đàng đời đời chẳng cùng Amen. Giờ đây, trong tuần bát nhật Phục sinh, chúng ta nên dành một chút thời gian để nhìn lại Ơn cứu độ, một trong những đề tài nghe rất nhàm tai nhưng nếu nghiên cứu thật kỹ thì lại rất mới lạ và đầy hấp dẫn

Rất nhàm tai: ƠN CỨU ĐỘ Theo lối nhìn nhân loại.

Chúng ta đã từng nghe dạy rằng:

Muốn được ơn cứu rỗi hay thừa hưởng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô thì đòi hỏi phải có 2 điều kiện tối  cần thiết như sau:

Được tái sinh vào sự sống mới qua phép Rửa ( xem Jn 3:5)

Tin Chúa Kitô và thực hành giáo lý của Chúa đã được loan báo qua Tin Mừng (Mk 16:16)

nghĩa là mến Chúa và yêu người như Chúa Giêsu đã dạy, cũng như từ bỏ mọi tội lỗi thì mới được ơn  cứu độ.

Đặc biệt, Thánh Lễ hay Hy Tế đền tội và tạ ơn ( Eucharist) là phương tiện cao trọng nhất để áp dụng ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu cho nhân loại cho đến thời gian cuối cùng, để ban ơn cứu độ cho những ai muốn lãnh nhận

Khi chúng ta tham dự với lòng tin và ước muốn nhận lãnh ơn cứu chuộc thì sẽ nhận được đầy đủ và hữu hiệu như Chúa Giêsu đã ban cho những ai tin và thành tâm muốn lãnh nhận lần đầu tiên khi Người tế lễ Đức Chúa Cha trên Thánh giá năm xưa. (xem Hiến Chế Lumen Gentium, số 3)

Có lẽ đây là một quan niệm rất bài bản và truyền thống và rất thích hợp cho những ai muốn hy vọng hưởng ơn cứu độ. Cụ thể là hy vọng đời sau được hưởng mặt Chúa trên thiên đàng - Hy vọng thôi nhé! Vấn đề hy vọng nhiều hay ít còn tuỳ thuộc mỗi cá nhân sống trên đời này ra sao. Xin nhắc lại một lần nữa: Đời Sau, chứ không phải ngay tại đời này. Nhưng ….

Nhưng … khi thực hành mới thấy chẳng dễ dàng chút nào. Có thể nói còn khó hơn mò kim đày biển.

Chúng ta, những người Kitô hữu, đã từng chịu phép rửa nhưng rõ ràng hầu hết chúng ta chưa thấy mình được tái sinh vào sự sống mới. Vẫn tiếp tục lê lết trong lối sống cũ - trong cơn ngủ mê dài, trong bóng tối sự chết. Ơn cứu độ vẫn còn xa xôi mịt mùng.

Còn việc thực hành giáo lý của Chúa nghĩa là mến Chúa và yêu người còn khó hơn bay lên trời dù là bay với cách chim đại bàng.

Mến Chúa hay yêu Chúa rất khó vì tôi tội lỗi cần phải nhờ Chúa cứu độ thì lập tức mối tương quan giữa Chúa và tôi trở nên nghìn trùng xa cách. Tôi chỉ có thể tôn thờ Chúa trong niềm kính sợ chứ không thể yêu thương thoải mái được.

Yêu người còn khó hơn nhiều vì ngay vợ chồng đầu ấp tay gối mà còn đụng chạm; anh em làm việc với nhau mà còn gây tổn thương cho nhau, huống gì đôi khi phải đối mặt thường xuyên với những người khó ưa, khó tính làm sao mà yêu cho nổi. Việc yêu thương người như mình ta vậy Amen, đọc thuộc lòng như cháo mỗi ngày Chúa nhật, nhưng khi thực hiện quả là chua hơn dấm, không dễ chút nào cả. Ngoài ra, nhiều khi mang tiếng là yêu người mà lại hoá ra yêu cái danh thơm tiếng tốt tiếng của thằng tôi. Tôi ra sức làm việc tông đồ - bác ái càng nhiều càng tốt lúc đầu là vì đức ái Kitô giáo nhưng dần dần người ta âm thầm hoặc công khai khen ngợi tôi. Từ đó trở đi, tôi vẫn tiếp tục làm việc tông đồ - bác ái nhưng động lực đã từ từ chuyển biến sang bảo tồn danh dự cá nhân. Tôi càng lớn lên, còn Ngài càng nhỏ đi.

Còn chuyện từ bỏ tội lỗi quả là một chuyện dài nhiều tập kéo dài suốt cuộc đời. Vì vẫn tiếp tục trong lối sống cũ, nên chuyện từ bỏ mọi tội lỗi trở thành không tưởng. Mới xưng tội xong, chỉ một tuần sau, thậm chí mới vài ngày sau lại đã tái phạm. Con người bị sinh ra trong tội lỗi mà! Con người phàm hèn mà! Quyết tâm rất mạnh mẽ, nhưng lại sa ngã rất dễ dàng bởi vì cứ lấy sức mạnh ý chí của con người xác thịt vốn rất đỗi yếu đuối. thế thì mong gì nhận được Ơn cứu độ.

Cuối cùng, ta vẫn biết rằng Thánh Lễ hay Hy Tế đền tội và tạ ơn ( Eucharist) là phương tiện cao trọng nhất để áp dụng ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu cho nhân loại  Nhưng kỳ lạ thay ta đã đi hàng ngàn thánh lễ, rước lễ cũng hàng ngàn lần. Lẽ ra ta phải gần Chúa hơn, trái lại càng lớn ta lại càng cảm thấy xa Chúa. Tôi quả thực không hiểu Thánh lễ đã áp dụng ơn cứu chuộc như thế nào mà hơn 6000 lần tham dự thánh lễ, ơn cứu chuộc vẫn mịt mù xa xôi !! Còn lời dạy Khi chúng ta tham dự với lòng tin và ước muốn nhận lãnh ơn cứu chuộc thì sẽ nhận được đầy đủ và hữu hiệu. Thú thật tôi không tài nào cảm nhận được điều này. Chúng ta ai lại chẳng  tin Chúa ngự qua hình bánh ?! nhưng chuyện sẽ lãnh nhận được đầy đủ và hữu hiệu ơn cứu chuộc thì sao vẫn mơ hồ mông lung.

Có một hôm, chúng tôi đã nêu thắc mắc với một linh mục: Chúng ta lãnh nhận ơn cứu độ vào lúc nào? Có phải ngay sau khi rước Chúa chăng? Phải rước lễ bao nhiêu lần mới được lãnh nhận? Hay là đợi đến khi chết đi, chúng ta mới được truy lãnh đầy đủ và hữu hiệu ơn cứu độ cùng một lúc cho tiện?

Vị linh mục đó trả lời: Hiện nay chúng ta hãy cố gắng, cố gắng và chỉ còn biết hy vọng, hy vọng vào ơn cứu độ sẽ được Chúa ban sau khi chúng ta chết mà thôi!!! Không ai có thể vỗ ngực tuyên bố là mình đã được cứu độ ngay ở đời này!!!

Như vậy lý thuyết đã vẽ ra cả một tương lai rực sáng nhưng thực tế lại là một khu rừng âm u mờ tối dường như khó tìm ra lối thoát. Bởi lẽ theo ánh mắt nhân loại, chúng ta chỉ có thể cố gắng và cố gắng giữ những điều đã được dạy, rồi hy vọng và hy vọng…. ơn cứu độ đời sau mà thôi.

Rất mới lạ và đầy hấp dẫn: ƠN CỨU ĐỘ Theo ánh mắt tâm linh.

Mang lối nhìn nhân loại, có người đã phải lần mò trong đêm tối hàng mấy chục năm. Làm sao tìm được ánh sáng cứu độ bây giờ ?? Có lẽ chúng ta thử thay đổi quan niệm xem sao.

Theo ánh mắt tâm linh: Ơn cứu độ mang lại cho ta sự sống đời đời. Điều kiện nghe cũng có vẻ đơn giản hơn: Thật, tôi bảo thật các ông: Ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống. 25 Thật, tôi bảo thật các ông: giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa; ai nghe thì sẽ được sống.26 Quả thật, Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy (Ga 5:24-26)

Điều kiện: Lắng nghe Lời Chúa bằng cách cá nhân hoá và nội tâm hoá.

Ai nghe lời tôi (Đức Giêsu). Lời Đức Giêsu theo nghĩa hẹp là những lời được ghi chép trong tin mừng. Hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ tân cựu ước. Nói cách khác đó là Lời Chúa. Lời Chúa trong Kinh Thánh thì mênh mông và có nhiều cách nghe như dụ ngôn Người Gieo Giống. Một trong những cách nghe sinh hoa kết quả đó là cá nhân hoá và nội tâm hoá. Chúng ta đọc từ từ và dừng lại thật lâu lời nào khiến mình tâm đắc. (Xin xem lại Đọc Kinh Thánh theo ánh mắt tâm linh. Maranatha số 22). Tất nhiên là mỗi người sẽ tâm đắc và nếm cảm những Lời Chúa khác nhau. Nhưng chắc chắn một khi Lời Chúa thấm dần vào tâm hồn thì tất cả đều có thể đồng cảm với nhau một các dễ dàng vì lý do sau đây:

Trước kia, họ là những kẻ chết - Kẻ chết ở đây biểu tượng cho tình trạng sống đạo theo thói quen, ai sao tôi vậy, họ sống mà như ngủ mê, vật vờ trong bóng tối sự chết. Nay nhờ Lời Chúa là Thần Khí và là sự sống đã giúp họ từ từ thức dậy sau bao ngày ngủ mê, giúp họ trỗi dậy từ cõi chết. Lúc đó họ cảm nhận rất rõ Chúa đã chiếu ngời ánh vinh quang sự sống, tình yêu, sức mạnh của Chúa, không những trên đầu mà cả toàn thân - tâm của họ nữa. Và họ cũng vui mừng thấy mình quả thực đã từ cõi chết bước vào cõi sống. Kể từ đây họ sống không còn là họ sống thuần túy sự sống của thân xác mà họ bắt đầu sống từ nguồn sống của Thần Khí Thiên Chúa đang tuôn trào trong tâm hồn lẫn thân xác của họ.

Nói tới cái chết, chúng ta thường nghĩ ngay cảnh nhắm mắt xuôi tay, yên nghỉ trong mộ, về cõi vĩnh hằng. Thực ra, theo ánh mắt tâm linh thì cái chết được hiểu trong tình trạng sống theo con người cũ, con người xác thịt, tất cả quy về mình. Đây chính là tình trạng chết về phần tâm linh. Thánh Phaolô đã chia sẻ: Nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống.(Rm 8:13). Thêm vào đó, Ngài còn khuyên nhủ: Anh em là những người sống đã từ cõi chết trở về, anh em hãy hiến toàn thân cho Thiên Chúa, và dùng chi thể của anh em như khí cụ để làm điều công chính, phục vụ Thiên Chúa.(Rm 6:13) Sống, chết ở đây chắc chắn phải hiểu theo ý nghĩa hoàn toàn tâm linh chứ không thể hiểu theo nghĩa xác thịt. Rất có thể ta khỏe mạnh như một võ sĩ, nhưng theo ánh mắt tâm linh: ta lại như một tử thi biết đi.

Một vấn đề khá thú vị nữa đó là lúc nào thì ta biết được chắc chắn rằng ta là những người sống từ cõi chết trở về. Chính Đức Giêsu đã trả lời: Giờ đã đến - và chính là lúc này đây

Chúng ta hiểu như thế nào? Sau một thời gian thấm nhập Lời Chúa và thực tập sống theo những gì mình khám phá thì bỗng nhiên một ngày nào đó, quan niệm của ta hoàn toàn thay đổi, cái nhìn của ta cũng trở nên sâu thẳm hơn. Thấy người ta đi lại, tranh giành.. mà ta tưởng như họ đang diễn tuồng. Thật đó, mà cũng giả đó. Rõ ràng nhất là trước kia tôi chỉ thấy thằng tôi ăn-uống-ngủ-nghỉ, vui-buồn-sướng-khổ, Nay tôi đã dần dần nhận ra sự hiện diện và hoạt động của Chúa ngay trong cuộc đời thường ngày của mình. Cho tới một hôm tôi cảm nghiệm thật mãnh liệt với một niềm xác tìn sâu xa với tình trạng tình thức sáng ngời. Thì đó chính là lúc tôi từ cõi chết bước vào cõi sống.  Hay nói cách khác chính lúc đó tôi ý thức mình đã được cứu độ.  Cái giây phút mà mỗi người NGỘ không xảy ra cùng một lúc - kẻ trước người sau, nhưng chắc chắn nó xảy ra ngay tại đây, giữa chốn hồng trần đầy vinh hoa phù phiếm với những lời mời gọi cực kỳ quyến rũ của ma quỷ, thế gian và xác thịt.

Một khi đã từ cõi chết trở về, họ mới cảm nghiệm được tất cả hương vị sảng khoái của lời khẳng định của thánh Phaolô: Vậy giờ đây, những ai ở trong Đức Ki-tô Giê-su, thì không còn bị lên án nữa. Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Ki-tô Giê-su, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết.(Rm 8:1-2). Thánh Phêrô cũng đã hoan hỉ chia sẻ:  Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền. (1Pr 2:9) Việc giải thoát khỏi luật của sự tội và sự chết để bay vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền là một minh chứng hùng hồn của ơn cứu rỗi. Và Ơn cứu độ lúc này mang đặc tính quả là mới lạ và đầy hấp dẫn. Nỗi sợ hãi ngày xưa đã tan biến nhường cho niềm hoan lạc và bình an trong Thần Khí Thiên Chúa.

Xin lưu ý quý vị 2 điều:

Nói như vậy thì ta gạt bỏ Thánh Lễ và Bí Tích sao? Xin thưa rằng Không, Không đời nào! Vì từ khi cá nhân hoá lời Chúa, thì ta bắt đầu nhìn theo ánh mắt tâm linh. Tâm hồn ta thanh thoát vì đã được giải thoát vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền.  Từ đó, ta vui hưởng Bí tích một cách hân hoan, một cách ý thức và một cách chủ động;  chứ không phải chịu phép Bí Tích một cách vô ý thức hay làm cho xong một bổn phận kẻo phải mang tội. Cụ thể là trong Thánh Lễ ta chăm chú nghe lời Chúa và bài giảng của chủ tế. Lòng ta ấm lên khi Lời Chúa thấm một chút vào tâm hồn. Ta tích cực đối đáp và cùng hát với cộng đoàn:  Tôi sẽ cầu nguyện với tấm lòng, nhưng cũng cầu nguyện với trí khôn nữa. Tôi sẽ ca hát với tấm lòng, nhưng cũng ca hát với trí khôn nữa ( 1Cr 14:15)  Rồi trong phần hiệp lễ,  ta vui vẻ mời gọi Chúa vào lòng mình để xác tín và sống trong tình yêu Chúa mạnh mẽ hơn, chứ không chỉ lên rước lễ như một tên ROBOT ngày xưa

Còn một điều dễ gây hiểu lầm: không phải là hiện nay, sau khi từ cõi chết bước vào cõi sống là ta lập tức trở thành thánh sống. Ta luôn sống như Chúa sống. Ta coi thế gian như rác. Hoàn toàn không phải như vậy. Thời gian đầu, ta thực tập sống kết hiệp với Chúa quả là cam go và chua chát như cảm nghiệm của cô con dâu cứng đầu LTCT trong Maranatha số 36. Chỉ vì tiếng nói xác thịt của con người cũ suốt mấy chục năm qua luôn luôn muốn giành quyền làm vua, làm chủ, luôn tìm cách khẳng định con người mình. Do đó, mới đầu, mỗi ngày ta nhớ Chúa và tập sống với Chúa giỏi lắm chừng 10 phút là cùng. Nhưng như vậy còn hơn trước kia ta chẳng nhớ Chúa được 5 giây. Rồi tháng năm trôi qua, thời gian ta sống với Chúa tăng lên và tình thân của ta với Chúa cũng nồng thắm hơn một cách tự nhiên và vững mạnh.

Tóm lại, Ơn Cứu độ quả là một đề tài thú vị và hấp dẫn. Vấn đề  còn lại là mỗi người trong chúng ta lên kế hoạch thực hiện cho riêng mình để chúng ta có thể vui hưởng ơn cứu độ ngay ở đời nàyĐây là những tâm tình phát xuất từ cảm nghiệm cá nhân, xin chân thành chia sẻ với quý vị, chứ không dám nêu ra để làm mẫu đâu! Rất mong quý vị thông cảm và hiểu cho. Ước mong Mùa Phục Sinh năm nay sẽ là bệ phóng siêu nhiên mà chúng ta cùng nhau quyết tâm Hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi - đối với nếp sống đạo hình thức của con người cũ -  nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Ki-tô Giê-su.(Rm 6:11). Như thế, lễ phục sinh năm nay sẽ khởi đầu cho cuộc sống mới bình an và hoan lạc. Chúng ta cùng hát vang lên Alleluia! Alleluia!  Thần Khí ngự trong chúng ta, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong chúng ta, mà làm cho thân xác của chúng ta được sự sống mới.(Rm 8:11)Alleluia! Alleluia!

Trở về mục lục >>

 

CẦU NGUYỆN

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG

(tiếp theo Maranatha_39)

Michel Hubaut - Maranatha dịch

5. BÍ ẨN NƠI CON NGƯỜI:

HỮU THỂ CẦN CÔ TỊCH VÀ CẦN TƯƠNG QUAN

Sau khi đã nói như trên, chúng ta phải thừa nhận rằng trở ngại đầu tiên đối với thinh lặng - dù sự thinh lặng ấy tối cần cho sức khoẻ thể lý, tâm lý và tâm linh - không phải là môi trường nhưng là bản thân con người, vì họ có vẻ muốn trốn tránh sự thinh lặng mà họ cần để sống. Đây không phải là một mâu thuẩn nhỏ nơi con người đâu! Muốn làm rõ bí ẩn này, chúng ta có thể nhờ đến ánh sáng của khoa học nhân văn và của mặc khải Kitô Do Thái giáo.

Mọi nhà tâm lý học sẽ nói với bạn rằng con người, tự bản chất, là một hữu thể xã hội và cần sống với người khác, nhờ người khác và vì người khác. Theo chiều hướng đó, sự cô tịch có thể cảm nhận như là một trạng thái tâm lý cưỡng bức, phản tự nhiên, mà từ bản năng họ tìm cách tránh né bằng đủ mọi cách.

Hướng dẫn thứ nhất. Không nên lẫn lộn cô tịch (solitude) với cô lập (isolement). Một đứa trẻ bị ‘cô lập’ trên một hòn đảo hoang vu, dù nó có mọi sự để nuôi sống thể xác mình, thì cũng khó lòng mà ý thức được về căn tính của mình và biết mình là ai. Hơn nữa, chúng ta biết rõ những tác hại tâm lý của một loại cô tịch mà các người cao niên hay tù nhân, chẳng hạn, phải gánh chịu.

Tình trạng cô tịch-cô lập đôi khi là hệ quả của một sự khép kín bản thân, sợ gặp gỡ người khác, sợ tạo những quan hệ. Mọi hình thức cô lập trở nên không thể chịu nổi và đôi khi có thể dẫn đến tự tử. Sự Khôn Ngoan trong Kinh Thánh đã để cho Chúa Tạo Đựng phán rằng: “Con người ở một mình thì không tốt” (St 2,18). Nhưng chúng ta sẽ thấy rằng, nếu sự cô lập phá hủy, thì sự cô tịch lại xây dựng.

Như thế, con người tự nhiên mong muốn được giao tiếp, liên lạc. Toàn bộ con người của mình được cấu trúc để gặp gỡ người khác. Một số nhà phân tâm cho rằng cái cấu trúc căn bản và hợp lý ấy là một trong số các cơ sở cho ‘những nỗi sợ hãi’ ấu trỉ của mình đối với cô tịch. Các nỗi sợ ấy cũng giống như một hồi chuông báo động tự nhiên rằng nơi đấy có môt mối nguy hiểm cho con người.

Nhưng, chính ở đây trổi lên nghịch lý, sự khát mong được gặp gỡ người khác thì hiếm khi được mãn nguyện. Ngoài vài chốc lát ‘hiệp thông’, con người nhanh chóng chua chát nhận ra rằng giữa mình và người khác, dù cho là người thân nhất, cũng có một phần không thể thông truyền được,