Số 47, Ngày 4-6-2005

 

MỤC LỤC

 

Thư Tòa Soạn

Thánh Thể và Thánh Tâm - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Đức Giêsu Kitô Theo Ánh Mắt Tâm Linh - Khổng Nhuận

Thái Độ Cần Có Đối Với Người Tội Lỗi - Nguyễn Chính Kết

Việc Tôn Sùng Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria - Lm. Matthew R. Mauriello

Sống Trong Trái Tim Mẹ Maria - Gm. Bùi Tuần

Hãy Nhìn Xem Cuộc Đời Họ...- Trần Duy Nhiên

Của Lễ Thành Tâm - Mạnh Điệp

Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng (tt) - Lm. Michet Hubaut – Maranatha dịch

Trái Tim Của Chúa - Quả Tim Của Con - Vũ Thế Vinh

Trái Tim - Trần Duy Nhiên

Hạnh Phúc Tuyệt Vời - Sưu tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

       Kính thưa Quý độc giả,

     Ai trong chúng ta cũng biết rằng, trái tim là biểu tượng của tình yêu, lòng bác ái, sự cảm thông, của hạnh phúc và niềm vui cũng như nỗi muộn phiền. Tim được coi là cơ quan chính yếu của cơ thể con người, phối hợp giữa trí tuệ và cảm xúc. Trái tim ấy biểu hiện tình yêu đôi lứa, vợ chồng, cha mẹ, bè bạn dành cho nhau.. Nhưng trên hết, những biểu hiện ấy được phản ảnh Tình Yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại. “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga, 4, 8), thánh Gioan đã viết rõ như thế trong thư thứ nhất về nguồn mạch đức ái; Tình Yêu ấy đã được bày tỏ ra trong Trái Tim Rất Thánh mà chúng ta thường thấy với hình ảnh quả tim có lửa cháy, trên đó là thánh giá được bao bọc bởi triều thiên mão gai khi bước vào tháng sáu, tháng dành kính THÁNH TẦM CHÚA GIÊSU.

Bằng ngôn ngữ của con người để bày tỏ tình yêu ấy, như lời của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong bài giảng dâng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, vị cha chung đã nói “tất cả những gì Thiên Chúa muốn bày tỏ cho chúng ta về chính Ngài và Tình Yêu của Ngài dành cho chúng ta, thì Ngài đã đặt để trong Trái Tim Rất Thánh của Chúa Giêsu, và bằng cách này Thánh Tâm đã cho chúng ta biết tất cả mọi sự. Chúng ta có thể tìm thấy chính bản thân mình trước mầu nhiệm khôn ví này. Trong Trái Tim Chúa Giêsu chúng ta đọc được kế hoạch thánh thiêng đời đời của chương trình cứu độ thế giới. Đó chính là kế hoạch của tình yêu.” (Chúa nhật 6/6/1999).

 Con người thời nay thường ca tụng, tung hô tình yêu bằng những mỹ từ to tát, qua quảng cáo và khuyến mãi, kinh doanh nhưng đồng thời nhân loại cũng cảm nghiệm sâu sắc hơn bao giờ những đổ vỡ, mất mát, chia lìa và đau đớn bởi những xung đột tự thẳm sâu trong tâm hồn con người, trong gia đình và giữa các quốc gia dân tộc.

Cùng trăn trở với những khổ đau tinh thần và thể chất của con người, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng đã nói đến lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu như thần dược và là nguồn mạch của sự hòa giải cho một thế giới đang bị đẫm máu bởi các cuộc xung đột này. Trước hàng ngàn người hành hương tại quảng trường thánh Phêrô đọc kinh Truyền tin hôm Chúa Nhật 23/6/2002, ngài đã nhắn nhủ: "Nhân loại ngày nay cần sứ điệp của tình yêu được phát xuất từ sự chiêm ngắm Thánh Tâm Chúa Kitô, nguồn mạch duy nhất, mà từ đó, nhân loại có thể múc lấy những trữ lượng của đức khiêm nhường và của sự tha thứ cần thiết, để chữa lành những cuộc xung đột cam go đẫm máu." Ngài kêu mời "Việc sùng kính Thánh tâm Chúa Giêsu có nghĩa rằng là tiến vào tâm điểm sâu xa nhất của con người Ðấng Cứu thế, tòa ngự của Tình Yêu Cứu Chuộc thế gian. Nếu trái tim nhân loại biểu hiện một mầu nhiệm khôn dò, một mầu nhiệm chỉ có một Thiên Chúa biết, thì trái tim của Chúa Giêsu lại càng không thể dò thấu; trong con tim ấy chính sự sống Ngôi Lời chuyển động, và là nơi chứa đựng tất cả những kho tàng của sự khôn ngoan và hiểu biết, cũng như tất cả sự viên mãn của thần tính." Trong tình yêu rất thánh của Đức Kitô cứu chuộc, Đức Thánh Cha cũng đã nhắc đến Mẹ Maria và tình yêu bị đâm thâu của Trái Tim Vô Nhiễm mà Ngài gọi là "trung gian của Ân sủng và Cứu Độ”, “để cứu chuộc con người, Thiên Chúa đã muốn ban cho con người một trái tim mới, trái tim của Chúa Kitô, kiệt tác của Chúa thánh Thần, đã bắt đầu đập trong cung lòng trinh khiết của Mẹ Maria và bị lưỡi đòng đâm thâu trên thánh giá, do đó, trở nên nguồn mạch vô tận của sự sống đời đời."

Cũng vào chính ngày lễ Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu năm nay, thứ sáu ngày 3 tháng 6, Giáo Hội dành đặc biệt để cầu nguyện cho sứ vụ linh mục. Văn kiện do Bộ Giáo Sĩ công bố ngày 31 tháng 5 năm 2005 nói về Ngày Thánh Hóa Các Linh Mục, ngày mà chính Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã thiết lập trong Năm Thánh Thể 2005, và được Tân Giáo Hoàng Bênêdictô XVI lập lại trong bài giảng thánh lễ khai mạc thừa tác vụ Tông Đồ của ngài.

Trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa vì Tình Yêu đã trao ban cho nhân loại qua Trái Tim Rất Thánh, Maranatha_47 tìm hiểu về lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, cùng hiệp lòng với lời mời gọi của Giáo Hội trong Ngày Cầu Nguyện Thánh Hoá Các Linh Mục, Maranatha cũng gửi đến độc giả một vài khuôn mặt, tâm tình của những con-người-linh-mục sống hết mình suốt đời cho Chúa và dân Ngài để rồi trở thành như những hạt giống mục nát cho lúa Tin Mừng đơm bông.

Maranatha cũng dành những khoảng khắc trong thinh lặng của suy tư theo gương những con người sống Phúc Âm, để rồi trái tim cũng được mở ra đón nhận tình yêu và trao tặng tình yêu ấy cho cuộc đời, như thế, ngay chính nơi này hôm nay, tín hữu chúng ta cùng chiêm ngắm quả-tim-có-lửa-cháy-bị-đâm-thâu với lòng sám hối và khẩn nguyện: Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!

MARANATHA

Trở về Muc Lục

 

 MỪNG KÍNH THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

THÁNH THỂ VÀ THÁNH TÂM

 

Lm. Vũ Xuân Hạnh

I. DIỄN TIẾN CỦA LỊCH SỬ LÒNG TÔN SÙNG THÁNH TÂM TRONG GIÁO HỘI.

THẾ KỶ 17.

