|
|
Số 46, Ngày 28-5-2005
Bí Tích Thánh Thể Là Một Thực Tại Biểu Trưng – J.P. De Jong Đức Giêsu Là Thức Ăn Tâm Linh – Nguyễn Chính Kết Người Kitô Hữu Theo Ánh Mắt Tâm Linh - Khổng Nhuận Đức Maria – Ân Huệ Của Thiên Chúa – Lm. Vũ Xuân Hạnh Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng (tt) - Lm. Michet Hubaut – Maranatha dịch Các Giáo Hoàng Cũng Dí Dỏm - Sưu Tầm Dấu Chân Trên Cát - Sưu tầm Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa quý độc giả, Chúa Nhật sắp tới đây, hẳn rất nhiều nơi sẽ hát lại bài này: ‘Ta là bánh hằng sống, là bánh ban xuống bởi trời. Ta là bánh trường sinh, ai ăn sẽ sống muôn đời.’ Có lẽ trong suốt năm, không có ngày nào mà câu hát này thích hợp và sốt sắng cho bằng ngày Lễ Kính Mình và Máu Thánh Chúa Kitô, nhất là năm nay là năm đặc biệt tôn sùng Thánh Thể. Từ ngày rước lễ vỡ lòng, chúng ta đã được dạy dỗ rằng lương thực nuôi linh hồn là Mình và Máu thánh Chúa, và vì thế Thánh Lễ là trung tâm của đời sống đạo. Chân lý này được khắc sâu vào tâm khảm của Kitô hữu đến độ chúng ta trở thành những người dị đoan…. - Ô hay, vì sao tôn vinh Mình và Máu Chúa lại là dị đoan? Ta cùng nhau đọc một mẩu chuyện: “Năm người ngồi xung quanh mâm cơm mà bé Thu Hà lại bới ra những sáu chén. Mình hỏi ông Hai: - Còn thiếu một người nữa. Người ấy là ai vậy đó, ông Hai? - Chén cơm đó là của thằng cha con Thu Hà. Cha nó bị máy bay trực thăng bắn chết hồi năm ngoái... Mình nhìn con bé Thu Hà. Bé Thu Hà nhìn mình, nước mắt lưng tròng... Mình xao xuyến bởi chén cơm dành cho người quá cố. Nó là một kỷ niệm sống động, một sự nhắc nhở cụ thể. Và cũng thật lãng mạn. Tình yêu gắn bó người sống với người chết. Khoảng cách là vô hình và vô biên, nhưng người ta vẫn cố gắng làm được một cái gì đó để vô hình thành hữu hình và vô biên thành hữu biên.’ Câu chuyện kể thật dễ thương bạn nhỉ, nhất là người viết lại là một linh mục, cha Piô Ngô Phúc Hậu. Một linh mục mà thông cảm đến thế đối với một phong tục dị đoan thì thật là đáng cảm động. Bạn sẽ bảo: ‘Nhưng dù sao đi nữa ‘cúng cơm’ vẫn là một hành động dị đoan. Người chết có ăn uống gì đâu mà để cơm cho họ. Thương thân nhân thì cầu nguyện cho linh hồn họ, chứ cúng cơm cúng nước cứ như thể linh hồn cũng phải ăn ư?’ Bạn hoàn toàn có lý: vì linh hồn thì có miệng đâu để ăn, và có bao tử đâu để mà tiêu hóa chén cơm... Thế nhưng coi chừng, chúng ta đang phạm một tội dị đoan khác lớn hơn nhiều: chúng ta tin rằng linh hồn phải ăn Thịt và uống Máu - dù đó là Thịt và Máu Chúa - để mà sống. Chẳng những dị đoan, mà chúng ta trở thành man rợ: Những kẻ ăn thịt người, hơn cả thịt người nữa, những kẻ ăn thịt Chúa. Các giáo lý viên đã từng dạy cho chúng ta biết rằng Mình Thánh là Thịt thật của Chúa, và Rượu Thánh là Máu thật của Chúa kia còn gì? Chúng ta hãy nhớ lại rằng ngày xưa, cũng vì cái thực tế ‘man rợ và sống sượng’ đó mà bao nhiêu người đã không còn theo Chúa Kitô nữa, khi Ngài tuyên bố: “ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi thì được sống muôn đời.”(Ga 6, 54). Lẽ dĩ nhiên hiểu theo nghĩa đen như thế là không đúng! Thịt và Máu Chúa không còn là Thịt Máu của Đức Giêsu từng sống ở Nazareth, mà là Thịt Máu của một Chúa Kitô đã phục sinh! Và ‘sống nhờ Máu Thịt của Chúa’ vừa là một sự thật nhiệm mầu vừa là một hình ảnh biểu trưng. (Maranatha_46 sẽ khai triển điểm này sâu hơn qua bài: Thánh Thể là một thực tại biểu trưng). Nhiệm mầu thì không thể hiểu và giải thích được, nhưng hình ảnh thì ta có thể hiểu được. Ta thử tìm hiểu xem Giáo Hội thực sự dạy chúng ta điều gì qua Lễ Mình và Máu Thánh Chúa Kitô. Có lẽ hình ảnh ‘lương thực’ mà cha Piô Hậu gợi lên trong bữa cúng cơm kia dễ làm cho ta hình dung được mầu nhiệm Mình Máu Chúa: đó là Mầu Nhiệm Tình Yêu. Cha nói: “Tình yêu gắn bó người sống với người đã khuất. Khoảng cách là vô hình và vô biên, nhưng người ta vẫn cố gắng làm được một cái gì đó để vô hình thành hữu hình và vô biên thành hữu biên.’ ‘Làm cho vô hình thành hữu hình và vô biên thành hữu biên,’ đó là điều Chúa Giêsu đã làm khi để lại cho chúng ta Mình và Máu của Người. Những lời Phúc Âm được đọc trong thánh lễ Chúa Nhật năm nay (Ga 6, 51-58) nối dài phép lạ ‘hóa bánh ra nhiều.’ Trong đoạn ấy, cái phép lạ lớn nhất, không phải là 5 con cá và 2 cái bánh mà 5,000 người được ăn no và còn dư mười hai thúng. Cái phép lạ lớn nhất ấy là phép lạ của tình yêu: nơi nào có đầy đủ tình yêu, thì 5,000 người hay hơn nữa (vì chưa tính đến phụ nữ và trẻ em) cũng được no thỏa từ vật chất đến tinh thần. Và tình yêu đó khởi nguồn từ việc làm thực tế của một cậu bé ngô nghê: cậu yêu thương bằng một tình yêu chia sẻ, vì thế cậu đã không ngần ngại dâng lên cho Chúa phần ăn đạm bạc nghèo nàn của mình qua tay các tông đồ. Noi gương cậu bé này, Maranatha_46 cố gắng góp phần bé nhỏ của mình để cùng với quý độc giả suy tư về Thánh Thể dưới khía cạnh cảm nghiệm cũng như dưới khía cạnh thần học. Chúa Nhật này cũng là Chúa Nhật cuối của tháng Đức Mẹ, vì thế Maranatha cũng muốn dâng lòng lên Mẹ, và ca tụng Mẹ như một ân huệ của Thiên Chúa, một ân huệ tuy không sánh bằng Thánh Thể, nhưng là một ân huệ giúp cho con cái Mẹ cảm nghiệm sâu xa Tình Yêu Thiên Chúa nơi Thánh Thể của Con Mẹ. Để kết thúc, như thường lệ, Maranatha cũng kèm theo vài bài suy tư nhẹ nhàng và dí dỏm, để cuộc sống đạo của tín hữu luôn là một cuộc sống vui tươi mỉm cười, dù cho đó là một cuộc sống của cả những căng thẳng trong cuộc dấn than cam go lẫn những giây phút thinh lặng nguyện cầu trầm lắng theo gương Đức Mẹ. Dưới bóng Mẹ Maria, cùng với tâm tình của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II với lời huấn giáo: “Đức Maria dạy rằng Thánh Thể là một mầu nhiệm có quyền năng đổi mới. Khi chiêm ngắm mầu nhiệm Mông Triệu của Mẹ, chúng ta nhìn thấy “trời mới đất mới”, và chúng ta khẩn nài với Con của Mẹ: Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!” (Ecclesia De Eucharistia, số 62). MARANATHA
