|
|
Số 50, Ngày 2-7-2005 Chiếc Lưng Khòm Của Joe - Lm. Mark Link, S.J. Hạnh Phúc và Bình An Nơi Những Tâm Hồn Khiêm Tốn - Lm. Trần Đức Phương Phêrô - Vị Tông Đồ Khiêm Nhường - Trần Duy Nhiên Tránh Tự Mãn Để Hiểu Biết và Kinh Nghiệm về Thiên Chúa Hơn - Nguyễn Chính Kết Một Vài Vấn Đề về Việc Phiên Dịch Thánh Kinh - Joseph Nguyễn An Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng (tt) - Lm. Michet Hubaut – Maranatha dịch Sự Bình Yên - Sưu Tầm Một Người Đứng Thẳng - Trần Duy Nhiên Tâm Tình Cùng Bạn Đọc Thư Bạn Đọc
Kính thưa quý độc giả, “Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, và được Đấng Tạo Dựng ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc - Rằng để đảm bảo cho những quyền này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự ưng thuận của nhân dân - Rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới...” Trên đây là lời nhập đề cho Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, được quốc hội của 13 tiểu bang tiên khởi thông qua ngày 4-7-1776. Bản Tuyên Ngôn này đánh dấu ngày các tiểu bang ở Hoa Kỳ dứt khoát liên hiệp với nhau để không còn lệ thuộc vào nước Anh nữa. Và kể từ đó ngày 7 tháng 4 trở thành ngày Lễ Độc Lập mà người Hoa Kỳ kỷ niệm hàng năm. Thế nhưng những gì linh thiêng nhất cũng dần dần có thể tục hóa. Hiện nay, trên toàn đất nước Hoa Kỳ, chữ ‘July 4’ gần như đồng nghĩa với một ngày hội giải trí và người ta lên kế hoạch vui chơi từ nhiều tuần trước đó. Người ta được bình đẳng để Sống, để Tự Do và để làm tất cả những gì mà mình cho là Hạnh Phúc. Người ta quên mất cụm từ rất quan trọng là sự sống, tự do và hạnh phúc ấy phải đúng với những gì mà ‘mọi nguời... được Đấng Tạo Dựng họ ban cho’. (...they are endowed by their Creator). Và cũng vì thế mà hiện nay sự sống, tự do và hạnh phúc cũng dần dần mang một nghĩa khác, nếu không nói là đã lệch nghĩa. Nhân danh sự sống, vì tự do, vì hạnh phúc của mình, nên mình dễ dàng phá hỏng sự sống, tự do và hạnh phúc của người khác. Thế là con người phải trông nhờ vào luật pháp và rồi bị ràng buộc trong lề luật. Điều trùng hợp, đó là bản Tuyên Ngôn Độc lập của Việt Nam cũng khởi đầu bằng câu ấy; chỉ khác có một điều là cụm từ “endowed by their Creator” được dịch là ‘tạo hóa ban cho họ.’ Cũng vì thế mà sự sống, tự do và hạnh phúc do Chính Phủ tại Việt Nam đề ra không có chỗ cho ‘Đấng Tạo Dựng họ’... Vì thế, Giáo Hội vẫn không ngừng gửi sứ điệp đến mọi chính phủ trên thế giới - không trừ một chính phủ nào - nhằm kêu gọi bảo vệ sự sống, bảo vệ tự do và bảo vệ hạnh phúc của con người. Tiếng nói của Giáo Hội được thốt lên bởi một trong những gương mặt nổi bật nhất trong một phần tư thế kỷ vừa qua là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Vào ngày thứ ba trong tuần lễ này, Ngài đã được dân chúng tung hô một lần nữa tại quảng trường thánh Phaolô: Santo Subito (Thánh tức khắc). Ngày hôm ấy, ngày 28-6, lúc 20g47, tại thánh đường Latêranô, Đức Hồng Y Ruini, Tổng Đại Diện của giáo phận Rôma, đọc lời tuyên thệ của chánh án trong vụ phong chân phước cho Đức Gioan-Phaolô II, một lời tuyên thệ đòi buộc ngài phải thực thi nhiệm vụ này một cách trung thực, phải làm việc trong thinh lặng và hoàn toàn không công: ngài sẽ không nhận bất cứ một quà cáp nào liên quan đến công việc này. Sở dĩ công việc xem xét hồ sơ phong thánh được tiến hành ngay, ấy là nhờ Đức Bênêdict XVI đã miễn 5 năm chờ đợi trước khi khởi sự giai đoạn này, đáp lại nguyện vọng của Dân Chúa qua lời đệ trình của Đức Ông Slawomir Oder, thỉnh nguyện viên của Hồ Sơ Phong Chân Phước cho Đức Cố Giáo Hoàng: Santo Subito. Lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và cũng là lời kêu gọi của Giáo Hội trước tiên là lời kêu gọi của lương tri con người. Cách đây gần 50 năm, ngày 25-6-1956, Giáo sư Bùi Xuân Bào đã từng nói lên điều này tại Florence trong Hội Nghị “Hòa Bình và Văn Minh Kitô giáo”: “Chúng ta xác nhận lòng tin tưởng vào giá trị tuyệt đối của con người, vẫn có thiên mạng bất diệt và sẵn có phẩm giá từ trước khi xã hội được tạo thành... Chúng ta xác nhận rằng thực hiện dân chủ không phải là đi tìm hạnh phúc vật chất, cũng không phải lấy mạnh hiếp yếu. Bản chất của dân chủ là sự cố gắng không ngừng để tìm mọi phương pháp chính trị khả dĩ bảo đảm cho tất cả các công dân quyền tự do tiến triển, phát huy sáng kiến, đảm đương trách nhiệm và sinh hoạt tinh thần đến cực độ.” Nhưng hơn cả là lời kêu gọi của lương tri con người, đó là kêu gọi của Vua Bình An, Chúa Giêsu Kitô. Mà muốn nghe được tiếng của Ngài, thì phải trở nên khiêm nhường bé mọn, như lời Phúc Âm Chúa Nhật tuần này; đồng thời phải trở về với sự thinh lặng của cõi lòng, một sự thinh lặng đầy ắp sự hiện diện của Chúa. Cùng với một bài trình bày về việc diễn dịch Lời Chúa trong Kinh Thánh bằng ngôn ngữ của con người để Lời được dễ dàng đón nhận, Maranatha_50 gửi đến quý vị những bài nói về tinh thần khiêm nhường bé mọn, mà vẫn tiếp tục đào sâu về sự thinh lặng nội tâm, giúp mỗi một người Kitô hữu đi vào cốt lõi của lời nguyện: Maranatha, Lạy Chúa xin ngự đến. MARANATHA
TIN
MỪNG CHÚA NHẬT
Lm. Mark Link, S.J. Chúng ta phải cố gắng đối xử tử tế với kẻ khác giống như chính Chúa Giêsu đã đối xử3 700 năm trước khi Chúa Giêsu chào đời, có một người nô lệ Hy Lạp tên Aesop sưu tập một số mẩu chuyện. Ngày nay người ta gọi sưu tập này là Aesop's Fables (ngụ ngôn của Aesôp). Một trong các mẩu chuyện ngụ ngôn này kể về cuộc tranh cãi giữa mặt trời và gió. Chúng tranh cãi nhau xem cái nào mạnh hơn cái nào. Ngày nọ, một cơ hội xảy đến giúp cả hai dàn xếp được cuộc tranh cãi. Hôm đó có một người mặc áo choàng đang đi trên một con đường quê hoang vắng. Mặt trời nói với gió: "Ai làm cho người ấy bỏ áo choàng ra mau hơn thì người ấy thắng cuộc nhé." Gió ta chẳng những đồng ý mà còn quyết định ra tay trước. "Chàng" ta thổi tới tấp, nhưng càng thổi thì người nọ càng giữ chặt lấy chiếc áo. Cuối cùng kiệt sức gió ta đành phải chịu thua. Lúc đó mặt trời mới ra tay. Gã ta cần giương hết quang vinh của gã ra. Chỉ trong mấy phút, người nọ nóng quá phải cởi áo ra. Aesôp bàn đến phần luân lý câu chuyện trên như sau: "Bạn có thể thành công nhờ sự hiền từ dễ thương hơn là nhờ bạo lực". Ngày nay sự hiền lành dễ thương không còn được đánh giá cao như trước. Trước đây, lời khen ngợi tốt nhất mà bạn có thể trao tặng kẻ khác là gọi họ là người hiền lành dễ thương, như ở bên Anh hay Mỹ, người ta gọi nhau bằng danh từ "gentleman" (người dễ thương). Nhưng ngày nay, bạo lực lại phổ biến hơn hiền lành dễ thương. Truyền hình đã làm cho bạo lực có rất nhiều khán giả bằng những chương trình Nielson rất phổ biến. Ðiều đó gây thiệt hại cho chúng ta. Người ta cảm thấy thích thú vì đã sáng chế ra những từ ngữ như "Battered Woman" (người phụ nữ bị đối xử tàn tệ) và "Abused Child" (đứa bé bị ngược đãi). Gia đình chúng ta cũng phản ảnh phần nào bạo lực của thời đại. Chúng ta la, chúng ta đá vật này quăng vật nọ, và ngay cả đánh đấm lẫn nhau nữa!" Thật là khác với điều Chúa Giêsu dậy dỗ chúng ta biết bao! Chúa Giêsu nói: "Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường thật lòng." Tiên tri Isaia đã tiên báo sự tử tế hiền lành của Chúa Giêsu như sau: "Ngài không la hét, không to tiếng hoặc ăn nói ồn ào ngoài đường phố. Ngài không bẻ gãy cây sậy đã bị giập và cũng không giập tắt ngọn đèn còn leo lét." (Is. 42, 20-3). Một ví dụ bảo vệ sự hiền lành dễ thương của Chúa Giêsu là cách Ngài xử lý trường hợp người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Chúa Giêsu chẳng những dễ thương với người phụ nữ, mà còn dễ thương với cả những kẻ tố cáo chị ta. Những kẻ này tự cho mình là công chính! Chúa Giêsu không la, không quát, không hét, không hò. Ngài chỉ cúi xuống hiền từ dùng ngón tay viết lên cát. Hành vi này giống như tiếng sấm nổ giữa một đêm hè thinh lặng. Chúa Giêsu dạy chúng ta phải hiền lành dễ thương. Ngài khuyên chúng ta bắt chước người mục tử trong dụ ngôn con chiên lạc. Vị ấy không hề đánh đập hay lôi kéo con chiên về nhà mà lại tử tế đặt nó trên vai mình. Chúa Giêsu cũng khuyên chúng ta bắt chước người bố trong dụ ngôn đứa con hoang. Ông bố này đã không quở mắng người con vừa trở về, cũng không cãi cọ với cậu mà chỉ ôm hôn cậu. Joseph Lahey có kể một câu chuyện về chính mình trong tạp chí Guideposts (hướng đạo). Khi còn bé, Joseph bị khòm lưng. Mặc đồ vào, cậu ta trông không đến nỗi tệ, nhưng khi cởi áo ra thì trông cậu thật xấu xí. Joseph rất ghét cái lưng của cậu. Một hôm, Joseph phải đứng xếp hàng ở trường khám bệnh. Cậu rất sợ lúc Bác sĩ bảo: "cởi áo ra!" Và giây phút kinh khủng ấy đã đến. Joseph lúng túng cởi nút áo, tay cậu run run thảm hại. Cuối cùng cậu cởi xong chiếc áo, vị bác sĩ nhìn cậu, và làm một điều rất khác thường. Ông bước vòng quanh bàn, đôi tay to lớn của ông úp lên đầu cậu bé, ông vừa nhìn thẳng vào mắt cậu, vừa dịu dàng nói: "Này con, con có tin vào Chúa không?" Cậu bé trả lời: "Dạ, có ạ!" Bác sĩ nói: "Tốt! con càng tin vào Ngài thì con càng tin vào chính con." Thế rồi cũng bất ngờ như khi biểu lộ sự tử tế của mình, ông còn tỏ ra là một bác sĩ khéo xử nữa. Ông trở lại bàn giấy và viết gì đó trong giấy sức khỏe của cậu, rồi rời căn phòng một chút. Joseph liếc mắt nhìn vào phiếu sức khỏe của cậu. Cậu thắc mắc không hiểu bác sĩ đã viết gì và cậu đang lấy lại bình tĩnh để chờ điều tệ hại nhất, đồng thời cậu nhón chân về phía trước nhìn vào tấm phiếu. Dưới hàng chữ lớn "đặc tính thể lý" ông bác sĩ đã viết: "có cái đầu cân đối khác thường." Joseph không thể nào tin nổi vào mắt mình nữa! Một phút sau, ông bác sĩ quay trở lại. Ông khám thêm một vài điểm trên người Joe, đoạn ông mỉm cười vừa nói: "Tốt lắm! Joseph! Em mặc áo vào và kêu cho tôi em kế tiếp". Sự việc ngắn ngủi ấy trong cuộc đời Joseph xảy ra đã bao nhiêu năm nay, thế mà cậu ta không bao giờ quên được sự dễ thương và những lời khích lệ của ông bác sĩ ấy. Tin Mừng hôm nay chứa đựng một lời mời gọi quan trọng cho tất cả chúng ta. Nó mời gọi chúng ta hãy học với Chúa Giêsu vì Ngài "hiền lành và khiêm nhường thật lòng." Ði vào cụ thể, điều này có ý nghĩa gì đối với chúng ta trong tuần lễ sắp tới. Trước hết là chúng ta nên cố gắng cư xử với tha nhân theo cách mặt trời đã làm trong ngụ ngôn "gió và mặt trời" của Aesôp; chúng ta nên cố gắng đối xử với mọi người bằng sự nồng thắm thực sự. Thứ đến, chúng ta hãy cố gắng cư xử với những kẻ làm hại chúng ta theo cách xử sự của Chúa Giêsu trong trường hợp người phụ nữ ngoại tình, và như cách xử sự của ông bố trong dụ ngôn đứa con hoang đàng. Nghĩa là chúng ta hãy cố gắng cư xử một cách có hiểu biết. Thứ ba, chúng ta hãy cố gắng cư xử với những kẻ đang phải mang những gánh nặng ưu sầu giống như ông bác sĩ đã cư xử với cậu bé tàn tật, nghĩa là chúng ta hãy cố gắng cư xử với họ một cách khéo léo, tế nhị. Ðể kết thúc chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện. Xin anh chị em vui lòng yên lặng hiệp ý với tôi. Lạy Chúa, trong tuần lễ sắp tới, xin giúp chúng con nhớ kỹ bài học trong dụ ngôn gió và mặt trời. Xin giúp chúng con noi gương sự tế nhị của vị bác sĩ trong câu chuyện cậu bé khòm lưng.Xin giúp chúng con thực thi lời Chúa đã nói: "Hãy học với Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường thật lòng.” ● Trích Người Tín Hữu
Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA THÁNG 7 NĂM 2005
NƠI NHỮNG TÂM HỒN KHIÊM TỐN
Lm. Anphong Trần Đức Phương Thiên Chúa soi sáng những điều cao siêu, bày tỏ mầu nhiệm cho những ai có tâm hồn khiêm nhường (Mt 11:25). Phúc cho những ai có lòng khiêm nhường… (Phúc Thật Tám Mối). Trong kinh “Chúc Tụng” (Magnificat), Mẹ Maria nói: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, và nâng cao những người khiêm nhu.” Mẹ Maria đã đuợc Chúa chọn để sinh ra Đấng Cứu Thế, vì Mẹ sống rất khiêm tốn, hòa hợp, yêu thương. Không bao giờ Mẹ nghĩ mình có được diễm phúc cưu mang Đấng Cứu Thế. Trong câu đáp lời sứ thần đến truyền tin, Mẹ thưa: “Tôi chỉ là tôi tớ hèn mọn của Chúa, xin Chúa thực hiện nơi tôi những điều Ngài muốn.” Các vị thánh đều là những người có tâm hồn khiêm nhường, dù giỏi giang, thông thái như Thánh Tiến Sĩ Augustinô, Thánh Tôma Aquinô… Dù ở vào địa vị chủ chăn của Giáo Hôi hoàn vũ, các Đức Giáo Hoàng đều tự xưng mình là “đầy tớ của các tôi tớ” (Servus Servorum). Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, được cả thế giới ngưỡng mộ như một vĩ nhân, một vị thánh, nhưng trong chúc thư để lại, Ngài đã viết cho chúng ta: “Xin mọi người cầu nguyện cho tôi để lòng từ bi bao la của Chúa phủ che những yếu đuối và bất xứng của tôi…” Đức đương kim Giáo Hoàng Bênêdictô XVI, trong lời chào thế giới và các tín hữu khi vừa được chọn lên ngôi Giáo Hoàng, ngài cũng xin mọi người cầu nguyện cho ngài với tâm tình của “một thợ làm vườn nho tầm thường và hèn mọn…” Vậy như những người con nhỏ bé, chúng ta cùng chạy đến với Chúa Giêsu với lòng tín thác cậy trông, để học nơi Ngài bài học khiêm hạ để cùng nhau sống hạnh phúc, hoà hợp và yêu thương. Chính sự khiêm tốn sẽ giúp đem lại sự hoà hợp giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái; nhờ đó gia đình chúng ta sẽ là những gia đình thánh với hạnh phúc ngập tràn, hoà hợp, yêu thương. Chính tinh thần khiêm tốn sẽ giúp chúng ta trở nên những con người xây dựng hòa bình cho nơi nào chúng ta sinh sống, nơi khu xóm, sở làm, trường học. Chúng ta cũng sẽ cùng nhau xây dựng hoà bình cho cả thế giới nếu chúng ta bắt đầu bằng chính sự khiêm hạ của bản thân và trong gia đình mình. Vâng, chúng ta sẽ cùng chạy đến với Chúa Giêsu, như lời Ngài mời gọi trong bài Phúc Âm của chúa nhật hôm nay: “Hỡi những ai đang phải sống lao nhọc và vất vả, hãy đến cùng Ta, hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng và tâm hồn chúng con sẽ được bình an.” (Mt 11:29)●
MỪNG
KÍNH THÁNH PHÊRÔ-PHAOLÔ PHÊRÔ - VỊ TÔNG ĐỒ KHIÊM NHƯỜNG
Trần Duy Nhiên Trong số 12 tông đồ, vị được nhắc đến nhiều nhất là Phêrô. Phêrô đứng đầu danh sách. Người ta thường nghĩ Phêrô là một tông đồ nhiều khuyết điểm nhất, điều đó không hoàn toàn sai, vì Phêrô đã có nhiều hành động hăng hái nhất, đồng thời cũng có nhiều hành động sai lầm nhất. Nhiều người nhìn ông như một con người bốc đồng. Thật ra ông là tông đồ nổi bật nhất, nhiều khả năng nhất, sáng chói nhất. Chúng ta đã nói nhiều về các tông đồ kia để thấy rằng họ là những con người tầm thường, khả năng của họ rất ít: Anrê, em của Phêrô chỉ có khả năng duy nhất là đem từng người đến với Chúa. Yuđa Tađêô là một người thinh lặng, ăn nói khó khăn. Yacôbê Hậu thì sống trong bóng tối, không một ai chú ý đến. Nhưng, những gì họ thiếu thì Phêrô có đủ, Và ngay cả khả năng họ có thì Phêrô lại cũng giỏi hơn họ... Trong nhóm cần một người đứng đầu, người đó phải là Phêrô. Trước khi gặp Chúa, Phêrô đã là người lãnh đạo trong việc chài lưới. Phêrô luôn ra lệnh cho mọi người. Khi trở thành tông đồ, ông nổi bật trong Kinh Thánh: Phêrô là người mở miệng đầu tiên, Phêrô là người hành động trước nhất: ông nóng bỏng, hăng say, tích cực, cực đoan, hướng ngoại. ông là ĐÁ TẢNG, vì: "Thầy bảo anh, anh là ĐÁ".
Nhưng con đường phải đi để trở nên Phêrô, để trở nên ĐÁ, để trở nên vững chắc và cứng rắn, không phải là con đường dễ đi. Đó là con đường hẹp mà Phúc Âm đã vạch ra một cách lý thú...
Phêrô, với tất cả lời nói và hành vi có vẻ đao to búa lớn, lại mang bên trong một tâm hồn nhạy cảm. Phêrô biết rõ lòng mình, và chính lòng khiêm nhường này đã làm cho ông trở nên một vị thánh lớn. Phêrô không sử dụng những khả năng để tìm lợi lộc cho mình, Phêrô cũng biết mình còn nhiều thiếu sót.
Điều này hiện rõ ngay trong lần đầu tiên chúng ta gặp ông: Họ vừa đi chài về, suốt một đêm không có gì, họ mệt mỏi... Chúa Yêsu đến giảng bên bờ hồ Yênêzaret. Giảng xong, Người bảo Simon: "Hãy ra khơi mà thả lưới đánh cá" Dĩ nhiên, ông phản kháng: "Thưa Thầy, suốt đêm chúng tôi đã vất vả mà không bắt được gì..." Rồi ông lại đổi ý: "Nhưng nếu Thầy bảo thế thì tôi thả vậy..." (Lc, 5,4-6) Sau một đêm thất bại, họ lại đi thả lưới,- Và họ đã bắt được một mẻ thật lớn, lớn đến độ lưới rách mất.
Anrê không phải là không xúc động, Yoan thì bị lay chuyển sâu xa, Nhưng Phêrô, trước phép lạ, đã bỏ thuyền, chạy đến sấp mình dưới chân Đức Yêsu mà nói: "Thưa Thầy, xin Thầy hãy tránh xa tôi vì tôi là kẻ tội lỗi" (Lc 5,8)
Phêrô không thể chịu đựng nổi sự hiện diện của Chúa, Lòng ăn năn bộc phát và tức thời này, Lòng khiêm nhường chân thành này, đã biến Phêrô trở nên người thuyền trưởng trên một thuyền chài loại mới, Đó là thủ lĩnh của nhóm 12: "Đừng sợ, từ nay anh sẽ là kẻ chài lưới người." Và suốt đời, Phêrô vẫn thế, Ông là một người khiêm nhường, Và nhờ đó, ông học hỏi được nhiều nơi Chúa, Vì ơn Chúa chỉ ban cho những kẻ khiêm nhường. Chính lòng khiêm nhường này đã cứu ông vì ông cũng phản bội như Yuđa. Nhưng nhờ khiêm nhường mà ông không tuyệt vọng như Yuđa...
Một lần khác, (x. Gl 2,11-15 ), Phaolô chỉ trích ông trước mọi người khi ông đến Antiôkia, Phaolô rầy ông đã làm cớ giả hình cho các tín hữu. [Phaolô, một tông đồ tân tòng, dám khiển trách Phêrô, người cầm đầu Giáo Hội, không phải là nói nhỏ nhẹ mà là làm mất mặt... Chúng ta tưởng tượng ra một vị Giáo Hoàng bị một vị Giám Mục mới thụ phong nào đó khiển trách như thế...]
Thế mà Phêrô thinh lặng, Phêrô không tự bào chữa lấy một tiếng, Ông biết rằng ông sai, ông không chống chế...
Cuối đời, ông viết lá thư thể hiện lòng nhu mì của mình, Ông nói rằng ông không bao giờ quên là ông đã được tha thứ: "Hãy kết hợp Đức Tin với nhân đức hiểu biết, nhịn nhục, kiên nhẫn, sốt mến và yêu thương... Ai thiếu các điều ấy là kẻ đui mù, không thấy xa, Vì kẻ ấy quên mình được tẩy xóa khỏi tội lỗi xưa kia..." (2 Phêrô 1,5-9) Người nào khiêm nhường vì nhớ tới bản chất tội lỗi của mình, người đó sẽ được Chúa làm cho vững mạnh. Đấy là con đường để trở nên ĐÁ TẢNG.
Phêrô đã sa ngã thường xuyên, sa ngã thậm tệ. Khi không được thần hứng là ông rơi vào tình trạng thiếu sót yếu hèn. Ví dụ như lần các môn đệ ở trên thuyền trong một đêm sóng lớn, bỗng dưng, họ thấy "một bóng ma" đi trên mặt biển về hướng họ. Cả Phêrô cũng kinh sợ và kêu lên. “Bóng ma" ấy nói với họ: "Yên chí, chính Thầy đây, đừng sợ." (Mt 14,27) Thầy của họ đến đấy ư? Phêrô không dám tin điều đó, điều mà Thầy đang làm... Nhưng vốn tính bốc đồng, ông nghĩ rằng mình cũng làm được như thế, nếu như Thầy muốn. Nếu quả thật là Thầy thì chính ông cũng bước đi được trên mặt nước như Thầy: "Thưa Thầy, nếu thật là Thầy, hãy truyền cho con đi trên nước mà đến với Thầy." Chúa bảo: "Hãy đến đây." Và Phêrô bước xuống nước không suy nghĩ, vụt chạt. Bất chợt, ông ý thức được việc ông đang làm: "Đi trên nước, chuyện lạ đời, Chưa bao giờ thấy, chưa bao giờ nghe, không hợp lý tí nào." Và bỗng ông đâm sợ. Thế là ông chìm xuống nước ngay. Ông la lên: "Thưa Thầy, xin cứu con" Chúa Yêsu đã đỡ ông và đưa ông về thuyền. Phêrô đã tin tưởng trước hết, Phêrô cũng sa ngã trước hết.
Con người bộc trực đó đã tuyên xưng Đức Tin không đắn đo. Ngày mà Chúa hỏi các tông đồ một câu chủ yếu: "Còn anh em, anh em nghĩ Thầy là ai ?" (Mt 16,15-23) Phêrô mở miệng ngay, trả lời không do dự: "Thầy là Đấng Messia, Con Thiên Chúa Hằng Sống." Chúa Yêsu cho mọi người biết rằng Câu nói đó không từ con người Phêrô, nhưng từ Thiên Chúa mà ra: "Không phải thịt máu đã mạc khải cho anh, mà Cha Thầy, Đấng ngự trên Trời..." Rồi Chúa Yêsu nói thêm: "Anh là Phêrô, là Đá, trên Đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội Thầy, Và quyền lực âm phủ sẽ không thắng nổi." (Mt 16,10) Người vừa tuyên bố cho Simon Phêrô biết ông là Đá thì Tảng Đá ấy... nát ra thành cát. Chúa Yêsu nói cho các tông đồ nghe về cuộc thương khó của Người: Người sẽ phải chịu đau khổ và sẽ bị giết. Phêrô không tin và lên tiếng: "Thưa Thầy, chuyện ấy đâu có thể xảy ra với Thầy được..." Chúa Yêsu đã phải nặng lời với ông: "Xéo đi đằng sau Ta, hỡi Satan, Ngươi là cớ vấp phạm cho Ta, Vì ý tưởng ngươi không phải ý tưởng của Thiên Chúa, mà là ý tưởng của loài người..." (Mt 16,21-23)
Đấy, con người của Phêrô là như thế: Vài phút trước, ông được Thiên Chúa cảm hứng, Vài phút sau, ông là dụng cụ của Satan. Ông đã sa ngã biết bao lần trước khi trở nên Đá Tảng rắn chắc...
Sau ba năm theo Chúa, ông tự cho rằng: Ông có quyền nghĩ rằng mình đã vững chãi, Ông có thể mang tên Đá mà không mắc cỡ, Ông cảm thấy mạnh mẽ, vững vàng trong Đức Tin. Bây giờ thì không còn gì có thể lay chuyển Phêrô, ông xứng đáng là thủ lĩnh nhóm 12 tông đồ. Thế nên, ông cảm thấy chạm tự ái khi nghe Chúa Yêsu nhắc lại lời Kinh Thánh: "Anh em sẽ bị vấp ngã hết thảy bởi đã viết: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên và chiên sẽ tán loạn." (Mt 14,27-31).
Nghe vậy, Phêrô liền thách thức:"Dầu cho mọi người đều sẽ vấp ngã, nhưng con thì không." Ông sẽ không bao giờ chối bỏ Chúa. Dù cho có chuyện gì xảy ra đi nữa, ông cũng sẽ không là kẻ đào ngũ. Ông dứt lời, Chúa quay về phía ông, nói dịu dàng nhưng quả quyết: "Thầy bảo anh, chính anh, hôm nay, nội đêm nay, trước lúc gà gáy hai lần, anh sẽ chối Thầy ba lần." Điều này làm ông bực tức. Ông hiểu là ông nói gì chứ. Ông quả quyết lặp lại: "Dù phải cùng chết với Thầy, con cũng sẽ không chối Thầy." Vâng, tảng đá này quyết không sụp đổ...
Thế nhưng, chuyện gì xẩy ra đêm hôm ấy ? Chúng ta vẫn còn nhớ rõ... Đêm hôm ấy, không ai bắt ông phải chết với Chúa, không có một quyền bính nào tra hỏi, chỉ có mấy người đầy tớ của vị Thượng Phẩm hỏi gặng bâng quơ, hai nữ và một nam. Họ nói: "Người này cũng ở trong nhóm..." Thế là ông chối luôn ba lần. Ông thề bán mạng: “Tôi không biết người ấy.”
Ôi Đá Tảng! Ôi Phêrô! Ông đã nói lời can đảm trước đó, Ông đã quả quyết sẽ không chối bỏ Thầy, Thế mà bây giờ....
Gà cất tiếng gáy, ông sực nhớ lại lời Thầy ! Luca nói rõ: “Ngay lúc ấy, ông còn đang nói, thì gà gáy, Và Chúa quay lại nhìn Phêrô.” (Lc 22, 60) Chúa Yêsu xuất hiện cùng với tiếng gà gáy. Những lời nhắn nhủ đầu hôm tràn về trong ký ức ông... Ngay lúc ấy... trên bậc thang dinh thượng tế, Chúa Yêsu bị xỉ vả, bị đánh đòn, bị xử án, Người nhìn thẳng xuống. Phêrô ngước mắt nhìn lên, mắt ông gặp mắt Chúa: Người đã biết hết !... Phêrô không chịu đựng nổi nữa, ông cắn chặt môi, nước mắt tuôn trào, Phêrô chạy ra khỏi pháp đình, ra khỏi cổng, đi cho khuất... Tâm hồn Phêrô nặng trĩu, cảm xúc dâng trào, Ông đã bổ vụn ra như thanh gỗ mục, Đá đã tan thành cát...
Đêm hôm đó, một biến cố xảy ra trong lòng Phêrô: một biến cố trọng đại, một biến cố khiến ông thay đổi, một biến cố khiến ông trở lại. [nếu chúng ta có thể dùng chữ "trở lại"đối với một tông đồ] Một cái gì đó đã chết trong ông, Vâng, đã chết rồi, niềm tự hào, tự mãn, tự tin quá mức, sự lên mặt vênh váo, sức mạnh mà ông tự gán cho mình. Ông đã ngỡ mình là Đá, không có gì lay chuyển nổi ư ? Khôi hài thay, ông là cát bụi, ông đã rõ mình chỉ là cát bụi...
Không biết ông có được Chúa tha thứ không nhỉ ? Ông nhớ mồn một câu nói của Chúa: phải tha thứ 70 lần 7, Thế nhưng, về phần ông, ông có thể tự tha thứ cho mình không ? Ông ngủ không yên, ông ăn không ngon, ông gặm nhấm tội lỗi của mình.
Thế rồi, Chúa sống lại, Phêrô chạy vội đến ngôi mồ trống cùng với Yoan. Phêrô còn nghe những người khác thuật chuyện.
Rồi các tông đồ được gặp Chúa, Còn Phêrô thì đứng đó thinh lặng, không dám mở miệng vui mừng. Ông vốn là con người nông nổi, thích nói lớn tiếng, bây giờ thì ông cúi đầu câm lặng...
Rồi đến ngày ông về lại Galilê, Ông trở về với thuyền chài mảnh lưới trên hồ Yênêzaret. Ông trở về quê quán xưa kia, trở về với con đường cũ, nếp sống cũ, để cố quên những dày vò, để cố quên đi lần vấp ngã...
Đêm hôm ấy, ông và các bạn không bắt được con cá nào như lần đầu tiên gặp Chúa. Có một người đứng đó, ở bên bờ hồ, Người ấy bảo đem lưới tung sang bên phải mạn thuyền, họ đã thi hành và bắt được mẻ cá nhiều vô kể. Tới khi ấy thì Yoan thốt lên: "Chính Thầy đó." (Ga 21,1-7) Phêrô choáng váng, ông phóng mình xuống nước bơi vào bờ. Thầy đã nhóm ngọn lửa, bảo họ lấy cá đem nướng. Phêrô vội vã thi hành, không dám nói một lời. Sau bữa ăn, Chúa phá vỡ bầu khí thinh lặng. Người quay về Phêrô: "Simon, con của Yona, anh có yêu Thầy hơn những người này không?" [Chúng ta lưu ý thấy Chúa gọi ông bằng tên riêng chứ không gọi bằng tên Chúa đã đặt cho ông hôm nào: Phêrô-Đá...] Phêrô cảm thấy nhói đau trong lòng, Ông còn quyền để nói rằng ông có yêu Thầy không ? Làm sao có thể nói gãy gọn khi ông đã lỡ chối bỏ Thầy mình? "Thưa Thầy, Thầy biết..." Phêrô chỉ xác nhận điều ấy, ông không nói láo được. Người đời có thể khinh bỉ ông, người đời không thể chấp nhận được là ta có thể đồng thời tin tưởng và phản bội, yêu thương và chối bỏ. Vâng, người đời không biết nhưng Thiên Chúa biết. “Thưa Thầy, Thầy biết rằng con yêu mến Thầy." Chúa Yêsu quay về phía Phêrô lần nữa, lập lại câu hỏi: "Simon, con của Giona, anh có yêu mến Thầy không ?" Ông đã quay lưng, đào ngũ, chối Chúa, Làm sao ông có thể nói rằng ông yêu Chúa? "Thưa Thầy, Thầy biết rằng con yêu mến Thầy." Rồi lần thứ ba, Chúa hỏi lại để nghe lời tuyên xưng tình yêu của kẻ Chúa yêu thương nhiều nhất vì đã vấp phạm nhiều nhất: "Simon, con của Giona, anh có yêu Thầy không?" “Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự, Thầy biết rằng con yêu mến Thầy."
Ba lần ông chối Người, Ba lần Người cho ông cơ hội để nhắc lại tiếng nói yêu thương, để tuyên xưng lòng tin của mình. Không một lời rầy la, không một lời trách móc, không một lời buộc tội, Chỉ là cơ hội để xác định lại mối dây liên hệ yêu thương. Đấy là Ơn Chúa xuống trên những kẻ khiêm nhường...