Có thể coi lịch sử lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu, biểu tượng của tình yêu Thiên Chúa đối với con người, bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 17 với công khởi xướng của thánh Gioan Eudes tại Pháp. Những lời giảng dạy và thánh lễ đầu tiên được thánh nhân cử hành ngày 20.10.1672.

Năm 1673, chính Chúa Giêsu hiện ra với thánh nữ Maria Magarita Alacoque tại tu viện Thăm Viếng ở Parayle Monoal và trao cho chị việc truyền bá lòng tôn sùng Trái Tim Người. Trái Tim đã yêu dấu loài người quá bội.”

Mặc dù gặp nhiều khó khăn và chống đối của chị em trong tu viện. Nhưng thánh ý Chúa quan phòng. Vì thế năm 1686, tức gần 13 năm sau ngày chị thánh Magarita Alacoque được nhình thấy Thánh Tâm Chúa Giêsu, lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu lần đầu tiên được tổ chức tại tu viện Thăm Viếng theo nguyện vọng của chị.

THẾ KỶ 18.

Đầu thế kỷ 18, thánh Louis Marie Grignion de Monfort đã rao giảng, truyền bá lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu tại miền tây nước Pháp. Việc tôn sùng này, cùng với ảnh hưởng của thánh Louis Marie Grignion, dần dần lan ra khắp Giáo Hội.

Năm 1765, Đức Thánh Cha Clémente XIII đã khích lệ phong trào sùng kính Thánh Tâm này.

THẾ KỶ 19.

Sang thế kỷ 19, lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu đã đi vào lòng người, đã nở rộ khắp nơi. Thế kỷ này được mệnh danh là thế kỷ của lòng tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu. Chính dưới triều Đức Piô IX, vào năm 1856, theo sự thỉnh cầu của các giám mục Pháp, ngài đã cổ võ lòng tôn sùng Thánh Tâm trên toàn thế giới.

Việc truyền bá lòng tôn sùng này được thuận lợi hơn khi các tu sĩ dòng Tên khởi xướng mạnh mẽ phong trào đạo đức mang tên “Tông đồ cầu nguyện.”

Kinh cầu Thánh Tâm ra đời, số các tín hữu tham dự thứ sáu đầu tháng gia tăng, nhiều dòng tu dưới cờ hiệu Trái Tim Chúa Giêsu xuất hiện tại Pháp, rồi tại các miền khác trên thế giới, đã minh chứng hùng hồn cho sự phát triển lòng tôn sùng này.

Những cuộc dâng hiến cho Thánh Tâm Chúa: con người, gia đình, hội dòng, giáo phận… được nhân lên. Sau đó, lòng tôn sùng này đi thêm một bước nữa, đó là dâng hiến cho Thánh Tâm quê hương xứ sở mình, mà Bỉ là nước đầu tiên thực hiện năm 1869, tiếp theo là Pháp năm 1873.

Vào khoảng cuối thế kỷ, năm 1899, với thông điệp Annum Sacrum, thông điệp đầu tiên nói về lòng tôn sùng Thánh Thâm Chúa Giêsu, xác định những cơ sở thần học của tôn sùng này, Đức Leô XIII đã chính thức thiết lập lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu vào thứ sáu tuần thứ ba sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, (tức thứ sáu sau lễ Mình và Chúa Kitô), đồng thời khích lệ, cổ võ việc rước lễ thứ sáu đầu tháng. Cũng vào cuối năm 1899, Đức Thánh Cha Lêô XIII long trọng hiến dâng vũ trụ cho Trái Tim Chúa Giêsu.

THẾ KỶ 20.

Tiếp nối truyền thống tốt đẹp trên đây, vào những năm đầu hậu báng thế kỷ 20, Công đồng Vatican II khuyên dạy: Phải cố gắng cổ võ các việc đạo đức đã được tập quán đáng kính của Giáo Hội khuyên là và Giáo Hội đã dành trọng tháng sáu hàng năm để tôn kính cách đặc biệt tình yêu thương của Thiên Chúa thể hiện nơi Thánh Tâm Chúa Giêsu.

II. PHÉP LẠ THÁNH THỂ LIÊN QUAN ĐẾN THÁNH TÂM.

Cho đến bây giờ, trong Giáo Hội, người ta vẫn còn kể cho nhau nghe phép lạ nổi tiếng về bí tích Thánh Thể xảy ra vào năm 700 tại Lanciano, Ý. Trong một thánh lễ do một linh mục dòng Basiliô cử hành tại nhà thờ thánh Legozianô, do một chút nghi ngờ sự hiện diện của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, vì thế, sau khi đọc lời truyền phép, sự lạ xảy ra ngay trong tay vị linh mục: Bánh trở nên thịt sống và Rượu trở nên máu tươi rồi đông đặc lại thành năm cục to nhỏ.

Cho đến nay, dù 13 thế kỷ đã trôi qua, người ta vẫn còn nhìn thấy rõ miếng bánh đã biến thành thịt có màu hơi nâu. Nếu nhìn dưới ánh sáng, ta sẽ thấy có màu hồng hồng, được đặt trong một mặt nhật bằng thủy tinh. Còn năm cục máu đổi thành màu vàng nghệ, được đặt trong một chén thánh cũng bằng thủy tinh, trưng bày trong nhà thờ thánh Legozianô - Lanciano, để khách hành hương tự do kính viếng.

Trong suốt thời gian qua, giáo quyền đã cho làm nhiều thử nghiệm để có thể kiểm chứng sự lạ này. Những cuộc giám nghiệm được tiến hành vào những năm 1574, 1637, 1770, 1886. Hai lần giám nghiệm mới đây nhất được tiến hành vào năm 1971 và 1981.

Cuộc giám nghiệm 1971 được trao cho giáo sư  Odoardo Linoli là giáo sư môn giải phẫu nhân hình, kiêm giáo sư mô học bệnh lý, hóa học và hiển vi học. Cùng cộng tác với ông là giáo sư Ruggero Bertelli, thuộc đại học Siena. Kết quả công bố trước các vị đại diện giáo quyền, chính quyền, giới khoa học, văn học và báo chí ngày 4.3.1971 như sau:

-   Thịt và máu là thịt và máu thật, của một người thuộc nhóm máu AB.

-   Thịt được lấy ra từ mô cơ tim (một phần thịt của trái tim) một cách khéo léo tuyệt vời như do một nhà phẫu thuật tài giỏi.

-   Không tìm thấy bất cứ một chất ướp xác nào trong thịt và máu.

-   Trong máu, người ta tìm thấy một số chất hóa học như: clorua, phốt pho, magnêsium, potassium, sodium và calcium.

Điều lạ lùng không kém, đó là các di tích này vẫn không có một vết tích mai một nào, dù trải qua cả một thời dài 1.300 năm. Các di tích này cũng chịu ảnh hưởng bởi các xúc tác vật lý, không khí, sinh vật, nhưng vẫn giữ nguyên tình trạng cách lạ thường, khoa học không thể lý giải.

Có một chi tiết trong câu chuyện phép lạ trên gây chú ý trong tôi. Chi tiết đó là, tấm bánh biến thành Thịt, lại là Thịt của tế bào tim. Trái tim là biểu tượng của tình yêu, là trung tâm của lòng yêu thương. Mình Máu Thánh Chúa hóa nên phép lạ nhãn tiền, để trước mắt mọi người không còn là tấm bánh nhưng là Thịt đích thực, thì chính nơi tấm Thịt đích thực ấy, lại là Thịt của Trái Tim Chúa Giêsu, Thịt của trung tâm tình yêu mà Thiên Chúa trao hiến cho con người. Đẹp biết bao nhiêu, khi ý nghĩa của Trái Tim Chúa Giêsu và Thánh Thể của Người lại được lồng trong nhau nơi hai cuộc lễ trọng thể này. Nhìn lên cái đẹp của Tình yêu Thiên Chúa được chất chứa nơi Trái Tim Thiên Chúa làm người như thế, chúng ta hạnh phúc quá đỗi, vì Thiên Chúa đã nhập cuộc với trần thế để hoá nên nguồn sống muôn đời cho người trần thế.

Không biết đó có phải là lý do để Giáo Hội gắn kết lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu vào lễ Mình Máu Thánh Chúa? Vì hàng năm, cứ sau Chúa nhật lễ Mình - Máu Chúa Kitô, thì ngày thứ sáu liền sau đó sẽ là lễ Thánh Tâm. Dù sao thì hai lễ trọng này vẫn chỉ có một mục đích duy nhất mà Giáo Hội nhắm tới là tôn thờ tình yêu của Thiên Chúa, qua đó mời gọi con người khi đã lãnh nhận tình yêu ấy, hãy trao ban tình yêu cho nhau. Bởi dù là biểu tượng Thánh Tâm hay Thánh Thể, vẫn chỉ là hai khuôn mặt, hai cách diễn tả tuyệt vời, hai hình thức biểu lộ và mạc khải, để chỉ nói lên một nội dung duy nhất: Tình yêu vô cùng của Thiên Chúa dành cho loài người.

III. TỪ THỊ KIẾN CỦA TIÊN TRI ÊZÊKIEL (Ez 47, 1-12).

“Tôi đã thấy nước từ bên phải đền thờ.” Đó là lời bài hát trong nghi thức phụng vụ thánh tẩy, chúng ta thuộc nằm lòng. Đó chính là lời Thánh Kinh trích trong sách tiên tri Êzêkiel. Nhà tiên tri đã nhìn thấy một thị kiến lạ thường: một dòng nước bắt nguồn từ bên phải đền thờ. Dòng nước cứ chảy, chảy mãi, chảy mãi. Dòng nước lạ lùng ấy càng chảy, thì mỗi lúc mỗi đi xa, cứ lớn lên thêm, phát triển và lan rộng vô cùng. Dòng nước này đổ ra biển Chết, làm cho nước biển hóa lành, đến nỗi mọi sinh vật trong biển, vốn chết đều hồi sinh và tràng đầy sức sống.

Tiếp tục chảy, đi xa, và phát triển, dòng nước lớn thành một dòng sông lớn, đến nỗi không thể từ bờ bên này sang bờ bên kia. Trong dòng sông thị kiến ấy, có đầy cá tôm, sức sống hai bên bờ sông cũng đua nhau lớn lên và xanh tươi. Mọi cây cỏ mọc lên, trổ sinh hoa quả quanh năm suốt tháng. Nói tóm lại, dòng nước từ đền thờ đã làm cho khắp nơi được sống và sống mạnh mẽ.

Ngày hôm nay, nhìn ngắm Thánh Tâm Chúa Giêsu, nơi phát sinh nguồn sống mãnh liệt, dẫn đưa con người vào sức sống thần linh ấy, Giáo Hội vô cùng sung sướng reo lên:

Tôi đã thấy Nước

Từ bên phải đền thờ chảy ra,

Và nước ấy chảy đến những ai,

Thì tất cả đều được cứu rỗi và reo lên, Alleluia! Alleluia!

Đền thờ đó là thân xác Đấng chịu đóng đinh. Dòng nước là dòng Máu cứu chuộc mà chính Người đã trao ban đến giọt cuối cùng để làm cho trần gian, do tội, đã ngập trong biển chết, được hồi sinh và sống mãi.

Trên Thánh Giá, nhân loại đã xé rách lồng ngực của Chúa Giêsu, để từ lồng ngực, nơi Trái Tim đã thương tích vì bị đâm thâu, dòng máu cứu độ, máu chứ không phải nước mà thôi, đã chảy mãi, chảy mãi trong trần gian.

Như dòng sông thị kiến của Êzêkiel, ơn cứu độ phát sinh từ đền thờ là chính Chúa Giêsu, càng chảy đi xa, thì càng rộng lớn, càng phát triển không ngừng. Dòng Máu cứu độ của Chúa Giêsu đã thánh hóa và làm phát sinh sự sống khi chảy vào biển chết của cuộc đời này, và lan rộng khắp nơi từ đời này sang đời khác.

Ngày nay dòng máu cứu độ của Chúa Giêsu vẫn chảy mãi không ngừng đến tận cùng trái đất, để bất cứ nơi nào, nếu có người tin vào Chúa, thì nơi ấy lại phát sinh ơn cứu độ, phát sinh sự sống mới, sự sống vĩnh cửu.

Dòng Máu cứu độ và đền thờ là thân thể của Chúa Giêsu cũng chính là tấm bánh được trao ban cho ta. Nhờ dòng Máu và đền thờ ấy, bí tích cứu độ vẫn không ngừng thánh hóa nhân loại, làm cho nhân loại này, nếu tin tưởng sẽ ngày càng sống và sống mãnh liệt, sống đến vô cùng.

Với chiều hướng suy nghĩ về Thánh Tâm Chúa Giêsu và bí tích Thánh Thể, ta càng nhận ra, Thánh Thể và Thánh Tâm có một một ý nghĩa lớn lao, gần gũi. Mối dây tương tác qua lại của cả hai biểu tượng Thánh Thể và Thánh Tâm bổ sung ý nghĩa cho nhau, làm cho khuôn mặt của Tình Yêu nơi Thiên Chúa càng chiếu tỏa, và sức nóng của Tình Yêu ấy càng ấm áp cho lòng người thế, một khi sống trọn đức tin và dám đặt đời mình cho lòng tin vào Tình yêu của Thiên Chúa.

Và Giáo Hội, một khi mang nơi mình cả kho Tàng tình yêu vô cùng ấy của Thiên Chúa, trở nên phong phú, sức sống dồi dào. Từ đó, đời sống của Giáo Hội không thuộc về Giáo Hội, nhưng là nhờ chính Tình yêu của Chúa nuôi dưỡng và làm cho phát triển không ngừng. Giáo Hội thật diễm phúc vì đã có thể mang nơi mình chính mầu nhiệm tình yêu chính Bầu Tim của Thiên Chúa, còn hơn thế, mang nơi mình chính bí tích của Thân Thể Thánh của chính Đấng là Thiên Chúa làm người, để bất cứ ai đến với Giáo Hội, đều được Thiên Chúa trao ban chính sự sống sung mãn của Người cho họ.

IV TRỞ VỀ VỚI TÌNH YÊU CỦA CHÚA.

