Số 45, Ngày 21-5-2005

 

MỤC LỤC

 Thư Tòa Soạn

Chúa Thánh Thần Trong Ba Ngôi Thiên Chúa Lm. Vũ Xuân Hạnh

Ba Ngôi Thiên Chúa Tuy Đa Dạng Nhưng Hiệp Nhất Nguyễn Chính Kết

Kinh Lạy Nữ Vương Trong Đời Tôi – Gm. Bùi Tuần

Yêu Thương - Trần Vũ Liên Tâm

Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng (tt) - Lm. Michet Hubaut - Maranatha dịch

Cầu Nguyện Trên Năm Ngón Tay - Sưu Tầm

Bạn Có  Bận Rộn Lắm Không? Sưu Tầm

Tôi Bỏ Thuốc Lá - Trần Điền Thăng

Tâm Tình Cùng Bạn ĐọcThư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

     Kính thưa quý độc giả,

 Kitô giáo mà chúng ta xem như con đường ‘rất chính rất thật’ là một tôn giáo lạ lùng. Chúa Kitô là vị giáo chủ duy nhất tự xưng mình là Thiên Chúa: Tôi với Chúa Cha là một. Trong mọi tôn giáo trên thế giới, không có giáo chủ nào tự xưng mình là Thượng Đế. Trong Hồi Giáo, Đức Mohamed chỉ xem mình là một ngôn sứ, dù là ngôn sứ trên mọi ngôn sứ. Lời tuyên tín căn bản (chahâda) mà hằng ngày tín đồ Hồi Giáo phải đọc, ấy là: “Chỉ có Thiên Chúa là Đức Chúa duy nhất; và Mahomet là sứ giả của Người.” Trong Phật giáo, tuy Đức Phật là vị cao cả nhất, và Ngài tự xưng là Như Lai (Tathagata), nhưng Ngài cũng không xem mình là Nguyên Lý tối thượng. Ngài vẫn dạy rằng giáo lý của Ngài chỉ là: “ngón tay chỉ mặt trăng” (Kinh Lăng Nghiệm), và yêu cầu tín đồ đừng xem Ngài là ‘mặt trăng.’

Thế nhưng, nhìn theo nhận định con người, thì vị giáo chủ Giêsu (cũng như mọi vị giáo chủ, nghĩa là những người mà đức độ đã đạt đến mức siêu phàm) không thể nào nói sai sự thật, và nếu Ngài bảo rằng mình là Thiên Chúa, thì sự thật Ngài chính là Thiên Chúa. Dù vậy, từ những ngày đầu tiên của Kitô giáo, biết bao nhiêu người không thể chấp nhận ông Giêsu Nazarét chính là Thiên Chúa, và người đầu tiên chính là Phaolô, khi ông còn mang tên là Saolê. Theo dòng lịch sử, nhiều người ngoài Kitô giáo đã ‘tiếc rẻ’ rằng người ta đã xem Đức Giêsu là Thiên Chúa, và như thế là làm mất đi chiều kích độc nhất vô nhị của một con người số một trong lịch sử.  André Chouraqui, một người cùng dân tộc với Chúa Giêsu, một nhà văn và là phó thị trưởng Giêrusalem, từng nghĩ như thế nên ông viết những câu sau: Ngài là một người Do Thái độc nhất, như bao nhiêu người đã thấy được. Độc nhất trong bản chất và trong vận mệnh của Ngài. Độc nhất qua công trình sáng tạo và qua sự hiện diện của Ngài. Độc nhất vì hào quang của Ngài và vì những xung đột mà Ngài đã đem đến - như một lớp men - trong xương thịt của từng quốc gia. Và qua thương khó, qua núi sọ, qua đòi hỏi điên cuồng sự công bình và tình yêu thương, Ngài đã đồng nhất với dân tộc Ngài, một dân tộc từng lên tiếng kêu gọi sự công bình và tình yêu, một dân tộc đã cam chịu núi sọ, chịu thương khó và đã phục sinh.”

Và cũng vì thế, thánh Gioan viết cả một cuốn Phúc Âm để rồi kết luận về chân lý khó chấp nhận đó: Những điều đã chép ở đây là để anh em TIN rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người. (Ga 20, 30)

Nhưng không phải Chúa Giêsu là Thiên Chúa mà thôi, mà còn một Thiên Chúa thứ ba nữa là Thánh Thần. Chúa Giêsu đã khẳng định: Đấng Bảo Trợ… là Thần Khí phát xuất từ Chúa Cha… (Ga 15, 26). Và Chúa Thánh Thần cũng là một vấn đề gây xung đột. Dựa trên lời công bố trên của Chúa Giêsu, Công Đồng Constantinople năm 381 khẳng định rằngChúng tôi tin rằng Thánh Thần là Chúa và là Đấng ban sự sống, Ngài bởi Đức Chúa Cha mà ra. Thế nhưng theo đức tin truyền thống thì Chúa Kitô và Chúa Cha là một và bằng hàng về mọi mặt, nên năm 447 Đức Giáo Hoàng Lêô công bố tín điều này: “Đức Chúa Thánh Thần bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra.” Cụm từ ‘và (đức Chúa) Con’ (filioque) mà hiện nay người Công giáo vẫn tuyên xưng trong Kinh Tin Kính lại là một trong những nguyên nhân lớn gây chia cách giữa Giáo Hội Công Giáo La Mã và Giáo Hội Chính Thống Phương Đông.

Dù sao đi nữa, là người công giáo, chúng ta tin Thiên Chúa Ba Ngôi. Hay nói cách khác, chúng ta tin rằng Thiên Chúa vừa là Một vừa là Ba, và ta diễn đạt một cách nào đó để cho trí óc ta không bất bình vì đối diện với nghịch lý. Chúng ta nói ‘Một Thiên Chúa Ba Ngôi’ hoặc (như cha ông ta thuở xưa) ‘Thiên Chúa Nhất Thể Tam Vị.’ mà lại không nói ‘Ba Đấng Thiên Chúa là Một Đấng’ hoặc ‘Ba Vị Thiên Chúa có cùng Một (bản) thể.’ Nói thể nào thì nói, đấy vẫn là một điều không hợp với suy nghĩ con người, và do đó Giáo Hội gọi là Mầu Nhiệm - Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi mà chúng ta mừng kính Chúa nhật sắp đến đây.

Và bởi lẽ là Mầu Nhiệm, thế nên nói về Thiên Chúa trong một trang thì cũng đã quá nhiều, nếu không, thì có nghĩa là ta không biết mình nói gì.

Điều cần thiết khi hướng tâm hồn lên để tôn thờ Chúa trong ngày lễ Chúa Nhật mừng lễ Ba Ngôi, ấy là cảm nhận được Tình Yêu Thiên Chúa, một Tình Yêu đã biến Ba Ngôi thành Một, mà các nhà thần học đã sáng chế ra một từ ngữ là ‘cùng một bản thể’ (consubstantialis).

Chính theo chiều hướng tình yêu này mà Maranatha_45 suy nghĩ về Ba Ngôi Thiên Chúa cùng với vai trò không thể thiếu được của Chúa Thánh Thần.

Và vì chúng ta đang vào trung tâm của tháng Đức Mẹ, nên Maranatha cũng giới thiệu kinh Lạy Nữ Vương qua cảm nghiệm của một vị chủ chăn đã luôn sống trong tâm tình con thảo đối với Đức Mẹ.

Cùng với Đức Mẹ Maria, chúng ta vẫn xác tín rằng Chúa Kitô là Đấng Trung Gian Duy Nhất để cảm nhận và sống Mầu Nhiệm Ba Ngôi, mà không lý luận nhiều quá. Đức Mẹ - mẫu gương của đời sống cầu nguyện - luôn lặng thinh và suy niệm trong lòng, vì thế Maranatha cũng trở về với loạt bài thinh lặng cầu nguyện, để rồi qua bài học của thinh lặng và đối chiếu với những thực tại hàng ngày trong cuộc sống, chúng ta có thể mang lấy tâm tình của Đức Mẹ mà khấn xin: Maranatha, Lạy Chúa xin hãy đến!

MARANATHA

 

Trở về Muc Lục    

 MỪNG KÍNH CHÚA BA NGÔI

CHÚA THÁNH THẦN

TRONG BA NGÔI THIÊN CHÚA

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Trong mầu nhiệm Chúa Kitô, cứ nhìn một cách nông cạn, ta chỉ thấy nơi Chúa Kitô là chính bản thân Người mà thôi. Nhưng nếu nhận ra một cách sâu xa, và lắng nghe Lời Người mạc khải, thì hoàn toàn khác. Nơi Chúa Kitô là tất cả những gì Thiên Chúa cần để tỏ bày cho trần gian. Nơi Chúa Kitô, Thiên Chúa tự hiến mình để trao ban cho trần gian, trở thành tác giả của ơn cứu độ. Ơn cứu độ ấy do Chúa Kitô thực hiện, và được ơn thánh hóa của Chúa Thánh Thần tác động để (ơn cứu độ của Thiên Chúa) nên hiệu lực cho trần gian.

Nếu bàn về mầu nhiệm Ba Ngôi, ta không thể nói hết trong một khung giấy ngắn ngủi thế này, chỉ xin nhìn vào một khía cạnh rất gần cận và hiển hiện trong cuộc sống hôm nay, nhưng mang lại hiệu quả tuyệt vời, hiệu quả vĩnh cửu mai ngày cho trần gian, đó chính là: CHÚA THÁNH THẦN. Chính Người là Đấng làm cho ta được đến cùng Chúa Kitô, để rồi nhờ Chúa Kitô, ta đến cùng Thiên Chúa.

Dù vậy, chúng ta cũng không tìm kiếm gì xa xôi, nhân dịp Hội Thánh đang sống trong mùa trọng đại, mùa Phục Sinh và những tuần lễ liên tiếp cuối mùa Phục sinh, được cử hành những mầu nhiệm trọng đại về Thiên Chúa (Thăng Thiên, Hiện Xuống, Ba Ngôi), chúng ta cùng ôn lại một cách tóm lược một số chân lý giáo lý đức tin thuộc về mầu nhiệm Chúa Thánh Thần, có liên quan đến Ba Ngôi.

Giáo lý Công giáo dạy: Thiên Chúa là Chúa tể loài người và Chúa tể mọi loài, mọi sự. Người có Ba Ngôi, nhưng duy nhất. Người duy nhất trong Ba Ngôi vị. Loài người nói riêng, mọi thụ tạo nói chung, phải tôn thờ Người, yêu mến Người vì Người tạo dựng và cứu độ tất cả chúng ta. Ta tôn thờ Thiên Chúa Duy Nhất Ba Ngôi là tôn thờ Ngôi Cha, Ngôi Con, Ngôi Thánh Thần.

I. CHÚA THÁNH THẦN.

Thánh Kinh dùng nhiều hình ảnh để nói về Chúa Thánh Thần. Chẳng hạn, Chúa Thánh Thần là: Thần Khí Giavê, là Đấng Phù Trợ, Đấng An Ủi, Đấng Bàu Chữa, Thần Khí Sự Thật.

Trong lời tuyên xưng đức tin của mình (kinh Tin Kính), Hội Thánh tin tưởng Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống. Người phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con. Người cùng là Thiên Chúa như Chúa Cha và Chúa Con. Vì thế, Người đồng một bản thể như Chúa Cha và Chúa Con.

Lịch sử cứu độ, bằng chứng là Thánh Kinh Cựu ước cho thấy, Chúa Thánh Thần đã có mặt từ trong Cựu Ước, ngay từ thuở tạo thiên lập địa (St 1,2). Nhưng với Cựu ước, khuôn mặt của Chúa Thánh Thần chưa rõ ràng.

Trong Tân ước, nhất là trong Tin Mừng theo thánh Gioan, chính Chúa Giêsu nhiều lần mạc khải minh nhiên về Ngôi vị Thánh Thần. Theo Chúa Giêsu, Chúa Thánh Thần được Chúa Cha sai đến nhân danh Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu, sau khi phục sinh, cũng sai Thánh Thần đến từ nơi Chúa Cha, để thánh hóa Giáo Hội và dạy dỗ các môn đệ (Ga 16, 4-15).

II. CHÚA KITÔ, ĐẤNG CỨU ĐỘ DUY NHẤT.

Một chân lý căn bản, được thư Do thái khẳng định mạnh mẽ, đó là: “Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ duy nhất,hôm qua, hôm nay vẫn là một, và cho đến muôn đời.” (Dt 13, 8).

1. Chúa Thánh Thần thúc giục ta đi tìm chân lý.

Nhập thể, cuộc sống và cái chết cứu độ của Chúa Kitô bày tỏ tất cả tình yêu kỳ diệu của Thiên Chúa: một tình yêu mạnh hơn sự chết, mạnh hơn đau khổ và có sức cứu độ loài người. Đó là chân lý mà Hội Thánh tin kính.

Nhưng chân lý ấy, loài người không thể tự mình lãnh hội. Chính Chúa Thánh Thần đưa ta vào chân lý. Chúa Thánh Thần làm cho ta thông hiệp với Chúa Kitô, để ta biết cách chắc chắn rằng, Chúa Kitô là Đấng Cứu chuộc ta.

Trong bí tích rửa tội, Chúa Thánh Thần ban sự sống cho ta. Người làm cho ta trở nên Con Thiên Chúa, xứng đáng nhận lãnh ơn cứu độ từ Chúa Kitô. Chính Chúa Thánh Thần, trong bí tích rửa tội, làm cho đức tin chúng ta phát triển ngày một hơn trong đời sống Kitô hữu của mình.

Trong bí tích Thêm sức, Chúa Thánh Thần củng cố đức tin, làm cho ta trở thành môn đệ của Chúa Kitô, xứng đáng lãnh nhận Lời Thiên Chúa và loan truyền cho thế giới.

Chúa Thánh Thần còn hướng dẫn người tín hữu trong đời sống. Chính Người là “môi sinh” giúp ta hằng đến với Chúa Kitô qua những hoạt động thường nhật của mình. Chỉ khi nào ta thực sự để Chúa Thánh Thần hành động, và hành động theo sự thúc giục của Chúa Thánh Thần, ta mới được kết hợp và hiệp thông hoàn toàn với Chúa Kitô.

Vậy chân lý đích thật là Chúa Kitô. Nhờ Chúa Thánh Thần, chúng ta biết và đến được với chân lý.

2. Chúa Thánh Thần giúp ta lãnh hội Lời Chúa Kitô.

“Nhưng Đấng Bàu Chữa, Thánh Thần Cha sẽ sai đến nhân danh Ta, chính Ngài sẽ dạy các ngươi mọi sự, và sẽ nhắc cho các ngươi nhớ lại mọi điều Ta đã nói với các ngươi.” (Ga 14, 26).

Chính Chúa Thánh Thần giúp Hội Thánh và từng người hiểu và sống Lời Chúa Kitô. “Ngài dạy các ngươi mọi sự và nhắc các ngươi nhớ lại.” Chính Chúa Thánh Thần làm cho Lời Chúa Kitô thấm nhập nơi tâm hồn chúng ta. Cũng chính Chúa Thánh Thần làm cho Lời đó phát triển và trổ sinh hoa trái.

3. Chúa Thánh Thần giúp ta hiệp thông với Chúa Kitô.

a. Hiệp thông trong đức tin.

Đức tin cần phải có đối tượng. Đối tượng của đức tin nơi người tín hữu là chính Thiên Chúa, là Chúa Kitô. Chính Chúa Thánh Thần làm cho ta biết đặt niềm tin trọn vẹn vào Chúa Kitô, Đấng đã được Chúa Cha sai đến. Đấng có nguồn gốc từ đời đời nơi Thiên Chúa, và có một khởi điểm khi đến trần gian. Chúa Thánh Thần giúp ta tin rằng, Đấng ấy, dù sống giữa trần gian, vẫn là Thiên Chúa.

b. Hiệp thông trong đức cậy.