Anh Phêrô ơi, anh buồn khi thấy Chúa hỏi anh lần thứ ba, Chúng tôi không nghĩ anh buồn vì Chúa không tin lời anh nói, Anh biết Chúa tin anh chứ, nhưng anh vẫn buồn... vì trước tình yêu vô bờ đó, anh đã có lần sợ hãi đến phủ nhận. Chúng tôi chắc hẳn anh sẽ òa lên khóc nếu sau bao ngày anh ăn năn, anh vẫn còn có được nước mắt, vì có lần nghe đoạn Phúc Âm này chúng tôi cũng đã khóc òa... Thế rồi, Chúa nhắn nhủ Phêrô trong sứ vụ mới: "Hãy chăn giữ chiên Thầy." Phêrô được sai đi đến Giêrusalem, trở về chính nơi ông đã vấp ngã, và giờ đây ông có đủ khiêm nhường để không phản đối Chúa nữa. Ông vâng lời trở lại Yêrusalem, và ở đó, lần đầu tiên, ông đã rao giảng giữa những người đã giết chết Thầy mình. Ông dùng khả năng của mình để đem về cho Chúa 3000 tín hữu sau một bài giảng duy nhất. Ông phải đối diện với gian nguy, bắt bớ. Trước kia ông run sợ trước câu hỏi của một cô đầy tớ. Giờ đây ông đối diện với đám đông mà không hề run rẩy. Tảng Đá bắt đầu kết tinh... Và sau này, mỗi lần ông ở bên bờ sa ngã thì sự hiện diện của Thầy lại kéo ông về thực tế... Câu chuyện truyền kỳ về những ngày cuối đời của ông chắc hẳn chứa đựng ít nhiều sự thật. Ông đến Rôma trong thời kỳ bắt đạo. Ông chứng kiến một số người tử đạo và ông đã sợ hãi bỏ ra ngoài mà trốn. Ra khỏi thành, ông gặp một người vai mang thập giá đi về phía Rôma.Ông hỏi: "Quo Vadis?" nghĩa là "Người đi đâu đó?” Người ấy trả lời: "Thầy vào Rôma thay con để cho người ta đóng đinh một lần nữa." Phêrô chợt hiểu, ông vội vã quay lại, trở vào Rôma và chịu tử đạo tại đấy... Lòng khiêm nhường của Phêrô, Lòng kính mến Chúa của Phêrô, Kinh nghiệm về ơn tha thứ của Chúa, Tất cả đã kéo ông trở lại với tình yêu... Ông đi bất cứ nơi nào Chúa muốn đưa ông đi, dù nơi đó là Rôma, dù nơi đó là cái chết, dù nơi đó là thập giá. Và truyền thống cho ta biết rằng ông tự nhận không xứng đáng được đóng đinh như Thầy nên đã xin được chết trên thập giá trở ngược, đầu quay xuống đất. Ông đã thực hiện Lời Chúa tiên báo: "Khi về già, anh sẽ giang tay ra và người khác sẽ thắt lưng cho anh và lôi anh đi đến nơi mà anh không muốn." Chúa đã nói như thế để ám chỉ Phêrô phải chết thế nào mà tôn vinh Thiên Chúa. (Ga 21,18-19)... Cuối cùng, Tảng Đá của Giáo Hội đã được kết tinh. Cuối cùng Phêrô đã hiểu được rằng: Hiến Thân vì Chúa là Lãnh Nhận, Nô Lệ cho Chúa là Tự Do, Và Chết với Chúa là Sống Mãi...●
TRÁNH TỰ
MÃN ĐỂ HIỂU BIẾT
Nguyễn Chính Kết 1. Muốn đạt chân lý, phải dấn thân trọn vẹn cho chân lý Một nhà thông thái nọ đến xin một đạo sư truyền đạo cho mình. Đạo sư bèn lấy trà ra để tiếp khách. Nhưng ông làm một điều rất kỳ lạ: nước đã đầy và tràn ra mà ông vẫn cứ rót tiếp. Người khách ngạc nhiên hỏi ông tại sao lại làm như vậy. Đạo sư đáp: «Tâm hồn và lòng trí ông cũng đầy ắp như tách trà này rồi, làm sao chứa thêm những chân lý về đạo được nữa?» Kinh nghiệm cho tôi thấy: một khi lòng trí tôi mải miết lo chuyện gì, thì tôi không thể mải miết với chuyện khác được, nhất là những chuyện có tính chất trái ngược với chuyện tôi đang mải miết say mê. Đó là một định luật tâm lý rất phổ quát. Cũng vậy, một người đang say mê những chuyện trần tục, những chuyện tầm thường, người ấy khó có thể nhập tâm và hiểu được những chân lý siêu việt của tôn giáo. Vì muốn hiểu và cảm nghiệm được những chân lý này, con người phải dấn thân trọn vẹn cho chân lý. Chân lý tôn giáo giống như viên ngọc quý hay kho báu dấu trong ruộng, phải bán hết tất cả những gì mình có mới mua được (x. Mt 13,44-46). Đối với những ai trong lòng đang đầy ắp «cái tôi» vị kỷ của mình cũng vậy, lòng trí họ không còn chỗ nào cho Thiên Chúa hay Đức Giêsu sống và hoạt động trong họ nữa. 2. Phá chấp, phá «sở tri chướng» Học sinh cấp một được cô giáo dạy: không được lấy số nhỏ trừ số lớn, vì không thể có 3 trái cam mà lại ăn hết 5 trái được. Với trí óc của em, điều đó hoàn toàn hợp lý, không thể khác được. Nhưng nếu em cứ cố chấp với kiến thức hạn hẹp ấy, em sẽ không thể chấp nhận khái niệm về số âm khi em bắt đầu học cấp 2, coi việc lấy số nhỏ trừ số lớn là chuyện bình thường. Cũng vậy với các học sinh cấp hai. Các em được dạy rằng trong căn hiệu bậc hai không thể có số âm, vì số trong căn hiệu được giả thiết là bình phương của một số, mà đã là bình phương thì không thể là số âm được. Đối với trình độ cấp 2 của các em, điều đó thật hợp lý, và không thể khác hơn được. Nhưng nếu các em cứ cố chấp với kiến thức cố hữu này, các em sẽ không thể chấp nhận được khái niệm về số ảo được dạy trong chương trình giải tích ở đại học, cho phép có số âm trong căn hiệu bậc chẵn. Còn nhiều thí dụ khác tương tự trong lãnh vực toán học, vật lý, hóa học, sinh học… Tương tự, với những kinh nghiệm và kiến thức trần gian, nếu cứ chấp vào đó, người ta không thể hiểu được những chân lý cao sâu về tâm linh trong tôn giáo. Cứ chấp cứng vào những quan niệm hay lề lối suy tư của tôn giáo này, ta sẽ vô phương hiểu được quan niệm hay lề lối suy tư của các tôn giáo khác. Hoặc cố chấp vào những điều mà ta cho là chân lý bất biến ở trình độ này, ta không thể tiếp thu được những chân lý ở trình độ cao hơn. 3. Ai tự mãn với những gì mình đã biết sẽ không thể biết thêm Cái lý tất yếu ấy, Đức Giêsu đã nói đến: «Lạy Cha, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho các bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn» (Mt 11,25). «Các bậc khôn ngoan thông thái» ở đây không có nghĩa là những người khôn ngoan thông thái đích thực, mà đúng hơn là những kẻ tự mãn với sự thông thái của mình, cho rằng sự hiểu biết của mình đã viên mãn, tràn đầy, không cần phải học hay tìm hiểu thêm gì nữa. Một người tuy dốt nát hiểu biết không hơn ai, nhưng lại tự mãn về sự hiểu biết của mình, cũng được liệt vào hạng này. Họ giống như tách trà đã đầy ắp tới miệng, không thể chứa thêm giọt nước nào nữa. Còn «những người bé mọn» ở đây không có nghĩa là những người nhỏ bé, địa vị thấp kém, ít học hành, ít kiến thức, mà có nghĩa là những người tự cho mình là còn biết rất ít, hoặc chưa biết gì cả. Những người này bao gồm cả những người hết sức thông thái nhưng không cho rằng mình biết tất cả, vẫn sẵn sàng lắng nghe và học hỏi nơi người khác. Tâm hồn họ như một ly chưa đầy, sẵn sàng đón nhận những gì từ ngoài vào. Hai hạng người trên, với thời gian, hạng thứ nhất – tự mãn với những hiểu biết của mình – sẽ không tiếp nhận thêm được gì nữa, nên dần dần sẽ bị lạc hậu khi sống trong một thế giới hay xã hội ngày càng tân tiến. Họ cho rằng những điều họ từng tiếp thu được đã viên mãn, trọn vẹn, là những chân lý bất biến rồi, nên không thể chấp nhận điều gì khác hay ngược với những kiến thức ấy. Họ cố chấp với những hiểu biết ấy, nên không thể tiến xa và lên cao hơn được nữa. Họ như một học sinh cấp một, cứ nhất định rằng không thể lấy số nhỏ trừ số lớn được, nên từ chối không học cấp hai, vì không chấp nhận được khái niệm về số âm. Phật giáo gọi sự cố chấp này là «sở tri chướng», nghĩa là chính sự hiểu biết của mình là chướng ngại cản trở mình hiểu biết thêm. Còn hạng thứ hai, cho dù hiểu biết nhiều tới đâu, vẫn cảm thấy mình còn rất nhiều điều chưa biết, và những gì mình đã biết còn rất phiến diện, thiếu sót, nên không tự mãn mà khao khát và sẵn sàng học hỏi thêm. Vì thế, họ vẫn còn khả năng tiếp thu thêm những điều mới lạ. Socrate, một triết gia lỗi lạc thời thượng cổ, nói: «Điều tôi biết chắc chắn là: tôi không biết gì cả». Những người có thái độ như ông, cho dù có thông thái tới đâu, cũng là «những kẻ bé mọn» mà như Đức Giêsu nói, sẽ được Chúa Cha mặc khải cho những chân lý quan trọng. 4. Bé mọn trong đời sống tâm linh Để hiểu biết về thế giới vật chất hữu hạn này mà người ta đã phải phá chấp không biết bao nhiêu lần mới có thể tiến bộ và lên cao hơn cấp độ mình đang có. Để hiểu được một giả thuyết khoa học mới, phải chấp nhận giả thuyết cũ là còn thiếu sót. Vật chất hữu hạn mà còn vậy, huống hồ Thiên Chúa vô hạn, siêu việt, siêu nghiệm, không bao giờ hiểu cho hết được! Vì thế, để hiểu biết về Thiên Chúa, nếu ta cứ tự mãn hay cố chấp vào những hiểu biết cũ thì ta sẽ ở mãi trong trình độ thấp kém của mình, không thể tiến xa hơn được. Đúng ra càng sống đạo lâu, sự hiểu biết, khám phá và kinh nghiệm về Thiên Chúa của ta càng phải mới lạ, sâu xa và phong phú hơn. Thánh Phaolô viết: «Với thời gian, lẽ ra anh em phải là những bậc thầy, thế mà anh em lại cần phải để cho người ta dạy anh em những điều sơ đẳng về các sấm ngôn của Thiên Chúa: thay vì thức ăn đặc, anh em vẫn còn phải dùng sữa. Thật vậy, phàm ai còn phải dùng sữa, thì không hiểu gì về đạo lý liên quan đến sự công chính, vì người ấy vẫn là trẻ con. Thức ăn đặc thì dành cho những người đã trưởng thành, những người nhờ thực hành mà rèn luyện được khả năng phân biệt điều lành điều dữ» (Dt 5,12-14). Khi còn nhỏ, ta chỉ có thể ăn sữa, và ăn sữa là đủ để ta sống. Nhưng khi lớn lên, thức ăn lỏng như sữa không cung cấp đủ năng lượng cần thiết để ta sống và sinh hoạt. Cũng vậy đối với đời sống tâm linh. Khi mới bước vào đời sống tâm linh, ta cần dùng một thức ăn tâm linh sơ đẳng: chẳng hạn ta cầu nguyện bằng những lời kinh đã dọn sẵn, nhờ đó ta tập nói chuyện với Chúa. Và lúc đó thức ăn tâm linh đó đủ cho sự sống tâm linh còn non nớt của ta. Nhưng nếu ta không nâng cấp cách cầu nguyện ấy lên, tâm linh ta không thể lớn lên được. Cách cầu nguyện đơn giản ấy không đem lại đủ sức mạnh để ta chu toàn những phận sự ngày càng khó khăn và nặng nề hơn của ta, không giúp ta vượt qua được những trở ngại lớn lao mà ta gặp trên đường đời, và thắng được những cơn cám dỗ mạnh mẽ. Ta cần thực tập những cách cầu nguyện cao hơn: cầu nguyện tự phát bằng chính những tâm tình có thật, những nhu cầu có thật của ta. Hoặc cao hơn nữa, cầu nguyện bằng cách ý thức sâu xa sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn ta, bằng cách lắng nghe Chúa nói trong đáy lòng ta, bằng sự kết hiệp thân mật với Thiên Chúa… Những cách cầu nguyện cao cấp đem lại cho ta nhiều sức mạnh, nhiều niềm vui hơn, nhờ đó ta có nhiều kinh nghiệm về Thiên Chúa hơn… Nếu ta tự mãn với tình trạng tâm linh hiện tại của ta, đời sống tâm linh của ta không thể lớn lên và mạnh mẽ được. Trái lại, nếu ta nhìn nhận rằng ta cần phải tiến bộ nhiều hơn, sẵn sàng đón nhận những hiểu biết và kinh nghiệm mới mẻ về Thiên Chúa, những cách thức sống đạo mới hơn, cao hơn, thực tế hơn, bớt hình thức mà đi vào chiều sâu hơn, thì ta sẽ thấy mình dần dần tiến cao hơn, và dễ dàng sống thánh thiện, vị tha, hy sinh cho Thiên Chúa và tha nhân hơn. Nếu cá nhân cần phải loại trừ tính tự mãn mới tiến bộ được, thì các tập thể, kể cả quốc gia, tôn giáo, cũng phải như vậy. Tâm hồn ta sở dĩ thường nặng trĩu những âu lo, phiền muộn là vì ta đã đặt nặng «cái tôi» của mình nhiều quá. «Cái tôi» của ta đã chiếm hết không gian tâm thức của ta, và gây ra biết bao xáo trộn, xung đột với tha nhân, với lương tâm, với bổn phận, tạo nên bao phiền muộn, lo lắng, sợ hãi… Cái ách của «cái tôi» thật nặng nề. Ta hãy mang lấy ách nhẹ nhàng của Đức Giêsu, bằng cách «từ bỏ mình», là điều kiện đầu tiên mà Ngài đòi buộc những ai theo Ngài phải thực hiện. Từ xưa đến nay, nhiều khi ta chỉ mang danh theo Chúa thôi, chứ thực tế ta chưa hề theo Ngài bao giờ, vì ta chưa hề «từ bỏ mình». Ta vẫn coi «cái tôi» của mình quan trọng quá mức! Ai nói động đến ta là ta nổi cơn tam bành lên. Xin Chúa giúp ta hiểu rằng điều kiện tiên quyết để theo Ngài là từ bỏ chính «cái tôi» của ta. Nhờ thế, khi theo Chúa đích thực, tâm hồn ta luôn được bình an, hạnh phúc và tràn đầy sức mạnh●
THAO THỨC MỘt sỐ VẤn ĐỀ VỀ Phiên DỊch Thánh Kinh
Joseph Nguyễn An Nhóm phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ (CGKPV) tại Việt nam vừa cho phát hành hai cuốn sách giá trị, “Bốn Sách Tin Mừng” (BSTM) và “Đối Chiếu Bốn Sách Tin Mừng” (ĐCBSTM). Sách BSTM in bìa mỏng, giấy trắng, còn ĐCBSTM in bìa cứng, chữ mạ vàng, trông không thua gì các sách ấn hành tại ngoại quốc. Cầm sách trong tay, phải tạ ơn Chúa và cảm phục công trình của những người phiên dịch. Ai đã từng làm công tác dịch thuật đều biết đây là là một công việc công phu và vất vả. Dịch Thánh Kinh lại là một việc đòi hỏi nhiều thì giờ và công sức hơn. Đây không phải là một việc làm ngẫu hứng của một cá nhân nhưng là một công trình tập thể, của nhiều chuyên viên về Kinh Thánh, thần học, khảo cổ, văn hóa, mục vụ, ngữ học, văn chương, âm nhạc …Việc này đòi hỏi cá nhân những người tham gia, cộng tác làm việc trong Nhóm Phiên Dịch phải chấp nhận những nguyên tắc làm việc chung. Theo nguyên tắc này, công việc cá nhân đôi khi tưởng được dễ dàng vì có thêm người cộng tác, hóa ra khó khăn hơn vì phải quên ý riêng của mình để làm việc trong tinh thần dân chủ và tôn trọng khả năng của người đối tác, của cả nhóm để có thể hình thành một công trình chung có ích lợi cao nhất, tốt nhất cho tập thể và cộng đồng dân Chúa khi sử dụng bản dịch. Làm việc cá nhân cứ theo ý mình suy là đúng, nghĩ là hay và rồi thì in ấn, phát hành. Trái lại, khi làm việc chung tuy có điều tốt là được học hỏi thêm điều hay ý lạ nơi những người cùng làm việc, nhưng nhiều khi phải hy sinh điều mình đã từng nghĩ là đúng, những điều mình xác tín đã ở với mình bao nhiêu năm, thậm chí suốt đời. Cũng như các sách tôn giáo in và được phát hành trong nước, các sách của CGKPV phải có giấy phép của chính quyền, và hẳn nhiên giáo quyền xác nhận, cho phép. Dưới hàng chữ Nihil Obstat và Imprimatur có thêm ghi chú: 1. Việc cho Nihil Obstat và Imprimatur Bản Dịch Đối Chiếu Bốn Sách Tin Mừng là xác nhận nội dung không có gì sai lạc về đức tin và phong hóa. Điều đó không có nghĩa là đồng ý hoàn toàn với những nội dung cũng như cách dịch đã được diễn tả. 2. Việc cho Nihil Obstat và Imprimatur Bốn Sách Tin Mừng (với phần chú giải) không có nghĩa là bản dịch này được dùng trong phụng vụ. Những ghi chú này làm cho một số người không rõ vấn đề thắc mắc, nhưng thực ra, nếu tìm hiểu chúng ta biết rằng, trong các bản dịch sách đạo, dù là sách Thánh Kinh, vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về cách dùng từ, câu cú, cách thức diễn tả và việc chọn văn bản gốc. Hơn nữa, trong những sách Thánh Kinh có ghi chú, phần bình luận của các dịch giả có khi rất khác nhau vì đi theo những cách bình luận và thông diễn khác nhau. Một điều cũng nên biết là các văn bản Thánh Kinh có thể khác với văn bản dùng trong phụng vụ. Bản dịch Thánh Kinh để học hỏi có thể chấp nhận câu văn hơi khô khan, gượng ép nhưng đi theo văn bản gốc, rồi kèm ghi chú dài dòng. Bản văn phụng vụ trái lại, chỉ có cơ hội đọc lên một lần và tiếp theo ngay những câu, chương kế tiếp, không có chỗ cho ghi chú, mở ngoặc. Thời gian trước đây, nhiều nơi tại Việt nam cũng như tại hải ngoại thấy bản dịch của Nhóm CGKPV hay nên đã sử dụng trong Phụng Vụ. Nhưng có hai vấn đề được nêu ra: a) Chưa có bộ bài đọc mới, chính thức trong thánh lễ, có lẽ một phần vì không có ngân quỹ, một phần vì chưa hay không có ban chuyên môn để thẩm định. b) Bản dịch của nhóm CGKPV không (chưa) được đưa vào phụng vụ, ấy là vì chưa có sự đồng nhất quan điểm giữa các cơ quan có thẩm quyền và nhóm. Tuy thế, những vấn đề này có lẽ phức tạp hơn những lời ra tiếng vào trên mặt nổi. Mặc dù bản dịch sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ dành cho các nam nữ tu sĩ dùng trong các giờ Kinh Nguyện cũng như các sách Tin Mừng Cựu và Tân Ước đã được sử dụng từ trong nước cho đến hải ngoại, cộng đồng dân Chúa, giáo xứ cộng đoàn, các trang báo điện tử, mạng lưới toàn cầu của người Việt Nam đa số sử dụng bản dịch của Nhóm CGKPV từ nhiều năm nay; nhưng đồng thời, cũng đã nghe đây đó, được đọc một số bài vở viết về Nhóm và các bản dịch của Nhóm trên một số tạp chí đạo đời. Nhiều tác giả ít nhiều đã từng phê phán Nhóm, phê bình từ bản dịch Kinh Nguyện đến Lễ Quy Rôma (thực ra là của Ủy ban Phụng Tự), rồi đến cả toàn bộ bản dịch Kinh Thánh. Nói cho đúng, trong bất cứ công việc nào, dù của cá nhân hay công trình của tập thể, vẫn rất cần những phê bình nhận xét giúp cho công trình hoàn thiện. Hơn nữa, đây là bản dịch Thánh Kinh, mà Lời Chúa thì bất diệt thiên thu nhưng lại sống động nơi con người và qua thời gian, văn hoá, quốc gia; hẳn người phiên dịch đều biết những nguyên tắc này để hoàn chỉnh hơn theo thời gian. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ xin được nêu lên một số vấn đề, và mong |