MỪNG
KÍNH MÌNH và MÁU THÁNH CHÚA BÍ TÍCH THÁNH THỂ LÀ MỘT THỰC TẠI BIỂU TRƯNG J.P. DE JONG - Maranatha dịch Một đan sĩ tại tu viện Maria Laach, Dom Odon Casel, đặt nền tảng cho một nền thần học Thánh Thể mới. Quả là một vinh dự ngàn đời cho vị đan sĩ rất đạo đức này vì đã thành công trong việc kết hợp hành vi biểu trưng của Giáo Hội với thực tại hành động cứu rỗi của Chúa Kitô trên trời trong một thể thống nhất bất khả phân ly, nghĩa là trong cái nhất thể lưỡng diện của thực tại biểu trưng. Hành vi cứu độ của Chúa Kitô được cụ thể hóa trong một hành động cá vị, do Chúa thực hiện, và hoàn tất trong một người nào đó. Nói cách khác, đấy là hành động cứu rỗi cụ thể, do Chúa Kitô thực hiện, mà thay vì được đặt trong một vũ trụ xa vời, thì lại mang hình dạng hữu hình qua những biểu hiện của trần gian. Chúng tôi tránh sa vào cuộc luận chiến mà vấn đề gọi là ‘cái hiện tại mầu nhiệm’ (Mysteriengegenwart) tạo nên. Chỉ cần nhận định ở đây rằng nền thần học của Dom Casel là một cố gắng hoàn toàn ý thức để trở về, từ chủ nghĩa thuần lý nhân bản, đến tâm thức của người xưa và của Kinh Thánh. Đấy chính là lý do (vả lại cũng là lý do duy nhất) mà ngài đi tìm những điểm tựa thậm chí bên ngoài Kitô giáo. Ngài rất quan tâm đến não trạng và tư tưởng nguyên thủy, kể cả bên ngoài đất nước Kinh Thánh. Vì sao như vậy? Vì qua đó, ngài thường tìm ra những cách suy nghĩ giúp ngài hiểu được những dữ kiện kinh thánh trong bối cảnh của vũ trụ suy tư đặc thù của họ. Đối với ngài, cách suy nghĩ của người xưa không phải là một điều lạc hậu trong lịch sử của nền văn minh chúng ta, nhưng trái lại đấy là một não trạng có thể mang tính rất thời sự, với điều kiện là ta phải có thái độ cởi mở. Điều mà hôm nay ta xem là mới, thì ngày mai đã trở thành cũ, nhưng việc ấy không ngăn cản các chân lý cũ xưa lại trở thành mới đối với chúng ta. Sẽ là một thiếu sót nếu không nhắc đến Dom Anschaire Vonier, tác giả của một cuốn sách bán chạy nhất (best-seller): “A key to the doctrine of the Eucharist” (Chìa khóa đi vào giáo lý về Thánh Thể) Điều làm cho chúng tôi ngạc nhiên nhất, ấy là cha Vonier, với tư cách là một thần học gia theo khuynh hướng kinh viện, cũng đi đến một sự hiện diện của mầu nhiệm, rất gần gũi với điều mà ta gọi là cái ‘hiện tại mầu nhiệm’ (Mysteriengegenwart), do Casel đề xướng cũng vào thời ấy. Đương nhiên là trong giáo lý về các mầu nhiệm, của Casel cũng như của Vonier, mọi chi tiết chưa phải là đề tài suy tư thần học chín muồi: làm thế nào một dữ kiện cứu độ trong quá khứ có thể lại trở thành một thực tế trong hiện tại? Thời gian thì không quay ngược. Điều gì mà tự thân bất khả, thì vẫn mãi là bất khả, ngay cả trong thể thức bí tích. Cần có những suy tư thần học sâu hơn ở một vài điểm. Họ đã quá nhấn mạnh đến thời điểm chuyển tiếp lịch sử; cần phải điều chỉnh. Một mặt, họ đã xác tín, cùng với tác giả thư Do Thái, về tính chất duy nhất vĩnh viễn, về epaphax (một lần cho mãi mãi) của việc cứu độ. Mặt khác, khi dựa trên cùng thánh thư ấy, họ không thể phủ nhận cái thực tại muôn đời thời sự của hành động cứu độ của Chúa Kitô, như là một món quà mà, trong tinh thần vâng phục, Chúa Con làm người đã dâng lên Cha Người. Thời điểm của vĩnh cửu trùng với cái vĩnh cửu - hay cái thực tại kéo dài - của biến cố Nhập Thể. Vì thế mà Schillebeeckx cũng nhìn thấy nơi việc Thiên Chúa nhân loại hóa các hành vi con người của Đức Giêsu như là nền tảng sự hiện diện của mầu nhiệm. Và vì thế chính hành vi hy sinh ở Núi Sọ, với tư thế là của lễ thân xác và thiêng liêng mà con người Giêsu dâng lên Chúa Cha, vẫn hiện diện trong Con Người Thiên Chúa. Chúng ta sẽ thấy ở đoạn sau cách thức mà quà tặng của con người do Đức Kitô dâng lên Chúa Cha mặc lấy hình dáng hữu hình trong các biểu tượng Mình và Máu Người, mỗi khi chúng ta qui tụ lại để cử hành Thánh Thể. Ngày nay, chúng ta khó mà hiểu được vì sao cuốn sách của Vonier được đón nhận một cách phấn khởi như vậy. Chủ đề trung tâm của ngài đối với chúng ta ngày nay có vẻ sơ đẳng: “Cuộc hy tế trong thánh lễ là một hy tế bí tích, chứ không phải là hy tế tự nhiên. Chỉ có cách tiếp cận bí tích mới cho chúng ta chìa khóa đi vào giáo lý đúng đắn về Thánh Thể”. Nhưng xuất phát từ một tác giả và một đan sĩ như Vonier, ta khó mà hình dung rằng ngài bỏ công đi tông vào cánh cửa đã mở. Rõ ràng Vonier ra đi chiến đấu chống lại một số lý thuyết về bí tích của thời mình, dựa trên cái thực tại được gọi là vật lý trong tự nhiên. Đây cũng là cách mà các nhà biện giáo nghĩ rằng cần phải dùng để bảo vệ tính chất hy tế của thánh lễ chống lại phía Cải Cách. Họ đã gây tác hại cho nền thần học chân chính và tạo điều kiện thuận lợi cho phía Cải Cách. Có lần Karl Ralner nói: “Có những chân lý bị quên lãng”. Thêm một lý do để biết ơn cha Vonier, vì đã nhắc lại một chân lý đã bị quên lãng từ lâu. Theo chân lý ấy, thánh lễ là một cuộc hy tế bí tích, và với tư cách đó, thánh lễ là một thực tại bí tích, được diễn ra trên bình diện biểu tượng, chứ không phải trên bình diện của bản chất vật lý. Do đó, thực tại biểu trưng, với tư cách là nền tảng cho thực tại bí tích, là chìa khóa đi vào giáo lý thánh thể. Bây