Chúa Kitô cho ta biết và hứa với ta về một đời sống vĩnh cửu. Chúa Thánh Thần giúp ta, nung đốt trong tâm hồn ta niềm hy vọng và khát vọng mãnh liệt về lời hứa ấy. Người luôn luôn thôi thúc và củng cố niềm hy vọng vĩnh cửu trong ta. Bởi chính nhờ hy vọng vĩnh cửu mà ta luôn thành tâm và luôn cố gắng vươn lên nhằm hoàn thiện đời mình. Nói cách khác, Chúa Thánh Thần luôn luôn khơi dậy mãi mãi trong ta niềm hy vọng ấy.

Cuộc sống lữ hành của mỗi người là một hành trình tiến về đích của hy vọng. Trên hành trình đó, Chúa Thánh Thần giúp ta bằng cách ban ơn trợ lực, để ta đạt tới niềm hy vọng cứu độ và kết hiệp hoàn toàn với Chúa Kitô.

c. Hiệp thông trong đức ái.

Nếu không có Chúa Thánh Thần, chúng ta không thể yêu mến Thiên Chúa, yêu mến Chúa Kitô. Thánh Thần là tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con. Chính nơi Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa tự hiến và trao ban chính mình cho trần gian dưới hình thức ân huệ. Thánh Phaolô nói: “Tình yêu Thiên Chúa được đổ tràn vào lòng chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng ta.” (Rm 5, 5).

Vì là Tình yêu bản vị nơi Chúa Cha và Chúa Con, Chúa Thánh Thần “thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nhất nơi Thiên Chúa: (1Cr 2, 10). Vì thế, hơn ai hết, Chúa Thánh Thần là đấng trợ giúp ta đi vào huyền nhiệm của tình yêu Thiên Chúa cách hoàn bị nhất, tốt đẹp và chính đáng nhất.

Là tình yêu thần linh, đưa ta đi vào tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa, vì thế chính Người làm cho ta, cho toàn bộ đời sống của ta thành “mạch nước vọt lên sự sống đời đời.” (Ga 4, 14).

III. CHÚA KITÔ MẠC KHẢI VỀ THIÊN CHÚA.

1. Thiên Chúa mạc khải chính mình nơi Chúa Kitô.

Nơi Chúa Kitô, Thiên Chúa tỏ mình cách trọn vẹn và hoàn hảo. Trong Cựu ước, Thiên Chúa đã tỏ mình, nhưng sự tỏ mình ấy được bắt đầu nơi những con người được tuyển chọn.

Nơi Chúa Kitô, Thiên Chúa tỏ mình cho ta qua chính người Con duy nhất của Người. Thư Do thái khẳng định: “Đã lắm phen cùng nhiều kiểu, xưa kia Thiên Chúa đã nói với cha ông nơi các tiên tri; vào thời sau hết, tức là những ngày này, Người đã nói với ta nơi một Người Con.” (Dt 1, 1-2).

2. Chúa Kitô dạy ta biết Thiên Chúa.

Rất nhiều lần, Chúa Kitô nói về Cha: Cha là Đấng quyền năng. Chúa Kitô lãnh nhận quyền năng nơi Chúa Cha. Cha ban cho Người sự sống, ban hành động, đặt Người làm chủ ơn cứu độ của trần gian. Nhờ Chúa Cha, Chúa Kitô được đặt làm thủ lãnh và xét xử trần gian. Chính Chúa Cha đã đặt mọi sự quy phục Chúa Kitô. Trong Chúa Kitô, Chúa Cha trao ban Thánh Thần, để tiếp theo Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần phục vụ, và làm cho  ơn cứu độ do Chúa Kitô thực hiện trở nên hiện thực và hiệu quả cho trần gian.

Chúa Kitô dạy ta biết Thiên Chúa là tình yêu, là Đấng sáng tạo, là Đấng cứu độ. Vì là tình yêu, Thiên Chúa không chối từ ai, nhưng sẵn sàng tha thứ. Chính hành động sáng tạo và cứu độ cũng xuất phát từ tình yêu.

Chẳng hạn, trong dụ ngôn về Người Cha nhân hậu (Lc 15,11-32), Chúa Kitô cho thấy Thiên Chúa:

- là Thiên Chúa giàu lòng từ bi.

- là Thiên Chúa khiêm nhường.

- là Thiên Chúa yêu thương.

- là Thiên Chúa tha thứ.

- là Thiên Chúa đau khổ vì tội lỗi loài người.

- là Thiên Chúa hy vọng.

- là Thiên Chúa hạnh phúc khi loài người trở về với Người.

3. Chúa Kitô dạy ta biết Thiên Chúa là Cha của Người và là Cha chúng ta.

Nhiều lần Chúa Kitô khẳng định Thiên Chúa là Cha của Người và là Cha chúng ta. “Ta lên cùng Cha Ta cũng là Cha các ngươi, Thiên Chúa của Ta cũng là Thiên Chúa các ngươi:

Chúa Kitô dạy các môn đệ kinh Lạy Cha. Các môn đệ, trong kinh Lạy Cha, đã thực sự nhận được diễm phúc gọi Thiên Chúa là Cha, điều mà từ ngàn xưa, không ai dám gọi thế. Trong kinh Lạy Cha, Thiên Chúa trở nên gần gũi vô cùng với loài người. Từ nay họ là con Thiên Chúa và Người chấp nhận họ là con của Người.

Tuy nhiên, dù dạy các môn đệ kinh Lạy Cha, Chúa Kitô không đặt mình ngang hàng trên cùng bình diện với họ. Người phân biệt rạch ròi: “Cha Ta và Cha các ngươi.” Người là Con duy nhất của Cha, được Cha yêu thương, bằng một tình yêu hiệp nhất thâm sâu giữa Cha và Con.

Chúng ta sung sướng và hạnh phúc được gọi Thiên Chúa là Cha. Chúng ta hãy gọi tiếng “Cha” với tất cả lòng yêu mến và cố gắng sống xứng đáng với tình yêu của Cha.

4. Chúa Thánh Thần giúp ta khám phá ra khuôn mặt Thiên Chúa nơi Chúa Kitô.

a. Người là Thiên Chúa yêu thương.

Chúng ta không thể không đề cập đến vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc nhận biết Chúa Cha qua mạc khải của Chúa Kitô.

Chính Chúa Thánh Thần giúp ta nhận ra nơi Chúa Kitô, nguồn mạc khải duy nhất, tuyệt vời của Chúa Cha, khuôn mặt của chính Thiên Chúa là Đấng yêu thương tuyệt đối. Chúa Cha yêu ta, tình yêu ấy thể hiện trọn vẹn nơi Con của Người. Chính việc trao ban Người Con duy nhất cho thế gian cũng để chứng minh tình yêu ấy.

b. Người là Thiên Chúa đau khổ.

Trên thánh giá, Chúa Kitô đã thể hiện khuôn mặt đau khổ vô hạn của Thiên Chúa. Nhưng không phải chỉ trên thánh giá, Người vẫn còn đau khổ khi nhân loại vẫn không nhìn nhận Người, từ chối tình yêu của Người.

Trên thánh giá Chúa Kitô, Chúa Thánh Thần làm cho khuôn mặt của Thiên Chúa khắc sâu vào đó. Và nơi đó, Người cũng làm thể hiện nỗi đau lớn lao của nhân loại khi mang thân phận lữ hành,và khi bị tội lỗi thống trị.

c. Người là Thiên Chúa hạnh phúc.

Chúa Giêsu cho ta biết, Thiên Chúa sẽ hạnh phúc khi nhân loại trở về với Người. “Người Cha chạy lại, ông bá cổ nó mà hôn lấy hôn để.” (Lc 15, 20).

Và chính Chúa Kitô, trên thánh giá cũng thể hiện niềm vui ấy trong lời hứa với người trộm lành: “Ngay hôm nay, anh ở trên thiên đàng với Ta.” (Lc 23, 48).

Nhưng để có thể làm cho khuôn mặt tình yêu của Thiên Chúa trở thành tình yêu hạnh phúc, chính sức mạnh của Chúa Thánh Thần được ban cho ta, để ta can đảm nhận ra mình, biết thường xuyên kiểm điểm đời mình, trở về với Chúa bằng cách dâng hiến tình yêu thanh sạch của bản thân ta. Cũng chính khi làm cho ta trở thành món quà hạnh phúc của Thiên Chúa, chính lúc ấy, Chúa Thánh Thần là Đấng đổi mới: đổi mới lòng ta, đổi mới Hội Thánh, đổi mới xã hội để tất cả nên tinh ròng hơn, xứng đáng với tình yêu của Thiên Chúa.

5. Qua Chúa Kitô, chúng ta đến với Thiên Chúa.

Chúng ta tin Chúa Kitô, cũng là tin Thiên Chúa.

Thiên Chúa ban mệnh lệnh của Người cho Chúa Kitô, để Chúa Kitô truyền lại cho chúng ta. Khi tuân giữ mệnh lệnh đó, chúng ta tiến gần tới Thiên Chúa. Chỉ khi ta làm môn đệ Chúa Kitô, ta mới xứng đáng làm con Thiên Chúa. Kết hiệp với Chúa Kitô là kết hiệp với Thiên Chúa. Xa Chúa Kitô là xa Thiên Chúa. Yêu mến Chúa Kitô là yêu mến Thiên Chúa.  Chính khi ta lưu lại trong Chúa Kitô, lưu lại trong Lời Người, là chính lúc Cha được vinh hiển: “Nơi điều này, Cha Ta được vinh hiển, là các ngươi sai hoa kết quả, và nên môn đệ của Ta.”(Ga15,7- 8).

IV. KẾT LUẬN:

THIÊN CHÚA CHÚNG TA LÀ THIÊN CHÚA DUY NHẤT.

1. Người là Thiên Chúa duy nhất, Đấng Sáng Tạo.

Người sáng tạo bằng Lời. Nhời Lời mà mọi sự được tạo thành từ hư không. Người cũng ban Thần Khí Người, để nhờ đó, mọi loài có sức sống.

2. Người là Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ.

Khi loài người sa ngã, Thiên Chúa đã không hủy bỏ loài người và vũ trụ mà Người dựng nên. Chính Người đã cứu độ và cứu độ thật sự bằng tình yêu.

3. Người là Thiên Chúa, Đấng Thánh Hóa.

Thiên Chúa không ngừng bảo vệ, yêu thương loài người. Trong thế giới hôm nay, bàn tay quan phòng của Người không ngừng hoạt động. Thiên Chúa hoạt động để thánh hóa và đưa dẫn loài người bước vào đời sống thần linh của Người.

  4. Mãi Mãi, Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa duy nhất.

Giáo lý về Thiên Chúa duy nhất là giáo lý căn bản và quan trọng của Kitô giáo. Loài người chỉ nhờ một mình Người để được sống và được cứu độ.

*******

Nhờ Chúa Thánh Thần, ta đến với Chúa Kitô. Nhưng nhờ Chúa Kitô, ta mới biết được Thiên Chúa. Đó là đức tin của Hội Thánh. Đó là sự sống và sức sống của chúng ta. Suốt hai ngàn năm qua, Hội Thánh đã không làm gì khác hơn là tôn thờ, yêu mến, tin kính và rao truyền chân lý ấy. Qua chân lý ấy, trong khi rao giảng, Hội Thánh làm sáng lên tình yêu vô cùng của Thiên Chúa, để mời gọi mọi người đến với Người, và sống cho nhau. Nếu gọi Chúa Thánh Thần là: “môi sinh,” thì các nào đó, ta cũng có thể gọi Hội Thánh là “môi trường.” Vì đó là nơi để ơn Chúa tuôn đổ, và cũng là “môi trường” để loài người tiếp cận và sống trong ơn Chúa

Trở về Muc Lục

BA NGÔI THIÊN CHÚA TUY ĐA DẠNG
NHƯNG HIỆP NHẤT

Nguyễn Chính Kết

    1. Ba Ngôi khác biệt nhưng hiệp nhất thành một Thiên Chúa

          Một trong những đặc điểm khiến Kitô giáo khác với một vài tôn giáo hữu thần khác, đó là quan niệm Thiên Chúa có ba ngôi. Trong khi Hồi giáo chẳng hạn, quan niệm Thiên Chúa chỉ có một ngôi duy nhất. Ba ngôi Thiên Chúa tuy không giống nhau, nhưng hoàn toàn bằng nhau. Nói cách khác, giữa Ba Ngôi, có sự khác biệt và đa dạng, nhưng lại có sự bình đẳng tuyệt đối. Thật vậy, trong Ba Ngôi, mỗi Ngôi có một đặc tính riêng, một nhiệm vụ riêng phù hợp với bản chất riêng của mình. Ngôi Nhất là Cha: là Đấng Sáng Tạo, tạo dựng nên vũ trụ muôn loài. Ngôi Hai là Con: là Lời, là phát ngôn viên của Chúa Cha, cũng là Đấng Cứu Chuộc vũ trụ. Ngôi Ba là Thánh Thần: là tình yêu giữa Ngôi Cha và Ngôi Con, cũng là Đấng thánh hóa, đổi mới muôn loài.

          Tuy khác biệt và đa dạng, nhưng Ba Ngôi luôn yêu thương nhau và hiệp nhất với nhau thành một Thiên Chúa duy nhất, chứ không phải là ba Thiên Chúa khác nhau. Vì thế, Ba Ngôi chính là một mẫu gương tuyệt vời cho nhân loại về sự hiệp nhất trong đa dạng.

     2. Ba Ngôi khác biệt và đa dạng đã tạo dựng một vũ trụ cũng đầy khác biệt và đa dạng

Do khác biệt và đa dạng từ bản tính, Ba Ngôi cũng tạo dựng nên một vũ trụ mang đầy dấu ấn bản tính của mình là đa dạng và khác biệt. Thật vậy, vũ trụ có hàng tỷ tỷ tinh tú, khác nhau đủ kiểu: về tính chất, hình dạng, về cấu tạo, độ lớn…Vạn vật, chỉ riêng trên trái đất ta đang sống, đã có hàng tỷ loài khác nhau. Riêng loài người – là một trong muôn loài của vũ trụ – cũng có nhiều chủng tộc, mầu da, ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo, quốc gia… khác nhau. Ngay trong cùng một chủng tộc, một tôn giáo hay một gia đình, con người cũng khác biệt nhau: «bá nhân bá tính». Thiên Chúa muốn duy trì sự khác biệt và đa dạng ấy, vì nó làm cho vũ trụ luôn phong phú, muôn màu muôn vẻ.

          Ta thử tưởng tượng theo chiều ngược lại xem: nếu các loại hoa trên thế giới được thống nhất để chỉ thành một loại hoa duy nhất, theo mẫu một loại hoa đẹp nhất, diễm lệ nhất hiện nay, thì thế giới sẽ đẹp hơn, phong phú hơn, hay sẽ đơn điệu và buồn thảm hơn? Nếu các loại khác trên thế giới cũng đều được thống nhất tương tự như thế, thì thế giới sẽ ra sao? tốt hơn hay dở hơn? Xét thế để ta biết đường lối của Thiên Chúa thế nào: thích khác biệt hay thích đồng dạng? Ta phải theo hướng nào mới phù hợp với đường lối Ngài?

     3. Khác biệt là để bổ túc lẫn nhau hầu cùng tồn tại và phát triển, chứ không phải để tranh đấu với nhau một mất một còn

          Sách Sáng Thế viết: «Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ» (St 1, 27). Câu này có cấu tạo về lý luận tương tự như: «Ông A sinh ra một đứa con giống hệt ông, nó là hình ảnh của ông, nó rất trắng trẻo và đẹp trai». Đọc câu này, ai cũng có thể kết luận: như vậy là ông A. cũng «rất trắng trẻo và đẹp trai», mặc dù câu trên không trực tiếp nói ông A như thế. Cũng vậy, cứ theo ngữ cảnh của câu Kinh Thánh trên, nếu hình ảnh của Thiên Chúa là con người mà có nam có nữ, thì ắt hẳn Thiên Chúa cũng có nam có nữ, mặc dù Kinh Thánh không trực tiếp nói như thế. Vì hình ảnh của Ngài – là con người – được Kinh Thánh mô tả thế nào thì chính Ngài ắt hẳn cũng tương tự như vậy. Người và ảnh ắt phải giống nhau, nếu không thì ảnh không còn là ảnh nữa. Một số nhà thần học có khuynh hướng cho rằng Ngôi Ba Thánh Thần có nhiều nữ tính, nên có thể Ngài là nữ. Đây chỉ là một tư tưởng thần học trong Giáo Hội chưa được khai thác và bàn luận nhiều: tuy chưa được Giáo Hội xác nhận, nhưng không phải là kém hợp lý.

          Không chỉ con người mới có nam có nữ, các loài động vật khác cũng có đực có cái, có trống có mái, v.v… Ngay cả vật chất cũng được phân thành âm dương: nguyên tử có âm điện tử và dương điện tử, các hợp chất chẳng hạn như muối ăn (NaCl) cũng được cấu tạo bởi phần dương Na+ và phần âm Cl. Trong vũ trụ và đời sống con người, âm dương, nam nữ… tuy khác biệt nhau, mâu thuẫn nhau, nhưng không phải là để đấu tranh đến độ một mất một còn, mà để cả hai cùng bổ túc cho nhau hầu cùng tồn tại và phát triển. Trong gia đình, vợ chồng khác biệt nhau không phải để xung đột nhau, để người mạnh ép người yếu phải nên giống mình, mà để bổ túc cho nhau, để cần lẫn nhau, và để yêu thương nhau, hiệp nhất với nhau nên một. Sự khác biệt và đa dạng trong thế giới và nhân loại quả là cần thiết và ích lợi tương tự như vậy.

            4. Chiều hướng phản tự nhiên của con người

     Nhưng con người – một khi nắm quyền hành trong tay – thường bị cám dỗ muốn thống nhất tất cả theo khuôn mẫu của mình, là khuôn mẫu mà mình cho là hay là đẹp nhất. Họ muốn «kéo cẳng vịt ra cho dài, thu cẳng cò lại cho ngắn,»để biến tất cả thành đồng dạng. Vì thế, họ gây nên bao đau khổ cho con người. Đó là khuynh hướng chung của những chế độ độc tài, của những tôn giáo cuồng tín… Hiện nay, nhiều nhà thần học Á châu nhận ra rằng ngay cả tình trạng đa tôn giáo trên thế giới cũng có thể là chính ý muốn của Thiên Chúa. Nếu Thiên Chúa chỉ muốn Kitô giáo là tôn giáo duy nhất trên thế giới, ắt Ngài đã để Đức Giêsu sinh ra trước các giáo chủ của những tôn giáo khác, để tranh thủ truyền đạo Kitô giáo trước. Vì nếu người ta đã tin và hiểu rõ sự hợp lý của một tôn giáo nào rồi, thì rất khó và rất ít khi họ theo một tôn giáo khác. Nhưng Thiên Chúa đã không làm thế, mà để Đức Giêsu xuống thế sau các vị giáo chủ khác cả hàng mấy trăm năm. Nhiều nhà thần học cũng nhận ra rằng suốt mấy thập niên qua, dân số của Kitô giáo (gồm Công giáo, Tin Lành, Chính Thống…) trên thế giới ngừng ở tỷ lệ 1/3 và tỷ lệ ấy có nguy cơ giảm đi chứ khó có thể tăng lên. Nhiều nhà tư tưởng cũng nhận ra rằng con người càng cố thống nhất mọi người, cố ép mọi người đi theo chiều hướng phe phái mình, thì càng tạo nên chia rẽ, và càng gây nên đau khổ, tai họa cho con người.

Nói chung, con người cứ muốn thống nhất mọi sự, muốn mọi sự trở nên đồng dạng giống như mình, như tập thể hay bè phái của mình, và sẵn sàng cưỡng ép mọi người theo mục đích ấy. Điều này rõ ràng ngược lại tự nhiên và phản lại đường lối của Thiên Chúa.

     5. Hiệp nhất khác với thống nhất

  Thiên Chúa của chúng ta có Ba Ngôi. Ba ngôi tuy khác biệt nhau, nhưng lại hiệp nhất thành một Thiên Chúa duy nhất. Sự hiệp nhất này rõ ràng không đòi hỏi phải hy sinh sự khác biệt giữa Ba Ngôi. Trái lại, chính vì tuyệt đối tôn trọng sự khác biệt và bình đẳng của nhau mà Ba Ngôi có thể hoàn toàn hiệp nhất với nhau nên một. Sự hiệp nhất trong đa dạng này khác hẳn với sự thống nhất trong đồng dạng mà con người thường hay theo đuổi.

  Hiệp nhất  (trong đó, chữ «hiệp» giả thiết có nhiều phần tử khác biệt nhau) là tập hợp những con người hay tập thể khác nhau, có chủ trương khác nhau thành một tập thể lớn có một đường hướng chung, nhưng vẫn tôn trọng và duy trì sự khác biệt giữa nhau. Còn thống nhất dẹp bỏ tất cả những khác biệt để trở nên một khối đồng nhất, đồng dạng. Như vậy, hiệp nhất trong đa dạng thì tôn trọng tính tự nhiên, phù hợp với ý muốn và bản tính của Thiên Chúa, nên dễ thực hiện và tạo được sự hòa hợp. Còn thống nhất trong đồng dạng thì phản lại tự nhiên, phản lại ý muốn và bản tính của Thiên Chúa, nên thường có tính áp đặt, tạo chống đối, gây chia rẽ, và làm cho nhiều người đau khổ.

  Thiết tưởng dịp lễ Chúa Ba Ngôi là dịp để mọi Kitô hữu chiêm ngắm mẫu gương hiệp nhất trong đa dạng của Ba Ngôi, để bắt chước và áp dụng gương ấy trong gia đình, Giáo Hội, xã hội và trong cả cộng đồng nhân loại. Thiên Chúa luôn luôn muốn chúng ta hiệp nhất (Ut sint unum – Ga 17,11) mà vẫn duy trì sự khác biệt và đa dạng, chứ không muốn chúng ta phải trở thành đồng dạng. Vả lại đồng dạng không hẳn đã dẫn tới hiệp nhất. Người xưa nói: «Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hòa»: người quân tử vẫn có thể sống hòa hợp yêu thương nhau và thành một với nhau cho dù họ rất khác biệt nhau; còn kẻ tiểu nhân, tuy giống nhau, đồng dạng với nhau, nhưng vẫn không thể sống hòa hợp với nhau. Như vậy nghĩa là không phải mọi người cứ phải tin giống y như nhau, chủ trương giống y như nhau, thậm chí trong từng chi tiết, thì mới hiệp nhất với nhau được. Bí quyết của sự hiệp nhất nằm trong việc tôn trọng tính khác biệt và đa dạng chứ không nằm trong sự đồng dạng về niềm tin.

          Trong nhân loại, vẫn luôn luôn có những người – dù không nhiều – tuy không cùng một niềm tin tôn giáo, không cùng một lập trường chính trị, không cùng chủ trương về một số lãnh vực nào đó, nhưng họ vẫn có thể yêu thương nhau, đoàn kết với nhau, hy sinh cho nhau, để cùng thực hiện một mục đích chung. Công bằng và khách quan mà nói: chính những người này đã thật sự sống tinh thần yêu thương và hiệp nhất của Đức Giêsu. Thiết tưởng tinh thần Phúc Âm của Đức Kitô phải giúp con người đạt được sự hiệp nhất như thế. Và đó chính là sự thách đố của tinh thần Kitô giáo trong một nhân loại đầy khác biệt và mâu thuẫn này. Xin Thiên Chúa giúp chúng ta noi gương Ba Ngôi tuy khác biệt và đa dạng nhưng vẫn yêu thương nhau và nên một với nhau

Trở về Muc Lục

THÁNG HOA – DÂNG KÍNH MẸ MARIA

 KINH LẠY NỮ VƯƠNG TRONG ĐỜI TÔI

 

Gm. Bùi Tuần

Thánh vịnh có một đoạn tôi rất thích. Thích từ lâu, nhưng lúc này càng thích hơn. Vì nó như đoạn riêng cho tuổi già của tôi:

   "Từ độ thanh xuân, lạy Thiên Chúa,
            con đã được Ngài thương dạy dỗ.
            Tới giờ này, con vẫn truyền rao vĩ nghiệp của Ngài.
            Cả lúc con già nua, da mồi tóc bạc,
            lạy Thiên Chúa, xin đừng bỏ rơi con,
            để con tường thuật quyền năng của Chúa
            cho thế hệ này được rõ,
            và dũng lực của Ngài
            cho thế hệ mai sau.”
(Tv 71, 17-18).

Khi cầu nguyện đoạn Thánh vịnh này, tôi nhìn xuyên suốt đời tôi. Thời còn trẻ, tôi được Chúa thương dạy dỗ. Lúc về già, tôi vẫn được Chúa dạy dỗ và được Chúa thương giúp nhớ lại.

Để tôi rao truyền và tường thuật.

Không phải rao truyền và tường thuật bất cứ sự gì. Nhưng chỉ những gì Chúa đã làm cho tôi. Mặc dầu thế, tôi cũng phải có lựa chọn. Lần này lựa chọn của tôi để rao truyền và tường thuật là một việc đạo đức rất nhỏ. Việc rất nhỏ này là đọc một kinh bình dân, rất xưa. Đó là kinh "Lạy Nữ Vương."

Tôi thuộc kinh đó từ còn nhỏ. Tôi đọc kinh đó, mỗi ngày ít là một lần. Nhất là những lúc gặp khó khăn.

Những lúc gặp khó khăn, tôi vừa đọc kinh ấy, vừa suy gẫm từng câu, từng lời. Suy gẫm đưa tới cảm nghiệm. Cảm nghiệm thiêng liêng này ví như những khám phá. Những khám phá này chính là những điều Chúa dạy dỗ trong nội tâm tôi. Có những dạy dỗ nhắm vào bản thân riêng tư.

Có những dạy dỗ nhắm tới lợi ích chung. Những dạy dỗ loại này tính ra khá nhiều. Dù dạy dỗ thuộc loại nào, tôi cũng muốn rao truyền và tường thuật, như thánh vương Đavít đã gợi ý trong Thánh Vịnh. Tất nhiên việc tôi rao truyền và tường thuật ở đây sẽ vắn gọn trong một số giới hạn.

I. Lạy Nữ Vương

Ban đầu, tôi đọc lời "Lạy Nữ Vương" như đọc một lời thuộc lòng. Nhưng dần dần, tôi đọc với đôi chút thắc mắc ngây ngô.

Tôi nghĩ vẩn vơ lời chào kính đó không do tôi tự phát. Nhưng là lời do Hội Thánh soạn ra. Như vậy, phải chăng đó chỉ là một công thức. Tôi lại nghĩ thêm: Tại sao tôi lại được phúc nói với một Nữ Vương? Nữ Vương là một nhân vật cao xa. Cùng lắm, mình được chào kính Ngài đã là quá đủ. Chứ làm sao Ngài có thể nghe được những khát vọng, những đau buồn, và những phấn đấu nội tâm của tôi.

Những thắc mắc đó chỉ thoáng qua, phảng phất. Dần dần chúng biến tan. Tôi được trả lời. Người trả lời là chính Đức Mẹ. Mẹ trả lời không bằng lý lẽ, nhưng bằng tiếp cận.

Những tiếp cận này đều vô hình, nhưng rất gần gũi. Tôi cảm được lời "Lạy Nữ Vương" của tôi như những lời chào hồn nhiên nói với Mẹ. Mẹ đến thăm tôi và ở bên tôi. Phải nói Đức Mẹ là Nữ Vương theo một nghĩa đặc biệt. Ngài là Nữ Vương của trái tim tôi.

Trong trái tim tôi, Nữ Vương dịu hiền dạy tôi những điều kiện căn bản để tôi:

·       nên người,

·       nên con Chúa,

·       nên môn đệ Đức Kitô,

·       nên mục tử được sai đi.

Những điều kiện căn bản đó là: "Lắng nghe thánh ý Chúa, thực thi thánh ý Chúa.” Để có được những điều kiện như trên, Nữ Vương của trái tim tôi kêu gọi tôi quan tâm đến cầu nguyện và đón nhận ánh sáng của Chúa.

·       để có thể đọc được ý Chúa trong các biến cố,

·       để biết phân định hành động nào sẽ dẫn đến Chúa, và hành động nào sẽ dẫn xa Chúa,

·       để biết tính toán nào là do Chúa Thánh Thần soi sáng, tính toán nào không phải do Người,

·       để biết nhận ra trách nhiệm của mình, và biết gánh mọi hậu quả của việc mình làm do ý thức trách nhiệm,

·       để biết lựa chọn những quyết định mang tính cách cụ thể.

Như vậy, đối với tôi, Đức Mẹ Nữ Vương là Đấng dạy tôi con đường "Xin Vâng." Trên con đường đó, tôi phải đi từng bước. Các bước đó là:

Mỗi ngày

·       phải suy gẫm Phúc Âm,

·       phải ý thức rõ bổn phận của mình,

·       phải cầu nguyện Chúa Thánh Thần,

·       phải tham chiếu vào đặc sủng Chúa trao,

·       phải nắm bắt bề sâu thời sự,

·       phải noi gương Nữ Vương và các thánh.

Xin phép đưa ra một ví dụ. Tôi chọn khẩu hiệu cho đời Giám mục của tôi là: "Điều răn mới." Tức lời Chúa Giêsu trối lại: "Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau; các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con." (Ga 13, 34).

Điều răn yêu thương luôn là yếu tố căn bản của đạo. Nhưng đối với thời cuộc sau 30/4/1975, nó được coi là một nhu cầu bức xúc.

Đức Mẹ Nữ Vương dạy tôi chọn khẩu hiệu đó, như chọn một con đường sống Phúc Âm, khi lịch sử chiến tranh đầy hận thù vừa kết thúc.

Đổi hận thù sang yêu thương, thực quá khó. Riêng nơi tôi, thao thức chất thêm cao mỗi ngày. Luôn luôn phải tỉnh thức để phân định. Mọi lựa chọn trên con đường yêu thương đều có thánh giá.

Nhưng Đức Mẹ Nữ Vương dạy tôi: Điều cần nhớ khi chọn con đường sống Phúc Âm hợp với thời cuộc khó khăn, không phải là chọn con đường dễ, mà là chọn con đường đúng. Rồi luôn phải can đảm đi trên đó, mặc dù gặp khó khăn này đến khó khăn khác.

Qua những điều Nữ Vương Maria dạy dỗ, tôi hiểu Đức Maria là Nữ Vương các tâm hồn. Một Nữ Vương âm thầm trong một vương quốc âm thầm, rộng lớn bao la đầy thương yêu. Nữ Vương các tâm hồn giúp các tâm hồn thực thi ý Chúa, để mở rộng Nước Chúa, và để đi về với Chúa.

Nữ Vương luôn dạy tôi là: Biết sống đạo, nhất là biết hướng dẫn sống đạo trong thời đại này, trên Đất Nước này, thì rất cần đức khôn ngoan.

Đạo đức mà thôi không đủ. Trí thức mà thôi cũng không đủ. Nhưng phải đạo đức và thông hiểu trong tâm trí khôn ngoan. Xin nhấn mạnh, khôn ngoan nói đây là một nhân đức, một đặc sủng do Chúa Thánh Thần ban, vì lợi ích chung. Lạy Nữ Vương, xin luôn dạy dỗ, uốn nắn con.

II. Mẹ Nhân Lành

Lời "Mẹ nhân lành" tự nhiên đưa hồn tôi vào một tư thế gần gũi thân mật. Chính vì vậy, mà tôi hay dừng lại, để kể lể.

Thí dụ tôi hay tỉ tê:

- Xưa, Mẹ đã sống giữa nhóm các môn đệ yếu đuối. Người thì chối Chúa. Người thì bán Chúa. Người thì bỏ Chúa để trốn thoát thân. Nhưng Mẹ đã rất nhân lành với họ. Nay, con và bao môn đệ còn yếu đuối hơn họ. Xin Mẹ nhân lành thương đến chúng con, nhất là con.

- Xưa, Mẹ đã chứng kiến cảnh bao người tội lỗi thuộc đủ mọi giai cấp đạo đời, đã góp phần vào việc đóng đinh Chúa Giêsu. Nhưng Mẹ đã rất nhân lành lặng lẽ đau khổ đứng bên chân thánh giá, để lập công cứu họ khỏi án phạt đời đời. Nay, bao người đủ mọi giai cấp đạo đời cũng lỗi lầm không kém. Cả con nữa. Xin Mẹ nhân lành thương đến chúng con.

- Xưa, Mẹ đã sống giữa những người nghèo hèn, cô đơn, túng thiếu. Mẹ đã tỏ ra rất nhân lành, bằng thương cảm và chia sẻ cuộc sống nghèo của họ. Nay, con cũng đang sống bên những người dân nghèo, bệnh nạn, cô đơn. Xin Mẹ nhân lành thương đến thăm họ. Xin giúp con và các người thiện chí biết theo gương Mẹ mà biết thương cảm và chia sẻ phần nào số phận của họ.

- Xưa, Mẹ đã trải qua cảnh bị loại trừ, bị xua đuổi, phải trốn tránh. Nhưng Mẹ luôn giữ được tâm hồn nhân hậu và thái độ ôn tồn lặng lẽ. Nay, con và bao môn đệ Chúa nhiều khi bị loại trừ, bị nghi ngờ, phải nhục nhã. Xin Mẹ nhân lành thương giúp sức cho chúng con, kẻo chúng con vấp phạm.

Tôi kể lể với Mẹ nhân lành, cho lòng mình vơi đi những trăn trở u sầu. Một lúc nào đó, thường là bất ngờ, Mẹ nhân lành cho tôi nếm được chút tình yêu nhân lành của Mẹ.

Khi sự nếm được đó đến độ cao, nó trở thành tình yêu toả sáng. Nhờ ánh sáng ấy, tôi thấy tình yêu nhân lành của Mẹ gồm ba yếu tố:

1.    Một là tình yêu của Chúa dành cho Mẹ,

2.    Hai là tình yêu của Mẹ dâng lên Chúa,

3.    Ba là tình yêu của Mẹ dành cho tôi và cho mỗi người.

Cả ba yếu tố đó làm nên một thực tại. Thực tại này giống như một khối lửa tình yêu. Có phần mang tính chất tự nhiên. Có phần mang tính chất siêu nhiên.

Nhiều người cũng nhân lành. Nhưng nếu thiếu ơn siêu nhiên, họ không thể tha thứ được như Mẹ nhân lành. Tôi có chút kinh nghiệm đó, khi sự nhân lành đòi tha thứ và yêu thương những kẻ ác độc với mình.

Với những kinh nghiệm như thế, tôi được Mẹ nhân lành cho thấy: Nhân lành như Mẹ nhân lành là một dấu chỉ dồi dào ơn Chúa. Đối với con người hôm nay, thái độ nhân lành như thế sẽ là một khí cụ truyền giáo. Dấu chỉ đó sẽ là một mời gọi dịu dàng hướng về Nước Trời.

Nhân lành cũng sẽ được coi là quan trọng cho người mục tử, khi ý thức rằng Chúa Giêsu là mục tử nhân lành (x. Ga 10,14) làm chứng cho Thiên Chúa là Cha nhân lành giàu lòng thương xót (x. Ep 2,4). Chúa Giêsu cũng là con Đức Mẹ nhân lành. Người đề cao cách sống của người Samaria tốt lành (x. Lc 10,30-37).

Tôi sẽ rất lạc lõng, nếu giả sử tôi có trí thức cao, quyền chức lớn, nhưng lại thiếu nhân lành. Nhân lành ví như một bản nhạc êm đềm. Một bản nhạc hay phải do nhiều yếu tố, như nhạc, lời, nhịp điệu, giọng hát, hồn nhạc. Người nhân lành cũng tương tự như thế. Nhân lành của họ gồm nhiều yếu tố: Tấm lòng, tư cách, việc làm, lời nói, giọng nói vv... Xin Mẹ dạy con biết sống nhân lành một cách xứng hợp, để làm chứng cho Chúa nhân lành.

III. Làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy

 Thú thực là, có những ngày thuộc tuổi thơ, khi đọc câu "Đức Mẹ làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy," tôi chỉ nghĩ chung chung đến những gì làm cho mình được sống khoẻ mạnh, được vui vẻ, được hy vọng. Cả đến thời thanh niên, ý nghĩa chung chung đó vẫn tồn tại.

Nhưng, khi đã làm linh mục, tôi hay suy gẫm Phúc Âm về Lời Chúa kêu gọi hãy trở về. Trở về mới thực sự được sống, được vui, được cậy. Tôi dần dần cảm thấy: Trở về mà Chúa muốn nhất là trở về với Đức Kitô. Vì "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống." (Ga 14,6).

Những lần dâng lễ ở hang Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức, tôi tự nhiên được lôi cuốn đến nội dung bài lễ dành cho các cuộc hành hương Lộ Đức. Nội dung đó chất chứa tâm tình cầu xin ơn trở về. Ơn trở về, mà tôi cảm nhận được trong những thánh lễ đó là: Chính Đức Mẹ cầu bầu, mà tôi được ơn trở về với Đức Kitô.

Đức Giêsu làm cho tôi được sống, được vui, được cậy. Tôi được dẫn đến Đức Kitô nhờ Đức Mẹ. Theo ý nghĩa đó, Đức Mẹ đang là Đấng làm cho tôi được sống, được vui, được cậy. Với ơn trở về đó, tôi được sống ơn gọi người môn đệ Chúa một cách trưởng thành hơn.

Người ở bên tôi. Hay nói đúng hơn, Người ở trong tôi. Người cho tôi được sự tự do. Nhưng Người ban ơn, để tôi biết dùng sự tự do của tôi, để cộng tác vào kế hoạch cứu độ của Người.

Những ước muốn và thích thú của tôi cũng rất mở về nhiều ngả. Nhưng bằng cách này hoặc cách khác, Đức Mẹ giúp tôi chế ngự, điều chỉnh trong tiết độ. Mẫu gương phải theo là nên giống Đức Kitô. Phải sống theo gương của Người, theo lời của Người.

Càng ngày, tôi càng kinh nghiệm thấy Người là Đấng ban cho tôi sự sống dồi dào, mặc dù trong những hoàn cảnh xem như đã cạn sự sống.

Càng ngày, tôi càng kinh nghiệm thấy Người là Đấng đem lại cho tôi nguồn vui thiêng liêng, mặc dầu trong những trường hợp đầy thử thách.

Càng ngày, tôi càng kinh nghiệm thấy Người là Đấng đem lại cho tôi nguồn hy vọng, mặc dầu mọi phía đều như những ngõ cụt u tối hãi hùng.

Hôm nay, những ngày cuối đời, khi nhìn lại đời mình, tôi thấy Đức Kitô, mà Đức Mẹ đã dẫn tôi đến, chính là Đấng cứu độ của tôi. Người đã cứu sự sống của tôi. Người đã cứu các niềm vui của tôi. Người đã cứu các hy vọng của tôi. Nhờ đó, tôi khỏi đi lạc. Mà nếu đi lạc, thì biết trở về. Để luôn biết sống trọn vẹn Tin Mừng là chính Đức Kitô, trong hiện tại hôm nay và giây phút bây giờ.

Thực vậy, hằng ngày và từng giờ, nhờ Đức Kitô, tôi cảm được sự phong phú của Lời Chúa, sự ăn khớp nhịp nhàng của các việc xảy ra thuộc chương trình cứu độ.

Hằng ngày và từng giờ, nhờ Đức Kitô, tôi thấy được chút ánh sáng, dù trong những trường hợp làn sóng khổ đau tăm tối tràn vào đời tôi.

Sự sống, sự vui, sự cậy nhiều khi không đến với tôi vội vã ồn ào, nhưng đến một cách bất ngờ, ngay cả qua những người nghèo khổ, bệnh tật, vô danh.

Sự sống, sự vui, sự cậy cũng nhiều khi ở lại trong tôi, khi tôi bắt chước Đức Mẹ biết âm thầm giữ kỹ các kỷ niệm trong lòng để suy gẫm (x. Lc 2,51).

Lạy Mẹ, xin cho con biết sống, biết vui, biết hy vọng theo gương Mẹ. Sống một cách bình thường mà không tầm thường. Vì luôn có Chúa Giêsu ở cùng con.

IV. Thân lạy Mẹ, chúng con, con cháu Eva, ở chốn khách đày, kêu đến cùng Bà.  Chúng con ở nơi khóc lóc, than thở kêu khấn Bà thương.

Chúng con ở nơi khóc lóc, than thở kêu khấn Bà thương. Trong kinh "Lạy Nữ Vương", những lời trên đây đã gợi ý cho tôi rất nhiều. Gợi ý quan trọng nhất là nhìn vào hoàn cảnh của chính mình. Gợi ý đó lại càng sâu, khi Đức Mẹ thương soi sáng.

Theo Kinh Thánh, tôi cũng như mọi người đều xuất thân từ tổ tiên Eva, một người phụ nữ mang tội và bị kết án. Thế gian chung cho mọi người là chốn khách đày, nơi khóc lóc. Đó là sự thực chung.

Nơi tôi, ngoài sự thực chung đáng buồn đó còn nhiều cảnh lưu đày, và nơi khóc lóc khác, đó là những sự thực cho riêng tôi. Có nhiều loại cảnh lưu đày.

Có nhiều loại nơi khóc lóc. Đức Mẹ thương kéo tôi quan tâm đến một loại cách riêng. Loại đó là tình trạng tha hoá. Tha hoá nói đây là mất đi căn tính người môn đệ Chúa.

Theo bề ngoài, một người vẫn được coi là mang chức thánh này, tước đạo đức kia. Nhưng bên trong, họ đã đánh mất căn tính đó rồi. Lòng họ đã tục hoá. Họ sống trong cảnh như bị Chúa lưu đày. Tình trạng của họ là nơi họ đáng phải khóc lóc, mà họ không biết. Cái tôi của họ không có sự thực. Cái tôi đó đúc kết nhặt nhạnh từ những lời xã giao.

Cái tôi đó cũng có thể tạo nên do những hoang tưởng về mình. Cái tôi đeo mặt nạ. Mặt nạ vay mượn vẻ đẹp ở những y phục, lễ nghi. Cái tôi nói là thuộc Phúc Âm, nhưng lại sống xa Phúc Âm.

Đức Mẹ rất buồn với cảnh tha hoá đó. Buồn nhất là cảnh lưu đày đó lại được bình thường hoá và cơ chế hoá. Để sống an tâm giả. Đối với người khác và đối với lòng mình.

Nhưng tôi thấy, một khi chúng ta biết mình đang bị đày vào cảnh tha hoá, rồi biết khiêm tốn kêu cầu Đức Mẹ, thì Đức Mẹ sẽ cứu ta.

Sự cứu này thường không dễ. Vì việc tha hoá, khi đã trở thành một thói quen, một nếp sống, một tình trạng, thì bao giờ nó cũng bị kéo níu bởi nhiều người cùng tha hoá như mình, và bao giờ nó cũng được hỗ trợ bởi thế gian và ma quỷ. Vì thế, phải cầu nguyện nhiều, phấn đấu nhiều và hy vọng nhiều vào ơn phục sinh.

Nhất quyết bỏ đi các thứ mặt nạ. Có những mặt nạ đẹp, gây được nhiều lời khen, nhưng sẽ phải trả giá bằng nhiều tai hoạ.

Nếu tôi tha hoá, tôi thất bại về đường đạo đức, thì tôi phải khiêm tốn nhận lỗi. Tôi không đẩy trách nhiệm sang ai. Tôi nhận tội mình. Tôi dâng những nước mắt ăn năn sám hối cho Chúa, qua Đức Mẹ. Điều quan trọng tôi nên nhớ ở đây là: Khi đi tìm Chúa, tôi đừng bao giờ mang mặt nạ đạo đức.

Trong đời sống thiêng liêng, nhiều khi không phải tôi đi tìm Chúa, mà là chính Chúa đi tìm tôi. Trong những trường hợp như vậy, nếu tôi còn đeo mặt nạ đạo đức, thì chính tôi sẽ cản việc Chúa tìm kiếm tôi.

Tôi xin Đức Mẹ giúp tôi gỡ ra khỏi mặt tôi hết các thứ mặt nạ, làm tôi tha hoá. Tôi sẽ quỳ xuống đất, với con người thực của tôi, với đúng mặt thực của tôi. Tâm hồn tôi nghèo khó. Mặt tôi xấu xa. Nhưng chính vì tôi trình diện tôi với với những sự thực đó, nên tôi tin Chúa thương sẽ nhận tôi như một của lễ thờ phượng, của lễ đền tội.

Lạy Mẹ, xin cho con tránh được mọi thứ làm cho con tha hoá. Kể cả thứ tha hoá về đạo đức vì không có thực chất, không được Chúa nhìn nhận.

V. Hỡi ơi, Bà là đấng cầu bầu cùng Chúa cho chúng con,
            xin ghé mắt thương xem chúng con

Những lời "chúng con" tôi đọc, khi cầu nguyện ở đây, thường trải rộng sang mọi người, không phân biệt tôn giáo nào, không phân biệt có tín ngưỡng hay không có tín ngưỡng.

Dần dần, Đức Mẹ chữa đời sống nội tâm của tôi. Trước hết là chữa về mặt tâm lý. Tôi ý thức mình đã có một số cái nhìn hẹp hòi, bất công về những người ngoài đạo công giáo. Tôi phải sửa lại.

Tiếp đó là ý thức mình đôi lúc đã để những cảm xúc lạnh lùng dâng trào lên, theo những cái nhìn sai trái đó. Tôi phải sửa lại. Có được hai ý thức đó là bước đầu để đi vào những cái nhìn hài hoà và những tình cảm hài hoà.

Nhưng bước đầu đó cũng đã khó, càng bước thêm càng thấy khó. Nhưng Đức Mẹ cầu bầu với Chúa Thánh Thần cho tôi được nghị lực vượt khó. Đức Mẹ ghé mắt thương xem những người ấy. Xem với tình thương. Tôi cũng làm như vậy. Dần dần, tôi nhận ra nơi họ nhiều đức tính tốt, nhiều việc tốt. Không những thế, tôi nhận ra nhiều người trong họ tốt hơn nhiều người đạo tôi, tốt hơn cả tôi.

Còn nữa. Tôi gặp một số người trong họ đã tích cực giúp tôi trên đường truyền giáo. Đến một lúc, tôi bừng tỉnh, thấy mình đã có sai phạm. Nhìn đen tối về người khác là nhìn sai.

Càng lớn tuổi, nhất l