Số 50, Ngày 2-7-2005

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Chiếc Lưng Khòm Của Joe - Lm. Mark Link, S.J.

Hạnh Phúc và Bình An Nơi Những Tâm Hồn Khiêm Tốn - Lm. Trần Đức Phương

Phêrô - Vị Tông Đồ Khiêm Nhường  - Trần Duy Nhiên

Tránh Tự Mãn Để Hiểu Biết và Kinh Nghiệm về Thiên Chúa Hơn - Nguyễn Chính Kết        

Một Vài Vấn Đề về Việc Phiên Dịch Thánh Kinh - Joseph Nguyễn An

Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng (tt) - Lm. Michet Hubaut – Maranatha dịch

Sự Bình Yên - Sưu Tầm

Một Người Đứng Thẳng - Trần Duy Nhiên

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc  Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa quý độc giả,

Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, và được Đấng Tạo Dựng ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc - Rằng để đảm bảo cho những quyền này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự ưng thuận của nhân dân - Rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới...”

Trên đây là lời nhập đề cho Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, được quốc hội của 13 tiểu bang tiên khởi thông qua ngày 4-7-1776. Bản Tuyên Ngôn này đánh dấu ngày các tiểu bang ở Hoa Kỳ dứt khoát liên hiệp với nhau để không còn lệ thuộc vào nước Anh nữa. Và kể từ đó ngày 7 tháng 4 trở thành ngày Lễ Độc Lập mà người Hoa Kỳ kỷ niệm hàng năm. Thế nhưng những gì linh thiêng nhất cũng dần dần có thể tục hóa. Hiện nay, trên toàn đất nước Hoa Kỳ, chữ ‘July 4’ gần như đồng nghĩa với một ngày hội giải trí và người ta lên kế hoạch vui chơi từ nhiều tuần trước đó. Người ta được bình đẳng để Sống, để Tự Do và để làm tất cả những gì mà mình cho là Hạnh Phúc. Người ta quên mất cụm từ rất quan trọng là sự sống, tự do và hạnh phúc ấy phải đúng với những gì mà ‘mọi nguời... được Đấng Tạo Dựng họ ban cho’. (...they are endowed by their Creator). Và cũng vì thế mà hiện nay sự sống, tự do và hạnh phúc cũng dần dần mang một nghĩa khác, nếu không nói là đã lệch nghĩa. Nhân danh sự sống, vì tự do, vì hạnh phúc của mình, nên mình dễ dàng phá hỏng sự sống, tự do và hạnh phúc của người khác. Thế là con người phải trông nhờ vào luật pháp và rồi bị ràng buộc trong lề luật.

Điều trùng hợp, đó là bản Tuyên Ngôn Độc lập của Việt Nam cũng khởi đầu bằng câu ấy; chỉ khác có một điều là cụm từ “endowed by their Creator” được dịch là ‘tạo hóa ban cho họ.’ Cũng vì thế mà sự sống, tự do và hạnh phúc do Chính Phủ tại Việt Nam đề ra không có chỗ cho ‘Đấng Tạo Dựng họ’...

Vì thế, Giáo Hội vẫn không ngừng gửi sứ điệp đến mọi chính phủ trên thế giới - không trừ một chính phủ nào - nhằm kêu gọi bảo vệ sự sống, bảo vệ tự do và bảo vệ hạnh phúc của con người.

Tiếng nói của Giáo Hội được thốt lên bởi một trong những gương mặt nổi bật nhất trong một phần tư thế kỷ vừa qua là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Vào ngày thứ ba trong tuần lễ này, Ngài đã được dân chúng tung hô một lần nữa tại quảng trường thánh Phaolô: Santo Subito (Thánh tức khắc).

Ngày hôm ấy, ngày 28-6, lúc 20g47, tại thánh đường Latêranô, Đức Hồng Y Ruini, Tổng Đại Diện của giáo phận Rôma, đọc lời tuyên thệ của chánh án trong vụ phong chân phước cho Đức Gioan-Phaolô II, một lời tuyên thệ đòi buộc ngài phải thực thi nhiệm vụ này một cách trung thực, phải làm việc trong thinh lặng và hoàn toàn không công: ngài sẽ không nhận bất cứ một quà cáp nào liên quan đến công việc này. Sở dĩ công việc xem xét hồ sơ phong thánh được tiến hành ngay, ấy là nhờ Đức Bênêdict XVI đã miễn 5 năm chờ đợi trước khi khởi sự giai đoạn này, đáp lại nguyện vọng của Dân Chúa qua lời đệ trình của Đức Ông Slawomir Oder, thỉnh nguyện viên của Hồ Sơ Phong Chân Phước cho Đức Cố Giáo Hoàng: Santo Subito.

Lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và cũng là lời kêu gọi của Giáo Hội trước tiên là lời kêu gọi của lương tri con người.

Cách đây gần 50 năm, ngày 25-6-1956, Giáo sư Bùi Xuân Bào đã từng nói lên điều này tại Florence trong Hội Nghị “Hòa Bình và Văn Minh Kitô giáo”:

 “Chúng ta xác nhận lòng tin tưởng vào giá trị tuyệt đối của con người, vẫn có thiên mạng bất diệt và sẵn có phẩm giá từ trước khi xã hội được tạo thành... Chúng ta xác nhận rằng thực hiện dân chủ không phải là đi tìm hạnh phúc vật chất, cũng không phải lấy mạnh hiếp yếu. Bản chất của dân chủ là sự cố gắng không ngừng để tìm mọi phương pháp chính trị khả dĩ bảo đảm cho tất cả các công dân quyền tự do tiến triển, phát huy sáng kiến, đảm đương trách nhiệm và sinh hoạt tinh thần đến cực độ.

Nhưng hơn cả là lời kêu gọi của lương tri con người, đó là kêu gọi của Vua Bình An, Chúa Giêsu Kitô. Mà muốn nghe được tiếng của Ngài, thì phải trở nên khiêm nhường bé mọn, như lời Phúc Âm Chúa Nhật tuần này; đồng thời phải trở về với sự thinh lặng của cõi lòng, một sự thinh lặng đầy ắp sự hiện diện của Chúa. Cùng với một bài trình bày về việc diễn dịch Lời Chúa trong Kinh Thánh bằng ngôn ngữ của con người để Lời được dễ dàng đón nhận, Maranatha_50 gửi đến quý vị những bài nói về tinh thần khiêm nhường bé mọn, mà vẫn tiếp tục đào sâu về sự thinh lặng nội tâm, giúp mỗi một người Kitô hữu đi vào cốt lõi của lời nguyện: Maranatha,  Lạy Chúa xin ngự đến.

MARANATHA

Trở về mục lục >>

 

 

  TIN MỪNG CHÚA NHẬT

CHIẾC LƯNG KHÒM CỦA JOE

 

Lm. Mark Link, S.J.

Chúng ta phải cố gắng đối xử tử tế với kẻ khác giống như chính Chúa Giêsu đã đối xử3

700 năm trước khi Chúa Giêsu chào đời, có một người nô lệ Hy Lạp tên Aesop sưu tập một số mẩu chuyện. Ngày nay người ta gọi sưu tập này là Aesop's Fables (ngụ ngôn của Aesôp). Một trong các mẩu chuyện ngụ ngôn này kể về cuộc tranh cãi giữa mặt trời và gió. Chúng tranh cãi nhau xem cái nào mạnh hơn cái nào.

Ngày nọ, một cơ hội xảy đến giúp cả hai dàn xếp được cuộc tranh cãi. Hôm đó có một người mặc áo choàng đang đi trên một con đường quê hoang vắng. Mặt trời nói với gió: "Ai làm cho người ấy bỏ áo choàng ra mau hơn thì người ấy thắng cuộc nhé." Gió ta chẳng những đồng ý mà còn quyết định ra tay trước. "Chàng" ta thổi tới tấp, nhưng càng thổi thì người nọ càng giữ chặt lấy chiếc áo. Cuối cùng kiệt sức gió ta đành phải chịu thua. Lúc đó mặt trời mới ra tay. Gã ta cần giương hết quang vinh của gã ra. Chỉ trong mấy phút, người nọ nóng quá phải cởi áo ra. Aesôp bàn đến phần luân lý câu chuyện trên như sau: "Bạn có thể thành công nhờ sự hiền từ dễ thương hơn là nhờ bạo lực".

Ngày nay sự hiền lành dễ thương không còn được đánh giá cao như trước. Trước đây, lời khen ngợi tốt nhất mà bạn có thể trao tặng kẻ khác là gọi họ là người hiền lành dễ thương, như ở bên Anh hay Mỹ, người ta gọi nhau bằng danh từ "gentleman" (người dễ thương). Nhưng ngày nay, bạo lực lại phổ biến hơn hiền lành dễ thương. Truyền hình đã làm cho bạo lực có rất nhiều khán giả bằng những chương trình Nielson rất phổ biến. Ðiều đó gây thiệt hại cho chúng ta. Người ta cảm thấy thích thú vì đã sáng chế ra những từ ngữ như "Battered Woman" (người phụ nữ bị đối xử tàn tệ) và "Abused Child" (đứa bé bị ngược đãi). Gia đình chúng ta cũng phản ảnh phần nào bạo lực của thời đại. Chúng ta la, chúng ta đá vật này quăng vật nọ, và ngay cả đánh đấm lẫn nhau nữa!"

Thật là khác với điều Chúa Giêsu dậy dỗ chúng ta biết bao! Chúa Giêsu nói: "Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường thật lòng."

Tiên tri Isaia đã tiên báo sự tử tế hiền lành của Chúa Giêsu như sau: "Ngài không la hét, không to tiếng hoặc ăn nói ồn ào ngoài đường phố. Ngài không bẻ gãy cây sậy đã bị giập và cũng không giập tắt ngọn đèn còn leo lét." (Is. 42, 20-3).

Một ví dụ bảo vệ sự hiền lành dễ thương của Chúa Giêsu là cách Ngài xử lý trường hợp người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Chúa Giêsu chẳng những dễ thương với người phụ nữ, mà còn dễ thương với cả những kẻ tố cáo chị ta. Những kẻ này tự cho mình là công chính! Chúa Giêsu không la, không quát, không hét, không hò. Ngài chỉ cúi xuống hiền từ dùng ngón tay viết lên cát. Hành vi này giống như tiếng sấm nổ giữa một đêm hè thinh lặng. Chúa Giêsu dạy chúng ta phải hiền lành dễ thương. Ngài khuyên chúng ta bắt chước người mục tử trong dụ ngôn con chiên lạc. Vị ấy không hề đánh đập hay lôi kéo con chiên về nhà mà lại tử tế đặt nó trên vai mình. Chúa Giêsu cũng khuyên chúng ta bắt chước người bố trong dụ ngôn đứa con hoang. Ông bố này đã không quở mắng người con vừa trở về, cũng không cãi cọ với cậu mà chỉ ôm hôn cậu.

Joseph Lahey có kể một câu chuyện về chính mình trong tạp chí Guideposts (hướng đạo).

Khi còn bé, Joseph bị khòm lưng. Mặc đồ vào, cậu ta trông không đến nỗi tệ, nhưng khi cởi áo ra thì trông cậu thật xấu xí. Joseph rất ghét cái lưng của cậu. Một hôm, Joseph phải đứng xếp hàng ở trường khám bệnh. Cậu rất sợ lúc Bác sĩ bảo: "cởi áo ra!" Và giây phút kinh khủng ấy đã đến. Joseph lúng túng cởi nút áo, tay cậu run run thảm hại. Cuối cùng cậu cởi xong chiếc áo, vị bác sĩ nhìn cậu, và làm một điều rất khác thường. Ông bước vòng quanh bàn, đôi tay to lớn của ông úp lên đầu cậu bé, ông vừa nhìn thẳng vào mắt cậu, vừa dịu dàng nói: "Này con, con có tin vào Chúa không?" Cậu bé trả lời: "Dạ, có ạ!" Bác sĩ nói: "Tốt! con càng tin vào Ngài thì con càng tin vào chính con." Thế rồi cũng bất ngờ như khi biểu lộ sự tử tế của mình, ông còn tỏ ra là một bác sĩ khéo xử nữa. Ông trở lại bàn giấy và viết gì đó trong giấy sức khỏe của cậu, rồi rời căn phòng một chút. Joseph liếc mắt nhìn vào phiếu sức khỏe của cậu. Cậu thắc mắc không hiểu bác sĩ đã viết gì và cậu đang lấy lại bình tĩnh để chờ điều tệ hại nhất, đồng thời cậu nhón chân về phía trước nhìn vào tấm phiếu. Dưới hàng chữ lớn "đặc tính thể lý" ông bác sĩ đã viết: "có cái đầu cân đối khác thường." Joseph không thể nào tin nổi vào mắt mình nữa! Một phút sau, ông bác sĩ quay trở lại. Ông khám thêm một vài điểm trên người Joe, đoạn ông mỉm cười vừa nói: "Tốt lắm! Joseph! Em mặc áo vào và kêu cho tôi em kế tiếp".

Sự việc ngắn ngủi ấy trong cuộc đời Joseph xảy ra đã bao nhiêu năm nay, thế mà cậu ta không bao giờ quên được sự dễ thương và những lời khích lệ của ông bác sĩ ấy.

Tin Mừng hôm nay chứa đựng một lời mời gọi quan trọng cho tất cả chúng ta. Nó mời gọi chúng ta hãy học với Chúa Giêsu vì Ngài "hiền lành và khiêm nhường thật lòng." Ði vào cụ thể, điều này có ý nghĩa gì đối với chúng ta trong tuần lễ sắp tới.

Trước hết là chúng ta nên cố gắng cư xử với tha nhân theo cách mặt trời đã làm trong ngụ ngôn "gió và mặt trời" của Aesôp; chúng ta nên cố gắng đối xử với mọi người bằng sự nồng thắm thực sự. Thứ đến, chúng ta hãy cố gắng cư xử với những kẻ làm hại chúng ta theo cách xử sự của Chúa Giêsu trong trường hợp người phụ nữ ngoại tình, và như cách xử sự của ông bố trong dụ ngôn đứa con hoang đàng. Nghĩa là chúng ta hãy cố gắng cư xử một cách có hiểu biết. Thứ ba, chúng ta hãy cố gắng cư xử với những kẻ đang phải mang những gánh nặng ưu sầu giống như ông bác sĩ đã cư xử với cậu bé tàn tật, nghĩa là chúng ta hãy cố gắng cư xử với họ một cách khéo léo, tế nhị.

Ðể kết thúc chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện. Xin anh chị em vui lòng yên lặng hiệp ý với tôi.

Lạy Chúa, trong tuần lễ sắp tới, xin giúp chúng con nhớ kỹ bài học trong dụ ngôn gió và mặt trời. Xin giúp chúng con noi gương sự tế nhị của vị bác sĩ trong câu chuyện cậu bé khòm lưng.Xin giúp chúng con thực thi lời Chúa đã nói: "Hãy học với Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường thật lòng.”               

Trích Người Tín Hữu

               

Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 7  NĂM 2005

 

Ý chung : Cầu cho các Kitô hữu biết để ý đến tính tình của mỗi người. Xin cho các Kitô  hữu  biết để ý đến tính tình và những đòi hỏi của mỗi người, tuy vẫn không bao giờ che giấu những đòi hỏi triệt để của Tin Mừng.

Ý truyền giáo : Cầu cho mọi tín hữu dấn thân vào việc biến đổi xã hội.  Xin cho hết mọi tín hữu, trong hoàn cảnh sống của mình, biết dấn thân vào việc biến đổi xã hội , bằng cách lấy ánh sáng Tin Mừng chiếu soi vào các tâm trạng và cơ cấu của thế giới.

Trở về mục lục >>

 

 

HẠNH PHÚC và BÌNH AN

NƠI NHỮNG TÂM HỒN KHIÊM TỐN

 

                                                                   Lm. Anphong Trần Đức Phương     

Thiên Chúa soi sáng những điều cao siêu, bày tỏ mầu nhiệm cho những ai có tâm hồn khiêm nhường (Mt 11:25).

Phúc cho những ai có lòng khiêm nhường… (Phúc Thật Tám Mối).

Trong kinh “Chúc Tụng” (Magnificat), Mẹ Maria nói: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, và nâng cao những người  khiêm nhu.” Mẹ Maria đã đuợc Chúa chọn để sinh ra Đấng Cứu Thế, vì Mẹ sống rất khiêm tốn, hòa hợp, yêu thương. Không bao giờ Mẹ nghĩ mình có được diễm phúc cưu mang Đấng Cứu Thế. Trong câu đáp lời sứ thần đến truyền tin, Mẹ thưa: “Tôi chỉ là tôi tớ hèn mọn của Chúa, xin Chúa thực hiện nơi tôi những điều Ngài muốn.”

Các vị thánh đều là những người có tâm hồn khiêm nhường, dù giỏi giang, thông thái như Thánh Tiến Sĩ Augustinô, Thánh Tôma Aquinô…

Dù ở vào địa vị chủ chăn của Giáo Hôi hoàn vũ, các Đức Giáo Hoàng đều tự xưng mình là “đầy tớ của các tôi tớ” (Servus Servorum). Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, được cả thế giới ngưỡng mộ như một vĩ nhân, một vị thánh, nhưng trong chúc thư để lại, Ngài đã viết cho chúng ta: “Xin mọi người cầu nguyện cho tôi để lòng từ bi bao la của Chúa phủ che những yếu đuối và bất xứng của tôi…” Đức đương kim Giáo Hoàng Bênêdictô XVI, trong lời chào thế giới và các tín  hữu khi vừa được chọn lên ngôi Giáo Hoàng, ngài cũng xin mọi người cầu nguyện cho ngài với tâm tình của “một thợ làm vườn nho tầm thường và hèn mọn…”

     Vậy như những người con nhỏ bé, chúng ta cùng chạy đến với Chúa Giêsu với lòng tín thác cậy trông, để học nơi Ngài bài học khiêm hạ để cùng nhau sống hạnh phúc, hoà hợp và yêu thương. Chính sự khiêm tốn sẽ giúp đem lại sự hoà hợp giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái; nhờ đó gia đình chúng ta sẽ là những gia đình thánh với hạnh phúc ngập tràn, hoà hợp, yêu thương. Chính tinh thần khiêm tốn sẽ giúp chúng ta trở nên những con người xây dựng hòa bình cho nơi nào chúng ta sinh sống, nơi khu xóm, sở làm, trường học. Chúng ta cũng sẽ cùng nhau xây dựng hoà bình cho cả thế giới nếu chúng ta bắt đầu bằng chính sự khiêm hạ của bản thân và trong gia đình mình. Vâng, chúng ta sẽ cùng chạy đến với Chúa Giêsu, như lời Ngài mời gọi trong bài Phúc Âm của chúa nhật hôm nay: “Hỡi những ai đang phải sống lao nhọc và vất vả, hãy đến cùng Ta, hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhượng trong lòng và tâm hồn chúng con sẽ được bình an.” (Mt 11:29)

Trở về mục lục >>

 

  MỪNG KÍNH THÁNH PHÊRÔ-PHAOLÔ

PHÊRÔ - VỊ TÔNG ĐỒ KHIÊM NHƯỜNG

 

Trần Duy Nhiên

Trong số 12 tông đồ, vị được nhắc đến nhiều nhất là Phêrô.  Phêrô đứng đầu danh sách. Người ta thường nghĩ Phêrô là một tông  đồ nhiều khuyết điểm nhất, điều  đó không hoàn toàn sai, vì Phêrô  đã có nhiều hành động hăng hái  nhất, đồng thời cũng có nhiều hành động sai lầm nhất. Nhiều người nhìn ông như một con người bốc đồng. Thật ra ông là tông đồ nổi bật nhất, nhiều khả năng nhất, sáng chói nhất.

Chúng ta đã nói nhiều về các tông đồ kia để thấy rằng họ là những con người tầm thường, khả năng  của họ rất ít:

Anrê, em của Phêrô chỉ có khả năng duy nhất là đem từng người đến với Chúa.

Yuđa Tađêô là một người thinh lặng, ăn nói khó khăn.

Yacôbê Hậu thì sống trong bóng tối, không một ai chú ý đến.

Nhưng, những gì họ thiếu thì Phêrô có đủ,

Và ngay cả khả năng họ có thì Phêrô  lại cũng giỏi hơn họ...

Trong nhóm cần một người đứng đầu, người đó phải là Phêrô.

Trước khi gặp Chúa, Phêrô đã là người lãnh đạo trong việc chài lưới. Phêrô luôn ra lệnh cho mọi người.

Khi trở thành tông đồ, ông nổi bật trong Kinh Thánh:

Phêrô là người mở miệng đầu tiên,

Phêrô là người hành động trước nhất:

ông nóng bỏng, hăng say, tích cực,  cực đoan, hướng ngoại.

ông là ĐÁ TẢNG, vì: "Thầy bảo anh,  anh là ĐÁ".

 

Nhưng con đường phải đi để trở nên Phêrô,

để trở nên  ĐÁ,

để trở nên vững chắc và  cứng rắn,

không phải là con đường dễ đi.

Đó là con đường hẹp mà Phúc Âm đã vạch ra một cách lý thú...

 

Phêrô, với tất cả lời nói và hành vi có vẻ đao to búa lớn, lại mang bên trong một tâm hồn nhạy cảm.

Phêrô biết rõ lòng mình, và chính lòng khiêm nhường này đã làm cho ông trở nên một vị thánh lớn.

Phêrô không sử dụng những khả năng để tìm lợi lộc cho mình, Phêrô cũng biết mình còn nhiều thiếu sót.

 

Điều này hiện rõ ngay trong lần đầu tiên chúng ta gặp ông:

Họ vừa đi chài về, suốt một đêm không có gì, họ mệt mỏi...

Chúa Yêsu đến giảng bên bờ hồ Yênêzaret.

Giảng xong, Người bảo Simon: "Hãy  ra khơi mà thả lưới đánh cá"

Dĩ nhiên, ông phản kháng: "Thưa Thầy, suốt đêm chúng tôi đã vất vả mà không bắt được gì..."

Rồi ông lại đổi ý: "Nhưng nếu Thầy bảo thế thì tôi thả vậy..." (Lc, 5,4-6)

Sau một đêm thất bại, họ lại đi thả lưới,-

Và họ đã bắt được một mẻ thật lớn, lớn đến độ lưới rách mất.

 

Anrê không phải là không xúc động, Yoan thì bị lay chuyển sâu xa, Nhưng Phêrô, trước phép lạ, đã bỏ thuyền, chạy đến sấp mình dưới chân Đức Yêsu mà nói:

"Thưa Thầy, xin Thầy hãy tránh xa tôi vì tôi là kẻ tội lỗi" (Lc 5,8)

 

Phêrô không thể chịu đựng nổi sự hiện diện của Chúa,

Lòng ăn năn bộc phát và tức thời này,

Lòng khiêm nhường chân thành này,

đã biến Phêrô trở nên người  thuyền trưởng

trên một thuyền chài  loại mới,

Đó là thủ lĩnh của nhóm 12: "Đừng sợ, từ nay anh sẽ là kẻ chài lưới người."

Và suốt đời, Phêrô vẫn thế, Ông là một người khiêm nhường, Và nhờ đó, ông học hỏi được nhiều nơi Chúa, Vì ơn Chúa chỉ ban cho những kẻ khiêm nhường.

Chính lòng khiêm nhường này đã cứu ông vì ông cũng phản bội như Yuđa.

Nhưng nhờ khiêm nhường mà ông không tuyệt vọng như Yuđa...

 

Một lần khác, (x. Gl 2,11-15 ), Phaolô chỉ trích ông trước mọi  người khi ông đến Antiôkia,

Phaolô rầy ông đã làm cớ giả hình cho các tín hữu.

[Phaolô, một tông đồ tân tòng, dám  khiển trách Phêrô, người cầm  đầu Giáo Hội, không phải là nói  nhỏ nhẹ mà là làm mất mặt... Chúng ta tưởng tượng ra một vị Giáo Hoàng bị một vị Giám Mục mới thụ phong nào đó khiển trách như thế...]

 

Thế mà Phêrô thinh lặng,

Phêrô không tự bào chữa lấy một tiếng,

Ông biết rằng ông sai, ông không chống chế...

 

Cuối đời, ông viết lá thư thể hiện lòng nhu mì của mình,

Ông nói rằng ông không bao giờ quên là ông đã được tha thứ:

"Hãy kết hợp Đức Tin với nhân đức hiểu biết, nhịn nhục, kiên nhẫn, sốt mến và yêu thương...

Ai thiếu các điều ấy là kẻ đui mù, không thấy xa,

Vì kẻ ấy quên mình được tẩy xóa khỏi tội lỗi xưa kia..." (2 Phêrô 1,5-9)

Người nào khiêm nhường vì nhớ tới bản chất tội lỗi của mình, người đó sẽ được Chúa làm cho vững mạnh. Đấy là con đường để trở nên ĐÁ TẢNG.

 

Phêrô đã sa ngã thường xuyên, sa ngã thậm tệ. Khi không được thần hứng là ông rơi vào tình trạng thiếu sót yếu hèn. Ví dụ như lần các môn đệ ở trên thuyền trong một đêm sóng lớn, bỗng dưng, họ thấy "một bóng ma"  đi trên mặt biển về hướng họ. Cả Phêrô cũng kinh sợ và kêu lên. “Bóng ma" ấy nói với họ: "Yên chí, chính Thầy đây, đừng  sợ." (Mt 14,27) Thầy của họ đến đấy ư? Phêrô không dám tin điều đó, điều mà Thầy đang làm... Nhưng vốn tính bốc đồng, ông nghĩ rằng mình cũng làm được như thế, nếu như Thầy muốn. Nếu quả thật là Thầy thì chính ông cũng bước đi được trên mặt nước như Thầy:

"Thưa Thầy, nếu thật là Thầy, hãy truyền cho con đi trên nước mà đến với Thầy."

Chúa bảo: "Hãy đến đây."

Và Phêrô bước xuống nước không suy nghĩ, vụt chạt.

Bất chợt, ông ý thức được việc ông đang làm:

"Đi trên nước, chuyện lạ đời,

Chưa bao giờ thấy, chưa bao giờ nghe, không hợp lý tí nào."

Và bỗng ông đâm sợ. Thế là ông chìm xuống nước ngay.

Ông la lên: "Thưa Thầy, xin cứu con"

Chúa Yêsu đã đỡ ông và đưa  ông về thuyền.

Phêrô đã tin tưởng trước  hết,

Phêrô cũng sa ngã trước hết.

 

 Con người bộc trực đó đã  tuyên xưng Đức Tin không đắn đo.

Ngày mà Chúa hỏi các tông đồ  một câu chủ yếu: "Còn anh em, anh em nghĩ Thầy là  ai ?" (Mt 16,15-23) Phêrô mở miệng ngay, trả lời  không do dự: "Thầy là Đấng Messia, Con Thiên Chúa Hằng Sống."

Chúa Yêsu cho mọi người biết rằng

Câu nói đó không từ con người Phêrô, nhưng từ Thiên Chúa mà ra:

"Không phải thịt máu đã mạc khải cho anh, mà Cha Thầy, Đấng ngự trên Trời..."

Rồi Chúa Yêsu nói thêm:

"Anh là Phêrô, là Đá, trên Đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội Thầy,

Và quyền lực âm phủ sẽ không thắng nổi." (Mt 16,10) 

Người vừa tuyên bố cho Simon Phêrô biết ông là Đá

                        thì Tảng Đá ấy... nát ra thành cát.

Chúa Yêsu nói cho các tông đồ nghe về cuộc thương khó của Người:

Người sẽ phải chịu đau khổ và sẽ bị giết.

Phêrô không tin và lên tiếng: "Thưa Thầy, chuyện ấy đâu có thể xảy ra với Thầy được..."

Chúa Yêsu đã phải nặng lời với ông:

"Xéo đi đằng sau Ta, hỡi Satan,

Ngươi là cớ vấp phạm cho Ta,

Vì ý tưởng ngươi không phải  ý tưởng của Thiên Chúa,

mà là  ý tưởng của loài người..."  (Mt 16,21-23)

 

Đấy, con người của Phêrô là  như thế:

Vài phút trước, ông được  Thiên Chúa cảm hứng,

Vài phút sau, ông là dụng cụ của  Satan.

Ông đã sa ngã biết bao lần trước  khi trở nên Đá Tảng rắn chắc...

 

Sau ba năm theo Chúa, ông tự cho rằng:

Ông có quyền nghĩ rằng mình đã vững chãi,

Ông có thể mang tên Đá mà không  mắc cỡ,

Ông cảm thấy mạnh mẽ, vững vàng  trong Đức Tin.

Bây giờ thì không còn gì có thể  lay chuyển Phêrô, ông xứng đáng

là thủ lĩnh nhóm 12 tông đồ.

Thế  nên, ông cảm thấy chạm tự ái  khi nghe Chúa Yêsu nhắc lại lời Kinh Thánh:

"Anh em sẽ bị vấp ngã hết  thảy bởi đã viết:

Ta sẽ đánh  kẻ chăn chiên và chiên sẽ tán loạn."  (Mt 14,27-31).

 

Nghe vậy, Phêrô liền thách thức:"Dầu  cho mọi người đều sẽ vấp ngã,  nhưng con thì không."

Ông sẽ không bao giờ chối bỏ Chúa.  Dù cho có chuyện gì xảy ra đi nữa, ông cũng sẽ không là kẻ đào  ngũ. Ông dứt lời, Chúa quay về  phía ông, nói dịu dàng nhưng quả quyết:

 "Thầy bảo anh, chính anh, hôm nay, nội  đêm nay,

 trước lúc gà gáy hai lần,  anh  sẽ chối Thầy ba lần."

Điều này làm ông bực tức.  Ông hiểu là ông nói gì chứ.  Ông quả quyết lặp lại:

          "Dù phải cùng chết với Thầy,  con cũng sẽ không chối Thầy."

Vâng, tảng đá này quyết không sụp  đổ...

 

Thế nhưng, chuyện gì xẩy ra đêm hôm  ấy ?

Chúng ta vẫn còn nhớ rõ...

Đêm  hôm ấy,  không ai bắt ông phải chết với Chúa, không có một quyền bính nào tra hỏi, chỉ có mấy người  đầy tớ của vị Thượng Phẩm  hỏi gặng bâng quơ, hai nữ và một  nam.

Họ nói: "Người này cũng  ở trong nhóm..."

Thế là ông chối luôn ba lần.  Ông thề bán mạng: “Tôi không biết người ấy.”

 

Ôi  Đá Tảng!  Ôi Phêrô!

Ông đã nói lời can đảm trước đó,

Ông đã quả quyết sẽ không chối bỏ Thầy,

Thế mà bây giờ....

 

Gà cất tiếng gáy, ông sực nhớ lại lời Thầy !

Luca nói rõ: “Ngay lúc ấy, ông còn đang nói, thì gà gáy, Và Chúa quay lại nhìn Phêrô.” (Lc 22, 60)

Chúa Yêsu xuất hiện cùng với tiếng gà gáy.

Những lời nhắn nhủ đầu hôm tràn về trong ký ức ông...

Ngay lúc ấy... trên bậc thang dinh thượng  tế, Chúa Yêsu  bị xỉ vả,

bị đánh đòn, bị xử án,

Người nhìn thẳng  xuống.

Phêrô ngước mắt nhìn lên, mắt  ông gặp mắt Chúa: Người đã  biết hết !...

Phêrô không chịu đựng nổi nữa, ông cắn chặt môi, nước mắt tuôn  trào,

Phêrô chạy  ra khỏi pháp đình, ra  khỏi cổng, đi cho khuất...

Tâm hồn Phêrô nặng trĩu, cảm xúc dâng trào,

Ông đã bổ vụn ra như thanh gỗ mục, 

Đá đã tan thành cát...

 

Đêm hôm đó, một biến cố  xảy ra trong lòng Phêrô:

một biến cố trọng đại,

một biến cố khiến ông thay đổi,

một biến cố khiến ông trở lại. [nếu chúng ta có thể dùng chữ "trở lại"đối với một tông  đồ]

Một cái gì đó đã chết trong ông,

Vâng, đã chết rồi, niềm tự hào, tự mãn, tự tin quá mức,

            sự lên mặt vênh váo, sức mạnh  mà ông tự gán cho mình.

Ông đã ngỡ mình là Đá, không  có gì lay chuyển nổi ư ?

Khôi hài thay, ông là cát bụi,  ông đã rõ mình chỉ là cát bụi...

 

Không biết ông có được Chúa  tha thứ không nhỉ ?

Ông nhớ mồn một câu nói của  Chúa: phải tha thứ 70 lần 7,

Thế nhưng, về phần ông, ông có thể  tự tha thứ cho mình không ?

Ông ngủ không yên, ông ăn không  ngon, ông gặm nhấm tội lỗi của mình.

 

Thế rồi, Chúa sống lại,

Phêrô chạy vội đến ngôi mồ  trống cùng với Yoan.

Phêrô còn nghe những người khác  thuật chuyện.

 

Rồi các tông đồ được gặp  Chúa,

Còn Phêrô thì đứng đó thinh  lặng, không dám mở miệng vui mừng.

Ông vốn là con người nông nổi,  thích nói lớn tiếng, bây giờ thì ông cúi đầu câm  lặng...

 

Rồi đến ngày ông về lại Galilê,

Ông trở về với thuyền chài mảnh lưới trên hồ Yênêzaret.

Ông trở về quê quán xưa kia,

trở về với con đường cũ, nếp sống cũ,

để cố quên những dày vò,

để  cố quên đi lần vấp ngã...

 

Đêm hôm ấy, ông và các bạn không bắt được  con cá nào như lần đầu tiên gặp  Chúa. Có một người đứng đó,  ở bên bờ hồ, Người ấy bảo đem lưới tung  sang bên phải mạn thuyền, họ đã thi hành và bắt được  mẻ cá nhiều vô kể.

Tới khi ấy thì Yoan thốt lên: "Chính  Thầy đó." (Ga 21,1-7)

Phêrô choáng váng, ông phóng mình  xuống nước bơi vào bờ.

Thầy đã nhóm ngọn lửa, bảo họ  lấy cá đem nướng.

Phêrô vội vã thi hành, không dám nói một lời.

Sau bữa ăn, Chúa phá vỡ bầu  khí thinh lặng.

Người quay về Phêrô: "Simon, con của Yona, anh  có yêu Thầy hơn những người này không?"

[Chúng ta lưu ý thấy Chúa gọi ông bằng tên riêng chứ không gọi bằng tên Chúa đã đặt cho ông hôm nào: Phêrô-Đá...]

Phêrô cảm thấy nhói đau trong lòng,

Ông còn quyền để nói rằng ông  có yêu Thầy không ?

Làm sao có thể nói gãy gọn khi ông  đã lỡ chối bỏ Thầy mình?

"Thưa Thầy, Thầy biết..."

Phêrô chỉ xác nhận điều ấy, ông không nói láo được. Người đời có thể khinh bỉ ông, người  đời không thể chấp nhận được  là ta có thể đồng thời tin tưởng  và phản bội, yêu thương và chối  bỏ.

Vâng, người đời không  biết nhưng Thiên Chúa biết.

“Thưa Thầy, Thầy biết rằng con yêu  mến Thầy."

Chúa Yêsu quay về phía Phêrô lần  nữa, lập lại câu hỏi:

"Simon, con của Giona, anh có yêu mến Thầy không ?"

Ông đã quay lưng, đào ngũ, chối Chúa,

Làm sao ông có thể nói rằng ông yêu Chúa?

"Thưa Thầy, Thầy biết rằng con yêu mến Thầy."

Rồi lần thứ ba, Chúa hỏi lại để nghe lời tuyên xưng tình yêu của kẻ Chúa yêu thương nhiều nhất vì đã  vấp phạm nhiều nhất:

"Simon, con của Giona, anh có yêu Thầy không?"

“Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự, Thầy biết rằng con yêu mến Thầy."

 

Ba lần ông chối Người,

Ba lần Người cho ông cơ hội để nhắc lại tiếng nói yêu thương, để tuyên xưng lòng tin của mình.

Không một lời rầy la, không một  lời trách móc, không một lời  buộc tội, 

Chỉ là cơ hội để xác định lại mối dây liên hệ yêu thương.

Đấy là Ơn Chúa xuống trên những  kẻ khiêm nhường...

 

Anh Phêrô ơi, anh buồn khi thấy Chúa hỏi anh lần thứ ba,

Chúng tôi không nghĩ anh buồn vì Chúa  không tin lời anh nói,

Anh biết Chúa tin anh chứ, nhưng anh vẫn buồn...

     vì trước tình yêu vô bờ đó,  anh đã có lần sợ hãi đến  phủ nhận.

Chúng tôi chắc hẳn anh sẽ òa lên khóc

     nếu sau bao ngày anh ăn năn, anh vẫn còn  có được nước mắt,

     vì có lần nghe đoạn Phúc Âm này chúng tôi cũng đã khóc òa...

Thế rồi, Chúa nhắn nhủ Phêrô trong  sứ vụ mới: "Hãy chăn giữ chiên Thầy."

Phêrô được sai đi đến Giêrusalem, trở về chính nơi ông đã vấp  ngã, và giờ đây ông có đủ khiêm  nhường để không phản đối Chúa nữa. Ông vâng lời trở lại Yêrusalem, và ở đó, lần đầu tiên, ông đã rao giảng giữa những người đã giết chết Thầy mình. Ông dùng khả năng của mình để đem về cho Chúa 3000 tín hữu sau một bài giảng duy nhất. Ông phải đối diện với gian nguy, bắt bớ.

Trước kia ông run  sợ trước câu hỏi của một  cô đầy tớ.

Giờ đây ông đối diện với đám đông mà  không hề run rẩy.

Tảng Đá bắt đầu  kết tinh...

Và sau này, mỗi lần ông ở bên bờ sa ngã thì sự hiện diện  của Thầy lại kéo ông về thực  tế...

Câu chuyện truyền kỳ về những ngày cuối đời của ông chắc hẳn chứa đựng ít nhiều sự thật.

Ông  đến Rôma trong thời kỳ bắt đạo.  Ông chứng kiến một số người tử đạo và ông đã sợ hãi bỏ ra ngoài mà trốn. Ra khỏi thành, ông gặp một người vai mang thập giá đi về phía Rôma.Ông hỏi: "Quo Vadis?" nghĩa là "Người đi đâu đó?” Người ấy trả lời: "Thầy vào Rôma thay con để cho người ta đóng đinh một lần nữa." Phêrô chợt hiểu, ông vội vã quay lại, trở vào Rôma và chịu tử  đạo tại đấy...

Lòng khiêm nhường của Phêrô,

Lòng kính mến Chúa của Phêrô,

Kinh nghiệm về ơn tha thứ của Chúa,

Tất cả đã kéo ông trở lại  với tình yêu...

Ông đi bất cứ nơi nào Chúa muốn đưa ông đi,

dù nơi đó là Rôma,

dù nơi đó  là cái chết,

dù nơi đó là thập  giá.

Và truyền thống cho ta biết rằng ông  tự nhận không xứng đáng được đóng đinh như Thầy nên đã xin được chết trên thập giá trở ngược,  đầu quay xuống đất.  

Ông đã thực hiện Lời Chúa tiên báo: "Khi về  già, anh sẽ giang tay ra và người  khác sẽ thắt lưng cho anh và lôi anh đi đến nơi mà anh không  muốn." Chúa đã nói như  thế để ám chỉ Phêrô phải chết  thế nào mà tôn vinh Thiên Chúa. (Ga 21,18-19)...

Cuối cùng, Tảng Đá của Giáo Hội  đã được kết tinh.

Cuối cùng  Phêrô đã hiểu được rằng:

Hiến Thân vì  Chúa là Lãnh Nhận,

Nô Lệ cho Chúa là Tự Do,

Và Chết với Chúa là Sống Mãi...

Trở về mục lục >>

 

TRÁNH TỰ MÃN ĐỂ HIỂU BIẾT
VÀ KINH NGHIỆM VỀ THIÊN CHÚA HƠN

 

Nguyễn Chính Kết

     1. Muốn đạt chân lý, phải dấn thân trọn vẹn cho chân lý

          Một nhà thông thái nọ đến xin một đạo sư truyền đạo cho mình. Đạo sư bèn lấy trà ra để tiếp khách. Nhưng ông làm một điều rất kỳ lạ: nước đã đầy và tràn ra mà ông vẫn cứ rót tiếp. Người khách ngạc nhiên hỏi ông tại sao lại làm như vậy. Đạo sư đáp: «Tâm hồn và lòng trí ông cũng đầy ắp như tách trà này rồi, làm sao chứa thêm những chân lý về đạo được nữa?»

          Kinh nghiệm cho tôi thấy: một khi lòng trí tôi mải miết lo chuyện gì, thì tôi không thể mải miết với chuyện khác được, nhất là những chuyện có tính chất trái ngược với chuyện tôi đang mải miết say mê. Đó là một định luật tâm lý rất phổ quát. Cũng vậy, một người đang say mê những chuyện trần tục, những chuyện tầm thường, người ấy khó có thể nhập tâm và hiểu được những chân lý siêu việt của tôn giáo. Vì muốn hiểu và cảm nghiệm được những chân lý này, con người phải dấn thân trọn vẹn cho chân lý. Chân lý tôn giáo giống như viên ngọc quý hay kho báu dấu trong ruộng, phải bán hết tất cả những gì mình có mới mua được (x. Mt 13,44-46). Đối với những ai trong lòng đang đầy ắp «cái tôi» vị kỷ của mình cũng vậy, lòng trí họ không còn chỗ nào cho Thiên Chúa hay Đức Giêsu sống và hoạt động trong họ nữa.

     2. Phá chấp, phá «sở tri chướng»

          Học sinh cấp một được cô giáo dạy: không được lấy số nhỏ trừ số lớn, vì không thể có 3 trái cam mà lại ăn hết 5 trái được. Với trí óc của em, điều đó hoàn toàn hợp lý, không thể khác được. Nhưng nếu em cứ cố chấp với kiến thức hạn hẹp ấy, em sẽ không thể chấp nhận khái niệm về số âm khi em bắt đầu học cấp 2, coi việc lấy số nhỏ trừ số lớn là chuyện bình thường.

          Cũng vậy với các học sinh cấp hai. Các em được dạy rằng trong căn hiệu bậc hai không thể có số âm, vì số trong căn hiệu được giả thiết là bình phương của một số, mà đã là bình phương thì không thể là số âm được. Đối với trình độ cấp 2 của các em, điều đó thật hợp lý, và không thể khác hơn được. Nhưng nếu các em cứ cố chấp với kiến thức cố hữu này, các em sẽ không thể chấp nhận được khái niệm về số ảo được dạy trong chương trình giải tích ở đại học, cho phép có số âm trong căn hiệu bậc chẵn.

          Còn nhiều thí dụ khác tương tự trong lãnh vực toán học, vật lý, hóa học, sinh học… Tương tự, với những kinh nghiệm và kiến thức trần gian, nếu cứ chấp vào đó, người ta không thể hiểu được những chân lý cao sâu về tâm linh trong tôn giáo. Cứ chấp cứng vào những quan niệm hay lề lối suy tư của tôn giáo này, ta sẽ vô phương hiểu được quan niệm hay lề lối suy tư của các tôn giáo khác. Hoặc cố chấp vào những điều mà ta cho là chân lý bất biến ở trình độ này, ta không thể tiếp thu được những chân lý ở trình độ cao hơn.

     3. Ai tự mãn với những gì mình đã biết sẽ không thể biết thêm

          Cái lý tất yếu ấy, Đức Giêsu đã nói đến: «Lạy Cha, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho các bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn» (Mt 11,25). «Các bậc khôn ngoan thông thái» ở đây không có nghĩa là những người khôn ngoan thông thái đích thực, mà đúng hơn là những kẻ tự mãn với sự thông thái của mình, cho rằng sự hiểu biết của mình đã viên mãn, tràn đầy, không cần phải học hay tìm hiểu thêm gì nữa. Một người tuy dốt nát hiểu biết không hơn ai, nhưng lại tự mãn về sự hiểu biết của mình, cũng được liệt vào hạng này. Họ giống như tách trà đã đầy ắp tới miệng, không thể chứa thêm giọt nước nào nữa. Còn «những người bé mọn» ở đây không có nghĩa là những người nhỏ bé, địa vị thấp kém, ít học hành, ít kiến thức, mà có nghĩa là những người tự cho mình là còn biết rất ít, hoặc chưa biết gì cả. Những người này bao gồm cả những người hết sức thông thái nhưng không cho rằng mình biết tất cả, vẫn sẵn sàng lắng nghe và học hỏi nơi người khác. Tâm hồn họ như một ly chưa đầy, sẵn sàng đón nhận những gì từ ngoài vào.

          Hai hạng người trên, với thời gian, hạng thứ nhất – tự mãn với những hiểu biết của mình – sẽ không tiếp nhận thêm được gì nữa, nên dần dần sẽ bị lạc hậu khi sống trong một thế giới hay xã hội ngày càng tân tiến. Họ cho rằng những điều họ từng tiếp thu được đã viên mãn, trọn vẹn, là những chân lý bất biến rồi, nên không thể chấp nhận điều gì khác hay ngược với những kiến thức ấy. Họ cố chấp với những hiểu biết ấy, nên không thể tiến xa và lên cao hơn được nữa. Họ như một học sinh cấp một, cứ nhất định rằng không thể lấy số nhỏ trừ số lớn được, nên từ chối không học cấp hai, vì không chấp nhận được khái niệm về số âm. Phật giáo gọi sự cố chấp này là «sở tri chướng», nghĩa là chính sự hiểu biết của mình là chướng ngại cản trở mình hiểu biết thêm. Còn hạng thứ hai, cho dù hiểu biết nhiều tới đâu, vẫn cảm thấy mình còn rất nhiều điều chưa biết, và những gì mình đã biết còn rất phiến diện, thiếu sót, nên không tự mãn mà khao khát và sẵn sàng học hỏi thêm. Vì thế, họ vẫn còn khả năng tiếp thu thêm những điều mới lạ. Socrate, một triết gia lỗi lạc thời thượng cổ, nói: «Điều tôi biết chắc chắn là: tôi không biết gì cả». Những người có thái độ như ông, cho dù có thông thái tới đâu, cũng là «những kẻ bé mọn» mà như Đức Giêsu nói, sẽ được Chúa Cha mặc khải cho những chân lý quan trọng.

     4. Bé mọn trong đời sống tâm linh

          Để hiểu biết về thế giới vật chất hữu hạn này mà người ta đã phải phá chấp không biết bao nhiêu lần mới có thể tiến bộ và lên cao hơn cấp độ mình đang có. Để hiểu được một giả thuyết khoa học mới, phải chấp nhận giả thuyết cũ là còn thiếu sót. Vật chất hữu hạn mà còn vậy, huống hồ Thiên Chúa vô hạn, siêu việt, siêu nghiệm, không bao giờ hiểu cho hết được! Vì thế, để hiểu biết về Thiên Chúa, nếu ta cứ tự mãn hay cố chấp vào những hiểu biết cũ thì ta sẽ ở mãi trong trình độ thấp kém của mình, không thể tiến xa hơn được. Đúng ra càng sống đạo lâu, sự hiểu biết, khám phá và kinh nghiệm về Thiên Chúa của ta càng phải mới lạ, sâu xa và phong phú hơn. Thánh Phaolô viết: «Với thời gian, lẽ ra anh em phải là những bậc thầy, thế mà anh em lại cần phải để cho người ta dạy anh em những điều sơ đẳng về các sấm ngôn của Thiên Chúa: thay vì thức ăn đặc, anh em vẫn còn phải dùng sữa. Thật vậy, phàm ai còn phải dùng sữa, thì không hiểu gì về đạo lý liên quan đến sự công chính, vì người ấy vẫn là trẻ con. Thức ăn đặc thì dành cho những người đã trưởng thành, những người nhờ thực hành mà rèn luyện được khả năng phân biệt điều lành điều dữ» (Dt 5,12-14). Khi còn nhỏ, ta chỉ có thể ăn sữa, và ăn sữa là đủ để ta sống. Nhưng khi lớn lên, thức ăn lỏng như sữa không cung cấp đủ năng lượng cần thiết để ta sống và sinh hoạt.

          Cũng vậy đối với đời sống tâm linh. Khi mới bước vào đời sống tâm linh, ta cần dùng một thức ăn tâm linh sơ đẳng: chẳng hạn ta cầu nguyện bằng những lời kinh đã dọn sẵn, nhờ đó ta tập nói chuyện với Chúa. Và lúc đó thức ăn tâm linh đó đủ cho sự sống tâm linh còn non nớt của ta. Nhưng nếu ta không nâng cấp cách cầu nguyện ấy lên, tâm linh ta không thể lớn lên được. Cách cầu nguyện đơn giản ấy không đem lại đủ sức mạnh để ta chu toàn những phận sự ngày càng khó khăn và nặng nề hơn của ta, không giúp ta vượt qua được những trở ngại lớn lao mà ta gặp trên đường đời, và thắng được những cơn cám dỗ mạnh mẽ. Ta cần thực tập những cách cầu nguyện cao hơn: cầu nguyện tự phát bằng chính những tâm tình có thật, những nhu cầu có thật của ta. Hoặc cao hơn nữa, cầu nguyện bằng cách ý thức sâu xa sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn ta, bằng cách lắng nghe Chúa nói trong đáy lòng ta, bằng sự kết hiệp thân mật với Thiên Chúa… Những cách cầu nguyện cao cấp đem lại cho ta nhiều sức mạnh, nhiều niềm vui hơn, nhờ đó ta có nhiều kinh nghiệm về Thiên Chúa hơn…

          Nếu ta tự mãn với tình trạng tâm linh hiện tại của ta, đời sống tâm linh của ta không thể lớn lên và mạnh mẽ được. Trái lại, nếu ta nhìn nhận rằng ta cần phải tiến bộ nhiều hơn, sẵn sàng đón nhận những hiểu biết và kinh nghiệm mới mẻ về Thiên Chúa, những cách thức sống đạo mới hơn, cao hơn, thực tế hơn, bớt hình thức mà đi vào chiều sâu hơn, thì ta sẽ thấy mình dần dần tiến cao hơn, và dễ dàng sống thánh thiện, vị tha, hy sinh cho Thiên Chúa và tha nhân hơn. Nếu cá nhân cần phải loại trừ tính tự mãn mới tiến bộ được, thì các tập thể, kể cả quốc gia, tôn giáo, cũng phải như vậy.

          Tâm hồn ta sở dĩ thường nặng trĩu những âu lo, phiền muộn là vì ta đã đặt nặng «cái tôi» của mình nhiều quá. «Cái tôi» của ta đã chiếm hết không gian tâm thức của ta, và gây ra biết bao xáo trộn, xung đột với tha nhân, với lương tâm, với bổn phận, tạo nên bao phiền muộn, lo lắng, sợ hãi… Cái ách của «cái tôi» thật nặng nề. Ta hãy mang lấy ách nhẹ nhàng của Đức Giêsu, bằng cách «từ bỏ mình», là điều kiện đầu tiên mà Ngài đòi buộc những ai theo Ngài phải thực hiện. Từ xưa đến nay, nhiều khi ta chỉ mang danh theo Chúa thôi, chứ thực tế ta chưa hề theo Ngài bao giờ, vì ta chưa hề «từ bỏ mình». Ta vẫn coi «cái tôi» của mình quan trọng quá mức! Ai nói động đến ta là ta nổi cơn tam bành lên. Xin Chúa giúp ta hiểu rằng điều kiện tiên quyết để theo Ngài là từ bỏ chính «cái tôi» của ta. Nhờ thế, khi theo Chúa đích thực, tâm hồn ta luôn được bình an, hạnh phúc và tràn đầy sức mạnh

Trở về mục lục >>

 

 

 

THAO THỨC 

MỘt sỐ VẤn ĐỀ VỀ Phiên DỊch Thánh Kinh

 

Joseph Nguyễn An

Nhóm phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ (CGKPV) tại Việt nam vừa cho phát hành hai cuốn sách giá trị, “Bốn Sách Tin Mừng” (BSTM) và “Đối Chiếu Bốn Sách Tin Mừng” (ĐCBSTM). Sách BSTM in bìa mỏng, giấy trắng, còn ĐCBSTM in bìa cứng, chữ mạ vàng, trông không thua gì các sách ấn hành tại ngoại quốc. Cầm sách trong tay, phải tạ ơn Chúa và cảm phục công trình của những người phiên dịch. Ai đã từng làm công tác dịch thuật đều biết đây là là một công việc công phu và vất vả. Dịch Thánh Kinh lại là một việc đòi hỏi nhiều thì giờ và công sức hơn. Đây không phải là một việc làm ngẫu hứng của một cá nhân nhưng là một công trình tập thể, của nhiều chuyên viên về Kinh Thánh, thần học, khảo cổ, văn hóa, mục vụ, ngữ học, văn chương, âm nhạc …Việc này đòi hỏi cá nhân những người tham gia, cộng tác làm việc trong Nhóm Phiên Dịch phải chấp nhận những nguyên tắc làm việc chung. Theo nguyên tắc này, công việc cá nhân đôi khi tưởng được dễ dàng vì có thêm người cộng tác, hóa ra khó khăn hơn vì phải quên ý riêng của mình để làm việc trong tinh thần dân chủ và tôn trọng khả năng của người đối tác, của cả nhóm để có thể hình thành một công trình chung có ích lợi cao nhất, tốt nhất cho tập thể và cộng đồng dân Chúa khi sử dụng bản dịch. Làm việc cá nhân cứ theo ý mình suy là đúng, nghĩ là hay và rồi thì in ấn, phát hành. Trái lại, khi làm việc chung tuy có điều tốt là được học hỏi thêm điều hay ý lạ nơi những người cùng làm việc, nhưng nhiều khi phải hy sinh điều mình đã từng nghĩ là đúng, những điều mình xác tín đã ở với mình bao nhiêu năm, thậm chí suốt đời.

Cũng như các sách tôn giáo in và được phát hành trong nước, các sách của CGKPV phải có giấy phép của chính quyền, và hẳn nhiên giáo quyền xác nhận, cho phép. Dưới hàng chữ Nihil Obstat và Imprimatur có thêm ghi chú: 

1.          Việc cho Nihil Obstat Imprimatur Bản Dịch Đối Chiếu Bốn Sách Tin Mừng là xác nhận nội dung không có gì sai lạc về đức tin và phong hóa. Điều đó không có nghĩa là đồng ý hoàn toàn với những nội dung cũng như cách dịch đã được diễn tả.

2.          Việc cho Nihil Obstat Imprimatur Bốn Sách Tin Mừng (với phần chú giải) không có nghĩa là bản dịch này được dùng trong phụng vụ.

Những ghi chú này làm cho một số người không rõ vấn đề thắc mắc, nhưng thực ra, nếu tìm hiểu chúng ta biết rằng, trong các bản dịch sách đạo, dù là sách Thánh Kinh, vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về cách dùng từ, câu cú, cách thức diễn tả và việc chọn văn bản gốc. Hơn nữa, trong những sách Thánh Kinh có ghi chú, phần bình luận của các dịch giả có khi rất khác nhau vì đi theo những cách bình luận và thông diễn khác nhau. Một điều cũng nên biết là các văn bản Thánh Kinh có thể khác với văn bản dùng trong phụng vụ. Bản dịch Thánh Kinh để học hỏi có thể chấp nhận câu văn hơi khô khan, gượng ép nhưng đi theo văn bản gốc, rồi kèm ghi chú dài dòng. Bản văn phụng vụ trái lại, chỉ có cơ hội đọc lên một lần và tiếp theo ngay những câu, chương kế tiếp, không có chỗ cho ghi chú, mở ngoặc. Thời gian trước đây, nhiều nơi tại Việt nam cũng như tại hải ngoại thấy bản dịch của Nhóm CGKPV hay nên đã sử dụng trong Phụng Vụ. Nhưng có hai vấn đề được nêu ra:

a) Chưa có bộ bài đọc mới, chính thức trong thánh lễ, có lẽ một phần vì không có ngân quỹ, một phần vì chưa hay không có ban chuyên môn để thẩm định.

b) Bản dịch của nhóm CGKPV không (chưa) được đưa vào phụng vụ, ấy là vì chưa có sự đồng nhất quan điểm giữa các cơ quan có thẩm quyền và nhóm.

Tuy thế, những vấn đề này có lẽ phức tạp hơn những lời ra tiếng vào trên mặt nổi. Mặc dù bản dịch sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ dành cho các nam nữ tu sĩ dùng trong các giờ Kinh Nguyện cũng như các sách Tin Mừng Cựu và Tân Ước đã được sử dụng từ trong nước cho đến hải ngoại, cộng đồng dân Chúa, giáo xứ cộng đoàn, các trang báo điện tử, mạng lưới toàn cầu của người Việt Nam đa số sử dụng bản dịch của Nhóm CGKPV từ nhiều năm nay; nhưng đồng thời, cũng đã nghe đây đó, được đọc một số bài vở viết về Nhóm và các bản dịch của Nhóm trên một số tạp chí đạo đời. Nhiều tác giả ít nhiều đã từng phê phán Nhóm, phê bình từ bản dịch Kinh Nguyện đến Lễ Quy Rôma (thực ra là của Ủy ban Phụng Tự), rồi đến cả toàn bộ bản dịch Kinh Thánh.

Nói cho đúng, trong bất cứ công việc nào, dù của cá nhân hay công trình của tập thể, vẫn rất cần những phê bình nhận xét giúp cho công trình hoàn thiện. Hơn nữa, đây là bản dịch Thánh Kinh, mà Lời Chúa thì bất diệt thiên thu nhưng lại sống động nơi con người và qua thời gian, văn hoá, quốc gia; hẳn người phiên dịch đều biết những nguyên tắc này để hoàn chỉnh hơn theo thời gian. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ xin được nêu lên một số vấn đề, và mong những vị có trách nhiệm cùng bàn bạc đi đến quyết định đem lại những gì tốt nhất cho Giáo Hội Việt Nam.

MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ NHÓM CÁC GIỜ KINH PHỤNG VỤ

Kinh nghiệm của các tổ chức dịch thuật có uy tín trên thế giới như United Bible Societies (UBS) và International Commission on English in the Liturgy (ICEL) cũng gặp nhiều vấn đề, và việc đón nhận phê bình luôn mang lại nhiều ích lợi. Nếu không thế thì chẳng cần phải có nhiều bản dịch, hoặc phải dịch đi dịch lại nhiều lần. Tuy nhiên, nhìn lại việc phê bình Nhóm CGKPV hình như chỉ dựa trên một số nhận định cá nhân, mang nhiều cảm tính.  Theo dư luận và báo chí, chúng tôi ghi nhận được những phê bình như sau:

1.  Nhóm CGKPV kiêu ngạo, tự cho mình là hay. Ai mà kiêu ngạo thì có giỏi mấy chăng nữa thiên hạ thường không ưa. Tuy nhiên, phải cẩn trọng trong nhận định này, vì giả dụ người dịch có kiêu ngạo đi chăng nữa, thì đây không phải là tiêu chuẩn để đánh giá bản dịch. Cần có tiêu chuẩn đánh giá khác hơn là dựa trên tính cách cá nhân người dịch. Hơn nữa, nhận định phê bình cần phải xem xét cẩn thận hơn là gán cho hai tiếng “kiêu ngạo” chung chung: một người thợ điện có thể giỏi lắp ráp điện nhà, nhưng không thể vì thế mà anh ta phê phán người kỹ sư điện kiêu ngạo, khi anh ta trình bày sơ đồ, hệ thống điện, mặc dù có thể anh kỹ sư không rành bắt dây điện trong nhà bằng người thợ điện.

2.  Nhóm CGKPV làm việc đòi tác quyền. Đây cũng không thể dùng làm tiêu chí để đánh giá, nhận định một bản dịch. Hơn nữa, việc đòi tác quyền trong một bối cảnh nào đó nên làm rõ ràng và tuân theo chặt chẽ. Sống trong xã hội ít coi trọng giá trị lao động trí óc, coi việc sao chép, photocopy tài liệu, software là chuyện bình thường, chúng ta dễ vô tình lỗi đức công bằng mà cứ thản nhiên cho là mình khôn ngoan, mua hàng giá rẻ. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này.

3.  Các bản dịch có nhiều điểm sai, có sai sót: đây mới đúng là tiêu chuẩn để đánh giá bản dịch. Dịch thiếu sót, bỏ chữ thì dễ đối chiếu, điều này chắc khó xảy ra. Dịch sai mới là vấn đề quan trọng, cần được xem xét đến nơi đến chốn, nhất là dịch Lời Chúa. Tuy nhiên, cũng cần phải phân biệt giữa sai sót và cảm nhận thẩm mỹ. Chẳng hạn có người phê bình về việc Nhóm dịch kinh Sáng Danh. Họ cho rằng kinh Sáng Danh như chúng ta vẫn thường quen đọc là hay quá rồi, việc chi mà phải dịch lại, “Sáng Danh Chúa Cha và Chúa Con, cùng Sáng Danh Thánh Thần Thiên Chúa. Tự muôn đời như chính hiện nay, và luôn mãi thiên thu vạn đại, Amen.” Người phê bình cho là bản dịch mới sử dụng nhiều Hán ngữ, khó hiểu…Lời phê bình thoạt nghe cũng có lý, nhưng suy đi nghĩ lại, đó chỉ là vì chúng ta đã quá quen với kinh Sáng Danh đọc theo lối cũ. Đưa hai bản cho một người tân tòng, bảo họ đọc và học thuộc lòng, kinh nghiệm cho thấy đa số họ thích bản dịch mới hơn bản cũ, vì tuy thêm vài chữ thiên thu vạn đại, nhưng bản dịch mới đọc xuôi hơn, dễ nhớ hơn. Lại nữa, bản dịch cũ dùng những cụm từ có trước vô cùng, hằng có, đời đời chẳng cùng nghe cũng khó hiểu. Nghiệm ra đây là vấn đề thuộc thẩm mỹ nhiều hơn; và nếu là người tân tòng lần đầu học kinh, họ thường thích bản kinh mới hơn.

4.  Nhóm CGKPV khăng khăng theo ý mình, không chịu sửa đổi. Chúng tôi không có chi tiết về những điều đóng góp sửa đổi, nhưng có được đọc qua các bản dịch, bản giải thích cách dịch và cách làm việc của Nhóm phiên dịch Nghi Thức Thánh Lễ của Ủy Ban Phụng Tự (trong quá khứ có một số thành viên thuộc CGKPV, có cách làm việc giống nhau), trộm nghĩ không biết  đóng góp vấn đề có cụ thể, có đúng không, hay cũng chỉ là những nhận định cảm tính giống như vấn đề kinh Sáng Danh ở trên. Điều này rất phức tạp, cần đóng góp thật cụ thể, không chỉ nhận xét chung chung, để rồi cuối cùng nếu vấn đề tranh cãi không đi đạt được kết luận, thì cần dùng lá phiếu để chấp nhận đa số tương đối. Khi có kết luận rồi, không hẳn phe thiểu số sai, nhưng đây chỉ là vấn đề giữa hai cái đúng, và tuân theo quyết định của đa số mà thôi. 

Trở lại cách làm việc của Nhóm CGKPV, theo các bài viết của một số các thành viên viết và đăng tải trên một số cơ quan truyền thông thì được biết: nhóm bao gồm một số linh mục, tu sĩ và giáo dân nam nữ có khả năng chuyên môn, nếu không nói là một số thành phần ưu tú đã được đào tạo tại ngoại quốc cũng như trong nước, và có trình độ nhất định. Việc Nhóm đã tập hợp được nhiều cá nhân có trình độ chuyên môn về Thánh Kinh, Thần Học, Ngôn Ngữ, Âm Nhạc, Mục Vụ, cùng làm việc hơn 30 năm qua là một thành quả đáng được khâm phục và trân trọng. Nhóm đã cống hiến, cho ra đời những công trình tập thể rất có giá trị. Chúng ta cũng không thể vì một số sai sót (chắc chắn phải có trong bất cứ công trình cá nhân hay tập thể nào) để coi thường hoặc vội vã phê phán. Có thể có những điểm dị biệt mà vị phê bình nào đó thấy không thể chấp nhận được, nhưng không thể vì thế mà chủ quan đánh giá một công trình tập thể được. Hơn nữa, khi nhìn lại quá trình làm việc của Nhóm, khách quan mà nhận định, phải đồng ý rằng, ngay từ thuở ban đầu cho đến hiện nay, công việc dịch thuật chuyên môn về Kinh Thánh của Nhóm có thể nói chỉ nhằm mục đích phục vụ Giáo hội Việt nam hơn là đi tìm tư lợi. Với khả năng ngôn ngữ của những dịch giả, nếu họ có ý tìm lợi nhuận tài chính đơn thuần, thì dịch tiểu thuyết hoặc sách giáo khoa dễ kiếm tiền hơn, mà cũng chẳng cần phải vất vả, thận trọng, chấp nhận nguyên tắc làm việc của cả một tập thể, chờ đợi để cho ra đời những tác phẩm mà trước khi in ấn phải xin phép lâu ngày, cả đời lẫn đạo; cũng như có lúc phải nghiên cứu cả kho sách này, tập tài liệu kia mãi mới đưa ra được một định nghĩa, một câu nói hay chữ viết trong một đoạn văn. Nói thế để chúng ta có thể nói rằng những thành viên đang làm công việc phiên dịch như Nhóm CGKPV đều có lòng khao khát muốn rao truyền Lời Chúa cho Giáo Hội bằng chính ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Đây là khao khát của người gieo giống Tin Mừng. Phải là người yêu mến Lời Chúa, yêu mến Giáo Hội, yêu mến ngôn ngữ, và mong ước phổ biến cho cộng đồng Dân Chúa lắm mới có thể ròng rã năm tháng làm công việc phiên dịch để cho ra đời những dịch phẩm mang tên tập thể, không được hứa hẹn cả quyền lợi lẫn danh vọng cá nhân.

Theo luật Giáo hội, việc cho phép sử dụng bản dịch Thánh Kinh, và bản dịch trong phụng vụ là quyền hạn của Hội Đồng Giám Mục (HĐGM). Như thế, bản văn trong phụng vụ là do HĐGM chịu trách nhiệm và chấp thuận. Hai bản dịch đề cập trên đây không phải là sách phụng vụ, nhưng vẫn có thể ứng dụng cách nào đó để sử dụng trong phụng vụ.  Khách quan mà nhận định, việc Nhóm CGKPV đã tập họp được đa số những dịch giả có khả năng thật sự, ít nhất là trong nước, thì tại sao lại không sử dụng khả năng của những chuyên viên này để cùng làm việc, hợp tác trong việc phục vụ Giáo hội? Có người cho rằng vấn đề chính ở đây là chuyện tác quyền, vì nếu là sách phụng vụ, số lượng in ấn sẽ không nhỏ, in đi lại có khi hàng chục năm trời, nếu phải chia tác quyền thì đem lại nhiều vấn đề rắc rối. Thực ra, như đã nói ở trên, có lẽ nếu được cùng bàn thảo và trao đổi, vì lợi ích chung của cộng đồng dân Chúa và Giáo Hội, thì Nhóm CGKPV hoặc đa số thành viên sẽ không quá đặt nặng vấn đề lợi nhuận và tài chính, nếu mục đích ban đầu của họ chỉ nhằm phục vụ Giáo hội Việt nam. Ước mong các thành viên mãi giữ được tâm tình như thế. Là những người có chuyên môn, được học hỏi và có khả năng chuyên biệt, đã biết và làm việc tập thể hàng chục năm trời mà không được tạo điều kiện để cùng làm việc, cộng tác thì hỏi làm sao có thể tìm ra một số lượng dịch giả chuyên môn tương đương cả về phẩm lẫn lượng, cùng làm việc trong một thời gian lâu dài như thế để ra những dịch phẩm có chất lượng tương tự, chứ chưa nghĩ đến việc làm tốt hơn.

Dư luận khác cho rằng vì Nhóm không chịu sửa đổi những đề nghị. Theo suy luận như trình bày ở trên, chúng ta cần lưu ý đến sự khác biệt giữa thẩm mỹ, yêu thích cá nhân và những điều cần thay đổi thực sự. Chúng ta không ngây thơ đến nỗi tin bản dịch của CGKPV là hoàn hảo, không có thiếu sót nào, không cần đóng góp sửa chữa. Tuy nhiên, cũng cần thận trọng khi đề nghị những sửa đổi; hơn nữa, phải cố gắng tuân theo nguyên tắc tập thể. Một cá nhân dịch giả có thể rất giỏi, rất uy tín, có chức vị nhưng cũng có thể không được sự đồng tình của đa số khi cần có quyết định về một vài vấn đề dịch thuật do ngôn từ, do cách hành văn. Nếu lấy cách làm việc chung: vox populi, vox Dei là nguyên tắc tối thượng, thì cần triệt để theo nguyên tắc này. Dịch giả không đồng ý có quyền bảo lưu ý kiến của mình, nhưng vẫn phải theo quyết định chung. Nói thế để thấy rằng có những vấn đề tưởng đơn sơ, những câu tưởng dễ quyết định nhưng thật ra đã là đề tài tranh cãi mất nhiều thời giờ. Thông thường, những gì đòi hỏi thay đổi, mới lạ sẽ dẫn đến tranh cãi, và trong việc thảo luận để đi đến thống nhất, phái truyền thống thường có ưu thế trên phái đòi cải tổ. Lý do? Tại vì tâm lý đa số ít muốn thay đổi; tại vì văn bản cổ thường mang lại những tình cảm ‘thánh thiêng’, ‘cổ kính’ đã có tự lâu đời, mà bản dịch mới không có được; tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào tiêu chuẩn trên để đi đến quyết định không làm gì cả thì có lẽ giờ đây chúng ta cũng vẫn còn dùng những tiếng như Câu rút, Chúa Dêu, vào lòng Đạo Hoà Lan...và nói rộng ra nữa thì cũng chẳng có công đồng Vatican II và nhiều thay đổi lớn lao khác trong Giáo hội.

Chỉ riêng việc dịch tên riêng và quy ước viết tên riêng cũng đem lại nhiều vấn đề. Tuy nhiên, nếu ai có theo dõi, đọc bản tin của nhóm CGKPV gửi cho bạn đọc ngày 30-9-2000 đăng trên mạng lưới internet đều thấy các dịch giả đã làm việc như thế nào, vận dụng nguyên tắc nào, với mục đích gì và tại sao làm như thế thì phải công nhận việc làm của Nhóm có lý lẽ hẳn hoi. Và để đạt được quyết định chung cũng gặp nhiều khó khăn, nhưng trên cơ sở làm việc có nguyên tắc hướng dẫn. Như thế, tuy bản dịch vẫn cần được góp ý để hoàn chỉnh, nhưng việc đóng góp và xét duyệt cũng phải cần đến những cá nhân có khả năng, và cũng làm việc, bàn thảo theo nguyên tắc dân chủ để đi đến kết luận cụ thể. Không thể chỉ vì vài nhận xét chung chung và cảm tính của một vài cá nhân, cho dù người đó có chuyên môn hay uy tín để ra quyết định, đặc biệt trong những công việc đòi hỏi tính chuyên môn cao độ. Có người còn cho rằng vì Việt nam chưa có Hàn Lâm Viện quy định ngôn ngữ, nên mới đưa đến tình trạng lộn xộn trên. Thực ra, trong những nước phát triển như Pháp, Mỹ, việc dịch thuật và thống nhất ngôn ngữ, tên riêng cũng không đồng nhất và không phải là không có vấn đề. Nếu không thì đã chẳng có nhiều bản dịch, nhiều cách phiên âm, ghi tắt khác nhau.  

MỘT VÀI QUAN SÁT VỀ TÌNH HÌNH DỊCH KINH THÁNH TẠI HOA KỲ 

Qua các vấn đề vừa nêu trên tại Việt Nam, chúng ta thử tìm hiểu về tình hình dịch Kinh Thánh tại Hoa Kỳ, để có một cái nhìn so sánh. Về số lượng các bản dịch, Hoa Kỳ có lẽ là nước có nhiều bản dịch nhất trong một thời gian tương đối ngắn xét về mặt lịch sử dịch thuật Thánh Kinh. Tuy nhiên, ít ai dám cho rằng các bản dịch này thừa hay sai sót, mặc dù các bản dịch khá khác nhau. Đó chính là vì các bản dịch nhắm vào những đối tượng độc giả khác nhau. Cũng chẳng ai dám cho rằng nhóm phiên dịch này giỏi hơn nhóm kia, tuy rằng có sự khác biệt về trình độ. Thật ra, vì số chuyên gia Thánh Kinh tại Hoa kỳ khá phong phú và có nguồn tài chánh đáng kể nên mới có thể làm được công việc này. Việt Nam chúng ta chưa có đủ chuyên gia trong ngành, nên cần phải nghiên cứu cách làm việc hiệu quả nhất để tránh mọi sự lãng phí và đem lại ích lợi nhất cho cộng đồng dân Chúa. Hơn nữa, làm việc cá nhân thì khó có thể so với tập thể xét về mặt chất lượng thành phẩm. Trong các bản dịch tại Hoa Kỳ, phải kể đến những bộ Kinh Thánh uy tín như King James (KJV), Revised Standard Bible (RSV), New Revised Standard Bible (NRSV), New American Bible (NAB) của Công Giáo,  New International Version (NIV), New American Standard Version (NASV) đến những bản rất phổ thông như Living Bible, New Living Bible, Good News Bible hay còn gọi Today’s English Version (TEV) và Contemporary English Version (CEV). Khác nhau về phẩm cũng như về đối tượng phục vụ và quan niệm phiên dịch, các bản dịch này đều do những nhóm chuyên viên thông thạo ngôn ngữ Thánh Kinh, có sự hợp tác của các chuyên gia ngôn ngữ, âm nhạc, phụng vụ, khảo cổ, văn hóa nên sản phẩm của họ đóng góp cho việc học hỏi lời Chúa rất nhiều. Khi làm công việc dịch thuật, họ thường cho ra đời những công trình song song trình bày công việc họ làm, đặc biệt đối với Thánh Kinh Hội Hoa Kỳ (American Bible Society - ABS) hay Thánh Kinh Hội Quốc tế (United Bible Societies - UBS). Những tác phẩm song song này rất có giá trị cho những người muốn học hỏi thêm về Kinh Thánh hay phương pháp dịch thuật. Đọc những tác phẩm đó cũng tương tự như cùng ngồi thảo luận và tranh cãi với các dịch giả để thấu đáo vấn đề. Bản Chú thích Bản dịch Nghi thức Thánh Lễ của Ủy Ban Phụng Tự cũng có dạng như thế. Những người phê bình có trách nhiệm theo thiển ý nên tham khảo, tìm hiểu cách thức các dịch giả đã làm trước khi đưa ra phê bình. Nói thế không có nghĩa là không được phê bình khi không có các tác phẩm này trong tay, nhưng chỉ nêu lên tính chất nghiêm túc của công việc và tránh những nhận xét chủ quan trong chuyên môn. Chưa hẳn một người đã học hỏi Thánh kinh nhiều tại ngoại quốc, rành rẽ ngôn ngữ Thánh kinh đã có thể dịch thuật ra tiếng mẹ đẻ của mình có tác dụng nhất cho độc giả. Một ưu điểm nữa của Hoa kỳ trong việc học hỏi dịch thuật Thánh Kinh là họ có nhiều phương tiện và sáng kiến áp dụng sử dụng điện toán trong việc học hỏi lời Chúa. Điều này có thể thấy được qua những tác phẩm rất giá trị trên máy điện toán như các chương trình Bibleworks, Logos... Càng nhiều bản Thánh kinh được in ấn, phổ biến càng nhiều trên internet và các software, càng có cơ hội giúp nhiều người học hỏi Lời Chúa và nhờ vậy Lời Chúa thấm nhập vào họ và làm kim chỉ nam cho suy nghĩ và hành động. Ưu điểm nhiều như thế nhưng cũng không phải vì vậy mà không có vấn đề. Hy vọng trong tương lai chúng tôi có thể trình bày với quý độc giả một số chuyện xung quanh việc dịch thuật Thánh Kinh cũng như các bản văn phụng vụ qua Anh ngữ.

Đặc biệt với bản New American Bible (NAB) của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, bản dịch này đã bắt đầu từ năm 1944, khởi xướng theo tinh thần Thông Điệp Divino afflante Spiritu của Đức Giáo Hoàng Piô XII, trong đó khuyến khích việc học hỏi dịch thuật từ văn bản gốc của Thánh Kinh, vì văn bản này được viết bởi các tác giả được linh ứng bằng nguyên ngữ của người viết, do đó có giá trị hơn mọi bản dịch, dù là mới hay cũ. Bản dịch này là thành quả của khoảng 50 học giả chuyên môn Thánh Kinh, đa số là người Công giáo (tức là có người không Công giáo trong ban dịch thuật). Các vị tổng biên tập đã tận tụy cả 25 năm trời cho công việc. Khi làm việc chung với nhau, họ cũng gặp nhiều vấn đề kỹ thuật phiên dịch, cách dịch thi ca, sử dụng tên riêng, các chữ viết tắt. Chẳng hạn nếu tuyệt đối trung thành với kỹ thuật lập đi lập lại trong Phúc âm thứ tư (Gioan) thì sẽ làm người nghe tiếng Anh bị chướng tai, nhưng nếu sửa đổi, để cho âm thanh êm dịu bằng cách thay thế từ ngữ thì lại đánh mất hiệu quả thơ ca mà người viết đã dùng. Cho nên cũng phải thoả hiệp, chọn cái này thì phải bỏ cái kia, rồi nếu chọn một phương pháp hay cách dùng nào đó thì lại phải liên tục trung thành với nó, tránh trường hợp tạo quá nhiều ngoại lệ, mất tính thống nhất, và còn nhiều vấn đề nữa. Bản dịch này cũng được sửa đi sửa lại, xem xét tới lui rất nhiều lần vì những khám phá mới trong ngành Thánh Kinh học, lịch sử, khảo cổ, ngôn ngữ, cách dùng từ sao cho không thiên vị phái nam. Từ năm 1978 đến đầu năm 1979, và tháng 11 năm 1980 thì họ quyết định chung cuộc cho thủ bản gốc; rồi từ tháng 12 năm 1980 đến tháng 9 năm 1986 là ban biên tập gặp nhau cả đến 50 lần để duyệt xét, ban biên tập cũng làm việc với ủy ban đặc trách do Hội đồng Giám mục đề cử trong năm 1982 để giám sát toàn chương trình duyệt xét. Họ làm việc dịch thuật và xét duyệt nhằm đưa ra bản dịch có thể đáp ứng ba mục tiêu: (1) có được một văn bản sử dụng được trong phụng vụ (2) để cá nhân đọc riêng, và (3) để nghiên cứu học hỏi. Phải trình bày hơi dài dòng công việc của người để thấy đây là một công việc đòi hỏi sự chuyên môn và nghiêm túc cao độ, không phải là một việc ai cũng làm được hay cứ muốn là làm. Đó cũng là thể hiện lòng yêu mến, tôn kính Lời Thiên Chúa.

 

TÌNH HÌNH DỊCH KINH THÁNH TẠI VIỆT NAM 

Tình hình dịch thuật Thánh Kinh tại Việt nam thì sao? Trước năm 1975, chúng ta có một số bản dịch của linh mục Nguyễn Đức Huân, linh mục Nguyễn Thế Thuấn, bản dịch của anh chị em Tin Lành, và một vài sách Tân Ước của các cố Tây, và bản dịch theo các bài đọc Thánh lễ. Sau năm 1975 xuất hiện những bản dịch Tân Ước của linh mục An-Sơn Vị, hồng y Trịnh Văn Căn, và của nhóm CGKPV. Mỗi bản dịch đáp ứng từng thời kỳ cho những đối tượng khác nhau, không thể so sánh đánh giá cách đơn giản bản nào hơn bản nào. Hầu như bản nào cũng ít nhiều sai sót. Tuy nhiên, một nhận xét không thể bỏ qua là ngoài bản dịch trọn bộ Thánh kinh của CGKPV và của Tin lành, không bản nào trước đó là sản phẩm tập thể. Một nhận xét nữa là chỉ có bản dịch của cha Thuấn, cha Vị và nhóm CGKPV là dịch từ nguyên bản Híp-ri, A-ram và Hi lạp. Các bản khác đều dịch từ tiếng La-tinh, tiếng Pháp hay tiếng Anh. Chỉ riêng hai yếu tố phân biệt trên đã nâng cao giá trị của các bản dịch này, đặc biệt là yếu tố làm việc tập thể của CGKPV. Tình hình nhân sự của nước nhà không được dư thừa như ở ngoại quốc, phương tiện lại thiếu thốn đã làm việc dịch thuật khó khăn. Một yếu tố rất quan trọng nữa là tinh thần làm việc chung, hợp tác rất khó cho những người giỏi chuyên môn: ai cũng nghĩ mình là giỏi thì rất khó chấp nhận ý kiến khác mình. Nếu không có tinh thần chung, làm việc quên cái tôi thì rất khó cộng tác với nhau trong thời gian lâu dài như vậy. Điều này cũng cho thấy để đi đến quyết định chọn một từ ngữ, câu cú, và cách diễn tả, nhóm làm việc phải căng thẳng hơn khi làm việc một mình, khi chỉ cần theo suy nghĩ riêng. Dù cá nhân người viết chưa từng làm việc với Nhóm CGKPV, nhưng ai đã từng làm công việc dịch thuật ít nhiều đều biết những khó khăn các dịch giả gặp phải khi làm việc chung.

ƯỚC NGUYỆN SÂU XA

Việc thiếu chuyên gia về Thánh Kinh đã được các giáo phận và dòng tu trông thấy; nên trong thời gian qua, nhiều nơi đã cử người đi học thêm về Thánh Kinh tại các trường danh tiếng hải ngoại. Tuy nhiên, điều này cũng rất tốn kém, mất nhiều thời gian, và người đi học cần có khả năng thực sự. Người đi học chuyên môn Thánh kinh dù thế cũng không có nghĩa sẽ trở thành một dịch giả giỏi. Cần phải có sự hợp tác của những người chuyên môn trong các lãnh vực khác như Thần học, Ngôn ngữ, Âm nhạc, Khảo cổ, Văn chương, nghệ thuật, thậm chí phải lưu tâm đến những vấn đề mục vụ để đem lời Chúa đến cho người đọc. Nếu không, thì các bản dịch chỉ giúp được cho những người có học, còn giới bình dân không tiếp thu được bao nhiêu. Những người có học ngoại ngữ thì đôi khi có thể đọc Thánh Kinh bằng tiếng nước ngoài thấy dễ cảm nhận hơn là đọc những bản văn dịch trúc trắc, ngây ngô. Vấn đề phức tạp như thế, theo thiển ý, ước mong HĐGM Việt Nam sẽ chủ động cộng tác, trao đổi về những điều cần chấn chỉnh, sửa sai trong các bản văn Thánh Kinh hoặc phụng vụ hiện nay. Trên cơ sở những thành quả đã có của nhóm CGKPV, tận dụng những khả năng chuyên môn đặc thù quý báu này, chúng ta sẽ có những bản dịch tốt hơn cho Việt Nam. Về bản văn phụng vụ, Ủy ban Phụng tự có thể dùng bản dịch của nhóm để làm gốc, rồi cũng đi theo tiến trình làm việc chuyên môn, dân chủ để đi cho ra những bản dịch đáp ứng nhu cầu phụng vụ. Nếu vì lý do nào đó mà bỏ đi, không không sử dụng thành quả lao động của nhóm CGKPV, một công trình dịch thuật tim óc của một tập thể nhiều chuyên viên đã hình thành trong hơn 30 năm và hiện nay đang được cộng đồng dân Chúa trân trọng đón nhận sử dụng thì thật là môt điều rất đáng tiếc. Trong khi đó, để bắt đầu hoặc thiết lập, tiến hành một Uỷ ban dịch thuật mới với một số linh mục tu sĩ, trong đó có thể có một số vị có bằng cấp hoặc chuyên môn, nhưng nếu không đủ nhân sự và kinh nghiệm “trận mạc” không nhiều, chưa kể đến việc cùng cộng tác làm việc trong tinh thần tập thể, thì niềm hy vọng có những bản dịch tương đương hay đạt yêu cầu là chuyện rất mong manh.

Hơn nữa, với tâm tình thao thức cho Giáo Hội Việt Nam, để đào tạo một thế hệ và chuẩn bị cho tương lai của Giáo Hội tại quê nhà, có cần nghĩ đến một phương thức nữa là tận dụng kinh nghiệm và khả năng trình độ của các chuyên viên trong Nhóm CGKPV? Nếu được, HĐGM Việt Nam sẽ chủ động bàn bạc, nghiên cứu thành lập một loại trường, cỡ như Học Viện Thánh Kinh cho đất nước. Qua Học viện này, các nhà dòng, chủng viện hoặc giáo dân sẽ có người đến để được học tập cho trình độ chuyên môn và phục vụ tại chỗ; hoặc Học viện này sẽ đào tạo, chuẩn bị trước cho những ai có khả năng để tiếp tục đi học thêm ở nước ngoài. Học viện cũng sẽ là môi trường thực hành cho những chương trình phiên dịch (còn rất nhiều văn bản, tác phẩm của các Giáo phụ, văn kiện Giáo hội); những học viên mới tốt nghiệp nước ngoài có lòng yêu mến ước ao phổ biến Lời Chúa bằng tiếng mẹ đẻ có chỗ thực hành. Việt Nam đã đi chậm nhiều lắm so với nước ngoài về rất nhiều lãnh vực, đặc biệt việc học hỏi, nghiên cứu và phổ biến Thánh Kinh. Hiện nay Nhóm CGKPV đã kiên trì cộng tác làm việc với nhau trong hơn 30 năm qua, sao chúng ta không tận dụng, cùng ngồi lại để thực hiện một chương trình theo thiển ý rất cần thiết và có tính khả thi rất cao? Trường, hay Học viện này sẽ do một Giám mục chịu trách nhiệm, cùng với các ban chuyên môn để ra chương trình đào tạo, phiên dịch, phổ biến, xuất bản, học hỏi Thánh Kinh cho cả nước, nhờ đó, sự phát triển học hỏi Lời Chúa ngày càng lớn mạnh trên quê hương Việt Nam. Việc đóng góp này không những chỉ mang lại ích lợi cho Giáo hội Việt Nam, mà còn là viên đá đóng góp, xây dựng một nền văn hoá, ngôn ngữ tôn giáo bằng tiếng Việt rất cần cho nhu cầu “đạo vào đời” hay “hội nhập văn hoá.” Đây là một đáp ứng cho những đòi hỏi thách đố lớn lao của công việc truyền giáo, mà những ai có trách nhiệm với tiền đồ Giáo hội Việt Nam, cho đất nước Việt Nam không thể không quan tâm.

Tuy không phải là chuyên viên trong ngành phiên dịch Thánh Kinh, nhưng với tấm lòng thao thức, xin mạo muội đóng góp một số ý kiến, nhận xét với niềm mong ước cho việc phổ biến Lời Chúa, học hỏi Thánh kinh và công việc dịch thuật của Giáo Hội Việt Nam được vươn lên mạnh mẽ, sớm theo kịp đà tiến, tiêu chuẩn của thế giới, hoặc ít ra cũng không bị bỏ quá xa vì những hạn chế có thể khắc phục. Cũng có thể Giáo Hội Việt Nam đã có những chương trình hợp tác làm việc mà chúng tôi không được biết. Nếu được như thế thì quý hóa thay! Nguyện ước chân thành gửi đến quý độc giả và những vị có trách nhiệm sớm tìm được giải pháp tốt nhất cho Lời Chúa thấm nhập vào tín hữu Việt Nam và biến thành kim chỉ nam cho suy nghĩ và hành động của những người tin vào sức mạnh soi sáng và biến đổi của Lời

Trở về mục lục >>

33. Tiến lên trong bổn phận mỗi ngày, con sẽ thấy “Ách Chúa êm ái, gánh Chúa nhẹ nhàng.”

515. Đừng chối những khả năng của con, những thành công của con. Hãy tạ ơn Chúa vì Ngài sử dụng con như hoạ sĩ dùng ngòi bút ba xu.”

516. Chỉ người khiêm nhượng thật mới được an vui như Chúa Giêsu dạy: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhượng thật trong lòng và các con sẽ tìm thấy bình an cho tâm hồn.

ĐHY Nguyễn Văn Thuận - Đường Hy Vọng

 

 

 

CẦU NGUYỆN

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG

(tiếp theo Maranatha_49)

 

Michel Hubaut - Maranatha dịch

17. THINH LẶNG, LÒ LUYỆN CON NGƯỜI MỚI

Mặc Khải Kitô giáo thêm một lý do nặng cân cho thấy vì sao con người cảm thấy thật khó khăn để cho lòng mình được thanh thản, để sống hạnh phúc cuộc đối thoại thân mật với Thiên Chúa: cái bi kịch mà truyền thống gọi là tội lỗi, sự gãy đổ bí ẩn giữa con người với Đấng Tạo Dựng mình.

“Nghe bước chân Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi ban chiều, con người là vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn để khỏi gặp Thiên Chúa. Thiên Chúa gọi con người và hỏi: “Adam, ngươi ở đâu?” (St 3,8). Cuộc đối thoại linh hứng này - được viết vào thời lưu đày, sau khi Giêrusalem bị tàn phá - biểu hiện một cách hoàn hảo cuộc gặp gỡ khó khăn giữa Đấng Tạo Dựng với loài thụ tạo sau cuộc đoạn tuyệt ấy. Con người trở thành một hữu thế đầy nghịch lý là vừa khát mong được hạnh phúc, được sống viên mãn vừa lẫn trốn Đấng duy nhất có thể ban cho họ điều họ kiếm tìm.

Dựa vào tự do, họ đòi hỏi một sự tự quản tuyệt đối, họ đã liều mình đóng cửa lòng đối với tiếng gọi của Tình Yêu Thiên Chúa, là nền tảng và bảo đảm cho cái tự do mỏng manh ấy. Khát vọng của lòng họ, trước đây hướng về Thiên Chúa, Nguồn mạch, sự Tăng Trưởng và Hoàn Tất của mình, giờ đây như thể cuộn lấy vào chính mình. Trong họ, lòng ‘Mong Muốn’ được hạnh phúc - nghĩa là mong muốn Thần Khí - đã tản mạn thành nhiều mong muốn ít nhiều phù du hay nhỏ bé.

Từ ngày có cuộc đoạn tuyệt bí ẩn kia với Thiên Chúa, chính ‘lòng’ chúng ta, như lời thánh Phaolô, đã trở nên ‘mê muội, ngái ngủ và tăm tối.’ “Con người suy luận viển vông và tâm trí ngu si của họ hóa ra mê muội; thay vì Thiên Chúa vinh quang bất tử, họ đã thờ hình tượng” (Rm 1, 21-23). Vì ích kỷ hay kiêu căng, con người đã xem mình là trung tâm tuyệt đối, là đối tượng khát mong duy nhất của mình.

Trở thành nô lệ của các mong muốn không kềm chế, phân tán mọi hướng, con người không tìm ra hạnh phúc, họ tự hủy hoại chính mình bằng cách khước từ Sự Sống. Tội lỗi không gì khác hơn là sự sa đọa của khát mong được hạnh phúc, một sự lệch lạc của lòng mong muốn yêu thương và được yêu thương, một sự cuộn tròn của lòng mong muốn vào chính bản thân mình, một sự tôn thờ ngẫu tượng. Tội lỗi là lòng mong muốn được hạnh phúc đã bị xoay lạc hướng.

Ai biết con đường về với lòng mình để lắng nghe Khát Mong của Thần Khí, người ấy sẽ nhận ra rằng những mong muốn của mình dần dần sẽ không bị phủ nhận hay trấn áp, mà được tẩy sạch, định hướng lại, đơn giản hóa.

Thinh lặng trở nên một nơi hoán cải, nơi mà ta đi từ thái độ ‘tự ngắm’ (narcissisme) luôn hướng về mình đến thái độ cởi mở đối với Thiên Chúa và tha nhân, mà chúng ta mong ước và yêu mến vì chính bản thân họ.

Khi quay lưng với Chúa, con người đã gây ra một loại ‘sa ngã’ mà một trong các hệ quả quan trọng nhất là đánh mất sự thống nhất của mình. Bị lưu đày xa ‘lòng’ mình, việc liên lạc giữa ‘khả năng nội tâm này’ với những khả năng khác như trí khôn và ý chí trở nên khó khăn. Điều này làm nảy sinh một khủng hoảng căn tính từ bên trong vì có một sự chênh lệch giữa cái thực chất sâu xa của chúng ta: một sự tranh chấp hữu thể được tạo nên ‘theo hình ảnh và giống Thiên Chúa’ và cái mà chúng ta ta tưởng là mình, cái mà trí khôn chúng ta tưởng tượng ra.

Ai học cách mặc sự thinh lặng cho lòng mình, đón nhận Thần Khí, người ấy sẽ khám phá rằng Năng Lực thần linh của Tình Yêu sung mãn kia sẽ dần dần thấm sâu vào mọi khả năng mình, thống nhất toàn bộ con người mình. Năng lực ấy mở đường vào sự hiểu biết mới, ấy là con đường hiểu biết của Thần Khí và đường vào tình yêu mới, yêu bằng đức ái của Thần Khí. Cuối cùng, phẩm chất của các tương quan, của hành vi, của đời thường chúng ta tùy thuộc vào cách mà chúng ta tìm Đấng cư ngụ cho ‘lòng’ mình, nơi mà Vương Quốc của Chúa Giêsu đã hiện diện.

Các nhà tâm lý càng ngày càng thấy rằng việc thức tỉnh của các tương quan cũng quan trọng bằng việc chiêm niệm, vì tác động hỗ tương ngày càng trở nên rõ rệt hơn. Họ công nhận rằng sự thinh lặng chiêm niệm ảnh hưởng nhiều đến phẩm chất các quan hệ và tình cảm giữa người và người.

Thật vậy, cần phải nhiều thinh lặng để đi từ tình yêu chiếm hữu đến tình yêu vô vị lợi, yêu thương người khác vì chính họ. Triết gia Lévinas, dù không ngừng bảo vệ ‘quyền của người khác’, vẫn khẳng định rằng chỉ có những người biết tạo một quan hệ đích thực với sự cô tịch mới thì có thể ở vào vị thế ‘thiết lập được một quan hệ với tha nhân’.

Đa số các tôn giáo cho rằng thinh lặng là nơi thanh luyện. Đạo Phật thậm chí xem thinh lặng là vị thầy không thể thiếu được để chúng ta diệt dục, nguồn mạch của vọng tưởng khiến chúng ta không nhìn thấy đúng cái thực tại trần gian.

Truyền thống Kitô giáo, như chúng ta đã thấy, gán cho sự thinh lặng một mục tiêu khác hẳn. Sở dĩ  việc suy niệm trong thinh lặng giúp chúng ta ‘vượt qua’ và tẩy rửa những lớp khác nhau trong đời sống tâm linh mình - đời sống ý thức cũng như vô thức - ấy là vì chúng ta tìn rằng chỉ có Thần Khí, nguồn mạch cho sự tự do mới này của nội tâm, mới có thể tạo ra cho chúng ta tình thân mật chân chính với Thiên Chúa và với loài người.

Sự thư thái bên trong chuẩn bị cho ta hiểu biết bằng trực giác Đấng Khác và những người khác. Sự hiểu biết của cõi lòng thì vượt trên mọi tư tưởng, hình ảnh và ngôn từ. Sự hiểu biết ấy là hoa quả của tình yêu, đưa ta vào điều mà truyền thống Kitô giáo gọi là ‘Thiên Chúa cư ngụ’ trong chúng ta, một trong các chủ đề lớn trong Phúc Âm thánh Gioan, trong đấy Chúa Giêsu đã công bố rõ ràng: “Ngày ấy, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha và anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em” (Ga 14,20). Việc Chúa cư ngụ, theo hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi, ấy là tình yêu thân mật mà không triệt tiêu những người mình yêu thương.

Thật cảm động khi đọc một đoạn khác của thánh Gioan: “Này Ta đứng ngoài cửa mà gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa cho Ta, Ta sẽ vào nhà người ấy và dùng bữa với người ấy” (Kh 3,20). Chúng ta tự do đón tiếp hay khước từ sự thân mật mà Thiên Chúa đề nghị với chúng ta! Sự thinh lặng hẳn là cách tốt nhất để lắng nghe tiếng của Đấng đang gõ cửa lòng mình và mở cửa cho Người.

Trong thinh lặng suy niệm, chúng ta nhập môn vào sự hiệp nhất làm cho ta trở nên độc đáo, vào trong sự hiệp thông tình yêu, không phải là bị tan biến trong một Tổng Thể hoàn vũ nhưng trái lại mỗi người trở nên là mình hơn. Thiếu cuộc học tập về tình yêu này - một tình yêu kết hiệp mà vẫn tôn trọng từng cá nhân - mọi quan hệ giữa người và người, mọi thân tình giữa vợ chồng, giữa cha mẹ với con cái, giữa bằng hữu với nhau, sẽ trở nên khó khăn hơn. Chỉ có Thần Khi Tình Yêu, trong thinh lặng, mới thanh luyện chúng ta và tách chúng ta ra khỏi mọi mong muốn chiếm hữu kẻ khác hầu kết hiệp với họ. Ta có thể áp dụng cho sự thanh luyện nội tâm này câu chuyện dụ ngôn thật hay của Chúa Giêsu, khi Ngài mời gọi chúng ta bán đi, đánh mất đi mọi sự trong vui tươi, để mà tậu lấy kho tàng dấu trong lòng chúng ta, trong lòng người khác: đấy là tình yêu đích thực (Xem Mt 13,4)

18- CHÚA GIÊSU VÀ THINH LẶNG

Trong Tân Ước, ta chỉ thấy nhắc vài lần đến yên lặng: sự yên lặng mà Chúa Giêsu đòi hỏi nơi sóng biển, nơi ma quỷ, sư thinh lặng bối rối của kẻ thù và môn đệ Ngài vì ngớ ngẩn trước các câu hỏi của Ngài. Trong các cộng đoàn, những tín hữu được thánh Phaolô mời gọi lập thế quân bình giữa lời nói tự do và sự im lặng huynh đệ (1Cr 14,28-34).

Nhưng dù không được minh nhiên nêu lên, sự thinh lặng vẫn giữ một chỗ đứng quan trọng trong đời sống và sứ vụ Đức Giêsu, Đấng đã mặc khải tầm vóc đích thực của thinh lặng, vượt xa hơn mọi sự khôn ngoan loài người.

Chúng ta chỉ cần nhớ lại một sự kiện rất nhiều ý nghĩa đối với đời sống cá nhân mình và với sứ mạng của toàn thể Giáo Hội, ấy là chính Ngài, Đức Giêsu, Lời Thiên Chúa trong xác phàm, Đấng được Cha sai phái, Đấng ‘thừa sai’ tuyệt hảo, Ngài đã im lặng trong suốt 30 năm! Ba mươi năm trong ba mươi bốn năm cuộc đời! Sự nhập thế của tình yêu vào đời thường không buộc phải gây ra ồn ào!

Làm sao tưởng tượng được một lời ca tụng xứng đáng hơn đối với giá trị và sự phong phú của thinh lặng, sự thinh lặng biến thành một sự hiện diện và khiêm tốn liên đới với đời sống và lao nhọc của con người! Sự thinh lặng ở Nazareth, từng làm ngây ngất Cha Foucault chẳng hạn, chẳng phải là một Lời Mặc Khải tuyệt vời về mầu nhiệm Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta sao?

Suốt thời gian thực thi sứ mạng công khai của Ngài, hoàn toàn dấn thân rao giảng Nước Trời bằng lời nói và hành động, Chúa Giêsu còn biểu lộ vai trò chủ yếu của thinh lặng trong cuộc đời của mọi môn đệ. Không phải tình cờ mà thánh Maccô đã đặt vào một thời gian thinh lặng, trong ‘ngày thừa sai mẫu’ của Chúa Giêsu, mà thánh nhân đã viết vào đầu Phúc Âm mình.“Sáng sớm, trước khi mặt trời mọc, Chúa Giêsu trỗi dậy và lên nơi vắng vẻ, và Ngài cầu nguyện ở đấy” (Mc 1, 35tt)

Thánh Maccô muốn cho độc giả thấy rằng việc cầu nguyện trong cô tịch, đối với Chúa Giêsu, không phải là một cặp ngoặc đơn thỉnh thoảng xảy ra khi gặp dịp nhưng là một chiều kích chủ yếu, cơ bản của bản thân và của sứ mạng Ngài. Chúa Giêsu không tìm kiếm sự thinh lặng vì muốn thinh lặng nhưng để thiết lập một đối thoại hiếu đễ với Đấng cư ngụ trong lòng, trong tư tưởng hành động, trong kinh nguyện của Ngài, Đấng phái Ngài ra đi: Thiên Chúa, Cha của Ngài.

Tác giả Phúc Âm muốn nói với cộng đoàn Kitô hữu rằng nguồn gốc của sứ mạng Chúa Giêsu, sự năng động trong công cuộc đấn thân của Ngài, sự cắm rễ trong Tin Mừng, tất cả những thứ ấy đều ở nơi Thiên Chúa, một Thiên Chúa mà Ngài đón nhận, yêu mến và lắng nghe trong thinh lặng.

“Simon đi tìm Ngài với bằng hữu mình. Và khi gặp Ngài, họ nói: mọi người tìm Thầy!” Chúa Giêsu không để mình bị tác động do công việc khẩn cấp, do danh tiếng, do số lượng bệnh nhân. Ngài cho rằng thời gian thinh lặng trước Cha Ngài cũng quan trọng sống chết như không khí để thở! Ngài không bao giờ xem hoạt động và chiêm niệm là hai điều đối nghịch. Chính tình yêu điều khiển hướng đi hai chiều qui về Cha và về nhân loại. Trong thinh lặng nguyện cầu, Ngài mở lòng để đón nhận Cha, đón nhận chương trình Yêu Thương của Người.

Và các thánh sử đã giữ lại cho chúng ta cặp này: cô tịch-hiện diện với con người, thinh lặng-ngỏ lời, cặp ấy sẽ giữ nhịp cho suốt cuộc sống công khai của Ngài. Sau lần hóa bánh ra nhiều, “Chúa Giêsu thấy rằng người ta đến để ép Ngài làm vua; thế là Ngài lại ẩn mình lên núi, một mình” (Ga 6,15). “Ngài càng ngày càng nổi danh, và dân chúng chạy đến nghe Ngài và xin Ngài chữa bệnh. Nhưng Chúa Giêsu rút lui vào nơi vắng vẻ và cầu nguyện” (Lc 5,15-16)

Chúng ta biết rằng con người rất thường tìm cách ‘kéo’ Thiên Chúa vào kế hoạch, ý thức hệ, đấu tranh của mình! Vì thế, trước những sự phấn khởi hàm hồ của dân chúng, những người luôn bị cám dỗ bởi chủ thuyết giải phóng theo nghĩa hẹp, giới hạn trong những nhu cầu trần gian trước mắt, Chúa Giêsu là người tạo ra những đoạn tuyệt và mối hiệp thông. Những đoạn tuyệt cần thiết để sống một cuộc sống chân chính, trong tình liên đới với con người theo như ý Cha, Đấng vượt quá sự thiển cận của chân trời chúng ta! Sự thinh lặng nguyện cầu cần thiết cho Ngài để thi hành sứ mạng một cách tinh tuyền và đáp ứng mọi đòi hỏi của sứ mạng ấy.

Với những môn đệ đến tìm Ngài nơi vắng vẻ, Chúa Giêsu trả lời: “Chúng ta hãy đi nơi khác, vào những làng bên cạnh, để Thầy cũng rao giảng ở đấy nữa, vì chính vì thế mà Thầy đã đến. Và họ đã đi khắp vùng Galilê, rao giảng trong các hội đường và trừ quỷ.” (Mc1, 38-39). Sự thinh lặng ấy không hề là một sự lẫn tránh hay ‘một cuộc trốn thoát thế gian’, nhưng là một hành vi cắm rễ giúp Chúa Giêsu đi xa hơn, đi ‘nơi khác.’ Nếu thinh lặng đối với Ngài thường là một nơi hẹn cho tình cha con, một tình yêu vô vị lợi, thì đôi khi đó cũng là thời điểm cần thiết để Ngài suy tư trước khi đưa ra những quyết định quan trọng đối với sứ mạng mình, vì dụ như trước khi chọn các môn đệ đầu tiên: “Trong những ngày ấy, Ngài lên núi cầu nguyện, và Ngài thức suốt đêm cầu nguyện. Khi trời sáng, Ngài gọi các môn đệ và chọn nhóm Mười Hai” (Lc 6, 12-13) (Còn tiếp)

Trở về mục lục >>

 

 

SỰ BÌNH YÊN

 

Sưu Tầm

Một vị vua treo giải thưởng cho họa sĩ nào vẽ được bức tranh đẹp nhất về sự bình yên. Nhiều họa sĩ đã cố công. Nhà vua ngắm tất cả những bức tranh, nhưng ông chỉ thích có hai bức, và phải chọn lấy một.

Trong hai bức tranh đó, một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ với những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng bồng bềnh, trôi lững lờ. Tất cả những ai ngắm bức tranh đều cho rằng đây là một bức tranh bình yên thật hoàn hảo.

Bức tranh thứ hai cũng có những ngọn núi, nhưng là những ngọn núi trần trụi và lởm chởm đá. Bên trên, bầu trời giận dữ đổ mưa như trút, kèm theo sấm chớp ầm ầm. Bên vách núi là dòng thác cuồn cuộn nổi bọt trắng xóa. Thật chẳng bình yên chút nào!

Nhưng sau khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá. Nơi đó, giữa dòng thác trút nước xuống một cách giận dữ, có con chim mẹ đang thản nhiên đậu trên tổ của mình, bên cạnh đàn chim con ríu rít… Bình yên thật sự…

“Ta chấm bức tranh này!” – nhà vua công bố. “Sự bình yên không có nghĩa là không ồn ào, không giận dữ. Bình yên có nghĩa là ngay chính khi đang ở trong phong ba bão táp, ta vẫn cảm thấy còn có sự yên tĩnh hiện diện trong trái tim mình. Đó mới là ý nghĩa thực sự của sự bình yên.”

…Có khi nào bạn cảm thấy thật cô đơn, mặc dù xung quanh bạn vô cùng ồn ào, náo nhiệt? Bởi vì bạn chẳng nhận được chút thân thiện nào từ đám đông ấy cả……Nhưng cũng có lúc bạn cảm thấy vô cùng ấm áp, hạnh phúc, dù bên cạnh bạn chỉ có một người? Đó là khi trái tim bạn vừa nhận được một tín hiệu thân thương từ người ấy – một người mà bạn vô cùng yêu mến…

Trở về mục lục >>

 

 

MỘT NGƯỜI ĐỨNG THẲNG

 

Trần Duy Nhiên

Cách đây 3 tuần, đoàn y bác sĩ Thiện Chí đi khám bệnh phát thuốc miễn phí tại Cái Bốm, một làng vùng sâu ở Cà Mau. Chuyến đi này đoàn được Nhóm Lửa Việt ở Maryland, Hoa Kỳ yểm trợ về mọi chi phí thuốc men và chuyên chở. Đoàn đã lên kế hoạch sẽ khởi hành vào lúc 7g tối ngày thứ sáu và sẽ đến Cà Mau lối 5g sáng; rồi đi ghe hai giờ nữa để đến Cái Bốm và bắt đầu khám bệnh lúc 7g30 sáng thứ bảy. Dĩ nhiên, trong kế hoạch thì có một vài người đại diện của nhóm Lửa Việt cùng đi với đoàn. Tuy nhiên, hai tuần trước đó, người đại diện nhóm Lửa Việt báo rằng anh không thể về kịp trước tối thứ sáu, vì chuyến bay của anh dự kiến đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất lúc 22g45. Cha Tiến Lộc quyết định: “Không thể nào chờ anh Toàn được, vì như thế chúng ta sẽ trễ hẹn với người nghèo ở Cái Bốm. Chúng ta sẽ đi đúng giờ như dự kiến. Một anh em nào quen đường sá sẽ đón anh Toàn và bạn anh ấy rồi sẽ xuống sau.” Tôi nhận làm công việc này. Sáng thứ sáu, tôi nhận điện thoại của người trưởng đoàn báo rằng tôi sẽ đón anh Toàn và người bạn từ phi trường rồi đi thẳng xuống Cà Mau ngay mà không cần phải ghé khách sạn để tắm rửa nghỉ ngơi gì cả. Người nhà anh Toàn sẽ đến phi trường nhận hành lý, và anh chỉ mang theo một ba-lô để tiếp tục hành trình. Tôi rất ái ngại, vì không thể nào ‘hành hạ’ một người vượt nửa vòng trái đất, mà trong một thời gian dài chỉ ngủ được vài tiếng vật vờ trên máy bay, rồi sau đó lại chịu suốt đêm dằn xóc trên xe hơi... Thế nhưng người đoàn trưởng nói rằng đấy chính là yêu cầu của anh Toàn, và anh quả quyết rằng mình đủ sức. “À, anh chàng này là chắc là một lực sĩ đây! Được, sẽ cho anh ấy biết thế nào là cái cực của anh em làm việc xã hội tại Việt Nam”.

Tối hôm đó, vì máy bay hạ cánh trễ nên tôi để cho người nhà anh đón, và ra bãi đậu nằm nghỉ trong xe để lấy sức mà đi suốt đêm. Lúc 12 giờ 15, điện thoại của người nhà báo rằng ‘cậu Toàn’ đã ra rồi. Tôi nói tài xế lái xe đến ga hàng không. Bước xuống xe, tôi trông thấy một anh trung niên cao lớn trắng trẻo đứng cạnh một anh khác lùn tịt bé tí. Tôi chưa kịp chạy tới với anh chàng phương phi kia để chào ‘anh Toàn’ thì người nhỏ bé bước tới bắt tay tôi tươi cười mà nói: “Tôi là Toàn. Xe đâu, mình đi ngay chứ. Như vậy là trễ một giờ rồi!”

Tôi ngớ ra một vài giây. Người trung niên này không phải lùn. Sở dĩ anh thấp như thế là vì lưng anh gù hẳn xuống khiến cho bước chân cũng xiêu vẹo theo con người của anh. Thì ra người cao lớn kia là người bạn cùng ở Maryland với anh nhưng không giữ vai trò chủ động trong chuyến đi này, chính anh Toàn mới là người sắp xếp mọi sự. Tôi hỏi anh: “Anh Toàn có mệt không?” Anh đáp: “Không sao, mình còn nhiều việc làm mà!”

Chia tay vội vàng với người nhà vừa đến, anh lên xe để vượt thêm 320 cây số, trên một con đường quốc lộ mà xe phải chạy với tốc độ 40 km/g. Suốt cuộc hành trình, anh vui vẻ kể chuyện cho cả xe, và thuật lại việc anh đi gây quỹ giúp người nghèo tại Việt Nam.

Anh không có một chút mặc cảm nào - dù ở bên Mỹ, dù ở Việt Nam - đối với những con người không khuyết tật. Trong đời anh, chắc chắn anh đã có nhiều người ngại ngùng cho anh, khi thấy anh hăng say lo cho người khác mà không để ý đến hình hài đáng thương của mình. Nhưng về phần anh, anh đã không nhìn vào giới hạn mà người khác đặt ra cho anh, mà tự xác định rằng điều gì người khác làm được thì chính anh cũng làm được. Từ ngày còn là một thiếu niên, anh đã khẳng khái gia nhập hướng đạo và làm mọi việc như các bạn mình mà không cần một đặc ân nào. Chính thái độ hướng ngoại và hăng say đó lại thổi ngược sức sống cho bao nhiêu người bình thường khác, những người bằng tuổi anh nhưng đã trở thành cụ già rồi.

Đến Cái Bốm lúc 11g30 sau một đêm đi xe và hai giờ ‘vỏ lãi’ (ghe tam bản ở miền Nam), anh bắt tay chào hỏi các y bác sĩ và hòa nhập với họ ngay trong bữa ăn trưa, để rồi buổi chiều, anh cùng với ban hậu cần lo mọi thứ cho đoàn được thoải mái mà phục vụ bệnh nhân.

Tối thứ bảy, chúng tôi lên ghe ra Cà mau mà về Sài Gòn ngay, để còn ngủ bù vào ngày Chúa Nhật. Anh Toàn và vài người ở lại qua đêm trong một phòng học thiếu mọi tiện nghi, để rồi hôm sau phát quà cho các em bé nghèo ở vùng hẻo lánh này trước khi về Sài Gòn.

Từ hôm ấy đến nay tôi không gặp lại anh, có lẽ anh đã về lại Maryland. Hình ảnh của anh cũng nhạt phai trong ký ức tôi rồi. Thế nhưng hôm nay, khi đọc lại câu chuyện cậu bé gù lưng do cha Mark Link kể, tôi bỗng nhớ tới anh. Tôi không biết anh có đọc bài này không, nhưng hy vọng rằng anh sẽ nghe được những lời mà tôi chưa kịp nói với anh: Anh là người gù lưng nhưng lại dạy cho những người bình thường như chúng tôi biết đứng thẳng lưng: bởi vì anh biết giá trị của mình và xăn tay giúp đỡ người khác, chứ không nhìn vào sự bất hạnh, thua sút của bản thân để rồi đòi hỏi người khác phải quan tâm đến mình. Cám ơn anh, anh Toàn.”

À, có một điều tôi quên: Anh Toàn là một người ‘có đạo,’nhưng không phải là đạo Công giáo

Trở về mục lục >>

 

  TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC


      Trong tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu  thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:

Lm. Vũ Xuân Hạnh, Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Nguyễn Thị Tuyết Xuân, Nguyễn Quý Sơn, Vũ Nguyễn Đoan Trang, Bác Phó Mộc, Joseph Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Hoàng Dũng, Thanh Phạm, Joseph Nguyễn An, Jos Thông,…

 Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

                        Trân trọng,  MARANATHA

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

v     Thưa Quí tuần báo MARANATHA, Nhân khi đi dự lễ truyền chức cho một tân linh mục, PhoMoc hân hạnh được biết một vị linh mục cùng tham dự trong buổi lễ này và từ đó PhoMoc đã được vị linh mục mới quen này gửi cho những tuần báo Maranatha mới đây (số 47, 48 và 49).  Thưa quí tuần báo, một món quà tinh thần thật là bổ ích cho phần tâm linh cũng như tinh thần sống đạo của PhoMoc mà quí tuần báo đã gửi cho PhoMoc qua tay của vị linh mục mới quen. Tạ ơn Chúa và cám ơn tuần báo. Xin Thiên Chúa luôn đồng hành với quí tuần báo để quí tuần báo có thể đem được những điều cần thiết cũng như Tin Mừng của Chúa đến cho mọi người. Nhân tiện đây PhoMoc cũng xin quí tuần báo hướng dẫn cho, làm sao để PhoMoc có thể trực tiếp nhận được tuần báo MARANATHA, thứ hai nữa là làm sao để có thể đọc lại được những tuần báo đã phát hành từ trước. Chân thành cám ơn Quí Tuần Báo, BacPhoMoc, USA.

v     Thưa quý báo, qua người bạn tôi được biết địa chỉ Maranatha thường hay gởi những bài suy niệm cho độc giả. Vậy tôi xin quý báo gởi bài suy niệm cho tôi. Xin Chúa trả công bội hậu cho quý vị và xin chân thành cám ơn quý vị. Joseph Nguyễn Văn Cường.

v    Thưa quý báo, qua người bạn tôi được biết địa chỉ Maranatha thường hay gởi MARANATHA kính mến, Xin cám ơn nhiều vì tôi đã nhận được báo thường xuyên, bạn bè tôi rất khen ngợi báo đã cho họ nhiều niềm vui khi đọc báo. Xin cám ơn, nhưng không hiểu sao mà tôi không nhận được MARANATHA 47, xin gởi cho tôi. Cám ơn nhiều. Chúc thành công hơn nữa. Xin Chúa chúc lành cho MARANATHA. Kính thơ, Jos Thông.

v     Nguyện xin Thiên Chúa ban nhiều Ơn Lành cho toàn thể Quý Vị. Nhân tiện, xin Quý vị có thể giúp chuyển Maranatha cho Cộng Đoàn Nữ Tu Bác Ái Cần Thơ. Xin cám ơn rất nhiều. Thanh Phạm, Đà Lạt

v     Lời Tri Ân! Xin chân thành cảm tạ những bài viết và những tâm tình thật quý giá mà Maranatha đã gửi đến cho tôi. Tôi nghĩ rằng nó sẽ là một hành trang thật cần thiết cho tôi có thể vững tâm phần nào trong cuộc lữ hành nơi thành phố nhiều náo nhiệt này. Nguyện xin bình an và ân sủng của Chúa Kitô luôn đổ tràn trên tất cả quý vị. Trân trọng kính chào, Nguyễn Hoàng Dũng, Bình Thạnh, TPHCM

Trở về mục lục >>

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn