|
NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG (tiếp theo Maranatha_47) Michel Hubaut - Maranatha dịch 13. MỘT THỜI ĐỂ NÓI. “Có một thời để làm thinh và một thời để lên tiếng” (Gv 3,7) Nếu hiền nhân công nhận rằng chân lý ít khi toát ra từ một trận lôi đình, thì họ cũng không ngần ngại phá vỡ im lặng để giải thích một cách thẳng thắn; như thế thì tốt hơn mọi hình thức nghiền ngẫm bên trong khiến cho bình an nội tâm bị phá hủy: “Thà trách mắng còn hơn giận dữ” (Hc 20, 2) Đôi khi nên làm rõ trắng đen còn hơn là giữ một sự hiểu lầm hay để loan truyền một ‘tin đồn’ nào đó: “Hãy đến gặp người bạn, có khi nó đã chẳng làm gì... Hãy đến gặp người lân cận, có khi nó đã không nói gì. Hãy đến gặp người bạn, vì thường hay có chuyện vu khống, đừng tin mọi lời của người ta. Đôi khi có kẻ ngã mà đâu cố ý, và ai lại không lầm lỗi trong lời nói của mình?” (Hc 19, 13-17). Vả lại, những ngôn sứ trong Kinh Thánh không nhẹ nhàng gì đối với các huynh trưởng và các chủ chăn của dân Chúa, khi họ trốn tránh trách nhiệm bằng một sự thinh lặng sai trái: “Những người canh gác It-ra-en đui mù hết, chẳng hiểu biết gì, cả bọn chúng là lũ chó câm, không biết sủa, chỉ mơ mộng, nằm dài và thích ngủ mà thôi.” (Is 26,10) Và không phải bỗng dưng mà, trong Tân Ước, một các tên đặt cho Quỉ Dữ là ‘thần câm”, mà Chúa Giêsu đã cứu thoát một người ra khỏi tay hắn, hầu người ấy tìm lại được tiếng nói. (Mt 9,31). Ma quỉ có thể xoay sự thinh lặng theo mưu đồ của nó! Như thế, có một thứ thinh lặng ‘ma quỉ’! Cha đẻ sự Dối Trá có thể làm cho người ta câm, khép mình lại, đóng kín môi miệng họ không cho phép nói lên chân lý, làm chứng và ngợi khen. Nhưng, như lời thánh Phaolô, không ai có thể ‘xiềng xích Lời Chúa’. Từ bao nhiêu thế kỷ qua, mặc cho bách hại và thử thách, biết bao Kitô hữu đã nghe được lời gọi khẩn thiết của Thiên Chúa ngỏ lời với vị Tông Đồ dân ngoại: “Đừng sợ, hãy tiếp tục nói, đừng im. Ta ở cùng ngươi...” (Cv 18, 9-10) Đối diện với những người săn đuổi để khiến ngài phải im lặng, thánh Phao lô, với tư cách là người chịu trách nhiệm rao giảng Phúc âm, đã khước từ không chịu làm nhẹ đi Lời Chúa và đồng lõa với những điều mà ngài gọi là ‘sự im lặng đáng xấu hổ.” “Bởi thế, vì Thiên Chúa đoái thương giao cho chúng tôi công việc phục vụ, nên chúng tôi không sờn lòng nản chí. Trái lại, chúng tôi khước từ những sự im lặng đáng xấu hổ, và không dùng mưu mô mà xử trí, cũng chẳng xuyên tạc Lời Thiên Chúa... vì có một lòng tin như đã chép: “tôi đã tin, nên tôi mới nói”, thì chúng tôi cũng tin, nên chúng tôi mới nói. Quả thật, chúng tôi biết rằng Đấng đã làm cho Chúa Giêsu trỗi dậy cũng sẽ làm cho chúng tôi được trỗi dậy với Chúa Giêsu” (2Cr 4, 1-2. 13-14) Và nhân danh mầu nhiệm nhập thể của Chúa Kitô và triều đại Ngài, thánh Phaolô không ngần ngại viết cho một môn sinh của mình: “Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ” nhưng ngài cũng nói thêm ngay sau đó “với tất cả lòng nhẫn nại và chú tâm dạy dỗ.” (2Tm 4,2) Nhưng cần phải biết thinh lặng trong bản thân mình, phải để cho Lời Chúa Kitô định hình cho mình trong một thời gian lâu dài, thì mới dám sửa chữa người anh em đi lệch khỏi con đường sự Sống, mới dám đưa ra lời khuyên nhủ thân tình, đúng đắn, có cơ sở, và xuất phát từ một tình thương đích thực đối với người ấy! Tác giả Thánh Vịnh nói: “Tình yêu và Chân lý lồng vào nhau.” Ai cho rằng mình ‘loan truyền chân lý’ mà không yêu thương, người ấy có nguy cơ trở nên một tay giáo điều không ai chịu nổi, và ai muốn yêu thương mà không màng gì đến chân lý, người ấy có nguy cơ trở thành đồng lõa với các sự im lặng hèn nhát. Cần phải đón nhận lâu dài Thần Khí Tình Yêu trong thinh lặng của lòng mình mới có thể nói với anh em một lời chân lý có khả năng mời gọi người ấy hoán cải, làm cho người ấy tiến bộ mà không làm cho người ấy nhục nhã hay ngã lòng. Vả lại, một trong những dấu hiệu cho thấy rằng lời khuyên nhủ huynh đệ của mình phát xuất từ Thần Khí, ấy là lời ấy không làm mất đi sự thinh lặng nội tâm của mình. 14. SỰ THINH LẶNG CỦA Ý THỨC VÀ CỦA CÕI LÒNG. Trước hết, chính trên bình diện đối thoại nội tâm với chính mình mà con người cố gắng đọc và hiểu lịch sử của mình, quá khứ, hiện tại và dự kiến, cố gắng phân tích những thất bại và thành công, những ước mơ và thất vọng, những niềm vui nỗi buồn, tóm lại, cố gắng thống nhất đời sống mình trong thời gian, nếu không muốn biến thành một nút chai trôi dạt theo các lớp sóng liên hồi của thời gian đi qua. Trong sự thinh lặng của ý thức, vang lên một cuộc tranh luận giữa nhiều tiếng nói, qua đó sẽ xuất phát sự chọn lựa, các quyết định của mình. Nơi ưu tuyển để thực thi tự do. Sự tranh luận giữa cái tốt nhiều và cái tốt ít trong chính mình, với những giá trị mà mình chọn lựa hay từ chối. Đây là lúc mà mình cố gắng tìm hiểu bí mật về mình, về căn tính đích thực và về vận mệnh của mình. Người nào lẩn tránh vùng thinh lặng này thì mất toàn bộ cuộc sống ý thức và chỉ còn phản ứng một cách hời hợt, bằng cảm tính, bằng những cảm xúc ngoài da. Người ấy chiều theo khẩu hiệu, thời trang và dư luận. Không có nhân vị thực sự nếu không có sự tranh luận nội tâm trong sự thinh lặng của ý thức. Thật hoàn toàn giả tạo nếu ta muốn xác định ranh giới giữa sự thinh lặng của giác quan, sự thinh lặng tâm lý, sự thinh lặng của ý thức và sự thinh lặng của cõi lòng. Những tác động qua lại giữa các bình diện ấy thì thật nhiều. Hiểu như thế, thì cuộc đối thoại của con người với ý thức mình, dù cần thiết và cảm động đến đâu, cũng không thể đồng hóa với sự thinh lặng của ‘cõi lòng’. Chúng ta, nhất là người phương tây chúng ta, có khuynh hướng đối chọi lòng với trí. Trí là lãnh vực của đầu óc, của suy tư, của hiểu biết, của luận lý, của hợp lý. Và lòng sẽ là trung tâm của tình cảm. Thế nhưng ‘lòng’ trong truyền thống kinh thánh, truyền thống Kitô Do Thái giáo, và đặc biệt là trong truyền thống tâm linh ở Phương Đông, không chỉ là hạn hẹp trong lãnh vực tình cảm mà thôi. Trong Kinh Thánh, ‘lòng’ là trung tâm sự sống của con người. Đấy là nơi mà đôi khi ta gọi là ‘tâm hồn’, ‘chiều sâu của con người mình’. Nơi ưu tuyển để hội nhập, nơi cắm rễ, qui tụ, hòa hợp của mọi khả năng con người, của mọi biểu hiện của sự sống và mọi chức năng của thân thể. Trên hết, ‘lòng’ là nơi mà mỗi một chúng ta ở gần Thiên Chúa, có thể liên lạc với Đấng cội nguồn Sự Sống. Nó là cánh đồng mà Chúa Giêsu đã nói đến, nơi ấy chứa đựng kho tàng Nước Trời (xem Mt 13, 44) “Thật vậy, cõi lòng là chủ và vua của toàn bộ các cơ quan trong thân thể, và khi ân sủng chiếm lấy đồng cỏ của cõi lòng, nó sẽ ngự trị trong mọi chi thể và mọi suy nghĩ, vì đấy là sự hiểu biết đích thực...” (Thánh Macaire, Bài Giảng XV, 20) Và suốt lịch sử các tôn giáo, bao nhiêu người nam nữ đã đi vào thinh lặng của ‘cõi lòng’, nơi đỉnh cao của con người mình, ở đấy họ cảm nhận được một chiều kích mới của bản thân và của thế giới. Sự thinh lặng đã đưa họ vào một ‘vũ trụ’ mà họ không tạo ra, nhưng đã hiện diện, trong họ, như là bị chôn vùi. Rồi một hôm, họ bỗng ý thức được. ‘Cõi lòng’ hay tâm hồn có lẽ là ân huệ cao cả nhất, tốt đẹp nhất và ẩn kín nhất mà Đấng Tác Tạo đã ban cho tạo vật. Như vậy, mọi người, dù hữu thần hay vô thần, đều có ‘khả năng nội tâm’ này, và có thể thiết lập tương giao với Thiên Chúa, vì Người đã đặt vào đấy hơi thở của chính Người. Trong sự thinh lặng của tâm hồn, không còn là con người đi bước trước, nhưng chính là Thiên Chúa, nhờ ‘Thần Khí Người kết hợp với lòng trí chúng ta.’ Con người không còn độc thoại với chính mình nhưng có thể nói lắng nghe một lời của Thiên Chúa, không thể nào diễn đạt bằng ngôn ngữ, cũng như tiếng reo của một dòng suối. Ở đấy, cũng giống như nhựa cây vươn lên và nuôi sống cây trong thinh lặng, Thần Khí tác tạo chạm lấy ‘cõi lòng’ của tạo vật bằng những can thiệp thật khẽ, mà chỉ có con người thinh lặng mới cảm nhận được● (còn tiếp)
|