Số 49, Ngày 25-6-2005

 

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Tiếng Kêu Trong Hoang Địa - Gm. Bùi Tuần

Phaolô - Vị Tông Đồ Vĩ Đại  - Trần Duy Nhiên

Tưởng Nhớ Một Người Cha - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Cốt Tủy Của Kitô Giáo Theo Ánh Mắt Tâm Linh - Khổng Nhuận

Yêu Mình Cách Sáng SuốtNguyễn Chính Kết

Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng (tt) - Lm. Michet Hubaut – Maranatha dịch

Danh Xưng - Sưu Tầm

Câu Chuyện Về Những Cây Đinh - Sưu Tầm

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa Quý độc giả,

Chúng ta đang sống những ngày cuối trong tháng sáu, tháng Thánh Tâm với Tình Yêu ứa tràn từ Trái-Tim-Rất-Thánh. Cũng cùng nhịp đập và niềm vui của Giáo Hội, Maranatha hân hoan mừng lễ quan thầy của quý cộng tác viên và độc giả trong dịp mừng kính Sinh Nhật Thánh Gioan BaotixiataHai Thánh Cả Phêrô Phaolô Tông Đồ sắp đến.

Nhắc đến các vị thánh, một Gioan Tẩy Giả sống cuộc đời như “không giống ai,” “lội ngược dòng,” một con người mà thế gian xem như “ngoại cuộc.” Trong một xã hội khi con người đang tìm lại quyền hành chính trị, chủ quyền cho quốc gia dân tộc sau bao năm bị lưu đầy, khi người người ai cũng tìm kiếm địa vị, danh lợi trong một đất nước đảo điên, thì con người ấy ẩn mình đi, sống đời cầu nguyện trong cô tịch và rồi khi xuất hiện lại chỉ nói về mình như là một “tiếng vọng” để “dọn đường” cho “Đấng đến sau tôi, nhưng Ngài cao trọng hơn tôi, tôi không đáng cởi quai dép cho Ngài.” (Ga 1:27).

Hai vị thánh được xem là rường cột của Giáo Hội, thì một Phêrô nóng nảy, hình như không mấy giỏi giang, ăn học, và từ chối Thầy mình đến 3 lần giữa lúc Thầy cần đến anh nhiều nhất. Một Phaolô khác hẳn với Phêrô, trí thức, nhiệt thành và hăng hái bảo vệ cho quan niệm tôn giáo của mình trong các cuộc bắt bớ tín hữu và chống đối con người gọi là Giêsu kia.  Một Phêrô thống hối, trở về, một Phaolô chân thành đáp trả và làm chứng cho lời mời gọi thiết thân. Thế đó, những con người yếu đuối bình thường, vấp ngã với những kinh nghiệm rất thương đau, nhưng họ đã không nhìn vào bản thân mình với những kiệt quệ hay thất bại của cuộc đời mà ngửng lên chăm chú vào Đấng Đã Chết và Sống Lại cho mình. Những con người ấy đã để cho tình yêu vượt thắng những trở ngại, để cho Đức Kitô và Tình Yêu Thiên Chúa chiếm hữu và trở thành gia nghiệp cho cuộc đời mình. Cả hai đều đã được tôn vinh là Thánh Cả chỉ vì Tình yêu của Đấng Sống Lại ấy đã thúc bách, mở con mắt đức tin để nhìn thấy con người Giêsu Kitô ấy là chính Đấng Cứu Độ. Kiến thức, tài năng, nhiệt thành, đạo đức, tội lỗi, giới hạn, những khiếm khuyết của họ đã được đốt bằng ngọn lửa tình yêu và lòng sốt mến để rồi “tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi.” (Gl 2:20).

Tuần này, trong tâm tình hiệp thông mừng các lễ trọng và kính các thánh lớn, Maranatha_49 trân trọng gửi đến quý độc giả tâm tình và kinh nghiệm sâu sắc qua bài viết và chia sẻ tâm tình của con người để cho Chúa lớn lên trong đời mình sau khi đã qua một chặng đường dài phục vụ dân Chúa; bài viết “Tưởng Nhớ Một Người Cha” như một nén hương được thắp lên để bày tỏ tâm tình biết ơn người thầy và về những hướng dẫn trong đời linh mục nhân dịp lễ giỗ 10 năm của Đức Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, và những chia sẻ giúp tín hữu chúng ta nhìn lại cuộc sống của mình qua lăng kính đức tin.

Mừng lễ các Thánh Gioan Baotixia, Phêrô và Phaolô, chúng ta có tìm thấy chính mình qua những kinh nghiệm và tâm tình của những mẫu gương trong Tin Mừng? Chúng ta có cảm nghiệm tình yêu cứu độ trong những vấp ngã, thất bại hoặc khổ đau trong cuộc sống thường nhật hay trong kinh nghiệm tiến lên trong đời sống trọn lành? Trong lòng Giáo Hội và cùng chia sẻ Nhiệm Thể Đức Kitô, xin cầu nguyện cho nhau được sống trọn vẹn trong Trái–Tim-Rất-Thánh của Tháng Sáu Tình Yêu, với lòng trông cậy và hân hoan vì biết rằng chúng ta đuợc yêu thương và cứu độ, phần còn lại là bản thân mình có mở trái tim và cuộc đời mình cho Thánh Thần Chúa hoạt động để được biến đổi trở thành những ‘vị thánh’ đuợc mời gọi và làm chứng cho Tin Mừng giữa lòng cuộc sống hôm nay?

MARANATHA

Trở về mục lục >>

 

 

 

 MỪNG KÍNH THÁNH GIOAN TẨY GIẢ

TIẾNG KÊU TRONG HOANG ĐỊA

 

Gm. Bùi Tuần

 Thánh Bổn Mạng của tôi là Gioan Baotixita. Vị thánh này được gọi bằng nhiều tên, như Gioan Tiền Hô, Gioan Tẩy Giả. Riêng tôi, tôi thích gọi Ngài bằng một tên đơn giản hơn. Tên này do tiên tri Isaia đặt cho Ngài từ ngàn năm trước. Đó là "Tiếng hô trong hoang địa" (Lc 3,4; Mc 1,2; Mt 3,3; Ga 1,23). Chính thánh Gioan Baotixita cũng tự xưng mình bằng tên đó:

"Tôi là người hô trong hoang địa:

Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi" (Ga 1,23).

Ngài là thế. Tôi cũng muốn bắt chước Ngài được như thế.

"Hô trong hoang địa". Nghe thì đơn giản. Nhưng thực hành mới thấy không đơn giản chút nào. Bởi vì phải biết:

Hô điều gì?

Hô cách nào?

Hô lúc nào?

Hôm nay, gần hết đời người, và sau 50 năm linh mục, tôi thấy công việc tôi "hô trong hoang địa" vẫn còn như mới bắt đầu. Nghĩa là còn kém, còn non, còn dở, còn đầy thiếu sót, còn cần mãi mãi học thêm.

Tôi đã học ở đâu? Và còn sẽ tiếp tục học ở đâu?

Tôi xin thành thực kể ra vắn tắt những trường quan trọng dạy tôi:

1/ Trường Lời Chúa

Lời Chúa là trường dạy tôi. Tôi học ở đó. Bằng nhiều cách, như suy niệm Lời Chúa, cầu nguyện Lời Chúa, đọc những bài cắt nghĩa Lời Chúa, đào bới những khoa môn liên quan đến Lời Chúa.

Lời Chúa in trên sách là tài liệu bên ngoài. Nhưng Đấng làm cho tài liệu Lời Chúa biến thành ánh sáng, sự sống và lửa bên trong lòng tôi chính là Chúa Thánh Thần.

Trường Lời Chúa không ở nơi nào nhất định. Trường đó ở bên tôi. Trong trường này, tôi cảm thấy rất tự do. Luôn có những điều mới. Như một kho tàng vô cùng phong phú. Điều tôi mong không phải là sẽ hiểu biết tất cả. Nhưng từ Kinh Thánh tôi mong sẽ nghe được một tiếng gọi dành riêng cho mình.

Từ rất sớm, tôi nhận ra tiếng gọi dành riêng cho tôi là: Hãy cùng với 10 người phong cùi kêu van Chúa Giêsu: "Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương xót chúng con" (Lc 17,12-13). Những người cùi đó đã hô lớn tiếng (Lc 17,13). Tôi cũng bắt chước, mà hô lớn tiếng như vậy. Nhập bọn với những người cùi, mà cầu xin Đấng Cứu thế, đó là việc đơn sơ, rất thích hợp, mà tôi đã học được ở trường Lời Chúa.

Lời cầu xin ấy, tôi hô lên, dù tất cả xung quanh tôi, và chính đời tôi chỉ là hoang địa hỗn độn, ồn ào.

Ngoài trường Lời Chúa, tôi cũng học được nhiều điều ở cuộc đời.

2/ Trường cuộc đời

Cuộc sống ví như một hành trình. Hành trình cuộc sống gồm một chuỗi những bước thăng trầm. Luôn có những biến cố xảy tới chen giữa những quãng bình lặng vắn vỏi.

Theo kinh nghiệm của tôi, bất cứ biến cố nào xảy đến cũng đều là những thử thách được đặt ra. Thí dụ hôm qua, biến cố xảy đến cho tôi là một thành công tốt đem lại niềm vui. Hôm nay biến cố xảy đến cho tôi là một thất bại xấu gây nên nỗi buồn. Ngày mai có thể sẽ là thời gian bình lặng.

Niềm vui, nỗi buồn và bình lặng ấy đều được coi là những thử thách. Nếu tôi lạm dụng thành công để niềm vui kéo tôi đến chỗ kiêu căng, thì thử thách thành công này sẽ đưa tôi trẽ vào con đường nguy hiểm. Ngược lại, nếu tôi biết lợi dụng thất bại, để nỗi buồn dẫn tôi đến sự khiêm tốn biết mình để cố gắng phấn đấu thêm, thì thử thách thất bại này sẽ đưa tôi vào con đường hy vọng vươn lên.

Cũng thế, bình lặng cũng có thể được dùng cho lựa chọn tốt, và cũng có thể lạm dụng cho lựa chọn xấu.

Kinh nghiệm cho thấy: Trong cuộc đời có những thành công mà là thất bại. Trái lại có những thất bại mà lại trở thành thành công.

Vì thế, nhiều trường hợp được coi là thành công hay bình lặng chắc chắn, tôi đừng nông nổi chủ quan. Nhưng hãy cầu nguyện "Xin Chúa dủ lòng thương xót chúng con." Còn mọi trường hợp thất bại đắng cay, tôi cũng đừng bi quan. Nhưng càng phải hô lên lời van "xin Chúa xót thương con". Như thế, xét cho cùng, lời xin Chúa xót thương lúc nào cũng cần.

Cùng với trường Lời Chúa và trường cuộc đời, tôi đã học được rất nhiều ở trường đời Chúa.

3/ Trường đời Chúa Giêsu   

Đời sống Chúa Giêsu đâu có êm ả như phần đông tưởng. Một đoạn thư gởi Do Thái sau đây cho thấy phần nào:

"Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Kitô đã lớn tiếng kêu van khóc lóc, mà dâng lời khẩn nguyện nài xin Đấng có quyền cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ, mới học được thế nào là vâng phục." (Dt 5,7-8).

Suy gẫm đoạn thư trên, rồi nhìn suốt cuộc đời Chúa Giêsu, từ hang đá Belem đến thánh giá trên núi Sọ, tôi thấy 33 năm của Người toàn là hy sinh và cầu nguyện, để biết vâng phục thánh ý Chúa Cha.

Vâng phục thánh ý là việc khó như thế đó. Chúa Giêsu đã phải trải qua nhiều đau khổ và đã cầu nguyện, kêu van, khóc lóc thảm thiết, mới thực thi được bài học vâng phục. Phương chi tôi và chúng ta. Đừng ảo tưởng. Nhưng phải theo gương Người, mà kêu lên lời cầu: "Xin Chúa dủ lòng thương xót."

Tôi thấy thánh Gioan đã hô trong hoang địa Israel với biết bao ơn Chúa Thánh Thần. Ngài biết đúng cách, biết đúng lúc, với tinh thần vâng phục. Nhưng sau cùng, Ngài đã bị chém đầu.

Hiệu quả bề ngoài thực bẽ bàng.

Nhưng qua cõi đời này, Thánh Gioan Baotixita đã bước vào một hoang địa khác, đó là mọi thế hệ nhân loại sau này, và mãi mãi âm thầm thúc giục các lương tâm hãy: "Xin Chúa dủ lòng xót thương chúng con."

Mỗi tôn giáo có cách cầu nguyện của mình.

Mỗi người có cách kêu van của mình.

Tôi hy vọng lời cầu chân thành nào cũng sẽ được Chúa đón nhận. Tôi càng tin điều đó, khi chính tôi nhận mình là một người phong cùi, chỉ biết hô to lời nguyện "xin Chúa luôn dủ lòng xót thương chúng con," "Xin Chúa luôn dủ lòng thương xót chúng con". Đó là lời cầu pha trộn thống hối và cậy trông. Tôi tin Chúa không bỏ tôi.

Niềm tin của tôi đôi khi cũng được an ủi. Như, mới rồi, tôi nhận được thư riêng của Đức Hồng Y SODANO, Quốc vụ khanh Toà Thánh (No 007, 16/5/2005). Trong thư, Ngài báo tin rằng: Đức Thánh Cha Benedictô XVI rộng lòng ban phép lành yêu dấu của Toà Thánh cho tôi. Phép lành ấy cũng được ban cho mọi người gần gũi của tôi.

"Tiếng kêu trong hoang địa" là những con người mọn hèn đang đi theo thánh Gioan Baotixita. Xin hết lòng cảm tạ Chúa muôn đời.

Trở về mục lục >>

 

MỪNG KÍNH THÁNH PHÊRÔ-PHAOLÔ

PHAOLÔ - VỊ TÔNG ĐỒ VĨ ĐẠI

 

Trần Duy Nhiên

"Vì tôi là người hèn mọn nhất trong các tông đồ,

Và tôi cũng không đáng gọi là tông đồ nữa,

Bởi tôi đã bắt bớ Hội Thánh của Thiên Chúa." (1 Cr 15,9)

Trước khi trở lại, Phaolô phản ứng thế nào trước Tin Mừng về Đức Kitô?

Cái tin ấy quả là một chuyện vô lý nhất, chưa từng nghe nói đến bao giờ. Làm thế nào mà một người có lý trí như Phaolô lại có thể tin được? Ông không thể chấp nhận. Nhảm nhí, vô lý. Ông không phải là một người ngu. Ông đã từng nghe nói đến nhiều tà thuyết. Ông đã từng là một môn sinh ở trường Kinh Thánh. Thầy của ông đã chẳng là những vị giáo sư hiểu biết tiếng tăm nhất đó sao? Thầy biệt phái Gamaliel chẳng hạn. Phaolô đã từng học cách phân biệt phải trái, điều hợp lý với điều vô lý, điều tin được với điều không thể tin được. Ông cũng đã biết nhiều về thần thoại Hy Lạp, nhưng đấy chỉ là thần thoại kia mà... Không một người học thức nào lại không biết các thần Zeus, Apollo...: đó chỉ là những nhân vật tưởng tượng. Mặt khác Aristote, Socrate là những vĩ nhân nhưng cũng chỉ là con người mà thôi.. 

Thế còn câu chuyện điên đầu về Giêsu Nazareth?

Các người thất học ấy muốn gì đây?

Không ai phủ nhận Giêsu Nazareth là một người có thật. Ông ta sinh ra ở Bêlem và lớn lên ở Nazareth: ai cũng biết. Đầu tiên, Giêsu lôi cuốn đám đông, chữa bệnh và làm một vài chuyện lạ... Phaolô đã từng nghe nói như thế và ông không nghi ngờ gì cả. Bạn của ông trong Hội Đồng đã chứng kiến Giêsu làm phép lạ.

Dù sao thì Giêsu cũng không xuất thân từ một trường Kinh Thánh, ông ta chỉ là một người rao giảng nay đây, mai đó, với một lập trường riêng tư. Phaolô có được nghe kể lại về những bài giảng của Giêsu. Phaolô công nhận rằng Giêsu có kiến thức, hiểu biết sâu rộng. Dĩ nhiên những điều Giêsu nói đều có liên quan đến lề luật. Vâng , Giêsu biết rõ về Môsê, về các tiên tri. Giêsu có một lối nhìn vấn đề thật độc đáo và có uy quyền. Nhưng, chỉ có thế thôi...

Tuy nhiên, khi Giêsu bắt đầu gây rối, ông ta la lối, xua đuổi mọi người trong Đền Thờ thì ông ta đã đi quá xa rồi.

Ông ta lấy quyền gì?

Ai cho phép ông ta ?

Dĩ nhiên, Caipha có lý khi đã xử tử ông ta. Phải công nhận rằng tử hình bằng thập giá thì hơi nặng tay đấy, nhưng Giêsu cứ tưởng mình là ai mới được chứ ?...

Rồi, bây giờ xảy ra cái tin động trời là Giêsu đã sống lại. Môn đệ của ông ta loan báo rằng ông ta đã chết và đã sống lại. Có một tí gì hữu lý không chứ ? Lẽ dĩ nhiên, là Biệt Phái, Phaolô tin rằng người ta sẽ sống lại nhưng vào ngày tận thế kia chứ. Bụt thần thì có nhiều, nhưng Thiên Chúa của dân Do Thái thì chỉ có một. Phaolô nhớ sách Đệ Nhị Luật:

"Israel, này nghe đây, Chúa là Thiên Chúa,

 Chúa chúng ta là một Thiên Chúa duy nhất." (Đnl 6-4).

Còn Giêsu, ông ta chỉ là một người thợ mộc Do Thái, một người hiền lành, có uy quyền khi rao giảng. Ông ta có thể là một tiên tri là quá lắm rồi. Nhưng Giêsu cũng lại là một người gây rối.

Thật ra ông không phải là một người Do Thái đàng hoàng.

Ông ta cố tình không giữ việc kiêng cử trong ngày Hưu Lễ.

Ông ta ít đến nhà thờ trong những năm cuối cùng,

Ông ta tự cho phép tha tội cho những loại người bất xứng,

Ông ta lại còn làm loạn trong Đền Thờ.

Không, Đó không phải là lối sống của một người Do Thái đứng đắn.

Với tư cách là người có học, một người biệt phái mộ đạo, Phaolô tự hứa phải ra tay tiêu diệt bọn tà đạo này. Phaolô không thể chấp nhận cứ như thế mãi được. Ông sẽ hành động để làm vinh danh Thiên Chúa của Israel, Thiên Chúa chính danh và hằng sống, Thiên Chúa duy nhất và hay ghen. Phaolô cương quyết đi đến nơi nào có tín hữu của Giêsu. Ông sẽ đưa họ ra nơi công nghị đối đáp với ông để xem họ sai lầm đến mức độ nào. Và nếu cần thì có thể giết họ luôn. Giết vài trăm người để cho đạo Israel đứng vững thì cũng là một điều đáng làm.

Có một người đáng thương bị nhóm môn đệ Giêsu lung lạc dụ dỗ đến nỗi bị kết tội và đem ra ném đá cho chết. Phaolô đã chứng kiến rất rõ và ông còn giữ áo cho họ rảnh tay ném đá. Nạn nhân ấy tên là Têphanô. Anh ta muốn giảng cho họ, các biệt phái, về lịch sử Do Thái. Anh ta còn cả gan buộc tội họ:

"Quân cứng cổ, lòng đá, tai điếc,

Các ngươi luôn đối nghịch với Thánh Thần.

Cha ông các ngươi thế nào thì các ngươi cũng vậy,

Có tiên tri nào mà cha ông các ngươi không bắt bớ ?

Họ đã giết các người tiên báo

về việc giáng thế của Đấng Công Chính

Và nay, các ngươi đã nộp và giết chết Người..." (Cv 7,51-53)

Như thế là quá lắm rồi. Tất cả bọn họ nghiến răng hăm dọa.

Nhưng Têphanô còn nói lời lộng ngôn này nữa:

"Tôi thấy Con Loài Người ngự đến bên hữu Thiên Chúa" (Cv 7,56)

Nói như thế thì tha làm sao được.

Họ bèn lôi Têphanô ra ngoài thành mà ném đá.

Phaolô đi theo, Phaolô đứng nhìn và đồng tình...

 

Giờ đây, ông đang trên đường đi Đamas,

Ông vừa nhận lệnh từ Giêrusalem và hăng say vượt 250 cây số đến Đamas,

Ông mong muốn lôi ngay bọn tà đạo về Giêrusalem...

 

Giêsu là Đấng Thiên Sai,

Giêsu sống lại từ cõi chết,

Giêsu ngự bên hữu Thiên Chúa .v.v.

Bọn tà đạo lại còn trích dẫn Kinh Thánh để chứng minh nữa chứ:

"Người sẽ không thí bỏ hồn tôi nơi âm phủ,

Và không để Đấng Thánh của Người phải thấy mục nát" (Cv 2,27, trích dẫn Tv 16,10)

Đó, bọn tà đạo đã dám áp dụng câu ấy cho Giêsu,

Đúng là bọn gian tà thì cái gì cũng gian được...

 

Thế rồi, bỗng dưng một luồng ánh sáng bao phủ lấy Phaolô làm ông ngã ngựa.

Ông không còn thấy gì nữa.

Rồi ông nghe có tiếng gọi ông:

"Saolê, Saolê, sao ngươi lại bắt bớ Ta ?".

Phaolô hỏi lại:

"Thưa Ngài, Ngài là ai?"

Tiếng nói lại âm vang:

"Ta là Giêsu mà ngươi đang bách hại. Song, ngươi hãy chỗi dậy mà vào thành, ở đó người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì..." (Cv 9,5-8).

Phaolô đứng dậy, ông chớp mắt mà vẫn không thấy gì.

Ông được đưa về Đamas...

Ba ngày tròn, ông như kẻ bị mù,

Ba ngày tròn ông sống lại giây phút lạ lùng vừa qua,

Ba ngày tròn, ông trở lại hồi tưởng điều ông đã gặp.

Ánh sáng ấy mạnh mẽ đến nỗi ông trở nên mù lòa...

Bây giờ thì ông đã thấy, đã gặp Đức Giêsu.

Đây là một sự kiện:

Người đã sống lại thật rồi,

Người thật là Đấng Thiên Sai,

Người là Đấng Phục Sinh,

Người đã lên Trời ngự bên hữu Thiên Chúa...

Điều này là một mầu nhiệm đến phi lý.

Nhưng, sự thật đúng là như vậy.

Têphanô đã nói thật mà Phaolô lại điếc,

Têphanô quả là không điên khùng chút nào.

Phaolô giờ đây mới ân hận làm sao,

Chính Phaolô cũng đã thấy Con Loài Người kia thật tỏ tường,

Đây là sự thật không thể nào chối cãi được...

 

Ba ngày sau, có một người Do Thái thuộc cộng đoàn mới đã đến gõ cửa và bảo:

"Saolê, người anh em, anh hãy nhìn thấy lại.'

Thế là phép lạ đã xảy ra, Phaolô lại được thấy. Ông nhìn quanh ngỡ ngàng. Người Do Thái ấy tên là Anania, ông ta nói tiếp:

"Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã tiền định cho anh biết Thánh Ý Người và được thấy Đấng Công Chính và nghe tiếng xuất từ miệng Người, vì anh sẽ làm chứng tá cho Người trước mặt mọi người về các điều anh đã thấy và đã nghe" (Cv 13,15).

Và Phaolô đã chịu phép rửa bởi tay Anania.

Phaolô đã ghi khắc lời Anania để sau này, trong hầu hết các lá thư của mình, ông đều nhắc lại:

"Phaolô, tông đồ của Đức Giêsu Kitô, bởi Ý Định của Thiên Chúa."

Phaolô khởi đầu lá thư nào cũng bằng câu nói ấy.

Ông thực hành lời Anania.

Ông đi làm chứng ngay tại Đamas.

Đamas là thành phố nơi ông định đến để tiêu diệt Đạo Chúa,

bây giờ, lại chính là nơi ông khởi công rao giảng đầu tiên.

