|
|
Số 49, Ngày 25-6-2005
Tiếng Kêu Trong Hoang Địa - Gm. Bùi Tuần Phaolô - Vị Tông Đồ Vĩ Đại - Trần Duy Nhiên Tưởng Nhớ Một Người Cha - Lm. Vũ Xuân Hạnh Cốt Tủy Của Kitô Giáo Theo Ánh Mắt Tâm Linh - Khổng Nhuận Yêu Mình Cách Sáng Suốt - Nguyễn Chính Kết Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng (tt) - Lm. Michet Hubaut – Maranatha dịch Danh Xưng - Sưu Tầm Câu Chuyện Về Những Cây Đinh - Sưu Tầm Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc
Kính thưa Quý độc giả, Chúng ta đang sống những ngày cuối trong tháng sáu, tháng Thánh Tâm với Tình Yêu ứa tràn từ Trái-Tim-Rất-Thánh. Cũng cùng nhịp đập và niềm vui của Giáo Hội, Maranatha hân hoan mừng lễ quan thầy của quý cộng tác viên và độc giả trong dịp mừng kính Sinh Nhật Thánh Gioan Baotixiata và Hai Thánh Cả Phêrô Phaolô Tông Đồ sắp đến. Nhắc đến các vị thánh, một Gioan Tẩy Giả sống cuộc đời như “không giống ai,” “lội ngược dòng,” một con người mà thế gian xem như “ngoại cuộc.” Trong một xã hội khi con người đang tìm lại quyền hành chính trị, chủ quyền cho quốc gia dân tộc sau bao năm bị lưu đầy, khi người người ai cũng tìm kiếm địa vị, danh lợi trong một đất nước đảo điên, thì con người ấy ẩn mình đi, sống đời cầu nguyện trong cô tịch và rồi khi xuất hiện lại chỉ nói về mình như là một “tiếng vọng” để “dọn đường” cho “Đấng đến sau tôi, nhưng Ngài cao trọng hơn tôi, tôi không đáng cởi quai dép cho Ngài.” (Ga 1:27). Hai vị thánh được xem là rường cột của Giáo Hội, thì một Phêrô nóng nảy, hình như không mấy giỏi giang, ăn học, và từ chối Thầy mình đến 3 lần giữa lúc Thầy cần đến anh nhiều nhất. Một Phaolô khác hẳn với Phêrô, trí thức, nhiệt thành và hăng hái bảo vệ cho quan niệm tôn giáo của mình trong các cuộc bắt bớ tín hữu và chống đối con người gọi là Giêsu kia. Một Phêrô thống hối, trở về, một Phaolô chân thành đáp trả và làm chứng cho lời mời gọi thiết thân. Thế đó, những con người yếu đuối bình thường, vấp ngã với những kinh nghiệm rất thương đau, nhưng họ đã không nhìn vào bản thân mình với những kiệt quệ hay thất bại của cuộc đời mà ngửng lên chăm chú vào Đấng Đã Chết và Sống Lại cho mình. Những con người ấy đã để cho tình yêu vượt thắng những trở ngại, để cho Đức Kitô và Tình Yêu Thiên Chúa chiếm hữu và trở thành gia nghiệp cho cuộc đời mình. Cả hai đều đã được tôn vinh là Thánh Cả chỉ vì Tình yêu của Đấng Sống Lại ấy đã thúc bách, mở con mắt đức tin để nhìn thấy con người Giêsu Kitô ấy là chính Đấng Cứu Độ. Kiến thức, tài năng, nhiệt thành, đạo đức, tội lỗi, giới hạn, những khiếm khuyết của họ đã được đốt bằng ngọn lửa tình yêu và lòng sốt mến để rồi “tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi.” (Gl 2:20). Tuần này, trong tâm tình hiệp thông mừng các lễ trọng và kính các thánh lớn, Maranatha_49 trân trọng gửi đến quý độc giả tâm tình và kinh nghiệm sâu sắc qua bài viết và chia sẻ tâm tình của con người để cho Chúa lớn lên trong đời mình sau khi đã qua một chặng đường dài phục vụ dân Chúa; bài viết “Tưởng Nhớ Một Người Cha” như một nén hương được thắp lên để bày tỏ tâm tình biết ơn người thầy và về những hướng dẫn trong đời linh mục nhân dịp lễ giỗ 10 năm của Đức Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, và những chia sẻ giúp tín hữu chúng ta nhìn lại cuộc sống của mình qua lăng kính đức tin. Mừng lễ các Thánh Gioan Baotixia, Phêrô và Phaolô, chúng ta có tìm thấy chính mình qua những kinh nghiệm và tâm tình của những mẫu gương trong Tin Mừng? Chúng ta có cảm nghiệm tình yêu cứu độ trong những vấp ngã, thất bại hoặc khổ đau trong cuộc sống thường nhật hay trong kinh nghiệm tiến lên trong đời sống trọn lành? Trong lòng Giáo Hội và cùng chia sẻ Nhiệm Thể Đức Kitô, xin cầu nguyện cho nhau được sống trọn vẹn trong Trái–Tim-Rất-Thánh của Tháng Sáu Tình Yêu, với lòng trông cậy và hân hoan vì biết rằng chúng ta đuợc yêu thương và cứu độ, phần còn lại là bản thân mình có mở trái tim và cuộc đời mình cho Thánh Thần Chúa hoạt động để được biến đổi trở thành những ‘vị thánh’ đuợc mời gọi và làm chứng cho Tin Mừng giữa lòng cuộc sống hôm nay? MARANATHA
TIẾNG KÊU TRONG HOANG ĐỊA
Gm. Bùi Tuần Thánh Bổn Mạng của tôi là Gioan Baotixita. Vị thánh này được gọi bằng nhiều tên, như Gioan Tiền Hô, Gioan Tẩy Giả. Riêng tôi, tôi thích gọi Ngài bằng một tên đơn giản hơn. Tên này do tiên tri Isaia đặt cho Ngài từ ngàn năm trước. Đó là "Tiếng hô trong hoang địa" (Lc 3,4; Mc 1,2; Mt 3,3; Ga 1,23). Chính thánh Gioan Baotixita cũng tự xưng mình bằng tên đó: "Tôi là người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi" (Ga 1,23). Ngài là thế. Tôi cũng muốn bắt chước Ngài được như thế. "Hô trong hoang địa". Nghe thì đơn giản. Nhưng thực hành mới thấy không đơn giản chút nào. Bởi vì phải biết: Hô điều gì? Hô cách nào? Hô lúc nào? Hôm nay, gần hết đời người, và sau 50 năm linh mục, tôi thấy công việc tôi "hô trong hoang địa" vẫn còn như mới bắt đầu. Nghĩa là còn kém, còn non, còn dở, còn đầy thiếu sót, còn cần mãi mãi học thêm. Tôi đã học ở đâu? Và còn sẽ tiếp tục học ở đâu? Tôi xin thành thực kể ra vắn tắt những trường quan trọng dạy tôi: 1/ Trường Lời Chúa Lời Chúa là trường dạy tôi. Tôi học ở đó. Bằng nhiều cách, như suy niệm Lời Chúa, cầu nguyện Lời Chúa, đọc những bài cắt nghĩa Lời Chúa, đào bới những khoa môn liên quan đến Lời Chúa. Lời Chúa in trên sách là tài liệu bên ngoài. Nhưng Đấng làm cho tài liệu Lời Chúa biến thành ánh sáng, sự sống và lửa bên trong lòng tôi chính là Chúa Thánh Thần. Trường Lời Chúa không ở nơi nào nhất định. Trường đó ở bên tôi. Trong trường này, tôi cảm thấy rất tự do. Luôn có những điều mới. Như một kho tàng vô cùng phong phú. Điều tôi mong không phải là sẽ hiểu biết tất cả. Nhưng từ Kinh Thánh tôi mong sẽ nghe được một tiếng gọi dành riêng cho mình. Từ rất sớm, tôi nhận ra tiếng gọi dành riêng cho tôi là: Hãy cùng với 10 người phong cùi kêu van Chúa Giêsu: "Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương xót chúng con" (Lc 17,12-13). Những người cùi đó đã hô lớn tiếng (Lc 17,13). Tôi cũng bắt chước, mà hô lớn tiếng như vậy. Nhập bọn với những người cùi, mà cầu xin Đấng Cứu thế, đó là việc đơn sơ, rất thích hợp, mà tôi đã học được ở trường Lời Chúa. Lời cầu xin ấy, tôi hô lên, dù tất cả xung quanh tôi, và chính đời tôi chỉ là hoang địa hỗn độn, ồn ào. Ngoài trường Lời Chúa, tôi cũng học được nhiều điều ở cuộc đời. 2/ Trường cuộc đời Cuộc sống ví như một hành trình. Hành trình cuộc sống gồm một chuỗi những bước thăng trầm. Luôn có những biến cố xảy tới chen giữa những quãng bình lặng vắn vỏi. Theo kinh nghiệm của tôi, bất cứ biến cố nào xảy đến cũng đều là những thử thách được đặt ra. Thí dụ hôm qua, biến cố xảy đến cho tôi là một thành công tốt đem lại niềm vui. Hôm nay biến cố xảy đến cho tôi là một thất bại xấu gây nên nỗi buồn. Ngày mai có thể sẽ là thời gian bình lặng. Niềm vui, nỗi buồn và bình lặng ấy đều được coi là những thử thách. Nếu tôi lạm dụng thành công để niềm vui kéo tôi đến chỗ kiêu căng, thì thử thách thành công này sẽ đưa tôi trẽ vào con đường nguy hiểm. Ngược lại, nếu tôi biết lợi dụng thất bại, để nỗi buồn dẫn tôi đến sự khiêm tốn biết mình để cố gắng phấn đấu thêm, thì thử thách thất bại này sẽ đưa tôi vào con đường hy vọng vươn lên. Cũng thế, bình lặng cũng có thể được dùng cho lựa chọn tốt, và cũng có thể lạm dụng cho lựa chọn xấu. Kinh nghiệm cho thấy: Trong cuộc đời có những thành công mà là thất bại. Trái lại có những thất bại mà lại trở thành thành công. Vì thế, nhiều trường hợp được coi là thành công hay bình lặng chắc chắn, tôi đừng nông nổi chủ quan. Nhưng hãy cầu nguyện "Xin Chúa dủ lòng thương xót chúng con." Còn mọi trường hợp thất bại đắng cay, tôi cũng đừng bi quan. Nhưng càng phải hô lên lời van "xin Chúa xót thương con". Như thế, xét cho cùng, lời xin Chúa xót thương lúc nào cũng cần. Cùng với trường Lời Chúa và trường cuộc đời, tôi đã học được rất nhiều ở trường đời Chúa. 3/ Trường đời Chúa Giêsu Đời sống Chúa Giêsu đâu có êm ả như phần đông tưởng. Một đoạn thư gởi Do Thái sau đây cho thấy phần nào: "Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Kitô đã lớn tiếng kêu van khóc lóc, mà dâng lời khẩn nguyện nài xin Đấng có quyền cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ, mới học được thế nào là vâng phục." (Dt 5,7-8). Suy gẫm đoạn thư trên, rồi nhìn suốt cuộc đời Chúa Giêsu, từ hang đá Belem đến thánh giá trên núi Sọ, tôi thấy 33 năm của Người toàn là hy sinh và cầu nguyện, để biết vâng phục thánh ý Chúa Cha. Vâng phục thánh ý là việc khó như thế đó. Chúa Giêsu đã phải trải qua nhiều đau khổ và đã cầu nguyện, kêu van, khóc lóc thảm thiết, mới thực thi được bài học vâng phục. Phương chi tôi và chúng ta. Đừng ảo tưởng. Nhưng phải theo gương Người, mà kêu lên lời cầu: "Xin Chúa dủ lòng thương xót." Tôi thấy thánh Gioan đã hô trong hoang địa Israel với biết bao ơn Chúa Thánh Thần. Ngài biết đúng cách, biết đúng lúc, với tinh thần vâng phục. Nhưng sau cùng, Ngài đã bị chém đầu. Hiệu quả bề ngoài thực bẽ bàng. Nhưng qua cõi đời này, Thánh Gioan Baotixita đã bước vào một hoang địa khác, đó là mọi thế hệ nhân loại sau này, và mãi mãi âm thầm thúc giục các lương tâm hãy: "Xin Chúa dủ lòng xót thương chúng con." Mỗi tôn giáo có cách cầu nguyện của mình. Mỗi người có cách kêu van của mình. Tôi hy vọng lời cầu chân thành nào cũng sẽ được Chúa đón nhận. Tôi càng tin điều đó, khi chính tôi nhận mình là một người phong cùi, chỉ biết hô to lời nguyện "xin Chúa luôn dủ lòng xót thương chúng con," "Xin Chúa luôn dủ lòng thương xót chúng con". Đó là lời cầu pha trộn thống hối và cậy trông. Tôi tin Chúa không bỏ tôi. Niềm tin của tôi đôi khi cũng được an ủi. Như, mới rồi, tôi nhận được thư riêng của Đức Hồng Y SODANO, Quốc vụ khanh Toà Thánh (No 007, 16/5/2005). Trong thư, Ngài báo tin rằng: Đức Thánh Cha Benedictô XVI rộng lòng ban phép lành yêu dấu của Toà Thánh cho tôi. Phép lành ấy cũng được ban cho mọi người gần gũi của tôi. "Tiếng kêu trong hoang địa" là những con người mọn hèn đang đi theo thánh Gioan Baotixita. Xin hết lòng cảm tạ Chúa muôn đời.
MỪNG KÍNH THÁNH PHÊRÔ-PHAOLÔ
Trần Duy Nhiên "Vì tôi là người hèn mọn nhất trong các tông đồ, Và tôi cũng không đáng gọi là tông đồ nữa, Bởi tôi đã bắt bớ Hội Thánh của Thiên Chúa." (1 Cr 15,9) Trước khi trở lại, Phaolô phản ứng thế nào trước Tin Mừng về Đức Kitô? Cái tin ấy quả là một chuyện vô lý nhất, chưa từng nghe nói đến bao giờ. Làm thế nào mà một người có lý trí như Phaolô lại có thể tin được? Ông không thể chấp nhận. Nhảm nhí, vô lý. Ông không phải là một người ngu. Ông đã từng nghe nói đến nhiều tà thuyết. Ông đã từng là một môn sinh ở trường Kinh Thánh. Thầy của ông đã chẳng là những vị giáo sư hiểu biết tiếng tăm nhất đó sao? Thầy biệt phái Gamaliel chẳng hạn. Phaolô đã từng học cách phân biệt phải trái, điều hợp lý với điều vô lý, điều tin được với điều không thể tin được. Ông cũng đã biết nhiều về thần thoại Hy Lạp, nhưng đấy chỉ là thần thoại kia mà... Không một người học thức nào lại không biết các thần Zeus, Apollo...: đó chỉ là những nhân vật tưởng tượng. Mặt khác Aristote, Socrate là những vĩ nhân nhưng cũng chỉ là con người mà thôi.. Thế còn câu chuyện điên đầu về Giêsu Nazareth? Các người thất học ấy muốn gì đây? Không ai phủ nhận Giêsu Nazareth là một người có thật. Ông ta sinh ra ở Bêlem và lớn lên ở Nazareth: ai cũng biết. Đầu tiên, Giêsu lôi cuốn đám đông, chữa bệnh và làm một vài chuyện lạ... Phaolô đã từng nghe nói như thế và ông không nghi ngờ gì cả. Bạn của ông trong Hội Đồng đã chứng kiến Giêsu làm phép lạ. Dù sao thì Giêsu cũng không xuất thân từ một trường Kinh Thánh, ông ta chỉ là một người rao giảng nay đây, mai đó, với một lập trường riêng tư. Phaolô có được nghe kể lại về những bài giảng của Giêsu. Phaolô công nhận rằng Giêsu có kiến thức, hiểu biết sâu rộng. Dĩ nhiên những điều Giêsu nói đều có liên quan đến lề luật. Vâng , Giêsu biết rõ về Môsê, về các tiên tri. Giêsu có một lối nhìn vấn đề thật độc đáo và có uy quyền. Nhưng, chỉ có thế thôi... Tuy nhiên, khi Giêsu bắt đầu gây rối, ông ta la lối, xua đuổi mọi người trong Đền Thờ thì ông ta đã đi quá xa rồi. Ông ta lấy quyền gì? Ai cho phép ông ta ? Dĩ nhiên, Caipha có lý khi đã xử tử ông ta. Phải công nhận rằng tử hình bằng thập giá thì hơi nặng tay đấy, nhưng Giêsu cứ tưởng mình là ai mới được chứ ?... Rồi, bây giờ xảy ra cái tin động trời là Giêsu đã sống lại. Môn đệ của ông ta loan báo rằng ông ta đã chết và đã sống lại. Có một tí gì hữu lý không chứ ? Lẽ dĩ nhiên, là Biệt Phái, Phaolô tin rằng người ta sẽ sống lại nhưng vào ngày tận thế kia chứ. Bụt thần thì có nhiều, nhưng Thiên Chúa của dân Do Thái thì chỉ có một. Phaolô nhớ sách Đệ Nhị Luật: "Israel, này nghe đây, Chúa là Thiên Chúa, Chúa chúng ta là một Thiên Chúa duy nhất." (Đnl 6-4). Còn Giêsu, ông ta chỉ là một người thợ mộc Do Thái, một người hiền lành, có uy quyền khi rao giảng. Ông ta có thể là một tiên tri là quá lắm rồi. Nhưng Giêsu cũng lại là một người gây rối. Thật ra ông không phải là một người Do Thái đàng hoàng. Ông ta cố tình không giữ việc kiêng cử trong ngày Hưu Lễ. Ông ta ít đến nhà thờ trong những năm cuối cùng, Ông ta tự cho phép tha tội cho những loại người bất xứng, Ông ta lại còn làm loạn trong Đền Thờ. Không, Đó không phải là lối sống của một người Do Thái đứng đắn. Với tư cách là người có học, một người biệt phái mộ đạo, Phaolô tự hứa phải ra tay tiêu diệt bọn tà đạo này. Phaolô không thể chấp nhận cứ như thế mãi được. Ông sẽ hành động để làm vinh danh Thiên Chúa của Israel, Thiên Chúa chính danh và hằng sống, Thiên Chúa duy nhất và hay ghen. Phaolô cương quyết đi đến nơi nào có tín hữu của Giêsu. Ông sẽ đưa họ ra nơi công nghị đối đáp với ông để xem họ sai lầm đến mức độ nào. Và nếu cần thì có thể giết họ luôn. Giết vài trăm người để cho đạo Israel đứng vững thì cũng là một điều đáng làm. Có một người đáng thương bị nhóm môn đệ Giêsu lung lạc dụ dỗ đến nỗi bị kết tội và đem ra ném đá cho chết. Phaolô đã chứng kiến rất rõ và ông còn giữ áo cho họ rảnh tay ném đá. Nạn nhân ấy tên là Têphanô. Anh ta muốn giảng cho họ, các biệt phái, về lịch sử Do Thái. Anh ta còn cả gan buộc tội họ: "Quân cứng cổ, lòng đá, tai điếc, Các ngươi luôn đối nghịch với Thánh Thần. Cha ông các ngươi thế nào thì các ngươi cũng vậy, Có tiên tri nào mà cha ông các ngươi không bắt bớ ? Họ đã giết các người tiên báo về việc giáng thế của Đấng Công Chính Và nay, các ngươi đã nộp và giết chết Người..." (Cv 7,51-53) Như thế là quá lắm rồi. Tất cả bọn họ nghiến răng hăm dọa. Nhưng Têphanô còn nói lời lộng ngôn này nữa: "Tôi thấy Con Loài Người ngự đến bên hữu Thiên Chúa" (Cv 7,56) Nói như thế thì tha làm sao được. Họ bèn lôi Têphanô ra ngoài thành mà ném đá. Phaolô đi theo, Phaolô đứng nhìn và đồng tình...
Giờ đây, ông đang trên đường đi Đamas, Ông vừa nhận lệnh từ Giêrusalem và hăng say vượt 250 cây số đến Đamas, Ông mong muốn lôi ngay bọn tà đạo về Giêrusalem...
Giêsu là Đấng Thiên Sai, Giêsu sống lại từ cõi chết, Giêsu ngự bên hữu Thiên Chúa .v.v. Bọn tà đạo lại còn trích dẫn Kinh Thánh để chứng minh nữa chứ: "Người sẽ không thí bỏ hồn tôi nơi âm phủ, Và không để Đấng Thánh của Người phải thấy mục nát" (Cv 2,27, trích dẫn Tv 16,10) Đó, bọn tà đạo đã dám áp dụng câu ấy cho Giêsu, Đúng là bọn gian tà thì cái gì cũng gian được...
Thế rồi, bỗng dưng một luồng ánh sáng bao phủ lấy Phaolô làm ông ngã ngựa. Ông không còn thấy gì nữa. Rồi ông nghe có tiếng gọi ông: "Saolê, Saolê, sao ngươi lại bắt bớ Ta ?". Phaolô hỏi lại: "Thưa Ngài, Ngài là ai?" Tiếng nói lại âm vang: "Ta là Giêsu mà ngươi đang bách hại. Song, ngươi hãy chỗi dậy mà vào thành, ở đó người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì..." (Cv 9,5-8). Phaolô đứng dậy, ông chớp mắt mà vẫn không thấy gì. Ông được đưa về Đamas... Ba ngày tròn, ông như kẻ bị mù, Ba ngày tròn ông sống lại giây phút lạ lùng vừa qua, Ba ngày tròn, ông trở lại hồi tưởng điều ông đã gặp. Ánh sáng ấy mạnh mẽ đến nỗi ông trở nên mù lòa... Bây giờ thì ông đã thấy, đã gặp Đức Giêsu. Đây là một sự kiện: Người đã sống lại thật rồi, Người thật là Đấng Thiên Sai, Người là Đấng Phục Sinh, Người đã lên Trời ngự bên hữu Thiên Chúa... Điều này là một mầu nhiệm đến phi lý. Nhưng, sự thật đúng là như vậy. Têphanô đã nói thật mà Phaolô lại điếc, Têphanô quả là không điên khùng chút nào. Phaolô giờ đây mới ân hận làm sao, Chính Phaolô cũng đã thấy Con Loài Người kia thật tỏ tường, Đây là sự thật không thể nào chối cãi được...
Ba ngày sau, có một người Do Thái thuộc cộng đoàn mới đã đến gõ cửa và bảo: "Saolê, người anh em, anh hãy nhìn thấy lại.' Thế là phép lạ đã xảy ra, Phaolô lại được thấy. Ông nhìn quanh ngỡ ngàng. Người Do Thái ấy tên là Anania, ông ta nói tiếp: "Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã tiền định cho anh biết Thánh Ý Người và được thấy Đấng Công Chính và nghe tiếng xuất từ miệng Người, vì anh sẽ làm chứng tá cho Người trước mặt mọi người về các điều anh đã thấy và đã nghe" (Cv 13,15). Và Phaolô đã chịu phép rửa bởi tay Anania. Phaolô đã ghi khắc lời Anania để sau này, trong hầu hết các lá thư của mình, ông đều nhắc lại: "Phaolô, tông đồ của Đức Giêsu Kitô, bởi Ý Định của Thiên Chúa." Phaolô khởi đầu lá thư nào cũng bằng câu nói ấy. Ông thực hành lời Anania. Ông đi làm chứng ngay tại Đamas. Đamas là thành phố nơi ông định đến để tiêu diệt Đạo Chúa, bây giờ, lại chính là nơi ông khởi công rao giảng đầu tiên. Đây cũng là một bài học cho mỗi một chúng ta. Nếu chúng ta muốn trở nên một môn đệ nhiệt thành, chúng ta phải theo con đường Phaolô. Chúng ta phải trực tiếp cảm nhận Thiên Chúa, gặp gỡ Thiên Chúa. Nhưng chúng ta cũng phải thi hành mệnh lệnh rõ ràng của Người qua môi miệng các vị đại diện của Người. Đó là mầu nhiệm Hội Thánh. Thiên Chúa đã hiện ra,đã gặp gỡ Phaolô, nhưng mệnh lệnh của Người vẫn được trao qua một người đại diện là Anania... Phaolô rao giảng và làm chứng tại Đamas nhưng ông chỉ gây được sự ngạc nhiên chưng hửng nơi những người đến nghe. Ông hết sức tích cực nhưng không giúp đỡ thiết thực được cho ai. Không ai nghe lời ông, không ai chấp nhận được niềm tin của ông. Công trình của Thiên Chúa qua ông vẫn còn trở ngại. Nếu Yuđa không một sớm một chiều mà đi đến việc phản bội Chúa, thì Phaolô cũng không thể một sớm một chiều trở thành vị tông đồ hữu hiệu. Nguồn ánh sáng trong ông và sự bất lực của chính mình làm ông suy nghĩ. Ông cần thời gian để tĩnh tâm, học hỏi và cầu nguyện. Thế là ông rời bỏ Đamas để sang vùng Ả Rập mà sống trong thanh vắng. Thầy của ông đã chuẩn bị 30 năm thì ông cũng phải chuẩn bị 3 năm ( Gl 1,17 ) Ba năm trời Phaolô nghiền ngẫm Thánh Kinh, đối chiếu trực tiếp với Thần Khí Chúa để hiểu rõ Tin Mừng. Phaolô gọi Phúc Âm của Chúa là Phúc Âm của mình. Và ba năm trời đã cho ông có được tâm tình của Chúa Kitô, đã đồng hóa ông với Đức Kitô đến nỗi ông phải tuyên bố: "Không phải tôi sống nhưng là chính Chúa Kitô sống trong tôi..." (Cl 2,20) Và suốt ba năm, trong bóng tối và thinh lặng, Phaolô đã làm một điều duy nhất là: "Quên phía sau mà lao mình tới phía trước, tôi nhắm đích mà chạy đến giải thưởng của ơn kêu gọi từ trên cao Thiên Chúa đã ban bố trong Đức Giêsu Kitô." (Cl 3,13-14) Chúa Giêsu chuẩn bị 30 năm. Phaolô chuẩn bị 3 năm, Còn chúng ta? Trước khi hành động, chúng ta rút vào bóng tối và thinh lặng bao lâu? 3 tháng? 3 tuần? 3 ngày? hay 3 giờ? Sau 3 năm chuẩn bị, Phaolô lao mình tới phía trước. Ông bỏ Ả Rập, về lại Đamas. Giờ đây, ông đã chín chắn, đã có Chúa, đã hữu hiệu, Chắc chắn ở Đamas, người ta không ngạc nhiên, chưng hửng. Người ta bàn kế bắt giết ông! Ông được chuyển qua tường thành mà thoát chết. Ông về Giêrusalem định liên lạc với các môn đệ Chúa, nhưng các ông này vẫn còn e ngại Phaolô, họ không tin Phaolô đã thực sự là tông đồ của Chúa (Cv 9,20 )
Đấy, suy tư, cầu nguyện 3 năm trời, để rồi bước ra gặp đối phương là suýt bị giết, gặp anh em thì lại bị nghi ngờ... Đó là cái giá phải trả. Và chính cái giá phải trả ấy mà Phaolô biết mình đi đúng đường: Con đường của Đức Kitô chưa bao giờ là một con đường thoải mái thênh thang...
Cuối cùng rồi Phaolô cũng được chấp nhận, Phaolô được nghe thuật lại tường tận về cuộc sống, về cái chết, và về sự sống lại của Đức Kitô.
Đủ hành trang, lý trí, Đủ hành trang kiến thức, Đủ hành trang tâm tình, Phaolô lên đường... Ở đâu có thể đến là Phaolô đến, Ở đâu có người cần biết Tin Mừng là có Phaolô: Antiôkia, Cypriô, Lystra, Đerbê, Troya, Philip, Athêna, Thêsalônika, Côrintô, Êphêsô, trở lại Giêrusalem, lên đường đi Roma... Người Do Thái, Hy Lạp, La Mã, Người ngoại giáo, người tự do, kẻ nô lệ, Ai ai cũng được ông đem Tin Mừng đến... Sau không đầy một thế hệ, một biến cố nhỏ ở miền Yuđê, mà một vài sử gia ghi lại vài hàng, đã trở nên đề tài tranh luận khắp Đế quốc La Mã. Đấy là một cuộc cách mạng, một cuộc cách mạng không đổ máu, mà nếu máu có đổ thì chỉ là máu của những người làm cách mạng.
Đây không phải là cách mạng bằng Gươm Giáo nhưng là bằng truyền giáo, không phải bằng Sức Mạnh nhưng bằng Say Mê, không phải bằng Vũ Lực nhưng bằng Vâng Lời Thánh Ý Chúa. Cũng không phải một cuộc cách mạng trí thức, cũng không phải để đưa ra những tư tưởng mới, một ý thức hệ mới, một triết thuyết mới hay một nếp sống mới. Xét cho cùng, cũng không phải là một cuộc cách mạng nữa... Chỉ vỏn vẹn là Tin Mừng...
Ôi, mà một Tin đáng Mừng làm sao: Thiên Chúa đã đến qua Đức Giêsu, Người đã đến trên hành tinh này, Người là Đấng Thiên Sai đã được hứa hẹn từ bao thế kỷ , Người là Sự Sống và là Sự Sống Lại... Đây là một biến cố hàng đầu trên mọi biến cố. Người đón nhận cái chết vì nết ăn thói ở của chúng ta, Người đã từ trong cõi chết mà sống lại, Người đã thắng được cái chết: "Vì sự chết đã đến do một người thì sự sống lại cũng do một người mà đến" (1 Cor 15,21)
Vậy là Phaolô đã hoàn toàn thay đổi. Không ai gặp ông mà có thể quên được ông và đức tin của ông, Chính đức tin này đã làm ông thay đổi. Chân lý sống động của Đức Kitô là chân lý của ông. Đức Kitô chính là cốt lỏi của Tin Mừng ông loan báo: "Chúng tôi rao giảng một Đức Kitô bị đóng đinh" ( 1 Cor 1,23 ) Đối với Phaolô, Đức-Kitô-chịu-đóng-đinh cũng chính là Đức-Kitô-Phục-Sinh Phaolô không bao giờ tách rời Thập Giá khỏi Phục Sinh...
Đối với Phaolô, Kitô giáo là điểm hội tụ của mọi nghịch lý, Tất cả chỉ là một: Đau Khổ Và Vinh Quang, Sự Chết Và Sự Sống, Yếu Hèn Và Sức Mạnh, Bé Mọn Và Vĩ Đại, Đức Kitô Chịu Đóng Đinh Và Đức Kitô Phục Sinh... "Nếu Đức Kitô đã không sống lại thì lời rao giảng của chúng tôi quả thật là hư không ...Và việc anh em tin cũng là hư không... Nếu Đức Kitô không sống lại thì việc anh em tin cũng hão huyền... Nếu ta đặt mối hy vọng vào Đức Kitô vỏn vẹn lúc sinh thời này thôi thì ta quả là kẻ khốn nạn nhất trong toàn thiên hạ..." ( 1 Cor 15,14.17.19 )
Làm sao có thể nói hết về Phaolô, Hơn một nửa cuốn sách Tông Đồ Công Vụ đã nói về ông, Mười bốn lá thư do ông viết chiếm tám mươi lăm phần trăm số Thánh Thư trong Tân Ước, Chừng đó quá đủ để nói lên tầm mức vĩ đại của Phaolô: Phaolô là người mở mang Nước Chúa nhiều nhất, Phaolô là người có Đức Tin nóng bỏng, Đức Ái ngọt lịm, Đức Cậy sáng ngời. Phaolô là người đặt nền tảng giáo lý Giáo Hội, Phaolô là người không để kẻ khác ngủ yên. Phaolô đi đến đâu là ở đó có phản ứng mạnh, Phaolo bị bắt bớ, hành hạ, cầm tù, săn đuổi, ném đá, Phaolô bị đánh dập, lăng nhục, chửi bới, xích xiềng... Dường như ngay cả thiên nhiên cũng muốn chống lại ông: Ba lần Phaolô bị đắm tàu...
Câu chuyện về Phaolô là một chuyện ly kỳ. Không có một thành phố nào Phaolô đặt chân đến mà vẫn còn như cũ. Dĩ nhiên, không phải mọi người ở đó đều trở thành Kitô hữu, chỉ có một nhóm nhỏ, thật nhỏ thôi, nhưng vấn đề được đặt ra rất rõ ràng: Hoặc là Tin Đức Kitô hoặc là chối bỏ Người. Đức Kitô hoặc là Đường hoặc là một trở ngại... Không có ai nghe Phaolô xong mà lại có thể dửng dưng, hoặc nhiệt thành đứng về phía ông hoặc la ó chống lại ông. Không có Nếu, không có Và, không có Nhưng, chỉ có Hoặc mà thôi. Quả thật, Phaolô là người đã làm đảo lộn thế giới. Tin Mừng ông loan báo gây ra tranh chấp trong đời sống mỗi con người. Nhưng, có thật là Phaolô làm đảo lộn thế giới chăng? Thế giới ở thời đại của Phaolô (Thế kỷ thứ 1) đã chẳng là một thế giới đảo lộn rồi đó sao? Chính ông là người dựng lại cái thế giới bị đảo lộn ấy. Trước đó, thế giới nội tâm đảo lộn của ông đã được Chúa dựng lại và ông đã tiếp tay dựng lại toàn bộ thế giới chung quanh mình. Những gì xảy ra ở thế kỷ thứ nhất cũng sẽ diễn ra như vậy ở thế kỷ 21 này, nếu chúng ta chấp nhận theo chân Phaolô để cho Chúa chiếm hữu. Những ngày cuối đời, dù cho phải đi tù hết nơi này đến nơi nọ để rồi tử đạo tại Roma, Phaolô vẫn lạc quan, vui tươi, trong sáng, tin tưởng... Vì sao lại được như vậy ? Phaolô đã thấy đêm tối, nhưng cũng đã thấy ánh sáng. Phaolô cảm được sự yếu hèn của con người nhưng cũng có kinh nghiệm về hồng ân của Chúa. Phaolô sống với cái chết nhưng ông để cho sự sống đích thực tỏa chiếu trên mình. "Mọi thời và khắp nơi, chúng tôi mang trong mình cuộc tử nạn của Đức Kitô, ngõ hầu Sự Sống của Đức Kitô được tỏ hiện nơi chúng tôi.. .Tôi cũng đã cùng chịu đóng đinh Thập giá với Đức Kitô. Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, nhưng chính Đức Kitô sống trong tôi. Đời sống của tôi lúc này trong thân xác, tôi sống nó trong lòng tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương tôi và đã phó nộp mình vì tôi... Đối với tôi, sống là Đức Kitô và chết là một thắng lợi... vì tôi không muốn biết gì nữa ngoài Đức Kitô bị đóng đinh trên Thập giá..." ( 2 Cr 4,10; Gl 2,20; Pl 1,21; 1Cr 2,2 ) Và quả thật, tông đồ Phaolô đã đem đời sống và cái chết của mình làm chứng điều ông nói. Theo truyền thống lưu lại thì ông bị chém đầu ở ngoại thành Rôma, nơi có ngôi thánh đường Phaolô hiện tại. Tiến trình của cuộc sống muôn màu của Phaolô mãi mãi vẫn thốt lên lời tuyên tín như một bài ca khải hoàn: "Về phần tôi, tôi đã được dùng làm rượu tế lễ, giờ ra đi của tôi đã gần đến. Tôi đã chiến đấu trong một cuộc sống chính nghĩa, tôi đã chạy đến cuối đường, tôi đã giữ vững lòng tin... Tôi xác quyết rằng những đau khổ đời này không đáng gì so với vinh quang sẽ được thể hiện trên ta trong tương lai. Tạo vật hằng khẩn thiết chờ trông con cái Chúa được tuyên dương... Thiên Chúa đã không tha cho Con của Người nhưng đã phó nộp Ngài vì chúng ta hết thảy, làm sao Người lại không gia ân vạn sự cho ta làm một với Ngài ?.. Ai có thể tách chúng ta ra khỏi Tình Yêu của Đức Kitô ? Phải chăng là gian truân, bĩ cực, bắt bớ, đói khát, trần truồng, hiểm nguy, gươm giáo ư?.. Vì tôi thâm tín rằng dù sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay tương lai, hay quyền năng, dù chiều cao hay chiều sâu, hay bất cứ tạo vật nào khác, Không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi Tình Yêu Thiên Chúa thể hiện cho chúng ta trong Đức GIÊSU KITÔ, Chúa chúng ta." ( 2 Tm 4,6-8; Rm 8,18-20.32.35.38.39)
Lm. Vũ Xuân Hạnh
Kính dâng hương hồn Cố Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình nhân lễ giỗ 10 năm. Cách đây mười năm, ngày Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình về Nhà Cha (1.7.1995), chúng tôi còn đang là đại chủng sinh của Chủng Viện thánh Giuse thành phố Hồ Chí Minh. Đại Chủng viện rất vinh dự được Đức Tổng chọn làm nơi an dưỡng trong những năm cuối đời. Đặc biệt hơn, sau khi tạ thế, Đức Tổng còn gởi lại thân xác của mình trong nhà nguyện Đại Chủng Viện. Những kỷ niệm mà Đức Tổng để lại trong thời gian an dưỡng tại Đại Chủng viện, dù đã mười năm qua, chúng tôi vẫn còn nhớ như in. Chúng tôi muốn ghi lại những kỷ niệm ấy như một lá thơ gởi đến Người Cha Chung của giáo phận sau mười năm xa cách. Đó cũng là tâm tình biết ơn dâng kính Đức Tổng mà mỗi chủng sinh ngày ấy, và linh mục hôm nay, muốn thể hiện. Cuộc chia tay nào cũng để lại sự bùi ngùi tiếc nhớ. Cha ra đi để lại nơi mỗi chúng con niềm thương nhớ lớn lao. Mỗi lần có dịp về thăm mái nhà Chủng viện, chúng con như còn thấy đâu đây những dấu vết của người cha khả kính. Bởi vậy mà niềm thương nhớ của chúng còn sâu lắng và da diết hơn. Chúng con nhớ, hồi sức khỏe cha còn khá, dù bận rộn với nhiều công việc của giáo phận, cha đã không ít lần đến thăm chúng con. Giữa cuộc sống đầy bon chen vụ lợi, cha dạy chúng con: “Các anh phải biết yêu thương chân thành.” Trong lòng cuộc sống đó, mỗi người đều có những ngày vui, những ngày hạnh phúc, hay những ngày đau khổ, những ngày bất an, cha dạy chúng con: “Các anh phải cầu nguyện, các anh phải thấy cuộc đời mình thuộc về Chúa.” Sau này, khi sức khỏe trở nên yếu nhiều, nhất là sau những cơn đau ngặt nghèo, cha thường ra Vũng Tàu nghỉ ngơi. Sau những lần trở về thành phố, vào những buổi chiều, khi sức khỏe khá hơn, cha đều vào thăm chúng con. Có khi là những giờ giải trí, cha ngồi nhìn chúng con chơi thể thao. Vốn là người yêu thích thể thao, Cha như vui lây với chúng con trong từng đường banh, từng cú đập bóng chuyền vừa mạnh vừa dứt khoát của chúng con. Có khi cha vào thăm chúng con qua những lần huấn đức, hay những buổi chuyện trò... Chúng con còn nhớ rất rõ một trong những lần huấn đức ấy. Đó là chiều ngày 4.12.1993. Những lời căn dặn chân thành của một người cha, lời dạy nghiêm túc của một người thầy ngày ấy, rất cần cho đời sống linh mục của chúng con hôm nay, khiến chúng con nhớ mãi. Ngày hôm ấy, cha nêu lên cho chúng con hình ảnh thánh Gioan Tiền hô, người dọn đường của Chúa Cứu Thế. Để tiến đến chức linh mục, người chủng sinh phải “dọn đường” bằng tu rèn đạo đức, tri thức. Những chủng sinh của cha ngày ấy, bây giờ đã là linh mục, nhưng tất cả đều hiểu rằng, không chỉ chủng sinh mới “dọn đường.” Người linh mục càng cần phải “dọn đường” nhiều hơn để luôn đánh thức mình, để đừng bao giờ ngủ vùi trong sự tự mãn, trong an phận mà không cần cố gắng, không cần làm giàu kinh nghiệm đạo đức, kinh nghiệm mục tử của mình. Cũng buổi chiều hôm ấy, cha còn dùng chính tấm gương mục tử của Chúa Giêsu để dạy chúng con: Người mục tử phải biết yêu thương, chăm sóc, dạy dỗ đàn chiên. Con chiên nào lạc bầy, người mục tử nhân lành không những đi tìm chúng, nhưng khi tìm được rồi, còn vác chiên lên vai trở về trong niềm vui lớn lao (Lc 15, 5). Cha còn căn dặn chúng con dứt khoát không vướng víu với tiền bạc: “Một linh mục ham tiền không phải là mục tử tốt lành.” Lời của cha còn đó, âm vang mãi trong lòng chúng con. Khoảng thời gian gần hai năm cuối đời, vì biết sức khỏe mình đã yếu, cha vào ở hẳn trong Đại Chủng Viện để được gần gũi với chúng con. Chúng con không thể quên đêm 24.12.1994, trước khi cử hành thánh lễ mừng Chúa Giáng Sinh, cha ngồi trên xe lăn và chúng con đưa cha đi xem hang đá, xem cách trang hoàng chủng viện của chúng con. Và trong giờ canh thức Giáng sinh, chính cha đã ban huấn từ khai mạc. Chúng con nhớ mãi ngày hội thảo chào mừng lễ thánh Cả Giuse, bổn mạng Chủng viện, 20.3.1995, do chính tay cha cắt băng khai mạc. Sáu ngày sau đó, 26.3.1995, chúng con lại kéo nhau đến chúc mừng tuổi linh mục của cha tròn 58 năm. Lần này cha chia sẻ với chúng con về tình yêu Thiên Chúa mà cha cảm nhận. Chính Chúa đã gìn giữ cha, đã dìu dắt cha suốt 58 năm trong sứ vụ tông đồ. Và cha kêu gọi chúng con cùng cảm tạ Chúa với cha. Còn biết bao nhiêu kỷ niệm mà cha đã để lại nơi tâm hồn của mỗi chúng con. Chúng con nhớ từng nụ cười, nhớ từng lời nói, nhớ từng bước đi của cha. Chúng con, những chủng sinh ngày ấy, không quên những tiếng ho nặng nhọc của cha mỗi buổi sáng trên dãy hành lang vào nhà nguyện. Dù sức khỏe đã quá mỏi mòn, vậy mà ngày nào cha cũng dâng thánh lễ với chúng con. Sự hiện diện của cha trong nhà nguyện nhắc nhở chúng con về bổn phận đạo đức, về đời sống cầu nguyện mà mỗi chủng sinh và cả linh mục nữa, phải thủ đắc làm hành trang cho đời tu của mình. Chúng con vẫn biết cuộc ly biệt nào cũng để lại nơi lòng người ở lại những trống vắng và niềm tiếc thương. Sự ra đi của cha ngày ấy, đã làm rất nhiều trái tim rung cảm. Chúng con còn nhớ, trong lễ tang của cha, rất nhiều người đã xúc động và rơi lệ. Nhưng dẫu tiếc thương, người đời chỉ còn biết buông lời cảm thán: thế là hết! Nhưng chúng con cảm nhận rõ ràng chưa hết. Dù đã mười năm, sự hiện diện sinh động của cha như còn phảng phất đâu đây, trong tâm hồn của mỗi chúng con, những chủng sinh ngày ấy. Chúng con xin mượn cách nói của cha mà nói rằng, “cha yêu nhất Chủng viện.” Hình bóng của cha không phai mờ trong chúng con, bởi cha đã yêu chúng con trước, cha yêu nhất kia mà. Thực tế có đau lòng, nhưng trong niềm tin vững chắc vào sự sống đời sau, chúng con cảm nhận một niềm an ủi lớn lao: giờ đây cha đang yểm trợ Giáo Hội, đang bảo vệ đoàn chiên và đang cầu bàu cho chúng con. Chúa đã sai cha ra đi, và Chúa đã gọi cha trở về. Cha đã trung thành với ơn gọi, “đã chạy hết chặng đường và đã giữ vững niềm tin.” (2 Tm 4, 7). Vâng, thưa cha, hạt lúa mì gieo vào lòng đất phải mục thối đi mới sinh nhiều hoa trái. Cha đã khuất. nhưng hoa trái của lòng tin do cha gieo vãi vẫn còn đó và lớn lên. Một lần nữa, nhân kỷ niệm mười năm cha xa cách chúng con, chúng con cúi mình kính chào cha. Mãi mãi chúng con thương nhớ cha, thương nhớ một người cha khả ái, vô cùng khả kính của chúng con. Xin tạm biệt cha. Hẹn gặp cha trên quê trời. Cha nhớ cầu nguyện cho chúng con với.
SỐNG TÂM LINH CỐT TỦY CỦA KITÔ GIÁO Theo ánh mẮT tâm linh
Khổng Nhuận Trước đây, chúng tôi chẳng bao giờ đặt vấn đề cốt tủy của đạo mình. Chúng tôi cứ việc sống như cái máy. Chúa nhật, đi lễ. Reng reng, rước lễ. Trước khi đi ngủ, làm dấu và đọc một vài kinh cho có lệ. Gặp người ăn xin, bố thí một vài đồng. Chúng tôi như một đàn cừu đi lang thang mà chẳng biết mình sẽ đi tới đâu. Nhưng ai mà động tới đạo chúng tôi thì coi chừng nhé, đổ máu là chuyện thường. Vụ xung đột Công giáo - Phật giáo thời ông Diệm là thí dụ điển hình. Chúng tôi sẵn sàng hy sinh chiến đấu cho đạo của mình, nhưng chúng tôi chẳng hề sống đạo, chỉ đơn thuần là giữ đạo thôi. Chính vì thế chuyện Cốt tủy của đạo chúng tôi chẳng quan tâm. Mãi cho tới khi chúng tôi thấy rằng mình cần phải tìm hiểu sâu hơn thì hầu như ai cũng tự nhiên muốn đặt cho mình một câu hỏi rất nghiêm chỉnh: Cốt tủy của đạo mình là gì? Có nhiều câu trả lòi cho câu hỏi quan trọng này - tùy theo những gì người ta khám phá và áp dụng vào cuộc sống đạo của mình. Theo ánh mắt Tâm linh, chúng tôi thiết tưởng rằng: Muốn rút ra được cốt tuỷ Kitô giáo, chúng ta cùng nhau nhìn lại cấu trúc 10 bài nền tảng sống đời Kitô hữu. Cấu trúc 10 bài nền tảng sống đời Kitô hữu. Có 3 phần chính Phần thứ Nhất: Nền tảng của mọi nền tảng sống đời Kitô hữu. Gồm 4 bài. Tình yêu Thiên Chúa: Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. (Ga 3:16) Ngoài ra: Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta. (Rm 5:5). Thêm vào đó: Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa, (2Pr 1:4). Ta thấy đó, Thiên Chúa đã hiến mình cho chúng ta trọn vẹn: Ban con Một, ban Thánh Thần, thong ban Bản tánh Thiên Chúa. Ngài không giữ lại cho mình một điều gì với mong ước chúng ta sống kết hợp nên một với Ngài. Thánh Thần chính là sức sống thần linh, sức mạnh kỳ diệu để nhờ đó chúng ta vượt qua mọi sự cuốn hút của thế gian mà dễ dàng sống kết hợp nên một với Chúa ngay trong lòng mình. Đức Giêsu Kitô là con Chúa Cha, là anh cả của chúng ta và là mẫu gương tuyệt vời trong việc sống kết hợp với Chúa Cha trong Thánh Thần. Người Kitô hữu đồng hình đồng dạng với Anh Cả Giêsu: cũng là con cái của Chúa Cha, là đàn em của Đức Giêsu và noi gương bắt chước Anh Cả sống hiệp nhất với Chúa Cha trong Thánh Thần. Bốn bài đầu này tạo thành một nền tảng vững chắc như một khối đá khổng lồ, vững chắc để xây dựng ngôi nhà tâm linh. Phần thứ Hai gồm 4 bài Người cũ - Người mới: Vẫn biết chúng ta là con cái Thiên Chúa, đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu Kitô. Nhưng thực oái oăm, chúng ta vẫn thấy con người cũ của chúng ta yếu đuối, tội lỗi. Chính vì thế chúng ta mới có dịp ngồi lại với nhau để nhận rõ khuôn mặt của cả người cũ lẫn người mới. Từ đó chúng ta tìm cách để cởi bỏ con người cũ mà mặc lấy con người mới là con người, được sinh ra theo hình ảnh của Thiên Chúa. Cầu nguyện là một phương thế hữu hiệu trong việc thiết lập mối tương quan thân mật với Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta nên chọn cách nào hợp nhất với mình để áp dụng trong cuộc sống thường ngày và sẵng sàng thay đổi phương pháp khác để có thể hiệp nhất với Chúa gắn bó hơn. Đọc Kinh Thánh cũng là một phương thế rất tuyệt vời trong việc đón nhận vào tâm trí mình những lời Thần Khí và là sự sống như một mảnh đất màu mỡ cho Lời Chúa sinh nhiều hoa trái. Từ đó, tâm trí chúng ta đầy ắp tư tưởng của Chúa. Chính tư tưởng này là đèn soi cho chúng ta bước, là ánh sáng chỉ đường cho chúng ta đi trên đường sống đời Kitô hữu đích thực của mình. Dấn thân Loan Báo Tin Mừng: Một khi tâm hồn mình bình an và hoan lạc trong Thánh Thần. Không những tâm hồn mình mà cả cuộc sống của mình biến thành Tin Mừng Sống Động. Chính niềm vui trong Thần Khí Thiên Chúa sẽ thúc đẩy chúng ta náo nức muốn Loan Báo Tin Mừng cho những người khác, tuỳ theo hoàn cảnh trong cuộc sống của mình. Đây cũng chính là việc thực sứ mạng Ngôn sứ mà Thiên Chúa đã trao ngay khi chúng ta còn trong lòng mẹ. Phần thứ Ba Đời sau: Không phải mở ra cho chúng ta một tương lai đen tối âm u buồn thảm hay hy vọng mong manh, nhưng chính là dịp để chúng ta xác tín hơn về giai đoạn sống trong hiện tại. Ngay tại đây và lúc này: điều tâm đắc nhất, mối bận tâm nhất của chúng ta lúc này là sống trong Thánh Thần để cuộc đời kết hợp nên một với Chúa ngày càng hoàn hảo hơn, viên mãn hơn, trọn vẹn hơn. Và chính những giây phút ngọt ngào đó là lúc chúng ta đang hưởng Thiên Đàng ngay tại thế gian đầy dẫy vất vả, khó nguy với chông gai lởm chởm trên đường. Cốt tuỷ Kitô giáo: Tất cả các bài ở trên đều xoay quanh cái tâm như những hành tinh xoay quanh mặt trời. Vầng Thái dương rực sáng ấy chính là chính là Cốt tuỷ của Kitô giáo. 1. Cốt tủy của Kitô giáo là gì? Qua những bài được trình bày Theo ánh mắt Tâm linh, chúng ta đã nhận thấy tư tưởng chủ yếu đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Tư tưởng này thấm đẫm từng trang như muối ướp cho đời thêm tươi, như ánh sáng soi cuộc sống tâm linh thêm rạng ngời; như mật ong hoà vào đời sống đạo thêm ngọt ngào hạnh phúc. Tư tưởng này chính là; Sống trong Thần Khí của Cha để kết hợp nên một với Cha. Tuy ngắn gọn như vậy nhưng thực ra câu này chia thành hai phần rõ rệt: Mục đích: Kết hợp nên một với Cha. Phương thế: Sống trong Thần Khí của Cha. Đây chính là đỉnh cao, là cốt tủy Kitô gíáo hướng dẫn cuộc sống đạo đích thực của người Kitô hữu. Muốn nắm được cốt tủy của đạo, chúng ta phải tìm hiểu sứ mạng của Đức Giêsu và Ngài đã thực hiện sứ mạng đó như thế nào bằng chính cuộc đời của Ngài. 2. Sứ mạng của Đức Giêsu Đức Giêsu xuống thế gian này với mục đích gì? Hầu hết chúng ta trả lời: Dễ ợt, Ngài xuống thế chịu nạn chịu chết trên cây Thánh giá để chuộc tội cho nhân loại, để cứu độ loài người đang sống trong bóng tối sự chết, để đưa mọi người về Thiên đàng là nơi vui vẻ chẳng cùng. Amen. Trước kia, chúng tôi cũng hằng tin như vậy, nên chúng tôi ra sức làm việc lành phúc đức với hy vọng mong manh rằng mình sẽ được cứu độ sau khi giã từ cuộc sống trần gian. Sau này, chúng tôi lại khám phá ra rằng: Ngài xuống trần với một sứ mạnh rất rõ ràng: đó là để mạc khải về Chúa Cha: Thầy sẽ nói rõ cho anh em về Chúa Cha |