Một buổi sáng, đi dạo trong khu vườn vắng của nhà xứ, vừa thể dục vừa thư giản. Bỗng một chú chim non đang tập chuyền cành rớt giữa đường bay. Thấy có người, dù bị ngã sóng xoài nhưng cố gượng dậy cất cánh bay lên. Vẫn chưa hoàn sức đầy đủ, vì thế chú bay lên lưng chừng, rồi lại rớt xuống. Lần này còn nặng hơn cú té lần trước. Đập cánh mãi, cố đứng dậy, nhưng đôi chân yếu ớt, chú chim non lại ngã lăng quay.

Tôi tới gần, lại càng làm chú chim sợ hãi, cố hết sức vùng dậy để bay. Nhưng sự cố gắng lớn của chú chim chỉ  có thể giúp chú nhảy vài bước tới phía trước tránh người lạ, rồi lại phải ngã mình nằm xuống. Tôi đưa chú chim non lên lòng bàn tay của mình, vuốt ve vài cái để chú yên tâm. Tôi tìm một chút nước rắc nhẹ lên mình chú chim để chú có thể mau hồi tỉnh. Tôi lại đặt chú lên một phiến đất khô để chú nằm nghỉ. Vài phút sau tôi trở lại thăm. Lần này, vừa mới nhát thấy bóng tôi, chú chim non vội vàng giương cánh bay lên cành cao. Chú chim non sợ tôi. nó không nhìn tôi với đôi mắt biết ơn. Nó cũng chẳng coi tôi là người giúp đỡ nó. Nó vẫn coi tôi là kẻ thù không hơn, không kém.

Hôm nay và cả tháng sáu này nữa, Giáo Hội tôn vinh Tình yêu của Thiên Chúa được cụ thể hóa nơi Trái Tim diệu hiền của Chúa Giêsu.

Có dịp suy niệm lại Tình yêu của Chúa, tôi mới giật mình thản thốt: hình như đã từ lâu lắm rồi, mình chỉ là một chú chim non đầy phản trắc, một chú chim non chưa bao giờ cảm nghiệm đầy đủ Tình Yêu của một Người Cha cao cả dành cho mình. Bởi thực tế, trong cuộc sống đời mình, tôi dễ dàng quên lời Thiên Chúa dạy: hãy yêu thương, hãy tha thứ, hãy hiến thân, hãy cho đi, hãy nhân từ, hãy hiền lành, hãy nghèo khó, hãy khiêm nhường.

Tôi chẳng nhớ gì cả, chẳng giữ gì cả, lại nhớ rất rõ và chấp nhất rất nhiều bất cứ kẻ nào nặng lời với tôi, nói xấu tôi, xúc phạm tôi bằng bất cứ hình thức nào. Tôi chưa bao giờ bằng lòng với cái tôi của mình, và với những gì tôi đang có, ngược lại rất nhiều lần tìm kiếm những tiện nghi, sống nếp sống trưởng giả, đặt mình trên người khác để thỏa lòng kiêu ngạo của bản thân.

Tôi không chỉ đã đi quá xa Tình yêu của Chúa, mà hình như khi không chấp nhận anh chị em, và chỉ lo tìm kiếm sự an thân vật chất cho mình, tôi đặt mình đối diện với Thiên Chúa, không đứng về phía Người, nhưng vô tình trở thành kẻ đối lập với Người.

Thái độ ấy cho thấy tôi chưa tin tưởng vào Tình yêu của Chúa, nghi ngờ Chúa. Hậu quả thật khó lường: dần dà chính tôi đã tự đẩy mình ra khỏi Thiên Chúa.

Tôi chỉ là một chú chim non rong ruổi trong cuộc đời. Tầm nhìn của chú chim non bé quá, chỉ thấy cái hiện tại và đuôi mù trước một thế giới bao la phía trước. Chú chim non cần lắm bàn tay Chúa dìu đưa để ngày một trung thành hơn trong lòng mến và trong tình yêu.

Lễ Thánh Tâm và tháng Thánh Tâm, chúng ta ca tụng Chúa và tôn vinh Tình yêu của người là phải lẽõ. Nhưng trên hết mọi sự, có một điều cần thiết nhất, phải làm ngay, đó chính là hãy ý thức mình bé nhỏ, yếu đuối, non nớt, hay phản trắc… để thực tâm quay về với Tình yêu ấy. 

Để cụ thể hóa việc trở về ấy, điều ta cần làm hôm nay là: “Hãy kết hợp việc tôn sùng Thánh Tâm và tôn thờ Thánh Thể lại với nhau, vì qua bí tích Thánh Thể, tình yêu của Thánh Tâm Chúa rõ rệt hơn, và chúng ta cũng có phương tiện bày tỏ lòng tri ân cảm mến của chúng ta cách dễ dàng hơn.” (Thư mục vụ của Đức Cha Phêrô Trần Đình Tứ, giáo phận Phú Cường).

Vậy, trong những ngày này, bạn và tôi hãy đón nhận Mình Máu Chúa Kitô với tất cả tâm hồn thanh sạch, để qua đó, ta tôn thờ chính Tình yêu của Chúa và được chính Tình yêu của Người bồi dưỡng làm thăng hoa sự sống của bản thân, và tiến tới ơn gọi hoàn thiện là nên thánh trong tình yêu của Chúa

Trở về Muc Lục

 


 178. Đừng để tháng ngày làm cho quả tim già nua. Hãy yêu thương với một tình yêu ngày càng mãnh liệt, mới mẻ, trong trắng hơn: tình yêu Chúa đổ vào quả tim con.

181. Con cảm thấy quả tim con yếu đuối. Các thánh cũng như con. Nhưng nhờ vậy họ mới làm thánh: nhờ ơn Chúa và ý chí.

ĐHY Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng

 

ĐỨC GIÊSU KITÔ Theo ánh mẮt tâm linh

 

 

Khổng Nhuận

Người ta thường quan niêm về Đức Giêsu qua những hình ảnh vĩ đại như sau:

·         Ngài có nhân cách thu hút mạnh mẽ.

·         Ngài là một vị thủ lãnh đầy sức lôi cuốn.

·         Ngài là một người quyền năng phi thường, làm cho kẻ què đi được, người mù xem thấy, kẻ chết sống lại.

·         Ngài đã được các ngôn sứ báo trước hàng mấy thế kỷ. Sự xuất hiện của Ngài chia lịch sự nhân loại làm hai thời kỳ: Trước và sau công nguyên.

·         Đặc biệt là Đức Giêsu tuyên xưng mình là Thiên Chúa. Không một giáo chủ nào dám tuyên bố như vậy.

Thế là giáo dân chúng ta tha hồ mà hãnh diện và đầy tự hào mình là tín đồ của một giáo chủ quyền năng nhất thế giới với những đặc điểm siêu việt, độc nhất vô nhị. Ngài trổi vượt hơn tất cả những giáo chủ khác trên trần gian này.

