TRÁNH TỰ
MÃN ĐỂ HIỂU BIẾT
VÀ KINH NGHIỆM VỀ THIÊN CHÚA HƠN
Nguyễn Chính Kết
1.
Muốn đạt chân lý, phải
dấn thân trọn vẹn cho chân lý
Một nhà thông thái nọ đến xin một đạo
sư truyền đạo cho mình. Đạo sư bèn lấy trà ra để tiếp khách. Nhưng ông làm
một điều rất kỳ lạ: nước đã đầy và tràn ra mà ông vẫn cứ rót tiếp. Người
khách ngạc nhiên hỏi ông tại sao lại làm như vậy. Đạo sư đáp:
«Tâm hồn và lòng trí ông cũng đầy ắp như tách
trà này rồi, làm sao chứa thêm những chân lý về đạo được nữa?»
Kinh nghiệm cho tôi thấy: một khi lòng
trí tôi mải miết lo chuyện gì, thì tôi không thể mải miết với chuyện khác
được, nhất là những chuyện có tính chất trái ngược với chuyện tôi đang mải
miết say mê. Đó là một định luật tâm lý rất phổ quát. Cũng vậy,
một người đang say mê những chuyện trần tục, những
chuyện tầm thường, người ấy khó có thể nhập tâm và hiểu được những chân lý
siêu việt của tôn giáo. Vì
muốn hiểu và cảm nghiệm được những chân lý này, con
người phải dấn thân trọn vẹn cho chân lý. Chân lý tôn giáo giống như viên ngọc quý hay kho báu dấu trong ruộng, phải
bán hết tất cả những gì mình có mới mua được (x. Mt 13,44-46).
Đối với những ai trong lòng đang đầy ắp «cái
tôi» vị kỷ của mình cũng vậy, lòng trí họ không còn chỗ nào cho Thiên
Chúa hay Đức Giêsu sống và hoạt động trong họ nữa.
2. Phá
chấp, phá «sở tri chướng»
Học sinh cấp một được cô giáo dạy:
không được lấy số nhỏ trừ số lớn, vì không thể có 3 trái cam mà lại ăn hết 5
trái được. Với trí óc của em, điều đó hoàn toàn hợp lý, không thể khác được.
Nhưng nếu em cứ cố chấp với kiến thức hạn hẹp ấy, em sẽ không thể chấp nhận
khái niệm về số âm khi em bắt đầu học cấp 2, coi việc lấy số nhỏ trừ
số lớn là chuyện bình thường.
Cũng vậy với các học sinh cấp hai. Các
em được dạy rằng trong căn hiệu bậc hai không thể có số âm, vì số trong căn
hiệu được giả thiết là bình phương của một số, mà đã là bình phương thì
không thể là số âm được. Đối với trình độ cấp 2 của các em, điều đó thật hợp
lý, và không thể khác hơn được. Nhưng nếu các em cứ cố chấp với kiến thức cố
hữu này, các em sẽ không thể chấp nhận được khái niệm về số ảo được
dạy trong chương trình giải tích ở đại học, cho phép có số âm trong căn hiệu
bậc chẵn.
Còn nhiều thí dụ khác tương tự trong
lãnh vực toán học, vật lý, hóa học, sinh học… Tương tự,
với những kinh nghiệm và kiến thức trần gian, nếu
cứ chấp vào đó, người ta không thể hiểu được những chân lý cao sâu về tâm
linh trong tôn giáo. Cứ chấp cứng vào những quan niệm hay lề lối suy tư của
tôn giáo này, ta sẽ vô phương hiểu được quan niệm hay lề lối suy tư của các
tôn giáo khác. Hoặc cố chấp vào những điều mà ta cho là chân lý bất biến ở
trình độ này, ta không thể tiếp thu được những chân lý ở trình độ cao hơn.
3. Ai tự mãn với những gì mình đã biết sẽ không thể biết thêm
Cái lý tất yếu ấy, Đức Giêsu đã nói
đến: «Lạy Cha, con xin ngợi khen Cha, vì
Cha đã giấu không cho các bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này,
nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn»
(Mt 11,25).
«Các
bậc khôn ngoan thông thái» ở đây không
có nghĩa là những người khôn ngoan thông thái đích thực, mà đúng hơn là
những kẻ tự mãn với sự thông thái của mình, cho
rằng sự hiểu biết của mình đã viên mãn, tràn đầy, không cần phải học hay tìm
hiểu thêm gì nữa. Một người tuy dốt nát
hiểu biết không hơn ai, nhưng lại tự mãn về sự hiểu biết của mình, cũng được
liệt vào hạng này. Họ giống như tách trà đã đầy ắp tới miệng, không thể chứa
thêm giọt nước nào nữa. Còn «những người
bé mọn» ở đây không có nghĩa là những
người nhỏ bé, địa vị thấp kém, ít học hành, ít kiến thức, mà có nghĩa là
những người tự cho mình là còn biết rất ít, hoặc chưa biết gì cả. Những
người này bao gồm cả những người hết sức thông thái nhưng không cho rằng
mình biết tất cả, vẫn sẵn sàng lắng nghe và học hỏi nơi người khác. Tâm hồn
họ như một ly chưa đầy, sẵn sàng đón nhận những gì từ ngoài vào.
Hai hạng người trên, với thời gian,
hạng thứ nhất – tự mãn với những hiểu biết của mình – sẽ không tiếp nhận
thêm được gì nữa, nên dần dần sẽ bị lạc hậu khi sống trong một thế giới hay
xã hội ngày càng tân tiến. Họ cho rằng
những điều họ từng tiếp thu được đã viên mãn, trọn vẹn, là những chân lý bất
biến rồi, nên không thể chấp nhận điều gì khác hay ngược với những kiến thức
ấy. Họ cố chấp với những hiểu biết ấy, nên
không thể tiến xa và lên cao hơn được nữa. Họ như một học sinh cấp một, cứ
nhất định rằng không thể lấy số nhỏ trừ số lớn được, nên từ chối không học
cấp hai, vì không chấp nhận được khái niệm về số âm. Phật giáo gọi sự cố
chấp này là «sở tri chướng»,
nghĩa là chính sự hiểu biết của mình là
chướng ngại cản trở mình hiểu biết thêm. Còn
hạng thứ hai, cho dù hiểu biết nhiều tới đâu, vẫn
cảm thấy mình còn rất nhiều điều chưa biết, và những gì mình đã biết còn rất
phiến diện, thiếu sót, nên không tự mãn mà khao khát và sẵn sàng học hỏi
thêm. Vì thế, họ vẫn còn khả năng tiếp thu
thêm những điều mới lạ. Socrate, một triết gia lỗi lạc thời thượng cổ, nói:
«Điều tôi biết chắc chắn là: tôi không biết gì
cả». Những người có thái độ như ông,
cho dù có thông thái tới đâu, cũng là «những kẻ bé mọn» mà như Đức
Giêsu nói, sẽ được Chúa Cha mặc khải cho những chân lý quan trọng.
4. Bé
mọn trong đời sống tâm linh
Để hiểu biết về thế giới vật chất hữu
hạn này mà người ta đã phải phá chấp không biết bao nhiêu lần mới có thể
tiến bộ và lên cao hơn cấp độ mình đang có. Để hiểu được một giả thuyết khoa
học mới, phải chấp nhận giả thuyết cũ là còn thiếu sót.
Vật chất hữu hạn mà còn vậy, huống hồ Thiên Chúa
vô hạn, siêu việt, siêu nghiệm, không bao giờ hiểu cho hết được! Vì thế, để
hiểu biết về Thiên Chúa, nếu ta cứ tự mãn hay cố chấp vào những hiểu biết cũ
thì ta sẽ ở mãi trong trình độ thấp kém của mình, không thể tiến xa hơn được.
Đúng ra càng sống đạo lâu, sự hiểu biết, khám phá
và kinh nghiệm về Thiên Chúa của ta càng phải mới lạ, sâu xa và phong phú
hơn. Thánh Phaolô viết:
«Với thời gian, lẽ ra anh em phải là những bậc
thầy, thế mà anh em lại cần phải để cho người ta dạy anh em những điều sơ
đẳng về các sấm ngôn của Thiên Chúa: thay vì thức ăn đặc, anh em vẫn còn
phải dùng sữa. Thật vậy, phàm ai còn phải dùng sữa, thì không hiểu gì về đạo
lý liên quan đến sự công chính, vì người ấy vẫn là trẻ con. Thức ăn đặc thì
dành cho những người đã trưởng thành, những người nhờ thực hành mà rèn luyện
được khả năng phân biệt điều lành điều dữ»
(Dt 5,12-14). Khi còn nhỏ, ta chỉ có thể ăn sữa,
và ăn sữa là đủ để ta sống. Nhưng khi lớn lên, thức ăn lỏng như sữa không
cung cấp đủ năng lượng cần thiết để ta sống và sinh hoạt.
Cũng vậy đối với đời sống tâm linh. Khi
mới bước vào đời sống tâm linh, ta cần dùng một thức ăn tâm linh sơ đẳng:
chẳng hạn ta cầu nguyện bằng những lời kinh đã dọn sẵn, nhờ đó ta tập nói
chuyện với Chúa. Và lúc đó thức ăn tâm linh đó đủ cho sự sống tâm linh còn
non nớt của ta. Nhưng nếu ta không nâng cấp
cách cầu nguyện ấy lên, tâm linh ta không thể lớn lên được.
Cách cầu nguyện đơn giản ấy không đem lại đủ sức
mạnh để ta chu toàn những phận sự ngày càng khó khăn và nặng nề hơn của ta,
không giúp ta vượt qua được những trở ngại lớn lao mà ta gặp trên đường đời,
và thắng được những cơn cám dỗ mạnh mẽ. Ta
cần thực tập những cách cầu nguyện cao hơn: cầu nguyện tự phát bằng chính những tâm tình có thật, những nhu cầu có thật
của ta. Hoặc cao hơn nữa, cầu nguyện bằng cách ý thức sâu xa sự hiện diện
của Thiên Chúa trong tâm hồn ta, bằng cách lắng nghe Chúa nói trong đáy lòng
ta, bằng sự kết hiệp thân mật với Thiên Chúa…
Những cách cầu nguyện cao cấp đem lại cho ta nhiều
sức mạnh, nhiều niềm vui hơn, nhờ đó ta có nhiều kinh nghiệm về Thiên Chúa
hơn…
Nếu ta tự mãn với tình trạng tâm linh
hiện tại của ta, đời sống tâm linh của ta không thể lớn lên và mạnh mẽ được.
Trái lại, nếu ta nhìn nhận rằng ta cần phải tiến bộ nhiều hơn, sẵn sàng đón
nhận những hiểu biết và kinh nghiệm mới mẻ về Thiên Chúa, những cách thức
sống đạo mới hơn, cao hơn, thực tế hơn, bớt hình thức mà đi vào chiều sâu
hơn, thì ta sẽ thấy mình dần dần tiến cao hơn, và dễ dàng sống thánh thiện,
vị tha, hy sinh cho Thiên Chúa và tha nhân hơn.
Nếu cá nhân cần phải loại trừ tính tự mãn mới tiến
bộ được, thì các tập thể, kể cả quốc gia, tôn giáo, cũng phải như vậy.
Tâm hồn ta sở dĩ thường nặng trĩu những
âu lo, phiền muộn là vì ta đã đặt nặng «cái tôi» của mình nhiều quá.
«Cái tôi» của ta đã chiếm hết không gian tâm thức của ta, và gây ra
biết bao xáo trộn, xung đột với tha nhân, với lương tâm, với bổn phận, tạo
nên bao phiền muộn, lo lắng, sợ hãi… Cái ách của «cái tôi» thật nặng
nề. Ta hãy mang lấy ách nhẹ nhàng của Đức Giêsu, bằng cách «từ bỏ mình»,
là điều kiện đầu tiên mà Ngài đòi buộc những ai theo Ngài phải thực hiện. Từ
xưa đến nay, nhiều khi ta chỉ mang danh theo Chúa thôi, chứ thực tế ta chưa
hề theo Ngài bao giờ, vì ta chưa hề «từ bỏ mình». Ta vẫn coi «cái
tôi» của mình quan trọng quá mức! Ai nói động đến ta là ta nổi cơn tam
bành lên. Xin Chúa giúp ta hiểu rằng điều kiện tiên quyết để theo Ngài là từ
bỏ chính «cái tôi» của ta. Nhờ thế, khi theo Chúa đích thực, tâm hồn
ta luôn được bình an, hạnh phúc và tràn đầy sức mạnh●
Trở về Muc Lục