Thư Tòa Soạn
Lệnh Truyền Cuối Cùng Của
Đức Giêsu -
Nguyễn Chính Kết
Thánh Thần Theo Ánh Mắt Tâm
Linh -
Khổng
Nhuận
Đón Nhận Thánh Thần Tình
Yêu
-
Maranatha
Lịch Sử Tháng Hoa Đức Mẹ
-
Maranatha
Ave Maria – Kho Tàng Của
Thiên Chúa -
Đỗ Trân Duy
Những Người Tôn Sùng Đức Mẹ
Một Cách Sai Lệch
-
Thánh Monfort
Thiếu Nữ Xi-on
-
Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô
II
Ngắm Nhìn Chúa Kitô Bằng Đôi Mắt Của Đức Mẹ
-
Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI
Những Chứng Nhân Của Thần Khí
-
Trần Duy
Nhiên
Vị Thiên Thần Tuyệt Vời Nhất
-
Sưu Tầm
Tâm Tình Cùng Bạn Đọc -
Thư Bạn Đọc


Trở về các số báo
Thư Tòa Soạn
Kính thưa quý độc giả,
Cách đây tròn một năm, ngày 01 tháng 5 năm 2004,
Maranatha số 1
ra mắt quý độc giả với những dòng chữ sau đây:
“MARANATHA
chọn ra mắt ngày 01 tháng 5, lễ Thánh Giuse Thợ và khởi đầu cho tháng hoa
kính Đức Mẹ, ấy là vì muốn đặt mình dưới sự che chở và chuyển cầu của thân
phụ và thân mẫu Đức Giêsu, hai Đấng mà trọn cuộc đời chỉ làm có mỗi một việc
là tuân phục thánh ý Thiên Chúa để cho Chúa Kitô tỏ mình trọn vẹn trên trần
gian này.”
Thắp lên ngọn nến sinh nhật mừng một tuổi cho
Maranatha
của những ngày chập chững bước đi trong tâm tình tạ ơn dâng lên Thiên Chúa,
Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse, cộng với tâm tình biết ơn gửi đến tất cả quý
cộng tác viên và độc giả để cùng nhau tri ân Thiên Chúa và cảm ơn nhau.
Maranatha
là quà tặng của Thiên Chúa ban cho chúng ta, và cũng là tấm lòng của tất cả
quý vị đã thương đón nhận, khuyến khích và nâng đỡ cho đến ngày hôm nay.
Sau một năm nhìn lại,
Maranatha
thấy ngay một sự lỗi hẹn. Trong 52 tuần qua,
Maranatha
chỉ đến với quý vị đuợc 43 số. Điều này có nghĩa là có 9 tuần lễ
Maranatha
đã im tiếng. Đấy là chưa kể lần vắng bóng thời gian gần đây kéo dài hơn 3
tuần. Tuy nhiên, trong 43 số ấy,
Maranatha đã cố gắng trao gởi những sứ
điệp của yêu thương và tích cực, cùng nhìn lại thân phận giới hạn của bản
thân trong tâm tình biết ơn và cầu nguyện để vươn lên giữa những thử thách
và khó khăn, và cố gắng để không có một bài nào mang tính phê phán những
khuyết điểm còn tồn tại trong cơ chế Giáo Hội, thể hiện nơi một số giáo sĩ
cũng như giáo dân, cộng đoàn nào.
Vì thế, lời đầu tiên của Ban Biên Tập trong dịp
này là một lời tạ lỗi: xin tạ lỗi vì đã không trung thành thực hiện 52 số
cho năm vừa qua; tạ lỗi vì đã không có một lời phê bình nào về những hạn chế
trong Giáo Hội khiến cho Dân Chúa chưa được sống ‘dồi dào’ như mong muốn của
Chúa Kitô, và cho Nước Chúa còn chậm đến trên trần gian này. Tuy vậy,
Maranatha
vẫn tin cậy vào sự cảm thông và thương mến của độc giả đối với những khó
khăn khiến Maranatha
đã 9 lần lỗi hẹn (và đặc biệt cho sự lỗi hẹn của số 44 này); đồng thời hiểu
rằng Maranatha
đã chọn lựa không bao giờ nói lên một lời tiêu cực mà chỉ phổ biến những tư
liệu hay tâm tình mang tính xây dựng mà thôi. Những bài vở phê phán hay đả
phá các khuyết điểm, dù đúng dù sai, thì đã có nhiều diễn đàn khác nêu lên
rồi, và những ai ưu tư đều có thể tra cứu dễ dàng.
Tuy nhiên, mặc cho những thiếu sót ấy, tâm tình
trỗi vượt trên tất cả là một tâm tình tri ân. Với con số ít ỏi của một vài
anh chị em tín hữu giáo dân âm thầm phục vụ trong Ban Biên Tập không đếm hết
một bàn tay, họ phải chu toàn nhiệm vụ trần thế của bản thân và gia đình,
thêm vào đó những sinh hoạt mục vụ tại địa phương hay cộng đoàn giáo xứ, thì
44 lần gặp gỡ với độc giả đã là 44 hồng ân rất lớn. Trước hết phải tri ân
Thiên Chúa, nhờ sự chuyển cầu của Mẹ Maria và thánh cả Giuse, Thiên Chúa đã
dùng Thần Khí Người mà dẫn dắt
Maranatha từng bước để được trở thành
một món ăn tinh thần đơn sơ nhẹ nhàng, hợp khẩu vị của nhiều người, phục vụ
nhu cầu của các linh mục, tu sĩ cho đến các giáo dân ở trên quê hương hay
hải ngoại, khắp mọi nơi, thuộc mọi giới và những lứa tuổi khác nhau.
Cùng với lòng cảm tạ Thiên Chúa,
Maranatha
không thể không cám ơn tất cả quý vị. Trước hết, xin gửi lời trân trọng biết
ơn đến những cộng tác viên, trong đó có quý linh mục, tu sĩ nam nữ và quý vị
giáo dân đã và đang đóng góp bài vở quý báu cho tuần báo; sau đó phải kể đến
toàn thể các độc giả đã đón nhận
Maranatha. Qua những điện thư ngắn ghi
danh nhận báo hoặc một vài tâm tình thăm hỏi của độc giả gửi về hàng tuần,
đó chính là những niềm vui tinh thần và quà tặng đầy khích lệ, nhờ vậy mà
trong những khi bận rộn, căng thẳng và mệt mỏi nhất, Ban Biên Tập vẫn được
an ủi và thôi thúc đế đi tiếp cuộc hành trình phục vụ cộng đoàn dân Chúa và
thăng tiến hơn. Tắt một lời,
Maranatha là hồng ân của Thiên Chúa và
của từng mỗi một người trong chúng ta đã đóng góp phần của mình để
Maranatha
được hiện diện và sống còn.
Maranatha_44
trở về trong tháng hoa kính Đức Mẹ, với cái tang chưa nguôi của Đức cố Gioan
Phaolô II, và niềm phấn khởi chưa được trọn vẹn về một Tân Giáo Hoàng. Hồng
Y Ratzinger từng bị nhiều người cho là quá ‘truyền thống’, thậm chí có người
gọi là ‘bảo thủ’ (một từ ngữ hoàn toàn chính trị). Thế rồi chỉ mới hai tuần
lễ đầu tiên, Đức Bênêđitô XVI đã bộc lộ một con người mà Thiên Chúa đã muốn
chọn để lèo lái con thuyền Giáo Hội trong những ngày tháng nhiễu nhương này.
Với niềm biết ơn khi được tròn một tuổi,
Maranatha
khởi sự Năm Thứ Hai với những bài về Đức Mẹ, qua lời dạy đặc biệt của Đức
Thánh Cha Gioan Phaolô II và Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI. Chúa Nhật này cũng
là ngày mà Giáo Hội mừng Đại Lễ Kính Chúa
Thánh Thần Hiện Xuống. Chúa Thánh Thần
- Thần Khí của Chúa Kitô - trước tiên và trên hết là thần khí của Tình Yêu,
một Tình Yêu mà biết bao nhiêu Kitô hữu đã lấy máu mình mà làm chứng. Vì thế
Maranatha
cũng dành một số trang để cùng nhau nhìn lại gương mặt của một vài chứng
nhân: Charles de Foucauld, Oscar Romero và Christian de Chergé. Và dù
ở bất cứ thời nào, lời cầu nguyện âm thầm và liên lỉ của các chứng nhân ấy
cũng là lời cầu nguyện của các tín hữu của mọi thời và của chúng ta dâng lên
Thánh Thần, Thiên Chúa Tình Yêu:
Maranatha, Lạy Chúa, xin ngự đến!
MARANATHA
Trở về mục lục >>

LỆNH TRUYỀN CUỐI CÙNG
CỦA ĐỨC GIÊSU
Nguyễn Chính Kết
1. Lệnh truyền cuối cùng của Đức
Giêsu trước khi về trời
Đã đến lúc Đức Giêsu và các môn đệ Ngài phải chia
tay. Đức Giêsu không còn hoạt động cách hữu hình tại trần gian nữa. Sứ mạng
mà Chúa Cha giao phó cho Ngài là đặt nền tảng cho Nước Trời tại trần gian và
khai mạc công cuộc cứu rỗi nhân loại, Ngài đã hoàn tất hết sức tốt đẹp.
Nhưng công cuộc thành lập Nước Trời tại trần gian và việc cứu rỗi nhân loại
quá vĩ đại, không chỉ tới đó là hết, mà nó phải được tiếp tục mãi đến ngày
tận thế bởi các tông đồ và những người theo Ngài. Vì thế, trước khi về trời,
Đức Giêsu ra một đại lệnh cho tất cả những ai theo
Ngài: «Anh em hãy đi và làm cho muôn dân
trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa
Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em»
(Mt 28,19-20). Muốn thi hành đúng lệnh truyền của
Ngài, ta phải hiểu rõ ý Ngài muốn qua lệnh truyền cuối cùng này.
2. «Làm
cho muôn dân trở thành môn đệ»
Để thi hành mệnh lệnh này, rất nhiều linh mục, tu
sĩ, hay người truyền giáo cảm thấy hài lòng, mãn nguyện khi dẫn dụ được thật
đông người học giáo lý, chịu phép rửa tội, và hằng ngày làm những tập tục
của người Kitô hữu: dâng lễ và rước lễ hằng ngày hoặc hằng tuần, đọc kinh
sáng tối mỗi ngày, v.v… Làm được như vậy, họ kể như việc truyền giáo đã
thành công, và tiếp tục truyền giáo sang đối tượng khác. Nhưng thử hỏi:
nếu những người gia nhập Kitô giáo này không có
được một sự đổi mới thật sự từ bên trong, thì việc gia nhập Kitô giáo của họ
có khác gì việc gia nhập một đảng phái nào đó chăng?
Gia nhập một đảng phái nào thì cũng đều có nghi
thức gia nhập, đều có lời hứa hoặc cam kết, và cũng đều có những bổn phận
hằng ngày, hàng tuần hay hàng tháng phải thực hiện. Nhưng việc gia nhập một
đảng phái không biến đổi người gia nhập từ bên trong, không biến họ thành
một con người mới. Trong khi «trở thành
môn đệ Chúa» phải là một cái gì sâu thẳm từ bên trong, ảnh hưởng và biến
đổi họ sâu xa hơn rất nhiều. Ta thử nhìn
vào chân dung những Kitô hữu bình thường, nghĩa là những người đã được một
linh mục hay một nhà truyền giáo hay một giáo dân nào đó đưa vào Kitô giáo,
xem họ đã thật sự trở thành môn đệ của Đức Giêsu chưa.
Trở thành môn đệ ở đây chắc chắn không phải chỉ là trở thành những người
mang danh là môn đệ, mà là môn đệ đích thật. Môn đệ đích thật là
gì? Đức Giêsu đã định nghĩa:
«Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo»
(Mt 26,34; Lc 9,23). Như vậy,
làm môn đệ Chúa, điều kiện đầu tiên là phải
từ bỏ mình,
nghĩa là coi nhẹ bản thân cùng với những quyền lợi mình để đặt nặng chính
Thiên Chúa và quyền lợi của Ngài, đồng thời «vác thánh giá» là
sẵn sàng chấp nhận đau khổ thiếu thốn khi thực hiện thánh ý Ngài.
Không cần xem xét gì cao xa,
hãy xem cách cầu nguyện của họ thì biết họ
đã từ bỏ bản thân chưa, và đã đặt nặng
Thiên Chúa hơn bản thân mình, và ý của Ngài hơn ý của mình chưa.
Rất nhiều Kitô hữu khi cầu
nguyện chỉ biết quan tâm đến bản thân mình, chỉ nghĩ đến nhu cầu của mình,
đến những đau khổ, thiếu thốn, đến những gì họ đang bận tâm, và họ xin Thiên
Chúa đủ điều liên quan đến bản thân họ. Xin
mà chưa thấy được ban thì xin nữa, cứ nhắc đi nhắc lại mãi, làm như Chúa là
người hay quên, không nhớ được những gì họ đã cầu xin những lần trước đó.
Hoặc làm như Thiên Chúa giống như ông quan tòa bất chính nọ (x. Lc 18,1-5),
người ta cứ phải quấy rầy ông cho thật nhiều thì ông mới chịu ra tay cứu
giúp. Họ chỉ quan tâm tới bản thân họ, chứ không quan tâm đến Thiên Chúa,
đến những gì Ngài đang muốn họ làm, đang trông chờ nơi họ.
Chính khi cầu nguyện, họ tỏ ra ích kỷ và vụ lợi
hơn lúc nào hết, họ tỏ ra họ chẳng hề từ bỏ mình chút nào.
Họ coi bản thân họ mới là quan trọng, còn Thiên
Chúa chỉ là người để họ cầu cạnh, là một phương tiện để thỏa mãn những nhu
cầu của họ. Nếu có ca tụng Ngài thì dường như đó chỉ như một hình thức ngoại
giao cần có để lấy lòng hầu dễ được thỏa mãn những điều mình xin.
Ta thử tự đặt mình là một người cha hay một ông chủ: nếu con cái hay tôi tớ
của ta chỉ biết xin xỏ ta những điều chúng cần, mà không quan tâm gì đến
những điều ta yêu cầu chúng, đến những gì ta muốn chúng làm, thì ta sẽ đối
xử với chúng thế nào? Ta có cho rằng chúng tin tưởng vững chắc vào lòng tốt
và sự quan tâm của ta đối với chúng (để ghi nhớ những điều chúng đã xin),
khi mà chúng cứ phải nhắc đi nhắc lại điều chúng muốn xin, nhất là khi ta
cảm thấy chưa thuận tiện để thỏa mãn yêu cầu của chúng?
Thử hỏi những Kitô hữu như thế đã là môn đệ đích thực của Chúa chưa? hay mới
chỉ là những người mong cầu cạnh và lợi dụng lòng tốt của Ngài thôi? Do đó,
không thể căn cứ vào những gì người ta làm bên
ngoài để đánh giá họ là môn đệ Chúa được.
Tương tự như «Người Do Thái chính hiệu
không phải là căn cứ vào cái thấy được bên ngoài»
(Rm 2,28a); mà «Người
Do Thái chính hiệu là người Do Thái tận đáy lòng» (Rm 2,29a).
3. «Làm phép rửa cho họ»
Nhiều nhà truyền giáo cảm thấy rất hài lòng khi
làm cho thật nhiều người chịu phép rửa tội, một nghi thức bên ngoài ai cũng
thấy được. Nhưng có thật sự là họ đã được
rửa tội không? Vì thánh Phaolô nói:
«Phép cắt bì chính hiệu không phải là căn cứ vào
cái thấy được bên ngoài, nơi thân xác» (Rm 2,28b);
«Phép cắt bì chính hiệu là phép cắt bì trong tâm
hồn, theo tinh thần của Lề Luật chứ không phải theo chữ viết của Lề Luật»
(Rm 2,29b). Những câu trên cũng có thể áp dụng cho
phép rửa. Phải chăng có nhiều trường hợp ta
mới chỉ giúp họ chịu phép rửa bề ngoài (tức không chính hiệu) chứ chưa phải
phép rửa trong tâm hồn (tức chính hiệu)?
Chỉ có phép rửa được thực hiện ở bên trong, mới là phép rửa chính hiệu hay
đích thực, biến người ta nên «con người mới» (Ep 4,24; Cl
3,10), «thụ tạo mới» (2Cr
5,17; Gl 6,15), với một «đời sống mới»
(Rm 6,4; 8,11) và
«tinh thần mới» (Rm 7,6).
Cốt yếu của phép rửa nằm ở chỗ
«được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên»
(Ga 3,3), nghĩa là «sinh lại» hay «tái
sinh», chứ không phải ở cái hình thức bên ngoài là đổ nước ở trên đầu.
Việc đổ nước ấy chỉ là dấu chỉ bên ngoài
cho một cái gì phải xẩy ra ở bên trong. Nếu không có cái gì xảy ra ở bên
trong, thì dấu chỉ bên ngoài ấy chẳng có ý nghĩa và giá trị gì cả.
Ta thấy cả đời Đức Giêsu có rửa tội kiểu đổ nước
trên đầu cho ai đâu, nhưng thật ra Ngài đã rửa tội cho không biết bao nhiêu
người, mà người cuối cùng trong cuộc đời sinh tiền của Ngài là tên trộm
lành. Ai được Ngài rửa tội theo kiểu tâm linh ấy thì cũng đều được
biến đổi sâu xa từ bên trong, nghĩa là được «tái
sinh» để trở nên «con người mới». Đây mới chính là điều chính yếu
của phép rửa, thiếu cái chính yếu này thì không còn là phép rửa nữa.
Nói thế không có nghĩa là chúng ta không cần tới
nghi thức rửa tội bên ngoài nữa, nhưng thiết tưởng chúng ta cần phải biết
điều chính yếu nằm chỗ nào. Nghi thức rửa tội là cần thiết (indispensable)
nhưng không phải là chính yếu (essential). Cái chính yếu là cái mà thiếu nó
thì tất cả những cái khác, dù cần thiết tới đâu, cũng đều vô ích và vô
nghĩa.
Thử nhìn lại việc truyền giáo trong
quá khứ, có phải nhiều khi chúng ta chỉ nhắm tới và cảm thấy thỏa mãn với
thứ phép rửa bề ngoài mà thôi chăng? Phép rửa bề ngoài là thứ phép rửa chỉ
có tác động tâm lý tự nhiên, chỉ làm thay
đổi con người một cách hời hợt, tạm thời, không có gì sâu xa bên trong cả.
4. «Dạy
bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền»
Tuân giữ lệnh truyền của Đức Giêsu là điều quan
trọng nhất để trở thành môn đệ Ngài: «Ai
yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy» (Ga
14,23). Nhưng lệnh truyền của Ngài là gì? –
«Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau»
(Ga 15,17); thậm chí chỉ cần «yêu thương
là đã chu toàn Lề Luật» của Ngài rồi
(Rm 13,10; Gl 6,2). Và đó cũng chính là dấu
chỉ bảo đảm nhất chứng tỏ ta là môn đệ của Ngài:
«Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của
Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau» (Ga 13,35).
Điều cuối cùng trong những điều cuối cùng mà Đức
Giêsu yêu cầu các môn đệ Ngài trước khi Ngài về trời là: hãy
«dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho
anh em» (Mt 28,20). Và Đức Giêsu đã coi
việc yêu thương nhau là điều chính yếu nhất trong lệnh truyền của Ngài.
Nhưng dường như nhiều nhà truyền giáo hay giáo lý viên lại
nhấn mạnh vào những điểm khác đã từng bị Đức Giêsu
coi là kém quan trọng hơn, chẳng hạn: những nghi thức tôn giáo
(x. Mt 5,23-24; 9,13), những tập tục truyền thống
(x. Mt 15,2), những luật lệ khác (x. Ga 9,16)… Thiết tưởng khi rao truyền
Tin Mừng, chúng ta cần phải nắm vững sứ điệp của Đức Giêsu và truyền đạt cho
mọi người đúng ý của Ngài, phải coi là
chính yếu những gì Ngài cho là chính yếu.
Đừng coi những điều chính yếu là phụ thuộc, và coi những điều phụ thuộc là
chính yếu (x. Mt 23,16-19.23).
Ba điều trong đại lệnh của Đức Giêsu là «làm
cho muôn dân trở thành môn đệ», «làm
phép rửa cho họ», và «dạy bảo họ tuân
giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em» thực ra
chỉ là một điều duy nhất.
Làm được điều này thì cũng chính là đã làm được
những điều kia. Thật vậy, «làm cho muôn dân trở thành môn đệ», chính
là làm cho họ «tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền», và một khi làm được
như thế tức là đã làm cho họ «tái sinh», «sống theo Thần Khí»,
trở nên «con người mới», thì đó cũng chính là «làm phép rửa cho họ»
rồi●
Trở về mục lục >>

Ý CẦU NGUYỆN CỦA
ĐỨC THÁNH CHA
THÁNG 5 NĂM 2005
Ý Chung:
Cầu cho những người gặp hoạn nạn được Chúa Thánh
Thần ban sức mạnh: Xin cho những ai
gặp hoạn nạn vì đức tin và vì công lý, cảm nghiệm được Chúa Thánh Thần an ủi
và ban sức mạnh cho họ.
Ý Truyền Giáo:
Cầu cho dân Chúa tham gia vào việc loan báo Tin Mừng cho muôn dân:
Xin cho các Hiệp Hội Giáo Hoàng Truyền Giáo, đã được Đức Thánh Cha và các
Giám Mục thành lập để loan báo Tin Mừng cho muôn dân, giúp Dân Thiên Chúa ý
thức mình cũng là thành phần trực tiếp tham gia vào việc truyền giáo.

THÁNH
THẦN Theo Ánh MẮt Tâm Linh
Khổng Nhuận
Trước công đồng Vaticanô II, Thánh Thần là một
ngôi vị bị lãng quên trong một góc trời xa lạ đầy huyền bí.
Thánh Linh như ngọn lửa đom đóm leo lét, chập chờn giữa một
đêm đông âm u giá lạnh kéo dài gần 14 thế kỷ.
Thần Khí
như ngọn gió hắt hiu trên sườn đồi cô đơn cuối chân trời. Mới
khoảng 30 gần đây, các phong trào Thánh Linh, phong trào Canh Tân Đặc Sủng
…phát triển khá rầm rộ với số thành viên lên tới hàng triệu
người.
Riêng ở Việt nam, có lẽ do hoàn cảnh đặc thù, nên
những
phong trào mới này ít người
biết đến và hoạt động tương đối âm thầm.
Nhìn chung,
đại đa số giáo dân
chúng ta
vẫn còn xa lạ với Thánh Thần. Tại sao vậy? Có lẽ
chúng ta
vẫn còn mang cặp mắt nhân loại.
Thánh Thần theo ánh mắt nhân loại
Thánh Thần là Ngôi thứ Ba
Thiên
Chúa
Ba Ngôi là tín điều căn bản của Công giáo mà
Chúa
nhật nào chúng ta cũng hát
hoặc lớn tiếng tuyên xưng qua Kinh Tin Kính. Tuy Ba Ngôi một Chúa nhưng
chúng ta vẫn thích tách Ba Ngôi
ra làm ba khung trời riêng biệt. Cần
tôn vinh,
ngợi khen, cảm tạ
ư? Ta đồng thanh hoặc âm thầm dâng những lời
chúc tụng lên Chúa Cha.
Cần tỉ tê tâm sự
ư? Chúng ta có thể trò truyện với
Chúa
Giêsu
hàng giờ. Cần xin Chúa soi sáng
giúp mình làm một việc gì, lúc đó chúng ta mới chịu ghé qua
Chúa Thánh Thần
trong giây lát rồi lập tức vùi đầu vào công việc mà chúng ta đã ấp ủ và lên
kế hoạch từ lâu rồi. Chúng ta còn tuyên xưng rằng:
Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần …Ngưòi
cùng được phụng thờ
và tôn vinh
với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con….
Giả sử như sau thánh lễ Chúa nhật, có một người
đứng ở cửa nhà thờ đưa ra một câu hỏi: Ông, bà đã thờ phượng và tôn
vinh Đức Chúa Thánh Thần như thế nào? Chúng tôi nghĩ rằng có tới 90
% giáo dân chúng mình không trả lời được hoặc trả lời vu vơ. Như thế chứng
tỏ một cách rõ ràng rằng chúng ta chỉ thích tuyên xưng ngoài miệng chứ không
thực hiện niềm tin này vào trong cuộc sống. Lý do đơn giản là Ngôi Ba Thánh
Thần dường như rất còn xa lạ với phần đông giáo dân chúng ta.
Thánh Thần là Đấng bảo trợ
Trước khi hiến mình trên Thánh giá,
Đức Giêsu đã hứa với các môn đệ:
Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em
một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.(Ga
14:16). Khi còn sống nơi trần thế,
Đức Giêsu
là đấng bảo trợ các môn đệ của
mình.
Sau khi Đức Giêsu
về trời, Chúa
Cha đã ban cho chúng ta
một Đấng Bảo trợ khác là chính Thánh Thần. Mang tiếng là Đấng bảo trợ và ở
với chúng ta
luôn mãi, nhưng thật oái oăm, Thánh Thần dường như
không
bao giờ được chúng ta
nhớ tới trong những
giờ phút lâm nguy. Thực vậy, mỗi khi đối đầu với
đau khổ, khó khăn
người
thì vội chạy tới Mẹ Maria,
kẻ thì tìm đến Thánh Giuse,
Mac-ti-nô.
Có người
thích khăn gói quả mướp tới tận mũi Cà mau cầu xin với
cha Diệp.
Người
khá giả có thể đáp máy bay sang cầu xin với
Đức
Mẹ Mễ-du, Đức
Mẹ Lộ-đức
…Hoá ra Thánh Thần chỉ được tiếng oai phong là Đấng Bảo trợ nhưng thực tế
chúng ta
vẫn cứ để Ngài
ngồi chơi xơi nước
!!!
Thánh Thần là Đấng Hướng dẫn
Thường thường, trước khi khởi sự làm việc gì đạo
đức, chúng ta
mới cùng nhau hát: Cầu xin
Chúa Thánh Thần,
Người thương thăm viếng
hồn con … Cứ như thể suốt đời
Ngài chu du khắp nơi
và chỉ viếng thăm khi ta cầu xin
Ngài.
Ấy là chưa kể rất nhiều khi miệng ông ổng hát mà lòng trí vẫn
bay
bổng
tới những phương trời vui chơi, giải trí, làm ăn, học hành.. thậm chí đầu óc
còn mải toan tính việc trả thù rửa hận cho hả lòng. Hơn nữa, làm sao ta có
thể nghe được tiếng của Ngài
hướng dẫn mà làm theo?! Khó quá! Khó quá!
Nếu
chúng ta nhìn Thánh Thần với ba khuôn mặt
kể trên: Ngôi Ba, Thần Bảo Trợ, Thần Hướng Dẫn,
chúng ta
khó có thể làm quen với Ngài
nói chi tới chuyện sống với
Ngài. Như vậy tính sao dây? Có lẽ
chúng ta
nên xây dựng cho mình một lối
nhìn sống động hơn về Thánh Thần.
Thánh Thần theo ánh mắt tâm linh
Một trong những viên ngọc quý - giữa
kho tàng Lời Chúa mênh mông - mà Chúa muốn trao tận tay - không - Chúa muốn
trao tận tâm hồn mỗi người chúng ta, đó là:
Thiên Chúa đã đổ tình yêu của
Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng
ta. (Rm 5:5).
Thánh Thần quả là món quà vô giá, tuyệt vời. Theo
ánh mắt tâm linh, Thánh Thần sẽ hoá thành
những
khuôn mặt cực kỳ sống động và hấp dẫn.
Thánh Thần là con tim tình
yêu của Cha
Vì quá yêu
chúng ta,
Chúa
Cha đã trao cho chúng ta
trọn vẹn trái tim thổn thức yêu thương
của Ngài.
Từ muôn thủa, Ngài
đã tuôn đổ vào lòng ta con tim tình yêu Thánh Thần để
chúng ta
mãi mãi bơi lội trong biển tình thương bao la
của Ngài.
Ta hít thở tình yêu của Ngài,
lớn lên trong tình yêu của
Ngài. Đi dâu, ở đâu, tôi cũng nằm gọn trong
vòng tay âu yếm của Ngài
như anh cả Giêsu
trong trái tim nhân lành của
Chúa Cha:
Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ
còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương con, ở trong
họ, và con cũng ở trong họ nữa.(Ga
17:26). Ta thấy đó, tình Chúa
Cha yêu thương Đức Giêsu
ở trong tâm chúng ta.
Mà tình yêu thương này chính là Thánh
Thần tình yêu
của
Chúa
Cha yêu thương Đức Giêsu
và mỗi người
trong chúng ta.
Còn gì hạnh phúc hơn??!! Thánh Gioan đã xác tín rằng:
Căn cứ vào điều này, chúng ta biết
được Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, đó là nhờ Thần Khí,
Thần Khí Người đã ban cho chúng ta.
(1Ga 3:24). Chúng ta đều biết
rằng nam nữ yêu nhau mong ước được ở
bên nhau, vợ chồng nên
môt xuơng một thịt đã là hạnh phúc lắm rồi! Tình yêu giữa Chúa và ta
sâu đậm hơn
nhiều vì Chúa ở trong ta và ta ở trong Chúa. Nam nữ, vợ chồng cùng lắm chỉ ở
bên nhau mà thôi. Nhờ đâu mà ta biết được ta kết hợp với Chúa đậm sâu như
vậy? Đó chính là nhờ con tim tình yêu Thần Khí - con tim này như một chất
keo siêu dính, kết hợp chúng ta nên một với Chúa. Quả vậy,
Thánh Thần
chính là con tim tình yêu của Cha.
Thánh Thần là sự sống thần
linh của Cha
Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào,
thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy,
(Ga 5:26). Sự sống thần linh ở đây chính là
Thần Khí
mà Chúa
ban cho trưởng tử Giêsu.
Có người chủ trương rằng chỉ
riêng mình Đức Giêsu mới được độc
quyền hưởng sự sống thần linh
của Cha. Thực là nực cười!! Chủ trương như
thế có khác gì hình ảnh cái đầu Giêsu
thì tràn đầy sự sống
thần linh của Cha trong khi thân thể
của Ngài
là chúng ta
thì lại bị khô cứng
hoặc thối rữa!!
Vì thế, theo ánh mắt tâm linh, không chỉ
mình Đức Giêsu
mà còn cả mỗi người chúng ta
đều được Chúa
Cha thương ban sự sống thần linh của
Ngài
vào tâm hồn ta. Nhờ đó chúng
ta mới cảm nhận được Thánh Thần
gần gũi
chúng ta
biết bao!!
Thánh Thần là sức mạnh thần
kỳ
Trong cuộc sống trần gian này, có biết bao điều
làm cho tâm trí chúng ta
chán nản, thân xác chúng ta
mệt mỏi, rã rời khiến tâm hồn ta tràn đầy thất vọng, chỉ muốn buông xuôi tất
cả. trong vũng sâu u hoài đó, ta lấy đâu ra
sức mạnh thần kỳ
để vượt qua, để vươn lên? Khỏi cần tìm đâu xa,
chúng ta
chỉ cần trầm tư một chút, ngắm nhìn tâm hồn
mình
để khám phá ra sức mạnh tiềm tàng ẩn giấu trong đó. Ta sẽ nhận ra kho sức
mạnh quyền năng vô tận có thể giúp ta hoá giải hoặc vượt qua
những
yếu đuối một các khá dễ dàng mà
không
cần phải chiến đấu vất vả khổ sở bằng ý chí của đầu óc con
người.
Chính thánh Phao-lô đã chia sẻ cảm nghiệm về
sức mạnh Thần Khí
trong bản thân mình:
Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta
một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí
khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ.
(2Tm 1:7)
Tóm lại,
chúng ta còn
có thể khai thác
nhiều đặc điểm khác
của
Thánh Thần như nguồn chân lý, nguồn mạc khải, nguồn sự sáng, nguồn ân huệ,
nguồn tự do, nguồn khôn ngoan, nguồn tái sinh và cứu độ, nguồn tinh luyện và
thánh hoá … và còn nhiều nguồn khác mà các nhà thần học đã và đang ra công
nghiên cứu. Ai cảm thấy thích nguồn nào thì
lao đầu vào nghiên cứu,
hy vọng khám phá được nhiều điều thú vị, rồi sống theo cảm nghiệm
mình
đã đạt được trong quá trình tu luyện và kiếm tìm.
Trong khuôn khổ nhỏ bé của bài chia sẻ này,
chúng tôi chỉ xin xoáy vào 3 khuôn
mặt thân thương gần gũi của Thánh Thần mà chúng tôi tâm đắc nhất. Đó là
3 đặc tính
của Thánh Thần: Con tim tình yêu,
Sự sống thần linh
và Sức mạnh thần kỳ
của Cha.Nhờ đó, chúng tôi nhận ra
sự hiện diện
và hoạt
động
của Thánh Thần
trong cuộc sống thường ngày của mình. Hôm nay, chúng tôi hân hạnh chia
sẻ với quý vị độc giả như là một món
quà kỷ niệm nhân ngày
Giáo hội hân hoan mừng kính trọng thể
Lễ
Chúa Thánh Thần
năm 2005 này.
Trở về mục lục >>
ĐÓN NHẬN
THÁNH THẦN TÌNH YÊU
Maranatha
Trong truyền thống Do Thái lễ mừng hoa quả đầu mùa
mang tên là Shavou’ot. Lễ này
cũng có tên là Pentecoste hay lễ Ngũ Tuần. Sở dĩ như vậy là vì lễ này cử
hành vào ngày thứ 50, hay 7 tuần (7 X 7 = 49), sau lễ Vượt Qua. Khởi đầu, đó
là một lễ nông nghiệp nhưng dần dần, dân Do Thái gán một ý nghĩa tôn giáo
cho ngày lễ ấy. Lễ Ngũ Tuần Do Thái là lễ mừng ngày Thiên Chúa trao ban Lề
Luật. Như thế Do Thái Giáo trước hết là một tôn giáo của lề luật.
Truyền thống Kitô giáo đã dùng lại một
lễ Do Thái và gán cho một ý nghĩa khác. Kitô hữu không mừng ơn trao ban
Thánh Kinh nhưng mừng ơn trao ban Thánh Thần. Do thái giáo là tôn giáo của
chữ nghĩa, của Thánh Kinh, còn Kitô giáo là tôn giáo của tinh thần, của
Thánh Thần. Chữ nghĩa thì giết chết, tinh thần ban sự sống (2 Cr 3,6)
Ai bám sát vào chữ nghĩa của Kinh Thánh, người ấy có thể phạm những tội tày
đình. Thánh Phao lô đã chứng minh rằng các nhà cầm quyền tôn giáo đã tuyên
án Chúa Giêsu vì họ trách Ngài đã không trung thành với Lề Luật trong Kinh
Thánh.
Nói như thế không phải là để coi nhẹ
Kinh Thánh, nhưng để hiểu rằng tinh thần thì quan trọng hơn chữ nghĩa. Kitô
giáo không chỉ là một tôn giáo, mà hơn hết và trên hết, đó là một nền linh
đạo.
Với Kitô giáo, con người thay đổi tận
căn quan niệm của mình về Thiên Chúa. Đức Giêsu là một con người đã đem
Thiên Chúa xuống trần gian. Ai yêu mến Chúa nhưng không yêu thương tha nhân
thì không phải là yêu mến Chúa. Yêu mến Chúa không có nghĩa gì cả nếu không
yêu thương đồng loại. Thánh Thần trước tiên là tinh thần huynh đệ. Một vị
thánh là một người có lòng nhân hậu bao la, biết yêu thương đồng loại mình
hơn hết mọi sự. Thánh Thần, chính là tinh thần yêu thương luôn nung nấu
chúng ta và thôi thúc chúng ta yêu thương người lân cận như chính bản thân
mình.
Đón nhận Thánh Thần, ấy là đón nhận tinh
thần huynh đệ, và làm cho tinh thần ấy ngự trị dưới đất cũng như trên trời.
Tình yêu anh em, tình yêu phổ quát này sẽ tác động trong chúng ta và cho
phép chúng ta chuyển núi dời non. Cốt lõi của Kitô giáo là Tình Yêu tha
nhân. Muốn hiểu được Thánh Thần hay Tinh Thần của Chúa Giêsu, chỉ cần đọc
lại dụ ngôn người Samari nhân hậu. Chúa Giêsu phê bình các tư tế, vì họ dạy
người khác làm điều ngay lẽ phải mà chính họ lại không có khả năng yêu
thương đồng lọai.
Trong lễ Thánh Thần Hiện Xuống năm nay,
chúng ta suy nghĩ về điều này. Thánh Thần đã ở trong chúng ta! Phần vụ của
chúng ta là yêu thương tha nhân! Chúng ta phải là những người đi bước trước!
Đừng ngửa mặt nhìn trời mà cầu xin một Thần Khí đến từ trên cao! Hãy yêu
thương rồi bạn sẽ được yêu thương. Hãy ban phát tình yêu trước khi tìm cách
thu góp tình yêu về mình●
Trở về mục lục >>

THÁNG HOA- KÍNH ĐỨC MẸ MARIA
"Các tín hữu hãy nhớ rằng lòng tôn sùng chân chính không hệ tại tình cảm
chóng qua và vô bổ, cũng không hệ tại một sự dễ tin phù phiếm, nhưng phát
sinh từ một đức tin chân thật. Đức tin dẫn chúng ta đến chỗ nhìn nhận địa vị
cao cả của Mẹ Thiên Chúa, và thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và
noi gương các nhân đức của Mẹ chúng ta" (GH 67).
LỊCH SỬ THÁNG ĐỨC MẸ
Maranatha
Dâng hiến trọn một tháng để thực
thi một việc sùng kính đặc biệt, là một điều mà Dân Chúa mới thực thi tương
đối gần đây. Trước thế kỷ thứ XVIII không có thông lệ này. Trong số các
tháng này thì Tháng Đức Mẹ, dù chỉ được công nhận từ năm 1764, là tháng được
cử hành xưa nhất. (1) Có lẽ dòng Tên tại Rôma đã khởi xướng và loan
truyền trên các lãnh địa tòa thánh, kế đến là trên khắp nước Ý và sau cùng
trên mọi nước Công Giáo. Trong công trình thăng tiến ‘Tháng Đức Mẹ’, phải
ghi nhận sự góp công của dòng Tên nói chung, và nói riêng của cha Jacobet,
xuất bản cuốn ‘Mensis Marianus’ (Tháng Đức Maria) tại Dillingen năm
1724; cha Dionisi, xuất bản cuốn ‘mese di Maria’ tại Roma năm 1725;
và cha Lalomia, xuất bản cuốn ‘mese di Maria assia il mese di maggio’
(Tháng Đức Mẹ và Tháng Năm), tại Palerme năm 1758. Sau các ngài, là cuốn
‘mese di Maria’ của cha Alphonse Muzzarelli xuất bản tại Ferrare năm
1785. Trong vòng một thế kỷ cuốn này được tái bản hơn 150 lần, và được dịch
ra các tiếng Pháp, tiếng Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và A-rập. Đối với cha
Muzzarelli, vần đề không còn là suy niệm đơn thuần về cuộc đời, nhân đức và
đặc ân của Đức Mẹ, nhưng còn noi gương Mẹ để thánh hóa đời mình bằng các tập
luyện mỗi ngày một nhân đức. Như vậy, mỗi ngày trong tháng Năm, các tín hữu
suy niệm về một chân lý trong đời sống Kitô hữu từ đó đề ra một công việc
thực hành, rồi cầu khẩn và hát một bài thánh ca dâng lên Đức Mẹ.
Dù các linh mục dòng Tên là
những người khởi xướng ‘Tháng Đức Mẹ’, thì dòng Camille lại cho rằng mình
mới là dòng khởi sự cho hình thức sùng kính như hiện nay, khi thực hiện nghi
lễ này trong nhà thờ Thăm Viếng (la chiesa della Visitazione) tại
Ferrare, năm 1784. Theo một số người, các linh mục dòng Tên chỉ tập hợp
những việc sùng kính đã có từ trước và nhấn mạnh đến việc tôn kính tại gia
đình. Các ngài yêu cầu rằng, vào ngày cuối tháng tư, mỗi nhà đều lập một bàn
thờ cho Đức Mẹ, cắm hoa và thắp đèn, và mỗi ngày mọi người trong gia đình
họp nhau lại để đọc một số kinh tôn kính Đức Mẹ, trước khi rút thăm tờ giấy
ghi một nhân đức mà mình thực thi ngày hôm sau.
Nói
rằng dòng Tên chỉ tập họp những việc sùng kính quá khứ thì cũng chính xác.
Thật vậy, vào thế kỷ XIII, vua Alphonse X, quốc vuơng xứ Castille
(1239-1284), đã từng làm một bài thánh ca để khen ngợi nét đẹp của Đức Mẹ và
của tháng Năm. Vào thế kỷ sau đó, chân phước Henri Suso, dòng Đa Minh, trong
thời gian hoa nở rộ, có thói quen kết vương miện bằng hoa để dâng lên Đức Mẹ
vào ngày 1 tháng 5. Năm 1849, cha Seidl, dòng Biển Đức, đã xuất bản cuốn
sách nhan đề là ‘Tháng Năm thiêng liêng’, trong khi đó thánh Philippe de
Néri kêu gọi giới trẻ làm những việc sùng kính đặc biệt đối với Đức Mẹ trong
tháng Năm, và ngài qui tụ các trẻ em quanh bàn thờ Đức Mẹ, để dâng lên Mẹ,
cùng với những đóa hoa xuân, những nhân đức mà cha giúp cho nở rộ trong tâm
hồn các em. Năm 1664, tại Cologne, các học sinh dòng Tên đã làm những việc
sùng kính Đức Mẹ vào tháng 5, trong khi đó tại Alsace, các thiếu nữ, gọi là
Trimazettes, đi từ nhà này đến nhà khác để xin giúp hoa trang hoàng bàn thờ
Đức Mẹ. Linh mục dòng Tên Nadisi, trong cuốn ‘Mensis Marialis’ (1654) nói về
việc sùng kính Đức Mẹ thì chỉ nhắc đến tháng 5 khi trích dẫn Henri Suso. Năm
1699, cuốn ‘Tháng Đức Mẹ’, được xuất bản tại Malsheim có lẽ do linh mục dòng
Tên Vincke, không đề cập gì đến tháng 5 cả. Cha Laurent de Schniffis, dòng
Capucin, dâng tháng 5 cho Đức Mẹ trong tuyển tập ‘Moyen-Pjeiff’ (1692) với
ba mươi bài thơ.
Đầu
thế kỷ thứ XVIII, nhà thờ Thánh Clara của dòng Phanxicô tại Naples tổ chức
mỗi ngày trong tháng 5 một giờ sùng kính Đức Mẹ tiếp theo là chầu phép lành.
Năm 1701, dòng Đa Minh quyết định sùng kính Đức Mẹ mọi ngày trong suốt tháng
5, rồi dần dần lan đến các giáo xứ: Grezzana (1734), Gênes (1747) và Vérone
(1774).
Về phần Việt Nam, chúng tôi không có tư liệu nào chính xác để biết được Giáo
hội đã dâng tháng 5 cho Đức Mẹ từ lúc nào, và truyền thống dâng hoa khởi sự
từ giáo xứ nào vào năm nào. Tuy nhiên, những ai đã sống tuổi thiếu niên ở
một giáo xứ có truyền thống dâng hoa lên Đức Mẹ trong tháng 5, hẳn sẽ không
thể nào quên được bầu không khí linh thiêng đầy hân hoan của những ngày ấy.
Và một em gái nào đã một lần được dâng hoa trong tháng 5, thì suốt đời mình,
dù là một bà cụ thất học hay một nhân vật lẫy lừng khắp năm châu, người ấy
cũng mãi trung thành với Đức Mẹ và xem Mẹ là vị trung gian không thể nào
thiếu được trên con đường đi đến với Chúa Kitô●
(1) Tháng thánh Giuse (tháng 3) được khởi
xướng tại Viterbe, được Đức Piô IX phê chuẩn ngày 12 – 06-1855. Tháng Mân
Côi (tháng 10), được khởi xướng tại Tây Ban Nha, được Đức Piô IX phê chuẩn
ngày 28-7-1868, và được đức Lêô XIII yêu cầu thực hiện (1883). Tháng Thánh
Tâm (tháng 6), xuất phát từ tu viện dòng Đức Bà (couvent des Oiseaux) tại
Paris năm 1833 và được Đức Cha Quelen khuyến khích, được Đức Piô IX phê
chuẩn ngày 8-5-1873. Ta còn nghe nói đến tháng Thánh Danh Chúa Giêsu (tháng
1) được Đức Lêô XIII phê chuẩn năm 1902; tháng Bửu Huyết (tháng 7) được Đức
Piô IX phê chuẩn năm 1850; tháng Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ (tháng 8) - chưa
phê chuẩn; tháng Đức Bà bảy sự Thương Khó (tháng 9) được Đức Piô IX phê
chuẩn năm 1857; tháng các linh hồn (tháng 11) được Đức Lêô phê chuẩn năm
1888, và tháng Đức Mẹ Vô Nhiễm (tháng 12) - chưa phê chuẩn.
Trở về mục lục >>

AVE MARIA
KHO TÀNG
CỦA THIÊN CHÚA
Đỗ Trân Duy
1.
Thiên Chúa mặc khải rất ít về Đức Bà Maria. Thánh
Kinh cũng nói rất ít về Người. Dầu vậy qua mọi thời, Đức Bà vẫn là vị được
ca tụng nhiều hơn tất cả các thánh. Ngay ma quỉ cũng phải khen ngợi Đức
Maria.
Tuy nhiên những gì nhân loại biết về Đức Maria chỉ là những vinh hiển bên
ngoài. Vinh quang ấy không sánh được với vinh quang ẩn dấu trong nội tâm của
Người. Vì Đức Maria là Mẹ Ẩn Dấu, Đấng cực kỳ khiêm nhường ẩn tích, nên vinh
hiển và lịch sử của Đức Bà là một huyền nhiệm chỉ Thiên Chúa biết mà thôi.
Đức Chúa Cha gom tất cả mọi sự tốt lành trong vũ trụ, kể cả Con duy nhất của
Người, đặt vào một nhân vật có danh xưng là Maria. Vì vậy các thánh gọi Đức
Maria là “Kho Tàng Thiên Chúa” (Thesaurus Domini), nơi chất chứa mọi ơn phúc
giúp nhân loại giầu có.
Trí óc con người rất mù mờ về mầu nhiệm cao cả của
Đức Maria. Đức Maria sinh con nhưng là Đức Nữ Đồng Trinh. Đức Maria vốn là
vật thụ tạo nhưng là Mẹ Thiên Chúa. Đức Maria là người phàm nhưng không
nhiễm tội kể cả tội tổ tông truyền. Đức Mẹ không chết nhưng cả hồn và xác
lên trời. v.v. Con người không thể nào hiểu được sự siêu việt của Đức Mẹ.
Theo thời gian, con người mỗi khi chứng nghiệm được một chút sự huyền nhiệm
bèn gói chút hiểu biết ấy trong một tước hiệu. Những tước hiệu này không
phải là những lời ca tụng của chữ nghĩa. Chúng là những khám phá bí nhiệm
trong vực sâu khôn ngoan và là niềm hy vọng của con người. Chúng là những gì
mà con người có thể hiểu và biểu lộ qua sự đo lường của ngôn ngữ. Mỗi tước
hiệu của Đức Mẹ cô đọng đầy đủ tín lý và lòng hy vọng của người tín hữu Kitô
giáo. Tuy vậy chẳng có tước hiệu nào một mình mang trọn ý nghĩa về ngôi vị
của Đức Mẹ. Vì vậy Đức Mẹ có rất nhiều tước hiệu.
Đây là lúc Kitô hữu chúng ta cần nhận diện rõ nền
tảng đức tin về Đức Mẹ. Công Gíáo có một niềm tin rất đặc thù về Đức Maria
khác hẳn với các hệ phái Thiên Chúa giáo. Trước hết tước hiệu “Mẹ Thiên
Chúa” (Theotokos) là một chứng nghiệm kỳ đặc. Tước hiệu này cổ nhất và gây
nhiền sóng gió nhất trong lich sử Kitô giáo. Ngay từ thế kỷ thứ V, các giáo
phụ tại Constantinople đã phản đối tước hiệu này. Họ cho rằng Thiên Chúa là
Đấng tự hữu nên không thể được sinh ra bởi bất cứ ai. Vì vậy tuyên xưng Đức
Maria là Mẹ Thiên Chúa là điều phạm thượng. Vấn đề này vẫn còn vang vọng cho
đến ngày nay đối với anh chị em Tin lành. Để giữ vững đức tin, Năm 431, công
đồng Êphêsô chính thức thành lập tín điều, “Nếu ai không tin Emmanuel là
Thiên Chúa thật, do đó Đức Nữ Đồng Trinh là Mẹ Thiên Chúa, kẻ ấy sẽ bị dứt
phép thông công.” Nếu bạn không tin Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, chả lẽ bạn
không tin Đức Giêsu là Thiên Chúa hay sao? Chính bà Isavê, mẹ của thánh
Gioan Tẩy Giả đã chào Đức Maria rằng, “Nhờ
đâu tôi có ơn phước được Mẹ Thiên Chúa đến thăm tôi.”
Cũng từ ở danh hiệu này mà người ta nhìn ra huyền nhiệm Đức Giêsu có hai bản
tính. Ngài vừa là người phàm vừa là Thiên Chúa. Sự quyết liệt của công đồng
Êphêsô chứng tỏ rằng, trước những vấn nạn có tầm vóc làm lay chuyển nền tảng
đức tin, giáo hội là nơi nương tựa duy nhất của tín đồ Kitô. Biến cố trên
còn cho thấy con người không biết ca ngợi Đức Maria. Chỉ giáo hội độc nhất
biết ca ngợi Đức Mẹ một cách thích hợp, vì giáo hội có đủ tư cách dâng lên
Người những lời do chính Thiên Chúa mặc khải cho biết.
Đức Maria còn gắn liền với giáo hội Công Giáo với
tước hiệu “Mẹ Giáo Hội”, nghĩa là Mẹ các tín hữu. Niềm tin này rút ra từ mầu
nhiệm thần ủy. Khi Đức Giêsu sắp lìa trần, trên thập giá Người trối lại cho
Đức Mẹ và thánh Gioan, “Hỡi bà, đây là con bà. Hỡi con đây là mẹ con.” Vào
thế kỷ thứ III, Origen đã cảm khái nói, “Thật không ai có thể cảm nhận được
một cách thắm thiết sâu đậm lời trối ấy cho bằng một người đã từng dựa đầu
vào ngực Đức Giêsu và đón nhận Đức Maria là mẹ mình.” Tuy nhiên thánh Gioan
khi ấy chỉ là đại diện cho các vị tông đồ, cho nên Đức Mẹ đã ở với các tông
đồ và Người yêu thương nâng đỡ mọi người. Vì vây đây không phải là liên hệ
giữa Đức Maria và chỉ một người là thánh Gioan, nhưng là tất cả các môn đệ,
có nghĩa là với toàn thể giáo hội từ quá khứ đến tương lai. Lời trối của Đức
Giêsu đã mở một cánh cửa đi vào liên hệ siêu nhiên giữa Đức Mẹ và toàn thể
tín đồ đi theo Đức Giêsu. Sau này thánh Bonaventura đã cô đọng sự liên hệ ấy
trong một câu rất giản dị và minh bạch, “Đức Maria có hai người con. Một
người vừa có bản tính Thiên Chúa vừa có bản tính nhân loại. Một người hoàn
toàn là nhân loại. Người thứ nhất là con ruột, người thứ hai là con thiêng
liêng”. Thánh Augustino gọi Đức Mẹ là “Mẹ Các Giáo Hữu”. Theo thánh Êphrem,
thánh Gioan là người đại diện cho cả nhân loại, vì vậy thánh xưng tụng Đức
Maria là “Mẹ Nhân Loại”. Sau đó giáo hoàng Leo XIII đã tóm lược ngôi vị
“Mẹ”, qua thông điêp về chuỗi Mân Côi, Đức Maria là “Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Hội
Thánh, Mẹ các tín hữu, và là Mẹ nhân loại.” Thêm vào đó, thần học xác định
tất cả mọi Kitô hữu đều là chi thể của Đức Giêsu, vậy nếu Đức Giêsu là con
Đức Mẹ, thì tất cả các tín hữu cũng là con thiêng liêng của Đức Mẹ. Năm 1531
ở Guadalupe, Đức Mẹ hiện ra an ủi thánh Juan Diego, “Đừng lo, Mẹ không phải
là Mẹ con sao?” Như vậy danh xưng “Mẹ” đã được cả Đức Mẹ lẫn giáo dân công
nhận. Câu nói của Đức Mẹ Guadalupe là niềm an ủi cho những ai tin vào Mẹ một
cách đơn sơ chân thành. Năm 1964, giáo hoàng Phaolô VI chính thức dâng Đức
Mẹ Maria tước hiệu “Mẹ Giáo Hội” (Mother of the Church).
Về ơn ích được làm con Đức Mẹ, thánh Louis De
Montfort biện luận rằng, dù ở trần thế hay trên thiên đàng, Đức Mẹ vẫn là
Mẹ Đức Giêsu. Nhận định này không có ý so sánh giữa Đức Mẹ và Thiên Chúa
vì Thiên Chúa luôn luôn là Thiên Chúa. Kitô hữu không bao giờ thấy Đức Mẹ là
Thiên Chúa. Ngay cả Đức Mẹ cũng luôn luôn sống phù hợp với Thánh Ý của Thiên
Chúa. Nhưng rõ ràng Đức Mẹ có uy thế với Thiên Chúa, nên lời cầu nguyện của
Đức Mẹ sẽ vô cùng hữu hiệu. Theo học thuyết của thánh Louis De Montfort,
con người muốn yêu mến và hiểu biết Chúa Giêsu hãy đến với Đức Mẹ Maria.
Thánh Louis giải thích, Thiên Chúa đến với nhân loại qua trung gian Đức Mẹ,
vậy con người muốn đến với Thiên Chúa cũng phải qua trung gian Đức Mẹ. Giáo
hoàng Gioan-Phaolô II thú nhận rằng ngài chịu ảnh hưởng sâu đậm học thuyết
Maria của thánh Louis de Monfort. Ngay từ thời còn là giám mục ngài đã lấy
khẩu hiệu Totus Tuus (con hoàn toàn thuộc về Mẹ và mọi sự của con là của
Mẹ).
Nếu Thiên Chúa đã nhờ Đức Mẹ để thực hiện công trình cứu chuộc nhân loại thì
nhân loại cũng phải nhờ Đức Mẹ để thực hiện mục tiêu tối hậu của mình. Vì
vậy người Công Giáo tôn kính Đức Mẹ không phải như tôn kính các thánh nhân
khác. Lòng tôn kính và trông cậy này là một
điều rất đặc biệt của lối sống đạo.
2.
Đức tính cao quí nhất của Đức Mẹ là đức khiêm
nhường và đức phục tòng. Hai đức tính này khiến Đức Mẹ sống một đời che dấu
thầm kín và chịu đựng. Chính Đức Mẹ tự nhận,
“Này tôi là tôi tớ của Thiên Chúa.”
Lời tự xưng này xảy ra trong biến cố thiên thần Gabriel truyền tin cho Đức
Maria biết Bà sẽ thụ thai. Từ đó Đức Mẹ có tước hiệu “Tôi Tớ Thiên Chúa” (nữ
tỳ). Tước hiệu này đã tạo ra rất nhiều ngộ nhận qua thời gian. Trong nhiều
thế kỷ người ta đã lợi dụng hình ảnh tùng phục của Đức Mẹ như một khuôn mẫu
đức hạnh để áp chế phụ nữ và những người nô lệ. Nhưng trên hết, khái niệm
“Tôi Tớ của Thiên Chúa” là một chủ đề nổi bật của thần học. Từ lâu người ta
bị vướng mắc trong thế đối lập giữa ý chí tự do của con người và sự quan
phòng của Thiên Chúa. Nay người ta có thể luận giải khúc mắc ấy một cách cụ
thể qua vị thế của Đức Maria.
Theo truyền thống Kitô giáo, Đức Maria là người đã
được Thiên Chúa xếp đặt trong chương trình cứu độ từ thuở khai thiên lập
địa. Nghĩa là vị thế của Đức Maria đã được tiền định. Khi tự xưng, “Tôi là
tôi tá của Thiên Chúa”, chính Đức Maria cũng công nhận mình chỉ là khí cụ
trong kế hoạch của Thiên Chúa. Niềm tin này rất hợp với truyền thống của
Kitô giáo. Từ thời cựu ước, tiên tri Isaiah đã cụ thể hóa quan niệm ấy qua
câu nói, “Có thể đất sét chất vấn về hình tượng của nó? Chúng ta là đất sét,
Thiên Chúa là Đấng sáng tạo.” Quan niệm này là cách khẳng định Thiên Chúa có
quyền tuyệt đối trên vạn vật. Con người không thể chất vấn Thiên Chúa, nhưng
phải thuận phục theo Thánh Ý. Lời thiên thần Gabriel nói với Đức Maria, “Với
Thiên Chúa không việc gì mà không thể làm được” là lời bảo đảm cho uy quyền
toàn năng của Thiên Chúa.
Tuy nhiên trong biến cố “truyền tin,” lời chào hỏi
của thiên thần Grabriel không phải là cách thông báo một mệnh lệnh đã được
định sẵn. “Tin” được “báo” không có tính cách ép buộc. Trái lại chúng là lời
dẫn giải từ tốn và khuyến khích. Chính lời đối thoại của thiên thần Grabriel
đã khơi động ý chí tự do của Đức Mẹ. Lời nói của Đức Mẹ cũng không thụ động
như đất sét, nhưng là những câu hỏi và câu trả lời đầy quả cảm và tin tưởng.
Cuộc đối thoại trong biến cố “truyền tin” là mô thức cực tuyệt cho khái niệm
tự do, dũng cảm và ân sủng. Con người tự do chấp nhận sự phục tòng. Con
người dũng cảm nhận trách nhiệm. Biến cố “truyền tin” là một lối mở đi vào
sự hoàn mỹ của ý chí tự do trong thuận phục. Mặc dù trong niềm tin Thiên
Chúa giáo, Đức Maria đã được Thiên Chúa chọn sẵn, và mặc dù Ý của Thiên Chúa
là quyền lực tuyệt đối, nhưng quyền lực này chỉ được thực
hiện sau khi Đức Maria nói, “Này tôi là tôi tá
Chúa. Xin thành sự cho tôi theo lời Ngài.” Balthasar nói, “Tự do giới hạn
chỉ có thể tháo gỡ sự hạn chế bằng cách hoà nhập vào sự tự do vô biên.” Tự
do của con người là tự do hạn chế. Tự do của Thiên Chúa là tự do vô biên.
Ngay khi Thần Khí bao phủ trên Đức Maria, những hạn chế và hư nát phàm thế
không còn, cung thánh được thành lập, quyền lực của Thiên Chúa kết tụ thành
một thai nhi với tất cả ân sủng và quyền lực. Nói một cách khác, ngay khi
con người qui thuận, ân sủng của Thiên Chúa tràn tới. Vì vậy Đức Mẹ được coi
là có “đầy ơn phước.” Quả thật là ơn phước cao cả, vì Thiên Chúa là Đấng tối
cao và toàn năng nhưng vẫn coi trọng con người cùng ý chí tự do của họ.
Ý nghĩa của tước hiệu “Tôi Tớ Thiên Chúa” còn dẫn
tới một chiều hướng tâm linh khác. Đó là
ân sủng của Thiên Chúa tới bởi đức tin của chúng
ta và cũng bởi hành xử cộng tác của chúng ta.
Đây cũng là điểm đặc thù của Công Giáo.
Trong khi giáo phái Luther cho rằng con người được cứu rỗi chỉ nhờ ở đức tin
và ân sủng của Thiên Chúa. Nhóm Pelagius (khởi nguồn từ thế kỷ V) trái lại
cho rằng con người trở nên hoàn hảo chỉ nhờ ở đức hạnh của mình. Thánh
Giacôbê Tông Đồ đã dạy, “Đức tin không có
hành động đi kèm là đức tin chết.” Ngài cố
ý đề cao giá trị công đức của con người. Về điểm này, có lẽ tư tưởng của
Giáo Hội Đông Phương thâm thúy hơn. Họ quan niệm rằng tất cả mọi sự tùy
thuộc vào ơn Chúa, nhưng lại hiện thực như tất cả mọi sự tùy thuộc vào hành
xử của con người. Lối nhìn này đã nhận ra sự đáp ứng hòa hợp hai chiều giữa
Thiên Chúa và con người. Do đó giá trị của ý chí tự do được đặt đúng chỗ
trân trọng của nó.
3.
Đến một thời điểm quyết định của lịch sử, Thiên
Chúa đón Đức Mẹ cả hồn lẫn xác về thiên đàng. Theo Thomas Merton, ơn phúc
này không phải chỉ là thể cách vinh danh “Mẹ Thiên Chúa”. Trái lại là cách
thế Thiên Chúa biểu lộ tình yêu thánh thiện của Người đối với nhân loại.
Người đã tỏ lộ sự trân trọng đặc biệt đối với tạo vật của Người. Ý của Người
là vinh danh cái thực thể đã được tạo ra theo hình ảnh của Người. Người tôn
trọng thể xác đã được đặt định là đền thờ của sự vinh quang của Người. Đó là
lý do Con Thiên Chúa mặc lấy xác phàm mà đến với thế gian. Cũng như Đức Mẹ,
thể xác chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa. Vì vậy chúng ta cần ca tụng
những đặc ân của Đức Mẹ, nhưng chúng ta đừng quên, bản thể con người của
chúng ta cũng được Thiên Chúa vinh danh như vậy.
Vào thời cánh chung, nhân loại sống trong tối tăm,
đổ nát, điêu tàn, Thiên Chúa lại trao cho Đức Mẹ sứ mệnh cứu vớt nhân
loại. Lời chúc dữ cho con rắn gian dối và lời tiên tri về Người Nữ của Thiên
Chúa trong vườn địa đàng, chính là lời nói về Đức Mẹ và Lucifer vào cuối
thời. Đức Mẹ đã sửa soạn việc làm của Người từ lâu qua những lần hiện ra với
nhân loại. Nhiều lần Mẹ đã khóc ra máu để thức tỉnh lương tâm nhân loại. Đức
Maria yêu thương nhân loại rất sâu đậm bằng tình mẫu tử. Suy ra đáp lại tình
yêu của Đức Mẹ là việc chính đáng. Nếu Đức Giêsu tùng phục Đức Mẹ từ khi còn
là bao thai cho đến năm 30 tuổi để làm vinh danh Chúa Cha, thì chúng ta càng
vinh danh Đức Mẹ bao nhiêu chúng ta càng làm vinh danh Thiên Chúa bấy nhiêu●
Có lần thánh Đa Minh làm phép trừ quỉ ám cho một bệnh
nhân. Thánh bắt ép quỉ phải tiết lộ những gì nó biết về Đức Mẹ. Quỉ đã
miễn cưỡng xưng ra những đức hạnh và vinh hiển mà Thiên Chúa dành cho
Đức Mẹ. Lời tuyên xưng công khai của quỉ làm mọi người ở hiện trường, kể
cả những kẻ cứng lòng, đều cảm động chảy nước mắt.
Nguyên văn tiếng Latinh: Totus tuus ego sum et omnia tua sunt. Accipio
Te in mea omnia.
Trở về mục lục >>

NHỮNG NGƯỜI
TÔN SÙNG ĐỨC MẸ MỘT CÁCH SAI LỆCH
Thánh
Louis-Marie Grignion de Montfort
Tôi
thấy có bảy loại người tôn sùng Đức Mẹ một cách sai lệch, đó là:
1.
Những người phê phán, 2. Những người tính toán, 3. Những người bề ngoài, 4.
Những người hợm mình, 5. những người thiếu ổn định, 6. những người giả hình,
7. những người vụ lợi.
1. Những người phê phán
thường là những nhà học thức kiêu ngạo,
đầu óc mạnh mẽ và tự mãn. Họ chấp nhận tôn sùng Đức Mẹ, nhưng họ lại phê
phán mọi hình thức đạo đức mà những người bình dân bày tỏ một cách đơn sơ và
thánh thiện lên Đức Mẹ, bởi vì những hình thức đạo đức đó không phải họ tự ý
bày ra.
Loại người sùng kính sai lệch này và những người kiêu căng thật đáng sợ. Họ
gây thiệt hại vô cùng cho việc sùng kính Đức Mẹ, và thúc đẫy người ta tránh
xa Mẹ, với lý do là muốn diệt trừ những lạm dụng.
2. Những người tính toán
là những người sợ rằng mình xem thường
Chúa Con khi tôn sùng người Mẹ, là hạ Đấng này xuống khi nâng Đấng kia lên.
Họ không chấp nhận cho ai dâng lên Đức Mẹ những lời ca tụng chính đáng, mà
các giáo phụ đã truyền lại. Họ không chịu đựng nỗi khi thấy trước bàn thờ
Đức Mẹ lại đông người hơn trước bàn thờ Thánh Thể, cứ như thể là bàn thờ này
là đối thủ của bàn thờ kia, cứ như thể là ai cầu nguyện với Đức Mẹ thì không
cầu nguyện với Chúa Giêsu qua Mẹ! Họ không muốn ai nhắc đến Nữ Vương trên
trời, và chạy đến với Người quá thường xuyên…
3. Những người bề ngoài
là những người xem toàn bộ việc tôn sùng
Đức Mẹ là những việc mình chứng tỏ ra bên ngoài. Họ chỉ cảm nhận được bên
ngoài việc sùng kính Đức Mẹ, vì họ không có gì trong nội tâm. Họ đọc rất
nhanh và rất nhiều chuỗi mân côi, đi xem nhiều lễ mà không cần cầm trí, đi
mọi cuộc rước kiệu mà không cần sốt sắng, gia nhập mọi hội đoàn mà không dấn
thân hy sinh sự sống của mình, không chống trả lại mọi đam mê và không noi
gương Đức Mẹ chí thánh. Họ chỉ ưa thích những gì làm cảm động trong công
việc sùng kính, mà không cảm nếm cái cốt lõi; nếu họ không cảm thấy gì trong
khi làm việc đạo đức, họ cho rằng mình không làm gì cả, họ rút lui, họ buông
xuôi và làm việc chiếu lệ. Thế giới này đầy dẫy những người tôn sùng Đức Mẹ
một cách hời hợt bên ngoài như thế.
4. Những người hợm mình
là những người tội lỗi buông mình theo đam mê, hoặc những người yêu mến thế
gian, những người nấp dưới danh nghĩa công giáo và sùng kính Đức Mẹ che dấu
tính kiêu ngạo, hay hà tiện, hay dâm ô, hay say sưa, hay nóng giận chửi bới,
hay nói hành, hay bất công, v.v. Họ ngủ yên trong thói quen xấu xa của mình,
mà không cố gắng sửa sai, lấy cớ rằng mình đã tôn sùng Đức Mẹ. Họ tự nhủ
rằng Chúa sẽ tha thứ cho họ, họ sẽ không chết bất đắc kỳ tử mà chưa kịp xưng
tội, và họ sẽ không bị án phạt đời đời; vì họ lần hạt đều đặn, vì họ ăn chay
ngày thứ bảy; vì họ thuộc hội đoàn Mân Côi hay Áo Đức Bà, hay một hội đoàn
nào khác; vì họ mặc áo Đức Bà hay một ảnh vảy Đức Mẹ, v.v. Khi ta bảo rằng
lối sùng đạo của họ chỉ là một ảo tưởng do ma quỷ vẽ ra và một sự hợm mình
sai lệch có thể làm cho họ mất sự sống đời đời, họ không muốn tin ta nữa: Họ
bảo rằng Thiên Chúa thì nhân lành và đầy lòng thương xót, rằng Người không
sinh ra ta để phạt ta đời đời, rằng không ai là không có tội, rằng mình
không thể nào chết đi mà không kịp xưng tội.
5. Những người thiếu ổn định
là những người tôn sùng Đức Mẹ một cách chập chờn: lúc thì sốt sắng lúc thì
nguội lạnh, lúc thì họ có vẻ sẵn sàng làm mọi việc để phục vụ Mẹ, rồi chẳng
bao lâu sau, họ trở thành dửng dưng. Họ khởi sự bằng cách thực thi mọi việc
đạo đức tôn sùng Đức Mẹ; họ gia nhập các hội đoàn; thế rồi họ bỏ cuộc giữa
chừng; họ thay đổi xoành xoạch, và Đức Mẹ sẽ đặt họ dưới chân Người, như Mẹ
từng đạp lên nửa vầng trăng, vì họ hay thay đổi và không xứng được xếp vào
hàng ngũ những tôi tớ của Đấng Trinh Nữ muôn đời trung tín, những người
trung thành và bền đổ để xứng đáng được chia sẻ.
6. Có một
hạng tôn sùng sai lệch khác là những
kẻ giả hình. Họ che lập tội lỗi và thói
quen xấu của mình dưới lớp áo của Đức Mẹ, hầu cho mọi người nghĩ rằng mình
mình tốt lành trong khi thật sự thì không.
7. Còn một
hạng tôn sùng sai lệch nữa là những
kẻ vụ lợi.
Họ chỉ chạy đến với Đức Mẹ để xin thắng một vụ kiện, để tránh khỏi một hiểm
nguy, để được lành một căn bệnh, hoặc để được đáp ứng một nhu cầu đại loại
như thế. Và nếu không cần đến Mẹ thì họ quên Người mất.
Những người kể trên là những người tôn sùng giả hiệu, và họ không xứng đáng
trước mặt Chúa cũng như trước mặt Mẹ Người●
Trở về mục lục >>
Tháng Năm này mời gọi chúng ta nhớ và nói về
Mẹ một cách đặc biệt. Vì tháng này là tháng của Mẹ. Mùa Phụng Vụ và tháng
Năm này mời gọi chúng ta mở lòng đặc biệt đối với Đức Mẹ.
Đức Gioan Phaolô II, 02 -5- 1979

THIẾU NỮ
XI-ON MỚI
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
trong buổi tiếp kiến chung, 01- 5 - 1996
Các
bạn thân mến,
Hôm
nay, ngày 1 tháng 5, là một ngày mà nhiều nơi trên thế giới mừng lao động
con người. Đối với giáo hội, ngày hôm nay nhắc lại việc lao động tại
Nazaret, nơi mà chính Đức Giêsu đã lao động nhiều năm bên cạnh bác thợ mộc
Giuse. Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người có trách nhiệm trong công
cuộc lao động của nhân loại, cho mọi người lao động trên thế giới, cho công
việc lao động của con người dưới mọi hình thức. Tôi vẫn nhớ trong thông điệp
Laborem exercens, thông điệp đầu tiên của tôi nói về xã hội, tôi đã
nói nhiều về vấn đề này.
Hôm nay cũng là ngày đầu tiên của tháng Năm. Và
tháng này dành riêng để tôn kính Đức Mẹ. Cả một truyền thống sùng kính Đức
Mẹ được gắn liền với tháng Năm. Đấy là nguyên do tôi chọn chủ để giảng dạy
hôm nay. Một chủ để về Đức Mẹ, hầu tiếp tục những bài giáo lý về Đức Mẹ mà
tôi đã đề nghị trong những tháng vừa qua.
1. Vào giờ
truyền tin, Đức Maria ‘người con gái Xi-on tuyệt hảo’ (LG, 55) được sứ thần
kính chào như là người đại diện cho toàn thể nhân loại, được mời gọi để ưng
thuận cho con Thiên Chúa nhập thể.
Lời đầu tiên mà sứ thần nói với Mẹ là một lời mời
gọi đi vào niềm vui: “Khairê” (Χαιρέ) Có nghĩa là “Mừng vui lên”.
Tiếng Hy lạp được dịch sang tiếng Latinh là “Ave”, như một lời chào
thuần túy, dường như không tương ứng trọn vẹn với hàm ý của vị sứ thần Thiên
Chúa và với bối cảnh diễn ra cuộc gặp gỡ này.
Quả thật, Khairê cũng là một công thức để
chào hỏi, mà người Hy lạp thường dùng, nhưng hoàn cảnh phi thường mà lời này
được thốt lên thì khác hẳn với một cuộc gặp gỡ bình thường. Thật vậy, ta chớ
quên rằng Thiên sứ ý thức rằng mình đem đến một tin tức vô tiền khoáng hậu
trong lịch sử nhân loại. Một lời chào bình thường hẳn là không thích hợp
trong trường hợp này. Trái lại, nếu ta liên hệ với nguyên nghĩa của từ
Khairê, ‘mừng vui lên’, thì có vẻ thích hợp hơn cho hoàn cảnh ngoại lệ
này.
Như các giáo phụ thường nhấn mạnh, nhất là các
giáo phụ Hy lạp, khi trích dẫn các lời tiên tri, lời mời gọi ‘hãy vui lên’
hoàn toàn phù hợp với lời loan báo Đấng Mêsia đến.
2. Trước tiên,
hãy trở lại với ngôn sứ Xô-phô-nia. Tường thuật về Truyền Tin rất tương ứng
với lời tiên tri của ngài: “Reo vui lên,
hỡi thiếu nữ Xi-on, hò vang dậy đi nào, nhà Israen hỡi! Hỡi thiếu nữ
Giêrusalem, hãy nức lòng phấn khởi.” (Xp
3,14) Có lời mời gọi hãy vui lên: “hãy nức lòng phấn khởi”! Có lời nhắc đến
sự hiện diện của Chúa: “Đức Chúa, Vua
Israen, đang ngự giữa ngươi!” (câu 15). Có
lời khuyên đừng sợ: “Này Xion, đừng sợ! chớ
buông tay!” (câu 16). Cuối cùng, có lời hứa
về sự can thiệp cứu độ của Thiên Chúa: “Đức
Chúa, Thiên Chúa ngươi đang ở giữa ngươi, Người là Vị cứu tinh”
(câu 17). Những tương ứng giữa hai văn bản nhiều và chính xác đến độ khiến
chúng ta nhìn ra nơi Đức Maria là người thiếu nữ Xi-on, đấng có lý do để vui
mừng vì Thiên Chúa đã quyết định thực hiện chương trình cứu độ của Người.
Chúng ta cũng tìm thấy một lời mời gọi tương tự,
dù ở một bối cảnh khác, trong sách tiên tri Giô-en:
“Hỡi mặt đất, đừng sợ, hãy hoan hỉ vui mừng, vì
Đức Chúa đã làm những việc trọng đại... Và các người sẽ biết rằng ta hiện
diện giữa Israen” (Ge 2, 21.27)
3. Lời loan
báo của Da-ca-ria, được trích dẫn khi Chúa Giêsu vào Giêrusalem (x. Mt 21,
5; Ga 12, 15) thì cũng đầy ý nghĩa. Lời này nêu lên lý do để vui mừng là
việc vị vua Thiên Sai đến: “Nào thiếu nữ
Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò!
Kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi; Người là Đấng chính trực, Đấng
toàn thắng, khiêm nhường... Người sẽ công bố hòa bình cho muôn dân.”
(Dcr 9, 9.10)
Cuối cùng, dựa trên một miêu duệ đông đảo – một
dấu chỉ của phép lành Thiên Chúa – sách Isasia đã loan báo niềm vui cho
thiếu nữ Xi-on mới: “Reo mừng lên, hỡi
người phụ nữ son sẻ, không sinh con; hãy bật tiếng reo hò mừng vui, hỡi ai
chưa một lần chuyển dạ, vì con của phụ nữ bị bỏ rơi thì đông hơn con của phụ
nữ có chồng; Đức Chúa phán” (Is 54,1).
Ba nguyên do để mời gọi hãy vui mừng: sự hiện diện
cứu độ của Thiên Chúa giữa dân Người, việc vua Thiên Sai đến và ơn sinh sản
nhưng không và dồi dào – ba nguyên do ấy đều được thực hiện trọn vẹn nơi Đức
Maria. Những lý do ấy đã biện minh cho ý nghĩa mà truyền thống gán vào lời
chào mừng của Thiên sứ. Khi mời gọi Mẹ ưng thuận để cho lời hứa thiên sai
được trở thành hiện thực và khi loan báo cho Mẹ phẩm giá cao vời là
làm Mẹ Đấng Cứu Tinh, thiên thần không thể không mời gọi Đức Maria hãy vui
lên. Thật vậy, như lời nhắc nhở của Công Đồng,
“sau một thời gian dài chờ đợi lời hứa được thực
hiện, thời gian đã nên trọn và Nhiệm Cục mới được thiết lập với Mẹ, người
thiếu nữ Xi-on cao sang, khi Con Thiên Chúa mặc lấy bản tính nhân loại nơi
Mẹ để giải thoát con người khỏi tội lỗi nhờ các mầu nhiệm của thân xác Ngài”
(LG, 55)
4. Tường thuật
về Truyền Tin cho phép chúng ta nhận ra Đức Maria là ‘thiếu nữ Xi-on’ mới,
được Thiên Chúa mời gọi đón nhận một niềm vui vĩ đại. Tường thuật ấy nêu rõ
vai trò phi thường của Mẹ Đấng Mêsia và thậm chí Mẹ của Con Thiên Chúa. Đức
Mẹ đón nhận sứ điệp nhân danh dân tộc của David, nhưng chúng ta cũng có thể
nói rằng Mẹ đón nhận nhân danh toàn thể nhân loại, vì Cựu Ước đã mở rộng vai
trò của Đấng Messia thuộc dòng tộc David cho tất cả mọi dân tộc (xem Tv 2,8;
71,8). Theo ý định Thiên Chúa, lời loan báo gửi đến cho Mẹ thì hướng đến ơn
cứu độ phổ quát.
Để khẳng định viễn ảnh phổ quát này trong chương
trình Thiên Chúa, chúng ta có thể nhắc lại vài văn bản trong Cựu và Tân Ước,
từng so sánh ơn cứu độ với một bữa tiệc dành cho mọi dân tộc trên núi Xi-on
(xem Is 25,6 tt), và loan báo bữa tiệc chung cục của Nước Trời (x. Mt 22,
1-10).
Với tư cách là ‘thiếu nữ Xi-on’, Đức Mẹ là Trinh
Nữ của giao ước mà Thiên Chúa ký kết với nhân loại. Vai trò đại diện của Đức
Maria trong biến cố này thật là rõ ràng. Và một phụ nữ đóng vai trò này thì
quả là ý nghĩa.
5. Với tư cách
là ‘thiếu nữ Xi-on’ mới, Đức Mẹ có khả năng đặc biệt để đáp trả giao ước hôn
nhân với Thiên Chúa. Cao hơn và tốt hơn bất cứ mọi thành viên nào trong Dân
được tuyển chọn, Mẹ có thể dâng cho Chúa một trái tim Hiền Thê đích thực.
Với Đức Maria, ‘thiếu nữ Xi-on’, không còn đơn thuần là một biểu tượng tập
thể, mà là một con người đại diện cho nhân loại, và vào giờ Truyền Tin,
người ấy đã đáp trả lời đề nghị yêu thương của Thiên Chúa bằng tình yêu hiền
thê của mình. Như thế, Mẹ đón nhận một cách hoàn toàn đặc biệt niềm vui mà
các lời tiên tri đã loan báo, một niềm vui đạt đến tuyệt đỉnh, trong khi
hoàn tất chương trình của Thiên Chúa●
Trở về mục lục >>

NGẮM NHÌN
CHÚA KITÔ BẰNG ĐÔI MẮT CỦA ĐỨC MẸ
Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI -
Giờ Regina Coeli, 11 - 5 - 2005
Anh chị em rất thân mến!
Tôi ngỏ lời với anh chị em lần đầu từ khung cửa sổ
này, một nơi mà gương mặt quí yêu của người tiền nhiệm đáng kính của tôi đã
biến thành một nơi quen thuộc cho biết bao con người trên khắp cùng thế giới
này. Và chúng ta cũng nghĩ đến Khung Cửa Sổ khác.Từ chúa nhật này đến chúa
nhất kia, Đức Gioan Phaolô II - trung thành với cuộc hẹn mà hiện nay đã trở
thành một truyền thống tốt đẹp - đã đồng hành trong hơn một phần tư thế kỷ
với Giáo Hội và thế giới, và giờ đây chúng ta cảm thấy gần gũi ngài hơn bao
giờ hết. Tâm tình đầu tiên của tôi vẫn còn là tâm tình biết ơn đối với mọi
người đã nâng đỡ tôi trong những ngày này bằng lời cầu nguyện của họ, và đối
với những ai, trên khắp thế giới, đã gửi đến tôi những lời chúc mừng.
Tôi muốn chào mừng với tình cảm đặc biệt các giáo
hội Chính Thống, các giáo hội Chính Thống Đông Phương và các giáo hội Công
Giáo Đông Phương,
đang mừng Chúa Kitô Phục Sinh đúng ngày chúa nhật hôm nay. Tôi gửi đến anh
em quí mến lời loan báo truyền thống cho niềm vui: Christos anesti!
Vâng, Chúa Kitô đã sống lại, Người
đã sống lại thật. Tôi hết lòng mong sao cho việc đón mừng lễ Vượt
Qua trở thành cho họ một lời cầu nguyện chung tràn đầy đức tin và lời chúc
tụng Đấng mà tất cả chúng ta đều gọi là Chúa, và kêu gọi chúng ta dấn bước
đi theo con đường
dẫn đến hiệp thông.
Hôm nay, chúng ta bắt đầu tháng 5 bằng một lễ
phụng vụ mà dân Chúa rất quí mến, lễ mừng thánh Giuse thợ. Và anh chị em
biết rằng tôi tên là Giuse. Lễ này được Đức Giáo Hoàng Piô XII thiết lập
cách đây 50 năm, để nhấn mạnh tầm quan trọng của lao động và của sự hiện
hiện của Chúa Kitô và Giáo Hội trong thế giới thợ thuyền. Cũng cần phải làm
chúng cho xã hội hôm nay cho ‘Phúc âm về lao động’, mà Đức Gioan Phaolô II
đã nói đến trong Thông Điệp Laborem exercens. Tôi mong sao cho mọi
người không thiếu việc làm, đặc biệt là giới trẻ, và điều kiện làm việc ngày
càng tôn trọng hơn phẩm giá con người.
Tôi ưu ái nghĩ đến mọi người lao động và tôi chào
mừng những người đang qui tụ nơi quảng trường thánh Phêrô, những người thuộc
nhiều hiệp hội khác nhau. Tôi chào mừng đặc biết các bạn trong Hiệp Hội Công
Giáo các Công Nhân Ý, mà năm nay sẽ mừng kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Hội,
và tôi chúc họ tiếp tục sống chọn lựa của mình, ấy là sống ‘tình huynh đệ
Kitô giáo’ như một giá trị trong lãnh vực lao động và đời sống xã hội, hầu
cho tinh thần liên đới, công lý và hòa bình trở thành những cột trụ mà gia
đình nhân loại xây dựng trên ấy sự hiệp nhất với nhau.
Cuối cùng, tôi hướng lòng về Mẹ Maria; Mẹ chính là
Đấng mà tháng 5 này được dâng hiến một cách đặc biệt. Bằng lời nói, và hơn
thế nữa, bằng gương sáng, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II dạy chúng ta ngắm
nhìn Chúa Kitô bằng đôi mắt của Đức Mẹ, đặc biệt là tìm lại giá trị của kinh
Mân Côi. Qua kinh Regina Coeli (Lạy Nữ Vương Thiên Đàng…), ta hãy phó
thác cho Mẹ mọi nhu cầu của Giáo Hội và của nhân loại●
Trở về mục lục >>
GƯƠNG CHỨNG NHÂN
NHỮNG CHỨNG NHÂN CỦA
THẦN KHÍ
Trần Duy Nhiên
Đại Lễ Chúa Thánh Thần là ngày lễ cao điểm của
Tình Yêu. Chúa Giêsu đã biểu hiện tình yêu Chúa Cha khi Ngài nhập thể, Ngài
đã chứng tỏ tình yêu của mình khi chịu tử nạn, nhưng Ngài đã tự mặc khải
trọn vẹn trong Chúa Thánh Thần, vì Thánh Thần tiên vàn là Tình Yêu. Kể từ
ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống, con người có quyền nói rằng Chúa là Tình
Yêu, và thể hiện trong cuộc sống mình điều mà thánh Gioan đã công bố: “Chúng
tôi đã biết tình yêu.”
Trong lịch sử Giáo hội, biết bao nhiêu người đã
biết được Thánh Thần, Thần Khí của tình yêu, và rồi đã lấy mạng sống mình mà
làm chứng cho tình yêu ấy. Trong rất nhiều chứng nhân ấy, Maranatha trong số
này xin trình bày ba gương mặt tràn đầy Thần Khí:
Linh mục Charles de Foucauld, Giám Mục Oscar
Romero và Đức Viện Phụ Christian Marie de Chergé.
Sở dĩ như vậy là vì trong dự kiến của Tòa Thánh, dịp lễ Chúa Thánh Thần năm
nay sẽ là ngày phong chân phước cho cha Charles de Foucauld, mà cái chết vì
yêu thương của cha Charles có nét tương đồng với cái chết của Đức Cha Romero
và cha De Chergé.
1. Charles de Foucauld.
Cuộc đời của ‘anh’ Charles (như cha mong người ta
gọi mình như thế, và chúng ta cũng sẽ gọi đúng ý nguyện của cha) là một cuộc
đời ‘ba chìm bảy nổi’ kể từ những ngày đầu tiên. Ra đời ngày 15-09-1858, thì
sáu năm sau anh đã phải mồ côi cả cha lẫn mẹ, và về sống với ông bà ngoại
mình. Từ năm 16 tuổi, anh đã tỏ ra vô kỷ luật đến độ các cha dòng Tên đã
buộc lòng phải sa thải anh khỏi trường, và kể từ đó anh cũng đánh mất đức
tin.
Thế rồi năm 20 tuổi, ông ngoại anh mất để lại cho
anh một gia tài kếch xù và thế là anh bắt đầu sống một cuộc đời xa hoa,
buông thả và phung phí. Anh chọn nếp sống quân đội và gia nhập trường sĩ
quan nổi tiếng của Pháp St. Cyr, nhưng lại ra trường đội sổ: thứ 87 trên 87
sĩ quan.
Năm 1800, đơn vị anh đổi sang Algérie, anh đưa
theo một cô gái ‘dễ dãi’ tên là Mimi, và bảo là vợ của anh. Khi cấp trên
phát hiện sự việc, họ buộc anh phải chia tay với Mimi. Anh một mực bảo vệ cô
và cãi lệnh trên. Thế là bị sa thải khỏi quân đội vì lý do kỷ luật. Anh về
lại Pháp, cư ngụ tại Evian.
Một năm sau, khi nghe tin đơn vị anh lâm nguy, anh
rời Mimi và trở lại Algérie để chiến đấu. Trong tám tháng anh tỏ ra hăng say
và được mọi người quí trọng, thượng cấp cũng như hạ cấp. Tuy nhiên, anh đã
say mê đất nước và con người Châu Phi nên xin xuất ngũ và ở lại Alger hầu
học tập và nghiên cứu ngôn ngữ A-rập và Do Thái.
Từ miền sa mạc Phi Châu tiếng Chúa vang lên rất
nhẹ nhàng nhưng đủ để làm anh ray rứt. Năm 28 tuổi, anh trở về Pháp sống
cạnh gia đình mà thấy lòng mình vẫn trống rỗng. Tuy không còn đức tin, anh
vẫn vào nhà thờ mà khấn một lời nguyện bất thường: “Thưa Chúa, nếu Chúa hiện
hữu, xin cho con được biết Ngài!”
Cuối năm đó, anh gặp cha Huvelin tại Paris, và
ngài yêu cầu anh xưng tội ngay mà không phải chuẩn bị gì cả. Thần Khí đã đến
thay đổi cuộc đời anh từ trong ra ngoài. Sau lần xưng tội này, anh nghĩ đến
cuộc sống của một tu sĩ trong một dòng khổ hạnh. Anh đã chọn dòng thánh
Bruno để sống đời sống đời cầu nguyện trong sự khắc khổ tột cùng. Anh ao ước
được sống cuộc đời bị mọi người quên lãng như khi Chúa Kitô sống tại Nazaret
và trầm mình giữa những người anh chị em hèn mọn nhất của mình.
Năm 1907, anh đến Tamanrasset sống giữa những
người Touaregs. Anh là linh mục công giáo duy nhất của miền này. Anh không
thể sống xa Mình Thánh Chúa, thế nhưng vì là người công giáo duy nhất nên
linh mục Charles không thể dâng lễ thành sự. Tuy thế anh vẫn chấp nhận ở lại
và sẵn sàng chia sẻ cuộc sống của anh em, trong sự khao khát, như Chúa Kitô.
Anh đã cử hành thánh lễ cuộc đời thay cho thánh lễ trên bàn thờ. Anh phải
sống trong tình trạng đói khát Mình Máu Chúa trong vòng 6 tháng mới được
phép dâng lễ một mình, nhưng không được giữ Mình Thánh Chúa.
Cuộc sống khắc khổ giữa sa mạc đã làm cho anh kiệt
quệ đến độ suýt chết. Những người Touaregs đã chia sẻ sữa dê của họ trong
thời kỳ hạn hán, và qua lần cứu sống này, anh đã hiểu rằng mạng sống anh
thuộc về họ hoàn toàn.
Thế rồi Thế Chiến thứ Nhất nổ ra, và tổ chức kháng
chiến Bắc Phi đe dọa người da trắng. Người ta yêu cầu anh trở về Pháp, nhưng
anh muốn ở giữa những anh em Touaregs của mình. Ngày 1-12-1916, một số người
Touaregs đến trói anh lại đưa ra khỏi thành lũy. Trong khi họ cướp phá thành
phố, thì được tin quân đội đến, thế là mọi người hốt hoảng. Ai đó đã bắn lên
một phát đạn, và giết chết anh tại chỗ. Thi hài anh được chôn cất vội vã
trong một cái hố ngoại thành. Anh chết cô đơn, không một thân nhân, không
một anh em công giáo hoặc thân hữu Touaregs nào, ở tuổi 58; cô đơn như Chúa
Kitô từng cô đơn trên Thập giá. Và từ sự cô đơn và quên lãng ấy anh đã tỏ
hiện Thần Khí của Chúa Kitô, một Thần Khí tình yêu khiến mình ‘hóa ra không’
trước mặt Thiên Chúa và anh em mình. Thần Khí đó thể hiện rất rõ trong lời
Kinh Dâng Hiến mà anh viết trên giấy trắng mực đen, cũng như viết bằng chính
cuộc đời mình.
Lạy Cha, con phó thần khí con trong
tay Cha.. Đấy là
lời kinh cuối cùng của Thầy Chí Thánh. Chớ
gì lời nguyện ấy trở thành lời nguyện của chúng ta... Và không chỉ là lời
cầu vào giờ sau hết, mà trong mọi giây mọi phút của đời mình:
“Lạy Cha, con xin phó mình con trong tay
Cha; lạy Cha, con ký thác mình cho Cha; lạy Cha, con dâng mình con cho Cha;
lạy Cha, Cha muốn làm gì nơi con thì tùy ý, dẫu thế nào con cũng tạ ơn Cha;
tạ ơn vì mọi sự; con sẵn sàng trước mọi sự, con chấp nhận mọi sự; con cảm tạ
vì mọi sự; miễn là Thánh Ý Cha thể hiện trong con, lạy Chúa, miễn là thánh ý
Chúa thể hiện trong mọi loài thọ tạo, trong mọi con cái Cha, trong mọi người
mà lòng Cha yêu thương; lạy Chúa, con không ước mong gì khác; con phó linh
hồn con trong tay Chúa; lạy Chúa, con dâng linh hồn con với hết cả tình yêu
trong lòng mình, vì con yêu mến Chúa, và vì đây là một nhu cầu yêu thương
của con, ấy là được hiến dâng mình, được phó thác trong tay Chúa không giới
hạn; con phó mình trong tay Chúa với một lòng cậy trông vô bờ, vì Chúa là
Cha của con.”
2. Oscar Romero.
Ngược lại với Charles de Foucauld, đức
cha Romero không lui vào sa mạc nhưng sống Tình Yêu Thánh Thần giữa người
dân nghèo khổ và bị áp bức của mình. Ngài đã chọn lựa đứng về phía những nạn
nhân, và vì yêu thương những nạn nhân của bạo lực con người, ngài đã lấy máu
mình mà làm chứng cho một Tình Yêu đi đến cùng.
Ngày 23-02-1977, đức cha Oscar Arnulfo
Romero được tấn phong tổng giám mục San Salvador. Những người trong chính
quyền hoan nghênh quyết định này của Tòa thánh, nhưng các linh mục dấn thân
lại e ngại vì ngài có tiếng là bảo thủ, và sợ rằng ngài sẽ ngăn chặn mọi sự
dấn thân của họ để phục vụ cho quyền lợi của người nghèo. Thế nhưng, ngạc
nhiên thay, không đầy một tháng sau, ngày 12 tháng 3, khi bạn của ngài là
linh mục Rutilo Grande, một người đấu tranh cho người nghèo bị ám sát, ngài
đã lên tiếng đòi buộc chính quyền của Arturo Armando Molina phải làm rõ vụ
việc này, dù sau đó không ai đáp ứng lời kêu gọi của ngài.
Với tư cách là tổng giám mục, ngài hiểu
rằng Giáo Hội là một cái gì đó cao hơn các phẩm trật, cả Rôma, các nhà thần
học hay các giáo sĩ – nghĩa là một cái gì vượt lên trên mọi cơ chế. Cho đến
một ngày kia, ngài cảm nghiệm rằng chính người dân là Giáo Hội. Ngài nói:
“Thiên Chúa cần đến người dân để cứu lấy thế gian… Thế giới của người nghèo
dạy chúng ta rằng giờ giải thoát đến chỉ khi nào người nghèo không còn ngửa
tay ăn xin chính quyền và giáo hội, nhưng họ trở thành người làm và người
chủ động trong cuộc chiến để giải thoát chính mình.”
Đức Cha Romero thấy mình bất lực vì
không thể ngăn cản được bạo lực. Trong vòng một năm sau khi ngài được tấn
phong, khoảng chừng 200 giáo lý viên và nông dân sống trên giáo phận ngài đã
bị giết. Sau này, hơn 7,500 người Salvador sẽ bị giết, một triệu người rời
bỏ quê hương để trốn thoát, và một triệu người khác luôn di cư để tránh các
cuộc đụng độ - trên một đất nước có 5,5 triệu dân. Điều duy nhất mà cha
Romero có thể đem đến cho dân chúng là những bài giảng hùng hồn của ngài,
được phát thanh khắp nơi trên đất nước. Ngài trấn an họ, bảo rằng những điều
ghê tởm kia sẽ phải chấm dứt, nhưng Giáo Hội của người nghèo, của chính họ,
sẽ tiếp tục sống mãi.
“Nếu một ngày nào họ bảo diệt đài
phát thanh của chúng ta… nếu họ không cho chúng ta lên tiếng, nếu họ giết
hết mọi linh mục và giám mục, và anh chị em sẽ bơ vơ không còn có linh mục,
thì mỗi anh chị em phải trở thành máy vi âm (microphone) của Thiên Chúa, mỗi
một anh chị em phải trở thành ngôn sứ.”
Năm 1980, giữa trận cuồng phong của bạo
lực, đức cha Romero viết thư cho tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter, yêu cầu ông
đừng gửi viện trợ cho quân đội, bởi vì, theo lời ngài, ‘viện trợ ấy được
dùng để đàn áp người dân nước tôi.’ Trong vòng 12 năm liên tục, Hoa kỳ vẫn
tiếp tục gửi viện trợ cho San Salvador. Lá thư này bị chìm trong quên lãng.
Hai tháng sau ngài bị ám sát.
Ngày 23-3-1980, đức cha Romero bước vào
vùng lửa đạn. Ngài lớn tiếng gửi lời kêu gọi đến binh sĩ xuất thân từ thành
phần nông dân, trong khi đó các tướng lãnh sợ hãi và căm ghét uy tín của
ngài. Cuối bài giảng, được truyền thanh trên khắp nước, lời ngài vang lên: “Hỡi
anh em, anh em xuất thân cùng tầng lớp với họ, anh em giết những nông dân
bạn hữu mình… Không có một quân nhân nào buộc phải tuân hành một mệnh lệnh
đi ngược lại với thánh ý của Thiên Chúa…”
Tiếng hoan hô vang lên như sấm nổ: ngài
đã kêu gọi quân đội nổi dậy. Thế rồi ngài gào lên: “Nhân danh Thiên Chúa,
nhân danh những người dân đau khổ, tôi yêu cầu anh em, tôi van nài anh em,
tôi ra lệnh cho anh em nhân danh Thiên Chúa: hãy ngừng chiến dịch đàn áp này”.
Lời kêu gọi này đồng nghĩa với lời kêu
gọi của Chúa Kitô: hãy chọn lựa người nghèo và bị áp bức. Và lời kêu gọi ấy
cũng là lời nói đem đến bản án tử hình: ngày hôm sau, 24-3-1980, ngài bị ám
sát ngay trên tòa giảng.
Trước ngày định mệnh đó không lâu, ngài
đã nói với một ký giả: “Anh có thể nói với dân chúng rằng nếu họ có giết
được tôi, thì tôi tha thứ và chúc phúc cho những người giết tôi. May thay,
họ sẽ ý thức rằng họ mất thì giờ vô ích. Một giám mục chết đi, nhưng giáo
hội của Chúa, nghĩa là người dân đen, sẽ không bao giờ chết cả.”
3. Christian Marie
le Chergé.
Cha Charles de Foucauld sống giữa lòng
sa mạc Bắc Phi. Đức cha Romero sống giữa lòng dân chúng khó nghèo. Cha
Christian liên đới với người nghèo trong khi sống tại một tu viện ở Algérie.
Nếp sống của ngài hoàn toàn khác với hai vị trên; duy chỉ có một điều giống
như họ: ngài đã sống bằng Thần Khí Chúa Kitô, và chính Thần Khí đã giúp ngài
chuẩn bị tha thứ cho những người đe dọa giết ngài.
Đêm 26 rạng 27 tháng 3 năm 1996, nhóm
Hồi giáo vũ trang đến Tu Viện Đức Mẹ Atlas tại Algérie và bắt bảy đan sĩ Xi
tô đi theo họ. Vì sao họ bị bắt? Bản thông báo số 43 của nhóm này giải
thích: “Mọi người biết rằng một đan sĩ xa lìa trần thế để sống trong một nội
cấm thì gọi là ẩn sĩ. Abou Bakr al Siddiq đã cấm giết những ẩn sĩ ấy. Nhưng
nếu một đan sĩ rời nơi nội cấm mình mà xen vào chuyện trần thế, thì có nghĩa
là chúng tôi có quyền giết người ấy. Đây là trường hợp của các đan sĩ mà
chúng tôi đang cầm tù. Họ không xa lìa trần thế. Trái lại, họ chung sống với
người dân và xúi dục dân ra ngoài con đường của Allah bằng cách đón nhận
phúc âm. Tội của họ lại càng nặng hơn nữa.” Ngày 21-05, bản thông báo tuyên
bố ngắn gọn: “chúng tôi đã cắt cổ họ”. Ngày 26-5, Chúa nhật Lễ Hiện Xuống,
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhắc đến biến cố này:
Dù nỗi đau chúng tôi thật sâu đậm, chúng
tôi vẫn cảm tạ Thiên Chúa vì chứng tích tình yêu mà những tu sĩ này đã tỏ
ra. Lòng trung thành và cương trực của họ đã làm vinh dự cho Giáo hội
và chắc chắc sẽ là một mầm mống cho hoà giải và cho hòa bình của dân tộc
Algérie mà họ đã liên đới. Lời cầu nguyện của chúng tôi cũng hướng đến
gia đình của họ, đến dòng Xi-tô và cộng đoàn Giáo hội nhỏ tại Algérie: chớ
gì trong thử thách bi đát này họ không thiếu dũng cảm để thứ tha và sức mạnh
để hy vọng, dựa trên Chúa Kitô, Đấng đã chiến thắng cái chết.
Nói đến thứ tha để đáp lại những tội
phạm của chủ nghĩa bảo thủ quá khích Hồi giáo hẳn có thể bị xem là điên rồ,
thậm chí khiêu khích, giả như điều đó không được minh họa rõ ràng bằng một
tinh thần tha thứ triệt để theo Phúc âm, trong thời gian gần đây, của những
Kitô hữu sống trong vùng đất Hồi giáo. Một chứng tích phi thường về tinh
thần tha thứ đã được phô bày cùng lúc với cuộc tàn sát tại Algérie: đoán
trước vận mệnh của mình, đức viện phụ của họ là cha Christian Marie de
Chergé đã gửi về cho gia đình lời di chúc sau đây, đề ngày 01-12-1993.
“Nếu một ngày nào đó - và có thể
là ngày hôm nay - tôi trở thành nạn nhân của chủ trương khủng bố mà hiện nay
có vẻ như đang muốn bao trùm lên mọi người ngoại quốc sống tại Algérie, thì
tôi mong rằng cộng đoàn tôi, Giáo hội tôi, gia đình tôi hãy nhớ rằng cuộc
đời tôi đã hiến dâng cho Thiên Chúa và cho đất nước này. Xin họ đón nhận
rằng Vị Chủ Tể Duy Nhất của mọi cuộc đời không thể không biết đến sự ra đi
đột ngột này. Xin họ hãy cầu nguyện cho tôi: làm sao tôi có thể xứng đáng
được làm một của lễ như thế? Xin họ biết kết hiệp cái chết này với bao nhiêu
cái chết khác, cũng tàn bạo như thế nhưng lại bị rơi vào quên lãng và không
ai nói đến. Đời sống của tôi không có giá trị hơn bất cứ đời sống của ai
khác. Và cũng không kém giá trị hơn. Dù sao đi nữa, đời sống của tôi không
còn được sự hồn nhiên của tuổi thơ. Tôi đã sống khá lâu để biết rằng mình
đồng lõa với sự dữ mà, than ôi, đang chiếm ưu thế trên trần gian này, và
thậm chí tôi đồng lõa với người sẽ giết tôi một cách mù quáng. Tôi mong rằng
vào thời điểm đó tôi có được một phút sáng suốt để xin Chúa thứ tha và xin
lỗi anh em nhân loại của tôi, đồng thời cũng hết lòng tha thứ cho người giết
hại tôi. Tôi không hề ao ước một cái chết như thế. Tôi thấy cần phải nói lên
điều này.
Thật vậy, tôi không tưởng tượng được
làm sao tôi có thể vui mừng vì dân tộc mà tôi yêu thương này lại bị buộc tội
một cách hồ đồ là đã sát hại tôi. Giá phải trả cho cái mà có lẽ người ta sẽ
gọi là “ơn tử đạo” thì quá đắt nếu phải lấy ơn ấy từ tay của một người
Algérie, dù người ấy là ai, nhất là nếu người ấy tự nhủ rằng mình hành động
phù hợp với điều mà mình nghĩ là Hồi giáo. Tôi đã biết sự khinh bỉ mà người
ta đã biểu lộ đối với người Algérie nói chung. Tôi cũng từng biết những biếm
họa về Hồi giáo mà một chủ nghĩa Hồi giáo nào đó đã khuyến khích vẽ lên.
Thật dễ dàng ru ngủ lương tâm bằng cách đồng hóa tôn giáo ấy với những chủ
nghĩa quá khích của các người cực đoan.
Đối với tôi, Algérie và Hồi giáo là
một cái gì khác hẳn, đấy là một thân thể và một linh hồn. Tôi nghĩ rằng mình
đã nói lên rõ ràng điều này, dựa trên những điều tôi đã thấy và đã biết, qua
những gì tôi đã lãnh nhận, nghĩa là thấy được lằn chỉ xuyên suốt của Phúc âm
mà tôi đã học trên đầu gối của mẹ tôi - giáo hội đầu tiên của tôi - học ngay
tại Algérie này, trong niềm tôn trọng các tín đồ Hồi Giáo. Dĩ nhiên, cái
chết của tôi có vẻ sẽ biện minh cho những người nhanh chóng đánh giá tôi là
khờ khạo, hay ảo tưởng: “bây giờ cho ông ấy biết!” Nhưng những người ấy cần
phải hiểu rằng lòng hiếu kỳ ray rứt nhất của tôi đã được mãn nguyện. Bấy giờ
là lúc mà, nếu đẹp lòng Chúa, tôi có thể hòa tan ánh mắt mình trong ánh mắt
của Cha để cùng với Người ngắm nhìn những con cái Hồi Giáo của Người, giống
như Người nhìn họ, sáng ngời trong vinh quang của Chúa Kitô, sự vinh quang
xuất phát từ cuộc Khổ Nạn của Ngài, hoa quả của Thần Khi, mà niềm vui ẩn kín
của Thánh Thần là mãi mãi thiết lập sự hiệp thông và tái lập sự giống nhau,
khi đối diện với các khác biệt. Mạng sống mà tôi mất đi, một mạng sống hoàn
toàn là của tôi, và cũng hoàn toàn thuộc về họ, tôi xin dâng lên để cảm tạ
Thiên Chúa, vì dường như Người đã muốn dành tron vẹn mạng sống tôi cho niềm
vui ấy, dù cho thế nào đi nữa.
Lời CẢM TẠ này, một lời cảm tạ nói
lên mọi điều của cuộc sống tôi, dĩ nhiên tôi cũng gửi đến anh em, những bạn
hữu xưa và nay, và cũng gửi đến anh em, những bạn hữu tại nơi này, cùng với
cha mẹ tôi, anh chị em tôi và thân hữu của họ; xin Chúa ban lại gấp trăm lần
như lời Người đã hứa.
Và anh nữa, hỡi người bạn trong giờ
phút cuối đời của tôi, người không biết điều mình làm. Vâng, cả đối với anh,
tôi muốn anh cũng “cảm ơn” (cảm nhận ơn Chúa), và được ‘Thuộc về Chúa’ như
anh đã dự kiến. Xin cho chúng ta, hai người trộm lành, gặp lại nhau trên
thiên đàng, nếu đẹp lòng Thiên Chúa, Cha của cả hai chúng ta. Amen!
”
Khi
Maranatha
chuẩn bị hoàn tất thì nhận được tin từ Zenit, cho biết rằng
cha René de Haes, một linh mục dòng
Tên, vừa bị ám sát tại
Kinshasa, thủ đô Congo, Châu Phi. Sau đây là nội dung bản tin ấy :
Ngày 7-5-2005, vào khoảng 20 giờ, cha De
Haes đã bị những người vũ trang giết hại, trên đường về viện triết học dòng
tên Saint Pierre Canisius, nơi mà ngài làm viện trưởng, và tọa lạc ở ngoại ô
phía Tây của Kinshasa, có tên là ‘Kindele’, một nơi mà tình trạng thiếu an
ninh đã trở thành mãn tính như mọi nơi khác trong thành phố này.
Cha René de Haes là người thứ 12 bị ám
sát ở vùng ngoại ô này, kể từ đầu năm.
Cha viện trưởng, sau đi làm công tác
tông đồ về, đã cho một người quá giang, mà không e ngại gì dù cha có nghe
hàng loạt tiếng súng. Hình như những tiếng súng xuất phát từ một kho chứa
hàng bị cướp, trong khu Mabanga.
Cách viện triết học ba cây số, vi linh
mục muốn vượt một xe buýt, nhưng xe này dùng lại và chặn hết đuờng đi.
Cha chưa hiểu chuyện gì xảy ra và cũng không kịp ra khỏi xe. Thế nhưng người
cha cho quá giang đã phóng chạy lúc hai người tấn công chặn xe cha lại.
Trong vòng không đầy một phút, một người
cầm súng đứng bên trái chiếc xe đã xả năm viên đạn vào cha. Hai người vũ
trang ấy đã lấy túi xách của cha trước khi bỏ trốn.

Để minh họa cho những gương chứng nhân
của Thần Khí này, linh mục Ngô Phúc Hậu đã kể trong Nhật Ký Truyền Giáo đoạn
viết sau:
- Cha Piô coi phim Mission chưa?
- Về phim ảnh thì mình đốt đặc cán mai,
dài cán thón. Bác tóm tắt giùm em coi. Hết sức vắn tắt thôi.
Phim mô tả cảnh thực dân da trắng tấn
công các bộ lạc da đỏ. Các nhà truyền giáo thì có hai thái độ: Thái độ đứng
hẳn về phía người da đỏ, cầm vũ khí chống lại thực dân. Thái độ hai: khước
từ bạo lực, chỉ rao giảng và cầu nguyện. Nhưng cuối cùng thì thực dân tấn
công và tiêu diệt tất cả. Hàng giám mục địa phương báo cáo về Toà Thánh như
sau:
"Hàng giáo sĩ của chúng tôi đã đứng ra
bênh vực người da đỏ, chống lại thực dân. Có người dùng bạo lực, có người
dùng lời cầu nguyện. Cả hai đều đã chết. Họ đã chết, nhưng dường như họ vẫn
sống. Còn chúng tôi, hàng Giám mục thì vẫn còn đang sống. Chúng tôi đang
sống, nhưng dường như chúng tôi đã chết.»●
Trở về mục lục >>

VỊ THIÊN
THẦN TUYỆT VỜI NHẤT
LTS: Tháng Năm – Tháng Hoa
kính Đức Mẹ, cũng là tháng mà các nước ở Phương Tây mừng Ngày Hiền Mẫu. Tại
Hoa Kỳ, năm nay Mother’s Day được cử hành vào ngày 8-5, và tại Pháp, thì la
Fête des Mères được mừng vào ngày 29-5. Nhân dịp này, Maranatha xin gửi đến
độc giả bài viết ngắn đơn sơ, để nhớ đến người mẹ của riêng mình và
người Mẹ của tất cả chúng ta là Đức Maria.
Ngày xửa ngày xưa có một hài nhi sắp ra đời. Hài
nhi hỏi Chúa: “Con nghe nói Chúa sai con xuống trần gian nay mai, nhưng làm
sao con sống được vì con quá nhỏ và vô phương tự vệ?”
Chúa đáp: “Ta đã chọn cho con một vị trong số các
thiên thần, người sẽ chờ đợi con và chăm sóc cho con”
Hài nhi nói: “Nhưng này Chúa, trên thiên đàng đây,
con chẳng làm gì khác ngoài ca hát mỉm cười. Con cần như thế mới có được
hạnh phúc!”
Chúa bảo: “Thiên thần con sẽ hát cho con
nghe mỗi ngày. Con sẽ cảm nhận tình yêu của người và sẽ được hạnh phúc”
Hài nhi nói: “Rồi làm sao con hiểu được khi người
ta nói với con, nếu con không biết ngôn ngữ họ nói?”
Chúa nói: “Dễ lắm. Thiên thần con sẽ nói với con
những tiếng êm dịu ngọt ngào nhất mà con chưa bao giờ nghe, và với lòng nhẫn
nại hiền từ, người sẽ dạy cho con nói.”
Hài nhi nhìn lên Chúa và nói: “Rồi con phải làm
sao khi con muốn nói chuyện với Chúa?”
Chúa mỉm cười khi hài nhi nói thế: “Thiên thần con
sẽ chắp tay con lại và dạy con nguyện cầu”
Hài nhi hỏi: “Con nghe nói trên trần gian có nhiều
người độc ác, ai sẽ che chở con?”
Chúa ôm hài nhi vào lòng mà nói: ‘Thiên thần sẽ
bảo vệ con; dù có phải hy sinh mạng sống!”
Hài nhi tỏ vẻ ưu tư: “Nhưng rồi lúc nào con cũng
buồn vì con sẽ không còn thấy Chúa”
Chúa siết chặt hài nhi: “Thiên thần con sẽ luôn
nói với con về Ta và dạy con cách trở về với Ta, dù cho lúc nào Ta cũng ở
cạnh con”.
Lúc bấy giờ thiên đàng rất yên tĩnh, nhưng tiếng
nói từ trần gian đã vang lên. Hài nhi vội vàng thì thầm hỏi Chúa: “Chúa ôi,
nếu con phải đi ngay bây giờ, xin cho con biết tên của thiên thần mình!”
Chúa đáp: “Tên của thiên thần con không quan trọng
gì đâu... con chỉ việc gọi người là: MẸ!”●
http://www.luquette.org/inspire/the_best_angel.htm
Trở về mục lục >>

TÂM
TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC
·
Chân thành cám ơn Quý độc giả đã giới thiệu thân hữu nhận
MARANATHA. Tuy nhiên, vì có nhiều độc giả đã có tên trong danh
sách nhận được tuần báo từ trước, xin quý vị vui lòng xem lại
trước khi giới thiệu và báo tin cho thân hữu biết để không ngạc
nhiên về việc nhận báo Maranatha.
·
Thời gian gần đây, có khá nhiều độc giả ghi danh nhận báo và hỏi lại
xin các số báo cũ. Trong tương lai, MARANATHA sẽ đưa tất cả các số báo đã
phát hành lên một trang báo điện tử để Quý độc giả có thể vào lấy xuống và
lưu trữ trong máy của mình.
·
Trong các tuần qua,
MARANATHA
đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ
e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:
Phạm Hùng Sơn – CVK, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả,
Đăng Nguyễn, MaryPaul Phạm, Tôn Nữ Bích Hằng, Phạm Thị Bình, Đỗ Trang,
Vincent Lê Văn Minh, Trẩn Ngọc Hoàn, Nguyễn Ngọc Trác, Đoàn Nam, Nguyễn Viêt
Huy, Cory Hoàng, Mathias, Lưu Hồng Loan, Du Sinh, Phêrô Vũ Văn Hưởng, Thừa
Trần, Trinh Lê, Nguyễn Nina, Lâm Phước Hùng, Martha Hiền Muội, Trần Ngọc
Hạnh, Trần Ngọc Báu, Ca Đoàn MariaCecilia, Francis Khúc, Nt Huy, Vi Vu,
Phương Lữ, Nguyễn Thế Tống, Sister Cecilia Nguyễn Chuyên, Nt. Phạm Thị Lan
Phương, Huỳnh Ngọc Linh, Sr. Maria Vũ, Maria Phạm Thị Thu Trang, Nữ Tu Maira
Nguyễn Hồng – Hội Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hoá, Lm. Vũ Kim Chính SJ (Đài
Loan), Nt Định USA, Nguyễn Kim Châu, Vũ Khuyên, Rafael Lê Hùng, Lm.
Stêphanô Bùi Thượng Lưu - Dân Chúa Âu Châu, Thái Văn Hiến, Nguyễn Kim Thanh,
Sr. Rosa Trần,, Vũ Ngọc Minh Kỳ, Trần Uyên, Phạm Thị Hoa, FVM, Đinh Văn
Huấn, Nguyễn Ngọc Long, SVD, Nguyễn Xoan, Nguyễn Hương Lan, Nguyễn Ngọc,
Nguyễn Văn Tề, Michelle Lê Huyền, Thục Phạm, Jami Luang, Phạm Văn Luật, Lê
Vân Bích, Gia Đình Nữ Vương Hoà Bình, Bùi Mai Khôi, Thảo Trần, Nguyễn Thanh
Thuỷ, Xuân Dung, Nguyễn Hùng Luang, Bùi Công Ngọc, Nguyễn Oanh L, Lê Thanh
Xuân, Peter Hoàng Trịnh, Nguyễn Phan, Vĩnh An, Bùi Đức Thuận, Nguyễn Thanh
Định, Nguyễn Thành Tâm, Lm. Nguyễn Văn Tiếng, Lê Văn Tùng, …
Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và
những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho
Maranatha.
Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị.
Trân trọng,
MARANATHA
Trở về mục lục >>
THƯ BẠN ĐỌC
Trong các
tuần qua, Maranatha
đã nhận được khá nhiều thư của quý độc giả, vì trang báo giới hạn, xin
chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được để hiệp thông cầu nguyện cho nhau: