|
KINH
LẠY NỮ VƯƠNG TRONG ĐỜI TÔI
Gm.
Bùi Tuần
Thánh vịnh có một đoạn tôi rất
thích. Thích từ lâu, nhưng lúc này càng thích hơn. Vì nó như
đoạn riêng cho tuổi già của tôi:
"Từ độ thanh
xuân, lạy Thiên Chúa, con đã được
Ngài thương dạy dỗ. Tới giờ này,
con vẫn truyền rao vĩ nghiệp của Ngài. Cả lúc con
già nua, da mồi tóc bạc, lạy Thiên
Chúa, xin đừng bỏ rơi con, để con tường
thuật quyền năng của Chúa cho thế hệ
này được rõ, và dũng lực
của Ngài cho thế hệ
mai sau.”
(Tv 71, 17-18).
Khi cầu nguyện đoạn Thánh vịnh này,
tôi nhìn xuyên suốt đời tôi. Thời còn trẻ, tôi được Chúa
thương dạy dỗ. Lúc về già, tôi vẫn được Chúa dạy dỗ và được
Chúa thương giúp nhớ lại.
Để tôi rao truyền và tường thuật.
Không phải rao truyền và tường thuật
bất cứ sự gì. Nhưng chỉ những gì Chúa đã làm cho tôi. Mặc dầu
thế, tôi cũng phải có lựa chọn. Lần này lựa chọn của tôi để
rao truyền và tường thuật là một việc đạo đức rất nhỏ. Việc
rất nhỏ này là đọc một kinh bình dân, rất xưa. Đó là kinh "Lạy Nữ Vương."
Tôi thuộc kinh đó từ còn nhỏ. Tôi
đọc kinh đó, mỗi ngày ít là một lần. Nhất là những lúc gặp khó
khăn.
Những lúc gặp khó khăn, tôi vừa đọc
kinh ấy, vừa suy gẫm từng câu, từng lời. Suy gẫm đưa tới cảm
nghiệm. Cảm nghiệm thiêng liêng này ví như những khám phá.
Những khám phá này chính là những điều Chúa dạy dỗ trong nội
tâm tôi. Có những dạy dỗ nhắm vào bản thân riêng tư.
Có những dạy dỗ nhắm tới lợi ích
chung. Những dạy dỗ loại này tính ra khá nhiều. Dù dạy dỗ
thuộc loại nào, tôi cũng muốn rao truyền và tường thuật, như
thánh vương Đavít đã gợi ý trong Thánh Vịnh. Tất nhiên việc
tôi rao truyền và tường thuật ở đây sẽ vắn gọn trong một số
giới hạn.
I. Lạy Nữ
Vương
Ban đầu, tôi đọc lời
"Lạy Nữ Vương"
như đọc một lời thuộc lòng. Nhưng
dần dần, tôi đọc với đôi chút thắc mắc ngây ngô.
Tôi nghĩ vẩn vơ lời chào kính đó
không do tôi tự phát. Nhưng là lời do Hội Thánh soạn ra. Như
vậy, phải chăng đó chỉ là một công thức. Tôi lại nghĩ thêm:
Tại sao tôi lại được phúc nói với một Nữ Vương? Nữ Vương là
một nhân vật cao xa. Cùng lắm, mình được chào kính Ngài đã là
quá đủ. Chứ làm sao Ngài có thể nghe được những khát vọng,
những đau buồn, và những phấn đấu nội tâm của tôi.
Những thắc mắc đó chỉ thoáng qua,
phảng phất. Dần dần
chúng biến tan. Tôi được trả lời. Người trả lời là chính Đức
Mẹ. Mẹ trả lời không bằng lý lẽ, nhưng bằng tiếp cận.
Những tiếp cận này đều vô
hình, nhưng rất gần gũi. Tôi cảm được lời "Lạy Nữ Vương" của
tôi như những lời chào hồn nhiên nói với Mẹ. Mẹ đến thăm tôi
và ở bên tôi. Phải nói Đức Mẹ là Nữ Vương theo một nghĩa đặc
biệt. Ngài là Nữ Vương của trái tim tôi.
Trong trái tim tôi, Nữ
Vương dịu hiền dạy tôi những điều kiện căn bản để tôi:
·
nên người,
·
nên con Chúa,
·
nên môn đệ Đức Kitô,
·
nên mục tử được sai
đi.
Những điều kiện căn bản đó là:
"Lắng nghe thánh ý
Chúa, thực thi thánh ý Chúa.”
Để có được những điều kiện như trên, Nữ Vương của trái tim tôi
kêu gọi tôi quan tâm đến cầu nguyện và đón nhận ánh sáng của
Chúa.
·
để có thể đọc được ý
Chúa trong các biến cố,
·
để biết phân định hành
động nào sẽ dẫn đến Chúa, và hành động nào sẽ dẫn xa Chúa,
·
để biết tính toán nào
là do Chúa Thánh Thần soi sáng, tính toán nào không phải do
Người,
·
để biết nhận ra trách
nhiệm của mình, và biết gánh mọi hậu quả của việc mình làm do
ý thức trách nhiệm,
·
để biết lựa chọn những
quyết định mang tính cách cụ thể.
Như vậy, đối với tôi, Đức Mẹ Nữ
Vương là Đấng dạy tôi con đường "Xin Vâng." Trên con đường đó,
tôi phải đi từng bước. Các bước đó là:
Mỗi ngày
·
phải suy gẫm Phúc Âm,
·
phải ý thức rõ bổn
phận của mình,
·
phải cầu nguyện Chúa
Thánh Thần,
·
phải tham chiếu vào
đặc sủng Chúa trao,
·
phải nắm bắt bề sâu
thời sự,
·
phải noi gương Nữ
Vương và các thánh.
Xin phép đưa ra một ví dụ. Tôi chọn
khẩu hiệu cho đời Giám mục của tôi là: "Điều răn mới." Tức lời
Chúa Giêsu trối lại:
"Thầy ban cho các con một điều
răn mới là các con hãy yêu thương nhau; các con hãy yêu thương
nhau như Thầy đã yêu thương các con."
(Ga 13, 34).
Điều răn yêu thương luôn là yếu tố
căn bản của đạo. Nhưng đối với thời cuộc sau 30/4/1975, nó
được coi là một nhu cầu bức xúc.
Đức Mẹ Nữ Vương dạy tôi chọn khẩu
hiệu đó, như chọn một con đường sống Phúc Âm, khi lịch sử
chiến tranh đầy hận thù vừa kết thúc.
Đổi hận thù sang yêu thương, thực
quá khó. Riêng nơi tôi, thao thức chất thêm cao mỗi ngày. Luôn
luôn phải tỉnh thức để phân định. Mọi lựa chọn trên con đường
yêu thương đều có thánh giá.
Nhưng Đức Mẹ Nữ Vương dạy tôi: Điều
cần nhớ khi chọn con đường sống Phúc Âm hợp với thời cuộc khó
khăn, không phải là chọn con đường dễ, mà là chọn con đường
đúng. Rồi luôn phải can đảm đi trên đó, mặc dù gặp khó khăn
này đến khó khăn khác.
Qua những điều Nữ Vương Maria dạy
dỗ, tôi hiểu Đức Maria là Nữ Vương các tâm hồn. Một Nữ Vương
âm thầm trong một vương quốc âm thầm, rộng lớn bao la đầy
thương yêu. Nữ Vương các tâm hồn giúp các tâm hồn thực thi ý
Chúa, để mở rộng Nước Chúa, và để đi về với Chúa.
Nữ Vương luôn dạy tôi là: Biết sống
đạo, nhất là biết hướng dẫn sống đạo trong thời đại này, trên
Đất Nước này, thì rất cần đức khôn ngoan.
Đạo đức mà thôi không đủ. Trí thức
mà thôi cũng không đủ. Nhưng phải đạo đức và thông hiểu trong
tâm trí khôn ngoan. Xin nhấn mạnh, khôn ngoan nói đây là một
nhân đức, một đặc sủng do Chúa Thánh Thần ban, vì lợi ích
chung. Lạy Nữ Vương, xin luôn dạy dỗ, uốn nắn con.
II. Mẹ Nhân
Lành
Lời "Mẹ nhân lành" tự nhiên đưa hồn
tôi vào một tư thế gần gũi thân mật. Chính vì vậy, mà tôi hay
dừng lại, để kể lể.
Thí dụ tôi hay tỉ tê:
- Xưa, Mẹ đã sống giữa
nhóm các môn đệ yếu đuối. Người thì chối Chúa. Người thì bán
Chúa. Người thì bỏ Chúa để trốn thoát thân. Nhưng Mẹ đã rất
nhân lành với họ. Nay, con và bao môn đệ còn yếu đuối hơn họ.
Xin Mẹ nhân lành thương đến chúng con, nhất là con.
- Xưa, Mẹ đã chứng kiến
cảnh bao người tội lỗi thuộc đủ mọi giai cấp đạo đời, đã góp
phần vào việc đóng đinh Chúa Giêsu. Nhưng Mẹ đã rất nhân lành
lặng lẽ đau khổ đứng bên chân thánh giá, để lập công cứu họ
khỏi án phạt đời đời. Nay, bao người đủ mọi giai cấp đạo đời
cũng lỗi lầm không kém. Cả con nữa. Xin Mẹ nhân lành thương
đến chúng con.
- Xưa, Mẹ đã sống giữa
những người nghèo hèn, cô đơn, túng thiếu. Mẹ đã tỏ ra rất
nhân lành, bằng thương cảm và chia sẻ cuộc sống nghèo của họ.
Nay, con cũng đang sống bên những người dân nghèo, bệnh nạn,
cô đơn. Xin Mẹ nhân lành thương đến thăm họ. Xin giúp con và
các người thiện chí biết theo gương Mẹ mà biết thương cảm và
chia sẻ phần nào số phận của họ.
- Xưa, Mẹ đã trải qua cảnh
bị loại trừ, bị xua đuổi, phải trốn tránh. Nhưng Mẹ luôn giữ
được tâm hồn nhân hậu và thái độ ôn tồn lặng lẽ. Nay, con và
bao môn đệ Chúa nhiều khi bị loại trừ, bị nghi ngờ, phải nhục
nhã. Xin Mẹ nhân lành thương giúp sức cho chúng con, kẻo chúng
con vấp phạm.
Tôi kể lể với Mẹ nhân
lành, cho lòng mình vơi đi những trăn trở u sầu. Một lúc nào
đó, thường là bất ngờ, Mẹ nhân lành cho tôi nếm được chút tình
yêu nhân lành của Mẹ.
Khi sự nếm được đó đến độ
cao, nó trở thành tình yêu toả sáng. Nhờ ánh sáng ấy, tôi thấy
tình yêu nhân lành của Mẹ gồm ba yếu tố:
1.
Một là tình yêu của Chúa dành cho Mẹ,
2.
Hai là tình yêu của Mẹ dâng lên Chúa,
3.
Ba là tình yêu của Mẹ dành cho tôi và cho mỗi người.
Cả ba yếu tố đó làm nên
một thực tại. Thực tại này giống như một khối lửa tình yêu. Có
phần mang tính chất tự nhiên. Có phần mang tính chất siêu
nhiên.
Nhiều người cũng nhân
lành. Nhưng nếu thiếu ơn siêu nhiên, họ không thể tha thứ được
như Mẹ nhân lành. Tôi có chút kinh nghiệm đó, khi sự nhân lành
đòi tha thứ và yêu thương những kẻ ác độc với mình.
Với những kinh nghiệm như
thế, tôi được Mẹ nhân lành cho thấy: Nhân lành như Mẹ nhân
lành là một dấu chỉ dồi dào ơn Chúa. Đối với con người hôm
nay, thái độ nhân lành như thế sẽ là một khí cụ truyền giáo.
Dấu chỉ đó sẽ là một mời gọi dịu dàng hướng về
Nước Trời.
Nhân lành cũng sẽ được coi
là quan trọng cho người mục tử, khi ý thức rằng Chúa Giêsu là
mục tử nhân lành (x. Ga 10,14) làm chứng cho Thiên Chúa là Cha
nhân lành giàu lòng thương xót (x. Ep 2,4). Chúa Giêsu cũng là
con Đức Mẹ nhân lành. Người đề cao cách sống của người Samaria
tốt lành (x. Lc 10,30-37).
Tôi sẽ rất lạc lõng, nếu
giả sử tôi có trí thức cao, quyền chức lớn, nhưng lại thiếu
nhân lành. Nhân lành ví như một bản nhạc êm đềm. Một bản nhạc
hay phải do nhiều yếu tố, như nhạc, lời, nhịp điệu, giọng hát,
hồn nhạc. Người nhân lành cũng tương tự như thế. Nhân lành của
họ gồm nhiều yếu tố: Tấm lòng, tư cách, việc làm, lời nói,
giọng nói vv... Xin Mẹ dạy con biết sống nhân lành một cách
xứng hợp, để làm chứng cho Chúa nhân lành.
III.
Làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy
Thú
thực là, có những ngày thuộc tuổi thơ, khi đọc câu "Đức Mẹ làm
cho chúng con được sống, được vui, được cậy," tôi chỉ nghĩ
chung chung đến những gì làm cho mình được sống khoẻ mạnh,
được vui vẻ, được hy vọng. Cả đến thời thanh niên, ý nghĩa
chung chung đó vẫn tồn tại.
Nhưng, khi đã làm linh
mục, tôi hay suy gẫm Phúc Âm về Lời Chúa kêu gọi hãy trở về.
Trở về mới thực sự được sống, được vui, được cậy. Tôi dần dần
cảm thấy: Trở về mà Chúa muốn nhất là trở về với Đức Kitô. Vì
"Chính Thầy là
con đường, là sự thật và là sự sống."
(Ga 14,6).
Những lần dâng lễ ở hang
Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức, tôi tự nhiên được lôi cuốn đến nội
dung bài lễ dành cho các cuộc hành hương Lộ Đức. Nội dung đó
chất chứa tâm tình cầu xin ơn trở về. Ơn trở về, mà tôi cảm
nhận được trong những thánh lễ đó là: Chính Đức Mẹ cầu bầu, mà
tôi được ơn trở về với Đức Kitô.
Đức Giêsu làm cho tôi được
sống, được vui, được cậy. Tôi được dẫn đến Đức Kitô nhờ Đức
Mẹ. Theo ý nghĩa đó, Đức Mẹ đang là Đấng làm cho tôi được
sống, được vui, được cậy. Với ơn trở về đó, tôi được sống ơn
gọi người môn đệ Chúa một cách trưởng thành hơn.
Người ở bên tôi. Hay nói
đúng hơn, Người ở trong tôi. Người cho tôi được sự tự do.
Nhưng Người ban ơn, để tôi biết dùng sự tự do của tôi, để cộng
tác vào kế hoạch cứu độ của Người.
Những ước muốn và thích
thú của tôi cũng rất mở về nhiều ngả. Nhưng bằng cách này hoặc
cách khác, Đức Mẹ giúp tôi chế ngự, điều chỉnh trong tiết độ.
Mẫu gương phải theo là nên giống Đức Kitô. Phải sống theo
gương của Người, theo lời của Người.
Càng ngày, tôi càng kinh
nghiệm thấy Người là Đấng ban cho tôi sự sống dồi dào, mặc dù
trong những hoàn cảnh xem như đã cạn sự sống.
Càng ngày, tôi càng kinh
nghiệm thấy Người là Đấng đem lại cho tôi nguồn vui thiêng
liêng, mặc dầu trong những trường hợp đầy thử thách.
Càng ngày, tôi càng kinh
nghiệm thấy Người là Đấng đem lại cho tôi nguồn hy vọng, mặc
dầu mọi phía đều như những ngõ cụt u tối hãi hùng.
Hôm nay, những ngày cuối
đời, khi nhìn lại đời mình, tôi thấy Đức Kitô, mà Đức Mẹ đã
dẫn tôi đến, chính là Đấng cứu độ của tôi. Người đã cứu sự
sống của tôi. Người đã cứu các niềm vui của tôi. Người đã cứu
các hy vọng của tôi. Nhờ đó, tôi khỏi đi lạc. Mà nếu đi lạc,
thì biết trở về. Để luôn biết sống trọn vẹn Tin Mừng là chính
Đức Kitô, trong hiện tại hôm nay và giây phút bây giờ.
Thực vậy, hằng ngày và
từng giờ, nhờ Đức Kitô, tôi cảm được sự phong phú của Lời
Chúa, sự ăn khớp nhịp nhàng của các việc xảy ra thuộc chương
trình cứu độ.
Hằng ngày và từng giờ, nhờ
Đức Kitô, tôi thấy được chút ánh sáng, dù trong những trường
hợp làn sóng khổ đau tăm tối tràn vào đời tôi.
Sự sống, sự vui, sự cậy
nhiều khi không đến với tôi vội vã ồn ào, nhưng đến một cách
bất ngờ, ngay cả qua những người nghèo khổ, bệnh tật, vô danh.
Sự sống, sự vui, sự cậy
cũng nhiều khi ở lại trong tôi, khi tôi bắt chước Đức Mẹ biết
âm thầm giữ kỹ các kỷ niệm trong lòng để suy gẫm (x. Lc 2,51).
Lạy Mẹ, xin cho con biết
sống, biết vui, biết hy vọng theo gương Mẹ. Sống một cách bình
thường mà không tầm thường. Vì luôn có Chúa Giêsu ở cùng con.
IV. Thân lạy Mẹ, chúng con, con cháu Eva, ở
chốn khách đày, kêu đến cùng Bà. Chúng con ở nơi khóc
lóc, than thở kêu khấn Bà thương.
Chúng con ở nơi khóc lóc,
than thở kêu khấn Bà thương. Trong kinh "Lạy Nữ Vương", những
lời trên đây đã gợi ý cho tôi rất nhiều. Gợi ý quan trọng nhất
là nhìn vào hoàn cảnh của chính mình. Gợi ý đó lại càng sâu,
khi Đức Mẹ thương soi sáng.
Theo Kinh Thánh, tôi cũng
như mọi người đều xuất thân từ tổ tiên Eva, một người phụ nữ
mang tội và bị kết án. Thế gian chung cho mọi người là chốn
khách đày, nơi khóc lóc. Đó là sự thực chung.
Nơi tôi, ngoài sự thực
chung đáng buồn đó còn nhiều cảnh lưu đày, và nơi khóc lóc
khác, đó là những sự thực cho riêng tôi. Có nhiều loại cảnh
lưu đày.
Có nhiều loại nơi khóc
lóc. Đức Mẹ thương kéo tôi quan tâm đến một loại cách riêng.
Loại đó là tình trạng tha hoá. Tha hoá nói đây là mất đi căn
tính người môn đệ Chúa.
Theo bề ngoài, một người
vẫn được coi là mang chức thánh này, tước đạo đức kia. Nhưng
bên trong, họ đã đánh mất căn tính đó rồi. Lòng họ đã tục hoá.
Họ sống trong cảnh như bị Chúa lưu đày. Tình trạng của họ là
nơi họ đáng phải khóc lóc, mà họ không biết. Cái tôi của họ
không có sự thực. Cái tôi đó đúc kết nhặt nhạnh từ những lời
xã giao.
Cái tôi đó cũng có thể tạo
nên do những hoang tưởng về mình. Cái tôi đeo mặt nạ. Mặt nạ
vay mượn vẻ đẹp ở những y phục, lễ nghi. Cái tôi nói là thuộc
Phúc Âm, nhưng lại sống xa Phúc Âm.
Đức Mẹ rất buồn với cảnh
tha hoá đó. Buồn nhất là cảnh lưu đày đó lại được bình thường
hoá và cơ chế hoá. Để sống an tâm giả. Đối với người khác và
đối với lòng mình.
Nhưng tôi thấy, một khi
chúng ta biết mình đang bị đày vào cảnh tha hoá, rồi biết
khiêm tốn kêu cầu Đức Mẹ, thì Đức Mẹ sẽ cứu ta.
Sự cứu này thường không
dễ. Vì việc tha hoá, khi đã trở thành một thói quen, một nếp
sống, một tình trạng, thì bao giờ nó cũng bị kéo níu bởi nhiều
người cùng tha hoá như mình, và bao giờ nó cũng được hỗ trợ
bởi thế gian và ma quỷ. Vì thế, phải cầu nguyện nhiều, phấn
đấu nhiều và hy vọng nhiều vào ơn phục sinh.
Nhất quyết bỏ đi các thứ
mặt nạ. Có những mặt nạ đẹp, gây được nhiều lời khen, nhưng sẽ
phải trả giá bằng nhiều tai hoạ.
Nếu tôi tha hoá, tôi thất
bại về đường đạo đức, thì tôi phải khiêm tốn nhận lỗi. Tôi
không đẩy trách nhiệm sang ai. Tôi nhận tội mình. Tôi dâng
những nước mắt ăn năn sám hối cho Chúa, qua Đức Mẹ. Điều quan
trọng tôi nên nhớ ở đây là: Khi đi tìm Chúa, tôi đừng bao giờ
mang mặt nạ đạo đức.
Trong đời sống thiêng
liêng, nhiều khi không phải tôi đi tìm Chúa, mà là chính Chúa
đi tìm tôi. Trong những trường hợp như vậy, nếu tôi còn đeo
mặt nạ đạo đức, thì chính tôi sẽ cản việc Chúa tìm kiếm tôi.
Tôi xin Đức Mẹ giúp tôi gỡ
ra khỏi mặt tôi hết các thứ mặt nạ, làm tôi tha hoá. Tôi sẽ
quỳ xuống đất, với con người thực của tôi, với đúng mặt thực
của tôi. Tâm hồn tôi nghèo khó. Mặt tôi xấu xa. Nhưng chính vì
tôi trình diện tôi với với những sự thực đó, nên tôi tin Chúa
thương sẽ nhận tôi như một của lễ thờ phượng, của lễ đền tội.
Lạy Mẹ, xin cho con tránh
được mọi thứ làm cho con tha hoá. Kể cả thứ tha hoá về đạo đức
vì không có thực chất, không được Chúa nhìn nhận.
V. Hỡi ơi, Bà là đấng
cầu bầu cùng Chúa cho chúng con, xin ghé mắt
thương xem chúng con
Những lời "chúng con" tôi
đọc, khi cầu nguyện ở đây, thường trải rộng sang mọi người,
không phân biệt tôn giáo nào, không phân biệt có tín ngưỡng
hay không có tín ngưỡng.
Dần dần, Đức Mẹ chữa đời
sống nội tâm của tôi. Trước hết là chữa về mặt tâm lý. Tôi ý
thức mình đã có một số cái nhìn hẹp hòi, bất công về những
người ngoài đạo công giáo. Tôi phải sửa lại.
Tiếp đó là ý thức mình đôi
lúc đã để những cảm xúc lạnh lùng dâng trào lên, theo những
cái nhìn sai trái đó. Tôi phải sửa lại. Có được hai ý thức đó
là bước đầu để đi vào những cái nhìn hài hoà và những tình cảm
hài hoà.
Nhưng bước đầu đó cũng đã
khó, càng bước thêm càng thấy khó. Nhưng Đức Mẹ cầu bầu với
Chúa Thánh Thần cho tôi được nghị lực vượt khó. Đức Mẹ ghé mắt
thương xem những người ấy. Xem với tình thương. Tôi cũng làm
như vậy. Dần dần, tôi nhận ra nơi họ nhiều đức tính tốt, nhiều
việc tốt. Không những thế, tôi nhận ra nhiều người trong họ
tốt hơn nhiều người đạo tôi, tốt hơn cả tôi.
Còn nữa. Tôi gặp một số
người trong họ đã tích cực giúp tôi trên đường truyền giáo.
Đến một lúc, tôi bừng tỉnh, thấy mình đã có sai phạm. Nhìn đen
tối về người khác là nhìn sai.
Càng lớn tuổi, nhất là
càng có nhiều tiếp xúc với đồng bào, tôi mới thấy tôi không
bao giờ cô đơn. Trong những lúc tối tăm, Mẹ vẫn ở bên tôi. Mẹ
gởi đến tôi những người tôi không ngờ. Họ ngoài công giáo. Họ
âm thầm nâng đỡ tôi. Họ không làm thay tôi. Đức Mẹ cũng không
làm thay tôi. Nhưng có những người ngoài công giáo cùng làm
với tôi. Đôi lúc, họ làm thay tôi.
Do những kinh nghiệm như
thế, nhiều khi tôi có cảm nghĩ nhiều người ngoài công giáo đã
thuộc về Nước Trời. Họ có niềm tin, lòng từ thiện và đời sống
lương thiện đáng nêu gương.
Xưa, trong Phúc Âm, Chúa
Giêsu đã nhiều lần khen người ngoại đạo về những việc tốt của
họ. Nay, trên thực tế cuộc sống của tôi, tôi cũng đã và đang
thấy những lời Chúa Giêsu khen xưa vẫn còn ứng nghiệm.
Riêng đối với Đức Mẹ, phải
nói rằng: Rất nhiều người ngoài công giáo có lòng tin mến Đức
Mẹ. Họ đã được Đức Mẹ ban ơn vô kể. Tôi gọi họ là con Đức Mẹ.
Quả không sai. Những kết quả này được coi như một loại hoa
trái thiêng liêng. Thấy được. Tin được. Những hoa trái này lại
trở thành hạt giống được gieo vào những vùng khác nhau của xã
hội. Những vùng này rất mới, xưa rất xa lạ đối với Tin Mừng.
Từ những kinh nghiệm này,
tôi thấy một cách truyền giáo hiện nay là biết làm những việc
nhỏ, như:
·
Yêu thương
kính trọng những người ngoài công giáo.
·
Phục vụ quê
hương đất nước theo khả năng của mình.
·
Hợp tác xây
dựng địa phương mình sinh sống.
·
Hiện diện
một cách hài hoà đúng đắn trong các vấn đề có những khác biệt.
·
Gần gũi
những người nghèo khổ.
Phổ biến các tài liệu mang
Lời Chúa. Tất cả các việc bé nhỏ như thế cần được thực hiện
một cách khiêm tốn, thường xuyên, cụ thể, với bề sâu bác ái,
kèm theo cầu nguyện.
VI. Đến sau khỏi đày, xin cho chúng
con được thấy Đức Chúa Giêsu, con lòng Bà
gồm phúc lạ
Lời kinh: "Đến sau khỏi
đày" gợi cho tôi nghĩ đến cái chết. Nhưng trước giờ chết, tôi
còn một thời gian dẫn tôi tới gần phút sau cùng ấy. Tôi không
biết thời gian đó dài bao lâu. Nhưng càng thêm tuổi, tôi càng
nghĩ đến cái mình là hơn là cái mình làm.
Tôi là môn đệ Chúa Giêsu.
Điều kiện để nên môn đệ Chúa Giêsu đã được chính Người phán
tỏ: "Ai muốn
theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo."
(Mt 16,24). Xét mình chỉ sơ sơ, tôi đã thấy tôi không thực
hiện điều kiện đó một cách thường xuyên.
Tôi thực sự yếu đuối.
Tôi có rất nhiều thiếu
sót. Trong đó có những thiếu sót được coi là di căn của những
lỗi lầm xa xưa.
Tôi có phần nào chu toàn
bổn phận. Nhưng đó là kết quả chung, do sự cộng tác và đỡ nâng
của bao người gần xa.
Tôi có làm một số việc
lành. Nhưng ai dám nói rằng tất cả những việc lành đó đã hoàn
toàn không pha bụi bặm. Tôi có nhiều cố gắng vượt khó. Nhưng
bao lần tôi vẫn mang nuối tiếc một vài hành trang cần vứt bỏ.
Tôi đã có thể tốt hơn mà
nhiều khi vẫn đứng tại chỗ. Tôi nhiều lần bất lực trước những
vật cản chẳng đến nỗi nào.
Tôi thực sự mỏng manh.
Tôi đã có nhiều dịp để phục vụ Hội
Thánh, Quê Hương và người khác một cách tốt hơn. Nhưng tôi đã
không tỉnh thức đủ.
Tôi đã có một số thời gian, để trau
dồi kiến thức đạo đời, để suy gẫm và cầu nguyện. Nhưng tôi đã
lơ là, bỏ lỡ. Tôi nhận mình bất toàn, với bao nhiêu giới hạn.
Lịch sử viết về thánh Gioan Thánh
giá có đoạn nói lên lòng nhiệt thành độc đáo của người môn đệ
Chúa.
Một hôm, Chúa Giêsu hỏi Gioan:
"Này Gioan, con hãy xin Ta
điều con muốn, vì Ta sẽ ban điều ấy cho con, để đáp lại một
đời con đã phục vụ Ta."
Chúa Giêsu đã phải lặp lại câu hỏi đó 3 lần, bởi vì Gioan, do
luôn cảnh giác trước thị kiến, đã không vội trả lời.
Nhưng rồi ngài thưa: "Lạy Chúa, con
muốn xin Chúa cho con được đau khổ vì Chúa, cho con bị khinh
chê và bị người ta coi con không ra gì."
Thú thực là tôi không dám bắt chước
thánh Gioan mà xin như vậy. Vì tôi yếu đuối. Đến khi, Chúa ban
cho tôi được nếm đôi chút những điều mà thánh Gioan xin, tôi
thấy quá sợ. Lúc đó, tự nhiên tôi có cảm tưởng mình trở thành
gánh nặng cho người khác. Cảm tưởng đó giúp cho tôi khám phá
thấy sự yếu đuối của mình là một thế giới quạnh hiu, có khả
năng dụ dỗ mình sa vào những yếu đuối khác.
Qua những kinh nghiệm trên và nhiều
kinh nghiệm khác, tôi nhận biết mình là gì? Thưa tôi nhận mình
là kẻ rất yếu đuối, rất bất xứng, rất mỏng manh. Với nhận thức
đó, tôi thấy mình chẳng là gì, chẳng đáng gì.
Khi Chúa đòi tôi dâng của lễ. Tôi
nghe Đức Mẹ bảo tôi cứ khiêm tốn dâng cho Chúa những vất vả,
đau đớn, sám hối, tình yêu và cả những yếu đuối của tôi. Tôi
dâng của lễ kỳ lạ đó, và nhớ lại lời Chúa gọi:
"Tất cả những ai đang vất
vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi
dưỡng."
(Mt 12,28).
Thực sự, Chúa Giêsu đã nhận của lễ
tôi dâng. Tôi cảm nhận được sự kiện đó, nhờ thấy lòng mình
thêm cậy trông phó thác. Tôi như trẻ thơ dại khờ, yếu đuối về
mọi mặt, với hai bàn tay trống không. Chỉ biết mình là kẻ yếu
đuối, tội lỗi, tuyệt đối cậy tin vào Chúa cứu chuộc. Người đã
tuyên bố: "Ta không đến để
kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối
ăn năn."
(Lc 5,32).
Càng tới gần ngày ra khỏi đời này,
tôi càng được Đức Mẹ thương ẵm ôm dắt dìu người con yếu đuối
hèn mọn này trên đường về với Cha.
Tôi tin: Vừa ra khỏi đời này, tôi
lập tức được thấy Đức Chúa Giêsu, con lòng Mẹ Maria, đầy phúc
lạ. Mẹ sẽ giới thiệu tôi với Chúa: Đây là người con rất yếu
đuối, nhưng rất phó thác cậy trông. Thế là tôi sẽ được nhận
vào Nước Chúa, nơi dành cho những ai trở nên như trẻ nhỏ. (x.
Mt 18,3).
Lời kết:
Ôi, khoan
thay, nhơn thay, dịu thay, Thánh Maria
trọn đời đồng trinh.
Với tinh thần trẻ thơ, hằng ngày và
mãi mãi, đời đời, tôi sẽ ca tụng Mẹ, chỉ đơn sơ bằng những từ
"Khoan hậu, nhân từ, hiền dịu."
Sống kinh "Lạy Nữ Vương" như vừa
chia sẻ, tôi nhìn về Hội Thánh tương lai. Tôi thấy: Hội Thánh
tương lai sẽ là Hội Thánh nhỏ, nhưng sẽ mạnh, nếu theo gương
Đức Mẹ biết:
·
bác ái nhiều hơn
·
nội tâm nhiều hơn
·
giản đơn nhiều hơn.
Tôi cầu nguyện: Các môn đệ Đức Kitô
sẽ là những ngọn lửa thắp sáng lên niềm hy vọng. Ngọn lửa nội
tâm được đốt lên từ những giờ thinh lặng với Chúa Giêsu và Đức
Mẹ.
Niềm hy vọng sẽ là một sự phục sinh
trong chính đời thường, nhờ sức mạnh tình yêu của Thánh Linh.
Mọi người, không phân biệt ai, sẽ
nhìn Đức Mẹ là Mẹ của mình. Mẹ nhân lành, khoan dung, nhân từ,
hiền dịu. Mẹ sẽ đưa mọi người thiện chí về Nước Trời, gặp Cha
chung giàu lòng thương xót.
Trên đây là tâm tình tha thiết tạ ơn
của tôi sau một đời dài cầu nguyện kinh
“Lạy
Nữ Vương, Mẹ nhân lành.”●
Trở về Muc Lục
|