NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG

(tiếp theo Maranatha_49)

Michel Hubaut - Maranatha dịch

17. THINH LẶNG, LÒ LUYỆN CON NGƯỜI MỚI

Mặc Khải Kitô giáo thêm một lý do nặng cân cho thấy vì sao con người cảm thấy thật khó khăn để cho lòng mình được thanh thản, để sống hạnh phúc cuộc đối thoại thân mật với Thiên Chúa: cái bi kịch mà truyền thống gọi là tội lỗi, sự gãy đổ bí ẩn giữa con người với Đấng Tạo Dựng mình.

“Nghe bước chân Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi ban chiều, con người là vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn để khỏi gặp Thiên Chúa. Thiên Chúa gọi con người và hỏi: “Adam, ngươi ở đâu?” (St 3,8). Cuộc đối thoại linh hứng này - được viết vào thời lưu đày, sau khi Giêrusalem bị tàn phá - biểu hiện một cách hoàn hảo cuộc gặp gỡ khó khăn giữa Đấng Tạo Dựng với loài thụ tạo sau cuộc đoạn tuyệt ấy. Con người trở thành một hữu thế đầy nghịch lý là vừa khát mong được hạnh phúc, được sống viên mãn vừa lẫn trốn Đấng duy nhất có thể ban cho họ điều họ kiếm tìm.

Dựa vào tự do, họ đòi hỏi một sự tự quản tuyệt đối, họ đã liều mình đóng cửa lòng đối với tiếng gọi của Tình Yêu Thiên Chúa, là nền tảng và bảo đảm cho cái tự do mỏng manh ấy. Khát vọng của lòng họ, trước đây hướng về Thiên Chúa, Nguồn mạch, sự Tăng Trưởng và Hoàn Tất của mình, giờ đây như thể cuộn lấy vào chính mình. Trong họ, lòng ‘Mong Muốn’ được hạnh phúc - nghĩa là mong muốn Thần Khí - đã tản mạn thành nhiều mong muốn ít nhiều phù du hay nhỏ bé.

Từ ngày có cuộc đoạn tuyệt bí ẩn kia với Thiên Chúa, chính ‘lòng’ chúng ta, như lời thánh Phaolô, đã trở nên ‘mê muội, ngái ngủ và tăm tối.’Con người suy luận viển vông và tâm trí ngu si của họ hóa ra mê muội; thay vì Thiên Chúa vinh quang bất tử, họ đã thờ hình tượng (Rm 1, 21-23). Vì ích kỷ hay kiêu căng, con người đã xem mình là trung tâm tuyệt đối, là đối tượng khát mong duy nhất của mình.

Trở thành nô lệ của các mong muốn không kềm chế, phân tán mọi hướng, con người không tìm ra hạnh phúc, họ tự hủy hoại chính mình bằng cách khước từ Sự Sống. Tội lỗi không gì khác hơn là sự sa đọa của khát mong được hạnh phúc, một sự lệch lạc của lòng mong muốn yêu thương và được yêu thương, một sự cuộn tròn của lòng mong muốn vào chính bản thân mình, một sự tôn thờ ngẫu tượng. Tội lỗi là lòng mong muốn được hạnh phúc đã bị xoay lạc hướng.

Ai biết con đường về với lòng mình để lắng nghe Khát Mong của Thần Khí, người ấy sẽ nhận ra rằng những mong muốn của mình dần dần sẽ không bị phủ nhận hay trấn áp, mà được tẩy sạch, định hướng lại, đơn giản hóa.

Thinh lặng trở nên một nơi hoán cải, nơi mà ta đi từ thái độ ‘tự ngắm’ (narcissisme) luôn hướng về mình đến thái độ cởi mở đối với Thiên Chúa và tha nhân, mà chúng ta mong ước và yêu mến vì chính bản thân họ.

Khi quay lưng với Chúa, con người đã gây ra một loại ‘sa ngã’ mà một trong các hệ quả quan trọng nhất là đánh mất sự thống nhất của mình. Bị lưu đày xa ‘lòng’ mình, việc liên lạc giữa ‘khả năng nội tâm này’ với những khả năng khác như trí khôn và ý chí trở nên khó khăn. Điều này làm nảy sinh một khủng hoảng căn tính từ bên trong vì có một sự chênh lệch giữa cái thực chất sâu xa của chúng ta: một sự tranh chấp hữu thể được tạo nên ‘theo hình ảnh và giống Thiên Chúa’ và cái mà chúng ta ta tưởng là mình, cái mà trí khôn chúng ta tưởng tượng ra.

Ai học cách mặc sự thinh lặng cho lòng mình, đón nhận Thần Khí, người ấy sẽ khám phá rằng Năng Lực thần linh của Tình Yêu sung mãn kia sẽ dần dần thấm sâu vào mọi khả năng mình, thống nhất toàn bộ con người mình. Năng lực ấy mở đường vào sự hiểu biết mới, ấy là con đường hiểu biết của Thần Khí và đường vào tình yêu mới, yêu bằng đức ái của Thần Khí. Cuối cùng, phẩm chất của các tương quan, của hành vi, của đời thường chúng ta tùy thuộc vào cách mà chúng ta tìm Đấng cư ngụ cho ‘lòng’ mình, nơi mà Vương Quốc của Chúa Giêsu đã hiện diện.

Các nhà tâm lý càng ngày càng thấy rằng việc thức tỉnh của các tương quan cũng quan trọng bằng việc chiêm niệm, vì tác động hỗ tương ngày càng trở nên rõ rệt hơn. Họ công nhận rằng sự thinh lặng chiêm niệm ảnh hưởng nhiều đến phẩm chất các quan hệ và tình cảm giữa người và người.

Thật vậy, cần phải nhiều thinh lặng để đi từ tình yêu chiếm hữu đến tình yêu vô vị lợi, yêu thương người khác vì chính họ. Triết gia Lévinas, dù không ngừng bảo vệ ‘quyền của người khác’, vẫn khẳng định rằng chỉ có những người biết tạo một quan hệ đích thực với sự cô tịch mới thì có thể ở vào vị thế ‘thiết lập được một quan hệ với tha nhân’.

Đa số các tôn giáo cho rằng thinh lặng là nơi thanh luyện. Đạo Phật thậm chí xem thinh lặng là vị thầy không thể thiếu được để chúng ta diệt dục, nguồn mạch của vọng tưởng khiến chúng ta không nhìn thấy đúng cái thực tại trần gian.

Truyền thống Kitô giáo, như chúng ta đã thấy, gán cho sự thinh lặng một mục tiêu khác hẳn. Sở dĩ  việc suy niệm trong thinh lặng giúp chúng ta ‘vượt qua’ và tẩy rửa những lớp khác nhau trong đời sống tâm linh mình - đời sống ý thức cũng như vô thức - ấy là vì chúng ta tìn rằng chỉ có Thần Khí, nguồn mạch cho sự tự do mới này của nội tâm, mới có thể tạo ra cho chúng ta tình thân mật chân chính với Thiên Chúa và với loài người.

Sự thư thái bên trong chuẩn bị cho ta hiểu biết bằng trực giác Đấng Khác và những người khác. Sự hiểu biết của cõi lòng thì vượt trên mọi tư tưởng, hình ảnh và ngôn từ. Sự hiểu biết ấy là hoa quả của tình yêu, đưa ta vào điều mà truyền thống Kitô giáo gọi là ‘Thiên Chúa cư ngụ’ trong chúng ta, một trong các chủ đề lớn trong Phúc Âm thánh Gioan, trong đấy Chúa Giêsu đã công bố rõ ràng: Ngày ấy, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha và anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em (Ga 14,20). Việc Chúa cư ngụ, theo hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi, ấy là tình yêu thân mật mà không triệt tiêu những người mình yêu thương.

Thật cảm động khi đọc một đoạn khác của thánh Gioan:Này Ta đứng ngoài cửa mà gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa cho Ta, Ta sẽ vào nhà người ấy và dùng bữa với người ấy (Kh 3,20). Chúng ta tự do đón tiếp hay khước từ sự thân mật mà Thiên Chúa đề nghị với chúng ta! Sự thinh lặng hẳn là cách tốt nhất để lắng nghe tiếng của Đấng đang gõ cửa lòng mình và mở cửa cho Người.

Trong thinh lặng suy niệm, chúng ta nhập môn vào sự hiệp nhất làm cho ta trở nên độc đáo, vào trong sự hiệp thông tình yêu, không phải là bị tan biến trong một Tổng Thể hoàn vũ nhưng trái lại mỗi người trở nên là mình hơn. Thiếu cuộc học tập về tình yêu này - một tình yêu kết hiệp mà vẫn tôn trọng từng cá nhân - mọi quan hệ giữa người và người, mọi thân tình giữa vợ chồng, giữa cha mẹ với con cái, giữa bằng hữu với nhau, sẽ trở nên khó khăn hơn. Chỉ có Thần Khi Tình Yêu, trong thinh lặng, mới thanh luyện chúng ta và tách chúng ta ra khỏi mọi mong muốn chiếm hữu kẻ khác hầu kết hiệp với họ. Ta có thể áp dụng cho sự thanh luyện nội tâm này câu chuyện dụ ngôn thật hay của Chúa Giêsu, khi Ngài mời gọi chúng ta bán đi, đánh mất đi mọi sự trong vui tươi, để mà tậu lấy kho tàng dấu trong lòng chúng ta, trong lòng người khác: đấy là tình yêu đích thực (Xem Mt 13,4)

18- CHÚA GIÊSU VÀ THINH LẶNG

Trong Tân Ước, ta chỉ thấy nhắc vài lần đến yên lặng: sự yên lặng mà Chúa Giêsu đòi hỏi nơi sóng biển, nơi ma quỷ, sư thinh lặng bối rối của kẻ thù và môn đệ Ngài vì ngớ ngẩn trước các câu hỏi của Ngài. Trong các cộng đoàn, những tín hữu được thánh Phaolô mời gọi lập thế quân bình giữa lời nói tự do và sự im lặng huynh đệ (1Cr 14,28-34).

Nhưng dù không được minh nhiên nêu lên, sự thinh lặng vẫn giữ một chỗ đứng quan trọng trong đời sống và sứ vụ Đức Giêsu, Đấng đã mặc khải tầm vóc đích thực của thinh lặng, vượt xa hơn mọi sự khôn ngoan loài người.

Chúng ta chỉ cần nhớ lại một sự kiện rất nhiều ý nghĩa đối với đời sống cá nhân mình và với sứ mạng của toàn thể Giáo Hội, ấy là chính Ngài, Đức Giêsu, Lời Thiên Chúa trong xác phàm, Đấng được Cha sai phái, Đấng ‘thừa sai’ tuyệt hảo, Ngài đã im lặng trong suốt 30 năm! Ba mươi năm trong ba mươi bốn năm cuộc đời! Sự nhập thế của tình yêu vào đời thường không buộc phải gây ra ồn ào!

Làm sao tưởng tượng được một lời ca tụng xứng đáng hơn đối với giá trị và sự phong phú của thinh lặng, sự thinh lặng biến thành một sự hiện diện và khiêm tốn liên đới với đời sống và lao nhọc của con người! Sự thinh lặng ở Nazareth, từng làm ngây ngất Cha Foucault chẳng hạn, chẳng phải là một Lời Mặc Khải tuyệt vời về mầu nhiệm Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta sao?

Suốt thời gian thực thi sứ mạng công khai của Ngài, hoàn toàn dấn thân rao giảng Nước Trời bằng lời nói và hành động, Chúa Giêsu còn biểu lộ vai trò chủ yếu của thinh lặng trong cuộc đời của mọi môn đệ. Không phải tình cờ mà thánh Maccô đã đặt vào một thời gian thinh lặng, trong ‘ngày thừa sai mẫu’ của Chúa Giêsu, mà thánh nhân đã viết vào đầu Phúc Âm mình.Sáng sớm, trước khi mặt trời mọc, Chúa Giêsu trỗi dậy và lên nơi vắng vẻ, và Ngài cầu nguyện ở đấy (Mc 1, 35tt)

Thánh Maccô muốn cho độc giả thấy rằng việc cầu nguyện trong cô tịch, đối với Chúa Giêsu, không phải là một cặp ngoặc đơn thỉnh thoảng xảy ra khi gặp dịp nhưng là một chiều kích chủ yếu, cơ bản của bản thân và của sứ mạng Ngài. Chúa Giêsu không tìm kiếm sự thinh lặng vì muốn thinh lặng nhưng để thiết lập một đối thoại hiếu đễ với Đấng cư ngụ trong lòng, trong tư tưởng hành động, trong kinh nguyện của Ngài, Đấng phái Ngài ra đi: Thiên Chúa, Cha của Ngài.

Tác giả Phúc Âm muốn nói với cộng đoàn Kitô hữu rằng nguồn gốc của sứ mạng Chúa Giêsu, sự năng động trong công cuộc đấn thân của Ngài, sự cắm rễ trong Tin Mừng, tất cả những thứ ấy đều ở nơi Thiên Chúa, một Thiên Chúa mà Ngài đón nhận, yêu mến và lắng nghe trong thinh lặng.

Simon đi tìm Ngài với bằng hữu mình. Và khi gặp Ngài, họ nói: mọi người tìm Thầy! Chúa Giêsu không để mình bị tác động do công việc khẩn cấp, do danh tiếng, do số lượng bệnh nhân. Ngài cho rằng thời gian thinh lặng trước Cha Ngài cũng quan trọng sống chết như không khí để thở! Ngài không bao giờ xem hoạt động và chiêm niệm là hai điều đối nghịch. Chính tình yêu điều khiển hướng đi hai chiều qui về Cha và về nhân loại. Trong thinh lặng nguyện cầu, Ngài mở lòng để đón nhận Cha, đón nhận chương trình Yêu Thương của Người.

Và các thánh sử đã giữ lại cho chúng ta cặp này: cô tịch-hiện diện với con người, thinh lặng-ngỏ lời, cặp ấy sẽ giữ nhịp cho suốt cuộc sống công khai của Ngài. Sau lần hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu thấy rằng người ta đến để ép Ngài làm vua; thế là Ngài lại ẩn mình lên núi, một mình (Ga 6,15). Ngài càng ngày càng nổi danh, và dân chúng chạy đến nghe Ngài và xin Ngài chữa bệnh. Nhưng Chúa Giêsu rút lui vào nơi vắng vẻ và cầu nguyện” (Lc 5,15-16)

Chúng ta biết rằng con người rất thường tìm cách ‘kéo’ Thiên Chúa vào kế hoạch, ý thức hệ, đấu tranh của mình! Vì thế, trước những sự phấn khởi hàm hồ của dân chúng, những người luôn bị cám dỗ bởi chủ thuyết giải phóng theo nghĩa hẹp, giới hạn trong những nhu cầu trần gian trước mắt, Chúa Giêsu là người tạo ra những đoạn tuyệt và mối hiệp thông. Những đoạn tuyệt cần thiết để sống một cuộc sống chân chính, trong tình liên đới với con người theo như ý Cha, Đấng vượt quá sự thiển cận của chân trời chúng ta! Sự thinh lặng nguyện cầu cần thiết cho Ngài để thi hành sứ mạng một cách tinh tuyền và đáp ứng mọi đòi hỏi của sứ mạng ấy.

Với những môn đệ đến tìm Ngài nơi vắng vẻ, Chúa Giêsu trả lời: Chúng ta hãy đi nơi khác, vào những làng bên cạnh, để Thầy cũng rao giảng ở đấy nữa, vì chính vì thế mà Thầy đã đến. Và họ đã đi khắp vùng Galilê, rao giảng trong các hội đường và trừ quỷ. (Mc1, 38-39). Sự thinh lặng ấy không hề là một sự lẫn tránh hay ‘một cuộc trốn thoát thế gian’, nhưng là một hành vi cắm rễ giúp Chúa Giêsu đi xa hơn, đi ‘nơi khác.’ Nếu thinh lặng đối với Ngài thường là một nơi hẹn cho tình cha con, một tình yêu vô vị lợi, thì đôi khi đó cũng là thời điểm cần thiết để Ngài suy tư trước khi đưa ra những quyết định quan trọng đối với sứ mạng mình, vì dụ như trước khi chọn các môn đệ đầu tiên: Trong những ngày ấy, Ngài lên núi cầu nguyện, và Ngài thức suốt đêm cầu nguyện. Khi trời sáng, Ngài gọi các môn đệ và chọn nhóm Mười Hai (Lc 6, 12-13) (Còn tiếp)

 

Trở về Muc Lục