giờ ta hãy nghiên cứu những người bảo vệ lập trường bên kia, trước hết là giáo sư Selvaggi, thuộc trường Grêgôriô, người đã có được ít nhiều danh tiếng những năm gần đây, nhờ những bài viết đăng trên tạp chí Gregorianum. Ngài bênh vực luận đề cho rằng việc bánh và rượu biến đối thành Mình và Máu Chúa Kitô cần phải nhìn như là một thực tại vật lý, và đây là cách trình bày của ngài. Các prô-tông, nơ-trông và điện tử tạo thành khối vật chất được thánh hiến, các nguyên tử, phân tử, ion, tổ hợp phân tử, các vi tinh thể; tóm lại, toàn bộ tổng hợp các chất cấu thành bánh và rượu không còn hiện hữu nữa và đã biến thành Mình và Máu Chúa Kitô. Trái lại, điều còn y nguyên đó là những cái phụ thuộc gắn liền với các chất đó: thể tích, trọng lượng, điện tích cùng với năng lượng từ tính, điện tính và động lực, cả tiềm năng lẫn thực tế, xuất phát từ chúng, rồi đến lượt chúng thể hiện các tác động quang học, âm học, nhiệt động học và điện từ mà các lực ấy tạo ra; toàn bộ các thứ ấy, nghĩa là tổng thể các hiện tượng ta cảm nhận đuợc qua quan sát, đó là vỏ bên ngoài của Thánh Thể. Cần khẳng định rằng sự biến đổi kỳ diệu ấy, mà Giáo Hội gọi là thay đổi bản thể (transsubstantiation), là một sự thay đổi vật lý, hiểu theo nghĩa là có một sự thay đổi thực sự giữa hai cái thực tại vật lý. Thật ra, đây là một sự thay đổi thực sự của các chất vật lý, hay đúng hơn, của các chất vật lý hợp thành bánh và rượu, để trở nên Mình và Máu thực sự của Chúa Kitô. Vả lại, Thân Thể hiện diện trong Thánh Thể cũng là thân thể sinh ra từ Đức Mẹ Maria, một thân thể đã sống, đau khổ và chịu đóng đinh; và không ai có thể phủ nhận rằng thân thể của một con người sống không phải là một thực tại vật lý đích thực. Kế đến, giáo sư Selvaggi cố gắng chứng minh rằng sự biến đổi vật lý đó xảy ra bên ngoài lãnh vực vật lý học. Cái vẻ mâu thuẫn nội tại ấy được xóa tan nhờ ánh sáng đức tin. Ngài viết như sau: ‘mặc dù sau khi truyền phép chất của bánh không còn nữa dưới dáng vẻ bên ngoài của nó, nhưng cũng không thể nào kiểm tra bằng quan sát sự thay đổi đó, ấy là vì mọi quan sát đều chạm đến cái vỏ bên ngoài, các tính chất, chứ không thể chạm đến cái yếu tính, để đưa ra một kết luận thuần lý. Sau khi truyền phép, điều mà ta quan sát, ấy là bánh; về điều này, giác quan và dụng cụ của chúng ta không lừa dối ta. Tuy nhiên, nếu ta không để ý đến tiêu chuẩn đức tin và chiều theo kết quả của quan sát, và lý trí kết luận rằng đó là bánh, thì ta đã sai lầm; và sự sai lầm đó không thể phát hiện bằng vật lý học, hoặc bằng những lý luận của trí khôn, nhưng chỉ nhờ ánh sáng đức tin mà thôi.’ Quả là kỳ lạ khi chính nền vật lý học hiện đại lại chỉ cho ta con đường đi vào lãnh vực này. Các nhà thần học nào cố gắng du nhập những thành tựu của khoa học mới này trong các khái niệm về biến đổi bản thể, thì các vị ấy lại chính là những người góp phần nhiều nhất vào ý nghĩ cho rằng cách tiếp cận Thánh Thể theo triết học tự nhiên là một điều không đứng vững được. Trong trường hợp này, không thể nào mà thực tại vật lý lại còn nguyên vẹn. Thế là họ đi vào ngõ cụt, gián tiếp chỉ cho các thần học gia khác thấy rằng đường ấy không phải là con đường đúng: “Chân lý loé lên từ sự va chạm giữa các ý kiến!” Đối thủ lớn nhất của khuynh hướng này là Colombo, hiện nay là thần học gia của Đức Giáo Hoàng. Ngài gạt bỏ luận đề cho rằng ta có thế nói là, khi truyền phép, có một sự biến đổi vật lý trong bánh và rượu. Điều xảy ra, ấy là một sự biến đổi hữu thể (changement ontologique), nghĩa là một sự biến đổi chạm đến yếu tính, đến nỗi những vật thể trần thế không còn như trước nữa, không còn là một thực tại ở trong thế gian. Thật ra, bánh và rượu đạt được một ý nghĩa và một cứu cánh hoàn toàn khác. Sự biến đối ấy không xảy ra trên bình diện vũ trụ, nó liên quan đến một thực tại không còn thuộc trần thế này. Trong bối cảnh đó, thông điệp Mysterium fidei nói đến một ‘thực tại hữu thể’ (réalité ontologique - số 43). Hoàn toàn đồng ý với quan điểm này, chúng tôi hy vọng chứng minh ở phần sau rằng chính vì lý do đó mà sự biến đổi không thể xảy ra ở bình diện vật lý hay vũ trụ. Do tính chất riêng và duy nhất, nó phải xảy ra ở bình diện bí tích của thực tại biểu trưng. Xin nhắc lại những gì chúng tôi vừa nói. Thánh Thể là một sự kiện bí tích, được thực hiện trên bình diện của thực tại biểu trưng, ở đấy biểu tượng và thực tại tạo thành một khái niệm duy nhất, không thể tách rời nhau được. Biểu tượng gợi lên thực tại và thực tại không thể nào hình dung được nếu không có biểu tượng. Phải loại bỏ mọi quan niệm về biểu tượng hướng về một thực tại mà thực tại ấy lại không hiện diện trong biểu tượng và qua biểu tượng. Thực tại biểu trưng chính là một quan hệ song phương giữa dấu chỉ và cái được chỉ định. Không thể nào hình dung cái được chỉ định nếu không có dấu chỉ, đồng thời dấu chỉ lại gợi lên cái được chỉ định. Theo thuật ngữ hiện đại, ta có thể gọi thực tại biểu trưng là ‘sự kiện nguyên thủy’. Đây là nền tảng và điểm xuất phát cho suy nghĩ thần học. Quả thật, đối với tôi cũng như đối với Dom Vonier, Thánh Thể là một thực tại bí tích; nhưng chúng tôi khác nhau ở điểm xuất phát: đối với tôi, đó là một hành vi con người, mà xưa kia Chúa Kitô đã thực hiện, và ngày nay được thực hiện lại trong và bởi Giáo Hội theo lệnh truyền của Đức Chúa ấy, một hành động biểu trưng có sự tham gia của các vật thể trần gian (bánh và rượu). Xét bên trong, đấy là một sự kiện trong thực tại trần thế, mà Chúa Kitô đã nâng lên bình diện của một hành vi biểu trưng và bí tích, làm cho thực tại trần thế được siêu thăng●
