Thư Tòa
Soạn
Kính thưa quý độc giả,
Cách đây gần 40 năm, trong Tủ Sách Tuổi Hoa có một
quyển nhan đề là “Chiếc Lá Thuộc Bài” nhưng không còn nhớ ai là tác giả và
cốt chuyện cũng chỉ còn nhớ mang máng. Tình tiết thì có lẽ không còn chính
xác lắm, nhưng cốt lõi là câu chuyện về một người cha vì yêu con mà nảy sinh
sáng kiến. Khi con mình phàn nàn rằng các bài học khó thuộc quá, ông bèn
tặng cho cô bé một chiếc lá, và bảo rằng hãy ép vào tập thì sẽ học bài mau
thuộc. Quả thật, từ ngày có chiếc lá ấy, cô bé học bài mau thuộc hơn, và
tiến bộ trong học tập.
Sau này lớn lên, cô phát hiện rằng ‘chiếc lá thuộc
bài’ chỉ là một loại lá ‘dương liễu’ bình thường và chẳng có một phép thần
nào cả, nhưng đồng thời cô cũng nhận ra rằng cha cô đã giúp cô tin vào một
chiếc lá, và quả thật phép mầu đã xảy ra. Cô hiểu rằng chiếc lá tự nó không
là gì cả, nhưng với tình yêu, cha đã dùng một vật tầm thường để biến thành
phép mầu. Và suốt đời, cô vẫn giữ chiếc lá héo khô quý báu kia để tưởng nhớ
cha mình và khẳng định rằng tình yêu của cha không bao giờ tàn héo.
Cách đây không lâu, báo Tuổi Trẻ có bài viết tường
thuật về một người cha có hình ảnh trái ngược hẳn. Sáng sáng, một người cha
ở rìa quận 8 đạp xe chở hai cháu gái và một cháu trai từ 8 đến 12 tuổi ra
các góc đường Chợ lớn. Ba đứa con rách rưới, mình mẩy đầy thương tích phải
đi xin những người qua đường. Chiều đến, ông lại ra đón ba ‘đứa nhỏ’ về và
đếm tiền đã xin được. Cháu nào không nộp đủ số tiền đã ấn định thì ông đánh
đập tàn nhẫn và không cho ăn tối. Thảm kịch này chỉ chấm dứt khi công an
quận 5 bắt giam ông về tội ác của mình.
Không biết ba cháu bé kia khi lớn lên còn giữ được
hình ảnh gì về cha mình, nhưng điều chắc chắn là các cháu sẽ không bao giờ
có được một kỷ niệm đẹp đẽ dịu dàng nào khi tưởng nhớ đến cha mình, bởi vì
‘tình cha’ mà các cháu nhận chỉ là nỗi sợ khiếp đảm trước những trận đòn hằn
học.
Văn hào Marcel Pagnol cũng đã viết suy nghĩ của
mình về người cha trong vở kịch Fanny. Fanny, sau khi mang thai với người
yêu của mình là Marius mà không muốn cản bước đường giang hồ của anh, nên đã
kết hôn với Panisse. Sau nhiều năm bỏ đi biệt xứ, Marius trở về ‘đòi con.’
Fanny bảo rằng đứa bé là con của Panisse chứ không phải là của anh ta. Cha
anh là César ủng hộ lập trường của Fanny. Sau đây là đối thoại giữa hai cha
con:
Marius: Khi một người đã là cha thì có thế
nào cũng vẫn là cha!
César: Khi thằng bé ra đời, nó chỉ có bốn
ký... Nhưng hiện nay, nó nặng chín ký, và mày hiểu đấy, năm ký nữa thêm vào.
Chín ký đó là chín ký tình yêu. Mà tình yêu thì nhẹ lắm!... Còn mày, mày cho
nó điều gì?”
Marius: Sự sống!
César: Sự sống! Chó cũng cho được sự sống
vậy... Bò tót cũng vậy. Đứa bé này, mày không muốn có nó. Điều mày muốn, là
lạc thú của mày. Sự sống! Đừng bảo rằng mày cho nó sự sống. Nó tự lấy sự
sống của nó: đâu có giống nhau!
Marius: Trời ơi! Vậy thì ai là người cha?
Người cho sự sống hay người trả tiền sữa?
César: Cha là người yêu thương!
Vâng! Cha là người yêu thương. Và vì
thế không phải ai cũng có được một người cha trên trần thế! Vì lý do bất khả
kháng: ra đời đã mồ côi cha. Vì lý do vị kỷ: người sinh ra mình không đoái
hoài đến mình. Tuy nhiên, ai có được một người cha đúng nghĩa thì cuộc đời
sẽ mãi mãi mang dấu ấn cao cả về tình thương không có gì làm nhạt phai.
Cũng vì thế mà năm 1910 Sonora Smart Dodds, ở
Spokane, đã kêu gọi lấy một ngày để tưởng nhớ thân phụ mình, một người đã gà
trống nuôi con qua bao nhiêu năm trường.
Và kể từ đó, ngày 19 tháng 6 mỗi năm, Hoa Kỳ mừng
Ngày Hiền Phụ. Và hiện nay lễ này đã được mừng nhiều nước ở Châu Âu nữa.
Và bởi vì ‘Cha là người yêu thương’ nên
Ngày Hiền Phụ cũng là ngày mà mỗi người hướng đến để tỏ lòng biết ơn người
‘cha’ đã sinh ra mình về thể lý, trong tinh thần, như cha đỡ đầu, và các
‘cha’ đã sinh hạ mình trong ân sủng.
Nhưng trên hết, đối với Kitô hữu chúng ta, Thiên
Chúa là Cha, vì đó là mặc khải, nhưng cũng vì Thiên Chúa là Đấng Yêu Thương.
Đón nhận đức tin Kitô giáo tiên vàn là cảm nhận được tình Cha nơi Thiên
Chúa, một tình yêu khiến cho mọi thứ tầm thường của cuộc sống hầu như mang
phép mầu. Và cũng trong tinh thần này, ngoài việc tiếp tục những bài thường
lệ, Maranatha_48
sẽ dành rất nhiều trang để hướng về người cha: cha dưới đất cũng như Cha
trên trời.
Những tuần qua, người ta đã rao bán bao nhiêu loại
quà cho người cha trần thế; nhưng đối với Cha trên trời thì không có món quà
nào xứng đáng dâng lên Người, ngoài Chúa Kitô, vì thế với tâm tình con thảo,
chúng ta cất tiếng nguyện xin: Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!
MARANATHA
Trở về mục lục >>

SỐNG LỜI CHÚA
CHÚA LÀ ĐẤNG GIẢI THOÁT
Lm. Vũ Xuân Hạnh
Ngày ấy, ông Môsê đang đi chăn đàn vật tại núi Sinai. Bất ngờ, ông nhìn thấy
bụi gai bốc cháy phừng phực, nhưng bụi gai thì không hề bị thiêu rụi. Quá lạ
thường, ông chạy đến để nhìn cho rõ sự tình. Đến gần, ông nghe tiếng phán từ
bụi gai rực lửa ấy: ‘Môsê,
bỏ dép ra, vì nơi ngươi đang đứng là nơi thánh.’
Môsê bạt vía kinh hồn, càng không thể hiểu nổi điều mình đang chứng kiến tận
mắt. Nhưng Đấng ngự giữa bụi gai diệu kỳ ấy chính là Thiên Chúa của tình
yêu. Ông khám phá ra rằng, Người là tác giả của ơn giải thoát.
Người ban cho ông mệnh lệnh giải thoát dân của Người ra khỏi tình trạng nô
lệ Aicập. Người sai ông đến gặp Pharaô, vua Aicập và nói cho nhà vua biết:
Hãy để cho dân tôi đi, hãy giải thoát dân tôi khỏi cảnh nô lệ lầm than, hãy
để cho dân tôi đi về miền đất tự do. Thiên Chúa là Thiên Chúa giải thoát.
Người đã ngỏ lời với ông từ trong bụi gai, giữa một cảnh tượng hùng vĩ.
Người là Thiên Chúa giải thoát. Người ngự trong bụi gai, đã không làm bụi
gai bị thiêu rụi. Và vì là Thiên Chúa giải thoát, ngự giữa đám dân nô lệ,
Người trao ban tình yêu, trao ban sức mạnh, trao ban tự do và bình an.
Là Thiên Chúa giải thoát, Người ngự nơi nào, nơi ấy được giải thoát. Nơi Đức
Maria, Thiên Chúa mà ngày xưa phán từ giữa bụi gai để giải thoát dân Người,
trở nên gần gũi với con người hơn bao giờ hết. Người không chỉ ngự vào tâm
hồn Mẹ, mà còn hóa nên nhục thể, chấp nhận một thân xác lấy từ chính thân
xác của Mẹ. Bằng cách ấy, Người đã ngự hoàn hảo nhất, trọn vẹn nhất nơi tâm
hồn và cung lòng Mẹ, đến nỗi không thể có bất cứ cuộc ngự trị nào khác sánh
ví. Mẹ đón nhận Người bằng tâm hồn yêu mến, đức tin và một niềm trông cậy
không dễ gì lay chuyển. Chẳng những Chúa yêu thích ngự vào lòng Mẹ, mặt khác
Mẹ còn vui sướng đón nhận Người, vì thế Người đã giải thoát Mẹ khỏi mọi
vướng bận của tội lỗi và thế gian. Một cuộc giải thoát tuyệt vời trên mọi
cuộc giải thoát: tinh tuyền, trong trắng và rực sáng giữa triều thần thánh,
giữa muôn loài, qua muôn thế hệ.
Tin Mừng nhiều lần cho thấy bằng chứng về việc Thiên Chúa giải thoát. Trong
đó câu chuyện giải thoát nơi gia đình ông Giakêô là một trong những cuộc
giải thoát đáng ghi nhớ.
Ông Giakêô, người thu thuế, đã khôn ngoan mở rộng lòng đón nhận Chúa Kitô.
Người vui mừng ngự đến nơi ông. Qua ông, Người ngự vào gia đình ông. Người
ban tặng cả gia đình ông những lời quá sức ngọt ngào, đó cũng chính là ơn
cao cả mà mọi người chờ mong:
‘Hôm nay, ƠN CỨU ĐỘ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ
phụ Abraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.’
(Lc 19, 9-10).
Mặc dù ông chỉ nhìn thấy Chúa như mọi người nhìn thấy. Nhưng ngay việc ông
tiếp nhận Chúa, không phải một cuộc tiếp đón xã giao, nhưng là sự đón nhận
trong lòng yêu mến của tâm hồn, đã là một sự hiện diện và ngự trị trọn vẹn
của Chúa nơi tâm hồn ông. Chỉ cần thế thôi, chỉ cần lòng người đừng khép
lại, nhưng có một chút quảng đại, một chút thiện chí, là Chúa đã có thể ngự
vào.
Thiên Chúa giải thoát như đã từng giải thoát dân của Người và giải thoát tâm
hồn Đức Maria, đã ngự đến trong lòng, trong gia đình Giakêô giải thoát ông,
giải thoát gia đình ông. Những hình ảnh thật cảm động mà thánh Luca diễn tả
qua lời đối thoại của Chúa Giêsu và hành động của Giakêô:
‘Một người tên là Giakêô, đứng đầu những người thu thuế ‘ chạy tới phía
trước, leo lên một cây sung để xem Chúa Giêsu,’ Người nhìn lên và nói với
ông: 'Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông.’’Ông vội vàng tụt xuống, mừng rỡ
đón rước Người. Ông Giakêô đứng và thưa với Chúa: 'Phân nửa tài sản của tôi,
tôi cho người nghèo. Tôi xin đền gấp bốn.”
(Lc, 19, 1-10), cho thấy hạnh phúc của kẻ tội lỗi là biết nhận ra mình tội
lỗi.
Ông hạnh phúc đến độ, đường đường là quan chức, trưởng cả một đội thu thuế,
vậy mà hành động như một đứa bé: lăng xăng chạy về phía trước để xem Chúa
bằng được. Không thể nhìn thấy, ông trèo lên cây, ngồi trên đó nhìn xuống.
Đến khi Chúa gọi, ông lại tụt xuống mừng rỡ trước mặt Người. Ông ngỡ chắc
chẳng ai thấy mình vắt vẻo trên nhánh sung. Nhưng ông lầm. Chúa đã thấy ông.
Người thấy ông trước khi ông thấy Người. Chỉ với lòng ham muốn gặp gỡ Chúa,
Giakêô quên hết, gác một bên mọi danh dự, chức bậc mình đang có.
Niềm hạnh phúc bất ngờ làm ông ngây ngất. Đường từ gốc sung về nhà ông xa
hay gần, ta không rõ. Nhưng chắc chắn đó là con đường đầy ắp niềm vui. Kể từ
đó, ông ý thức thân phận nhỏ nhoi, không phải vì thấp bé, nhưng vì ông biết
mình chỉ là người bất xứng; dưới mắt mọi người, chỉ là kẻ tội lỗi, gian ác.
Nhưng suy cho cùng, người bị coi là tội lỗi, gian ác như ông, lại nhận biết
mình đến vậy, vẫn là người tốt hơn bất cứ ai chỉ thấy mình cao trọng trong
sự thanh sạch, khỏe khoắn trong đường nhân đức, mạnh mẽ trong cơn cám dỗ,
lớn lao trong đời sống đức tin, để rồi ngủ vùi trong tự mãn, không thấy bản
chất thật của thân phận yếu đuối.
Phía Thiên Chúa, chỉ cần Giakêô có một thoáng nhận ra thân phận mình thôi,
Người đã đến với ông. Ta cũng được như thế, nếu biết mang lấy tâm tình của
Giakêô. Thực ra, Chúa vẫn có đó, Chúa chờ ta mở lòng mình để Người xóa
khoảng cách tưởng xa vô cùng của Đấng là Thiên Chúa thánh thiện tuyệt đối
với con người tội lỗi. Chúa cao sang là thế lại vui mừng quá đỗi khi được ta
đón nhận và được trú ngụ trong nhà tâm hồn ta. Vì nếu Chúa nói với Giakêô: ‘Hôm
nay nhà này được ơn cứu độ,’
Người cũng nói với ta như thế, khi ta biết để Chúa ngự trong ta. Vì Người là
Đấng giải thoát, Người ngự nơi đâu, nơi đó được giải thoát.
Nhưng trong lịch sử cứu độ đâu chỉ có dân Chúa, hay Đức Maria, hay ông
Giakêô được Chúa giải thoát. Thánh Mathêô, thánh Phaolô, thánh Maria
Mađalêna, thánh Augustinô, và không biết bao nhiêu người con của Giáo Hội đã
vươn lên từ trong những chặng đường tối tăm nhờ ơn giải thoát của Chúa.
Cũng vậy, hôm nay nếu có Chúa ở cùng, bạn và tôi sẽ được Người giải thoát
khỏi mọi vướng bận của trần gian, của những u mê lầm lạc. Hãy để Chúa ở
cùng. Thực ra, Chúa vẫn ngự trong tâm hồn mỗi người. Chỉ cần gìn giữ Thiên
Chúa trong cuộc đời mình, ta sẽ hạnh phúc, mạnh mẽ, đáng yêu như Chúa muốn.
Cách hay nhất để giữ ơn Chúa trong đời mình, chẳng cao xa hay khó thực hiện,
mà vẫn chỉ là những gì Giáo Hội dạy: chuyên chăm cầu nguyện, siêng năng lãnh
bí tích, giữ luật Chúa, luật Giáo Hội, thực hiện bác ái yêu thương với mọi
anh em. Ước mong ơn giải thoát của Chúa luôn sống mãi trong ta để ta luôn
thuộc về Người●
Trở về mục lục >>

HÔM NAY LÀ NGÀY THIÊN CHÚA DỰNG NÊN
Đỗ Trân Duy
Đức Giêsu nói
với dân chúng, “Các
ngươi hãy tìm Nước Trời trước đã. Chớ lo lắng cho ngày mai. Hãy để ngày mai
lo cho ngày mai. Ngày nào có đủ nỗi khổ cho ngày ấy.”
(Mat 6: 33-34)
1.
Đức Giêsu khuyên dân chúng đừng để tâm hồn lạc hướng vào cõi âu lo. Âu lo là
vận hành của tâm trạng sợ hãi. Nó nhảy tới nhảy lui giữa quá khứ và tương
lai, giữa nội tâm và ngoại giới. Chạy theo nó là một nỗ lực vô ích. Muốn
tránh lỗi lầm vọng tưởng để có sự sống thật, hãy đặt tâm vào giá trị thiêng
liêng vĩnh cửu. Nếu mỗi ngày đều có mối lo, Nước Trời là mối phải lo đầu
tiên. Hãy để tâm tìm Nước Trời. Nhưng tìm Nước Trời ở đâu?
Nhóm Biệt Phái
hỏi: Khi nào Nước Trời đến? Đức Giêsu đáp, “Nước Trời không
đến cách nhãn tiền. Người ta không thể nói: ‘này ở đây’ hay ‘ở kia’, vì Nước
Trời ở trong các ông.” (Luc 17:20-21).
Suy ra Nước Trời không chiếm hữu một
lãnh thổ và một kỳ thời gian bên ngoài. Nó đang hiện diện trong tim những
người của hiện tại. “Hãy để ngày mai lo cho ngày mai.”
Chúng ta hãy suy niệm về chủ đề tâm trạng sống trong hiện tại để biết
cảm tạ sự sống đang là.
Đức Giêsu xác nhận mỗi ngày đều có những
nỗi khổ của nó. Đúng vậy, không ai dám phủ nhận một sự thật: đời sống quá
nhiều vấn nạn. Con người sống hoang mang sầu não như những kẻ bị lưu đày
trong cõi trần gian. Với não trạng bất an lo lắng, nhiều người đã nghĩ rằng
họ bị sinh ra như một lỗi lầm. Sự đau khổ xẩy ra có thể là hậu quả của sự dữ
trong thiên hạ, mà ta là nạn nhân. Nhưng sự đau khổ cũng có thể do chính ta
tạo ra cho mình. Nói chung, phản ứng về sự đau khổ đã đẩy tâm trí con người
hướng tới những khát vọng xa xôi. Những mộng ước nằm bên ngoài thời gian
hiện tại của ngày hôm nay. Có nhiều người vô tôn giáo cố gắng tìm kiếm một
giải đáp tốt lành cho đời. Họ kiêu hãnh lay hoay định hướng cho thế giới.
Nhưng họ chỉ đối diện với những chuỗi xích vô tận của biện chứng. Họ sống
thường trực trong bất mãn và ngẩn ngơ chờ đợi vị cứu thế, nhưng không biết
chờ đợi ai. Tuy nhiên cũng có rất nhiều người có tôn giáo phản ứng giống như
người vô tôn giáo. Họ thích bỏ rơi hiện tại để mơ tới một đời sống tốt lành
vĩnh cửu mai sau. Tất cả những cố gắng tu đức, những phụng vụ, những kinh
nguyện của họ đều hướng về đời sau. Họ tha thiết liên kết với một thiên đàng
mơ hồ trong tâm não. Họ hiện diện trong cuộc đời như một kẻ lang thang tạm
trú, hay tệ hơn, như một tù nhân. Với những ai có thái độ chạy trốn thực
tại, muốn được giải thoát khỏi “đời này”, họ không còn nhớ đến “ngày hôm
nay”.
Cuộc sống vĩnh cửu mai sau là mục tiêu
của tín đồ Công Giáo, nhưng sự sống thật không phải chỉ bắt đầu khi con
người bước chân vào thế giới “bên kia.” Không phải chỉ đời sống bên kia mới
có Thiên Chúa. Nếu ngày hôm nay của chúng ta bị bỏ quên, nó ắt không có giá
trị. Vậy thì làm sao có được ngày Đức Giêsu nhập thế đi vào lịch sử nhân
loại. Chúa Ba Ngôi đi vào lịch sử bằng ngày hôm nay. Thiên Chúa đang
hiện hữu trong vạn vật ngay bây giờ. Chúa Ba Ngôi đang hiện hữu trong chân
thân sâu kín của chúng ta ngay vào lúc này của thời hiện tại. Không có ngày
hôm nay con người cũng không có điểm khởi đầu. Nếu bây giờ tâm hồn tôi không
có ở đây, nó hướng về nơi khác, tất cả những gì đang ở nơi đây đều vắng mặt.
Nếu ta sống trong vong thân không những ta mất thời gian ngày hôm nay, ta
mất sự sống tâm linh ngày hôm nay, mà ta còn mất chính mình.
Con người thường ý thức sự hiện hữu
của mình bằng những cái ta có. Chúng là lớp vỏ bám víu bên ngoài chân thân
và tạo nên cái bản ngã tương đối của ta. Thật sự ta hiện hữu bằng những cái
ta là. Ta là gì được xác định bằng ý thức về ngày hôm nay và những lựa chọn
tự do của ta. Tùy theo tâm trạng của ta, buổi sáng hôm nay có thể là buổi
sáng tinh khôi đầu tiên Thiên Chúa dựng nên trong vũ trụ, ngày huy hoàng rực
rỡ và vui mừng. Hôm nay cũng có thể là sự kinh hoàng cho cả thân xác lẫn tâm
linh, ngày mạt thế, ngày Đức Kitô trở lại thế gian lần thứ hai. Thiên Chúa
âu yếm trao ngày hôm nay cho mỗi người. Kể từ đó ý nghĩa và giá trị ngày hôm
nay là trạng huống tâm tình của mỗi cá nhân. Ngày sáng thế, ngày khổ nạn và
ngày mạt thế đều là khoảng khắc sáng tạo huyền nhiệm của Thiên Chúa. Sự sáng
tạo quá huyền bí, quá vĩ đại, quá kinh hoàng đến nỗi các phẩm trật thiên
thần cao trọng nhất cũng không thể hiểu nổi (Mat 24:36). Thánh Kinh cũng
không thể nói rõ về ngày ấy, bởi vì “việc làm” của Thiên Chúa không thể đặt
vào tầm hiểu biết và ngôn ngữ diễn tả của loài người. Thánh Kinh thường nhấn
mạnh về ngày mạt thế và gọi ngày ấy là “Ngày
Của Chúa” (Lc
17:22-26). Vậy chúng ta có thể vay mượn ý niệm này để hiểu ngầm có một ngày
hôm nay cùa ta và có một ngày hôm nay của Chúa.
2.
Ngày Của Chúa là ngày gì? Đó là ngày Thiên Chúa lộ diện, mặt đối mặt với con
người. Các thánh Tông Đồ khi giảng đạo đều quả quyết rằng ý định của Thiên
Chúa ngỏ với các vị tiên tri đã được thực hiện.
“Thời gian đã mãn và Nước Trời đã đến bên rồi”
(Mc 1:15). Thiên Chúa đến thăm dân Người để hoàn tất công trình của Người
trong lịch sử. Đó là Ngày Của Chúa. Trong ngày ấy, Thiên Chúa lộ diện với uy
quyền tuyệt đối hoán cải vũ trụ. Trước mặt Thiên Chúa thời gian không còn,
mọi ý niệm biện biệt không còn, mọi khái niệm trong thế giới tương đối không
còn. Đối với con người, vào lúc ấy tất cả tài sản vật chất tích trữ ở trần
gian không còn. Mọi đau khổ không còn. Tất cả những vật liệu xây dưng nên
cái “bản ngã tương đối” không còn. Vạn vật hiện nguyên hình với chân bản thể
duy nhất và vĩnh cửu. Khi đó con người mới hiểu chính tình yêu của Thiên
Chúa là cột trụ nâng đỡ sự sống của vạn vật và vũ trụ. Tâm linh con người
trực diện với Chúa Kitô và chỉ còn biết trông cậy vào lòng thương xót của
Chúa. Đó là ý niệm về Ngày Của Chúa, ngày của thời gian tràn đầy hủy diệt và
tái tạo.
Ngay bây giờ nếu nội tâm tôi có thể
đặt ngày hôm nay của tôi vào Ngày Của Chúa, tôi sẽ chứng nghiệm được phẩm
tính huyền nhiệm vĩnh hằng của tình yêu. Hiện tính vĩnh hằng của Thiên Chúa
ôm lấy thời gian vật lý ngày hôm nay của tôi, khiến ngày hôm nay trở nên
vĩnh hằng. Điều đó có nghĩa là những việc tôi làm trong ngày hôm nay sẽ kết
thúc trong dòng thời gian vật lý, nhưng hoa quả của việc làm sẽ có giá trị
vĩnh hằng. Những việc làm của mẹ Têrêsa Calculta đã kết thúc. Kể cà chính mẹ
cũng đã qua đời, nhưng giá trị việc làm của mẹ đi vào vĩnh hằng. Chỉ có nội
tâm mới đi vào được Ngày Của Chúa, vì chỉ nội tâm mới có khả năng vượt bỏ
những cảnh huống đối nghịch và những điều kiện gán ghép cho sự sống. Nếu tôi
có thể chìm tri giác tôi vào Ngày Của Chúa, tôi sẽ thấy ngày hôm nay huy
hoàng rực rỡ như là ngày thứ nhất trong đời. Tôi sống tận hưởng không một
chút lãng phí thời gian trong phép lạ sáng tạo. Ngược lại nếu tôi phải đối
chọi với những nỗi cùng cực của đời, tôi sống ngày hôm nay như là ngày cuối
cùng trong đời. Tôi cũng đón nhận trọn vẹn từng giây phút của ngày hôm nay
trong đau khổ nhưng không oán hận. Vì đây là ngày tôi đối diện với Đức Kitô,
nội tâm tôi bừng tỉnh tình tha thứ, cảm tạ, yêu thương. Tôi sống trong hy
vọng Chúa đến xóa nỗi đau khổ cho tôi. Trong ngày hôm nay, Thiên Chúa cho
tôi sống với Người, sáng tạo với Người để hoàn tất sự tiến hóa tâm linh. Tôi
chứng nghiệm điều này qua sự sống vĩnh hằng trong thực tại của ngày hôm nay.
Vì vậy tôi sống rất thật với trạng huống của ngày hôm nay, vì chúng mô phỏng
được ý quan phòng của Thiên Chúa, Đấng rất yêu thương tôi. Tôi không phải là
khách bàng quang đứng nhìn ngày hôm nay. Con người thật của tôi thế nào là ý
nghĩa của ngày hôm nay thế ấy. Những “ngày hôm nay thế nào” gom lại thành ý
nghĩa của đời sống của tôi nơi trần thế và đời sống vĩnh cửu mai sau. Ý
nghĩa ấy chỉ thấy được khi tôi thấy ngày hôm nay là Ngày Của Chúa, ngày
Thiên Chúa dựng nên cho tôi.
Nước Trời là một quốc gia tuy ở trần thế nhưng
không bị không gian và thời gian chi phối. Nước Trời không có
lãnh thổ hay chính phủ để có thế thấy nhãn tiền. Thái độ sống
bình an ù lì, chờ đợi Nước Trời đến, không hợp thời nữa. Nếu
tôi muốn là công dân Nước Thiên Chúa tôi phải chủ động tự mình
tìm ra quốc gia ấy. Trước hết tôi phải nhận ra vị lãnh tụ của
mình là Thiên Chúa. Chấp nhận Thiên Chúa là vua hay không tùy ở tâm của tôi. Vì vậy Nước Thiên Chúa
cũng ở nơi tâm của tôi và luôn luôn biểu hiện trong thời hiện
tại●
Trở về mục lục >>

ĐỜI SAU Theo ánh
mẮt tâm linh
Khổng Nhuận
Đời sau gắn liền với sự chết. Giờ chết điểm, con
người sẽ phải giã từ người
thân, bỏ dở bao nhiêu mộng đẹp, vĩnh biệt tất cả..toàn là hình ảnh khiến cho
lòng đau đớn, cho tim tan nát, cho trí
cuồng điên. Đời sau như vùng đất cấm chẳng ai muốn bước vào,
như khu rừng hoang chẳng ai thèm quan tâm.
Đời sau mở ra ba hướng đi: Thiên Đàng, luyện ngục,
hoả ngục.
Trong bài chia sẻ này, chúng ta chỉ tập trung vào
một hướng đi hấp dẫn: Thiên Đàng.
I. Quan niệm
nhân loại
1.
Nơi chốn
Tuy không ai xác định rõ vị trí nó nằm ở đâu,
nhưng người ta thường hiểu Thiên Đàng ỏ trên thượng
giới. Sách Công vụ kể lại chuyện Đức Giêsu qua các tầng mây bay về
trời đã khiến người dễ tưởng tượng Thiên Đàng ở trên ngàn tầng trời
cao vút…
2.
Thời gian
Người ta chỉ có thể hưởng Thiên Đàng
sau khi
chết.
Có một chuyện vui kể rằng: Một hôm, cha xứ tụ họp
các ông bà trong hội đồng giáo xứ và kể về Thiên Đàng vui vẻ tưng bừng, rồi
lớn tiếng hỏi: Ông bà nào muốn lên
Thiên Đàng thì đứng sang bên tay phải của tôi.
Mọi người líu ríu bước qua. Còn một ông đứng như
trời trồng, mặt tỏ vẻ đăm chiêu.
Cha xứ đầy ngạc nhiên: Ông không muốn lên Thiên
Đàng sao?
Ông ta ấp úng:
Chắc chắn là con muốn lên trời sau
khi
con chết chứ, nhưng con cứ tưởng phải đi tới đó ngay bây giờ!!
(Ông ta tưởng phải chết cả đám
ngay lúc đó, khiếp quá! Bước đi không nổi).
3.
Điều kiện vào
Thiên Đàng
Phải hoàn toàn sạch tội mới mong
bước vào Thiên Đàng.
Lại một chuyện vui nổi tiếng. Có một cầu thang cao
chót vót vươn tới cửa Thiên Đàng. Mỗi người cầm viên phấn ghi những tội của
mình trên từng bậc thang. Cha xứ và ông chánh trương cùng chết một lúc. Cha
xứ hăm hở lên trước, chẳng mấy chốc ngài đã vội xuống.
Ông chánh trương ngạc nhiên hỏi:
Cha còn xuống đây làm gì?
Cha xứ e thẹn trả lời:
Tôi phải lấy thêm cục phấn nữa và e rằng
cả một hộp phấn cũng chưa chắc đã đủ!!!
Ông chánh trương há hốc mồm:
Giêsu Ma!! Lậy
Chúa tôi! Với đầu óc ngu muội của con, con cứ tưởng cha có chức thánh
thì cùng lắm, cha chỉ mất nửa viên phấn là cha đã bay vút lên tới cửa
Thiên Đàng rồi chứ!!!
Một anh giáo dân nghĩ rằng: Khi giờ chết điểm,
chắc chắn anh ta sẽ phải lê lết tới trình diện trước toà uy
nghiêm của thẩm phán chí công. Anh ta hy vọng Chúa giàu lòng
thương xót chẳng nỡ quẳng anh xuống hoả ngục đầy lửa sinh diêm. Nhưng còn
Thiên Đàng thì sao? Không một chút hy vọng nào khi nhìn thấy tấm linh
hồn nhớp nhúa đầy vết nhơ tội lỗi của mình - dù toàn là tội nhẹ - và
anh ta nắm chắc rằng mình bị giam cầm nơi luyện ngục lâu lắm!
rất lâu!! Các thánh mỗi ngày còn lỗi 7 lần cơ
mà, huống chi là anh ta chỉ là một người phàm tục, thấp hèn.
Anh ta còn nhớ như in lời cảnh cáo của Đức Giêsu:
Anh sẽ không ra khỏi đó trước khi trả hết đồng
kẽm cuối cùng.
(Lc 12:59). Tất nhiên đâu chỉ là những đồng xu
tính bằng tiền gian lận mà còn hàng ngàn đồng xu khác tính
bằng những bê bối, lỗi lầm, những trả thù ác ý, không làm
tròn bổn phận với Chúa với người khác, với chính mình. Lâu lâu anh phải đi
xưng tôi để giặt lại tấm áo cháo lòng linh hồn của mình. Nhưng
rồi vẫn chứng nào tật ấy, anh tiếp tục phạm tội như một tay nghiền ma
túy trong tâm tưởng Vì Chúa đã biết từ ngàn
xưa rằng thân con bởi tro bụi và được cưu mang trong tội lỗi.
Anh ta đã tham gia vào các đoàn thể thiếu nhi,
giúp lễ. Lớn lên anh hát trong ca đoàn, làm giáo lý viên, thậm chí là thành
viên hội đồng giáo xứ. Nhìn bề ngoài anh ta có vẻ rất nhiệt tình, hăng say,
đạo đức, nhưng thực chất con người nội tâm của anh vẫn không trở nên vững
mạnh nổi. Không tin bạn thử hỏi anh ta mà xem:
Khi chết đi, anh có tin chắc là mình
lập tức
được vào Thiên Đàng không?
Chắc chắc anh ta sẽ khựng lại một chút, vội lướt
qua đống tội của mình nhanh như ánh chớp rồi buồn bã trả lời:
Điều ấy tuỳ thuộc vào lòng nhân lành
của Chúa.
Thật tội nghiệp!! công khó theo Chúa từ tấm bé, hy
sinh thời gian, tiền bạc, sức lực, lăn xả vào làm việc cho công trình
của Chúa bao nhiêu năm trời… có mỗi một chuyện vào Thiên Đàng
thôi mà không nắm chắc trong tay thì thật là phí công phí sức biết bao!!
Thế thì làm cách nào để nắm vững hoàn toàn mình
được vào Thiên Đàng ngay khi giờ chết điểm? Điều kiện quan trọng đầu tiên là
phải chuyển từ lối nhìn nhân loại sang lối nhìn theo ánh mắt tâm linh.
II. Theo ánh
mắt tâm linh
Thiên Đàng theo ánh mắt tâm linh chính là nước
Thiên Chúa.
1.
Đặc điểm căn bản của
nước Thiên Chúa
Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện
uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.
(Rm 14:17).
Bình an và hoan lạc là niềm hạnh phúc mà ai cũng
mơ ước kiếm tìm suốt cả đời nhưng không làm cách nào nắm giữ được. Họ cảm
thấy hạnh phúc như bong bóng xà bông rực rỡ muôn màu huyền ảo.
Nếu ngắm nhìn thì đẹp tuyệt vời, nhưng vừa đụng vào, nó lập tức vỡ tan, chỉ
còn để lại một chút bọt vô vị, nhạt nhẽo. Tại sao vậy? Vì họ lầm tưởng hạnh
phúc được xây dựng trên những gì thuộc về thế gian này như tiền tài, danh
vọng, đam mê … mà những lạc thú chốn hồng trần này vốn nó luôn luôn biến
đổi, nay còn, mai mất. Kể cả bản thân con người, nay sum vầy vui sướng, mai
vĩnh biệt xót xa… Hạnh phúc trần gian quả là:
Phù hoa nối tiếp phù hoa
Ở đời hết thảy chỉ là phù hoa. (Gs
1:1)
Vậy bình an va hoan lạc đích thực ở đâu?
Chắc chắn không ở những gì mang hình tướng nơi
trần gian nay, nó cũng không ở nơi bồng lai tiên cảnh hão huyền, xa xôi.
Nhưng nó chính là “Bình an và Hoan lạc TRONG THÁNH THẦN”.
Ai đã một lần thử sống trong Thánh Thần, lập tức
sẽ cảm nghiệm được thế nào là hạnh phúc thực sự. Hạnh phúc ở đây không đổi
thay như hạnh phúc trần gian lúc hứng khởi, khoái chí như bồng bềnh trên mây
trời, lúc đau khổ, tủi nhục như chìm dưới vực sâu; nhưng hạnh phúc thực sự
rất sâu lắng, bình an với niềm vui nhẹ nhàng, thanh thoát.
2.
Nơi chốn
Khi người Do thái hỏi Đức Giêsu về nước Thiên
Chúa, Đức Giêsu khẳng định: "Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều có
thể quan sát được. Và người ta sẽ không nói: "Ở đây này! hay "Ở kia kìa! ,
vì này Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông." (Lc 17:20-21). Ở
giữa là ở đâu? Chắc chắn không những chỉ ở trên chốn trời cao vô vàn hạnh
phúc, mà còn ở ngay tại dưới thế trần này dù phải
đối đầu với muôn nỗi khó khăn, cơ cực, đắng cay. Hay nói chính xác và cụ thể
hơn: Nước Thiên Chúa ở ngay trong tâm mỗi người chúng ta. Làm
sao biết? Bởi vì đặc điểm căn bản của nước Thiên Chúa là công chính, bình an
và hoan lạc trong Thánh Thần. Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là
Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. (1 Cr 6:19). Như vậy chứng tỏ
nước Thiên Chúa ở ngay trong lòng mình. Nói cách khác, dù bất
cứ nơi đâu ta sống trong Thánh Thần thì ở đó ta được vui hưởng hoan lạc
Thiên Đàng.
3.
Thời gian
Đức Giêsu đã xác định: Đang ở giữa
các ông. Thì ra nước Thiên Chúa đã được khai mạc ngay tại trần gian này vào
thời điểm hiện tại vĩnh cửu - ĐANG - chứ không phải
trông chờ một nước Thiên Đàng mai sau nơi thế giới bên kia - ở mãi tận
phương trời vô định xa xăm nào đó với những mơ ước mong manh diệu vợi.
4.
Điều kiện hưởng
nước Chúa
Vẫn dựa trên nền tảng:
Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện
uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.
Như vậy, điều kiện để hưởng nước Chúa chính là
sống và lớn lên trong Thánh Thần. Chúng ta phải tin
rằng Thánh Thần đang thực sự sống trong tâm hồn mình, từ đó
tập sống trong Ngài ngày này qua ngày khác. Nhờ Thánh Thần là nguồn sống,
nguồn sức mạnh nâng đỡ, dìu dắt ta bước đi trong đới sống mới - một cuộc
sống dối dào bình an, hoan lạc. Chính lúc này chúng ta cảm nhận được rằng
chúng ta đang thực sự vui hưởng Thiên Đàng ngay tại trần gian này với hương
vị ngọt ngào của niềm hạnh phúc nhẹ nhàng thanh thoát.
Điều kiện nghe có vẻ rất dễ, nhưng cũng rất khó.
Dễ đối với ai chịu mở lòng lắng nghe và đón nhận Lời Chúa vào lòng mình như
một mảnh đất tốt, rồi thực tập sống. Nếu có gì khó khăn - mà chắc chắn là
gặp rất nhiều khó khăn trong thời gian đầu - đừng ngại, chúng ta chỉ cần
viết thơ chia sẻ trên một trang web nào đó, bảo đảm sẽ có hàng chục email
bay về góp ý, nhờ đó ta sẽ tìm được cách lớn lên trong Thần Khí Thiên Chúa
một cách tương đối dễ dàng. Nếu xem xong, nghe xong, ta dẹp sang một bên,
thì không ai có thể sống thay cho mình, kể cả Chúa cũng đành chịu!!
Xin lưu ý:
Vì chủ đề của bài này là Thiên Đàng, nên chúng
ta có cảm tưởng rằng Thiên Đàng là mục đích cuối cùng của cuộc sống đời Kitô
hữu. Thực ra, không phải vậy. Thiên Đàng chỉ là kết quả đương nhiên
của cuộc sống kết hợp nên một với Chúa trong Thánh Thần.
Đây mới chính là mục đích của đời sống tâm linh. Chính vì thế,
điều khiến tâm đắc nhất, mối bận tâm nhất của chúng ta lúc này là
sống trong Thánh Thần để cuộc đời kết hợp nên một
với Chúa ngày càng hoàn hảo hơn, viên mãn hơn, trọn vẹn hơn. Và chính những
giây phút ngọt ngào đó là lúc chúng ta đang hưởng Thiên Đàng ngay tại
thế gian đầy vất vả, khó nguy với chông gai lởm chởm trên đường●
Trở về mục lục >>

MỪNG NGÀY HIỀN PHỤ
MÁI ẤM GIA
ĐÌNH
Lm. Anphong Trần Đức Phương
Ngọt Ngào Tình Mẹ, Tình Cha,
Yêu thương dưỡng dục đưa ta vào đời.
Mỗi năm vào Tháng Năm và Tháng Sáu, chúng ta lại
có dịp đặc biệt mừng ngày Tôn Vinh Mẹ (Mother’s Day) và ngày Tôn Vinh Cha
(Father’s Day). Nói là đặc biệt, vì không phải chỉ khi đến những ngày này,
chúng ta mới nhớ đến cha mẹ chúng ta, vì tình hiếu thảo đối với cha mẹ tất
nhiên luôn tràn ngập trong tâm hồn mỗi người. Nhưng hai dịp này là một trong
những dịp để chúng ta biểu lộ một cách cụ thể tấm lòng của chúng ta đối với
các bậc thân phụ mẫu:
Công Cha Như Núi Thái Sơn,
Nghĩa Mẹ Như Nước Trong Nguồn Chảy Ra!
Đặc biệt, đối với các bậc cha mẹ đã hy sinh biết bao, vất vả biết bao khi
phải bỏ lại quê hương thân yêu dìu dắt gia đình đi sang các miền đất mới tại
các nước như Hoa-Kỳ này, vừa khác phong tục, khí hậu, vừa khác tiếng nói.
Đặc biệt hơn nữa, đối với các bậc Cha Mẹ đã phải đau khổ bỏ lại quê hương
Miền Bắc (từ Bến Hải) Việt Nam để đưa gia đình di cư vào Miền Nam năm 1954;
rồi sau bao nhiêu công lao xây dựng gia đình tại Miền Nam, giờ đây lại bỏ
lại tất cả và di tản đi ra nước ngoài với bao cực nhọc và khổ đau.
Bao nhiêu vất vả, lo lắng các bậc Cha Mẹ Việt Nam đã và đang phải trải qua
để chẳng những nuôi sống đàn con cháu, mà còn phải khôn khéo vừa giúp các em
hội nhập được vào nếp sống, vào nền văn hóa của đất nước mới lạ (như Hoa-Kỳ
chẳng hạn), vừa giữ được nền đạo đức, văn hóa, ngôn ngữ và truyền thống tốt
đẹp của các gia đình Việt Nam.
Trong nhiều năm làm việc mục vụ (Pastoral work) cho người Việt Nam thuộc các
cộng đồng Việt Nam tại Hoa-Kỳ, chúng tôi thường có dịp được tiếp xúc với
nhiều giáo dân và hàng giáo phẩm Hoa Kỳ; các vị đó thường nói: Nước Mỹ và
Giáo Hội tại Hoa-Kỳ rất cám ơn sự đóng góp của người Việt-Nam cho đất nước
Hoa-Kỳ về nhiều phương diện, nhưng nhất là về truyền thống tốt đẹp của gia
đình Việt Nam. Có lẽ nhờ vậy mà các con em Việt Nam lớn lên ở Hoa-Kỳ thường
rất chăm học và đạt được nhiều thành qủa tốt về học vấn . . . Chưa kể còn có
nhiều thanh niên nam nữ Việt Nam sau khi tốt nghiệp Đại Học và có nhiều
người có bằng cấp cao, nhưng vẫn được ơn gọi đi tu làm Linh Mục, Tu Sĩ nam
nữ cho nhiều Giáo phận (Dioceses) và Dòng tu (Religious Congregations) tại
Hoa-Kỳ; như vậy cũng đóng góp đáng kể cho Giáo Hội tại Hoa Kỳ nói riêng và
cho cả đất nước Hoa Kỳ nói chung. Các vị thường khuyến khích chúng tôi nên
nổ lực giúp duy trì nền văn hóa tốt đẹp và truyền thống gia đình của dân tộc
Việt-Nam nơi các cộng đồng Việt Nam tại Hoa-Kỳ. Các vị cũng khuyến khích nên
giúp các em Việt Nam lớn lên tại Hoa-Kỳ vẫn có thể nói được tiếng Việt-Nam.
Còn tiếng Anh thì tất nhiên lớn lên và đi học là các em tất thông thạo. Hơn
nữa biết thêm một ngôn ngữ là mở rộng thêm tầm trí thức của con người.
Những người di cư sang Hoa-Kỳ thuộc các thế hệ trước cũng đã phải vất vả
biết bao để xây dựng các gia đình của họ trên phần đất này; vì thế con cháu
của họ đã tìm cách nầy hay cách khác để tỏ lòng tri ơn các bậc sinh thành,
chẳng những một cách riêng tư nơi từng gia đình, qua các truyền thống và tôn
giáo riêng, mà còn muốn tổ chức chung một lễ mừng cho toàn quốc Hoa-Kỳ, và
thế là Ngày Tôn Vinh Mẹ (Mother’s Day) và Ngày Tôn Vinh Cha (Father’s Day)
đã xuất hiện trên toàn quốc gia Hoa Kỳ.
Theo tài liệu trong cuốn American Book of Days và những tài liệu lấy trên
Mạng Tin Học thì gốc tích của Ngày Tôn Vinh Mẹ và Tôn Vinh Cha như sau:
Ngày Tôn Vinh Mẹ có trước. Trong thời gian Nội Chiến tại Hoa-Kỳ (Civil War)
vào năm 1872 bà Julia Ward Howe gợi ý là ngày 4 tháng 7 (July 4th) hàng năm
nên được gọi là Ngày Của Mẹ (Mother’s Day) và đặc biệt để cổ võ cho hòa
bình. Bà đã có công tổ chức những buổi họp mặt hằng năm vào ngày này tại
Boston tiểu bang Massachusetts được một số năm; sau đó không được mấy người
hưởng ứng. Cho mãi đến năm 1907 , bà Ana Jarvis ở Philadelphia bắt đầu cổ võ
việc thành lập một ngày Tôn Vinh Mẹ cho toàn quốc. Bà bắt đầu kêu gọi Nhà
Thờ Grafton (West Virginia) mừng lễ này vào Chúa Nhật thứ hai Tháng Năm (năm
đó trùng chính vào ngày giổ của thân mẫu của bà). Năm sau, ngày này cũng
được mừng cả ở Philadelphia. Thấy việc mừng nầy có ý nghiã, nên bà và nhiều
người ủng hộ bà đã viết thơ yêu cầu các nhà thờ, các doanh nhân, các chính
trị gia thành lập Ngày Tôn Vinh Mẹ cho toàn quốc Hoa-Kỳ. Việc cổ võ nầy rất
thành công, nên đến năm 1911 thì hầu như ngày này được mừng ở khắp các Tiểu
Bang. Đến năm 1914, Tổng Tống Woodrow Wilson chính thức tuyên bố ngày Tôn
Vinh Mẹ cho toàn quốc Hoa-Kỳ và hàng năm mừng vào Chúa Nhật thứ II Tháng
Năm.
Ngày Tôn Vinh Cha (Father’s Day) được thành lập do công ơn của Bà Sonora
Smart Dodd ở Spokane (Tiểu Bang Washington). Bố của bà Sonora tên là William
Smart. Ông là một cựu chiến binh thời Nội Chiến (Civil War). Ông góa vợ khi
bà chết lúc sinh đứa con thứ sáu. Thế là ông đã quên mình hy sinh cả cuộc
đời làm lụng vất vả tại một nông trại để nuôi dưỡng và giáo dục cả 6 người
con nên người. Vì thế bà rất cảm phục và luôn tôn vinh công lao người cha
của bà. Năm 1909 vào ngày Chúa Nhật Tôn Vinh Mẹ, khi bà và gia đình đi dự lễ
ở Nhà Thờ, bà rất cảm động khi nghe bài giảng về Công Ơn Cha Mẹ. Bà nghĩ đến
công ơn đặc biệt của cha bà và nảy ra ý định tổ chức một Ngày Tôn Vinh Cha.
Vì bố bà sinh vào tháng 6, nên bà đã tổ chức Ngày Tôn Vinh Cha đầu tiên tại
Spokane (WA) vào ngày 19 tháng 6 năm 1910. Vào thời gian trước đó ít lâu,
năm 1908 ông Robert Webb cũng đã thành công trong việc vận động tổ chức Ngày
Tôn Vinh Cha tại một Nhà Thờ ở Fairmont, West Virginia. Tuy nhiên nhờ sự vận
động mạnh mẽ của Bà Sonora S. Dodd mà ngày này được phổ biến đến khắp nơi
tại Hoa-Kỳ. Vào năm 1924, Tổng Thống Calvin Coolidge đã chính thức tuyên bố
Ngày Tôn Vinh Cha cho toàn quốc Hoa-Kỳ và mừng vào ngày Chúa Nhật III Tháng
Sáu hằng năm.
Trong ngày Tôn Vinh Mẹ và Tôn Vinh Cha, các người con tặng cha mẹ các thiệp
chúc mừng, các món quà, những bài thơ, bài văn ca tụng công ơn cha mẹ. Các
giáo dân đến Nhà Thờ để cầu nguyện cho cha mẹ: các vị còn sống cũng như các
vị đã qua đời. Căn cứ vào các tài liệu, thì theo truyền thống người Hoa-Kỳ
thường đeo hoa Cẩm Chướng (Carnation) vào Ngày Tôn Vinh Mẹ (hoa màu trắng
nếu mẹ đã qua đời; hoa màu thắm nếu mẹ còn sống) và đeo hoa hồng vào Ngày
Tôn Vinh Cha (hoa hồng màu trắng nếu cha đã qua đời; và hoa hồng màu đỏ nếu
cha còn sống).
Trên đây là lịch sử hai ngày Tôn Vinh Mẹ và Tôn Vinh Cha tại Hoa-Kỳ. Theo
tài liệu, thì hiện nay có tới 47 quốc gia hằng năm có Ngày Tôn Vinh Mẹ mặc
dầu vào các ngày tháng khác nhau. Riêng các nước như Đan Mạch, Phần Lan, Thổ
Nhỉ Kỳ, Úc, và Bỉ cũng tổ chức Ngày Tôn Vinh Mẹ vào cùng ngày như ở Hoa-Kỳ.
Riêng tại Anh Quốc thì mừng vào Chúa Nhật IV Mùa Chay và ở Á Căn Đình
(Argentina) thì mừng vào Chúa Nhật Thứ Hai Tháng 10. Cũng theo tài liệu, thì
hiện nay Ngày Quốc Tế Tôn Vinh Mẹ là ngày 11 tháng 5 hàng năm. Riêng tại
Canada Ngày Tôn Vinh Mẹ và Ngày Tôn Vinh Cha cũng mừng vào các ngày Chúa
Nhật như ở Hoa-Kỳ.
Công cha, nghĩa mẹ thật là lớn lao: nghĩa nặng, tình sâu; vì thế từ thời xa
xưa dân tộc nào, tôn giáo nào cũng có những ngày đặc biệt giỗ cha giỗ mẹ để
nhớ đến và nhắc nhở con cháu cùng nhớ đến công ơn lớn lao của các bậc cha mẹ
đã qua đời. Còn đối với các vị đang còn sống, con cháu cũng luôn tìm dịp tỏ
lòng hiếu thảo cách nầy hay cách khác. Tại Việt Nam, chúng ta tôn vinh đặc
biệt các bậc ông bà cha mẹ vào dịp Tết Nguyên Đán. Còn các dân tộc khác thì
tùy theo.
Trong Kinh Thánh, Cựu Ước cũng như Tân Ước, đều có rất nhiều chổ nói đến
lòng hiếu thảo đối với cha mẹ (chẳng hạn: Sách Khởi nguyên 3:20; Xuất hành
20:12; Levilicus 19:3; Đệ Nhị Luật 5:16; Các Vua (2) 4:30; Cách ngôn 10:1;
Isaia 66:13; Ezachiel 16:44; Luca 2:43-2:51; Gioan 19:26-27); đặc biệt là dụ
ngôn Người Con đi hoang (Luca 5:11-32) đề cập đến Thiên Chúa như Người Cha
Nhân Hậu đối với nhân loại tội lỗi. Trong kinh Lạy Cha (Matthêu 6:9-13, Luca
11:2-4), Thiên Chúa cũng được xưng tụng như Người Cha ban phát mọi ơn lành,
sẳn sàng tha thứ mọi lỗi phạm của chúng ta, nếu chúng ta cũng biết dể dàng
tha thứ cho nhau. Hơn nữa, trong 10 Giới răn của Chúa, thì giới răn thứ bốn
dành riêng để nói đến bổn phận phải thảo kính cha mẹ.
Như vậy Thiên Chúa đã khắc ghi lòng tôn kính và tri ơn cha mẹ vào tâm hồn
mỗi người như một bản tính. Con người bình thường ở mọi nơi, mọi thời, đều
có tấm lòng thảo kính cha mẹ.
Tuy nhiên trước đây, khi nên nông nghiệp còn là chính yếu trong xã hội, ngay
cả như ở Hoa-Kỳ hay các nước Tây phương cũng vậy, thì con người thường sống
trong đại gia đình ở các làng mạc hay nông trại và mối tình cảm gia đình
giữa cha mẹ và con cái còn rất thắm thiết, đậm đà. Nhưng với thời gian, khi
nền công nghiệp phát triển càng ngày càng mạnh, các thành thị mở rộng thêm,
và vì công ăn việc làm các người trong gia đình phải sống xa cách nhau. Đời
sống gia đình bắt đầu giản nở; đời sống xã hội bị thành thị hóa và tình cảm
con người, tình cảm gia đình cũng loãng nhạt đi. Vì thế người Việt Nam khi
mới sang Hoa-Kỳ thường phàn nàn là tình cảm xã hội và gia đình ở bên này có
vẻ nhạt nhẽo chứ không được đậm đà như ở Việt-Nam....
Tuy nhiên, sau này cùng với đà tiến triển chung của nhân loại, đất nước
Việt Nam cũng sẽ dần dần phải công nghiệp hóa, thành thị hóa, các gia đình
cũng không còn thể chung sống bên nhau trong một đại gia đình (tứ đại hay
ngũ đại đồng đường) nữa, đời sống xã hội và gia đình cũng sẽ bị giản nở và
sống xa nhau do công ăn việc làm. Ngay cả các gia đình Việt Nam đã sang
Hoa-Kỳ (hay các nước công nghiệp hóa, thành thị hóa như ở Âu Châu, Úc Châu .
. .) lâu năm, hiện nay nhiều gia đình cũng phải sống phân ly vì công ăn việc
làm; có khi xa cách nhau nhiều tiểu bang, chỉ còn có thể liên lạc với nhau
bằng thư từ hay điện thọai; hàng năm chỉ có thể họp mặt một vài lần. Hơn
nữa, ngay cả khi còn sống chung một mái nhà, nhiều khi vợ chồng, cha mẹ và
con cái cũng ít có dịp ăn chung với nhau. Vì thế, tình gia đình giữa cha mẹ
và con cái, giữa vợ chồng cũng bị phai nhạt. Hiện nay, có những gia đình
Việt Nam tại Hoa Kỳ, khi chồng đi làm về, thì vợ lại bắt đầu đi làm; may ra
chỉ còn gặp nhau cuối tuần, nếu không làm thêm giờ (overtime)....
Chủ nghĩa vô thần và tôn thờ vật chất ở các xã hội Hoa Kỳ và Tây phương cũng
làm băng hoại nền luân lý gia đình, vì thế mới xãy ra những vụ án gia đình
thảm khốc như lâu lại thấy báo chí, truyền thanh, truyền hình nói đến . . .
Ngoài ra, nền tảng gia đình và lòng tôn kính cha mẹ cũng bị suy sụp do ảnh
hưởng của các phong trào tự do qúa trớn như: tự do luyến ái, tự do sống
chung ngoài hôn phối; kết hôn cùng phái tính (same sex marriage): nam lấy
nam, nữ lấy nữ; ly dị (có người đã ly dị và tái lập gia đình đến lần thứ
bảy, thứ tám); tự do phá thai, có những đứa con sinh ra bị coi như ngoài ý
muốn vì vỡ kế hoạch (unwanted pregnancies; unwanted children); hoặc
những đứa con sinh ra chỉ thấy có mẹ mà không biết cha là ai; có những đứa
con lớn lên giữa cảnh gia đình cha mẹ chia lìa; các em chỉ sống với mẹ hay
chỉ sống với cha (single parent).
Các phong trào trên đây không phải chỉ ở Hoa Kỳ hay các nước tân tiến mà đã
lan tràn ở khắp các nơi. Gia đình là nền tảng của xã hội, gia đình băng hoại
đưa đến xã hội băng hoại và xã hội băng hoại lại tác hại đến gia đình. Ngoài
ra, ngày nay các học đường (trừ một số do các tôn giáo điều hành) chỉ còn là
nơi đào tạo trí thức chứ không còn là nơi giáo đục (Đức dục tiên học lễ hậu
học văn không còn là vấn đề nơi học đường). Giáo dục chỉ còn là vấn đề thuộc
gia đình; thế mà nếu gia đình cũng bị băng hoại thì các em lớn lên biết sống
thế nào.
Đứng trước thảm kịch trên đây, thiết tưởng vai trò các tôn giáo rất quan
trọng để cứu vãn lại nền đạo đức gia đình và nếp sống tốt đẹp của xã hội.
Vào cuối thế kỷ 20; Đức Giáo Hoàng Phaolô II đã viết cuốn Bước Qua Ngưỡng
Cửa Hy Vọng trong đó Ngài đã nêu ra các hướng dẫn để chuẩn bị cho thế giới
chúng ta bước vào một thế kỷ mới, và thiên niên kỷ mới với một niềm hy vọng
mới tốt đẹp hơn cho đời sống gia đình và xã hội.
Ngay khi lên ngôi vị Giáo Hoàng, Đức Gioan Phalô II, đã có mối âu lo đặc
biệt về vấn đề Gia đình trong thế giới hôm nay nên vào ngày 9-5-1981, Ngài
đã ra sắc lệnh thành lập Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình để các vị có trách
nhiệm tìm ra các kế hoạch cứu vãn nền đạo đức của gia đình đang gặp nhiều
ảnh hưởng tai hại do ảnh hưởng các trào lư vô thần, duy vật chất (như đã
trình bày).
Trước hết để cứu vãn giới trẻ, tương lai của gia đình tổ quốc Ngài đã viết
nhiều thư Mục vụ về gia đình và vào năm 1985 (năm Liên Hiệp Quốc tuyên bố là
năm Quốc Tế Giới Trẻ) Ngài đã ra văn thư thành lập Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới
(World Youth Day) cứ hai năm một lần ở các nước khác nhau cho giới trẻ toàn
thế giới họp mặt và cùng nhau cầu nguyện cũng như chia sẽ kinh nghiệm và học
hỏi để xây dựng tinh thần gia đình và tương lai của giới trẻ. Ngày Giới Trẻ
Thế Giới thường do Đức Giáo Hoàng thân hành đến chủ tọa: hai lần đầu là ở
Rôma (Italy); các lần tiếp theo là ở Buenos Aires (Argentina, 1987);
Santiago de Compostela (Spain, 1989); Czestochova (Ba-Lan, 1991); Colorado
(Hoa Kỳ, 1993); Manila (Phi Luật Tân, 1995); Paris (Pháp, 1997); Rôma
(Italy, Năm Thánh 2000); Toronto (Canada, 2002). Lần tới dự trù sẽ là
Cologne (Đức, từ ngày 16 đến 21 tháng 8 năm 2005).
Vào năm 1994, để chuẩn bị cho Đại Năm Thánh 2000 (và là năm Thánh Hóa Gia
Đình), ĐGH lại có sáng kiến tổ chức Ngày Thế Giới Họp Mặt của các Gia Đình
(World Meeting of the Families). Đại Hội này được tổ chức ba năm một lần tại
các nước khác nhau qua các lục địa: Năm 1994 tại Rôma, Italy; Năm 1997 tại
Rio de Janeiro, Brazil; Năm 2000 cũng tại Rôma, Italy, vì tổ chức trong
khuôn khổ Đại Năm Thánh 2000; Năm nay (2003) tại Manila, Phi Luật Tân vào
tháng 01 vừa qua. Đại Hội nầy quy tụ 5 ngàn đại biểu từ 80 quốc gia thuộc cả
5 lục địa. Trong 5.000 đại biểu, có 39 vị Hồng Y, 25 Giám Mục, 500 Linh Mục,
còn bao nhiêu là đại diện các gia đình thuộc nhiều thành phần, nghề nghiệp,
tuổi tác khác nhau, các người con mới lớn lên, cũng như các bậc cha mẹ. Cũng
có các đại biểu thuộc nhiều hội đoàn, phong trào khác nhau. Cũng có các nhà
thần học, các bác sĩ, các luật gia, các chuyên gia về gia đình và các đại
biểu các tôn giáo bạn.
Mỗi đại hội đều có chủ đề riêng. Tuy nhiên mục đích của đại hội vẫn là đưa
ra những vấn đề xã hội đương thời ảnh hưởng đến gia đình: luyến ái tự do, ly
dị, phá thai . . . ; đặc biệt vấn đề được nêu ra năm nay là vấn đề đồng tính
luyến ái, kết hôn đồng phái tính (same sex marriage) nam lấy nam, nữ lấy nữ
mà đã được một số chính quyền công nhận, và cho phép nuôi con nuôi . . .
Cũng có khuynh hướng hiện nay là các đôi vợ chồng nam nữ lấy nhau mà không
muốn sinh con, chỉ lo làm nhiều tiền để hưởng thụ (double income, no kids) .
. . Cũng bàn đến vấn đề trợ giúp gia đình nghèo đông con . . . Vấn đề kế
hoạch hóa gia đình có hướng dẫn.
Sau các Đại Hội, các đại biểu trở về và tiếp tục tổ chức các phương thế giúp
bảo vệ hạnh phúc gia đình tại mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, mặc dù còn gặp
nhiều khó khăn cho các tổ chức chung toàn quốc, nhưng mỗi Giáo phận, mỗi
Giáo xứ cũng đã có nhiều cuộc họp mặt giới trẻ và các gia đình để cùng cầu
nguyện, chia sẽ kinh ngiệm đời sống gia đình và đem lại sự thông cảm giữa vợ
chồng, giữa cha mẹ và con cái để cùng nhau bảo vệ truyền thống tốt đẹp của
các gia đình Việt Nam. Vào những năm qua Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã gửi
những lá thư mục vụ nhấn mạnh việc Thánh Hóa Gia Đình. Riêng thư mục vụ vào
ngày 11-10-2002 là để chuẩn bị năm 2003 là năm ưu tiên dành cho công cuộc
mục vụ về Hôn nhân và Gia đình; đặc biệt phát động mạnh mẽ tại các Nhà thờ
vào dịp Tết Quý Mùi....
Sau đây chúng tôi xin gửi đến quý vị và các bạn trẻ một vài đoạn trích trong
các thư mục vụ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam về Đời Sống Gia Đình:
Trên thế giới và ngay trong đất nước
chúng ta, gia đình đang bị đe dọa bởi nhiều lực hủy diệt của văn hóa sự
chết. Mối đe dọa từ bên trong là lối sống hưởng thụ ích kỷ, là sự hời hợt
trong lời cam kết dấn thân. Mối đe dọa từ bên ngoài là nỗi vất vả của đời
sống lao động, kinh tế, là sự cuốn hút của những phương tiện truyền thông,
là lối sống buông thả đang nhen nhúm trong xã hội. Tất cả những yếu tố bên
trong bên ngoài ấy đang làm cho gia đình trở nên mong manh, đưa đến những
hậu qủa nặng nề cho các cặp vợ chồng và nhất là cho con cái.
Trong truyền thống dân tộc thì gia đình là rường cột của xã hội. Giáo huấn
của Hội Thánh coi gia đình như chiếc nôi của sự sống và sự giáo dục đầu
tiên. Như vậy, ta cần tìm mọi phương thế bảo vệ và cũng cố sự bền vững của
gia đình, trong đó các bậc cao niên cần được chăm lo và trẻ em cần được đùm
bọc. Các Giáo xứ cần chú trọng đến việc giúp các bạn trẻ chuẩn bị hôn nhân
kỷ hơn, bằng cách giúp họ hiểu biết về các phương diện tâm sinh lý, dưỡng
nhi, giáo dục, và vần tìm những phương thức đồng hành với gia đình trẻ để
giúp họ vượt qua những khủng hoảng thường xảy ra trong những năm đàu của Đời
Sống Hôn Nhân . . . .(Thư Mục vụ của
HĐGMVN, 22.09.2001)
Mục vụ gia đình chỉ thực sự có kết qủa
khi các gia đình tự ý thức tích cực tham gia các chương trình học hỏi và
nhất là chủ động canh tân đời sống gia đình đổi mới chính bản thân.
Gia đình là chiếc nôi, là trường học đầu tiên, nơi con cái lớn lên cả về thể
xác lẫn tinh thần, nơi con cái không chỉ được dạy dỗ bằng lời nói, mà còn
bằng gương sáng. Vì thế, cha mẹ không chỉ lo cho con cái được rửa tội mà còn
phải lo cho đức tin con cái được lớn lên trong bầu không khí gia đình đạo
đức chan hòa tình mến Chúa yêu người. Hướng dẫn con cái trân trọng tình liên
đới trong mối liên hệ bác ái giữa các thành viên trong gia tộc.
Để con cái tiến bộ về mọi mặt, cha mẹ cần quan tâm làm trong sạch môi trường
sách báo, phim ảnh, bạn bè của con cái mình.
Một gia đình Kytô hữu thực sự tốt đẹp không thể chỉ đóng kín trong những
sinh hoạt riêng tư, nhưng cần mở rộng mối quan hệ với những gia đình chung
quanh, để kính trọng yêu thương, trao đổi học hỏi và quan tâm giúp đỡ, đóng
góp phần phát triển văn minh tình thương.
(Thánh Hóa Gia Đình, Thư Mục Vụ của HĐGMVN,
11.10.2002)
Xin chấm dứt bài nầy với cái nhìn lạc
quan và hy vọng. Theo nhiều sách vở và dư luận nói là ở Hoa Kỳ và các nước
Tây Phương bây giờ có đến 40% hay 50% gia đình tan vỡ sau một số năm vợ
chồng chung sống. Nhưng khi làm việc mục vụ ở các Cộng Đồng Việt Nam các nơi
(như vùng Bắc California; ở tiểu bang Washington), chúng tôi nhận thấy số
các gia đình Việt Nam thực sự tan vỡ chỉ chừng 6% hoặc cao lắm là 10%. Còn
gặp khủng khoảng thì tất nhiên gia đình nào cũng có, nhưng nhờ tình cảm và
sự gắn bó của đại gia gia đình cũng như các vị lãnh đạo tôn giáo giúp đỡ,
các đôi bạn trẻ cũng vượt qua được. Sau những khủng khoảng đó, rút được kinh
nghiệm, các đôi bạn lại hiểu nhau hơn và gắn bó mật thiết với nhau hơn. Đặc
biệt cần sự thông cảm và nâng đở của các bậc cha mẹ, nếu các ngài còn sống.
Cầu mong cho các đôi bạn đã lập gia đình hãy tin tưởng và lạc quan để tiến
bước; cần và biết nuôi dưỡng tình yêu của nhau bằng thông cảm và tha thứ, và
bằng cách áp dụng những gì mình đã học hỏi được qua các lớp Dự Bị Hôn Nhân.
Cầu mong các bạn trẻ sắp lập gia đình, biết sáng suốt, chịu khó hy sinh thời
giờ để cầu nguyện và học hỏi các tài liệu qua các khóa học để chuẩn bị cho
một cuộc hành trình dài đầy những ngày nắng đẹp, nhưng tất nhiên cũng có
những ngày mưa gió, giông tố.
Hãy nhìn vào các bậc cha mẹ đã đi trước và hãy hy sinh cho nhau, cho con
cái, để bảo vệ mái ấm gia đình. Các bạn hãy nhớ mọi thất bại đều khổ đau,
thê thảm nhưng không thất bại nào gây nhiều khổ đau cho bằng thất bại, tan
vỡ trong đời sống hôn phối. Các bạn cũng hãy chuẩn bị kỹ càng bằng cầu
nguyện như các bạn đã nghe hoặc sẽ nghe trong các lớp học về hôn phối câu
ngạn ngữ cổ như sau: Nếu bạn sắp ra trận, hãy cầu nguyện một lần; sắp vượt
biển, hãy cầu nguyện hai lần; và sắp lập gia đình, hãy cầu nguyện tới ba
lần! Chúc các bạn vui vẻ và lạc quan lên đường để vào đời với sự hướng dẫn
yêu thương và khôn ngoan của các bậc cha mẹ●
Trích bài chia sẻ _ Kỷ niệm ngày gặp gỡ và hội
thảo cùng với một số cha mẹ và giới trẻ tại Núi Grotto Portland, Oregon.
Trở về mục lục >>

THƯ CHA
GỬI CON
Con của Cha,
Có thể con không biết Cha,
nhưng Cha biết rõ mọi điều về con (Tv 139,
1)
Biết cả khi con đứng con ngồi
(Tv 139, 2)
Mọi nẻo con đi, Cha đều quen thuộc
(Tv
139,3)
Từng sợi tóc trên đầu con, Cha cũng đều
biết rõ (Mt 10, 29-31)
Vì con được dựng nên theo hình ảnh Cha.
(St 1, 27)
Trong Cha, con sống, chuyển
động và hiện hữu (Cv 17, 28)
Vì con thuộc dòng tộc của Cha.
(Cv 17,28)
Cha biết con trước khi con thành hình trong dạ mẹ
(Gr 1,4-5)
Cha đã chọn con khi thiết lập kế hoạch muôn
đời. (Ep 1, 11-12)
Sự hiện hữu của con không phải là chuyện
tình cờ,
vì mọi ngày của con đều được
ghi trong sách của Cha (Tv 139, 15-16)
Cha xác định lúc con sinh ra và nơi con sẽ sống
(Cv 17, 26)
Con được dựng nên lạ lùng và kỳ diệu.
(Tv 139, 14)
Cha dệt hình hài con trong dạ mẫu thân con
(Tv 139, 13)
Và đã kéo con ra khỏi lòng mẹ. (Tv
71,6)
Cha đã bị những người không biết Cha vẽ
thành biếm họa (Ga 8, 41-44)
Nhưng Cha không xa cách hay cuồng nộ, mà chỉ là Tình Yêu,
(1Ga 4,16)
Và điều Cha ước mong là tuôn đổ tình yêu ấy trên con
(1Ga 3,1)
Chỉ vì con là con của Cha và
Cha là Cha của con. (1Ga 3,1)
Cha ban tặng cho con nhiều
hơn người cha dưới đất của mình (Mt 7,11)
Bởi vì Cha là người cha trọn trọn hảo.
(Mt 5,18)
Mọi ân huệ con nhận đều xuất phát từ tay Cha
(Gc 1,17)
Vì Cha cung cấp và đáp ứng mọi nhu cầu của
con. (Mt 6, 31-33)
Kế hoạch của Cha dành cho tương lai con
luôn được hoàn thành trong hy vọng (Gr
29,11)
Vì Cha yêu thương con với một tình yêu muôn đời.
(Gr 31,3)
Tư tưởng Cha dành cho con thì nhiều vô kể
như cát trên bãi biển (Tv 139, 17-18)
Và Cha vui mừng vì con bằng tiếng hát.
(Xp 3,17)
Cha không bao giờ ngưng làm điều lành cho
con (Gr 32,40)
Vì con là sở hữu của riêng Cha.
(Xh 19,5)
Cha lấy làm vui mà thi ân cho con
(Gr
32,41)
và muốn tỏ cho con biết những điều lớn lao
và diệu kỳ. (Gr 33, 3)
Nếu con tìm kiếm Cha hết
lòng, thì con sẽ tìm thấy Cha (Tl 4,
29)
Hãy lấy Cha làm niềm vui của
con và Cha sẽ cho con được phỉ chí toại nguyện
(Tv 37, 4)
Vì chính Cha ban cho con những ý nguyện đó.
(Pl 2, 13)
Cha có thể làm cho con nhiều điều hơn con
có thể tưởng tượng (Ep 3, 20)
Vì Cha là Đấng khuyến khích con không ngừng.
(2 Tx 2, 16-17)
Cha còn là người Cha từ bi lân ái và sẵn sàng nâng đỡ ủi an
(2 Cr 1, 3-4)
Khi con gặp ưu phiền, Cha
luôn ở cạnh con. (Tv 32, 18)
Như người mục tử ẳm bồng con chiên, Cha
cũng bồng con cạnh lòng Cha (Is 40, 11)
Rồi đến ngày Cha sẽ lau sạch mọi giọt nước mắt con
(Kh 21, 3-4)
Và sẽ xóa đi mọi đau khổ con đã chịu dưới
đất này. (Kh 21, 3-4)
Cha là Cha của con, và Cha yêu con như Cha
yêu người con Giêsu của Cha (Ga 17, 23)
Vì trong Giêsu, tình yêu Cha đã được mặc khải.
(Ga 17, 26)
Ngài là hình ảnh trung thực về Cha
(Dt 1, 13)
Ngài đến để làm chứng rằng Cha ở bên con,
chứ không chống lại con (Rm 8, 31)
Và để nói với con rằng Cha không xét đến
tội lỗi con. (2 Cr 5, 18-19)
Giêsu đã chết đế hòa giải Cha với con
(2 Cr 1, 18-19)
Cái chết của Ngài là lời tỏ tình tối hậu
của Cha đối với con. (1 Ga 4,10)
Cha đã hy sinh mọi sự đế dành lại tình yêu của con
(Rm 8, 31-32)
Nếu con đón nhận Giêsu con Cha, thì con đón
nhận Cha (1 Ga 2, 23)
Và không gì có thể tách con ra khỏi tình
yêu của Cha. (Rm 8, 38-19)
Con hãy trở về và Cha sẽ tổ chức bữa tiệc
Nước Trời lớn chưa từng thấy. (Lc 15,7)
Cha từng là Cha và sẽ mãi là Cha.
(Ep 3, 14-15)
Và đây là câu hỏi của Cha: Con sẽ là con của Cha không?
(Ga 1, 12-13)
Cha đang chờ đợi con.
(Lc 15, 11-32)
Yêu con,
Cha của Con: Thiên
Chúa Tối Cao●
Trở về mục lục >>

TƯỞNG NIỆM
BỐ
Nguyễn Thị Phủ Lý
Đêm dần xuống nghĩa trang buồn hoang vắng
Chung quanh con lặng lẽ những mộ bia
Bố yêu ơi! Sao nỡ vội chia lìa?
Bỏ con lại một mình nơi dương thế.
Còn đâu lúc Bố nghe con kể lể
Mất Mẹ rồi chỉ có Bố kề bên
Con yêu sao giọng nói Bố êm đềm
Đã an ủi những khi con yếu đuối.
Con nào biết đây là lần gặp cuối
Tiễn Bố về con trẻ vẫn cười vui
Chẳng nghĩ xa, không một chút ngậm ngùi
Còn chúc Bố một đêm ngon giấc mộng.
Nhìn xe Bố từ từ ra khỏi cổng
Tay vẫy chào tạm biệt đứa con yêu
Bố biết không? Con nhớ Bố những chiều
Khi tựa cửa con mơ hình bóng cũ.
Đoàn con đã trở về đây đông đủ.
Dâng lời kinh cầu nguyện Chúa trên cao.
Trong tim con vẫn nhớ mãi thủa nào
Bố yêu đã dạy con thơ làm dấu.
Hướng dẫn con tránh xa bao điều xấu.
Nắm tay con Bố dẫn dắt vào đời.
Dù vui, buồn cầu khẩn Chúa mà thôi.
Con vẫn nhớ lời dặn ngày xưa cũ.
Bố giờ đã nghìn thu trong giấc ngủ
Hồn yên bình cùng Mẹ đến nơi xa
Con nhớ thương Bố Mẹ lệ nhạt nhòa
Lòng tiếc nuối những ngày vui đã mất.
Chiều nay thắp nén hương con cầu khẩn
Xin Chúa thương đưa Bố Mẹ về trời
Lệ tuôn dài con gọi “Bố yêu ơi!
Bố còn nhớ hôm nay ngày Hiền Phụ?”●
Trở về mục lục >>
MỘT NGƯỜI
CHA
Một thiếu niên sống một mình với cha. Cả hai người
có một tình quyến luyến nhau đặc biệt. Dù cho người con luôn ngồi ở hàng ghế
dự bị thì người cha lúc nào cũng có mặt trong các trận đấu để reo hò. Không
bao giờ ông vắng mặt một trận bóng đá (football) nào có mặt con ông.
Cậu thanh niên này vẫn là người nhỏ con nhất khi
bước vào trung học. Cha cậu tiếp tục ủng hộ cậu, dù nói lên rõ ràng rằng cậu
không cần phải chơi bóng đá nếu không muốn. Nhưng cậu trai thích bóng đá và
quyết định theo môn thể thao này.
Người con quyết cố gắng hết sức để tập luyện, với
hy vọng rằng khi lên lớp lớn hơn thì cậu sẽ được chơi.
Dù cho suốt thời gian trung học cậu không vắng một
buổi tập nào, cậu vẫn ngồi ghế dự bị ròng rã 4 năm. Cha cậu luôn ủng hộ cậu,
và nói lên lời động viên.
Khi lên đại học, cậu thanh niên quyết định gia
nhập đội bóng. Ai cũng nghĩ rằng anh không chơi được, nhưng rốt cục thì cậu
cũng được chấp thuận. Huấn luyện viên ghi danh cậu vào đội vì cậu luyện tập
hết mình, đồng thời chuyển cho các cầu thủ khác tinh thần và lòng hăng say
mà họ rất thiếu.
Nghe tin này, cậu chạy đến điện thoại gần nhất và
gọi cho cha mình. Cha cậu rất vui và cậu gửi cho cha vé xem tất cả mọi trận
đấu trong mùa tại trường cậu học.
Trong bốn năm đại học, cậu không vắng một buổi tập
nào, nhưng không bao giờ được ra sân. Bây giờ đã đến năm ra trường của cậu,
và khi cậu vào sân tập thì huấn luyện viên trao cho cậu một điện tín.
Đọc xong điện tín, cậu thanh niên đứng im như chết
cứng. Một lúc sau, cậu hít sâu vào, rồi ấp úng với huấn luyện viên: “Cha em
vừa qua đời sáng nay. Cho phép em vắng mặt hôm nay.” Huấn luyện viên ân cần
choàng tay lên vai cậu mà nói: “Em cứ nghỉ hết tuần đi. Thứ bảy này cũng
đừng đến dự trận đấu nữa”.
Thứ bảy đến, trận bóng đi vào thất bại. Đến hiệp
thứ 3, khi đội nhà đã kém đội bạn 10 điểm, một thanh nhiên im lặng đi vào
phòng thay đồ và mặc đồng phục bóng đá. Khi cậu ra mép sân, huấn luyện viên
và cầu thủ rất ngạc nhiên khi thấy đồng đội mình đã trở về sớm hơn dự kiến.
“Thưa thầy, cho em chơi. Hôm nay em phải chơi
thôi,” cậu yêu cầu. Huấn luyện viên vờ như không nghe cậu nói gì. Không thể
nào ông lại chọn một cầu thủ kém nhất để thay vào lúc mà trận bóng đang đến
lúc tồi tệ. Nhưng vì cậu ấy năn nỉ quá, cuối cùng ông thương hại mà cho anh
ta tham gia trận đấu.
“Thôi được, vào đi”. Ra sân chẳng bao lâu, cả huấn
luyện viên lẫn cầu thủ không tin vào mắt mình. Cậu trai từ trước đến giờ
không ra sân lại chơi hay không thể tả.
Đội bạn không thể nào cản chân cậu. Cậu chạy, lách
luồn như một ngôi sao xẹt và ghi điểm liên tục. Đội cậu đã lấy lại điểm
thua, hai bên đồng điểm.
Vào những giây cuối cùng, cậu nhận được bóng và
chạy như mũi tên đến ghi một điểm chót.
Cả vận đồng trường đứng dậy. Đồng đội nâng cậu lên
vai. Tiếng reo hò dường như không muốn dứt.
Cuối cùng, sau khi các cầu thủ tắm xong và thay đồ
rời phòng, huấn luyện viên thấy cậu trai ngồi im lặng một mình trong góc.
Ông nói: “Này cậu bé, thầy không tin được. Em chơi thật tuyệt! Nói thầy nghe
xem, nhờ đâu mà em chơi hay vậy?”
Cậu nhìn huấn luyện viên, nước mắt chảy quanh:
“Thầy biết rằng ba em vừa mới mất, nhưng thầy có biết rằng ba em mù không?”
Cậu thanh niên cố gắng kìm tiếng khóc và cố mỉm
cười: “Ba em đi xem mọi trận đấu có đội của em, nhưng hôm nay là ngày đầu
tiên ba thấy được em chơi, vì thế, em muốn ba thấy em có thể chơi hay được!”●
Trở về mục lục >>

SỐNG TÂM LINH
NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG
(tiếp theo Maranatha_47)
Michel Hubaut -
Maranatha dịch
13.
MỘT THỜI ĐỂ NÓI.
“Có một
thời để làm thinh và một thời để lên tiếng”
(Gv 3,7)
Nếu hiền nhân công nhận rằng chân lý ít khi toát
ra từ một trận lôi đình, thì họ cũng không ngần ngại phá vỡ im lặng để giải
thích một cách thẳng thắn; như thế thì tốt hơn mọi hình thức nghiền ngẫm bên
trong khiến cho bình an nội tâm bị phá hủy:
“Thà trách mắng còn hơn giận dữ”
(Hc 20, 2)
Đôi khi nên làm rõ trắng đen còn hơn là giữ một sự
hiểu lầm hay để loan truyền một ‘tin đồn’ nào đó:
“Hãy đến gặp người bạn, có khi nó đã chẳng làm
gì... Hãy đến gặp người lân cận, có khi nó đã không nói gì. Hãy đến gặp
người bạn, vì thường hay có chuyện vu khống, đừng tin mọi lời của người ta.
Đôi khi có kẻ ngã mà đâu cố ý, và ai lại không lầm lỗi trong lời nói của
mình?” (Hc 19, 13-17).
Vả lại, những ngôn sứ trong Kinh Thánh không nhẹ
nhàng gì đối với các huynh trưởng và các chủ chăn của dân Chúa, khi họ trốn
tránh trách nhiệm bằng một sự thinh lặng sai trái:
“Những người canh gác It-ra-en đui mù hết,
chẳng hiểu biết gì, cả bọn chúng là lũ chó câm, không biết sủa, chỉ mơ mộng,
nằm dài và thích ngủ mà thôi.” (Is
26,10)
Và không phải bỗng dưng mà, trong Tân Ước, một các
tên đặt cho Quỉ Dữ là ‘thần câm”, mà Chúa Giêsu đã cứu thoát một người ra
khỏi tay hắn, hầu người ấy tìm lại được tiếng nói. (Mt 9,31).
Ma quỉ có thể xoay sự thinh lặng theo mưu đồ của
nó! Như thế, có một thứ thinh lặng ‘ma quỉ’! Cha đẻ sự Dối Trá có thể làm
cho người ta câm, khép mình lại, đóng kín môi miệng họ không cho phép nói
lên chân lý, làm chứng và ngợi khen.
Nhưng, như lời thánh Phaolô, không ai có thể
‘xiềng xích Lời Chúa’. Từ bao nhiêu thế kỷ qua, mặc cho bách hại và thử
thách, biết bao Kitô hữu đã nghe được lời gọi khẩn thiết của Thiên Chúa ngỏ
lời với vị Tông Đồ dân ngoại: “Đừng sợ,
hãy tiếp tục nói, đừng im. Ta ở cùng ngươi...”
(Cv 18, 9-10)
Đối diện với những người săn đuổi để khiến ngài
phải im lặng, thánh Phao lô, với tư cách là người chịu trách nhiệm rao giảng
Phúc âm, đã khước từ không chịu làm nhẹ đi Lời Chúa và đồng lõa với những
điều mà ngài gọi là ‘sự im lặng đáng xấu hổ.”
“Bởi thế, vì Thiên Chúa đoái thương giao cho
chúng tôi công việc phục vụ, nên chúng tôi không sờn lòng nản chí. Trái lại,
chúng tôi khước từ những sự im lặng đáng xấu hổ, và không dùng mưu mô mà xử
trí, cũng chẳng xuyên tạc Lời Thiên Chúa... vì có một lòng tin như đã chép:
“tôi đã tin, nên tôi mới nói”, thì chúng tôi cũng tin, nên chúng tôi mới
nói. Quả thật, chúng tôi biết rằng Đấng đã làm cho Chúa Giêsu trỗi dậy cũng
sẽ làm cho chúng tôi được trỗi dậy với Chúa Giêsu”
(2Cr 4, 1-2. 13-14)
Và nhân danh mầu nhiệm nhập thể của Chúa Kitô và
triều đại Ngài, thánh Phaolô không ngần ngại viết cho một môn sinh của mình:
“Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng,
lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên
nhủ” nhưng ngài cũng nói thêm ngay sau đó “với tất cả lòng nhẫn nại
và chú tâm dạy dỗ.” (2Tm 4,2)
Nhưng cần phải biết thinh lặng trong bản thân
mình, phải để cho Lời Chúa Kitô định hình cho mình trong một thời gian lâu
dài, thì mới dám sửa chữa người anh em đi lệch khỏi con đường sự Sống, mới
dám đưa ra lời khuyên nhủ thân tình, đúng đắn, có cơ sở, và xuất phát từ một
tình thương đích thực đối với người ấy! Tác giả Thánh Vịnh nói:
“Tình yêu và Chân lý lồng vào nhau.”
Ai cho rằng mình ‘loan truyền chân lý’ mà không yêu thương, người ấy có nguy
cơ trở nên một tay giáo điều không ai chịu nổi, và ai muốn yêu thương mà
không màng gì đến chân lý, người ấy có nguy cơ trở thành đồng lõa với các sự
im lặng hèn nhát.
Cần phải đón nhận lâu dài Thần Khí Tình Yêu trong
thinh lặng của lòng mình mới có thể nói với anh em một lời chân lý có khả
năng mời gọi người ấy hoán cải, làm cho người ấy tiến bộ mà không làm cho
người ấy nhục nhã hay ngã lòng. Vả lại, một trong những dấu hiệu cho thấy
rằng lời khuyên nhủ huynh đệ của mình phát xuất từ Thần Khí, ấy là lời ấy
không làm mất đi sự thinh lặng nội tâm của mình.
14. SỰ THINH LẶNG CỦA Ý THỨC VÀ CỦA CÕI LÒNG.
Trước hết, chính trên bình diện đối thoại nội tâm
với chính mình mà con người cố gắng đọc và hiểu lịch sử của mình, quá khứ,
hiện tại và dự kiến, cố gắng phân tích những thất bại và thành công, những
ước mơ và thất vọng, những niềm vui nỗi buồn, tóm lại, cố gắng thống nhất
đời sống mình trong thời gian, nếu không muốn biến thành một nút chai trôi
dạt theo các lớp sóng liên hồi của thời gian đi qua.
Trong sự thinh lặng của ý thức, vang lên một cuộc
tranh luận giữa nhiều tiếng nói, qua đó sẽ xuất phát sự chọn lựa, các quyết
định của mình. Nơi ưu tuyển để thực thi tự do. Sự tranh luận giữa cái tốt
nhiều và cái tốt ít trong chính mình, với những giá trị mà mình chọn lựa hay
từ chối. Đây là lúc mà mình cố gắng tìm hiểu bí mật về mình, về căn tính
đích thực và về vận mệnh của mình.
Người nào lẩn tránh vùng thinh lặng này thì mất
toàn bộ cuộc sống ý thức và chỉ còn phản ứng một cách hời hợt, bằng cảm
tính, bằng những cảm xúc ngoài da. Người ấy chiều theo khẩu hiệu, thời trang
và dư luận. Không có nhân vị thực sự nếu không có sự tranh luận nội
tâm trong sự thinh lặng của ý thức.
Thật hoàn toàn giả tạo nếu ta muốn xác định ranh
giới giữa sự thinh lặng của giác quan, sự thinh lặng tâm lý, sự thinh lặng
của ý thức và sự thinh lặng của cõi lòng. Những tác động qua lại giữa các
bình diện ấy thì thật nhiều. Hiểu như thế, thì cuộc đối thoại của con người
với ý thức mình, dù cần thiết và cảm động đến đâu, cũng không thể đồng hóa
với sự thinh lặng của ‘cõi lòng’.
Chúng ta, nhất là người phương tây chúng ta, có
khuynh hướng đối chọi lòng với trí. Trí là lãnh vực của đầu óc, của suy tư,
của hiểu biết, của luận lý, của hợp lý. Và lòng sẽ là trung tâm của tình
cảm. Thế nhưng ‘lòng’ trong truyền thống kinh thánh, truyền thống Kitô Do
Thái giáo, và đặc biệt là trong truyền thống tâm linh ở Phương Đông, không
chỉ là hạn hẹp trong lãnh vực tình cảm mà thôi.
Trong Kinh Thánh, ‘lòng’ là trung tâm sự sống của
con người. Đấy là nơi mà đôi khi ta gọi là ‘tâm hồn’, ‘chiều sâu của con
người mình’. Nơi ưu tuyển để hội nhập, nơi cắm rễ, qui tụ, hòa hợp của mọi
khả năng con người, của mọi biểu hiện của sự sống và mọi chức năng của thân
thể.
Trên hết, ‘lòng’ là nơi mà mỗi một chúng ta ở gần
Thiên Chúa, có thể liên lạc với Đấng cội nguồn Sự Sống. Nó là cánh đồng mà
Chúa Giêsu đã nói đến, nơi ấy chứa đựng kho tàng Nước Trời (xem Mt 13, 44)
“Thật vậy, cõi lòng là chủ và vua của toàn
bộ các cơ quan trong thân thể, và khi ân sủng chiếm lấy đồng cỏ của cõi
lòng, nó sẽ ngự trị trong mọi chi thể và mọi suy nghĩ, vì đấy là sự hiểu
biết đích thực...” (Thánh Macaire, Bài
Giảng XV, 20)
Và suốt lịch sử các tôn giáo, bao nhiêu người nam
nữ đã đi vào thinh lặng của ‘cõi lòng’, nơi đỉnh cao của con người mình, ở
đấy họ cảm nhận được một chiều kích mới của bản thân và của thế giới. Sự
thinh lặng đã đưa họ vào một ‘vũ trụ’ mà họ không tạo ra, nhưng đã hiện
diện, trong họ, như là bị chôn vùi. Rồi một hôm, họ bỗng ý thức được.
‘Cõi lòng’ hay tâm hồn có lẽ là ân huệ cao cả
nhất, tốt đẹp nhất và ẩn kín nhất mà Đấng Tác Tạo đã ban cho tạo vật.
Như vậy, mọi người, dù hữu thần hay vô thần, đều
có ‘khả năng nội tâm’ này, và có thể thiết lập tương giao với Thiên Chúa, vì
Người đã đặt vào đấy hơi thở của chính Người. Trong sự thinh lặng của tâm
hồn, không còn là con người đi bước trước, nhưng chính là Thiên Chúa, nhờ
‘Thần Khí Người kết hợp với lòng trí
chúng ta.’ Con người không còn độc
thoại với chính mình nhưng có thể nói lắng nghe một lời của Thiên Chúa,
không thể nào diễn đạt bằng ngôn ngữ, cũng như tiếng reo của một dòng suối.
Ở đấy, cũng giống như nhựa cây vươn lên và nuôi sống cây trong thinh lặng,
Thần Khí tác tạo chạm lấy ‘cõi lòng’ của tạo vật bằng những can thiệp thật
khẽ, mà chỉ có con người thinh lặng mới cảm nhận được●
(còn tiếp)
Trở về mục lục >>

CHIA SẺ
Ly
Cafe thay ĐỔi CUỘc ĐỜi
Joseph Vũ Thế Vinh
Ban Mục Vụ Giới Trẻ
Giáo Phận Hà Nội
Các bạn trẻ thân
mến!
Cuộc sống của chúng ta ngày hôm nay có biết bao điều đáng nói.
Tôi xin mạo muội được chia sẻ cùng các bạn về một cuộc gặp gỡ
mà theo tôi cảm nghiệm tình yêu của Chúa luôn hiện diện và ở
trong mọi người.
Câu chuyện này của tôi có thật, tôi kể ra đây không phải là để
khoe khoang thành tích của mình đã đưa được một người nào đó
trở về với Chúa. Nhưng tôi muốn chia sẻ cùng các
bạn là trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống chúng ta sẽ luôn cầu
xin Chúa để Ngài ban cho ta sức mạnh để vượt qua mọi thử thách
và những cám dỗ trên con đường lữ thứ mà chúng ta đang đi.
Câu
chuyện như thế này:
Vào một một buổi chiều, khí hậu ở Hà Nội hôm nay mát không như
mọi ngày thời tiết oi bức làm cho con người ta trở nên khó
chịu lạ thường. Khoảng 17h30 tôi ngồi uống cafe trong một quán
nước bên cạnh hồ. Nhìn từ trong quán ra ngoài hồ tôi cảm thấy
thoải mái và dễ chịu vô cùng. Hôm nay, tôi có cuộc hẹn với một
người bạn tại đây. Chẳng dấu gì các bạn tôi đã từng là sinh
viên trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội khoa Công Nghệ Thông Tin.
Tôi ngồi chờ anh bạn để đến nhà anh ta sửa giúp chiếc máy tính
bị hư đã nửa tháng nay tôi nhận lời nhưng chưa có dịp để đến
sửa được. Tôi ngồi uống nước và cảm thấy thời gian trôi đi rất
nhanh. Mới thế mà đã 18h rồi mà cậu bạn của tôi vẫn chưa đến.
Chợt:
Anh chờ ai thế? Em có thể phiền anh ngồi đây một chút được
không?
Tiếng
nói đó phát ra từ phía đằng sau làm cho
tôi vô cùng ngạc nhiên vì đó là giọng nói của một người con
gái. Tôi nhìn xung quanh, các bàn đã có khách ngồi cả mà chỉ
có tôi là ngồi một mình. Tôi cảm thấy đó là chuyện rất bình
thường khi một người khách muốn vào quán uống nước như tôi mà
không có chỗ ngồi.
Tôi thản nhiên trả lời:
Nếu như bạn muốn thì xin mời cứ tự nhiên.
Tôi
vừa nói dứt câu, cô bạn đã liền ngồi xuống ngay bên cạnh tôi. Còn ngạc
nhiên hơn nữa là cô ta muốn nói với tôi một điều gì đó nhưng ngại ngùng
không nói ra lời. Tôi liền hỏi: Bạn làm sao thế? Bạn tên là gì? Ở đâu? Và
đang làm gì? Cô ta chẳng mảy may đến những câu hỏi của tôi. Lúc đó, tôi
cảm thấy mình vô duyên tự nhiên đi hỏi một người mà mình chưa quen biết. Thế
rồi, tôi ngồi im lặng và uống nước. Bỗng chốc, cô ta hỏi tôi: Anh chờ bạn
ư? Tôi trả lời: Đúng vậy! Còn bạn thì sao? Lúc này cô ta
mới lên tiếng: Chắc giờ này muộn rồi (lúc đó đã 18h30) chắc bạn
anh không đến được đâu. Tôi vội lấy chiếc điện thoại cầm tay của mình
gọi cho cậu bạn thì quả thật cậu ta xin lỗi tôi vì không thể đến được. Tôi
quyết định sẽ uống hết ly cafe rồi sẽ về. Và rồi lại có một câu hỏi nữa phát
ra từ miệng cô gái ngồi cạnh tôi: Anh có thể đi chơi với em được không?
Trời ơi! Tôi hoảng hốt quá. Tại làm sao mà một cô gái tự nhiên lại rủ
một người con trai chưa hề quen biết đi chơi vào lúc trời đã dần tối. Tôi
đoán ra ngay cô ta là gái làm tiền. Thực ra cái nghề này không phải tôi
không biết nhưng quả thực lần đầu tiên tôi mới thấy một người phụ nữ mời tôi
như vậy.
Tôi cố gắng bình tĩnh lại và suy luận ra một điều là: Có lẽ cô ta thiếu tiền
nên đã không ngại hổ thẹn nói ra mời tôi đi chơi. Tôi là một người đi tu làm
sao tôi có thể làm chuyện trái với luân lý Kitô giáo được. Tôi trả lời: Bạn tìm nhầm người rồi! Tôi vội đứng lên và gọi chủ quán ra tính tiền.
Sau đó tôi đi ra nơi để xe để trở về nhà. Nhưng lạ thay cô ta chạy theo tôi
và nói nhỏ vào tai tôi: Anh muốn gì em cũng chiều mà. Tôi không vội
lên xe nổ máy mà đứng lại và hỏi: Nhà em ở đâu anh đưa em về. Cô ta
trả lời: Thế cũng được. Tôi liền trở cô ta về nhà. Thật lạ lùng, tôi
là người Hà Nội mà chưa từng biết đến khu này và còn bất ngờ hơn nữa khi
nhìn thấy xung quanh khu vực cô ta sống toàn là gái làm tiền thôi. Tôi lạnh
cả người. Bỗng nhiên, tôi nói một câu từ miệng: Lạy Chúa con ơi! Cô
ta ngồi sau và nói: Anh theo Đạo à! Tôi không ngần ngại trả lời:
Mình là người Công Giáo. Cô ta bèn nói: Em cũng vậy, quê em ở Hà Tây, em ra
đây làm việc được 6 tháng
rồi.
Vừa đến nhà cô, tôi liền quay xe định về cô ta mời tôi vào nhà. Tôi liền
ngập ngừng và quyết định sẽ vào nhà cô ta. Vừa vào tôi nhìn thấy ảnh một cụ
già mà tôi đoán có lẽ còn hơn cả tuổi ông nội tôi. Tôi liền hỏi: Bà của
bạn ư? Cô ta trả lời đó là mẹ em. Bà bị bệnh lên đây chữa mấy tháng nay
nhưng không có kết quả gì. Em định đưa bà về quê. Tôi mới nói: Bạn muốn
có một công việc tốt không nhưng phải chịu khổ một chút. Bạn đó trả lời:
Nếu được vậy thì tốt quá. Tôi nói tiếp: Nếu vậy thì bạn phải bỏ
ngay cái nghề làm cho nhân phẩm con người bị hạ giá này đi. Hơn nữa, bạn
cũng là người Công Giáo cơ mà. Cô nàng khóc lóc. Tôi đã hiểu có lẽ cô ta
có nỗi khổ riêng nhưng tôi không hỏi thêm. Tôi hẹn cô ấy ba ngày sau gặp tôi
tại quán cafe mà hai người đã tình cờ gặp nhau. Tôi giới thiệu côta vào bán
hàng cho một anh bạn thân với tôi lương tháng 700.000đ.
Giờ đây, khi gặp lại cô ta nụ cười luôn hiện diện trên môi
điều này làm tôi cảm thấy hạnh phúc vì mình đã vô tình kêu gọi
một người về với Chúa.
Bạn thân mến!
Dù bạn đang đi học hay đã làm việc, dù bạn là ai đi nữa thì qua câu chuyện
này bạn suy nghĩ như thế nào? Riêng đối với tôi, tôi cảm thấy việc Chúa làm
thì con người không thể tưởng tượng ra hết được. Cuộc gặp gỡ diệu kỳ này là
món quà mà Chúa đã ban cho tôi. Chúa dành cho tôi rất nhiều sự bất ngờ
đáng thúc vị trên con đường mà tôi đang đi. Có những lúc Chúa mang đến cho
tôi những món quà ngọt ngào như tận hưởng hương vị Sôcôla vậy. Lại có khi
Chúa lại để cho tôi gặp những thử thách đòi hỏi tôi phải có những chọn lựa
và dấn thân. Các bạn hãy can đảm lên, hãy nghĩ đến những con người đang sống
trong bùn đen của tội lỗi để cầu nguyện và giúp đỡ họ. Hãy cho họ một ánh
mắt, một nụ cười, một cái bắt tay
để qua đó họ cảm nhận được
tình thương của mọi người dành cho họ.
Người bạn này đã gặp gỡ Chúa qua tôi, điều này được thể hiện
là sau khi đi làm cô bạn đó luôn luôn chăm chỉ đi lễ hằng tuần
tại Giáo xứ Thái Hà. Cô ta không còn mặc cảm tội lỗi, đã đi
xưng tội và tham dự thánh lễ rất sốt sáng. Chúa đã đánh thức
con tim nguội lạnh của cô. Chúa đã làm cho cô cảm thấy Chúa
đang thực sự đồng hành cùng cô. Một ly cafe với biết bao điều
đáng nói các bạn ạ.
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con những
con người dám tiếp xúc và sống cùng với những người tội lỗi.
Để cùng với họ vượt thắng mọi khó khăn đang đè nặng con tim
họ. Để họ trở nên trong sáng trước mặt Chúa và mọi người.
Amen!●
Trở
về mục lục >>

·
TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC
Thời gian gần đây, có khá nhiều độc giả ghi
danh nhận báo và hỏi lại xin các số báo cũ. Trong tương lai gần,
MARANATHA
sẽ đưa tất cả các số báo đã phát hành lên trang báo điện tử để Quý độc giả
có thể vào lấy xuống và lưu trữ trong máy của mình.
·
Trong tuần qua,
MARANATHA
đã nhận được điện thư xin nhận báo,
đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng
góp của:
Phạm Hùng Sơn – CVK, Lm. Vũ Xuân Hạnh, Nguyễn Hữu
Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Đỗ Trang, Sr. Maira Vũ - LHC, Trần Nguyễn Thuỷ
Nhiên, Bùi Thị Hồng Nga, Lm. Pet Nguyễn Minh Van, Đoàn Văn Diễm, Trần Thăng
Long, Anthony Phạm Văn Hiếu,
Natalie Vũ, Phan Tấn Thịnh, SVD, Joseph
Lập - fsc, Tú Uyên, Giuse Trần NgKhánh, Nguyễn Ngọc Hạnh,
Lm. Lê Đình Dụ, Nguyễn Hoàng Kim Vũ, Têrêxa Hồng Công,
Phạm Khắc Thiện, Minh Châu Ton,
Têrêxa Vũ Khuyên,
Lê Quang Trinh,
Lm. Phaolô Nguyễn Văn Đàm,
Nguyệt Nga,
Đinh Công Khánh, MaryPaul Phạm, Đỗ Tuyến,
Nt MariaAne Trần, Mary Paul Phạm,…
Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và
những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho
Maranatha.
Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị.
Trân trọng,
MARANATHA
Trở về mục lục >>
THƯ BẠN ĐỌC
Xin chia
sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về
MARANATHA
trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:
v
Mất một khoảng thời gian con không
nhận được Maranatha,…hôm nay nhận được Maranatha con thấy lòng mình
như được uống suối mát , bình an…Cám ơn Maranatha cho con thêm sức mạnh để
tiếp tục cuộc chiến đấu cho người khuyết tật tại Việt nam.
Bùi Thị Hồng Nga.
v
Tôi là Linh mục Pet Nguyễn
Minh Van, quản sở nhà thờ họ đạo Bắc Hải, cũng là thí điểm truyền giáo của
hạt Đại Hải, giáo phận Cần Thơ. Xin cám ơn qúy báo đã thường xuyên gửi bài
cho tôi, Linh mục Pet Nguyễn Minh
Van.
v
Đọc bài chia sẻ của Gm. Bùi Tuần,
con cảm thấy có một sự đồng cảm vô cùng với Ngài về TÌNH YÊU của ĐỨC MẸ
MARIA trong cuộc sống nhân loại hôm nay. Con cũng đã cảm nghiệm hết những
tình cảm mà Ngài đã cảm thấy được MẸ chia sẻ và nâng đỡ như thế nào trong
cuộc sống con người. Thật sự con tin chắc rằng nếu ai đã biết đến MẸ thì
chắc chắn phải Yêu MẸ đến say đắm bởi vì MẸ thật vô cùng đáng Mến Yêu. MẸ
đáng Mến yêu không chỉ vì Mẹ Hằng Cứu Giúp chúng ta trong những lúc gian nan
khốn khó mà MẸ thật là MẸ luôn chia vui sẻ sầu, luôn đồng hành nâng đỡ, luôn
hiểu chúng ta và khoan dung với những lầm lỡ thiếu sót của chúng ta. MẸ luôn
đồng hành cùng chúng ta bước đi trong cuộc sống với muôn ngàn khó khăn trách
nhiệm, thử thách, đau khổ và cả những giây phút hạnh phúc nữa. Mẹ đúng là
Niềm Hạnh Phúc của con và là Mẹ Tuyệt Mỹ dẫn con đến với TÌNH YÊU THIÊN CHÚA
BA NGÔI cũng như đến với Thánh Cả Giuse vậy. Con đường Mẹ dẫn đi thật là nhẹ
nhàng thanh thoát, Mẹ quả là Món Qùa Hoàn Hảo mà THIÊN CHÚA tặng ban cho
loài người. Con cũng đã gặp nhiều người ngoại đạo, họ chạy đến với Mẹ và họ
đã chia sẻ những điều kỳ diệu Mẹ đã làm cho họ như thế nào. Cuối cùng họ
thường kết luận: “Tôi tin là có THIÊN CHÚA và có Mẹ Maria.” Nhân đọc xong
báo Maranatha, con chỉ muốn nói lên tâm tình của mình dành cho Mẹ MARIA mà
thôi. Và xin chân thành cám ơn và kính chào Maranatha.
Trần N.T. Nhiên.
v
Trước hết xin chân thành cám ơn qúy
báo đã gửi cho chúng tôi số báo 47. Chúng tôi thấy thật là một công việc tốt
lành để giúp cho những người khác làm cho Danh Chúa được cả sáng hơn và tình
liên đới giữa con người với nhau càng mặn mà thắm thiết như lòng Chúa mong
ước. Để thuận lợi cho chúng tôi hơn trong việc nhận những tài liệu thật quý
giá và bổ ích của quý Báo, nếu được kính xin quý báo vui lòng gửi cho các số
báo tiếp theo theo hộp thư…Chúng tôi chỉ xin nguyện cầu: Maranatha: Lạy
Chúa! Xin hãy đến với chúng con! Đoàn
Văn Diễm.
v
THAODAN xin trân trọng cám ơn quí
báo. Rất hay. Xin đề nghị có thêm mục tin tức nhất là tin quốc tế. Chúc quí
báo phát triển liên tục. Chương trình THAODAN.
v
Kính gửi qua báo MARANATHA. Tôi là Anthony Phạm, tôi là một Postulant của
New Clairvaux Abbey. Qua một vị ân nhân tôi biết được Qúy Báo và đã
nhận được vài số của Quý Báo. Sau khi tôi đọc xong những số báo đó nó đã
giúp tôi tìm hiểu những tin tức rất bổ ích mà tôi chưa từng biết bao giờ.
Tôi cầu chúc cho Quý Báo càng ngày càng thêm số lượng cũng như chất lượng,
hầu có thể đem đến cho bạn đọc những tin tức bổ ích, đó là công việc mà tôi
nghĩ là TRUYỀN GIÁO hầu có thể làm cho Nước Chúa lan rộng trong thế giới
ngày nay. Và tôi đang cần số báo cũ (số 42) vì trong đó có mục "NHỮNG NẺO
ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG" tác giả Michel Hubaut – Maranatha dịch. …Tôi sẽ đền
đáp công ơn của Quý Báo qua những Lời Cầu Nguyện, những HY SINH hàng ngày
trong đời sống Đan Tu. Rất mừng vì kể từ nay sẽ nhận được báo hàng tuần của
Quý Báo Chẳng biết lấy gì để báo đáp mà chỉ biết tri ân cảm tạ quý báo qua
Tình Yêu Thiên Chúa. Xin Thiên Chúa chúc lành cho công việc của Quý Báo.
Anthony Phạm Văn Hiếu.
v
Tôi rất hân hạnh được đọc
tuần báo điện tử Maranatha, nếu có in như các báo Dân Chúa…, xin cho tôi
biết ghi tên mua bao nhiêu một năm để đọc cho dễ dàng khỏi cần phải on line
mới đọc được và cầm đi đâu cũng được. Rất cám ơn.
Natalie Vũ.
v
Tôi là tu sĩ Dòng Ngôi Lời
hiện đang phục vụ tại giáo xứ Mỹ Thạnh, Cam Ranh. Tôi đã nhận được số báo 42
do một người quen gởi. Nhờ đó tôi biết được địa chỉ này. Xin quý Ban Biên
Tập tiếp tục gởi báo cho tôi để có chất liệu thông tin giúp đỡ cho bà con ở
vùng sâu vùng xa này. Kính chào,
P.J. Phan Tấn Thịnh, svd.
v
Xin Maranatha cho
tôi gửi lời cám ơn đến tác giả Khổng Nhuận. Những bài viết của tác giả thật
sâu sắc và nâng đỡ tinh thần tôi rất nhiều trong ơn gọi Kitô hữu.
Chân thành cám ơn Maranatha.
Joseph Lập, fsc.
v
Tôi chỉ mới biết đến tuần báo khi
đọc số 46 vừa rồi, tôi thấy quí báo có những bài viết rất hay. Mong quí báo
gửi cho tôi cùng gia đình tuần báo thất hay và đầy ý nghĩa này. Xin chân
thành cám ơn. Amen. Giuse Trần
NgKhánh.
v
Xin vui lòng gởi cho tôi với. Xin
chân thành cảm tạ. Cầu Chúa chúc lành cho quý vị.
Lm. Lê Đình Dụ.
v
Kính chào Maranatha! Con là một đệ
tử đang dự tu tại dòng MTG Vinh. Tình cờ con nhân được tuần báo của
Maranatha 45 trên mạng do cha Huy Thống gửi cho. Thật là may mắn khi được
biết đến Maranatha. Maranatha ngày đêm vất vả, trăn trở để dọn ra những bàn
tiệc Lời Chúa và những món ăn tinh thần thật hấp dẫn và độc đáo. Maranatha
ơi! Cám ơn Maranatha nhiều và nhiều nhé vì Maranatha đã cung cấp cho con
thêm lượng kiến thức, niềm vui và sự hăng say trên con đường học vấn cũng
như theo đuổi ơn gọi. Con tạ ơn Chúa về điều đó. Xin Thiên Chúa tiếp tục
đồng hành, nâng đỡ quý cha, các quý vị và ban tổ chức để tuần báo của
Maranatha luôn đến với mọi người và ngày càng thành công rực rỡ. Hiện giờ
con đang đi học xa cộng đoàn nên rất mong nhận được tuần báo của Maranatha.
Xin quý cha và ban tổ chức vui lòng gửi về cho con những số báo tiếp theo
địa chỉ mà con đang sử dụng. Xin chân thành cám ơn. Cuối cùng, kính chúc quý
cha, ban tổ chức sức khoẻ, niềm vui, hạnh phúc, và sự bình an của Thiên
Chúa. Têrêxa Hồng Công.
v
Đã hơn một năm được đọc tuần san mà
tôi cũng vô tình không biết ai đã liên hệ để gửi cho mình, và cũng chẳng
liên hệ với tuần báo mà cám ơn nữa, càng nghĩ tôi càng thấy mình càng vô ơn.
Thành thật xin lỗi tuần báo và ban biên tập, cùng người bạn đã nhớ gửi báo
cho tôi. Để chuộc lỗi, xin tuần báo nhận lời cám ơn chân thành của tôi và
tiếp tục gửi báo cho tôi và các bạn tôi. Xin chúc quí báo và ban biên tập
đươc dồi dào sức khoẻ và được tràn đầy hồng ân của Chúa Thánh Linh.
Têrêxa Vũ Khuyên.
v
Chân thành cám ơn
Maranatha rất nhiều, tôi vui mừng nhận được Maranatha để hiểu biết những tin
tức trong Giáo Hội và những chia sẻ sống động của quí vị, đặc biệt lần thứ
hai nói về Đức Mẹ. Tôi là Lê Quang Trinh, một chủng sinh gốc địa phận Cần
Thơ, nay đang tu trong Dòng Chúa Thánh Thần tại Houston, TX. Tôi cám ơn nỗ
lực của quí vị trong công việc làm hữu ích cho nhiều người. Xin Chúa chúc
lành cho quí vị. Lê Quang
Trinh.
v
Rất chân thành cám ơn ban
biên tập MARANATHA đã hy sinh nhiều thời giờ cố gắng để cung cấp những món
ăn tinh thần cho chúng tôi, nhất là cho tôi, một bệnh nhân đang điều trị.
Xin Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô ban muôn phúc lành cho quí Bạn. Xin làm ơn
gửi báo cho người chị em bạn của tôi là Sr. Mary Pauline. Xin cảm tạ.
Sr. Maria Vũ, LHC.
v
Tôi là linh mục Dòng
Phanxicô. Qua một người bạn, tôi đã đọc báo của quí vị. Tôi cảm thấy có
nhiều điều bổ ích. Vì thế, xin quí vị vui lòng cho tôi xin các số báo
tiếp theo để đọc và học hỏi thêm. Xin chân thành cám ơn và xin Chúa ban
nhiều ơn lành cho quí vị. Lm. Nguyễn
V. Đàm.
v
Maranatha quý mến, …Ước mong sứ vụ
tông đồ mà Chúa trao cho chúng ta, mỗi một ngày càng được chúng ta trân
trọng, yêu mến, gìn giữ và ra sức phát huy bằng tất cả nỗ lực của bản thân.
Quý mến, Lm. Vũ Xuân Hạnh.
v
Maranatha thân thương, Tôi vừa được
một người bạn giới thiệu về bài báo Maranatha. Rất vui và tìm thấy đuợc
nhiều lợi ích súc tích. Tôi không biết là báo Maranatha có thường xuyên dịch
ra tiếng Việt để cộng đoàn dân Chúa khắp nơi cùng đọc hay không. Nếu có thì
xin quý Maranatha cho xin cái web để tìm đọc. Cám ơn quý báo và chúc tất cả
dồi dào ơn Chúa trong việc phục vụ anh em cùng một Cha trên trời.
Đinh Công Khánh.

Trở về mục lục >>