Nhưng.. thật oái oăm!! Nếu chúng ta nhìn Đức Giêsu với ánh hào quang siêu nhân kể trên, vô tình chúng ta đẩy Ngài lên quá cao, quá xa, đến nỗi chúng ta chỉ còn biết bái phục, chiêm ngưỡng, thờ lạy Ngài mà thôi. Chúng ta khó lòng noi gương Ngài, bắt chước Ngài, bước theo Ngài và càng khó có thể sống mật thiết với Ngài. Khoảng cách ngàn trùng xuất hiện, ngăn cản bước chân trùng phùng giữa Chúa và ta. Lúc đó, ta chỉ còn thấy hình ảnh Đức Giêsu bao phủ tầng tầng lớp lớp ánh hào quang rạng ngời khiến ta vừa tự hào vừa xa lạ với Đức Giêsu uy quyền thánh đức: Khuôn mặt đích thực của Ngài đã bị méo mó trong tâm thức của chúng ta rồi.

Vậy chúng ta nên nhìn Đức Giêsu với những khuôn mặt dễ thương sau đây:

1.                  Đức Giêsu là con yêu dấu của Cha.

Sau khi Đức Giêsu chịu phép Rửa trên sông Gio-đan, Chúa Cha đã công bố: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người." (Mt 3:17). Lần thứ hai, khi Đức Giêsu biến hình trên núi Tabor, Chúa Cha đã phán rằng: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người! " (Mt 17:5).

2.                  Đức Giêsu là Anh Cả của chúng ta

Chính Đức Giêsu đã mở ra cho chúng ta một hy vọng chứa chan, một bầu trời tươi sáng khi xác quyết rằng: "Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em” (Ga 20:17). 

Một thời gian sau, Thánh Phao-lô đã khám phá vai trò trưởng tử của Anh Cả Giêsu qua những chia sẻ đầy chân tình: Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo …Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu. (Cl 1:15,18).

Vì sao vậy? Vì Đức Giêsu chúng ta cùng phát xuất từ một Chúa Cha: Thật vậy, Đấng thánh hoá là Đức Giê-su, và những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là các em, khi nói: Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho các em tất cả được hay, và trong đại hội Dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương. Bởi thế, Người đã phải nên giống các em mình về mọi phương diện, (Dt 2:11,12,17) - Dịch giả An-sơn Vị đã dùng từ các em thay cho từ anh em cho hợp với tâm tình Việt nam và mạch văn: Trưởng tử - Anh Cả đối với các em.

Hạnh phúc biết bao khi chúng ta biết rằng từ muôn thủa, Chúa Cha đã yêu thương chúng ta và nhất là: Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định. Vì những ai Người đã biết từ trước, Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. (Rm 8:28-29). chúng ta ta yêu mến Chúa, chúng ta được nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu để Ngài làm trưởng tử - Anh Cả giữa một đàn em đông đúc.

3.                  Đức Giêsu sống kết hợp mật thiết với Chúa Cha trong Thánh Thần

Đây là khuôn mặt đích thực, ngời sáng nhất. Khuôn mặt con yêu dấu của Cha và Anh Cả chỉ là khuôn mặt chuẩn bị cho khuôn mặt đích thực và ngời sáng này.

Có người cho rằng Đức Giêsu đến trong thế giới không phải đề sống - nhưng là để chết. Tất nhiên là họ đề cao sứ mạng cứu chuộc nhân loại bằng hy sinh tự hiến mình trên Thánh Giá. Đúng thôi, nhưng từ năm 1964, Công Đồng Vaticanô II đã quan niệm sự cứu rỗi dưới hình thức hiệp thông với Ba Ngôi:  Giáo hội phổ quát xuất hiện như “một dân tộc được hiệp nhất nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Hiến chế Tín lý về Giáo hội 1:4) Đã nói tới hiệp nhất, lập tức chúng ta hiểu rằng sống trong nhau, cho nhau, vì nhau, nên một trong nhau. Trong lời mở đầu Tin Mừng thánh Gioan, chúng ta bắt gặp một câu rất đơn giản, ngắn gọn như một các cửa sổ mở ra cả một khung trời bừng sáng yêu thương: Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa (Ga 1:1). Như trái đất xoay quanh mặt trời, Đức Giêsu luôn hướng về Chúa Cha và lớn lên từ nguồn sống của Cha: Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha (Ga 6:57). Sống nhờ Chúa Cha tức là sống nhờ Thần Khí của Cha. Hay nói cách khác, Đức Giêsu được đầy Thần Khí và sống dưới sự hướng dẫn và quyền năng Thánh Thần.

Ngay giây phút đầu tiên nhập thể trong lòng Đức Maria, Đức Giêsu đã tràn ngập Thần Khí: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.(Lc 1:35). Quyền năng Đấng Tối Cao cũng chính là Thần Khí Thiên Chúa không những bao phủ mà con thấm nhập toàn thân-tâm Đức Maria lẫn hài nhi Giêsu vừa mới xuất hiện trong cung lòng của Mẹ.

Trong suốt thời kỳ ẩn dật tại Nazaret: Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa.(Lc 2:40). Sức mạnh, khôn ngoan, ân huệ đích thực là hoa trái của Thánh Thần. Chứng tỏ Đức Giêsu đã lớn lên trong Thần Khí của Cha.

Để mở đầu cho cuộc rao giảng công khai, Đức Giêsu đã chịu phép Rửa.  Đang khi Người cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con. (Lc 3:21-22). Chúng ta đừng tưởng Thánh Thần phải kiên nhẫn chờ đợi Đức Giêsu trưởng thành theo kiểu tam thập nhi lập, lúc đó Thánh Thần mới bắt đầu ngự xuống trên Ngài. Đây chỉ là diễn tả theo kiểu nói của nhân loại. Thực ra Thần Khí Thiên Chúa lúc nào cũng tràn đầy trong tâm hồn Đức Giêsu.  

Sau đó, Người được Thánh Thần dẫn vào trong hoang địa và chịu quỷ cám dỗ.  (Mc 4:1). Đức Giêsu đã dành 40 ngày ăn chay, cầu nguyện để chuẩn bị cho cuộc Loan Báo Tin Mừng nước Thiên Chúa: Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giê-su trở về miền Ga-li-lê (Lc 4: 14). Ta thấy đó từng bước chân của Đức Giêsu đều được Thánh Thần khuyến khích, thúc đẩy hăng hái ra đi bẳng những bước chân đon đả, như những bước chân của Đức Maria cũng đã từng đon đả lên miền sơn cước để đem Tin Mừng cho người chị họ Ê-li-da-bét và hài nhi Gioan vẫn còn trong bào thai.

Chúng ta cùng nhau đọc lại Lời Chúa nền tảng mở đầu cho cuộc Loan Báo Tin Mừng của Đức Giêsu: Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh…Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. (Lc 4: 16,18). Như thế, công cuộc Loan Báo Tin Mừng cần phải có điều kiện trước tiên đó là Thần Khí Chúa ngự bên trên và Người sai đi. Tất nhiên chúng ta không thể hiểu máy móc Thần Khí Chúa ngự trên Đức Giêsu như một ông thần chỉ huy dẫn đường. Trái lại, Thần Khí vừa ở trên chiếu soi, vừa ở ngoài, bao phủ, chở che mà còn vừa ở trong như nguồn tình yêu, nguồn sức mạnh, nguồn sức sống thần linh. Chính vỉ thế Đức Giêsu đã mạnh mẽ tuyên bố: Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và là sự sống.(Ga 6:63)

Vào những ngày cuối đời, Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Ki-tô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. (Dt 9:14). Rồi trong phút lâm chung trên Thánh giá: Đức Giê-su nói: "Thế là đã hoàn tất! " Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí. (Ga 19:30).

Sau khi sống lại, Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em! "… rồi Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.(Ga 20:19,22).

Chúng ta thấy đó, từ khi hạ sinh trong lòng đức Maria cho tới lúc về trời, Đức Giêsu đã hiến trọn đời mình để sống và lớn lên trong Thần Khí của Cha nên Đức Giêsu mới khám phá ra một chân lý vừa cao siêu vừa thực tế mà Anh Cả Giêsu muốn ân cần trao tận tay chúng ta. Đó là cảm nghiệm thú vị tuyệt vời và sâu thẳm khi Đức Giêsu xác tín mình hoà nhập làm một với Chúa Cha, đến nỗi không thể nào phân biệt đâu là Giêsu đâu là Chúa Cha. Cảm nghiệm này được Đức Giêsu xác tín một cách mạnh mẽ với Phi-lip-phê: Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. (Ga 14:10). Đã từ lâu chúng ta cứ tưởng Chúa Cha sai Đức Giêsu xuống trần, còn Ngài lo chuyện quan phòng chăm sóc con người và toàn thể vũ trụ. Nhưng qua niềm xác tín của Đức Giêsu chúng ta mới khám phá ra rằng Chúa Cha không những ngự trên trời mà còn hiện diện khắp mọi nơi, đặc biệt là trong tâm hồn mỗi người trong chúng ta để vừa cùng hoạt động với chúng ta vừa làm chủ công việc của chúng ta, khi chúng ta làm trong tâm tình kết hợp nên một với Ngài. Tới lúc này, ngôn ngữ hoàn toàn bất lực, không thể diễn tả được ngoài một tâm tình ngắn gọn: Tôi và Cha tôi là MỘT (Ga 10:30)

Tóm lại, Đức Giêsu là con yêu dấu của Cha và cũng là Anh Cả của chúng ta. Điều hạnh phúc, niềm tự hào của chúng ta không phải ở chỗ chúng ta là tín đồ của một giáo chủ Giêsu siêu quần bạt  những chúng với những nhãn hiệu bóng bảy như: nhân cách tuyệt vời, thủ lãnh siêu đẳng, quyền năng phi thường, độc nhất vô nhị…Nhưng ở chỗ chúng ta là đàn em của Anh Cả Giêsu rất gần gũi và rất đỗi thân thương.

Sứ mệnh quan trọng nhất của Anh Cả Giêsu là nói cho chúng ta biết về Chúa Cha. Chúa Cha đã yêu thương chúng ta từ muôn thủa và ban Thánh Thần của Ngài cho chúng ta. Thánh Thần chính là tình yêu bao la, sức sống thần linh và sức mạnh thần kỳ của Ngài. Không chỉ nói mà thôi, Đức Giêsu còn sống và lớn lên trong Thần Khí của Cha từng ngày. Đây quả là một gương sáng vĩ đại, quý báu giúp chúng ta có thể bước theo Anh Cả Giêsu mà sống trong Thần Khí Cha ngày này qua ngày khác. Rồi một ngày gần đây, chúng ta cũng có thể cảm nghiệm được hương vị ngọt ngào tuyệt vời trong việc sống kết hợp với Cha. Lúc đó chúng ta cũng có thể chân thành chia sẻ với nhau điều mình tâm đắc nhất: Tôi và Cha tôi là một

Trở về Muc Lục

Thái đỘ cẦn có đỐi vỚi ngưỜI tỘi lỖi

 

Nguyễn Chính Kết

     1.  Thái độ yêu thương và hòa nhập của Đức Giêsu với những người tội lỗi

          Bất kỳ xã hội nào cũng luôn luôn có người tốt người xấu, người thánh thiện kẻ tội lỗi. Người tốt và thánh thiện thường được kính nể, khâm phục, ưa thích và lui tới. Kẻ xấu hay tội lỗi thường bị khinh thường, tẩy chay và xa tránh. Nhưng Thiên Chúa – là Cha chung của mọi người – không phân biệt đối xử như vậy, vì ai cũng là con cái Ngài, được Ngài yêu thương vô bờ bến. Vì thế, «Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính» (Mt 5,45). Cách đối xử không phân biệt của Thiên Chúa được thể hiện qua Đức Giêsu, là hiện thân của Ngài ở trần gian. Chính những người tội lỗi, xấu ác, lại là những người được Ngài quan tâm yêu thương đặc biệt. Ngài đến trần gian vì mọi người, nhưng trước tiên là vì những người tội lỗi: «Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi» (Mt 9,13). Và Ngài sẵn sàng «để chín mươi chín con chiên trên núi mà đi tìm con chiên lạc» (Mt 12,18). Và bài Tin Mừng hôm nay (Mt 9,9-13) cho ta thấy cách đối xử nhân hậu, yêu thương, hòa nhập của Đức Giêsu với những người tội lỗi.

          Thói đời, khi tuyển chọn người cộng tác với mình, người ta thường lựa những người mà họ biết chắc là tốt, làm việc được. Còn Đức Giêsu, ngài biết Matthêu là một người thu thuế, bị dân chúng liệt vào hạng tội lỗi, cần xa tránh. Thế mà Ngài vẫn kêu gọi ông làm môn đệ cho Ngài. Chính nhờ được Ngài kêu gọi, ông đã trở nên một con người tốt, một tông đồ nhiệt thành của Ngài. Như vậy, đối với người không tốt, Ngài không chủ trương loại trừ, vứt bỏ, mà thâu nhận họ để gần gũi, yêu thương, hầu giáo dục, cải hóa họ, đưa họ về đường ngay nẻo chính. Kẻ chủ trương loại trừ người xấu, không tín nhiệm họ, không dùng họ, là vì người ấy chỉ nghĩ đến sự thuận lợi cho mình hay công việc của mình. Còn Đức Giêsu, việc cứu độ trần gian, thiết lập Nước Trời mà Ngài phải hoàn thành vô cùng quan trọng. Nhưng Ngài vẫn mời gọi Matthêu – một người đại diện cho thành phần bị cho là tội lỗi – cộng tác vào việc này. Ngài không chỉ nghĩ tới hiệu quả của công việc, mà còn nghĩ đến quyền lợi và hạnh phúc của cả người xấu, kẻ tội lỗi, đến khả năng làm cho họ trở nên tốt nữa.

     2.  Cách đối xử nên có đối với người xấu, người tội lỗi

          Một danh nhân nói: Muốn biết lòng nhân của một người, hãy xem cách đối xử của người ấy với bề dưới của họ. Tương tự, ta có thể nói: muốn biết khả năng yêu thương và tâm lượng của một người, hãy xem cách xử sự của người ấy đối với những người tội lỗi, những người có thể làm hại hay bất lợi cho mình. Để có những ý nghĩ tích cực đối với người mà ta nghĩ là xấu, là tội lỗi, tôi xin nêu lên một vài suy nghĩ:

          a) Thế gian này là một trường thi

          Trong một cuộc thi leo núi nọ, mỗi thí sinh được đưa vào một tình huống khác nhau, ở những vị thế cao thấp khác nhau trên sườn núi. Tất cả đều phải trèo lên phía trên. Để đạt được điểm cao, ai cũng phải biểu lộ khả năng ứng biến, kiên nhẫn, dũng cảm và tài khéo… của mình trong khi leo. Thật là buồn cười, ngớ ngẩn và ngu xuẩn khi người được đặt ở gần đỉnh núi lại tự hào và chê bai những người được đặt ở dưới chân núi. Anh tự cho rằng mình ở gần đỉnh núi ắt sẽ là người chiến thắng. Vì thế, anh tội nghiệp pha lẫn ít nhiều khinh bỉ đối với những người đang ở tuốt mãi dưới chân núi. Anh nghĩ: còn lâu họ mới leo được tới đây! Với sự tự hào và tưởng nắm chắc phần thắng ấy, anh cứ “tà tà” mà leo, chẳng thèm cố gắng gì cả, vì anh nghĩ: ai mà vượt qua được anh? Nhưng anh không ngờ trong cùng một khoảng thời gian, có người ở dưới chân núi đã leo được một quãng dài gấp đôi anh dù họ gặp chông gai và khó khăn hơn anh, đồng thời họ tỏ ra dũng cảm và tài năng hơn anh rất nhiều. Kết quả là người ấy đoạt được giải nhất, còn anh lại là người đứng hạng chót, vì anh tỏ ra là người ít cố gắng và ít tài năng nhất. Chính vì thế, Đức Giêsu mới nói: Vào ngày phán xét, «nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu» (Mt 19,30).

          Đức Giêsu đã phần nào nói lên lý sự ấy trong dụ ngôn những yến bạc (x. Mt 25,14-30). Dựa vào dụ ngôn này, ta có thể suy nghĩ thêm về giả thiết sau: người nhận được 5 yến có thể không sinh lợi gì hay chỉ làm lợi thêm được 1 yến (tức 1/5 vốn ban đầu); còn người nhận được 1 yến lại làm lợi ra thành 2 hay 3 yến khác (tức gấp 2, gấp 3 vốn ban đầu). Khi họ trình diện thành quả của mình với ông chủ, thì người trước dù có tới 5 hay 6 yến bạc, còn người sau chỉ có 3 hay 4 yến thôi, nhưng ông chủ sẽ đánh giá người sau có tài hơn, và chắc chắn ông sẽ đặt người ấy lên chức vụ cao hơn.

          Cũng vậy, một người nọ – anh A – sinh ra trong một gia đình cha mẹ đạo đức, biết giáo dục con cái, lại làm ăn khá giả, giàu có. Trong hoàn cảnh ấy, người này chẳng cần cố gắng bao nhiêu cũng có thể được xã hội đánh giá là một người rất tốt, vì anh ta không phạm tội trộm cắp bao giờ, do anh ta đã được quá đầy đủ. Trái lại, một người khác – anh B – có cha mẹ thuộc phường “đá cá lăn dưa”, lại lâm cảnh nghèo nàn khốn khổ. Trong hoàn cảnh khó khăn ấy, nếu không cố gắng sống hướng thượng, anh ta đã có thể phạm tội trộm cắp mỗi tháng 10 lần. Nhưng anh đã hết sức cố gắng để chừa bỏ thói trộm cắp ấy, vẫn chưa thành công được như ý nguyện. Cho đến nay, anh vẫn còn ăn cắp mỗi tháng một lần. Tuy nhiên, để đạt được kết quả ấy, anh đã phải cố gắng vượt bậc. Vì thế, trước mặt con người, anh B vẫn còn bị coi là một người xấu, xấu hơn anh A rất nhiều. Nhưng trước mặt Thiên Chúa thì sao? Thử hỏi: nếu Thiên Chúa là một Đấng vô cùng sáng suốt và công bằng, thì giữa hai người ấy, Ngài sẽ phải cho ai là người tốt hơn, có thiện chí và có công lao hơn? Khi mà chính Ngài đã để anh A được vô số thuận lợi, và để anh B bị vố số bất lợi? Liệu Ngài có phán xét theo kiểu người đời, chỉ biết dựa vào tình trạng hiện tại của mỗi người mà phán xét chăng?

          b) Thiên Chúa đánh giá con người khác chúng ta

          Ta đừng tưởng những người bị mọi người coi là tội lỗi đều thật sự là những người tội lỗi hơn ta. Coi chừng, cách đánh giá của Thiên Chúa hay Đức Giêsu khác hẳn với ta. Người Pharisêu đánh giá rất thấp hạng thu thuế và phường đĩ điếm, nhưng Đức Giêsu lại quả quyết với họ: «Tôi bảo thật các ông: phường thu thuế và bọn gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông» (Mt 21,31). Trong dụ ngôn hai người cầu nguyện tại đền thờ (Lc 18,9-14), người Pharisêu cứ tưởng mình được Thiên Chúa đánh giá cao hơn người thu thuế rất nhiều. Nhưng sự thật hoàn toàn ngược lại. Đức Giêsu nói: «Tôi nói cho các ông biết: người thu thuế khi trở xuống mà về nhà thì đã được nên công chính rồi; còn người Pharisêu thì không» (Lc 18,14).

          Tại sao vậy? Vì «Người không xét xử theo dáng vẻ bên ngoài, cũng không phán quyết theo lời kẻ khác nói» (Is 11,3; x. Mc 12,14). Nhiều trường hợp dáng vẻ bên ngoài không phản ảnh đúng thực tại bên trong, mà có khi hoàn toàn trái ngược. Thật vậy, một số người Pharisêu bị Đức Giêsu kết án: «Các người cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác!» (Mt 23,28). Rất nhiều khi chính chúng ta cũng bị lừa, hoặc tự lừa dối mình, vì vẻ bên ngoài của ta, vì chức vụ cao trọng ta đang nắm. Chúng ta tưởng mình là công chính vì thấy mọi người đều đánh giá ta như vậy, hoặc vì ta đang ở trên một bậc thang rất cao trong Giáo Hội hoặc xã hội. Thế là ta hãnh diện và lên mặt với mọi người. Thật ra, ta đang bị lừa dối bởi chính quan niệm sai lầm của ta. Vì thế, thánh Phaolô mới nói: «Ai tưởng mình đang đứng vững hãy coi chừng kẻo ngã» (1Cr 10,12). Tốt nhất là chúng ta đừng tự đánh giá mình cao quá, đừng vội cho mình đạo đức thánh thiện cho dù ta được mọi người suy tôn như vậy. Vì chưa chắc Thiên Chúa đã đánh giá ta như mọi người đánh giá. Hãy suy nghĩ lời Chúa: «Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên» (Mt 23,12; Lc 14,11). Tốt nhất, nên tự đánh giá mình thấp kém một chút, vì tự đánh giá kiểu ấy thường là đúng với sự thật hơn.

          Khi tự đánh giá mình cách khiêm nhu như vậy, ta dễ có thái độ giống Đức Giêsu khi gặp những người tội lỗi: sẵn sàng hòa mình với họ, giao thiệp, ăn uống với họ, coi họ như anh em, bạn hữu của mình, nhất là thật sự yêu thương họ… Chứ không xa cách, khinh bỉ, chê bai, nguyền rủa, ghét cay ghét đắng họ. Thiết tưởng là môn đệ Đức Giêsu, ta phải có thái độ giống như Ngài đối với những người bị mọi người coi là tội lỗi, xấu xa… Chính thái độ đối với những người này mới thật sự chứng tỏ ta có tình yêu đích thực ở bên trong hay không.

          Đọc và suy gẫm Kinh Thánh hằng tuần, có khi hằng ngày, nhưng nhiều khi ta không thấm nhuần được tinh thần yêu thương tha thứ của Đức Giêsu. Mặc dù ta vẫn chê bai người Pharisêu, nhưng đối với người tội lỗi, phản ứng của ta thường rất giống người Pharisêu: ta cũng ưa tẩy chay, xa lánh, kết án, loại trừ những người tội lỗi, đồng thời tự hào rằng mình công chính không khác gì họ. Họ thích áp dụng luật lệ để ném đá cho chết những người phụ nữ ngoại tình, hơn là làm theo đòi hỏi của tình thương trong lòng họ (x. Ga 8,3-5); ta thường cũng hành xử như thế. Còn Đức Giêsu, trong những trường hợp ấy, Ngài không kết án, nhưng thông cảm sâu xa với hoàn cảnh và sự yếu đuối của họ, đồng thời tìm cách cảm hóa để họ đi vào con đường ngay chính (x. Ga 8,11). Chúng ta hãy xin Chúa giúp ta hành xử theo tinh thần yêu thương của Đức Giêsu

Trở về Muc Lục

 

 KÍNH TRÁI TIM VÔ NHIỄM MẸ MARIA

VIỆC TÔN SÙNG TRÁI TIM VÔ NHIỄM MẸ MARIA

 

Lm. Matthew R. Mauriello – Maranatha dịch 

Việc tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ được dựa trên nền tảng Phúc Âm. Trong Tân Ước, sách Tin Mừng theo Thánh Luca có hai lần nhắc đến Trái Tim Mẹ Maria trong đoạn 2 câu19: “Maria ghi nhớ những điều này và suy niệm trong lòng”“Còn Mẹ Ngài thì ghi nhớ những điều này trong lòng.” (Lc 2, 51).  Trong Cựu Ước, trái tim dược xem như biểu tượng thẳm sâu trong tâm lòng con người, là trung tâm của mọi chọn lựa và cam kết. Đối với nhân loại, đó là biểu tượng của tình yêu. Trong sách Đệ Nhị Luật ta đã nghe rằng: “Ngươi hãy yêu  mến Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết tâm lòng, hết sức lực và trí khôn ngươi.” (6,5).  Khi các biệt phái chất vấn Đức Kitô về giới răn nào trọng nhất, Ngài đã nhắc lại đoạn Kinh Thánh này để trả lời cho họ (Mác-cô 12, 29-33).

Cũng chính Trái Tim Mẹ đã đáp trả bằng tiếng “Xin vâng” với Thiên Chúa. Đó là lời đáp cho sứ thần Truyền Tin. Do sự ưng thuận vì tình yêu, Mẹ Maria trước hết đã cưu mang Đức Giêsu trong trái tim mình và rồi cũng cưu mang trong cung lòng của Mẹ. Đức Kitô, chính Ngài: khi được người phụ nữ trong đám đông ca tụng phúc cho cung lòng người nữ đã sinh thành ra Chúa, thì Ngài đã trả lời: “Ai nghe và giữ Lời Thiên Chúa thì có phúc hơn.” (Lc 11,28). Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong thông điệp đầu tiên, Đấng Cứu Chuộc Con Người, đã viết, “Mầu nhiệm của Cứu Độ đã được hình thành trong trái tim của Đức Trinh Nữ Thành Nazaret khi Mẹ thưa lời Xin Vâng.’ (RH #22).

Theo lịch sử, việc tôn sùng Trái Tim Đức Mẹ được tìm thấy đầu tiên vào thế kỷ 12 với nhiều sử gia như Thánh Anselm (1109) và Thánh Bernard thành Clairvaux (1153) là thánh viết rất tài tình về việc tôn sùng thánh thiện này. Thánh Bernadine thành Siena (1380-1444) đã được gọi là Tiến Sĩ về lòng sùng kính Trái Tim Mẹ vì những trước tác về Trái Tim Mẹ. Ngài viết, “từ trái tim Mẹ, như lò lửa của Tình Yêu Rất Thánh, Đức Trinh Nữ Maria đã nói lên ngôn ngữ tuyệt vời nhất của một tình yêu mãnh liệt.” Thánh John Eudes (1601-1680) qua các bài viết của Ngài đẵ giúp khơi lại lòng sùng kính này. Đức Thánh Cha Lêô XIII và Piô X gọi ngài là “cha, thầy dạy và là tông đồ phụng vụ lòng sùng mến Thánh Tâm Chúa Giêsu và Mẹ Maria.” Trước hai thập niên trước khi những phụng vụ vinh danh Trái Tim Rất Thánh Chúa Giêsu, Thánh John Eudes và những người theo ngài đã dành ngày 8 tháng 2 trong khoảng năm 1643 để kính nhớ Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ. Về sau, Đức Piô VII cho mở rộng ngày mừng kính để các giáo xứ hoặc hội đoàn nào muốn tôn sùng thì cũng được phép.

Việc tôn sùng Trái Tim Mẹ Maria có một truyền thống đẹp đẽ hơn nữa qua tấm ảnh đeo của Thánh Catarina Laboure năm 1830 và việc hiện ra của Đức Mẹ tại Fatima. Từ ngày 13 tháng 5 đến 13 tháng 10 năm 1917, Mẹ đã hiện ra với 3 trẻ, Jacinta, Francisco Marto và người chị họ là Luica DosSantos tại Fatima, Bồ Đào Nha. Trong ngày 13 tháng 7, Mẹ đã cho các trẻ này biết rằng” “để cứu những người tôi lỗi, Thiên Chúa đã ước ao thiết lập việc sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ.” Toàn bộ lời nhắn nhủ của Mẹ là một lời cầu nguyện, thống hối và bằng những việc hy sinh, đền bù phạt tạ Thiên Chúa về những xúc phạm đến Ngài.

Vào năm 1942, kỷ niệm 25 năm biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Fatima, Đức Thánh Cha Piô XII đã dâng thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ. Cũng vào năm ấy, ngài đã chọn mừng lễ này vào ngày 22 tháng 8, một tuần sau lễ Đức Mẹ Hồn Xác Về Trời. Ngày 4 tháng 5 năm 1944, ngài loan báo mở rộng lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm cho Giáo Hội hoàn vũ. Với những cải cách về phụng vụ trong Công Đồng Vatican II, lễ kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ được dời về một ngày ngay sau Lễ Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, chính là ngày là thứ bảy sau chúa nhật thứ hai sau Lễ Hiện Xuống.

Lời cầu nguyện nhập lễ của phụng vụ trong lễ Trái Tim Vô Nhiễm giúp chúng ta hướng về sứ điệp quan trọng của lễ mà chúng ta mừng kính này: “Lạy Chúa, Chúa đã chuẩn bị trái tim tinh tuyền của Mẹ Maria để trở thành nơi trú ngụ của Chúa Thánh Thần. Xin cho chúng con là dân Chúa tuyển chọn, được trở thành những đền thờ của vinh quang Ngài. Xin Mẹ giúp chúng con, là những người con thiêng liêng của Mẹ, được kết hiệp luôn mãi trong tình thắm thiết với Con của Mẹ và không bao giờ để tội lỗi làm chúng con lìa xa Chúa.”

Trở về Muc Lục

SỐng trong trái tim MẸ Maria

Gm. Bùi Tuần