Thánh Thể đem lại hy vọng hầu chúng ta hằng ngày dấn thân vào công việc và vào viễn ảnh Kitô giáo về ‘trời mới đất mới” (Kh 21, 1). Niềm hy vọng và viễn ảnh ấy gia tăng trách nhiệm của chúng ta đối với thế giới. Nhờ bí tích Thánh Thể, Kitô hữu được thôi thúc hơn bao giờ hết để chu toàn nhiệm vụ công dân của mình và xây dựng một thế giới phù hợp với chương trình của Thiên Chúa. Chúng ta phải đáp ứng cho những vấn đề đang gây u ám chân trời, cho những vấn nạn về hòa bình và về các mối tương quan, dựa trên tinh thần công lý và liên đới. Chúng ta phải bảo vệ sự sống con người từ ngày thọ thai đến lúc kết thúc tự nhiên. Chúng ta phải nhớ đến những thành phần nghèo khổ nhất thế gian, những người có rất ít hy vọng trong cái ‘thế giới toàn cầu hóa’ này. Thật là ý nghĩa, khi Phúc Âm thánh Gioan, qua tường thuật biến cố Chúa Giêsu rửa chân cho môn đệ, đã làm nổi bật ý nghĩa của phục vụ. Thánh Phaolô bảo rằng thái độ chia rẽ và dửng dưng đối với người nghèo thì không xứng đáng để được hiệp thông với nhau trong Thánh Thể (1 Cr 11, 17-24). Cuộc sống của chúng ta cần phải trở thành ‘Thánh Thể’ một cách trọn vẹn, một cuộc sống dấn thân để thay đổi thế giới trong khi nguyện cầu: “Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!” (Kh 22, 20) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II - Thông điệp Ecclesia de Eucharistia, số 20
Nguyễn Chính Kết 1. Hai loại sự sống, hai loại đồ ăn thức uống Đức Giêsu nói về bánh hằng sống sau khi dân chúng đến tìm kiếm Ngài để mong Ngài làm phép lạ hóa bánh ra nhiều như Ngài vừa mới làm trước đó một ngày (x. Ga 6,1-15). Ngài biết rõ tâm ý họ khi đến với Ngài là để tìm của ăn vật chất: «Các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê» (Ga 6,26). Lợi dụng việc họ tìm kiếm bánh vật chất, Đức Giêsu giới thiệu cho họ bánh hằng sống hay bánh tâm linh. Cũng như khi gặp người phụ nữ Samari muốn kín nước vật chất để uống, Đức Giêsu lợi dụng cơ hội này để giới thiệu nước hằng sống hay nước tâm linh. Bánh hay nước hằng sống đều chính là Đức Giêsu. Thông thường, con người thời nào cũng ham mê tìm của ăn thức uống vật chất, là nhu cầu cấp thiết của con người về sự sống, vì không ai sống được mà không cần ăn hoặc uống. Ngoài mục đích duy trì sự sống thể chất, con người còn muốn hưởng thụ khoái lạc trong việc ăn uống và trong mọi phương diện thể chất khác nữa. Nói chung, con người quá mải mê lo lắng cho sự sống thể chất. Nhưng con người đâu chỉ có sự sống thể chất, mà còn một sự sống khác nữa quan trọng hơn gấp bội, đó là sự sống tâm linh. Sự sống thể chất kéo dài nhiều lắm chừng trăm năm, sự sống ấy dù hạnh phúc hay đau khổ thì cũng chỉ hạnh phúc hay đau khổ khoảng trăm năm, rồi chấm dứt. Còn sự sống tâm linh, là sự sống chủ yếu của con người, ngoài việc tạo cho sự sống thể chất một ý nghĩa, và làm cho sự sống thể chất hạnh phúc hay đau khổ hơn bội phần, còn là thứ sự sống kéo dài muôn đời. Nếu đời sống tâm linh đau khổ thì sẽ là đau khổ muôn đời, và nếu nó hạnh phúc thì cũng sẽ hạnh phúc muôn đời. Do đó, đúng ra con người phải quan tâm tới sự sống tâm linh nhiều hơn bội phần. Nếu sự sống thể chất có thức ăn thức uống để nuôi dưỡng và phát triển nó, thì sự sống tâm linh cũng có đồ ăn và thức uống riêng của nó. Đức Giêsu muốn giới thiệu và giúp con người ý thức về thứ đồ ăn thức uống nuôi dưỡng sự sống tâm linh ấy. 2. Đồ ăn thức uống tâm linh Khi giới thiệu nước hằng sống, Đức Giêsu nói với người phụ nữ Samari: «Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời» (Ga 4,14). Lần này, Đức Giêsu nói về bánh hằng sống: «Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống» (Ga 6,51). Nghe câu ấy, lập tức người Do Thái hiểu ngay theo nghĩa đen: «Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?» (Ga 6,52). Cũng tương tự như người phụ nữ Samari: «Xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước» (Ga 4,15). Ngay cả các tông đồ đã được Đức Giêsu giáo dục mấy năm, khi nghe Ngài nói: «Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết» (Ga 4,32), cũng chỉ biết hiểu theo nghĩa đen. Họ xầm xì với nhau: «Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng?» (Ga 3,33). Nhưng Đức Giêsu cho biết chữ «lương thực» mà Ngài dùng ở đây không có nghĩa vật chất: «Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người» (Ga 4,34). Người hướng về vật chất mà hiểu về tâm linh thì ngây ngô làm sao! Làm sao tâm linh lại có thể sống bằng thức ăn vật chất được? Thức ăn cho tâm linh đương nhiên cũng phải là tâm linh! Và chỉ tâm linh mới ăn được thức ăn tâm linh thôi! Thể xác làm sao ăn được thức ăn tâm linh? Thật vậy, giả như Đức Giêsu có lấy thịt và máu vật chất trong thân xác của Ngài cho con người ăn, thì thịt và máu ấy chỉ có thể nuôi sống thể xác họ, chứ làm sao nuôi sống tâm linh họ được? Cũng tương tự như việc gặp gỡ Đức Giêsu: gặp gỡ Ngài chỉ là gặp gỡ đích thực và có ích lợi nếu sự gặp gỡ đó là gặp gỡ bằng tâm linh. Nếu chỉ gặp gỡ mặt thể chất thì chẳng ích lợi gì cho tâm linh cả. Biết bao kinh sư Do Thái xưa đã từng gặp Ngài, nói chuyện với Ngài nhiều lần, nhưng sự gặp gỡ ấy có ích lợi gì cho tâm linh họ đâu?! Vì «hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng» (=Có duyên thì dù ở xa nhau ngàn dặm vẫn có thể gặp nhau, không có duyên thì dù có đối diện cũng không gặp nhau). Có duyên với nhau thì đã là gặp gỡ nhau trong tâm linh rồi! 3. Đức Giêsu là lương thực tâm linh Đức Giêsu nói: «Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy» (Ga 6,55-56). Câu này phải hiểu thế nào? – Thịt và máu là cái gì chính yếu nhất cấu tạo nên con người, nên nó tượng trưng cho bản thân con người ấy. Thức ăn là vật dùng để nuôi sống. Nó hiện hữu không vì chính nó, mà hoàn toàn vì sự sống của người ăn nó. Không gì mang tính vị tha bằng thức ăn. Đức Giêsu hiện hữu tại trần gian không phải vì bản thân Ngài, mà vì sự sống vĩnh cửu của con người. Nên một cách nào đó, Ngài chính là thức ăn cho sự sống vĩnh cửu của trần gian. Ý nghĩa ấy còn trở nên rõ ràng hơn khi Ngài nói trong bữa tiệc ly: «Đây là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì anh em», «Đây là Máu Thầy, sẽ đổ ra cho anh em và nhiều người được khỏi tội». Chung quy lại là Ngài chết vì sự sống của con người. Vì thế, Ngài đã trở nên của ăn để nhân loại được sống. Ngài đã trở nên «chiếc bánh bị ăn», nói theo ngôn từ của linh mục Prado. 4. Phải dùng thức ăn tâm linh thế nào? Đành rằng Đức Giêsu chính là lương thực tâm linh. Nhưng ăn Ngài thế nào là cả một vấn đề cần phải nắm vững. Nhiều Kitô hữu quan niệm rằng cứ nuốt Đức Giêsu vào bụng một cách vật chất dưới hình dạng bánh thánh, thì chính là ăn Ngài, nhờ đó mà ích lợi cho linh hồn và đời sống tâm linh mình. Thực ra hành động ăn Đức Giêsu dưới dạng bánh thánh chỉ là dấu chỉ hữu hình bề ngoài cho việc ăn Ngài một cách tâm linh xảy ra ở trong nội tâm. Điều quan trọng là phải có hành động ăn Ngài một cách tâm linh ở bên trong thì dấu chỉ bên ngoài kia mới thật sự có ý nghĩa và đem lại lợi ích thật sự cho tâm linh. Ăn uống Mình và Máu Đức Giêsu chính là nội tâm hóa Ngài, biến Ngài thành bản thân ta. · Nội tâm hóa Ngài là gì? – Trước đây, ta quan niệm Đức Giêsu như là một con người hoàn toàn ở bên ngoài ta. Việc Ngài sinh ra, sống, chịu đau khổ, chết đi và sống lại đều là những biến cố độc lập xảy ra bên ngoài bản thân ta, tương tự như bao biến cố lịch sử khác. Nội tâm hóa Đức Giêsu là làm cho Ngài trở thành thực tại sống động ở ngay trong ta, có khả năng ảnh hưởng thật sự trên mọi quan niệm, tư tưởng, lời nói, hành vi của ta. Những biến cố trong cuộc đời Ngài không còn là những biến cố xảy ra trong quá khứ bên ngoài ta, mà là đang xảy ra cách sống động trong ta, tại đây và lúc này. · Biến Ngài thành bản thân ta là gì? – Khi ta ăn một thức ăn gì, thức ăn đó sẽ được tiêu hóa để trở thành máu xương, da thịt của ta. Nghĩa là trở thành cái gì đó của ta, thành bản thân ta. Cũng vậy, ăn Đức Giêsu là biến Đức Giêsu trở thành một phần của bản thân ta. Nghĩa là: con người của Ngài, cùng với quan niệm, tư tưởng, cách nói năng, cách hành xử thấm nhuần yêu thương của Ngài sẽ trở thành con người ta, thành quan niệm, tư tưởng, cách nói năng, cách hành xử thấm nhuần yêu thương của ta. Và đến một lúc nào đó, ta có thể nói được: «Tôi sống, nhưng không còn là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi» (Gl 2,20). Cuối cùng, ta trở thành một con người được nội tâm hóa, được tâm linh hóa, hay được kitô hóa, thành một «con người mới» (Ep 4,24; Cl 3,10), «thụ tạo mới» (2Cr 5,17; Gl 6,15), với một «đời sống mới» (Rm 6,4; 8,11) và «tinh thần mới» (Rm 7,6), chủ yếu «sống theo thần khí» hơn là «sống theo xác thịt» (Rm 8,4-6; 1Cr 3,1; Gl 5,17). Lúc đó ta mới cảm nghiệm được thiên đàng tại thế là gì? Và Thiên Chúa hay Đức Giêsu dịu ngọt dường bao! Đức Giêsu chính là của ăn tâm linh. Biết bao người biết rất rõ điều ấy, nhưng đã hiểu điều ấy một cách rất vật chất, nên đã chẳng «ăn» được Ngài. Vì «ăn» Ngài một cách rất vật chất, nên suốt bao năm «ăn» Ngài, tâm linh ta chẳng tiến bộ được bao nhiêu. Ta vẫn «sống theo xác thịt» chẳng khác gì bao người chưa hề «ăn» Ngài. Tệ nhất là thay vì «ăn» Ngài, hoặc bắt chước Ngài trở nên «bánh» cho người khác «ăn» (ý tưởng của linh mục Prado), thì ta lại «ăn» người khác, bắt người khác phải hy sinh và chịu đau khổ, thiệt thòi vì mình. Điều kỳ diệu là tâm linh ta chỉ mạnh mẽ lên khi ta «ăn» Ngài hoặc trở nên «bánh» cho người khác «ăn» mình, và trở nên yếu đuối hoặc bị bệnh trầm trọng khi ta lại «ăn» người khác. Xin Chúa giúp chúng ta biết cách «ăn» thức ăn tâm linh bằng chính tâm linh của ta chứ không phải bằng thể xác của ta; đồng thời biết trở nên «bánh» cho mọi người cùng «ăn». Có thế ta mới nhận được sức mạnh tâm linh thật sự từ Thiên Chúa, qua Đức Giêsu●
360. Đèn không sáng nếu hết dầu, xe không chạy nếu cạn xăng, hồn tông đồ sẽ suy mạt nếu không đến với Thánh Thể: “Ai không ăn thịt Ta và uống máu Ta, chẳng được sống đời đời.” 373. Muốn tin, phải nuôi mình bằng Thánh Thể, vì Thánh Thể chứa đựng ‘mầu nhiệm Đức Tin,’ và ban sức mạnh đức tin cho con. ĐHY Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng
NGƯỜI KITÔ HỮU Theo ánh mẮt tâm linh Khổng NhuậnCon người chúng ta gồm có 2 phần: thân xác và tâm hồn. Hay con người trần thế và con người tâm linh. I. Con người trần thế Theo cái nhìn nhân loại, tôi là một con người có thân xác, trí tuệ, con tim. 1. Con người thân xác Con người mang xác phàm đã được sinh ra trong thời gian, theo tháng ngày lớn nhanh như thổi. Rồi từ từ yếu dần và chắc chắn một ngày nào đó nó sẽ bị huỷ hoại trong lòng đất hoặc thành tro bụi trong lò thiêu. 2. Con người trí tuệ Biểu hiện đậm nét nhất nơi con người trí tuệ đó là quay quắt vì những tham vọng khôn nguôi. Tham vọng đủ thứ: quyền lực, tiền bạc, của cải, tình dục, danh vọng, thành công… Trong những cơn lốc này, con người như chiếc lá vàng cuối mùa bị cuốn hút vào cơn gió xoáy gây nên biết bao nỗi đau khổ, tang thương. Cho tới một lúc nào đó, chiếc lá bay tung lên trời thoát khỏi cơn lốc và hưởng được giây phút hạnh phúc bồng bềnh đem lại những ánh chớp hoan lạc và xao động - Đây không phải là hạnh phúc thật. Bởi vì chúng ta lại dễ dàng bị cuốn theo một cơn lốc khác, có khi còn mãnh liệt hơn. Tệ hại nhất là những khổ đau, thất bại trong quá khứ có thể trở thành những vết thương lòng mưng mủ từ bên trong, như một căn bệnh ung thư không bao giờ lành, gây nhức nhối cho nạn nhân. Rồi chính nhức nhối đó lại trở thành mũi tên tẩm thuốc độc hành hạ người thân và những người chung quanh. 3. Con người tình cảm Dù sống kiếp lưu đầy, ngục tù nhưng người ta vẫn xây biết bao nhiêu mộng cho cuộc đời mình. Đáng tiếc thay!! nhiều người tới giờ chết mà mộng ước vẫn còn dang dở. Ngay cả tình yêu, lẽ ra mang lại hạnh phúc, hoan lạc cho con người. Thế nhưng các bạn trẻ đã từng chuyền tai nhau: Yêu thì khổ, không yêu thì lỗ, thà khổ còn hơn lỗ. Thế rồi lao đầu vào thế trận bát quái tình yêu. Quả thật họ cũng hưởng được những giây phút hạnh phúc ngọt ngào bên nhau, nhưng rồi nghi ngờ, ghen tuông, lo lắng sợ đánh mất người mình yêu khiến cho người đang yêu phải ngậm đắng nuốt cay. Đến khi cưới nhau rồi người ta lại cho rằng hôn nhân là nấm mồ của tình yêu. Ông bà thường nói: Bây giờ vợ chồng chúng tôi sống vì nghĩa - nghĩa vụ vợ, bổn phận chồng - tình yêu chỉ còn là tấm hình kỷ niệm bạc màu theo thời gian mà chẳng ai buồn xem lại. Chỉ cần một chút phác thảo về đời người, chúng ta hẳn có thể đi tới kết luận. Theo cái nhìn nhân loại, đời quả là bể khổ, cuộc sống trên trần gian thật lắm vất vả, gian nan. Nguyên nhân chính yếu là vì con người nhắm mắt chạy theo thói đời. Thánh Gioan đã khuyên nhủ: Anh em đừng yêu thế gian và những gì ở trong thế gian. Kẻ nào yêu thế gian thì nơi kẻ ấy không có lòng mến Chúa Cha,16 vì mọi sự trong thế gian: như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian; 17mà thế gian đang qua đi, cùng với dục vọng của nó. (1Ga 2:15-17). Vẫn biết là thế gian đang qua đi cùng với dục vọng của nó; nhưng khổ một nỗi, khi chúng ta đang ở trong cơn lốc trần gian chúng ta lại thấy nó rất thực, thực đến nỗi chúng ta sống chết với nó, chiến đấu, tranh giành để đạt cho bằng được tham vọng mà chúng ta đã cưu mang trong lòng bấy lâu nay. Cuối cùng, đạt được rồi, chúng ta lại đâm ra chán nản trước những ràng buộc hệ lụy của thói đời từng vòng từng vòng quấn chặt. Lúc đó ta lại muốn thoát ra mà không được. Hoặc bị rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan, đành nhắm mắt đưa chân vào góc trời tương lai xám xịt tối đen đầy những bão tố và mưa giông. Như những cánh lá cô đơn trên dòng thác cuộc đời, con người trần thế bị cuốn hút đi khắp nơi để rồi cuối cùng lao xuống vực sâu - kết thúc cuộc hành trình gian khổ điêu linh. Vĩnh biệt tất cả mà lòng còn rối bời hoang mang. Không hoang mang, lo âu sao được khi không biết thế giới mai sau nơi mình cô đơn một bóng bước vào một cuộc hành trình vô tận sẽ như thế nào!! May mắn thay! Không chỉ có con người thuần tuý thân xác với bao đau thương đắng cay trong cuộc đời và kết thúc bi thảm như thế, chúng ta còn mang hình ảnh con người tâm linh sống hoan lạc, bình an, hạnh phúc và ra đi trong niềm vui thanh thản.Thánh Phao-lô đã khám phá ra 2 gương mặt của con người trong tư tưởng sau: Những kẻ thuộc về đất thì giống như kẻ bởi đất mà ra; còn những kẻ thuộc về trời thì giống như Đấng từ trời mà đến. Vì thế, cũng như chúng ta đã mang hình ảnh người bởi đất mà ra, thì chúng ta cũng sẽ được mang hình ảnh Đấng từ trời mà đến.(Cr 15:48-49) II. Con người tâm linhMang danh là Kitô hữu, chúng ta cũng đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu Kitô với ba khuôn mặt giống Đức Giêsu như đúc: 1. Chúng ta là con yêu dấu của ChaNgày trước tôi cứ tưởng mình là vật mọn phàm hèn trước mặt Chúa cao sang thánh thiện, hóa ra hoàn toàn không phải vậy. Tôi cũng là con yêu dấu của Cha dựa vào sự xuất phát của tôi: Tôi được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa. (Ga 1:13). Bề ngoài tôi là con ông Y bà X, nhưng cha mẹ tôi chỉ là dụng cụ để Ngài sinh ra tôi ra trên chốn hồng trần này. Vì thế người Cha đích thực của tôi chính là Chúa Cha. Cha mẹ tôi không hề hay biết giây phút tôi xuất hiện trong lòng mẹ, không biết tôi sẽ là trai hay gái, không biết tính tình, tương lai tôi sẽ ra sao. Nhưng Chúa, Ngài biết hết: Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân."(Gr 1:5). Không những Ngài biết giây phút xuất hiện của tôi mà Ngài còn thánh hoá tôi và trao cho tôi một sứ mạng rõ ràng: làm ngôn sứ của Ngài cho muôn dân. Thánh Gioan còn khẳng định: Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa - mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa. (1Ga 3:1). Thánh Gioan đã xác quyết chúng ta thực sự là con Thiên Chúa; thế mà trước đây chúng tôi cứ tưởng là tôi tớ hạng bét ngay trong nhà Cha của mình. Thật là mọt sự hiểu lầm chết người!!! 2. Chúng ta là đàn em của Anh cả Giêsu Dù đã được trình bày trong bài Đức Giêsu Kitô, nhưng những câu Kinh Thánh đó ngọt ngào quá đến nỗi, chúng ta nên vui mừng nhắc lại để niềm vui chúng ta được trọn vẹn hơn: Chính Đức Giêsu đã xác nhận:"Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em” (Ga 20:17). Một thời gian sau, Thánh Phao-lô đã khám phá vai trò trưởng tử của Anh Cả Giêsu và tất cả đều cùng phát xuất từ một Chúa Cha qua lời chia sẻ đầy chân tình: : Thật vậy, Đấng thánh hoá là Đức Giê-su, và những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là các em, khi nói: Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho các em tất cả được hay, và trong đại hội Dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương. Bởi thế, Người đã phải nên giống các em mình về mọi phương diện, (Dt 2:11,12,17) - Dịch giả An-sơn Vị đã dùng từ các em thay cho từ anh em cho hợp với tâm tình Việt nam và mạch văn: Trưởng tử - Anh Cả đối với các em. Thêm vào đó, thực là hạnh phúc biết bao khi chúng ta biết rằng từ muôn thủa, Chúa Cha đã yêu thương chúng ta và nhất là chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định. Vì những ai Người đã biết từ trước, Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. (Rm 8:28-29). Thế là từ khám phá thú vị này, tương quan giữa chúng ta và Anh cả Giêsu đã mang màu sắc tình cảm gần gũi hơn, đầm ấm hơn. Chúng ta có thể tha hồ mà vui vẻ thổ lộ tâm tình. Đặc biệt là quyết tâm sống giống như Anh cả Giêsu trong tâm tưởng của người con yêu dấu với Chúa Cha yêu thương ngay trong lòng mình. 3. Chúng ta sống kết hợp với Chúa trong Thánh Thần Từ khi nhận ra mình là con yêu dấu của Chúa, là đàn em của anh cả Giêsu, chúng ta mới có thể mở mắt ra và nhìn theo ánh mắt tâm linh toàn bộ cuộc sống đời Kitô hữu của mình. Trước hết, trở lại vấn đề căn bản của đời sống tâm linh: Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ. (2Tm 1:7). Đây là nền tảng quan trọng trong đời sống tâm linh Kitô hữu. Thực vậy, giống như Anh cả Giêsu, chúng ta cũng được tràn đầy Thánh Thần. Chính Thánh Thần này là nguồn sức mạnh, tình thương và tự chủ. Thôi nhé, từ nay, giã từ tư tưởng bi quan: Tôi là vật phàm hèn. Tôi xấu xa tội lỗi. Tôi chẳng đáng Chúa thương. Tôi chẳng đáng Chúa ngự vào lòng (dù Ngài đã và đang sống trong ta ngay từ khi ta được hình thành trong lòng mẹ!!) Khi chịu phép Rửa: Chúng ta đều đã chịu phép Rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất.(1Cr 12:13). Thế mà trước đây chúng tôi chẳng hề ý thức một chút nào về Thần Khí tràn đầy tâm hồn mình. Chúng tôi chỉ đơn giản nghĩ rằng phép Rửa giống như một nghi thức gia nhập đạo công giáo. Được ghi tên vào sổ Rửa tội, lập tức tôi trở thành người Kitô hữu - một người Kitô hữu hình thức. Chính vì thế dù chúng tôi tin rằng đã khỏi tội nguyên tổ, nhưng chúng ta vẫn cảm thấy yếu đuối, lòng xiêu xiêu dễ hướng về điều xấu và sa ngã một cách dễ dàng trước bất cứ một cám dỗ nào. Lớn lên chút nữa, khi lãnh nhận bí tích Thêm Sức, chúng ta được dịp xác tín rằng Thánh Thần là nguồn sức mạnh toàn năng. nhờ sống trong Ngài, con người nội tâm của chúng ta trở nên vững vàng hơn: Nguyện xin Chúa Cha, thể theo sự phong phú của Người là Đấng vinh hiển, ban cho anh em được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Người, để con người nội tâm nơi anh em được vững vàng. (Ep 3:16). Thêm vào đó, thánh Phao-lô còn vui mừng chia sẻ: Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ,…19 đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực. (Ep 1:18-19). Nhờ được tràn đầy Thánh Thần, chúng ta cũng được liên kết với nhau nên một trong Chúa: Anh em biết Thánh Thần, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em.(Ga 14:17). Thật vậy, … chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha.(Ep 2:18). Nếu chúng ta sống kết hợp với Cha trong Thần Khí của Ngài ngày này qua ngày khác thì chắc chắn tới một lúc nào đó, chúng ta sẽ cảm nghiệm được như anh cả Giêsu đã từng tuyên bố: “Tôi và Cha tôi là MỘT.” Tóm lại, con người tâm linh của chúng ta được sinh ra bởi chính Thiên Chúa, giống hình ảnh của Ngài, là đàn em của Anh cả Giêsu. Noi gương Trưởng tử Giêsu, chúng ta sống nhờ Thánh Thần - sức sống thần linh của Cha, sức mạnh toàn năng của Cha - để tất cả nên một như Chúa Cha và Anh cả Giêsu là một. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta trở thành thánh trong chớp mắt, làm người cõi trên, suốt ngày nghĩ chuyện trên trời; còn chuyện trần gian là đồ bỏ như rác rưởi, sao cũng được, bất cần. Hoàn toàn không phải vậy, người Kitô hữu phải bắt chước Anh cả Giêsu nhập thế, sống với đời, hoà mình với anh em, mang niềm vui, hạnh phúc đến cho những người khác tùy theo khả năng, tùy theo môi trường của mình. Chính vì thế, con người Kitô hữu không những là một con người tâm linh sống động, mà còn là một con người trần thế với tất cả tình cảm nhân loại như những người khác: buồn, vui, giận, thương…Tuy nhiên người Kitô hữu biết làm chủ tình cảm, tư tưởng của mình nhờ sức mạnh Thần Khí Thiên Chúa ngay trong tâm mình. Theo ánh mắt tâm linh, người Kitô hữu là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa con người tâm linh và con người thân xác. Con người tâm linh càng lớn lên trong Thần Khí của Cha thì càng vững mạnh hơn khiến cho con người thân xác ngày càng bình an, vui tươi, yêu đời hơn. Dù phải sống giữa trăm chiều thử thách. Ta có thể kết luận bằng những Lời Chúa tuyệt vời sau đây: Sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Ki-tô vì Người là Đầu. (Ep 4:15). Sống theo sự thật chính là sống theo Thần Khí, nhờ đó chúng ta sẽ sống đời Kitô hữu thật đồi dào, bình an, hạnh phúc: Như vậy, anh em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa. (Ep 3:19)●
THÁNG
HOA – DÂNG KÍNH MẸ MARIA ĐỨC MARIA - ÂN HUỆ CỦA THIÊN CHÚA
Lm. Vũ Xuân Hạnh
Nhờ ánh sáng của Tân Ước, chúng ta nhận ra hình ảnh Đức Maria trong Cựu Ước. Nhờ sự bổ túc lẫn nhau của cả Tân Ước và Cựu Ước, khuôn mặt Đức Maria được nhận biết ngày một rõ ràng hơn, sâu hơn. Nói cách chính xác, Tân Ước đã được chuẩn bị ngay trong Cựu Ước. Tân Ước chỉ có thể trở nên mạc khải trọn vẹn nhờ tận dụng tất cả những gì đã được mạc khải trước mình. Để sống tinh thần của tháng Năm, tháng Hoa dâng kính Đức Mẹ, chúng ta cùng nhau nhìn ngắm vị trí của Mẹ chúng ta trong vài đoạn Kinh Thánh Cựu Ước và nhìn ngắm chân dung Đức Mẹ trong ngày Mẹ được thiên thần truyền tin, cuộc thăm viếng mà Mẹ dành cho người chị họ của mình và bài ca Magnificat. Ước mong nơi chính mình, với một tâm hồn tha thiết muốn được nên như Mẹ, ta biết giục lòng yêu mến Mẹ nhiều hơn và bắt chước Mẹ luôn sẵn sàng vâng theo thánh ý Chúa 1. MỘT SỰ TUYỂN CHỌN NHẮM MỤC ĐÍCH. Nơi Đức Maria là cả một sự tuyển chọn lớn lao, cao cả nhắm thẳng tới mục đích. Bởi trên hết mọi sự tuyển chọn, sự tuyển chọn Đức Maria của Thiên Chúa liên hệ trực tiếp đến công cuộc nhập thể cứu độ của Con Thiên Chúa. Chính nhờ ơn gọi đặc biệt này, Mẹ góp phần của mình hoàn tất vai trò cứu độ loài người của chính Thiên Chúa. Bởi vậy, ngay từ những trang đầu của Thánh Kinh, hình ảnh Đức Maria, dù rằng chưa rõ nét, vẫn xuất hiện trong một tư thế trang trọng, và rất mực được kính trọng. 2. HÌNH ẢNH ĐỨC MARIA TRONG CỰU ƯỚC. - Từ thuở đời đời Mẹ đã có chỗ đứng quan trọng trong Tin Mừng Nguyên Thủy. Ngay khi bà Evà bị kẻ cám dỗ mang hình thù của một con rắn quyến-rũ phạm tội, đem cái chết đến cho nhân loại thì Giavê Thiên Chúa đã phán bảo kẻ chủ mưu của tội: "Bởi ngươi đã làm thế thì ngươi hãy là đồ chúc dữ giữa mọi thú-vật cùng dã-thú hết thảy! Ngươi hãy lê bụng và ăn đất-bụi mọi ngày đời ngươi. Ta sẽ đặt hận-thù giữa ngươi và NGƯỜI ĐÀN-BÀ, giữa dòng giống ngươi và dòng giống nó, dòng giống nó sẽ đạp đầu ngươi còn ngươi sẽ táp lại gót chân!" (Kn 3,14-15). - Trong suốt bốn ngàn năm mong đợi Đấng Cứu Thế của Cựu Ước, Mẹ đã được các Tiên tri loan báo sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, đặt tên là Emmanuel, có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta: "Chính Đức Chúa sẽ cho các ngươi một dấu-lạ: Này một TRINH NỮ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, và Bà sẽ đặt tên con là Emanuel!" (Is 7, 14). Khoảng năm 736 tCG, các nước Aram và Israel không thể lôi kéo Akhaz vua nước Giuđa vào liên minh chống Assyri của mình, họ đã đánh Giuđa. Akhaz cầu cứu đế quốc Assyri. Trong khi ngăn cản vua Achaz cầu cứu quân đội Assyri, tiên tri Isaia đã có lời loan báo nổi tiếng bên trên về Đấng Emmanuel. Chính Tin Mừng theo thánh Mathêô đã nhận ra khuôn mặt Emmanuel là Đấng Cứu Thế, người con một của Đức Maria (Mt 1, 23). - Tiên tri Isaia đã không thể ngăn cản vua Akhaz. Năm 701, Assyri quay lại Giêrusalem không phải để giúp đỡ, nhưng để tàn phá. Trong lúc lâm nguy, Tiên tri Mica trấn an dân chúng. Trong lời trấn an, hình ảnh Đức Mẹ và Người Con của Mẹ lại xuất hiện: "Người sẽ phó nộp chúng cho tới thời kỳ TRINH-NỮ sinh Con và số sót anh em Ngài về với Israel. Ngài sẽ bền vững, Ngài sẽ chăn dắt dựa vào quyền năng Giavê, nhờ Uy Danh Giavê Thiên Chúa của Ngài. Và chúng sẽ được an cư, vì bấy giờ Ngài sẽ nên lớn lao cho đến mút cùng trái đất !" (Mica 5,2-3). - Tiên tri Zacarya cũng tiên báo về Mẹ: "Giavê phán: Hãy reo lên! Hãy vui-mừng, hỡi NỮ TỬ SION! Này Ta đến lưu trú ở giữa ngươi!" (Zac 2,14). - Ngoài những bản văn ám chỉ, dù chưa rõ ràng, nhưng phác họa phần nào chân dung Mẹ Chúa Cứu Thế, ý nghĩa của một số hình ảnh của Cựu Ước cũng được truyền thống và phụng vụ của Giáo Hội quy về Đức Mẹ. Chẳng hạn: sao mai, rạng đông, địa đàng, tàu Noe, thang Giacob, bụi gai rực lửa, tấm vải phủ đầy sương của ông Gêđêon. Sự khôn ngoan vĩnh cửu mà sách Không Ngoan ca ngợi được phụng vụ áp dụng vào Đức Mẹ cách bóng bẩy. Dù vậy phụng vụ cũng chỉ có ý khẳng định mối dây liên kết chặt chẽ giữa Đức Mẹ và Chúa Kitô trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. - Hoặc những hình ảnh được hiểu theo nghĩa tiên trưng về Đức Mẹ khi nói đến các phụ nữ đạo đức, danh tiếng, anh hùng của Cựu Ước như: Lời bà Isave chào Đức Mẹ được phỏng theo lời ca ngợi Giuditha của Cựu Ước. Bài ca Magnificat lấy ý nghĩa lời chúc tụng của bà Anna, mẹ của Samuel. Ngoài ra, phúc lành được ban cho các phụ nữ Israel qua dấu chỉ họ sanh con. Đức Mẹ được Chúa chúc lành cách tuyệt hảo vì Mẹ đã sinh ra chính Con Thiên Chúa. Mẹ cũng chính là thiếu nữ Sion, vừa đón nhận Chính Đấng Cứu Thế, vừa ban tặng Đấng ấy cho trần gian. Vì thế, Mẹ trở thành vị hôn thê cao cả nhất (mà sách Nhã ca diễn tả) của Thiên Chúa Giavê. Chỉ lướt qua một chút về vị trí của Đức Mẹ trong Cựu Ước, chúng ta không chỉ nhận ra, Lời mạc khải của Thiên Chúa dành cho Mẹ một chỗ đứng tương xứng với chức vị cao cả của Mẹ sau này, nhưng còn hiểu rõ hơn, chính trong ý định và chương trình tình yêu từ đời đời của Thiên Chúa, đã có hình ảnh của Mẹ Đấng Cứu Thế. Bởi vậy chúng ta tôn kính Mẹ không chỉ vì Mẹ được đặt trong một vị thế trọng yếu, nhưng còn vì chính lòng yêu thương triều mến mà Thiên Chúa dành cho Mẹ. Chỉ mới nhìn vào Cựu Ước cách khái quát, ta đã sung sướng vì được vinh dự làm con của một người phụ nữ diễm phúc, người phụ nữ mà Cựu Ước diễn tả được Chúa đoái thương cho làm mẹ của Đấng Emmanuel, thì trong Tân Ước người phụ nữ ấy càng đẹp lộng lẫy và kêu sa bởi Đấng Emmanuel ấy, là chính Thiên Chúa làm người, bắt đầu hiện diện ở giữa gia đình nhân loại từ nơi cung lòng của Mẹ. 3. TRUYỀN TIN CHO ĐỨC MARIA. Ngay trong cuộc truyền tin cho Đức Mria, ta thấy tác giả Luca không chỉ bộc lộ tư cách thiên sai và nguồn gốc thần linh của Chúa Giêsu, mà còn muốn nhắm đến nguồn gốc nhân loại của Người. Bởi đó, thánh Luca cũng cho ta biết tư cách làm mẹ và vai trò đặc biệt của Đức Maria. a. LỜI CHÀO CỦA THIÊN THẦN. |