Đây cũng là một bài học cho mỗi một chúng ta. Nếu chúng ta muốn trở nên một môn đệ nhiệt thành, chúng ta phải theo con đường Phaolô. Chúng ta phải trực tiếp cảm nhận Thiên Chúa, gặp gỡ Thiên Chúa. Nhưng chúng ta cũng phải thi hành mệnh lệnh rõ ràng của Người qua môi miệng các vị đại diện của Người.

Đó là mầu nhiệm Hội Thánh.

Thiên Chúa đã hiện ra,đã gặp gỡ Phaolô, nhưng mệnh lệnh của Người vẫn được trao qua một người đại diện là Anania...

Phaolô rao giảng và làm chứng tại Đamas nhưng ông chỉ gây được sự ngạc nhiên chưng hửng nơi những người đến nghe. Ông hết sức tích cực nhưng không giúp đỡ thiết thực được cho ai.

Không ai nghe lời ông,

không ai chấp nhận được niềm tin của ông.

Công trình của Thiên Chúa qua ông vẫn còn trở ngại.

Nếu Yuđa không một sớm một chiều mà đi đến việc phản bội Chúa, thì Phaolô cũng không thể một sớm một chiều trở thành vị tông đồ hữu hiệu. Nguồn ánh sáng trong ông và sự bất lực của chính mình làm ông suy nghĩ. Ông cần thời gian để tĩnh tâm, học hỏi và cầu nguyện. Thế là ông rời bỏ Đamas để sang vùng Ả Rập mà sống trong thanh vắng. Thầy của ông đã chuẩn bị 30 năm thì ông cũng phải chuẩn bị 3 năm ( Gl 1,17 )

Ba năm trời Phaolô nghiền ngẫm Thánh Kinh, đối chiếu trực tiếp với Thần Khí Chúa để hiểu rõ Tin Mừng. Phaolô gọi Phúc Âm của Chúa là Phúc Âm của mình.

Và ba năm trời đã cho ông có được tâm tình của Chúa Kitô,

đã đồng hóa ông với Đức Kitô đến nỗi ông phải tuyên bố:

"Không phải tôi sống nhưng là chính Chúa Kitô sống trong tôi..."         (Cl 2,20)

Và suốt ba năm, trong bóng tối và thinh lặng, Phaolô đã làm một điều duy nhất là:

"Quên phía sau mà lao mình tới phía trước, tôi nhắm đích mà chạy đến giải thưởng của ơn kêu gọi từ trên cao Thiên Chúa đã ban bố trong Đức Giêsu Kitô." (Cl 3,13-14)

Chúa Giêsu chuẩn bị 30 năm.

Phaolô chuẩn bị 3 năm,

Còn chúng ta? Trước khi hành động, chúng ta rút vào bóng tối và thinh lặng bao lâu?

3 tháng? 3 tuần? 3 ngày? hay 3 giờ?

Sau 3 năm chuẩn bị, Phaolô lao mình tới phía trước. Ông bỏ Ả Rập, về lại Đamas.

Giờ đây, ông đã chín chắn, đã có Chúa, đã hữu hiệu,

Chắc chắn ở Đamas, người ta không ngạc nhiên, chưng hửng.

Người ta bàn kế bắt giết ông!

Ông được chuyển qua tường thành mà thoát chết.

Ông về Giêrusalem định liên lạc với các môn đệ Chúa,

nhưng các ông này vẫn còn e ngại Phaolô,

họ không tin Phaolô đã thực sự là tông đồ của Chúa (Cv 9,20 )

 

Đấy, suy tư, cầu nguyện 3 năm trời, để rồi bước ra

gặp đối phương là suýt bị giết,

gặp anh em thì lại bị nghi ngờ...

Đó là cái giá phải trả.

Và chính cái giá phải trả ấy mà Phaolô biết mình đi đúng đường:

Con đường của Đức Kitô

chưa bao giờ là một con đường thoải mái thênh thang...

 

Cuối cùng rồi Phaolô cũng được chấp nhận,

Phaolô được nghe thuật lại tường tận

về cuộc sống,

về cái chết, và

về sự sống lại của Đức Kitô.

 

Đủ hành trang, lý trí,

Đủ hành trang kiến thức,

Đủ hành trang tâm tình,

Phaolô lên đường...

Ở đâu có thể đến là Phaolô đến,

Ở đâu có người cần biết Tin Mừng là có Phaolô:

Antiôkia, Cypriô, Lystra, Đerbê, Troya, Philip,

Athêna, Thêsalônika, Côrintô, Êphêsô,

trở lại Giêrusalem, lên đường đi Roma...

Người Do Thái, Hy Lạp, La Mã,

Người ngoại giáo, người tự do, kẻ nô lệ,

Ai ai cũng được ông đem Tin Mừng đến...

Sau không đầy một thế hệ, một biến cố nhỏ ở miền Yuđê, mà một vài sử gia ghi lại vài hàng, đã trở nên đề tài tranh luận khắp Đế quốc La Mã.

Đấy là một cuộc cách mạng,

một cuộc cách mạng không đổ máu, mà nếu máu có đổ

thì chỉ là máu của những người làm cách mạng.

 

Đây không phải là cách mạng bằng Gươm Giáo nhưng là bằng truyền giáo,

không phải bằng Sức Mạnh  nhưng bằng Say Mê,

không phải bằng Vũ Lực nhưng bằng Vâng Lời Thánh Ý Chúa.

Cũng không phải một cuộc cách mạng trí thức,

cũng không phải để đưa ra những tư tưởng mới,

một ý thức hệ mới,

một triết thuyết mới hay

một nếp sống mới.

Xét cho cùng, cũng không phải là một cuộc cách mạng nữa...

Chỉ vỏn vẹn là Tin Mừng...

 

Ôi, mà một Tin đáng Mừng làm sao:

Thiên Chúa đã đến qua Đức Giêsu,

Người đã đến trên hành tinh này,

Người là Đấng Thiên Sai đã được hứa hẹn từ bao thế kỷ ,

Người là Sự Sống và là Sự Sống Lại...

Đây là một biến cố hàng đầu trên mọi biến cố.

Người đón nhận cái chết vì nết ăn thói ở của chúng ta,

Người đã từ trong cõi chết mà sống lại,

Người đã thắng được cái chết:

"Vì sự chết đã đến do một người thì sự sống lại cũng do một người mà đến" (1 Cor 15,21)

 

Vậy là Phaolô đã hoàn toàn thay đổi.

Không ai gặp ông mà có thể quên được ông và đức tin của ông,

Chính đức tin này đã làm ông thay đổi.

Chân lý sống động của Đức Kitô là chân lý của ông.

Đức Kitô chính là cốt lỏi của Tin Mừng ông loan báo:

"Chúng tôi rao giảng một Đức Kitô bị đóng đinh" ( 1 Cor 1,23 )

Đối với Phaolô,

Đức-Kitô-chịu-đóng-đinh cũng chính là Đức-Kitô-Phục-Sinh

Phaolô không bao giờ tách rời Thập Giá khỏi Phục Sinh...

 

Đối với Phaolô,

Kitô giáo là điểm hội tụ của mọi nghịch lý,

Tất cả chỉ là một:

Đau Khổ Và Vinh Quang,

Sự Chết Và Sự Sống,

Yếu Hèn Và Sức Mạnh,

Bé Mọn Và Vĩ Đại,

Đức Kitô Chịu Đóng Đinh Và Đức Kitô Phục Sinh...

"Nếu Đức Kitô đã không sống lại thì lời rao giảng của chúng tôi quả thật là hư không ...Và việc anh em tin cũng là hư không...

Nếu Đức Kitô không sống lại thì việc anh em tin cũng hão huyền...

Nếu ta đặt mối hy vọng vào Đức Kitô vỏn vẹn lúc sinh thời này thôi thì ta quả là kẻ khốn nạn nhất trong toàn thiên hạ..." ( 1 Cor 15,14.17.19 )

 

Làm sao có thể nói hết về Phaolô,

Hơn một nửa cuốn sách Tông Đồ Công Vụ đã nói về ông,

Mười bốn lá thư do ông viết chiếm tám mươi lăm phần trăm số Thánh Thư trong Tân Ước,

Chừng đó quá đủ để nói lên tầm mức vĩ đại của Phaolô:

Phaolô là người mở mang Nước Chúa nhiều nhất,

Phaolô là người có Đức Tin nóng bỏng,

Đức Ái ngọt lịm,

Đức Cậy sáng ngời.

Phaolô là người đặt nền tảng giáo lý Giáo Hội,

Phaolô là người không để kẻ khác ngủ yên.

Phaolô đi đến đâu là ở đó có phản ứng mạnh,

Phaolo bị bắt bớ, hành hạ, cầm tù, săn đuổi, ném đá,

Phaolô bị đánh dập, lăng nhục, chửi bới, xích xiềng...

Dường như ngay cả thiên nhiên cũng muốn chống lại ông:

Ba lần Phaolô bị đắm tàu...

 

Câu chuyện về Phaolô là một chuyện ly kỳ.

Không có một thành phố nào Phaolô đặt chân đến mà vẫn còn như cũ. Dĩ nhiên, không phải mọi người ở đó đều trở thành Kitô hữu, chỉ có một nhóm nhỏ, thật nhỏ thôi, nhưng vấn đề được đặt ra rất rõ ràng:

Hoặc là Tin Đức Kitô hoặc là chối bỏ Người.

Đức Kitô hoặc là Đường hoặc là một trở ngại...

Không có ai nghe Phaolô xong mà lại có thể dửng dưng,

hoặc nhiệt thành đứng về phía ông

hoặc la ó chống lại ông.

Không có Nếu, không có Và, không có Nhưng, chỉ có Hoặc mà thôi.

Quả thật, Phaolô là người đã làm đảo lộn thế giới.

Tin Mừng ông loan báo gây ra tranh chấp trong đời sống mỗi con người.

Nhưng, có thật là Phaolô làm đảo lộn thế giới chăng?

Thế giới ở thời đại của Phaolô (Thế kỷ thứ 1) đã chẳng là một thế giới đảo lộn rồi đó sao? Chính ông là người dựng lại cái thế giới bị đảo lộn ấy. Trước đó, thế giới nội tâm đảo lộn của ông đã được Chúa dựng lại và ông đã tiếp tay dựng lại toàn bộ thế giới chung quanh mình.

Những gì xảy ra ở thế kỷ thứ nhất cũng sẽ diễn ra như vậy ở thế kỷ 21 này, nếu chúng ta chấp nhận theo chân Phaolô để cho Chúa chiếm hữu.

Những ngày cuối đời, dù cho phải đi tù hết nơi này đến nơi nọ để rồi tử đạo tại Roma, Phaolô vẫn lạc quan, vui tươi, trong sáng, tin tưởng...

Vì sao lại được như vậy ?

Phaolô đã thấy đêm tối, nhưng cũng đã thấy ánh sáng.

Phaolô cảm được sự yếu hèn của con người nhưng cũng có kinh nghiệm về hồng ân của Chúa.

Phaolô sống với cái chết nhưng ông để cho sự sống đích thực tỏa chiếu trên mình.

"Mọi thời và khắp nơi, chúng tôi mang trong mình cuộc tử nạn của Đức Kitô, ngõ hầu Sự Sống của Đức Kitô được tỏ hiện nơi chúng tôi.. .Tôi cũng đã cùng chịu đóng đinh Thập giá với Đức Kitô. Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, nhưng chính Đức Kitô sống trong tôi. Đời sống của tôi lúc này trong thân xác, tôi sống nó trong lòng tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương tôi và đã phó nộp mình vì tôi... Đối với tôi, sống là Đức Kitô và chết là một thắng lợi... vì tôi không muốn biết gì nữa ngoài Đức Kitô bị đóng đinh trên Thập giá..." ( 2 Cr 4,10; Gl 2,20; Pl 1,21; 1Cr 2,2 )

Và quả thật, tông đồ Phaolô đã đem đời sống và cái chết của mình làm chứng điều ông nói. Theo truyền thống lưu lại thì ông bị chém đầu ở ngoại thành Rôma, nơi có ngôi thánh đường Phaolô hiện tại.

