Số 43, Ngày 15-4-2005

 

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Vinh Danh Cha Chung Khả Kính Khả Ái  - Lm. Bùi Thượng Lưu

Đức Thánh Cha Gioan-Phalô II -Vị Tuần Canh Tuyệt Vời  - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Hãy Theo Thầy - Trần Duy Nhiên

Lời Cầu Nguyện Đầu Tiên và Sứ Điệp Cuối Cùng của Đức Gioan-Phaolô II

John-Paul II – We Love You! Vị Giáo Hoàng của Giới Trẻ - Nguyễn Hoài Hương

Việc Phong Thánh của Đức Gioan-Phaolô II - George Weigel

Những Lời Nguyện của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II

Một Số Giai Thoại về ĐTC Gioan-Phaolô II - Sưu tầm

Viết Dâng Cha - Lê Thu Bích

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

    

 

 

Tưởng Niệm

ĐỨc Thánh Cha Gioan-Phaolô II

(1920-2005)


Giáo Hoàng La , người kế vị thánh Phêrô, nguyên nền tảng hữu hình vĩnh cửu cho sự hiệp nhất giữa các giám mục cũng như giữa các tín hữu.

LUMEN GENTIUM, 23

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa Quý độc giả, 

Kể từ ngày Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II qua đời, biết bao tin tức, hình ảnh về Ngài được báo chí, truyền thanh, truyền hình đăng tải cấp kỳ, nhanh chóng. Khắp nơi trên toàn thế giới người người xôn xao, thảng thốt, bàng hoàng vì sự ra đi của một con người – mà xem ra khi còn sống đã làm nhiều điều độc đáo, lớn lao; nhưng phải đến khi con người ấy hấp hối, từ giã trần gian, Giáo Hội và nhân loại mới ý thức ra rằng bấy lâu nay trong cuộc đời này, thế giới này đang có đó một vĩ nhân, một vị thánh, một nhân vật phi thường lỗi lạc, một người dẫn đường cho những ai khao khát giếng nước tâm linh cho cuộc đời mình, mà mình không mấy quan tâm hướng về. Riêng lãnh vực truyền thông trên mạng thì Internet đã có bao nhiêu bài viết về Ngài nhỉ? Không ai biết được cả. Tuy nhiên, nếu muốn có một con số phỏng chừng để có thể dự đoán thì đây là kết quả của một lần tra cứu của Maranatha (và độc giả dễ dàng kiểm tra). Trong chương trình Google, nếu search “John Paul II + death”, thì có 6,350,000 bài (hơn sáu triệu bài tiếng Anh), “Jean Paul II + mort”, thì có 644,000 bài (tiếng Pháp), “Juan Pablo II + muerte”, thì có 567,000 bài (tiếng Tây Ban Nha), và nếu search “Giovanni Paolo II + morte”, thì có 416,000 bài (tiếng Ý). Và nếu chỉ search tiếng Việt mà thôi: “Gioan Phaolô II + chết”, thì cũng có đến 2,670 bài. Những con số trên cho thấy rằng trong lịch sử nhân loại, chưa có ai qua đời mà số tư liệu về người ấy nhiều bằng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Và thiết nghĩ những ai quan tâm đến sự ra đi của Đức Thánh Cha đều có thể cập nhật thông tin rất sớm, và đó là một trong những lý do vì sao Maranatha đã im tiếng trong hai tuần vừa qua. Thực ra, trước một trận bão thông tin như thế thì phải gửi đến độc giả những bài viết nào cho xứng hợp và đầy đủ về vị Cha Chung rất kính yêu của cả Giáo Hội toàn cầu, của Giáo Hội Việt Nam? Bao nhiêu hình ảnh và kỷ niệm về Ngài cứ chồng chất lên nhau. Biết bao lời dạy quý báu, guơng sáng trong suốt quãng đời Ngài đã để lại, viết sao cho đủ, kể sao cho vừa…Ấy là những chuyến đi mục vụ đến khắp nơi trên thế giới để nói lên sứ điệp hoà giải và hòa bình. Hình ảnh một Giáo Hoàng thể tháo gia gục ngã trước một viên đạn ám sát, mà vẫn tiếp tục sống gần một tư thế kỷ nữa. Đây là một Giáo Hoàng đầu tiên trong lịch sử đã đứng ra xin lỗi về những sai lầm quá khứ của Giáo Hội. Đó là Giáo Hoàng của Giới Trẻ; vị Giáo Hoàng của người nghèo và bệnh tật đã nhắc nhở thế giới hãy nhận ra và tôn trọng nhân phẩm của họ hơn trong việc trao tặng cơm gáo gạo tiền; vị Giáo Hoàng của gia đình; của truyền thông và trên hết là vị Giáo Hoàng giàu lòng thương xót.

Trước sự phong phú của Giáo Hoàng Gioan-Phalô II được thế giới ngưỡng mộ và kính phục như một vị thánh, Maranatha chỉ xin trình bày một khía cạnh rất bình thường và gần gũi: đó là con người của Karol Joseph Wojtyla. Một con người luôn luôn muốn đến gần những anh em nhân loại của mình và nói tiếng nói của họ. Dù sao đi nữa, trước hình ảnh hàng ngàn người khóc tại quảng trường Phêrô, và biết bao nhiêu người trên thế giới âm thầm trào lệ, chúng ta có thể nói rằng Dân Chúa có cảm giác mình trở thành mồ côi, kể từ ngày 2 tháng 4, khi Ngài từ giã thế giới và cũng là đời tạm này.

"Il nostro amatissimo Giovanni Paolo II è ritornato nella casa del Padre. Pregamo per lui” (Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II yêu quí của chúng ta đã về nhà Cha, ta hãy cầu nguyện cho Ngài) Đấy là những lời mà, vào 21 giờ 50, Tổng giám mục Leonardo Sandri, thư ký toà thánh, đã loan báo sự ra đi của Đức Giáo Hoàng vào lúc 21 giờ 37. Hàng chục ngàn tín hữu tại quảng trường thánh Phêrô đã lặng đi trong vài giây, rồi vỗ tay tiễn biệt người cha yêu dấu theo thông lệ của người Ý. 

Lời tuyên bố này gợi lại một lời tuyên bố gần hai mươi bảy năm về trước.  

Lúc 16 giờ 45, ngày 14 tháng 10 năm 1978, mười ngày sau tang lễ của Đức Gioan Phaolô I, có 110 hồng y và 88 người được chỉ định để giúp các ngài đã khởi đầu mật nghị, tách biệt khỏi xã hội bên ngoài, để bầu người kế vị. Lúc 18 giờ 18, ngày16 tháng 10 năm1978, một làn khói trắng bốc lên từ ống khói Nhà Nguyện Sixtine, dấu chỉ cho biết rằng các hồng y đã chọn đưọc một Tân Giáo Hoàng. Hai mươi bảy phút sau, Đức Hồng Y Pericle Felici xuất hiện trên lễ đài Đền Thờ thánh Phêrô, và công bố:

“Annuntio vobis gaudium magnum: Habemus Papam Carolum Wojtyla, qui sibi nomen
imposuit Ioannem Paulum II."  (Tôi thông báo cho anh em một niềm vui lớn: chúng ta đã có Karol Wojtyla làm Giáo Hoàng, ngài lấy danh hiệu là Gioan Phaolô II).

Lúc 19g15, vị Tân Giáo Hoàng với trang phục trắng truyền thống, xuất hiện lần đầu tiên trên lan can và nói bằng tiếng Ý những câu nói mà ngày nay đã trở thành quen thuộc đối với hàng triệu người trên thế giới: “Hãy Chúc Tụng Chúa Giêsu!” Rồi ngài nói tiếp: Anh chị em thân mến, chúng ta còn u sầu vì cái chết của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I kính yêu.  Và giờ đây, các hồng y đã gọi một giám mục Rôma mới. Các ngài đã gọi giám mục này từ một đất nước xa xôi... xa xôi, nhưng lúc nào cũng gần gũi nhờ thông công trong đức tin và trong truyền thống Kitô giáo. Tôi từng sợ hãi tác vụ này, nhưng tôi chấp nhận trong tinh thần vâng phục Chúa chúng ta và với một sự tin tưởng hoàn toàn vào Mẹ Ngài là Rất Thánh Đức Nữ Đồng Trinh.  Và ngài lại thêm: “Không biết tôi có diễn đạt rõ ràng trong ngôn ngữ Ý của anh chị em... của chúng ta không.. (vỗ tay hoan hô). Nếu tôi nói sai thì anh chị em sửa nhé! Tôi ra trước anh em để tuyên xưng đức tin chung của chúng ta, niềm hy vọng, lòng tin tưởng vào Mẹ Chúa Kitô và Giáo Hội, và để khởi đầu trở lại con đường lịch sử Giáo Hội, với sự trợ giúp của Thiên Chúa và của con người.”

Vâng, ngay tiếng nói đầu tiên ngài đã nói lên tiếng nói của người đối thoại chứ không đòi buộc người khác phải nghe tiếng nói của mình. Và trong suốt triều đại của ngài, ngài đã đối thoại với người Cộng Sản, người Tư Bản, người Hồi Giáo, Người Tin Lành bằng ngôn ngữ của họ. Hơn nữa, trong lời nói ấy, ngài khiêm nhường yêu cầu người đối thoại sửa cho mình. Và đó cũng là thái độ mà ngài đã thực hiện và thôi thúc con cái ngài thực hiện, mà cao điểm là Năm Thánh 2000: ngài đã xin lỗi tất cả mọi đối tượng về sự sai lầm của Giáo Hội Công Giáo, và xin họ sửa chữa và thứ tha cho mình.

Đối với anh em nhân loại thì thế, còn đối với Thiên Chúa, ngài luôn luôn ý thức rằng mình là người tôi tớ. Trong lời cầu nguyện rất ngắn mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II dâng lên Chúa Kitô lần đầu tiên khi bắt đầu trong cương vị Giáo Hoàng, ngài đã 5 lần xác định vị trí của mình là ‘người tôi tớ’:

“Lạy Chúa Kitô, xin làm cho con trở nên và luôn mãi là người tôi tớ cho quyền năng duy nhất của Chúa, người tôi tớ cho quyền năng ngọt ngào của Ngài, người tôi tớ của quyền năng Ngài, một quyền năng không bao giờ suy suyển. Xin biến con thành người tôi tớ. Và đích thật là người tôi tớ của mọi tôi tớ Chúa.”

Với tinh thần của ‘người tôi tớ của Giavê’, luôn đối thoại bằng chính ngôn ngữ của người nghe và khiêm nhường xin lỗi, hơn 26 năm qua ngài đã thắp lên đức tin và niềm hy vọng cho một thế giới đã đánh mất địa bàn, để rồi người ta tặng ngài rất nhiều danh hiệu: Con người của chính trị, con người của hòa bình, con người của hòa giải, người bảo vệ sự sống, người bảo vệ nhân phẩm... và người cha của giới trẻ.

Người ta bất đồng ý kiến về ngài. Có người cho rằng ngài quá truyền thống, nếu không gọi là bảo thủ, bởi vì ngài vẫn không chấp thuận phá thai, hôn nhân đồng phái và linh mục nữ. Có người lại cho rằng ngài là một người đi quá xa, nếu không gọi là cấp tiến, bởi vì ngài đã thay mặt Giáo Hội Công Giáo để xin lỗi mọi tầng lớp, mọi dân tộc, mọi tôn giáo...

Dù thế nào đi nữa, ai ai cũng phải công nhận rằng, với một triều đại có chiều dài thứ ba trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo (chỉ sau thánh Phêrô - 34 năm; và sau Đức Piô IX – 30 năm), Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là vị Giáo Hoàng và là một vị lãnh đạo tinh thần đã phá vỡ nhiều kỷ lục: Ngài là người phong thánh và chân phước nhiều nhất (482 thánh và 1338 chân phước); phong hồng y nhiều nhất (232 vị), di chuyển nhiều nhất (104 chuyến công du ngoài nước Ý, và 146 cuộc viếng thăm mục vụ trong nước), viết nhiều văn bản nhất (hơn 80.000 trang), gần gũi tiếp xúc nhiều nhất với mọi tầng lớp và đặc biệt là giới trẻ (ngài từng tiếp các nguyên thủ quốc gia 738 lần; nói chuyện với trên 18 triệu người khắp nơi trên thế giới).

Quá nhiều sự kiện và khía cạnh đều đã được nêu lên rồi. Tuy nhiên Maranatha không chăm chú vào một vĩ nhân của thế giới, mà nhìn Đức Gioan-Phaolô II là người cha của từng Kitô hữu, một người cha dạy cho con cái mình sống xứng đáng như những người con của Cha trên trời.

Vì thế, giữa bao nhiêu danh hiệu, Maranatha tập trung vào Đức Thánh Cha như là một ‘con người tâm linh’, để từ đó học hỏi nơi ngài thái độ sống trong tương quan với Thiên Chúa và với tha nhân. Ngài đã bước đi và đã dạy con cái mình đi trên con đường nên thánh. Và Maranatha cũng đã lặng yên trong hai tuần qua trong nỗi niềm của những người con chỉ còn biết lặng thinh khi đối diện với những nỗi buồn đau, mất mát người Cha Chung; trong sự chia sẻ hiệp thông với tâm tình trân trọng, nhớ thương ngài qua các thánh lễ, nghi thức cầu nguyện, tuởng nhớ vị Cha kính yêu đã lìa cõi thế, cùng khoác lên mình vành tang trắng của Giáo Hội toàn cầu và Giáo Hội Việt Nam.

Hướng về Đức Thánh Cha với những đau buồn thuơng tiếc nhưng trong bình an và tràn đầy hy vọng  vào Đức Kitô Phục Sinh, chúng ta dâng lên Chúa lời khẩn cầu tha thiết: Maranatha, Lạy Chúa, xin ngự đến!

 

MARANATHA

Trở về mục lục >>

TƯỞNG NHỚ ĐỨC THÁNH CHA GIOAN-PHAOLÔ II

Vinh danh Cha Chung khẢ kính khẢ ái

 

Lm. Stêphanô Bùi Thượng Lưu 

Buổi tối thứ bẩy, tôi cũng là một trong hàng tỉ người trên thế giới, qua hệ thống truyền hình, đã trực tiếp được đón nhận tin Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã an nghỉ trong Chúa và bước vào ngưỡng cửa Nhà Cha. Vào lúc 21g37, Đức Tổng Giám Mục Leonardo Sandri đã tuyên bố thật ngắn gọn và tràn đầy ý nghĩa “Đức Thánh Cha của chúng ta đã về nhà Cha" sau 26 năm, 5 tháng và 17 ngày làm mục tử toàn thể Giáo Hội. Hàng trăm ngàn người đang có mặt tại quảng trường Thánh Phêrô để canh thức cầu nguyện với Vị Cha Chung trong những giờ phút lâm chung, đã vỗ tay vang dội và ngay sau đó lại chìm đắm trong một bầu khí thinh lặng cầu nguyện thật thẳm sâu và an bình. Quả thực, đây là tràng pháo tay dành cho một vĩ nhân lớn nhất của Giáo Hội và của toàn thế giới, của thiên niên kỷ XX và XXI.

Tiếp sau đó, là hồi chuông báo tử từ Đền Thánh Phêrô vang vọng khắp thánh đô Roma. Nhiều nhà thờ trên thế giới, cũng đã kéo chuông báo tin cho các tín hữu và mời gọi họ hiệp thông trong đại tang của Giáo Hội hoàn vũ.

Suốt buổi chiều Chúa Nhật hôm qua, sau khi đã bận rộn hướng dẫn khóa chuẩn bị hôn nhân cho các bạn trẻ, tôi cũng dành thời gian để hiệp thông với toàn thể giáo hội qua các biến cố và hình ảnh trong ngày Chúa Nhật của Lòng Thương Xót Chúa, được trực tiếp truyền hình trên thế giới.

Chưa bao giờ tôi chứng kiến đông đảo quần chúng, thuộc đủ mọi dân tộc, mọi lứa tuổi, mọi tiếng nói, mọi mầu da… tự động quy tụ bên một người cha vừa từ trần đến như thế! Chưa bao giờ tôi chứng kiến và lắng nghe nhiều bản tin dồn dập, với biết bao nhiêu hình ảnh sống động, đầy những tư liệu về cuộc đời Giáo Hoàng của ngài, với biết bao những phát biểu đầy ý nghĩa và trào ra tự đáy lòng đến thế. Chưa bao giờ tôi thấy một cái chết của một nhân vật nào đánh động tâm hồn con người như vậy! Chưa bao giờ tôi thấy nhiều bạn trẻ nước mắt dàn dụa chân thành khóc thương đến thế! Chưa bao giờ tôi thấy một bầu khí thinh lặng, cung kính sâu thẳm như vậy! Quả thật là vĩ đại! Quả thật là khôn sánh ví! Quả thật là biến cố có một không hai trong lịch sử nhân loại.

Nhiều nước đã ra lệnh để tang trên toàn nước trong ba ngày và gửi thư chính thức phân ưu với Tòa Thánh: đặc biệt là các nước cộng sản như Trung Hoa, Cuba và các nước Hồi giáo như Ai Cập. Nhiều nhân vật nổi danh đạo đời đã lên tiếng để vinh danh sự nghiệp vĩ đại của Đức Thánh Cha, tôi không thể ghi lại hết ở đây được. Nhưng ít ra, cũng xin ghi lại một vài lời vinh danh tiêu biểu.

Đức Hồng Y Karl Lehmann, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức tán dương Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II là “Chứng Tá quả cảm của Tin Mừng, Vĩ Nhân của Lịch sử thế giới và mãi mãi là mẫu gương không phải chỉ cho người Công Giáo. Sự cương quyết của Ngài đã đạp đổ nhiều bức tường, trong đó có bức màn sắt.”

Đức Hồng Y Adrianus Simonis, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hòa Lan đã vinh danh Đức Thánh Cha là “đèn hải đăng trong cơn bão xoáy và đã không ngừng tranh đấu cho nhân quyền và nhân phẩm con người.”

Đức Đạt Lai Lạt Ma tôn vinh Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II là “Vị lãnh đạo tinh thần lớn lao nhất.”

Ông Mikhail Gorbachev vinh danh Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II là “Nhân vật nhân bản hàng đầu của trái địa đã giã biệt chúng ta. Ngài đã có thể thực hiện thật nhiều công việc không những nguyên cho người Công Giáo mà còn cho toàn thể nhân loại.”

Ông Vladimir Putin của Nga vinh danh Đức Giáo Hoàng như sau: “Đức Giáo Hoàng là một hình ảnh nổi bật trong thời đại chúng ta, tên tuổi Ngài gắn liền với cả một thời đại.”

Ông Kofi Annan, tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đã vinh danh Đức Giáo Hoàng là «luật sư không mệt mỏi của hòa bình.”

Tổng thống George W. Bush nhân danh Hoa Kỳ tôn vinh Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II là “Anh hùng tranh đấu cho nhân phẩm và Tự do: Giáo Hội Công Giáo đã mất đi vị mục tử của mình, thế giới đã mất đi một vị thủ lãnh của quyền tự do con người. Người tôi tớ tốt lành và trung tín ấy đã được Thiên Chúa gọi về nhà Cha.” Ông đặc biệt đề cao vai trò của Đức Giáo Hoàng trong cuộc chiến đấu chống lại chế độ cộng sản mở đường cho chế độ dân chủ trong các nước Đông Âu, nhất là tại Ba Lan, Quê Hương của Ngài.

Thủ tướng Canada, ông Paul Martin vinh danh Đức Thánh Cha là “Tông đồ của hòa bình.”         Nữ Hoàng vương quốc Anh cũng đã gửi điện thư chia buồn. Thủ tướng Anh Tony Blair đã vinh danh Đức Thánh Cha: “Tấm gương sáng lạn một đức tin chân thật và một tinh thần thẳm sâu. Thế giới vừa mất đi một nhà lãnh đạo quan trọng nhất của thiên niên kỷ.”

Tổng thống Pháp đã vinh danh Đức Giáo Hoàng là «Một vị Giáo Chủ ngoại hạng, không ngừng chỉ cho hết mọi người và hết mọi dân tộc con đường của hòa giải, của liên đới và của tự do.”

Thủ tướng Bỉ, ông Guy Verhofstadt đã vinh danh Đức Giáo Hoàng như sau: “ Dù mà một số lập trường của Ngài không được mọi người chấp nhận, nhưng không một ai có thể chối cãi rằng Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã ghi dấu ấn của Ngài vào hậu bán thế kỷ XX.”

Thủ tướng Thụy Điển, ông Goeran Persson, Tin lành, đã vinh danh Đức Giáo Hoàng như sau: “Đức Gioan-Phaolô II đã đóng vai chủ chốt trong các biến cố đảo lộn tại Đông Âu và Trung Âu, cuối thời chiến tranh lạnh.”

Thủ tướng Na Uy, ông Kjell Magne Bondevik, đã vinh danh Đức Giáo Hoàng: “Hòa Bình là trung tâm điểm trong sứ điệp của Đức Gioan-Phaolô, Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên bắt tay liên lạc các tín đồ Do Thái giáo, Hồi Giáo và với các tôn giáo khác.”

Thủ tướng Ariel Sharon của Do Thái vinh danh Đức Giáo Hoàng là“con người của hòa bình và người bạn của dân tộc Do Thái.”  Sylvan Shalom, bộ trưởng ngoại giao Israel đã lên tiếng như sau: «Hôm nay, Israel, dân tộc Do thái và toàn thế giới đã mất đi một nhà vô địch của hòa giải và tình huynh đệ giữa các tôn giáo.”

Mahmoud Abbas, chủ tịch Palestine vinh danh Đức Giáo Hoàng “một gương mặt tôn giáo nổi bật, một người tận hiến cuộc đời tranh đấu cho những giá trị của hòa bình, tự do và bình đẳng”….    Tổng thống Nigeria, Olusegun Obasanjo đã vinh danh Đức Giáo Hoàng “nhân vật đầy nhân đức và tình thương.”

Vua Mohammed VI của Ma rốc đã vinh danh Đức Giáo Hoàng là “nhân vật trổi vượt lan tỏa rộng rãi trên quốc tế. Ngài đã hiến trọn cuộc đời phục vụ cho những lý tưởng cao thượng nhất.”

Thủ tướng John Howard của Úc châu đã vinh danh Đức Thánh Cha trên đài truyền hình ABC: “Một trong những thành quả đáng kể nhất trong đời Ngài là việc đóng góp để thực hiện cuộc giải phóng Quê Hương Ba Lan của Ngài, chung cuộc đẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản.”

Ở Á Châu, Tân Hoa Xã của Trung Quốc đã loan báo điện văn của Hội Công Giáo Ái Quốc gửi tới Tòa Thánh Vatican như sau: “Rất đau buồn nhận được tin Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã qua đời theo tiếng Chúa gọi để muôn đời được an nghỉ trong Ngài. Quả thật là một mất mát lớn lao cho các hoạt động mục vụ và truyền giáo của Giáo Hội hoàn vũ.”

Khắp nơi từ Âu sang Á, từ Phi Châu đến Mỹ Châu sang tới Úc Châu, nhất là tại Ba Lan, quê hương của Ngài, hàng trăm ngàn người đã tự động tuốn về các thánh đường để tưởng nhớ và hiệp thông trông cầu nguyện. Chắc chắn không nhà báo nào có thể ghi ra hết tất cả các lời vinh danh được…

Riêng tôi, là một linh mục nhỏ bé, tôi cũng một hiệp tiếng vinh danh vị Cha Chung khả kính khả ái này. Tôi biết, khi tôi đặt bút viết những dòng này để vinh danh vị Cha Chung đã về Nhà Cha vào lúc 21g37 đêm thứ bẩy ngày 02.4.2005, tôi cảm thấy thật sự không biết bắt đầu từ đâu. Cuộc đời của Ngài quá lớn lao, bước chân của Ngài quá dài quá rộng, vòng tay của Ngài quá bao la, trái tim của Ngài như biển cả, tình Ngài vời vợi hơn Thái Sơn… Mặc dù vậy tôi cũng mạo muội ít hàng.

Tôi vui sướng và cảm tạ Chúa là Mục Tử đã ban cho Hội thánh Chúa một mục tử đúng theo lòng Chúa mong muốn: dấn thân cho đoàn chiên bằng cả cuộc đời của Ngài, cho đến hơi thở cuối cùng.

Tôi cảm động vì chứng tá phi thường và sống động của vị Cha Chung trong bao năm tháng dài bệnh tật, nhất là trong những tháng năm cuối đời. vị Cha Chung quả thực đã nên giống Chúa Kitô trên Thập Giá.

Tôi kính phục tâm hồn thanh thản bình an và hoàn toàn phó thác của Ngài trước giờ lâm chung, về nhà Cha, bước qua ngưỡng cửa trần gian vào ngưỡng cửa đời đời. Mặc dù biết mình đang lâm tử, Ngài vẫn còn dành hết giây phút còn lại cuối đời cho Giáo Hội và cho thế giới. Quả là một chứng tá tuyệt vời.

Tôi luôn ghi nhớ khẩu hiệu đầu đời mục tử toàn thể Giáo Hội của Ngài: “ Đừng Sợ, hãy mở rộng mọi cánh cửa cho Chúa Kitô.” Chính khẩu hiệu đó đã làm sụp đổ chế đổ cộng sản vô thần. Chính khẩu hiệu đó mời gọi Giáo Hội dấn thân vào mọi lãnh vực trần thế để làm men làm muối cho đời.

Tôi đã đọc một số trong số 14 Thông Điệp, 13 Tông Hiến, 11 Tông Hiến và 42 Tông Thư và 6 cuốn sách của Ngài viết, nhất là cuốn “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng.” Mỗi thứ Năm Tuần Thánh các linh mục trên thế giới cũng như tôi đều được Cha Chung gửi một lá thư riêng… Chớ gì toàn thể Giáo Hội, mỗi tín hữu, các linh mục tu sĩ và các vị đang giữ trọng trách mục tử dẫn dắt đoàn chiên Chúa trong các giáo phận… hãy để tâm học hỏi, đào sâu và đem ra thể hiện trong cuộc sống, trong hoạt động mục vụ.

Tôi đã theo dõi vết chân lữ hành của Vị Cha Chung khắp mọi nẻo đường trên thế giới: quả thực là những bước chân dài rộng, không hề mệt mỏi. Quả thực Ngài đã thực hành sứ vụ của Phêrô, người Anh Cả đến để nâng đỡ đức tin của anh em. Nhất là thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng cho mọi tạo vật.

Tôi thấy nơi Vị Cha chung một trái tim của Đấng Cứu Thế, yêu thương và bênh vực mọi bệnh nhân, ôm ấp các trẻ em, kính trọng những người già cả, luôn bênh vực và giúp đỡ những người cùng khốn. Nền văn minh tình thương mà Ngài gieo rắc trên thế giới đầy hận thù đang sinh hoa kết trái phong phú.

Tôi đã học bài học ái quốc chân chính của Cha Chung. Chính lòng ái quốc chân chính ấy đã thổi luồng sinh khí mới vào tâm hồn bao triệu người đồng hương, nhất là tuổi trẻ và công nhân Ba Lan, để họ cùng nắm tay nhau xây dựng một Quê Hương trong tự do và thanh bình, thoát ách cộng sản vô thần.

Tôi kính phục và tự nhủ lòng mình hãy noi gương tinh thần cương quyết dấn thân tranh đấu không mệt mỏi, không nhượng bộ cho nhân quyền, cho hòa bình, cho công bình xã hội… của Vị Cha Chung khả kính.

Tôi luôn kính phục Vị Cha Chung trong công cuộc đối thoại với các tôn giáo để cùng xây dựng cho hòa bình và đạo đức của thế giới sa đọa và vật chất hôm nay.

Tôi chia sẻ những nỗi khổ tâm của Vị Cha Chung trong những năm làm mục tử Hội Thánh: bao nhiêu thánh giá về bệnh tật, bao nhiêu những đau khổ tinh thần, bao nhiêu những lo âu cho hòa bình thế giới, biết bao những gánh nặng chồng chất trên vai, biết bao những chống đối, những phê bình chỉ trích, nhất là từ trong lòng Giáo Hội…

Tôi kính phục lòng tha thứ rộng lượng của Ngài đối với kẻ thù đã bắn Ngài bị trọng thương vào lúc 5g15 sau trưa ngày 13.05.1981: Ngài đã đến gặp Mehmet Ali Agca tại nhà tù vào ngày 27.12.1983, sau khi anh bị tòa án Ý kết án tù chung thân và đã tha thứ cho Anh. Quả thật là một trái tim phi thường, một hành động anh hùng và là gương sáng cho toàn thể Giáo Hội biết tha thứ trong cuộc sống, theo như lời Chúa dậy.

Tôi cũng hiệp thông với những gian lao vất vả của Cha Chung trong bao năm tháng dài vận động cho công cuộc hợp nhất Kitô giáo, nhất là với các giáo hội Chính Thống. Ngài luôn đi bước trước và luôn kính trọng, nhường nhịn, nhưng không nhượng bộ trong lãnh vực đức tin.

Tôi kính phục tiếng nói thẳng, nói thực của Vị Cha Chung, không hề bao giờ “mị dân” trong lãnh vực luân lý, bảo vệ sự sống con người, chống phá thai, chống đồng tính luyến ái… quyết tâm bảo vệ gia đình, nền tảng của xã hội, tế bào của Hội Thánh.

Tôi hằng kinh ngạc trước tâm hồn trẻ trung của Cha Chung khả kính khả ái, mặc dù tuổi già, mặc dù bệnh tật, mặc dù đau đớn, cứ mỗi lần họp mặt giới trẻ trong tất cả các Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, trong bất cứ một cuộc công du nào ở bất cứ đất nước nào, hàng trăm ngàn bạn trẻ háo hức, cuồng nhiệt… làm cho tâm hồn Cha chung cũng tươi trẻ thêm, hứng khởi lạ lùng. Chẳng lạ gì mà thế hệ trẻ Gioan-Phaolô II đang làm tươi trẻ Giáo hội. Giới trẻ đã tìm thấy nơi Ngài một người Anh Cả, một người hướng đạo, chỉ đường, một gương mẫu trung tín son sắt với Thiên Chúa, một trái tim tràn đầy yêu thương cho tha nhân.

Tôi nghiêng mình trước sự thánh thiện của Cha Chung. Cuộc đời của Ngài quả thực đầy tràn Thiên Chúa, nên không lạ gì Ngài trở thành đá nam châm thu hút mọi người, cuốn hút các bạn trẻ. Giữa biết bao nhiêu công vụ bận rộn của một vị Giáo Hoàng mỗi ngày, tôi thấy Vị Cha Chung không bao giờ bỏ cầu nguyện. Sáng sớm đã thức dậy nguyện ngắm. Các giờ kinh nguyện của linh mục chắc chắn không bao giờ bê trễ. Bằng chứng là những ngày nằm trên giường bệnh, Ngài vẫn đi đàng Thánh Giá, vẫn hiệp thông trong giờ kinh. Ngay cả một giờ trước khi qua đời, Ngài vẫn hiệp thông với cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô trong Thánh Lễ. Không lạ gì mà trong nhiều chứng từ của các bạn trẻ, ngay cả những người lương dân, vẫn gọi Ngài là một vị thánh. Chính Ngài đã đặt trên bàn thờ Giáo Hội 482 vị hiển thánh và 1338 vị chân phước, để nêu gương cho mọi thành phần Dân Chúa.

Tôi ngưỡng mộ tình thảo hiền của Vị Cha Chung đối với Đức Mẹ. Cuộc đời của Ngài từ khi chọn khẩu hiệu “Totus Tuus“ (tận hiến cho Mẹ) cho tới lúc tắt thở, quả thực “thảo kính” đối với Mẹ trên trời. Chắc chắn, không ngày nào Cha Chung bỏ lần hạt Mân Côi. Chắn chắn Mẹ trên trời cũng đã ra tay phù giúp cuộc đời của người con yêu dấu trong hơn 26 năm mục tử, và đã giơ tay dìu dắt Vị Cha Chung trong “giờ lâm tử.”

Tôi luôn ghi nhớ tình yêu thương và những lời nhắn nhủ đầy tình phụ tử đặc biệt của Vị Cha Chung đối với Quê Hương và Dân Tộc Việt Nam, cũng như Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam hải ngoại. Ai cũng biết rõ, Vị Cha chung hằng ao ước được đặt chân đến Việt Nam, nhưng tiếc rằng vì những lý do chính trị chưa thuận lợi, nhất là vì nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không chấp thuận vì lo sợ cơn lốc Ba Lan thổi đến Việt Nam, nên Vị Cha Chung đành ôm ước vọng này về thế giới bên kia. Nhưng tôi vẫn tin tưởng chắc chắn rằng: những tư tưởng cao đẹp của Vị Cha Chung về lòng ái quốc chân chính, về tự do đích thực, về công lý và hòa bình, về quyền tự do tôn giáo… đặc biệt trong những ngày này, ngay sau khi Vị Cha Chung nằm xuống, đang thổi vào lòng của Giáo Hội, đang thổi luồng sinh khí vào Cộng Đòan Công Giáo Việt Nam, đang thổi vào tâm trí thế hệ trẻ Việt Nam và hơn 80 triệu dân Việt Nam, để làm một cuộc cách mạng tình thương, một cuộc cách mạng tinh thần, một cuộc cách mạng tự do, một cuộc cách mạng đạo đức…bẻ tan ách gông cùm của bất cứ thế lực gian tà nào! Để mọi người cùng quyết tâm tranh đấu và quyết tâm xây dựng một xã hội công bằng, tự do và đạo đức trước tiên cho bản thân, cho gia đình, cho mỗi cộng đoàn, mỗi tổ chức và sau đó cho Giáo Hội, cho các tôn giáo và cho toàn Quê Hương yêu dấu

Trở về mục lục >>

ĐỨC THÁNH CHA GIOAN-PHAOLÔ II

VỊ TUẦN CANH TUYỆT VỜI

 

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Trong sứ điệp gởi cho giới trẻ nhân ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 17, có chủ đề được trích từ Tin Mừng thánh Mathêu ‘Anh em là muối đất’ Anh em là ánh sáng thế gian.’ (Mt 5, 13- 14), Đức thánh Cha Gioan Phaolô II, người vừa tạm biệt chúng ta để về Nhà Cha trên trời, đã âu yếm gọi các bạn trẻ là ‘NHỮNG TUẦN CANH’ cho đức tin trong ngàn năm mới. Đức Thánh Cha viết:

‘Với một niềm tin đổi mới, các con đã trở về nhà để thi hành sứ vụ mà Cha đã tín thác nơi các con là trở nên, trong buổi rạng đông của ngàn năm mới, những chứng nhân không chút sợ hãi của Tin Mừng.’ (số 1).

- ‘Các con có nhiệm vụ trở thành những TUẦN CANH của rạng đông, những người thông báo sự ló dạng của mặt trời là Đức Kitô Phục Sinh.’ (số 3).

Tuy nhiên, nhìn vào triều đại giáo hoàng của Vị Cha Già Kính yêu lỗi lạc, thời danh và thánh thiện của Giáo Hội vào giai đoạn cuối của thiên niên kỷ II đầu thiên niên kỷ III, chúng ta lại nhận ra, trước khi gọi giới trẻ là ‘tuần canh,’ chính Đức Thánh Cha đã là một tuần canh tuyệt vời của đức tin.

Trước hết là đời sống cầu nguyện của Đức Thánh Cha. Người cầu nguyện rất nhiều, cầu nguyện mỗi ngày và cầu nguyện lâu giờ. Chính trong đời sống cầu nguyện, Đức Thánh Cha cho thấy Người là một chiến sĩ đang đứng về phía Chúa Kitô, một chiến sĩ của đức tin, kiên trung làm nhiệm vụ bảo vệ đức tin.

Chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, người chiến sĩ anh dũng, vị tuần canh tuyệt vời của đức tin, trong giai đoạn đầy khó khăn của thời gian cuối thiên niên kỷ đã qua, đầu thiên niên kỷ mới này, vẫn kiên vững một cách lạ thường, ngày đêm miệt mài, chấp nhận đối đầu với không biết bao nhiêu thử thách, cả đến việc hy sinh mạng sống, miễn sao Chúa Kitô được rao giảng, Giáo Hội được bình an, đức tin của đoàn con đông đảo khắp nơi trong Giáo Hội được gìn giữ và tỏa sáng cho cả thế giới.

Gần 100 chuyến tông du ra khỏi Rôma, Đức Thánh Cha đã mang tình yêu của Chúa Kitô đến với mọi tầng lớp, mọi thành phần, mọi ngõ ngách của nhân loại này.

Đức Thánh Cha còn là một chiến sĩ bảo vệ đức tin ngoan cường khi Người nhảy vào trận chiến không mệt mỏi với mọi hình thức, mọi chủ trương chống lại Thiên Chúa, để bênh vực đức tin đến cùng, dẫu bị nhiều người thù ghét, nhiều thế lực chống đối, cả đến giết hại...

Nhất là về mặt luân lý, bằng nhiều văn kiện, Đức Thánh Cha chống lại sự sa đọa, lối sống hưởng thụ của nhiều người làm cho đạo đức xã hội xuống dốc.

Đặc biệt, Đức Thánh Cha vẫn một mực gìn giữ kỷ cương của Giáo Hội, chống lại não trạng tự do thái quá của con người, chống các kỹ nghệ tình dục, chống sự sống buông thả đến mức thác loạn của giới trẻ. Giữa một thế giới đang coi thường mạng sống con người, chỉ nhắm đến quyền lực và quyền lợi riêng tư, đồng thời sống tự do đến mức giết chết giá trị làm người, Đức Thánh Cha cật lực lên án nạn phá thai, ngừa thai, vì đó mà điều răn thứ Năm và thứ Sáu bị xúc phạm nặng nề. Người đòi phải tôn trọng mạng con người đến cùng, ngay từ những giây phút đâu tiên bắt đầu làm người đến khi nhắm mắt xuôi tay.

Và đặc biệt hơn nữa, vào hai mùa Chay liên tục, Người đã có hai sứ điệp lên tiếng bênh vực quyền lợi của hai hạn người bị coi là yếu đuối, là phương tiện hưởng thụ của một số người, là phế nhân, thừa thải, ăm bám của xã hội. Đó là sứ điệp mùa Chay 2004, Đức Thánh Cha bênh vực quyền của trẻ con. Người chống lại mọi hình thức lạm dụng trẻ vị thành niên. Rồi đến mùa Chay 2005, Đức Thánh Cha viết sứ điệp để bênh vực quyền lợi của người cao tuổi. Với sứ điệp này, Người khẳng định: người già tuy tàn nhưng không phế. Dù sức có tàn, lực có kiệt, họ vẫn là những lớp người cần thiết trong rất nhiều phương diện, nhất là phương diện cầu nguyện, dâng hy sinh của tuổi già, nhằm mang lại ơn cứu độ cho thế giới. Họ phải được tôn trọng đến cùng. Họ phải được bảo vệ và gìn giữ cho đến khi ra đi khỏi cuộc đời này bằng một cái chết tự nhiên…

Nói những lời trên đây, chưa thể bao hàm hết những gì Vị Cha Chung khả kính và khả ái của Giáo Hội đã sống và đã làm được. Đấy chỉ là một chút suy tư  thật bất chợt vừa khi hay tin Người qua đời mà thôi.

Chắc chắn, giờ đây trước tòa Chúa, Vị Chủ Chăn nhân từ mang hình ảnh của Vị Chủ Chăn Giêsu sẽ tiếp tục chăn dắt Giáo Hội bằng lời cầu nguyện, bằng sự chuyển cầu lên Thiên Chúa Toàn năng để Giáo Hội được bình an, để Giáo Hội mãi mãi là Giáo Hội của Chủ Chăn Giêsu. Chắc chắn, Người cũng sẽ cầu nguyện để trong những ngày tới đây, Giáo Hội sẽ có một vị Tân Giáo hoàng vừa thánh thiện, vừa khôn ngoan như chính tấm gương của Vị Cha Già Gioan Phaolô II để lại.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II là một chiến sĩ đức tin như thế, do đó hơn ai hết Người đã là, đang là và sẽ còn là Tuần Canh bảo vệ đức tin tinh tuyền của Giáo Hội trong Nhà Cha Chung trên trời.

Xin cám ơn Đức Thánh Cha đã dày công lãnh đạo Giáo Hội, đã cố gắng hết sức gìn giữ đức tin của Giáo Hội trong hơn 26 năm qua. Xin cám ơn Đức Thánh Cha, Người là Tuần Canh tuyệt vời của Giáo Hội.

Một lần nữa, chúng ta cùng hô to rằng: ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHALÔ II, TUẦN CANH TUYỆT VỜI CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO. ALLÊLUIA. ALLÊLUIA

Trở về mục lục >>

HÃY THEO THẦY...

 

Trần Duy Nhiên

Từ cửa Thiên Đàng, Đức Gioan Phaolô II tiếp tục ban phép lành cho dân chúng: đấy là hình ảnh Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, chủ tế thánh lễ, đã để lại trong lòng những người qui tụ trên quảng trường Thánh Phêrô để dự thánh lễ an táng người bạn của Ngài là Đức Gioan Phaolô II. Ngài đã nhiều lần tỏ ra xúc động. Mười ba lần những tiếng vỗ tay hoan hô đã ngắt khoảng bài giảng của Ngài. Đức Hồng Y trình bày: “Đức thánh Cha đã giải thích cho chúng ta thấy rằng Mầu Nhiệm Phục Sinh là Mầu Nhiệm của lòng thương xót Thiên Chúa.”

Trước bàn thờ là một chiếc quan tài bằng gỗ sồi đơn sơ, không chạm trổ, không kiểu cách: chỉ khắc một cây thánh giá và chữ “M” tượng trưng cho Maria đứng nép mình dưới thánh giá. Chung quanh quan tài không có lấy một bó hoa, không đèn nến: chỉ có một cây nến Phục Sinh, thế thôi. Và đấy là nơi gửi gắm hình hài của con người vĩ đại nhất thế kỷ.

Cuối bài giảng, Đức Hồng Y Ratzinger nói: “Tất cả chúng ta không thể nào quên được hình ảnh Đức Thánh Cha (tiếng vỗ tay), vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh cuối cùng của cuộc đời ngài, trong hình hài đau đớn, ngài đã xuất hiện một lần nữa ở cửa sổ dinh tông tòa và ban phép lành Urbi et Orbi lần cuối cùng. Chúng ta có thể chắc chắn rằng vị Cha chung yêu dấu của chúng ta (vỗ tay) hiện đang ở cửa sổ nhà Chúa Cha, vẫn nhìn và ban phép lành cho chúng ta (vỗ tay). Vâng, kính thưa Đức Thánh Cha, xin ban phép lành cho chúng con. Chúng con phó dân linh hồn Cha cho Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của Cha, Đấng đã từng dẫn dắt cha hằng ngày và giờ đây sẽ đưa Cha đến vinh quang đời đời của Con Mẹ, Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Amen.” (vỗ tay).

Đức Hồng Y đã quảng diễn cuộc gặp gỡ giữa Chúa Kitô Phục Sinh và thánh Phêrô trong Phúc Âm thánh Gioan và ba lời Chúa mời gọi Karol Wojtyla làm linh mục, làm giám mục, làm giáo hoàng.

“Chúa Kitô Phục Sinh nói với Phêrô ‘Hãy theo Thầy.’ Đấy là lời cuối cùng mà Ngài nói với vị môn đệ này, người mà Ngài chọn để chăn dắt chiên Ngài. ‘Hãy theo Thầy.’ Lời nói nền tảng này của Chúa Kitô có thể xem là chìa khóa để hiểu được sứ điệp toát ra từ cuộc đời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II kính yêu của chúng ta, mà hôm nay chúng ta đặt hình hài ngài vào lòng đất như hạt giống cho đời sống vĩnh cửu; với cõi lòng tràn ngập buồn đau, nhưng đồng thời với một niềm hy vọng vui tươi và lòng biết ơn sâu sắc.”

Tiếng vỗ tay reo hò vang dậy khắp quảng trường khi Đức Hồng Y chào mừng ‘đặc biệt giới trẻ , mà Đức Gioan Phaolô II thường xem là tương lai và hy vọng của Giáo Hội’.

Ngài nhắc lại lời kêu gọi đầu tiên Chúa gửi đến Karol Wojtyla: “Hãy theo Thầy. Từ ngày còn là sinh viên, Karol Wojtyla từng say mê văn chương, kịch nghệ, thi ca. Khi làm việc trong một xưởng hóa chất, trong bầu không khí đe dọa và khủng bố của Quốc Xã, ngài đã nghe tiếng gọi của Chúa: Hãy theo Thầy! Trong hoàn cảnh thật đặc biệt này, ngài bắt đầu đọc các sách triết học và thần học, sau đó nhập vào chủng viện chui do Đức Hồng Y Sapieha lập, để rồi sau chiến tranh, ngài hoàn tất học trình của mình tại phân khoa thần học thuộc đại học Jagellon ở Krakow. Trong các thư tín gửi linh mục và trong các sách hồi ký, ngài thường nhắc đến ơn gọi linh mục, mà ngài lãnh nhận ngày 1 tháng 11 năm 1946.”

Tiếp theo là lời kêu gọi thứ hai. Đức Hồng Y Ratzinger tóm lược như sau: “Hãy theo Thầy! Tháng 07 năm 1958 mở đầu một chặng cho Karol Wojtyla trên con đường cùng đi với Chúa cùng đi theo Chúa. Theo thông lệ, vị linh mục trẻ vẫn đi cắm trại với một nhóm thanh niên say mê chèo xuồng trên hồ Masuri. Trong khi đó, ngài mang trong mình bức thư mời trình diện với giám sĩ Ba Lan, Đức Hồng Y Wyszinski, và ngài đã đoán được lý do của buổi gặp gỡ này: ngài được phong giám mục phó giáo phận Krakow. Bỏ lại đàng sau chiếc ghế giáo sư, để lại sự hiệp thông phấn khởi với giới trẻ, để lại cuộc chiến đấu trí thức để tìm hiểu và diễn giảng mầu nhiệm con người, để trình bày cho thế giới hôm nay chân tính Kitô giáo – tất cả những điều này có vẻ như đòi hỏi ngài phải đánh mất bản thân mình, đánh mất cái căn tính tự nhiên của vị linh mục trẻ này.”

Đức Hồng Y gợi lại cuộc đời hoàn toàn dấn thân này: “Hãy theo Thầy! Karol Wojtyla đã vâng theo, khi nghe tiếng gọi của Chúa Kitô qua lời mời của Giáo Hội. Và về sau, ngài hiểu rằng lời sau đây của Chúa đúng đến mức độ nào: “Ai tìm kiếm sự sống mình sẽ đánh mất nó, và ai đánh mất mạng sống thì sẽ giữ vững được”. Đức Giáo Hoàng của chúng ta – tất  cả chúng ta đều biết – chưa bao giờ muốn khư khư bảo vệ mạng sống của mình, giữ riêng cho mình; ngài muốn tận hiến không giới hạn, cho đến giây phút cuối cùng, tận hiến cho Chúa Kitô và qua đó cũng tận hiến cho chúng ta!”

Sau đó ngày nhắc lại ngày được bầu làm Giáo Hoàng: “Hãy theo Thầy! Tháng 10 năm 1978, hồng y Wojtyla lại nghe tiếng gọi của Chúa. Thế là cuộc đối thoại với thánh Phêrô được lặp lại trong bài Phúc Âm của thánh lễ thụ phong: ‘Simôn, con Gioana, anh yêu mến Thầy không? Hãy chăn dắt chiên Thầy!’. Khi Chúa hỏi: ‘Karol, anh có yêu mến Thầy không?’ vị tổng giám mục Krakow trả lời từ nơi sâu thẳm của lòng mình: ‘Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự: Chúa biết rằng con yêu mến Chúa!’. Tình yêu đối với Chúa Kitô chính là sức mạnh nền tảng của Đức Thánh Cha yêu quí của chúng ta; những ai từng thấy ngài cầu nguyện, những ai từng nghe ngài rao giảng, điều biết rõ điều đó. Như vậy, nhờ cắm rễ sâu xa vào Chúa Kitô mà ngài đã đủ sức gánh vác một trách vụ vượt quá sức của một con người: làm mục tử cho đàn chiên Chúa, cho Giáo Hội hoàn vũ.”…

“Hãy theo Thầy! Khi trao phó cho Phêrô trách vụ chăm sóc đàn chiên, thì đồng thời Ngài cũng loan báo cho ông con đường tử đạo.... Trong giai đoạn đầu triều đại giáo hoàng, Đức Thánh Cha, lúc bấy giờ còn trẻ và đầy sức sống, đã theo sự hướng dẫn của Chúa Kitô mà đi đến tận cùng trái đất. Nhưng càng ngày, ngài càng hiệp thông mật thiết hơn với cuộc khổ nạn của Chúa; càng ngày ngài càng hiểu rõ hơn chân lý của những lời sau: ‘một ai khác sẽ thắt lưng cho anh...’ Quả thật, trong sự hiệp thông cùng với Chúa Kitô đau khổ, ngài đã không mệt mỏi loan báo Tin Mừng, một mầu nhiệm Tình Yêu cho đi đến cùng.”

Đức Giáo Hoàng đã ra đi vào những giờ kinh đầu tiên của ngày chúa nhật của Lòng Thương Xót. Đức Hồng Y Ratzinger đã nhắc lại đường hướng của trọn triều đại giáo hoàng của Đức Gioan-Phaolô II: ấy là một thời gian tôi luyện tình yêu: “Đức Thánh Cha đã giải thích cho chúng ta thấy rằng: Mầu Nhiệm Phục Sinh là Mầu Nhiệm của Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Ngài viết trong tác phẩm cuối cùng của mình rằng giới hạn của sự dự dữ chính là lòng Thương Xót của Thiên Chúa.”

Nhắc lại cuộc ám sát ngài, Đức Hồng Y khẳng định: “Khi chịu đau khổ vì chúng ta, Chúa Kitô đã gán một ý nghĩa mới cho đau khổ, Ngài đã đưa vào đó một chiều kích mới, một giá trị mới: đó là chiều kích của Tình Yêu... Chính sự đau khổ đã đốt sự dữ cháy ra tro bằng ngọn lữa tình yêu và qua đó rút ra từ tội lỗi những đóa hoa lành thánh và đa dạng.... Theo chiều hướng này, Đức Thánh Cha đã hiệp thông đau khổ với Chúa Kitô và vì thế sự điệp về sự đau khổ và sự im lặng của ngài trở nên hùng biện và phong phú đến như thế!”

Đức Hồng Y không thể nào không nhắc đến Mẹ Thiên Chúa: “Lòng Thương Xót của Thiên Chúa: Đức Thánh Cha đã nhìn được phản ảnh của lòng Thương Xót ấy nơi Mẹ Thiên Chúa. Vì mồ côi mẹ từ lúc thiếu thời, nên Ngài đã yêu mến Mẹ Thiên Chúa tha thiết hơn nữa. Ngài nghe rõ mồn một lời Chúa Kitô chịu đóng đinh như gửi cho riêng Ngài: ‘Này là Mẹ anh!’. Và giồng như Người Môn Đệ Chúa Yêu, Ngài đã đón lấy Mẹ nơi sâu thẳm của lòng mình: Totus tuus. Và từ người Mẹ ấy, Ngài đã học cách tuân phục thánh ý Chúa Kitô.”

Bài giảng của Đức Hồng Y Joseph Ratzinger trong thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã được đón nhận bằng nhiều tràng vỗ tay hoan hô thật dài: đấy là lời cảm tạ của dân chúng đối với một bài tưởng niệm sâu sắc, đầy xúc động, đồng cảm với mọi người, cũng như đối với vị Cha chung mà Đức Hồng Y đang tuyên dương trước mặt con cái

Trở về mục lục >>

š¶›

LỜI CẦU NGUYỆN ĐẦU TIÊN của ĐỨc Gioan-Phaolô II

Của Triều Đại Giáo Hoàng

 

 “Lạy Chúa Kitô, xin làm cho con trở nên và luôn mãi là người tôi tớ cho quyền năng duy nhất của Chúa, người tôi tớ cho quyền năng ngọt ngào của Ngài, người tôi tớ của quyền năng Ngài, một quyền năng không bao giờ suy suyển. Xin biến con thành người tôi tớ. Và đích thật là người tôi tớ của mọi tôi tớ Chúa.”

(L’Osservatore Romano 11-2-78)

SỨ điỆp cuỐi cùng  của ĐỨc Gioan-Phaolô II

Chuẩn bị cho giờ Regina Coeli

Chúa Nhật thứ II Mùa Phục Sinh – Kính Lòng Thương Xót của Thiên Chúa

Vatican, Chúa Nhật 03 tháng 04 năm 2005
Từ: Tòa Thánh

            Anh chị em rất thân mến,

Hôm nay vẫn còn âm vang tiếng Allêluia vui tươi của ngày Phục Sinh. Bài Phúc Âm thánh Gioan hôm nay nhấn mạnh rằng Đấng Phục Sinh, chiều hôm ấy, hiện ra với các tông đồ và cho họ xem “đôi tay và cạnh sườn,” nghĩa là những dấu vết đớn đau của ngày thương khó, mà từ nay sẽ mãi mãi không phai mờ trên hình hài Ngài, ngay cả sau ngày Phục Sinh.

Những vết thương vinh quang ấy, mà Chúa đã cho thánh Tôma đa nghi kia chạm đến, biểu lộ lòng nhân từ của Thiên Chúa, Đấng  “yêu thương thế gian đến nỗi ban Con Một Người.”

Mầu Nhiệm Tình Yêu này là trung tâm của phụng vụ hôm nay, ngày Chúa Nhật ‘in albis’ (áo trắng), được dâng lên để chúc tụng Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.

Với nhân loại, đôi khi có vẻ lạc hướng và bị đè bẹp bởi quyền năng sự dữ, tính ích kỷ và nỗi sợ hãi. Chúa Kitô Phục Sinh ban tặng Tình Yêu của Ngài, một Tình Yêu thứ tha, hòa giải và mở lòng để đón nhận niềm hy vọng. Chính Tình Yêu sẽ hoán cải con tim và đem lại bình an. Thế gian rất cần thông hiểu và đón nhận Lòng Thương Xót của Thiên Chúa!

Lạy Chúa Kitô, Đấng đã dùng cái chết và sự sống lại để biểu lộ tình yêu của Chúa Cha, chúng con tin tưởng nơi Chúa, và với lòng cậy trông, chúng con xin lặp lại hôm nay: Lạy Chúa Giêsu, con tin tưởng nơi Chúa, xin ban cho chúng con và cho thế giới lòng Thương Xót của Chúa. 

Phụng Vụ trọng thể của lễ Truyền Tin, mà chúng ta mừng ngày mai đây, thôi thúc chúng ta chiêm ngắm, với cặp mắt của Mẹ Maria, Mầu Nhiệm vĩ đại của Tình Yêu đầy xót thương xuất phát từ trái tim Chúa Kitô. Với sự trợ lực của Ngài, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa đích thực của niềm vui Phục Sinh, một niềm vui đặt nền tảng trên niềm xác tín này: Đấng mà Đức Mẹ đã cưu mang trong lòng, đã chịu đau khổ và chết vì chúng ta, Đấng ấy đã sống lại thật. Allêluia!

 

Trở về mục lục >>

ĐỨC GIOAN-PHAOLÔ I - VỊ GIÁO HOÀNG MỞ ĐƯỜNG

Maranatha 

LTS:  Triều đại Giáo Hoàng của Đức Gioan Phaolô II vang lừng bao nhiêu thì triều đại của Đức Gioan Phaolô I lại im lìm bấy nhiêu. Đức Gioan Phaolô II giữ chức vụ mình trong hơn một phần tư thế kỷ và để lại cho Giáo Hội và cho Thế Giới những những dấu ấn không thể nào nhạt phai với thời gian, trong khi đó Đức Gioan Phaolô I chỉ giữ chức vụ vỏn vẹn hơn một tháng, và âm thầm ra đi khi chưa kịp để lại một điều gì cho hậu thế. Tuy nhiên, trong thời gian rất ngắn đó, ngài là làm bệ phóng cho người kế vị của mình ‘thay đổi bộ mặt thế giới’ vào cuối thiên niên kỷ thứ hai.

            Làm Giáo Hoàng trong vòng 33 ngày, Đức Gioan Phaolô I không nói một lời nào về việc xét lại lịch sử và cơ chế Giáo hội, nhưng Ngài đã làm một hành động rất có giá trị: ngài từ chối ngọc miện, thay đổi lễ đăng quang bằng một lễ cử hành ngày khởi đầu làm Giáo Hoàng.

            Có một người được Đức Gioan Phaolô I ký thác những chương trình của ngài (người này được ký thác một cách gián tiếp, nhưng đó là người duy nhất mà hiện nay ta có thể tiếp cận); đấy là một phóng viên và văn sĩ ở Venise, ông Camillo Bassotto, cựu trưởng phòng báo chí của la Biennale tại Venise, và đặc biệt là của “la Mostra”, liên hoan quốc tế về nghệ thuật điện ảnh. Ông đã viết một tác phẩm về chân dung của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô I, tựa là Il mio cuore è ancora a Venezia - Con tim tôi còn ở lại Venise. Tác phẩm này chứa đựng hai phần dài liên quan đến những dự án trong thời làm giáo hoàng, dựa trên những chứng từ của hai người đối thoại trực tiếp với giáo hoàng, mà một người thì đã qua đời và người kia thì ẩn danh.

            Người thứ nhất là cha Germano Pattaro, linh mục và thần học gia ở Venise, tác giả của cuộc đối thoại về đại kết; từ trần vì bệnh ung thư vào tháng 9-1986. Ông Bassotto khẳng định rằng mình đã nhận được nơi cha Pattaro một bản tường trình bằng miệng rất chi tiết về các cuộc nói chuyện của Đức Giáo Hoàng với cha cùng với những ghi chú viết tay ngắn gọn hơn. Người thứ hai (ẩn danh)  đã kể lại những lời tâm tình mà mình đã trực tiếp nghe Đức Gioan Phaolô I nói và những lời này có chừng mực hơn, ít ra trong cung điệu, dù cho tinh thần vẫn là một.

CHIA RẼ GIỮA CÁC GIÁO HỘI. “Chúng ta cần phải xem xét lại một cách sâu xa thái độ và đường lối mà chúng ta đã áp dụng qua bao nhiêu thế kỷ đối với những anh em trong các Giáo hội Kitô giáo. Lẽ ra chúng ta phải tìm kiếm từ lâu rồi, tìm kiếm một cách kiên trì và bác ái hơn, một cách sáng suốt, tin tưởng và khiêm nhường , con đường hiệp nhất, mà không bỏ sót gì cả về tinh thần, nguồn gốc và di sản của đức tin chúng ta. Chúa Giêsu đã nói: “Cứ dấu này mà người ta nhận biết anh em là môn đệ thầy, là anh em thương yêu nhau như thầy yêu thương anh em.” Chúng ta đã không yêu thương nhau trong nhiều thế kỷ, chúng ta đã không muốn biết đến nhau và đấu tranh với nhau. Mọi Giáo hội, kể cả Giáo hội của chúng ta, đều đã phạm tội đối với tình yêu và giới răn của Chúa Kitô... Tôi biết rằng sự chia rẽ giữa các Kitô hữu là một tội và sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu là một ân huệ của Thiên Chúa. Chúng ta không thể nói đến một đại kết đích thực ngày nào chúng ta chưa thống hối, chưa hoán cải. Chúng ta đã phạm tội. Mỗi hành vi đại kết phải là một hành vi “hoà giải” mà ta phải sống trong ăn năn và khiêm nhường. Bao lâu chúng ta còn ở thế gian, bấy lâu chúng ta còn là kẻ tội lỗi. Giáo hội “không tì vết, tinh tuyền và không chê trách được” (Ep 5,27) là Giáo hội của lời hứa, mà Đức Kitô sẽ chỉ cho hoàn tất một cách trọn vẹn ngày phán xét mà thôi, chứ không hoàn tất trước đâu” (tr 135,144 và 233)

DO THÁI “Nếu Thiên Chúa cho tôi sống, nếu ngài ban cho tôi sức mạnh, ánh sáng đúng đắn và sự ủng hộ đúng đắn, tôi có ý định triệu tập một phái đoàn giám mục thế giới để thực thi một hành động sám hối, khiêm nhường, đền tạ, bình an và yêu thương của Giáo hội phổ quát. Điều ấy cần được giáo hoàng và các giám mục Giáo hội địa phương lặp lại hàng năm, vào ngày thứ sáu tuần thánh. Chúng ta, những Kitô hữu, chúng ta đã phạm tội đối với người Do thái, những anh em chúng ta trong Thiên Chúa và trong Abraham: chúng ta đã không muốn biết đến họ và vu cáo họ trong nhiều thế kỷ... Nhân danh Chúa Giêsu, chúng ta cần phải làm hòa một cách vĩnh viễn với người Do thái. Cuộc đối thoại giữa người Do thái và Kitô hữu đã đi được nhiều bước. Còn biết bao bóng tối đã chất chồng qua nhiều thế kỷ. Cần phải có sự trong suốt trong ý hướng, sự minh bạch trong tư tưởng, sự khiêm nhường và thiện chí tiếp tục. Phải cần đến các trại tập trung Quốc xã mới đánh thức được lương tâm nhân loại và lương tâm Kitô hữu đối với người Do thái. Lễ Toàn Thiêu cũng là một nghi lễ tôn giáo. Người Do thái đã chết vì đạo của họ. Suy nghĩ và thái độ của Giáo hội đối với người Do thái đã thay đổi sâu xa. Chúng ta cần phải soi sáng cho Kitô hữu và  khuyến khích các linh mục và giám mục nói lên rõ ràng và công khai. Chúng ta, những Kitô hữu, chúng ta còn có nhiều điều phải học hỏi nơi lịch sử của dân Do thái. Chúng ta phải xóa bỏ khỏi ngày thứ sáu tuần thánh cái tư tưởng chống lại người Do thái, một tư tưởng đã kéo dài hai ngàn năm. Đức giáo hoàng Gioan đã khởi sự, nhưng giờ đây phải đi xa hơn nữa. Chúng ta chớ quên rằng những tiếng đó, “thứ sáu tuần thánh”, vẫn còn vang đội trong tâm tư của những người Do thái cao niên, tản mát trên khắp thế gian, như một kỷ niệm buồn, đôi khi bi thảm, vì những khốn khổ giáng xuống cộng đoàn họ từ trước tới nay. Ngày ấy phải là một ngày hòa bình và huynh đệ, ngày thống hối và thinh lặng để mọi người được nhận ra lòng nhân hậu vô biên của Thiên Chúa” (tr 134-135)

NGƯỜI DA ĐỎ VÀ DA ĐEN “Tôi sẽ nói lên một trong các điều tôi xác tín, điều này đã chín mùi ngay những lần đầu tiên tôi du hành đến Châu Phi và Châu Mỹ La tinh. Chúng ta, những Kitô hữu, vào một giai đoạn lịch sử nào đó, chúng ta đã tỏ ra khoan nhượng trước những sự tàn sát người Da Đỏ Châu Mỹ, trước việc kỳ thị chủng tộc và việc lưu đày của các dân tộc Châu Phi. Người ta bảo rằng có năm mươi triệu người Da Đen đã bị cưỡng ép đem đi từ Châu Phi sang Châu Mỹ để làm nô lệ. Tuy nhiên, vào lúc ấy có những con người can đảm đã tố cáo hành động ấy là vô luân và có tội. Tôi biết được một người, một linh Mục Đa minh tên là Las Casas, một tiên tri mà không ai lắng nghe và đã bị bách hại. Các cộng đoàn Kitô giáo thời ấy không nghe được lời cha tố cáo việc diệt chủng dân tộc này, và các cộng đoàn ấy không hề làm một cử chỉ nào để bênh vực họ. Cùng với vua David, chúng ta sẽ nói với Chúa: “Con đã trình với Chúa tội lỗi con, và con đã không giấu giếm sự bất công của con nữa. Con nói: Tôi sẽ trình lên với Chúa và sẽ xưng ra sự bất công của tôi, và Chúa đã tha ngay cho tội lỗi con” (Tv 31,5-6). Xưng ra những lỗi lầm lịch sử của Giáo hội, đấy là một dấu chỉ của sự khiêm nhường và chân lý, một dấu chỉ của hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn. Từ hai ngàn năm qua, biện pháp duy nhất đối với người tội lỗi là tình yêu, là Phúc âm của Đức Kitô Chúa chúng ta. Người ta bảo rằng: không thể xét xử những biến cố thời ấy với cảm xúc ngày nay. Đây không phải là vấn đề cảm xúc, đây là một vấn đề chân lý. Giáo hội là lương tâm biết phê phán của thời nay cũng như của thời xưa. Giáo hội phải tìm lại sức mạnh tiên tri của mình. Nói lên tiếng không và tiếng có của mình trong tinh thần Phúc âm, dưới ánh sáng mặt trời, trước mặt thế gian.”

TÒA ÁN DỊ GIÁO“Khi cáo mình là tội lỗi trong con người và trong cơ chế của mình, Giáo hội khiêm nhường xót xa về những giai đoạn khó khăn trong lịch sử, như giai đoạn thảm thương của các Toà án dị giáo và thời kỳ thảm thương mà các giáo hoàng nắm lấy quyền lực thế gian. Chúng ta không nên e ngại xưng tội mình ra... Tôi mong rằng Bộ Giáo Lý Đức Tin xóa đi cái hương thơm của Toà án dị giáo đang còn gắn liền với Bộ ấy... Toà án dị giáo đã để lại những vết tử thương chưa được chữa lành. Bác ái là mẹ của công lý và sự thật” (tr 135 và 239).

NHỮNG VỊ TỬ ĐẠO PHƯƠNG ĐÔNG ”Với tư các là mục tử của Giáo hội phổ quát, tôi muốn nhắc lại và tôn vinh các giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân ở nước Nga Xô Viết, ở các nước Đông Âu, ở vùng Baltique và ở các nước khác đã sống trong các hang toại đạo và đã chịu đau khổ vì Chúa Giêsu Kitô...  Chúng ta đã quên đi quá nhanh những chứng nhân Chúa Kitô này, những người đã ghi nỗi đau khổ của mình vào danh sách tử đạo Kitô giáo. Tôi cưu mang dự án này trong một tinh thần hoàn toàn tôn giáo. Tôi vẫn biết rằng điều này có nguy cơ đánh thức những “suy nghĩ” đã được chôn vùi, nhưng chúng ta không thể im lặng. Xử sự quá khôn khéo đôi khi lại đi đến một hình thức thủ đoạn mà thôi, và đó không phải là tinh thần của Giáo hội” (tr 244-245) 

LỊCH SỬ CƠ CHẾ GIÁO HOÀNG “Trong các cuộc hành trình, Tôi mong rằng mọi sự xảy ra một cách giản dị và bác ái. Chúa Giêsu Kitô, thánh Phêrô, thánh Phaolô và thánh Gioan không phải là các vị thủ lãnh quốc gia. Tôi biết và tôi hiểu mọi lý do lịch sử, truyền thống và cơ hội có thể nâng cao uy thế của Giáo hội và của giáo hoàng và điều ấy có thể giúp ích cho con người nơi nào có Kitô hữu đang sống và hành động. Nhưng làm sao có thể thình lình thay da đổi thịt để mặc lấy một y phục quá khác như thế, để mang lấy một tước hiệu và nắm lấy một quyền bính hoàn toàn xa lạ từ bản chất đối với sứ mạng của giám mục và linh mục, như là tước hiệu “ông hoàng” của quốc gia Vatican? Tôi thừa biết rằng không phải tôi là người sẽ có thể thay đổi những qui tắc được pháp điển hóa hàng nhiều thế kỷ, nhưng Giáo hội không được cầm quyền và sở hữu nhiều của cải...  Tôi không muốn có những người hộ tống và những quân lính. Và tôi cũng không muốn thấy những lính gác quỳ gối khi tôi đi qua, và cũng không muốn ai phải làm như thế” (tr 127).

CÁC TƯỚC HIỆU CỦA GIÁO HOÀNG “Những ngày qua, tôi đã hiếu kỳ đọc lại trong niên giám các giáo hoàng những tước hiệu dành cho các giáo hoàng. Giả sử trong niên giám ấy có ghi tên tôi, người ta sẽ đọc thấy: “Đức Gioan Phaolô I, giám mục Rôma, đại diện Đức Kitô, người kế vị thủ lãnh các tông đồ, giáo hoàng của Giáo hội phổ quát, giáo chủ Phương Tây, người số một ở Ý, tổng giám mục chính toà Rôma, ông hoàng Quốc gia Vatican, tôi tớ của các tôi tớ Thiên Chúa.” Đấy là di sản của một quyền bính thế gian. Chỉ còn thiếu có tước hiệu quốc vương. Nhưng tước hiệu đích thực phải là : ... được bầu làm giám mục Rôma và do đó kế vị tông đồ Phêrô và do đó tôi tớ của các tôi tớ Thiên Chúa. Làm sao giáo hoàng có thể tỏ ra là một người anh em và một người cha trong Đức Kitô, và có thể đối thoại với những Giáo Hội anh em, nếu phải mang theo bao nhiêu tước hiệu ấy?... Tôi có cảm tưởng rằng gương mặt của giáo hoàng đã được xông hương quá mức. Tôi thấy có nguy cơ rơi vào việc tôn sùng một cá nhân, điều mà tôi tuyệt đối không bao giờ muốn... Đã trải qua hơn một trăm năm kể từ ngày quyền bính thế gian của các giáo hoàng đã sụp đổ, nếu không, vào giờ này, tôi cũng sẽ là một giáo hoàng quốc vương tiền hô hậu ủng, và có lẽ có cả một lực lượng cảnh sát công an để bảo vệ tài sản, đất đai và các cung điện của giáo hoàng. Quả đẹp thay nếu giáo hoàng tự ý từ bỏ quyền bính thế gian của mình! Lẽ ra các ngài phải làm điều đó sớm hơn. Cảm tạ Thiên Chúa vì Ngài đã muốn thế và cám ơn con người vì đã thực hiện điều đó.” (tr 233, 236, 248)

 

Trở về mục lục >>

 

JOHN PAUL II - WE LOVE YOU!

VỊ GIÁO HOÀNG CỦA GIỚI TRẺ

Nguyễn Hoài Hương

LTS: Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II yêu quý đã giã từ chúng ta để về Nhà Cha. Biết bao bài viết, diễn văn, báo chí, tin tức thời sự đã, đang và sẽ viết về Ngài. Với di sản tinh thần và đức tin thật vĩ đại, quý báu của Ngài để lại cho nhân loại và cho hơn một tỉ tín hữu Công giáo, sẽ còn nhiều bài vở, luận án, sách báo trình bày và viết về vĩ nhân thánh đức này. Maranatha xin dành trang viết nhỏ bé cống hiến cho độc giả về Đức Gioan-Phaolô II, một vị lãnh đạo tinh thần, một người cha, một người bạn, người dẫn đường cho các bạn trẻ đến gặp gỡ và sống thân tình với ĐỨC KITÔ - vị MỤC TỬ TỐI CAO và là BẠN THÂN của GIỚI TRẺ qua một vài kỷ niệm sống động và cụ thể trong thời gian Ngài coi sóc Giáo Hội hoàn vũ.

JOHN PAUL II -WE LOVE YOU! JOHN PAUL II -WE LOVE YOU! JOHN PAUL II -WE LOVE YOU!...  Đó là lời vang rất tha thiết và thân quen của hàng trăm ngàn bạn trẻ khi tụ họp nhau về các quãng trường rộng lớn hay những buổi gặp gỡ thân tình với Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 khi Ngài đến viếng thăm họ trong các dip ĐHGT thế giới hoặc quốc gia. Hình ảnh thời sự nóng bỏng trong suốt hơn hai tuần qua, từ khi được tin Ngài trở bệnh nặng, trong giờ hấp hối, tin Ngài qua đời, tuần lễ thăm viếng và nhất là nghi thức lễ an táng, các tin tức báo chí và cơ quan truyền thông trên khắp thế giới liên tục đưa tin, hình ảnh lên các trang báo, thông tin ngập tràn hình ảnh nhớ thương và cầu nguyện cho vị cha chung của đoàn con dân Chúa…Trong các hình ảnh được chiếu trên các băng tần của các nước trên thế giới, phải kể đến những khuôn mặt và sự hiện diện của rất nhiều vị nguyên thủ quốc gia, các vương quốc, các nhà lãnh đạo, chính trị gia, thần học gia, chính khách, chức sắc đạo đời….mà giấy bút này không thể ghi lại được…Nhưng hẳn chúng ta phải nhìn nhận rằng trong hàng trăm ngàn, theo thống kê của Vatican, đến nay đã có khoảng hơn 3 triệu khách hành hương tuôn về thánh đô trong dịp trọng đại này. Biết bao hình ảnh của những thánh lễ hiệp thông và cầu nguyện cho Đức Thánh Cha thân yêu, thì hình ảnh của phần đông đa số trong đám đông là các bạn trẻ khắp nơi trên thế giới. Vâng, trong suốt hơn 26 năm trong vai trò Giáo Hoàng, mục tử của Giáo Hội Công Giáo, biết bao công trình Ngài đã thực hiện và đóng góp cho một thế giới tốt đẹp hơn, hoà bình, nhân ái công bằng hơn, quan tâm đến nhân phẩm của con người như là hình ảnh được Thiên Chúa tạo dựng thì một trong những hình ảnh và dấu ấn Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II sâu xa và đẹp nhất Ngài đã để lại trong lòng thế giới và con người là VỊ TÔNG ĐỒ - GIÁO HOÀNG của GIỚI TRẺ.

JOHN PAUL II -WE LOVE YOU! JOHN PAUL II -WE LOVE YOU! JOHN PAUL II -WE LOVE YOU!  lời gọi đó vẫn vang lên trong lòng thế giới và trong từng trái tim của các bạn trẻ chúng ta. Phải nhìn thấy những bạn trẻ quỳ gập người khóc sướt mướt trên thảm cỏ trước toà Giám Mục Krakow, nước Ba Lan nơi trước đây Ngài làm giám mục, phải nhìn thấy những giọt nước mắt chảy dài lặng lẽ trên khuôn mặt của những thiếu nữ, những bàng hoàng, thảng thốt đau thương trên nhiều khuôn mặt của rất nhiều bạn trẻ, phải chứng kiến cảnh hàng trăm ngàn bạn trẻ đổ về Vatican  trong những ngày qua, lang thang và chờ đợi trên những nẻo đường Roma để được viếng thăm thi hài của vị mục tử thân thương, có người đã phải chờ đợi 14 giờ đồng hồ để được viếng thăm Ngài 14 giây, phải nghe một vài linh mục trẻ chia sẻ trong bài giảng những ngày tang lễ rằng, ‘tôi đã mệt nhoài và không ngủ được, thân thể rã rời và buồn bã đến rũ cả người ra,’ phải đến các thánh đường, nhà nguyện tham dự thánh lễ giới trẻ cầu nguyện cho Ngài để thấy sự buồn bã và mất mát đậm sâu trong lòng người trẻ; thế giới phải sững sờ kinh ngạc sao lại có cụ già 84 tuổi qua đời mà lại để lại dấu ấn quá sâu đậm và thương mến, kính yêu trong lòng người trẻ đến vậy?

Bởi rằng, trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo và nhân loại, chưa từng có vị Giáo Hoàng. lãnh đạo quốc gia nào quan tâm và thương mến những người trẻ như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Chưa từng có vị nào đã dành thời gian, tâm hồn và ưu tư để viết về và dành thì giờ cho giới trẻ nhiều cho bằng John Paul II. Chính vì Ngài đã đi bước trước, đã đến với họ, yêu mến họ, và giờ đây, khi Ngài trên giường bệnh, khi qua đời, ngày an táng, và luôn mãi về sau giới trẻ nhớ về Ngài, gọi tên Ngài trong thương nhớ, và tìm đến bên Ngài với biết bao ng