Tiến trình của cuộc sống muôn màu của Phaolô mãi mãi vẫn thốt lên lời tuyên tín như một bài ca khải hoàn: "Về phần tôi, tôi đã được dùng làm rượu tế lễ, giờ ra đi của tôi đã gần đến. Tôi đã chiến đấu trong một cuộc sống chính nghĩa, tôi đã chạy đến cuối đường, tôi đã giữ vững lòng tin...

Tôi xác quyết rằng những đau khổ đời này không đáng gì so với vinh quang sẽ được thể hiện trên ta trong tương lai. Tạo vật hằng khẩn thiết chờ trông con cái Chúa được tuyên dương...

Thiên Chúa đã không tha cho Con của Người nhưng đã phó nộp Ngài vì chúng ta hết thảy, làm sao Người lại không gia ân vạn sự cho ta làm một với Ngài ?..

 Ai có thể tách chúng ta ra khỏi Tình Yêu của Đức Kitô ? Phải chăng là gian truân, bĩ cực, bắt bớ, đói khát, trần truồng, hiểm nguy, gươm giáo ư?..

Vì tôi thâm tín rằng dù sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay tương lai, hay quyền năng, dù chiều cao hay chiều sâu, hay bất cứ tạo vật nào khác,

Không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi Tình Yêu Thiên Chúa thể hiện cho chúng ta trong Đức GIÊSU KITÔ, Chúa chúng ta." ( 2 Tm 4,6-8; Rm 8,18-20.32.35.38.39)

Trở về mục lục >>

TƯỞNG NHỚ MỘT NGƯỜI CHA

 

Lm. Vũ Xuân Hạnh

 

Kính dâng hương hồn Cố Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình nhân lễ giỗ 10 năm.

Cách đây mười năm, ngày Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình về Nhà Cha (1.7.1995), chúng tôi còn đang là đại chủng sinh của Chủng Viện thánh Giuse thành phố Hồ Chí Minh. Đại Chủng viện rất vinh dự được Đức Tổng chọn làm nơi an dưỡng trong những năm cuối đời. Đặc biệt hơn, sau khi tạ thế, Đức Tổng còn gởi lại thân xác của mình trong nhà nguyện Đại Chủng Viện. Những kỷ niệm mà Đức Tổng để lại trong thời gian an dưỡng tại Đại Chủng viện, dù đã mười năm qua, chúng tôi vẫn còn nhớ như in. Chúng tôi muốn ghi lại những kỷ niệm ấy như một lá thơ gởi đến Người Cha Chung của giáo phận sau mười năm xa cách. Đó cũng là tâm tình biết ơn dâng kính Đức Tổng mà mỗi chủng sinh ngày ấy, và linh mục hôm nay, muốn thể hiện.

Cuộc chia tay nào cũng để lại sự bùi ngùi tiếc nhớ. Cha ra đi để lại nơi mỗi chúng con niềm thương nhớ lớn lao.

Mỗi lần có dịp về thăm mái nhà Chủng viện, chúng con như còn thấy đâu đây những dấu vết của người cha khả kính. Bởi vậy mà niềm thương nhớ của chúng còn sâu lắng và da diết hơn.

Chúng con nhớ, hồi sức khỏe cha còn khá, dù bận rộn với nhiều công việc của giáo phận, cha đã không ít lần đến thăm chúng con. Giữa cuộc sống đầy bon chen vụ lợi, cha dạy chúng con: “Các anh phải biết yêu thương chân thành.” Trong lòng cuộc sống đó, mỗi người đều có những ngày vui, những ngày hạnh phúc, hay những ngày đau khổ, những ngày bất an, cha dạy chúng con: “Các anh phải cầu nguyện, các anh phải thấy cuộc đời mình thuộc về Chúa.”

Sau này, khi sức khỏe trở nên yếu nhiều, nhất là sau những cơn đau ngặt nghèo, cha thường ra Vũng Tàu nghỉ ngơi. Sau những lần trở về thành phố, vào những buổi chiều, khi sức khỏe khá hơn, cha đều vào thăm chúng con. Có khi là những giờ giải trí, cha ngồi nhìn chúng con chơi thể thao. Vốn là người yêu thích thể thao, Cha như vui lây với chúng con trong từng đường banh, từng cú đập bóng chuyền vừa mạnh vừa dứt khoát của chúng con. Có khi cha vào thăm chúng con qua những lần huấn đức, hay những buổi chuyện trò...

Chúng con còn nhớ rất rõ một trong những lần huấn đức ấy. Đó là chiều ngày 4.12.1993. Những lời căn dặn chân thành của một người cha, lời dạy nghiêm túc của một người thầy ngày ấy, rất cần cho đời sống linh mục của chúng con hôm nay, khiến chúng con nhớ mãi. Ngày hôm ấy, cha nêu lên cho chúng con hình ảnh thánh Gioan Tiền hô, người dọn đường của Chúa Cứu Thế. Để tiến đến chức linh mục, người chủng sinh phải “dọn đường” bằng tu rèn đạo đức, tri thức. Những chủng sinh của cha ngày ấy, bây giờ đã là linh mục, nhưng tất cả đều hiểu rằng, không chỉ chủng sinh mới “dọn đường.” Người linh mục càng cần phải “dọn đường” nhiều hơn để luôn đánh thức mình, để đừng bao giờ ngủ vùi trong sự tự mãn, trong an phận mà không cần cố gắng, không cần làm giàu kinh nghiệm đạo đức, kinh nghiệm mục tử của mình. 

Cũng buổi chiều hôm ấy, cha còn dùng chính tấm gương mục tử của Chúa Giêsu để dạy chúng con: Người mục tử phải biết yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ đàn chiên. Con chiên nào lạc bầy, người mục tử nhân lành không những đi tìm chúng, nhưng khi tìm được rồi, còn vác chiên lên vai trở về trong niềm vui lớn lao (Lc 15, 5). Cha còn căn dặn chúng con dứt khoát không vướng víu với tiền bạc: “Một linh mục ham tiền không phải là mục tử tốt lành.” Lời của cha còn đó, âm vang mãi trong lòng chúng con.

Khoảng thời gian gần hai năm cuối đời, vì biết sức khỏe mình đã yếu, cha vào ở hẳn trong Đại Chủng Viện để được gần gũi với chúng con. Chúng con không thể quên đêm 24.12.1994, trước khi cử hành thánh lễ mừng Chúa Giáng Sinh, cha ngồi trên xe lăn và chúng con đưa cha đi xem hang đá, xem cách trang hoàng chủng viện của chúng con. Và trong giờ canh thức Giáng sinh, chính cha đã ban huấn từ khai mạc.

Chúng con nhớ mãi ngày hội thảo chào mừng lễ thánh Cả Giuse, bổn mạng Chủng viện, 20.3.1995, do chính tay cha cắt băng khai mạc.

Sáu ngày sau đó, 26.3.1995, chúng con lại kéo nhau đến chúc mừng tuổi linh mục của cha tròn 58 năm. Lần này cha chia sẻ với chúng con về tình yêu Thiên Chúa mà cha cảm nhận. Chính Chúa đã gìn giữ cha, đã dìu dắt cha suốt 58 năm trong sứ vụ tông đồ. Và cha kêu gọi chúng con cùng cảm tạ Chúa với cha.

Còn biết bao nhiêu kỷ niệm mà cha đã để lại nơi tâm hồn của mỗi chúng con. Chúng con nhớ từng nụ cười, nhớ từng lời nói, nhớ từng bước đi của cha. Chúng con, những chủng sinh ngày ấy, không quên những tiếng ho nặng nhọc của cha mỗi buổi sáng trên dãy hành lang vào nhà nguyện. Dù sức khỏe đã quá mỏi mòn, vậy mà ngày nào cha cũng dâng thánh lễ với chúng con. Sự hiện diện của cha trong nhà nguyện nhắc nhở chúng con về bổn phận đạo đức, về đời sống cầu nguyện mà mỗi chủng sinh và cả linh mục nữa, phải thủ đắc làm hành trang cho đời tu của mình.

Chúng con vẫn biết cuộc ly biệt nào cũng để lại nơi lòng người ở lại những trống vắng và niềm tiếc thương. Sự ra đi của cha ngày ấy, đã làm rất nhiều trái tim rung cảm. Chúng con còn nhớ, trong lễ tang của cha, rất nhiều người đã xúc động và rơi lệ. Nhưng dẫu tiếc thương, người đời chỉ còn biết buông lời cảm thán: thế là hết! Nhưng chúng con cảm nhận rõ ràng chưa hết. Dù đã mười năm, sự hiện diện sinh động của cha như còn phảng phất đâu đây, trong tâm hồn của mỗi chúng con, những chủng sinh ngày ấy. Chúng con xin mượn cách nói của cha mà nói rằng, “cha yêu nhất Chủng viện.” Hình bóng của cha không phai mờ trong chúng con, bởi cha đã yêu chúng con trước, cha yêu nhất kia mà.

Thực tế có đau lòng, nhưng trong niềm tin vững chắc vào sự sống đời sau, chúng con cảm nhận một niềm an ủi lớn lao: giờ đây cha đang yểm trợ Giáo Hội, đang bảo vệ đoàn chiên và đang cầu bàu cho chúng con. Chúa đã sai cha ra đi, và Chúa đã gọi cha trở về. Cha đã trung thành với ơn gọi, “đã chạy hết chặng đường và đã giữ vững niềm tin.” (2 Tm 4, 7).

Vâng, thưa cha, hạt lúa mì gieo vào lòng đất phải mục thối đi mới sinh nhiều hoa trái. Cha đã khuất. nhưng hoa trái của lòng tin do cha gieo vãi vẫn còn đó và lớn lên. Một lần nữa, nhân kỷ niệm mười năm cha xa cách chúng con, chúng con cúi mình kính chào cha. Mãi mãi chúng con thương nhớ cha, thương nhớ một người cha khả ái, vô cùng khả kính của chúng con. Xin tạm biệt cha. Hẹn gặp cha trên quê trời. Cha nhớ cầu nguyện cho chúng con với.

Trở về mục lục >>

 

 

 

 SỐNG TÂM LINH

CỐT TỦY CỦA KITÔ GIÁO Theo ánh mẮT tâm linh

 

Khổng Nhuận

Trước đây, chúng tôi chẳng bao giờ đặt vấn đề cốt tủy của đạo mình. Chúng tôi cứ việc sống như cái máy. Chúa nhật, đi lễ. Reng reng, rước lễ. Trước khi đi ngủ, làm dấu và đọc một vài kinh cho có lệ. Gặp người ăn xin, bố thí một vài đồng. Chúng tôi như một đàn cừu đi lang thang mà chẳng biết mình sẽ đi tới đâu. Nhưng ai mà động tới đạo chúng tôi thì coi chừng nhé, đổ máu là chuyện thường. Vụ xung đột Công giáo - Phật giáo thời ông Diệm là thí dụ điển hình. Chúng tôi sẵn sàng hy sinh chiến đấu cho đạo của mình, nhưng chúng tôi chẳng hề sống đạo, chỉ đơn thuần là giữ đạo thôi. Chính vì thế chuyện Cốt tủy của đạo chúng tôi chẳng quan tâm.

Mãi cho tới khi chúng tôi thấy rằng mình cần phải tìm hiểu sâu hơn thì hầu như ai cũng tự nhiên muốn đặt cho mình một câu hỏi rất nghiêm chỉnh: Cốt tủy của đạo mình là gì?

Có nhiều câu trả lòi cho câu hỏi quan trọng này - tùy theo những gì người ta khám phá và áp dụng vào cuộc sống đạo của mình.

Theo ánh mắt Tâm linh, chúng tôi thiết tưởng rằng: Muốn rút ra được cốt tuỷ Kitô giáo, chúng ta cùng nhau nhìn lại cấu trúc 10 bài nền tảng sống đời Kitô hữu.

Cấu trúc 10 bài nền tảng sống đời Kitô hữu.

Có 3 phần chính

Phần thứ Nhất: Nền tảng của mọi nền tảng sống đời Kitô hữu. Gồm 4 bài.

Tình yêu Thiên Chúa: Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. (Ga 3:16) Ngoài ra: Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta. (Rm 5:5). Thêm vào đó: Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa, (2Pr 1:4). Ta thấy đó, Thiên Chúa đã hiến mình cho chúng ta trọn vẹn: Ban con Một, ban Thánh Thần, thong ban Bản tánh Thiên Chúa. Ngài không giữ lại cho mình một điều gì với mong ước chúng ta sống kết hợp nên một với Ngài.

Thánh Thần chính là sức sống thần linh, sức mạnh kỳ diệu để nhờ đó chúng ta vượt qua mọi sự cuốn hút của thế gian mà dễ dàng sống kết hợp nên một với Chúa ngay trong lòng mình.

Đức Giêsu Kitô là con Chúa Cha, là anh cả của chúng ta và là mẫu gương tuyệt vời trong việc sống kết hợp với Chúa Cha trong Thánh Thần.

Người Kitô hữu đồng hình đồng dạng với Anh Cả Giêsu: cũng là con cái của Chúa Cha, là đàn em của Đức Giêsu và noi gương bắt chước Anh Cả sống hiệp nhất với Chúa Cha trong Thánh Thần.

Bốn bài đầu này tạo thành một nền tảng vững chắc như một khối đá khổng lồ, vững chắc để xây dựng ngôi nhà tâm linh.

Phần thứ Hai gồm 4 bài

Người cũ - Người mới: Vẫn biết chúng ta là con cái Thiên Chúa, đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu Kitô. Nhưng thực oái oăm, chúng ta vẫn thấy con người cũ của chúng ta yếu đuối, tội lỗi. Chính vì thế chúng ta mới có dịp ngồi lại với nhau để nhận rõ khuôn mặt của cả người cũ lẫn người mới. Từ đó chúng ta tìm cách để cởi bỏ con người cũ mà mặc lấy con người mới là con người, được sinh ra theo hình ảnh của Thiên Chúa.

Cầu nguyện là một phương thế hữu hiệu trong việc thiết lập mối tương quan thân mật với Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta nên chọn cách nào hợp nhất với mình để áp dụng trong cuộc sống thường ngày và sẵng sàng thay đổi phương pháp khác để có thể hiệp nhất với Chúa gắn bó hơn.

Đọc Kinh Thánh cũng là một phương thế rất tuyệt vời trong việc đón nhận vào tâm trí mình những lời Thần Khí và là sự sống như một mảnh đất màu mỡ cho Lời Chúa sinh nhiều hoa trái. Từ đó, tâm trí chúng ta đầy ắp tư tưởng của Chúa. Chính tư tưởng này là đèn soi cho chúng ta bước, là ánh sáng chỉ đường cho chúng ta đi trên đường sống đời Kitô hữu đích thực của mình.

Dấn thân Loan Báo Tin Mừng: Một khi tâm hồn mình bình an và hoan lạc trong Thánh Thần. Không những tâm hồn mình mà cả cuộc sống của mình biến thành Tin Mừng Sống Động. Chính niềm vui  trong Thần Khí Thiên Chúa sẽ thúc đẩy chúng ta náo nức muốn Loan Báo Tin Mừng cho những người khác, tuỳ theo hoàn cảnh trong cuộc sống của mình. Đây cũng chính là việc thực sứ mạng Ngôn sứ mà Thiên Chúa đã trao ngay khi chúng ta còn trong lòng mẹ.

Phần thứ Ba

Đời sau: Không phải mở ra cho chúng ta một tương lai đen tối âm u buồn thảm hay hy vọng mong manh, nhưng chính là dịp để chúng ta xác tín hơn về giai đoạn sống trong hiện tại. Ngay tại đây và lúc này: điều tâm đắc nhất, mối  bận tâm nhất của chúng ta lúc này là sống trong Thánh Thần để cuộc đời kết hợp nên một với Chúa ngày càng hoàn hảo hơn, viên mãn hơn, trọn vẹn hơn. Và chính những giây phút ngọt ngào đó là lúc chúng ta đang hưởng Thiên Đàng ngay tại thế gian đầy dẫy vất vả, khó nguy với chông gai lởm chởm trên đường.  

Cốt tuỷ Kitô giáo: Tất cả các bài ở trên đều xoay quanh cái tâm như những hành tinh xoay quanh mặt trời. Vầng Thái dương rực sáng ấy chính là chính là Cốt tuỷ của Kitô giáo.

1.     Cốt tủy của Kitô giáo là gì?

Qua những bài được trình bày Theo ánh mắt Tâm linh, chúng ta đã nhận thấy tư tưởng chủ yếu đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Tư tưởng này thấm đẫm từng trang như muối ướp cho đời thêm tươi, như ánh sáng soi cuộc sống tâm linh thêm rạng ngời; như mật ong hoà vào đời sống đạo thêm ngọt ngào hạnh phúc. Tư tưởng này chính là;

Sống trong Thần Khí của Cha để kết hợp nên một với Cha.

Tuy ngắn gọn như vậy nhưng thực ra câu này chia thành hai phần rõ rệt:

Mục đích: Kết hợp nên một với Cha.

Phương thế: Sống trong Thần Khí của Cha.

Đây chính là đỉnh cao, là cốt tủy Kitô gíáo hướng dẫn cuộc sống đạo đích thực của người Kitô hữu. Muốn nắm được cốt tủy của đạo, chúng ta phải tìm hiểu sứ mạng của Đức Giêsu và Ngài đã thực hiện sứ mạng đó như thế nào bằng chính cuộc đời của Ngài.

2.      Sứ mạng của Đức Giêsu

Đức Giêsu xuống thế gian này với mục đích gì? Hầu hết chúng ta trả lời: Dễ ợt, Ngài xuống thế chịu nạn chịu chết trên cây Thánh giá để chuộc tội cho nhân loại, để cứu độ loài người đang sống trong bóng tối sự chết, để đưa mọi người về Thiên đàng là nơi vui vẻ chẳng cùng. Amen. Trước kia, chúng tôi cũng hằng tin như vậy, nên chúng tôi ra sức làm việc lành phúc đức với hy vọng mong manh rằng mình sẽ được cứu độ sau khi giã từ cuộc sống trần gian.

Sau này, chúng tôi lại khám phá ra rằng: Ngài xuống trần với một sứ mạnh rất rõ ràng: đó là để mạc khải về Chúa Cha: Thầy sẽ nói rõ cho anh em về Chúa Cha, không còn úp mở. (Ga 16:25).Vậy khuôn mặt đích thực nhất của Cha mà Đức Giêsu muốn giới thiệu cho nhân loại là gì? Đức Giêsu xác tín rằng: Thiên Chúa là tình yêu: Thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con. (Ga 17: 23). Để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa.(Ga 17: 26).

Thật tuyệt vời, Chúa Cha yêu thương Đức Giêsu như thế nào thì Ngài cũng yêu thương chúng ta như vậy. Chứ không phải Chúa Cha yêu thương Đức Giêsu là con một yêu dấu của Ngài, rồi tới Đức Maria, mẹ Đức Giêsu , kế đó tới các thánh tổ phụ, tiên tri, tông đồ, tử đạo, đồng trinh….cuối cùng rồi  tới các hàng giáo phẩm, linh mục tu sĩ là những người Chúa chọn cách riêng, chỉ còn một vài giọt tình yêu mong manh!!! Chúa Cha mới chia cho hàng tỷ giáo dân lúc nhúc nơi phàm trần tối tăm này. Thực vậy, Cha yêu thương mỗi người chúng ta bằng cả một khối tình vĩ đại của mình. Hơn thế nữa, Ngài còn muốn nên một với chúng ta qua lời nguyện tha thiết và rất đỗi chân thành của Đức Giêsu: Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một, như chúng ta là một. (Ga 17: 22-23). Chắc hẳn là Đức Giêsu đã nói nhiều về tình yêu của Cha, nhưng các môn đệ còn quá u mê, nên không hiểu được điều Thày mình muốn nói. Bằng chứng là ông Philipphê đã nói lên niềm mong ước: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện." (Ga 14:8). Ắt hẳn là ông tưởng Chúa Cha sẽ hiện ra uy linh với ánh sáng chói lòa và sấm chớp rền vang với cột lửa bừng cháy thời Mo-sê. Mãi về sau, nhờ sống trong Thần Khí của Cha, các môn đệ mới khám phá ra khuôn mặt đích thực của Cha ngời sáng tình yêu : Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa - mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa.(1Ga 3:1).

Chúng ta thấy đó, khuôn mặt đích thực của Cha là tình yêu vô biên. Và để chứng tỏ tình yêu bao la, khôn cùng đó: Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta. (Rm 5:5). Thánh Thần chính là sức sống thần linh và sức mạnh toàn năng của Ngài. Thêm vào đó: Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa. (2Pr 1:4).  Đây là một ý tưởng có vẻ rất táo bạo mà thánh Phê-rô đã vừa phấn khởi vừa mạnh dạn quả quyết. Tôi thử chia sẻ tư tưởng này với một vài người bạn. Họ ngạc nhiên quá đến nỗi không thể chấp nhận được.

Họ cuồng nhiệt phản đối: Mình là phàm nhân, làm sao có thể thông phần bản tánh Thiên Chúa được? Như vậy là mình bằng Thiên Chúa hay sao? Kiêu ngạo!! phạm thượng!! Nghe chói lỗ tai quá!!

 Tôi gợi cho họ một chút suy tư: Đây là Lời ngôn sứ qua môi miệng của Phê-rô chứ đâu phải của cá nhân tôi tự mình mà nói ra đâu. Hơn nữa, bạn không biết sao? Chính Đức Giêsu đã khích lệ chúng ta: Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện. (Lc 5:48).

Nếu chấp nhận mình hoàn toàn là phàm nhân yếu đuối thì không cách nào có thể hoàn thiện như Cha trên trời. Nhưng thử chấp nhận mình được Thiên Chúa cho thông phần bản tánh của Ngài, rất có thể chúng ta có khả năng trở nên hoàn thiện được chứ. Vì việc trở nên hoàn thiện này, không phải do sức cố gắng phàm nhân, nhưng là dựa vào sức mạnh của Thần Khí Thiên Chúa  và nhờ mình được thông phần bản tánh thánh thiện của Ngài. Tắt một lời, Ngài đã trao cho ta tất cả, trọn vẹn - Thánh Thần tình yêu, sức mạnh và bản tánh thánh thiện của Ngài - Ngài không giữ lại cho mình điều gì.

Nhưng tới đây, lại bật lên một câu hỏi quan trọng. Ngài ban chính mình Ngài cho ta để làm gì? Trả lời được câu hỏi này tức là ta đã nắm được cốt tủy của Kitô giáo. Thiên Chúa đã cho ta sự sống thần linh, sức mạnh của chính Ngài, bản tánh của Ngài chỉ vì muốn giúp ta Sống trong Thần Khí của Thiên Chúa, để kết hợp nên một với Ngài.

Đây là vấn đề hết sức quan trọng và thực tế giúp chúng ta đi vào cuộc sống tâm linh thực sự.  Biết rồi, nhưng làm cách nào để sống và lớn lên trong Thần Khí Thiên Chúa? May mắn thay, Chúng ta đã có mẫu gương tuyệt vời của Anh cả Giêsu và tông đồ Phao-lô.

3.      Gương Đức Giêsu

Để thực hiện sứ mạng của mình, Đức Giêsu không chỉ nói suông về tình yêu của Chúa Cha mà Ngài còn sống kếp hợp nhuần nhuyễn với Chúa Cha của lòng mình qua việc sống trong Thánh Thần và dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần.

Vì đã được nói tương đối chi tiết trong bài Đức Giêsu Kitô, nên ở đây chúng ta chỉ cần lướt qua những điểm chính yếu. Ngay từ giây phút đầu tiên xuất hiện trong cung lòng mẹ Maria, Đức Giêsu đã đầy Thánh Thần và lớn lên trong sức mạnh, khôn ngoan và tình yêu của Thánh Thần (Lc 2:40). Thánh Thần hướng dẫn Đức Giêsu vào hoang địa, trở về Galilê. Rồi Thánh Thần theo từng bước chân Loan Báo Tin Mừng của Đức Giêsu dọc theo biển hồ, vào trong các làng mạc,  thành phố. Vì tràn đầy Thần Khí, nên lời Đức Giêsu rao giảng rất khôn ngoan, không ai bắt bẻ được. Lời Ngài đầy uy quyền khiến người nghe phải sửng sốt và thán phục. Trong suốt ba năm rao giảng, Đức Giêsu ý thức rất rõ vai trò ngôn sứ của mình là chia sẻ lời Thiên Chúa - lời mang lại sự sống đời đời:Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống. (Ga 6;63). Đặc biệt nhất là Đức Giêsu đã chia sẻ cho chúng ta cảm nghiệm sống động trong việc kết hiệp nên một với Chúa Cha: Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình.(Ga 14:10). Cuối cùng cảm nghiệm đỉnh cao và tâm đắc nhất của Đức Giêsu để lại cho chúng ta: Tôi và Cha tôi là MỘT. (Ga 10:30).

4.      Gương thánh Phao-lô

Kể từ biến cố Damas, Phao-lô bắt đầu mò mẫm, tìm kiếm, làm quen và tập sống trong Thần Khí Thiên Chúa. Sau 15 năm trời, Phao-lô đã viết một loạt lá thơ gửi các giáo đoàn, trong đó Phao-lô đã nhắc đi, nhắc lại từ Thần Khí hoặc Thánh Thần tới 147 câu. Ta có thể trích ra một số câu tiêu biểu:

 Khởi đầu từ một niềm tin căn bản: Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta. (Rm 5:5). Từ đó Phao-lô khám phá ra: anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. (1Cr 6: 19).

Nhờ vào niềm tin mãnh liệt này, trong cuộc sống thường ngày, Phao-lô rút ra một kinh nghiệm rất ư quý báu: Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí.6 Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an. (Rm 8:5-6). Sống theo Thần Khí một thời gian, Ngài đã bị cuốn hút hoàn toàn bởi Thần Khí Thiên Chúa nên Ngài xác tín rằng: Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa. (Rm 14:8).

Đặc biệt là một khám phá cực kỳ thú vị: Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người.16 Người đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. (Gl 1;15). Quả thật kỳ lạ, một Phao-lô đã từng hăng hái, hung hăng đi bách hại những người Kitô hữu thời giáo hội sơ khai, thế mà nhờ tìm hiểu và sống trong Thần Khí, Ngài đã khám phá ra mình không phải chỉ nhận được Thánh Thần từ biến cố Damas mà đã nhận được Thánh Thần ngay từ trong lòng mẹ - Phải - ngay từ trong lòng mẹ, Thiên Chúa đã dành riêng cho Phao-lô - set me apart - Jeremiah was destined to the office of prophet before his birth; cf Isaiah 49:1, 5; Luke 1:15; Gal 1:15, 16. I knew you: I loved you and chose you. I dedicated you: I set you apart to be a prophet. Tạm diễn nôm như sau: Phao-lô đã được tách ra, được dành riêng - không phải chỉ dành riêng cho cá nhân Phao-lô - theo ngôn ngữ Kinh Thánh, dành riêng diễn tả việc Thiên Chúa yêu thương ta, thánh hiến ta , để ta trở nên một ngôn sứ. Thực là tuyệt vời, ước gì một ngày nào đó, quý độc giả cũng hưởng được niềm hạnh phúc hoan lạc khi cảm nhận một cách sâu sắc: Ngay từ trong lòng mẹ, Chúa đã yêu thương tôi, Ngài đã chọn tôi, thánh hiến tôi và sai tôi làm ngôn sứ cho Ngài ngay môi trường tôi đang sinh sống: hàng xóm, công sở, công viên, hội đoàn, cộng đoàn, giáo xứ …. (cá nhân hoá từng quý độc giả)

Cuối cùng, chí lớn gặp nhau, Đức Giêsu tuyên bố: Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. (Ga 14:10). Trong khi đó Phao-lô cũng cảm nghiệm rất ngọt ngào và hạnh phúc: Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. (Gl 2:20). Còn chúng ta, chúng ta có thể rất tâm đắc lời phát biểu sau đây: Tôi sống, như không còn là tôi sống mà là chính Thần Khí Thiên Chúa sống trong tôi. Ba lời phát biểu nghe có vẻ khác nhau nhưng kỳ thực mang cùng một ý nghĩa: Con người xác thịt Giêsu và con người  xác thịt Phao-lô và con người xác thịt của chúng ta đã trở nên dụng cụ để cho Chúa Cha, Đức Kitô, Thần Khí Thiên Chúa sống động thực sự qua con người của mình. Đó chính là sự sống kết hợp, viên mãn tràn đầy: Để họ được nên một như chúng ta là một (Ga 17: 22). Họ ở đây chính là con người Giêsu, Phao-lô và mỗi người chúng ta nên một trong Thiên Chúa Ba Ngôi tình yêu.

Tóm lại, Cốt tủy Kitô giáo bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa. Để chứng tỏ tình yêu vô biên của Ngài, Thiên Chúa đã ban tặng Thánh Thần và bản tánh Thiên Chúa vào lòng ta. Thêm vào đó Ngài còn để lại cho chúng ta 2 tấm gương tuyệt vời là Đức Giêsu và thánh Phao-lô như là tấm bản đồ đầy đủ chi tiết, minh hoạ con đường dẫn tới sự kết hiệp nên một với Chúa, nhờ sống và lớn lên trong Thánh Thần ngay trong đời sống thường ngày của mình. Đây chính là đỉnh cao, là cốt tủy Kitô gíáo, hướng dẫn cuộc sống đời Kitô hữu đích thực của mỗi người trong chúng ta từng ngày, từng ngày… 

Trở về mục lục >>

 

YÊU MÌNH CÁCH SÁNG SUỐT

 

Nguyễn Chính Kết

     1. «Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất»

          Người ta ai cũng yêu mình. Đó là điều rất tự nhiên và chính đáng. Chính Đức Giêsu đã từng nói: «Hãy yêu đồng loại như yêu chính mình» (Mt 19, 19). Thánh Phaolô cũng nói: «Chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Không ai ghét thân mình bao giờ» (Ep 5, 28-29). Chính vì yêu mình, nên ai cũng có bản năng tự vệ, tự giữ lấy mạng sống, và không ai chịu liều mất mạng sống mình nếu không phải vì những lý do rất đặc biệt. Thế mà Đức Giêsu lại nói: «Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được». Có gì mâu thuẫn và không hợp lý chăng?

          Ai cũng yêu mình, nhưng có hai cách yêu: yêu mình cách sáng suốt, và yêu mình cách ngu xuẩn. Yêu mình cách sáng suốt là yêu làm sao để chính mình được hạnh phúc. Còn yêu mình cách ngu xuẩn là yêu mình nhưng lại làm cho mình đau khổ. Vấn đề mấu chốt của việc yêu mình sáng suốt là ở chỗ nhận định được mình là gì, và những gì là mình.

     2. Yêu mình cách sáng suốt và yêu mình cách ngu xuẩn

          a) Minh họa 1: Một người thích uống rượu, thích ăn những đồ ăn nhiều chất mỡ. Nhưng bác sĩ khuyên anh ta đừng uống rượu kẻo hại gan, đừng ăn đồ nhiều mỡ kẻo hại mạch máu. Nhưng anh ta nghĩ: gan không phải là mình, mạch máu cũng không phải là mình, chúng làm sao thây kệ chúng, không liên quan gì tới mình cả. Mình thương mình thì mình cứ ăn uống cho thỏa thích: «Vui xuân kẻo hết xuân đi, cái già sồng sộc nó thì theo sau»! Chẳng bao lâu sau, anh bị viêm gan và cao huyết áp trầm trọng, phải đau đớn rất nhiều, và cuối cùng chết sớm.

          Cái sai lầm của anh này là nghĩ gan của mình, dạ dày của mình, phổi của mình… không phải là mình, nên không thương chúng, bỏ mặc chúng không thèm chăm sóc, để rồi chúng bị thương tổn, bị bệnh. Khi chúng bị bệnh thì bản thân anh cũng bị bệnh theo. Lúc đó anh mới biết chúng cũng là mình, thương chúng chính là thương mình, chăm sóc chúng chính là chăm sóc mình. Còn thương mình kiểu cứ ăn uống cho mình được thỏa thích bất chấp chúng ra sao thì ra, chính là làm hại mình, là tự giết mình.

          b) Minh họa 2: Một anh có vợ và một bầy con, nhưng anh chẳng quan tâm gì tới vợ con, anh chỉ biết lo cho bản thân anh, thậm chí còn đánh đập vợ con không thương tiếc khi bị trái ý. Anh còn mèo chuột lăng nhăng làm vợ con rất đau khổ. Chẳng bao lâu sau anh bị bệnh, không còn làm được việc gì. Lúc này anh rất cần vợ con nuôi dưỡng, chăm sóc anh. Nhưng vì anh đã đối xử quá tệ với vợ con, nên bây giờ anh bị hất hủi và đau khổ. Bây giờ anh mới nhận ra thương vợ con là thương chính bản thân mình, và chăm sóc vợ con cũng là chăm sóc chính bản thân mình.

          Chúng ta còn có thể đưa ra nhiều minh họa khác chứng tỏ quần áo ta mặc, đôi giày ta đi dưới chân cũng là bản thân ta, những người sống chung quanh ta cũng chính là bản thân ta, v.v… Bên Phật giáo, từ ngữ «tăng thân» có nghĩa là thân được thêm vào bản thân của ta, bao gồm tất cả mọi người, mọi vật trong vũ trụ mà ta có cảm tưởng là ở bên ngoài ta. Theo giáo lý Đức Phật, tất cả mọi chúng sinh và tất cả những vật vô tri trong vũ trụ cũng là bản thân ta. Ta yêu chúng cũng là yêu chính ta, ta ghét chúng cũng là ghét chính ta. Ta làm cho chúng tốt đẹp hạnh phúc cũng chính là làm cho ta nên tốt đẹp hạnh phúc. Ta làm cho chúng xấu xa đau khổ cũng chính là làm ta nên xấu xa đau khổ. Vì thế, yêu mình một cách sáng suốt chính là biết yêu thương tất cả mọi người, mọi vật. Yêu mình một cách ngu xuẩn là do quan niệm về mình một cách quá giới hạn, tưởng rằng mình chỉ là thân xác mình, và chỉ biết đối xử tốt với nó, còn mặc kệ không thèm quan tâm chăm sóc đến những gì không phải là thân xác mình.

     3. Thiên Chúa chính là bản thân sâu thẳm nhất của ta

          Thánh Âu Tinh nói: «Thiên Chúa còn thân mật với tôi hơn chính bản thân tôi thân mật với tôi» (Deus intimior intimo meo). Nói cách khác, Thiên Chúa còn là tôi hơn cả chính bản thân tôi, Thiên Chúa là «cái tôi» sâu xa nhất của tôi. Chính vì thế, yêu Chúa bao nhiêu thì cũng là yêu mình bấy nhiêu. Và tương tự, yêu tha nhân thế nào cũng chính là yêu mình thế nấy. Thiên Chúa, tha nhân, và bản thân ta, một cách nào đó chỉ là một. Theo triết lý nhất nguyên của Đông phương, thì toàn thể những gì hiện hữu chỉ là một bản thể duy nhất, được thể hiện thành muôn vật dưới muôn hình vạn trạng trong thế giới hiện tượng. Trong nhãn quan của triết lý này, ta cảm thấy rất dễ hiểu việc yêu Thiên Chúa, yêu tha nhân cũng là yêu chính bản thân ta.

          Chỉ có một điều là ta có thể cảm nghiệm được thân xác ta là ta một cách trực tiếp, nhưng phải có trí tuệ cao mới có thể cảm nghiệm được Thiên Chúa hay tha nhân cũng chính là ta một cách gián tiếp. Thực ra, ta chỉ có thể cảm nhận một cách trực tiếp nhất ý nghĩ của ta là ta, rồi mới cảm nghiệm được thân xác ta với các cơ quan của nó là ta. Vì thế, những gì ta lo cho thân xác ta thì có hậu quả thấy được ngay trước mắt. Còn những gì ta lo cho Thiên Chúa, cho tha nhân thì phải một thời gian sau – nghĩa là lâu hơn ít nhiều – mới thấy được hậu quả nơi ta.

          Điều ấy có khác gì hai cách dùng tiền: một đằng là dùng tiền để mua ngay những gì cần thiết hay ích lợi cho bản thân, một đằng là dùng tiền để kinh doanh hầu có lợi lâu dài về sau. Cách trước thì sự hưởng thụ ích lợi đến ngay với mình, nhưng chỉ một thời gian là hết. Cách sau thì sự hưởng thụ đến với mình có thể rất chậm, nhưng sẽ rất lâu dài, thậm chí không bao giờ hết. Từ đó ta hiểu được tại sao yêu Thiên Chúa và tha nhân thì có được sự sống đời đời hay hạnh phúc vĩnh cửu, còn lối sống ích kỷ thì chỉ có được sự sống hay hạnh phúc tạm bợ mà thôi, để rồi sau đó là sự chết hay đau khổ lâu dài.

     4. Hãy yêu Thiên Chúa hơn cả cha mẹ, anh em, con cái mình

          Như đã nói trên, Thiên Chúa và tha nhân một cách nào đấy cũng chính là bản thân mình, nên yêu Thiên Chúa và tha nhân cũng là yêu chính bản thân mình. Nhưng Thiên Chúa mới chính là bản thân mình một cách sâu xa nhất. Vì thế, để yêu mình một cách sáng suốt và đem lại hạnh phúc lâu dài, người ta nên hy sinh bản thân cho tha nhân và Thiên Chúa. Và yêu tha nhân cũng chính là yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa thì trừu tượng, không thấy được, nên yêu Chúa một cách cụ thể là yêu tha nhân, nhưng hãy ưu tiên yêu người gần gũi với mình nhất, rồi đến những người xa hơn, và phải yêu thương tất cả không trừ một ai, dù là kẻ thù. Thánh Gioan viết: «Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy» (1Ga 4, 20). Nhưng giả như có sự xung đột giữa việc yêu Chúa và yêu tha nhân, thì ta luôn luôn phải dành ưu tiên cho Thiên Chúa. Nhưng một cách thực tế, yêu Thiên Chúa luôn luôn đồng nghĩa với yêu tha nhân, nên trong những trường hợp có sự xung đột này, ta thường phải hy sinh tình yêu tha nhân mang tính cá biệt cho tình yêu tha nhân mang tính đại đồng. Một cách cụ thể là phải đặt tình yêu chung lên tình yêu riêng, tình yêu đối với thế giới, với quê hương đất nước, với xã hội và Giáo Hội lên trên tình yêu đối với cha mẹ, anh em, con cái. Và làm như thế chính là yêu cha mẹ, anh em, con cái một cách sáng suốt nhất.

          Chính trong nhãn quan này, ta sẽ dễ hiểu hơn câu nói của thánh Phanxicô: «Chính lúc quên mình (để yêu Thiên Chúa và tha nhân) là lúc gặp lại bản thân». Vậy, để yêu mình cách sáng suốt nhất, hãy yêu Thiên Chúa và tha nhân một cách tích cực và chân thành.

 

Trở về mục lục >>

 

 

 CẦU NGUYỆN


NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG

(tiếp theo Maranatha_48)

 

Michel Hubaut - Maranatha dịch

15. HỌC CÁCH ĐỂ CHO CÕI LÒNG MÌNH ĐƯỢC ‘CƯ NGỤ’

Nhưng thảm kịch của con người ngày nay là sau khi lẩn tránh ‘cõi lòng’ mình, họ không còn biết rằng mình có một ‘đời sống nội tâm’. Từ đó, họ sợ sự thinh lặng mà họ đồng hóa với sự trống rỗng. Họ đã đánh mất con đường về với lòng mình vì nhiều lý do tâm lý và văn hóa xã hội mà chúng ta đã nêu lên ở đầu tập sách này. Con đường vẫn còn đấy nhưng đã bị cây cỏ che khuất, như một đường mòn mà mình không đi nữa nên biến mất dưới cỏ gai.

Nhiều người nam người nữ chưa bao giờ thực sự ý thức về ‘kho tàng nội tâm’ này, chỉ vì không ai chỉ cho họ cách làm cho cõi lòng họ ‘được cư ngụ’, cách tạo thinh lặng cho lãnh vực này trong con người của họ. Và như mọi khả năng không sử dụng - khả năng thể lý hay tinh thần - đều giảm sút, thì ‘khả năng nội tâm’ này dần dà rồi cũng xơ cứng đi.

Cùng với những lý do trên, có lẽ phải thêm vào một sự thiếu hiểu biết trầm trọng về Thiên Chúa của Đức Kitô, mà thường thường người ta thu hẹp lại trong vài hình ảnh hí họa. Chúng ta chỉ có thể tìm lại con đường về với cõi lòng và sự vui thích đối với thinh lặng, khi nào chúng ta chịu thông qua một sự thanh tẩy hai mặt: thanh tẩy quan niệm chúng ta về Thiên Chúa và thanh tầy quan niệm chúng ta về con người.

Nào ai muốn đối thoại với một Thiên Chúa xa vời, mông lung, phi ngôi vị, theo mẫu của Người Thợ Đồng Hồ vĩ đại của ông Voltaire hay của một Siêu Máy Vi Tính lạnh lùng! Ta không đối thoại với một ‘hữu thể’ trừu tượng mà ta không biết người có thể quan tâm thế nào đến đời thường của chúng ta.

Ta không thể cảm nếm, trong thinh lặng, một tình yêu mật thiết với một Thiên Chúa lấp-chỗ-trống, một Thiên Chúa ‘hữu dụng’, Đấng sẽ giúp đỡ chúng ta khi mọi việc bất ổn. Ta không thể muốn gặp gỡ một Thiên Chúa hạn chế tự do mình bằng những lệnh tùy tiện, hoàn toàn từ bên ngoài...

Không thể nào có được thinh lặng nội tâm, đối thoại, tương quan tốt đẹp giữa những Thiên Chúa hí họa ấy với con người. Và nếu Thiên Chúa bị khước từ hay gạt bỏ, thì con người sẽ cô đơn và thinh lặng chỉ còn là sự đối diện giữa mình và mình, giữa mình với sự nghèo nàn cố hữu và với sự hãi hùng trước hư không, vì đó là viễn ảnh tương lai độc nhất.

Con người ngày nay cũng đặt câu hỏi là làm cách nào mà sự thinh lặng có thể được Thiên Chúa ‘cư ngụ’, có thể là nơi đối thoại nội tâm!

Thánh Phaolô đã trả lời câu hỏi này bằng cách khẳng định rằng điều ấy khả thi, vì lý do đơn giản là Thiên Chúa đã đi bước trước và Người ban cho chúng ta phương thế.

“Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả. Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì” (Rm 8, 26-27)

Tạo thinh lặng là các chuẩn bị cõi lòng chúng ta đón nhận điều Thần Khí muốn nói trong chúng ta. Kinh nguyện của Kitô hữu trong thinh lặng trước hết không phải xuất phát từ một nhu cầu hay một nỗi sợ của con người mà từ một tiếng gọi bên trong của Thần Khí. Kinh nguyện khởi nguồn từ bước đi trước của Thiên Chúa Tình Yêu, Đấng mong muốn đổ đầy tâm hồn chúng ta bằng sự Hiện Diện của Người.

16. CHỈ CÓ SỰ THINH LẶNG ĐƯỢC TÌNH YÊU CƯ NGỤ

MỚI TỐT ĐẸP CHO CON NGƯỜI.

Làm sao dám đi vào trong thinh lặng, làm sao dám kiên trì trong kinh nguyện nếu chúng ta không xác tín rằng mình được Thần Khí ‘cư ngụ’, Ngài chính là ‘Ý Chúa trong chúng ta’. Một Thiên Chúa tự mặc khải là Quyền Lực Tình Yêu; một Thiên Chúa  nhân bản hóa, nhân vị hóa, thần hóa chúng ta. Một Thiên Chúa mà tình yêu không bó hẹp tự do chúng ta nhưng giải phóng, xây dựng, tác tạo chúng ta bằng tình yêu của Người.

Quả thật, con người bỏ mặc với chính mình thì hết sức trần thế, lè tè mặt đất, hướng về mặt đất. Trong họ, có một sức nặng tự nhiên kéo họ xuống những điều chạm được, thấy được, cảm nhận được. Thánh Phaolô đã từng sáng suốt nhận định khi ngài so sánh con người ‘tâm linh’ với con người ‘thần linh’:

“Ai trong loài người biết được những gì nơi con người, nếu không phải là thần trí của con người trong con người?” - Trên thực tế, các khoa học nhân văn luôn tìm hiểu sâu hơn về những cấu trúc tâm lý của con người - Nhưng thánh Phaolô lại nói thêm ngay: “Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa” (1Cr 2, 10)

Chiều kích nội tâm, thần khí của thế giới, của Thực Tại, không phải là điều quen thuộc đối với chúng ta. Nhưng thánh Phaolô còn viết: “Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình trong lòng chúng ta để kêu lên: “Abba, Cha ơi!” (Gl 4,6)

Và làm thế nào mà chúng ta lại không nghe tiếng thì thầm của nguồn suối nội tâm của Thần Khí trong ‘lòng’ mình mà không giữ thinh lặng, và thinh lặng cũng là một ân huệ của Thiên Chúa.

Vì thế, ‘sự thinh lặng của cõi lòng’ thì cao hơn là vấn đề môi trường chung quanh hay một hiện tượng tâm lý. Đấy là một biểu hiện của Thần Khí trong chúng ta: Ngài thở, Ngài khao khát Chúa, Ngài thờ lạy và chuyển cầu. Ta không ‘tạo’ thinh lặng, ta bước vào thinh lặng, ta mở lòng đối với một Đấng Hiện Diện khiến cho lời nói trở nên vô ích. Cái thinh lặng ‘thần linh’ ấy, con người không thể tự tạo ra cho mình mà chỉ đón nhận thôi.

Cái thinh lặng ấy vượt xa những cuộc ‘thao dượt’ thể lý hay tâm lý! Nếu thư giản thân thể và tâm lý thôi thì chưa đủ để đi vào trong thinh lặng của Chúa! Còn phải giải phóng trong chúng ta nguồn suối Thần Linh.

Thiên Chúa hiện diện khắp nơi, cả nơi đô thị lẫn trong sa mạc, nhưng chính trong ‘sự thinh lặng của cõi lòng’ mà chúng ta nhận ra được sự hiện diện của Người, nghe được bước đi của Người trong cơn gió thoảng của từng ngày sống chúng ta. “Ta không bảo: Hãy tìm Ta trong hỗn độn” (Is 45,19).

Toàn bộ Kinh Thánh - chủ yếu là bài học trường kỳ dạy về cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người - đã đi đến đỉnh cao trong câu này của thánh Gioan: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và cư ngụ với người ấy” (Ga 14,23). Và nơi cư ngụ ấy chính là ‘lòng’ chúng ta, nơi mà từ nay, như lời Chúa Kitô, chúng ta có thể “thờ lạy Chúa Cha trong thần khí và sự thật”.

Thánh Phaolô viết: “Xin Chúa Cha...ban cho anh em được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí, để con người nội tâm nơi anh em được vững vàng. Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Đức Kitô ngự trong lòng, và anh em được bén rễ sâu trong đức ái” (Ep 3,16tt). Ngài vốn là một biệt phái tích cực, rất tôn trọng Đền Thờ, nhưng khi phấn khởi nhờ mặc khải Kitô giáo, ngài đã dám nói với anh em mình: Anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa và Thần Khí Thiên Chúa cư ngụ trong anh em sao? Đền Thờ Thiên Chúa chính là nơi Thánh và Đền Thờ  ấy chính là anh em!” (1Cr  3,16-17)

Trên con đường Damas, sau khi bị Đức Kitô Phục Sinh làm chóa mắt, ngài đã hiểu rằng mọi đền thờ ở Delphes, ở Athènes và thậm chí ở Jerusalem cũng chỉ là những dấu chỉ của thực tại mới mẽ này. Từ nay, ai đi vào thinh lặng của lòng mình, người ấy có thể nghe được tiếng thì thầm của Thiên Chúa, đón nhận Thần Khí của Chúa Kitô hằng sống và tham gia vào cuộc đối thoại vĩnh cửu giữa Chúa Cha và Chúa Con.

Mặc khải vĩ đại làm sao! Nói chiếu soi toàn bộ lịch sử tạo vật và vận mệnh con người. Không, con người không chỉ là bộ tiêu hóa mà hai đầu không gắn vào đâu. Không, con người không chỉ là một tập hợp xương thịt, hồng huyết cầu và tế bào. Không, con người không phải là kết quả của ngẫu nhiên. Không, con người không chỉ là một sinh vật, ra đời để tiêu thụ, để truyền sinh rồi chết. Nhưng con người được tạo dựng để trở nên ‘nơi cư ngụ thinh lặng’ của Thiên Chúa, Cha, Con và Thánh Thần.

Đấy là đỉnh cao của mặc Kitô Do Thái giáo, nơi viên mãn của cuộc tìm kiếm mò mẩm của mọi tôn giáo nhằm đối thoại với Thượng Đế.

Thinh lặng, chính là cư ngụ trong ngôi nhà của lòng mình, nơi mà Thiên Chúa luôn đến trước chúng ta. Thinh lặng, chính là hiện diện trước Sự Hiện Diện thần khí vĩnh cửu của Thiên Chúa.

Tôi không cần phải tạo ra sự hiện diện ấy bằng một tự kỷ ám thị đao đức hay sốt sắng, nhưng chỉ việc đón nhận trong thinh lặng của đức tin.

Nói đến sự Hiện Diện thần khí không có nghĩa là nêu lên một sư hiện diện tưởng tưởng hay phi hiện thực! Mặc Khải đã cho thấy rằng cái Hiện Thực vượt quá điều tai nghe mắt thấy. Thinh lặng, chính là tái sinh mãi mãi vào căn tính đích thực của mình, qua những chiều sâu của bản thân.

Chúa Giêsu phán: “Điều gì sinh bởi xác thịt thì xác thịt, điều gì sinh ra bởi Thần Khí thì Thần Khí. Ông đừng ngạc nhiên vì tôi đã nói: các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên. Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy” (Ga 3,6-8)

Làm thế nào con người có thể đem thần khí vào hành động, lời nói, tương quan và thinh lặng mà lại không đem thần khí vào lòng mình! Chúng ta sẽ thấy rõ hơn, vào cuối chương này, cái nghịch lý của con người hiện đại; họ có thể thám hiểm các hành tinh, mặt trăng và tinh tú, phân tích các ngóc ngách của não bộ, thăm dò các chiều sâu đại dương, kiểm soát những vận hành của sự sống, đẩy lùi biên giới của sự chết... và lại mất đi con đường về với lòng mình!

Con người không biết được mình nữa. Lo lắng thay vì hớn hở vì bí mật của chính mình, con người đi lang thang như một em bé tay cầm đầy quà nhưng lại không biết đường về nhà mình. Con người như thể đã trở nên xa lạ với mình, bị lưu đày ngay trên quê hương.

Biết tạo thần khí cho sự thinh lặng là bí quyết hạnh phúc. Vì chính trong ‘lòng’ mình mà con người học cách yêu thương mình, vui mừng vì là người, một nốt nhạc duy nhất, mỏng dòn và cần thiết cho bản giao hưởng cuộc đời. Làm sao yêu thương người khác được nếu mình không yêu thương bản thân mình bằng cách phát hiện rằng mình được yêu thương bằng toàn bộ tình yêu của Đấng Tạo Đựng?

Phúc cho ai biết tìm lại con đường trở về khu vuờn nội tâm, nơi mà dưới gió nhẹ ban đêm, người ấy sẽ có thể nghe tiếng vọng của một tiếng nói thì thầm: “Adam, ngươi ở đâu?”. Một sự Hiện Diện huyền nhiệm làm nền tảng cho hành trình chúng ta và làm nên sự cao cả của chúng ta. Ai không yêu thương sẽ cảm thấy rằng thinh lặng trống rỗng và không thể chịu đựng được. Ai yêu thương sẽ biến đổi thinh lặng thành thân tình. Tình yêu đối với sự thinh lặng sẽ dẫn đến sự thinh lặng của tình yêu

Trở về mục lục >>

 

 

SUY TƯ 

Danh xưng

 

Sưu tầm

Có một anh hề mới vào nghề, rất thành công, được mọi người khen ngợi.
Nhưng anh vẫn buồn vì ai cũng gọi anh là: “thằng,” thằng hề.
Có một cụ già hàng xóm, biết vậy, đến thăm và khuyên nhủ anh :
- Lúc anh diễn trò, thấy mọi người cười, anh có vui không ?
- Dạ, cháu vui lắm, cụ ạ.
- Anh có nghĩ mình sẽ nổi tiếng không? Như trở thành đệ nhất danh hài chẳng hạn.
- Dạ thưa không, cháu chỉ mong nhiều người đến xem để cháu có thể tặng cho họ niềm vui thôi.
- Thế anh có nghĩ rằng mình sẽ làm giàu bằng nghề này không?
- Dạ không đâu, khán giả thật giàu tình cảm và họ đã cho cháu rất nhiều qua tiếng reo hò, những tràng pháo tay. Cháu mãn nguyện lắm rồi.
- Ừ, giả sử người ta sẽ không gọi anh là thằng hề nữa, mà là ông chủ gánh xiệc, anh sẽ trở nên đạo mạo, được kính trọng, nhưng anh không còn dịp diễn xuất chọc cười thiên hạ nữa, không được lòng yêu mến ngưỡng mộ của bao người già, không nghe thấy giọng cười trẻ thơ nữa, anh có mong muốn vậy không?
Anh hề suy nghĩ rồi buồn bã lắc đầu, cụ già nói tiếp :
- Tôi biết một người không ham danh, không cầu lợi như anh, tất sẽ có câu trả lời như thế. Anh không vui với danh “ông chủ,” vậy sao lại buồn bã với danh hiệu “thằng hề.”  Hãy hy sinh nỗi buồn nhỏ của anh cho niềm vui của mọi người. Tôi nói “mọi người” là trong đó có cả anh đấy. Rồi anh sẽ thấy đời anh giá trị và đầy ý nghĩa. Anh có tin điều này không ?
Anh hề đã trả lời cụ già bằng một nụ cười rạng rỡ.

 

 

CHUYỆN VỀ NHỮNG CÂY ĐINH

 

Một cậu bé nọ có tính xấu là rất hay nổi nóng. Một hôm, cha cậu bé đưa cho cậu một túi đinh rồi nói với cậu: “Mỗi khi con nổi nóng với ai đó thì hãy chạy ra phía sau nhà và đóng một cái đinh lên hàng rào gỗ kia.”

Ngày đầu tiên, cậu bé đã đóng tất cả 37 cái đinh lên hàng rào. Nhưng sau vài tuần, cậu bé đã tập kiềm chế cơn nóng giận của mình và số lượng đinh cậu đóng trên lên hàng rào ngày một ít đi. Cậu nhận thấy rằng kiềm chế cơn giận của mình còn dễ hơn là phải đi đóng một cây đinh lên hàng rào.

Đến một hôm, cậu đã không nổi giận một lần nào suốt cả ngày. Cậu đến thưa với cha về sự tiến bộ này và ông bảo: “Tốt lắm, từ bây giờ về sau, trong mỗi ngày mà con không hề nổi giận với ai dù chỉ một lần, con hãy nhổ một cây đinh ra khỏi hàng rào.”

Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một hôm cậu bé đã vui mừng hãnh diện tìm cha mình báo tin rằng đã không còn một cái đinh nào trên hàng rào nữa. Cha cậu liền đến bên hàng rào. Ở đó, ông dịu dàng nhỏ nhẹ nói với cậu: “Con đã làm rất tốt, nhưng con hãy nhìn những lỗ đinh còn để lại dấu vết trên hàng rào. Hàng rào đã không còn giống như xưa nữa rồi. Nếu con nói điều gì trong cơn giận dữ, những lời nói ấy cũng giống như những lỗ đinh này, chúng để lại những vết thương rất khó lành trong lòng người khác. Cho dù sau đó con có nói xin lỗi bao nhiêu lần đi nữa, thì vẫn còn để lại trong trái tim con người vết thương rất khó chữa lành. Con hãy luôn nhớ: vết thương tinh thần còn đau đớn hơn cả những vết thương thể xác. Những người chung quanh ta, bạn bè ta là những viên ngọc quý. Họ giúp con cười và bên con khi con đau khổ, họ nâng con lên khi con vấp ngã trên đường đời. Họ nghe con than thở khi con gặp khó khăn, cổ vũ con và luôn sẵn sàng mở trái tim mình ra cho con. Hãy nhớ lấy lời cha…”

Trở về mục lục >>

 

·        TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC

 

     Thời gian gần đây, có khá nhiều độc giả ghi danh nhận báo và hỏi lại xin các số báo cũ. Trong tương lai gần, MARANATHA sẽ đưa tất cả các số báo đã phát hành lên một trang báo điện tử để Quý độc giả có thể vào lấy xuống và lưu trữ trong máy của mình.

·        Trong tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu  thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:

Lm. Vũ Xuân Hạnh, Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Nguyễn Văn Nội,   MaryPaul Phạm, Lê Ngọc Thanh, CSsR, Phạm Khắc Thiện, Lê Anh Hiền, Trần Cư SJ, Thomas Bình, Ngọc Lâm,  Nguyệt Nga, Đặng Cao Danh, Rexus Đo,…

            Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

                        Trân trọng, 

                        MARANATHA

Trở về mục lục >>

 

 

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

  • Tôi được người bạn giới thiệu báo điện tử MARANATHA. Nay trong tinh thần hiệp thông, kính xin Quý vị gửi báo MARANATHA cho tôi hàng tuần Xin chân thành cám ơn. Kính chúc Quí Vị luôn khoẻ mạnh tràn đầy Thánh ân và báo MARANATHA ngày một thêm phát triển. Phạm Khắc Thiện

  • Rất chân thành cám ơn MARANATHA. Món ăn tinh thần thật quý giá. Nếu muốn ủng hộ hiện kim (US$) thì gửi đến đâu? Như thế nào xin cho biết. Xin đa tạ. Thân ái trong tình yêu của Thiên Chúa và Mẹ Maria. Nguyệt Nga.

  • Xin quí vị gửi báo cho địa chỉ sau….Xin hết lòng cám ơn quí vị đã hi sinh công sức để cung cấp của ăn thiêng liêng cho anh chị em đang đói khát về tinh thần. Xin Thiên Chúa luôn hướng dẫn và chúc lành cho công việc cao trọng và tốt lành của quí vị. MaryPaul Phạm.

  • Cám ơn đã gởi Báo Điện Tử đến cho tôi. Bài rất hay và sâu sắc! Hy vọng tôi sẽ được tiếp tục nhận các số tới. Cư Trần, SJ.

  • Marathana thân mến, Chân thành kính chúc ban biên tập luôn luôn vững mạnh để phụng vụ dân Chúa. Xin vui lòng gửi bào về địa chỉ của một người thầydạy ở trường Việt Ngữ Giáo Lý Các Thánh Tử Đạo Việt nam ở Toronto, Canada. Rất cám ơn. Đặng Cao Danh.

  • Tuần báo Maranatha thân mến, Chân thành cám ơn Ban Biên Tập Maranatha rất nhiều vì đã bỏ công lao để soạn của ăn tinh thần quí hóa như vậy. Qua một dịp tình cờ tôi đọc được Tuần Báo Điện Tử Maranatha của quí vị từ một người bạn….Xin Quí Vị gửi trực tiếp cho tôi Tuần Báo Điện Tử Maranatha theo địa chỉ email của tôi để tôi có thể đọc trực tiếp mà không cần phải nhờngười bạn chuyển cho. Chân thành cám ơn. Thomas Bình 

  • Kính chào ban biên tập Maranatha. Xin đề nghị Quý Báo gởi cho tôi kể từ hôm nay (kể từ số báo 49) theo địa chỉ mới sau đây… Xin chân thành cám ơn và kính chúc Quý báo ngày càng có nhiều độc giả. Lê Anh Hiền.

  • Tôi muốn nhận tuần báo Maranatha. Có thể gửi cho tôi được không? Cám ơn nhiều. Ngọc Lâm.

Trở về mục lục >>

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn