Số 51, Ngày 09-07-2005

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Ơn Gọi Nên Thánh Lm. Vũ Xuân Hạnh

“Nhân” và “Duyên” Của Sự Sống Đời Đời Nguyễn Chính Kết

Theo Ánh Mắt Tâm Linh - Khổng Nhuận

Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng (tt) - Lm. Michet Hubaut – Maranatha dịch

Thinh Lặng – Cầu Nguyện Tập Trung  - Đỗ Trân Duy

      Một Quy Luật Đơn Sơ Lẽ Sống

Nhớ…Biển Hồng Ân  - Lê Thị Nhỏ Xưa

      Sàigòn “Tái Hiện’ tại Honduras  - Lynn F. Monahan – Lm. Đàm Xuân Lộ, MM dịch

      Bánh Mì  - Johannes Joergensen

Nhớ và Quên  - Yến Quân ghi lại

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa quý độc giả,

Trọn tháng bảy rơi vào Mùa Thường Niên, được biểu hiện bằng màu xanh trong phụng vụ. Màu xanh là màu của hy vọng, màu của những mầm non, khơi dậy trong lòng tín hữu niềm hy vọng vào mùa gặt vĩnh cửu, đặc biệt là hy vọng vào sự phục sinh vinh quang. Đây là giai đoạn cuối của Năm Phụng Vụ, thời gian mà Kitô hữu tiếp tục hành trình trong bình an thanh thản với niềm hy vọng vào tương lai.

Tuy nhiên, trong cái ‘thường niên’ ấy vẫn có những điều cho chúng ta nói đến. Nếu tháng sáu là tháng dành kính Thánh Tâm Chúa Giêsu thì tháng bảy lại là tháng dâng kính Bửu Huyết Chúa Giêsu (Month of the Most Precious Blood). Việc sùng kính Bửu Huyết Chúa Giêsu dường như ít được nhấn mạnh cho bằng Thánh Tâm Chúa, ít ra là ở Việt Nam, mặc dầu đã được thiết lập hơn 150 năm rồi.

Lễ Máu Thánh Chúa Giêsu được Đức Giáo Hoàng Piô IX thiết lập năm 1849, và tháng 7 được chính ngài phê chuẩn làm tháng kính Bửu Huyết từ năm 1850, nhưng việc tôn sùng Bửu Huyết đã có từ thuở xa xưa. Những giáo phụ tiên khởi cho rằng Giáo Hội được khai sinh từ cạnh sườn bị đâm thâu của Chúa Kitô, và các bí tích trong Giáo Hội đều được thánh hóa thông qua Máu này.

“Máu Thánh mà chúng ta thờ lạy chính là Máu mà Chúa Cứu Thế đã đổ ra cho chúng ta trên núi Calvê và được thu hồi trong sự Phục Sinh vinh hiển của Ngài; đấy là Máu chảy trong mạch của thân hình phục sinh, vinh hiển, sống động của Ngài, ngự bên phải Chúa Cha trên thiên đàng; đấy là Máu được tái hiện trên bàn thờ qua lời Truyền Phép; đấy là Máu thánh đem lại ân sủng cho chúng ta, rửa sạch và làm đẹp linh hồn chúng ta và khai mở cho bước đầu của cuộc sống vĩnh cửu.”

Trong tháng này, ngày 11 tháng 7 là ngày mà Giáo Hội kính nhớ thánh Biển Đức, hay Benedict, và cũng là lễ bổn mạng tên hiệu của Đức Thánh Cha đương nhiệm Benedict XVI.

Thánh Benedict ra đời tại Nursia miền Umbria, nước Ý, vào khoảng năm 480 và được giáo dục tại Rôma. Vào tuổi trung niên, ngài rời bỏ thế gian để sống đời sống cô tịch tại Subiaco. Sau khi sống trong một cái hang trên núi gần 3 năm với tư cách là một ẩn sĩ, ngài nổi danh quá nên đông đảo môn sinh đến với ngài. Ngài tổ chức một đời sống đan sĩ cho 12 tu viện nhỏ. Dưới sự hướng đẫn của ngài, các đan sĩ tuyên khấn tìm kiếm Chúa và sống đời sống lao động và cầu nguyện. Một thời gian sau ngài rời Subiaco để sáng lập một tu viện lớn tại Monte Cassino, trên đỉnh đồi Campania. Ở đấy, ngài đã viết ra luật dòng Đan Sĩ, kết hợp giữa tư duy La Mã với nếp sống đan sĩ của Kitô giáo phương đông. Luật sống của Ngài là kim chỉ nam cho tu sĩ và cho Kitô hữu trong suốt 1000 năm và vẫn còn giá trị cho đến ngày hôm nay. Ngài qua đời năm 547.

Trong chiều hướng của Thánh Benedict, người kết hợp được trong lòng Giáo Hội những tinh hoa Đông và Tây, Đức Giáo Hoàng Benedict cũng muốn giao hòa mọi khuynh hướng trái ngược trong thời đại nhiễu nhương này. Đấy là điều mà ngài đã minh nhiên tỏ lộ cho Dân Chúa về tên hiệu ngài đã chọn cho mình, ngày thứ tư 27/4/2005, trong buổi tiếp kiến hàng tuần tại quảng trường thánh Phêrô:

Tôi chọn tên Benedict là muốn tiếp nối con đường của Đức Benedict XV (1914-1922), người đã hướng dẫn Hội trong giai đoạn nhiễu nhương của Thế Chiến Thứ Nhất (1914-1918). Theo dấu chân ngài, tôi mong muốn tham gia vào việc hòa giải và hòa thuận giữa mọi người và giữa mọi dân tộc.

Nếu tuần vừa qua, Hoa Kỳ mừng ngày Độc Lập để nêu cao tinh thần Tự Do, một sự tự do được nêu lên như ngọn đuốc cho thế giới ngày nay, thì tại Pháp, trong tuần này, sẽ mừng ngày lễ Độc Lập, 14-7, kỷ niệm cuộc Cách Mạng Pháp 1789, khởi đầu cho kỷ nguyên: Tự Do, Bình Đẳng, Huynh Đệ.

Trong tuần này, ý thức sự tự do tuyệt đối của con cái Chúa mà con người luôn vươn đến, chúng ta tưỏng nhớ đến mọi người bị áp bức và cầu nguyện đặc biệt cho Đức Thánh Cha, để ngài hoàn thành sứ mạng hòa giải của mình. Với những tâm tình đó, Maranatha_ 51 tiếp tục đồng hành con đường ‘thường niên’ của Giáo Hội, với những bài suy niệm và chia sẻ Phúc Âm về “ơn gọi nên thánh” và “hạt giống âm thầm phát triển,” đồng thời tiếp tục những suy tư dẫn vào thinh lặng và cầu nguyện, hầu chúng ta có thể bình thản sống nếp sống của những Kitô hữu, một nếp sống cam go từng ngày nhưng luôn hướng về niềm hy vọng cánh chung: Maranatha,  Lạy Chúa xin ngự đến.

MARANATHA

Trở về mục lục >>


  
SUY NIỆM TIN MỪNG

ƠN GỌI NÊN THÁNH 

Lm. Vũ Xuân Hạnh

Trong Tin Mừng theo thánh Matthêô, Chúa Kitô mời gọi: “Các ngươi hãy nên trọn lành, như Cha các ngươi trên trời là Đấng trọn lành”(Mt 5, 48). Lời mời gọi hãy nên trọn lành để được ơn thánh thiện này là một lời mời gọi không bao giờ cũ, nhưng luôn hợp thời, và đúng lúc. Qua mọi thời, ơn gọi nên thánh là ơn gọi cấp bách cho cả Hội Thánh và cho từng cá nhân. Nhất là trong thời buổi có nhiều cám dỗ dễ đưa ta xa dần với các giá trị thánh thiêng, lời mời gọi nên thánh càng trở nên cấp bách và khẩn thiết.

Nên thánh là ơn gọi nền tảng của người tin vào Thiên Chúa. Sống trong đời, đối với các Kitô hữu, dù là ai, ở chức bậc nào, sang hay hèn, giàu hay nghèo…, nhưng không thủ đắc ơn gọi nên thánh, cuối cùng không đạt tới sự thánh thiện, đều là những người thất bại, là vong thân, là hư mất. Bởi vậy, ơn gọi nên thánh phải là một nhắc nhớ thường xuyên trong suốt đời người, để dù ở bất cứ nơi đâu, suy nghĩ hay hành động bất cứ điều gì, đều phải nhắm tới ơn gọi này, vì đó là mục đích không thể thiếu đối với mỗi người, khi đi qua cuộc đời này.

Từ ngàn xưa, dù không gọi chính xác hai chữ “nên thánh,” Thánh Kinh đã mạc khải cho ta sự cần thiết không thể thiếu của ơn gọi này.

1. TRONG CỰU ƯỚC.

Ngay từ khởi thủy, ơn gọi nền tảng này đã được trao ban cho con người. Sách Sáng thế ghi lại chính lời mạc khải của Thiên Chúa: “Thiên Chúa phán: ‘chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta…’” (St 1, 26). Bởi nói như tiên tri Isaia, Thiên Chúa chẳng những là Đấng Thánh, Người còn là Đấng vô cùng thánh thiện: “Thánh! Thánh! Chí Thánh! Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa” (Is 6, 3), thì nên giống Thiên Chúa, có nghĩa là là loài người cũng được thánh thiện như Thiên Chúa. Bởi ngay từ khi  được tạo dựng, đã tham dự vào sự thánh thiện của Thiên Chúa, nên giống Thiên Chúa là Đấng Thánh, loài người trở nên cao trọng bậc nhất trong các loài thụ tạo, xứng đáng được Thiên Chúa phú ban toàn thể vũ trụ (St 1, 26).

Đến lúc chọn cho mình một dân riêng, Thiên Chúa cũng chỉ nhắm đến ơn gọi thánh thiện này. Vì thế, chính trong ý định của Thiên Chúa, họ là dân cưu mang hồng ân, cưu mang tất cả những lời hứa và những hành động cứu độ của Người. Họ trở thành dân tộc thánh, một dân tộc thuộc về Thiên Chúa, chuyên lo việc tế tự, thực hiện những hoạt động trong mọi lãnh vực thánh: “Vậy giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta, và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Vì toàn cõi đất đều là của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh” (Xh 19, 5- 6). Tất cả những điều Thiên Chúa trao ban ấy, đều nhắm một hướng: Ơn Gọi Nên Thánh.

Chính vì nhắm tới ơn gọi nền tảng này, Thiên Chúa đã không ngừng mời gọi dân ấy đi lên sự thánh thiện của Người. Ơn gọi nên thánh chính là cái đích phải đến của toàn dân. Nhưng nguy cơ đi giật lùi của dân, nghĩa là nguy cơ xa sự thánh thiện ngày càng cao, vì thế trong lịch sử, Thiên Chúa đã nhiều lần răn đe dạy dỗ bằng nhiều biến cố, bằng những lời cảnh báo, lời dọa nạt, thậm chí nhiều cuộc trừng phạt kinh hoàng..., nhằm giáo dục dân để đưa họ đạt tới sự thánh thiện tinh ròng mà họ cần phải có.

Chúng ta thử đọc lại một trong những lời cảnh cáo tội phản bội của dân Chúa: “Thật con cái Giuđa đã làm sự dữ chướng mắt Ta… Chúng đã làm ô uế đền thờ là nơi danh Ta được kêu khấn, vì đã đặt vào đó những tượng thần ghê tởm. Rồi chúng xây các nơi cao ở Tôphét trong thung lũng Behinnôm để hỏa thiêu con trai, con gái chúng.  Sẽ đến ngày… người ta không còn gọi là Tôphét… nhưng là thung lũng giết chóc… Tử thi của dân này sẽ thành mồi cho muông chim cầm thú… Ta sẽ làm cho các thành thị Giuđa và các phố phường Giêrusalem im bặt tiếng hò reo tưng bừng rộn rã, tiếng hát của cô dâu chú rể, vì cả xứ trở nên chốn hoang tàn đổ nát.” (Gr 8, 30 tt).

Dân thánh mà ngày xưa, Thiên Chúa đã dày công uốn nắn, ngay hôm nay đang phát triển khắp hoàn cầu. Dân riêng của hôm nay là một dân phổ quát thánh thiện, được chính Máu Con Thiên Chúa thánh hiến, Lời của Người Con ấy làm luật sống, và ân sủng Thánh Thần được trao từ cuộc phục sinh khải hoàn của Người Con ấy làm sức sống. Và ơn gọi nên thánh cũng là ơn gọi nền tảng dành cho tất cả những ai tin nơi ơn cứu độ mà Người Con ấy thực hiện.

2. ANH CHỊ EM NGOÀI KITÔ GIÁO.

Cũng giống như Cựu ước, dù không nói bằng một tên gọi “nên thánh” như chúng ta, cách nào đó, anh chị em ngoài Kitô giáo cũng gắn bó với một ý hướng nên trọn lành. Mọi người đều được mời gọi ăn ở ngay lành, không làm hại, không oán ghét, không trả thù ai, nhưng hãy bao dung, giúp đỡ, yêu thương, rộng lượng… để không bị báo oán, nhưng sẽ hạnh phúc. Câu nói “ở hiền gặp lành”, là câu răn dạy rất hữu lý và chính đáng mà mọi người đều biết và dạy bảo nhau thực hành.

Ngoài ra, một số anh chị em ngoài Kitô giáo còn chủ trương một lối sống biết hy sinh, tiết chế, chay tịnh, sống nhiệm nhặt để được siêu thoát, để hướng tới một lý tưởng bình an mà người ta không thể tìm thấy nơi trần gian.

Cả những anh chị em vô thần, trong chủ trương và lối sống của mình, cũng bộc lộ niềm khao khát tồn tại, khao khát vĩnh cửu. Chẳng hạn những kiểu nói như: về với tổ tiên, về bên kia thế giới…, hay sự tưởng nhớ những người đã qua đời, lòng trân trọng dành cho các bậc thánh hiền, nhất là đối với các anh hùng dân tộc…, cách nào đó, đều nói lên ý hướng mong muốn không phôi phai, điều mà các Kitô hữu gọi tên ngắn gọn, súc tích nhưng ý nghĩa: “nên thánh!”

Vậy tất cả mọi người, dù chủ trương như thế nào, sống theo lý tưởng nào, cố tình hay vô ý, đều bộc lộ sự khao khát vĩnh hằng của con người, ngay cả sau khi đã ra khỏi trần gian. Sự vĩnh hằng ấy, chúng ta sẽ tìm gặp nơi chính đức tin của các Kitô hữu khi họ đón nhận và sống lời mời gọi nên thánh, nhằm tiến tới sự thánh thiện vững bền trong Thiên Chúa mà họ tôn thờ.

3. THAM DỰ VÀO SỰ THÁNH THIỆN CỦA THIÊN CHÚA.

Trong một thị kiến, tiên tri Isaia nhìn thấy các thần Xêraphim đứng chầu bên ngai Thiên Chúa và không ngớt lời tung hô: “Thánh! Thánh! Chí Thánh! Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa.” (Is 6, 3). Với lời tung hô rất thánh của các thiên thần, tiên tri Isaia như muốn khẳng định Thiên Chúa là Đấng Thánh thiện vô cùng, Thánh thiện tuyệt đối. Ngôn ngữ của loài người như không thể diễn tả hết sự thánh thiện vô song của Thiên Chúa. Vì thế, tiên tri Isaia đã lặp đi lặp lại sự thánh thiện của Người, như để chứng minh, không những Thiên Chúa là Đấng thánh thiện, mà Người còn là Đấng ba lần Thánh: chỉ có mỗi một mình Người là Đấng Thánh.

Phụng vụ của Hội Thánh lấy lại lời ca khen Thiên Chúa là Đấng thánh trong sách tiên tri Isaia để luôn luôn được lặp lại lời tôn vinh vinh hiển này. Nhưng thay vì giữ nguyên văn bản, Hội Thánh thêm vào đó phần hướng về Chúa Kitô: “Hoan hô Chúa trên các tầng trời. Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến. Hoan hô Chúa trên các tầng trời,” để ta biết rằng, khi sống theo khuôn mẫu của đời sống Chúa Kitô, “Đấng nhân danh Chúa mà đến” để trở nên hiện thân của Thiên Chúa, do đó là chính Đấng thánh thiện ở giữa trần gian, ta cũng sẽ như Người, đó là được lãnh nhận chính sự thánh thiện của Thiên Chúa. Cao quý hơn, khi sống như Chúa Kitô, ta sẽ được chính Thiên Chúa là Đấng Thánh thiện thuộc về mình.

Chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng Thánh. Sự thánh thiện của loài người chỉ là tham dự vào sự thánh thiện của Thiên Chúa. Bởi vậy, khi ta gọi anh chị em của mình là thánh (chẳng hạn thánh Giacôbê, thánh Augustinô, thánh Têrêsa…), thì không phải tự bản thân họ trở nên thánh thiện như Thiên Chúa là Đấng thánh. Đúng hơn, ta phải hiểu rằng, Thiên Chúa đã yêu thương cứu độ và thông ban sự thánh thiện của Người cho anh chị em và cho chính chúng ta nữa. Vì thế, mỗi dịp mừng lễ các thánh, Hội Thánh không dừng lại nơi các thánh như chỉ có các thánh mà thôi. Trong mỗi dịp lễ các thánh, điều mà Hội Thánh nhắm đến:

- Trước tiên là xác tín lại đức tin chỉ có một mình Thiên Chúa là Đấng thánh.

- Bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa và ca ngợi, chúc tụng, tôn vinh sự thánh thiện của Người được thể hiện trong sự thánh thiện nơi anh chị em của chúng ta.

- Biết ơn và cảm tạ Thiên Chúa vì đã yêu thương cho loài người được vinh dự chia sẻ sự thánh thiện của Người.

- Kêu mời con cái của mình nhìn lên mẫu gương của vị thánh đang cử hành mà noi gương bắt chước để cùng được chia sẻ sự thánh thiện của Thiên Chúa.

- Chia sẻ sự vui mừng trước vinh dự của chính vị thánh được cử hành.

4. TRÊN ĐƯỜNG NÊN THÁNH.

Trên đường tiến tới trọn lành, nỗ lực của bản thân là điều cần thiết, làm nên yếu tố quyết định cho sự tồn tại trong Thiên Chúa của chính bản thân. Nhưng ta không nên thánh một mình, bởi ơn cứu độ không bao giờ là của cải độc quyền. Trên đường nên thánh có anh em ta cùng bước đi với mình và rất nhiều những yếu tố khác, Thiên Chúa dùng để tác thánh ta:

- Nỗ lực của bản thân: Quyết bước theo ơn gọi nên thánh, đó là chọn lựa cần thiết và là chọn lựa đúng đắn không phải ngày một ngày hai, nhưng phải là sự quyết đoán cho cả một đời làm người. Vì thế để sống cho chọn lựa ấy là cả một sự hiến tế suốt đời. Mà đã là sống hiến tế đời mình, hiến tế ấy không đơn giản, không dễ dàng chút nào. Nó đòi hỏi chấp nhận đau đớn, hy sinh, thua thiệt, từ bỏ… Và trên hết là trung thành với lòng yêu thương chính chọn lựa ấy. Chọn lựa và hiến tế để hoàn thành chọn lựa, chính là nỗ lực của bản thân dấn bước theo Chúa trên đường nên thánh.

- Tình yêu của Chúa và ơn Chúa ban: Dù cho nỗ lực của bản thân là cần thiết. Nhưng không thể loại trừ tình yêu và ơn của Chúa. Bởi nếu Chúa không yêu thương, không chia sẻ sự thánh thiện của Người cho ta, nỗ lực của ta chỉ là công “dã tràng xe cát.” Mặt khác, dù đã quyết tâm để nỗ lực hiến tế đời mình cho ơn gọi nên thánh, trước sau ta vẫn mang kiếp người yếu đuối, vẫn là một thụ tạo thấp hèn. Nếu Chúa không yêu thương tha thứ, nếu Chúa không tuôn đổ muôn ơn gìn giữ, ta sẽ không bao giờ có thể tự mình thánh thiện.

- Ơn cứu độ do Chúa Kitô thực hiện trong Hội Thánh của Người: Nếu chúng ta có tự hiến tế đời mình, thì hiến tế ấy vẫn là nối tiếp hiến tế của Chúa Kitô. Hiến tế của ta phải hội nhập hiến tế của Chúa Kitô, mới làm thành hiến tế cứu độ, mang lại hiệu quả cứu độ.

Nhưng đó vẫn chưa phải là điểm kết. Bởi Chúa Kitô đã trao ban kho tàng ơn cứu độ từ hiến tế của Người cho Hội Thánh, vì thế, vâng lời Hội Thánh dạy, sống theo giáo huấn của Hội Thánh và gắn bó đời mình với mọi chiều kích của Hội Thánh, ta sẽ lãnh lấy ơn cứu độ của Chúa Kitô. Đường nên thánh Kitô hữu phải có Chúa Kitô và Hội Thánh của Người làm định hướng để ta bước tới.

- Lời cầu nguyện, sự hy sinh của các linh hồn và của mọi anh chị em: Đây cũng là một trong những yếu tố không thể không kể đến. Với kinh nghiệm của riêng bản thân, tôi thấy rằng, tôi phải biết ơn nhiều anh chị em. Họ có thể là những người tôi biết mặt, biết tên, nhưng cũng có thể là những người xa lạ hoàn toàn với tôi, âm thầm cũng có, sôi nổi cũng có, trung thành cả một đời, hay một giai đoạn cần thiết nào đó, hy sinh và cầu nguyện cho tôi, cho mọi người, cho các linh mục và tất cả những ai thánh hiến cho Thiên Chúa. Tôi hiểu rất rõ, sự nên thánh của tôi có tất cả các anh chị em ấy, dù họ còn sống hay đã qua đời. 

Bản thân tôi, đã không ít lần xin anh chị em cầu nguyện cho mình. Nhất là khi viếng thăm những gia đình khổ sở, những cá nhân gặp tai ương, hay thăm các bệnh nhân, khi dâng thánh lễ hay làm các phép cuối cùng để tiễn biệt những người rời bỏ cuộc sống để về Nhà Cha…, tôi đều xin các anh chị em ấy cầu nguyện cho tôi.

Cũng thế, bản thân tôi đã nhiều lần hy sinh và cầu nguyện đặc biệt cho nhiều người, cũng có khi cầu nguyện chung chung cho các linh hồn, cho cả Hội Thánh, cho tất cả mọi người và cho thế giới… Tôi tin rằng trong sự thánh thiện của nhiều anh chị em, đều có bản thân tôi góp phần.

Vì thế, tôi quả quyết một cách mạnh mẽ rằng, trên đường đạt tới ơn gọi nên thánh, tôi không đi một mình, nhưng còn có biết bao nhiêu anh chị em của tôi cùng tiến bước. Tôi không lẻ loi, càng không bao giờ cô đơn trong cuộc đời, vì tôi tin, mọi nẻo đường tôi sống hôm nay, dẫu có lúc vấp váp, cả đến tội lỗi, thì trong ý hướng ngay lành của bản thân, vẫn là tìm về Thiên Chúa, vẫn là cùng song hành với Chúa, với tình yêu, với ân huệ của Người, cộng với biết bao nhiêu sự trợ lực của mọi anh chị em xung quanh.

Bạn thân mến, Chúa Kitô chính “là Đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6) của chúng ta. Bước theo Người là bước vào con đường nên thánh như chính Người đã mời gọi: “Các ngươi hãy nên trọn lành, như Cha các ngươi trên trời là Đấng trọn lành.” Nhưng bước theo Người để nên thánh cũng đồng nghĩa với việc can đảm đặt dấu chân đời mình vào dấu chân thánh giá mà Người đã mang, đã gánh bằng tất cả tình yêu và lòng vâng phục. Nên thánh là trở nên giống Chúa Kitô. Vì thế, nên thánh là con đường khó, là đi vào lối hẹp, là hoàn thành cây thánh giá đời mình trong tình yêu và vâng phục như Chúa Kitô.

Xin Chúa ban cho ta hạnh phúc được vác thánh giá với Chúa. Xin Chúa ban cho ta bình an để chấp nhận thánh giá trong đời mình, để nên giống Chúa và giống như “Cha trên trời là Đấng trọn lành.”

 

Trở về mục lục >>

 

  ĐỐI CHIẾU TIN MỪNG & CUỘC SỐNG


«NHÂN» VÀ «DUYÊN» CỦA SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI

 

Nguyễn Chính Kết

     1. Lý thuyết «nhân» và «duyên»

          Dụ ngôn gieo giống của Đức Giêsu khiến người ta nghĩ đến thuyết nhân duyên của Phật giáo. Muốn có được cây lúa, điều tối quan trọng là phải có hạt giống lúa, đó chính là «nhân» để có «quả» là cây lúa. Nhưng hạt lúa không thể nảy mầm và phát triển nếu không có những điều kiện thuận lợi như: đất tốt, nước, nhiệt độ, ánh sáng, hoặc phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, v. v… Những điều kiện ấy gọi là «duyên». Nếu những điều kiện để phát triển ấy hết sức thuận lợi mà không có hạt giống lúa thì cũng không bao giờ có được cây lúa. Như vậy, phải hội đủ «nhân» và «duyên» thì mới có thể sinh ra «quả» mong muốn.

     2. Nhân nào quả nấy

          Điều quan trọng nhất để có «quả» mà ta mong muốn, là ta phải có «nhân» tương ứng với «quả». Muốn có quả sầu riêng, ta phải dùng hạt sầu riêng để trồng, không thể trồng hạt mít mà ra cây hay trái sầu riêng được. Muốn có trái sầu riêng thơm, ngon, to, ta không chỉ cần trồng hạt sầu riêng, mà còn phải trồng loại hạt sầu riêng thật tốt. Hạt tốt mới sinh ra trái tốt được. Đức Giêsu cũng đã từng nói về luật nhân quả này: «Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ? Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt» (Mt 7,16-18).

          Vậy muốn đạt được mục đích, ta phải xác định mục đích của ta – tức «quả» mà ta muốn vun trồng – là gì? Sau đó phải tìm «nhân» hay hạt giống thích hợp, và cuối cùng là phải tạo «duyên» hay điều kiện thuận lợi. Đối với người Ki-tô hữu, mục đích cuối cùng của con người chính là Thiên Chúa, cũng là sự sống đời đời, là hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu. Muốn đạt được, ta cần phải xác định thật rõ mục đích ấy cho suốt cả đời mình. Nếu «quả» là sự sống đời đời hay hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu, thì «nhân» hay hạt giống phát sinh ra «quả» ấy là gì?

     3. «Nhân» hay hạt giống sinh ra «quả» sự sống đời đời

          Muốn biết «nhân» sinh ra «quả» sự sống đời đời là gì, ta hãy nghe Đức Giêsu nói.

          Một trong những «nhân» quan trọng dẫn đến sự sống đời đời là mến Chúa yêu người: «Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp ? – Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình» (Lc 10,25.27). Có người đã làm được những điều ấy, thì Đức Giêsu đòi hỏi hỏi họ theo Ngài: «Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời ? – Hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi» (Mt 19,16.21; x. Mc 10,17.21).

          Ngoài ra còn phải tin vào Đức Giêsu: «Ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời» (Ga 3,16), và vâng nghe lời Ngài: «Ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời» (Ga 5,24), vì lời của Ngài là lời hằng sống: «Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời» (Ga 6,68). Nhờ tin và vâng nghe lời Ngài mà ta nhận biết Chúa Cha, nguồn gốc của sự sống đời đời: «Sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Ki-tô» (Ga 17,3).

          Sau khi tin Đức Giêsu và nhận biết Chúa Cha, sự sống đời đời đòi hỏi ta sống hết mình cho niềm tin ấy, nghĩa là sống yêu thương và xả thân: «Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời» (Ga 12,25).

          Ngoài ra, để có sự sống đời đời, chúng ta cần được nuôi dưỡng bằng chính máu thịt của Đức Giêsu: «Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời» (Ga 6,54). Nghĩa là càng ngày ta càng phải tiêm nhiễm tính chất yêu thương của Đức Giêsu vào người, dần dần thay thế chất «tôi» bằng chất «Ngài», nói khác đi là được Giêsu hóa, hay biến thành Giêsu để cuối cùng nên giống Ngài hoàn toàn.

          Làm như thế, Đức Giêsu sẽ trở thành một nguồn nước trường sinh đem sự sống đời đời cho ta, đồng thời cũng biến chính ta thành nơi mang mạch nước đem lại sự sống cho những người chung quanh: «Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời» (Ga 4,14).

          Theo Đức Giêsu, đó là những «nhân» sẽ sinh ra «quả» là sự sống đời đời. Vì thế, muốn được sống đời đời, tức sống hạnh phúc đích thực, chúng ta phải gieo những «nhân» ấy chứ không phải những «nhân» khác. Muốn có sự sống đời đời mà lại gieo những hạt nhân khác với những «nhân» ấy, thì chẳng khác gì muốn trồng lúa mà lại dùng hạt bắp hay hạt cỏ. Hiện nay, biết bao người muốn có sự sống đời đời nhưng lại đang gieo những hạt giống khác với những hạt giống mà Đức Giêsu đã chỉ bảo: chẳng hạn cố gắng giữ cho thật kỹ những thói quen hay tập tục tôn giáo nào đấy, những nghi thức, những buổi cầu kinh… Thế thì thật là «công dã tràng»! Bạn có phải là hạng người đó không?

     4. «Duyên» hay những điều kiện để «nhân» thành «quả»

          Những «nhân» vừa kể là tối cần thiết để phát triển thành «quả» sự sống đời đời. Nhưng để phát triển thành quả, cần phải có những điều kiện hay hoàn cảnh thuận lợi.

          Đức Giêsu đã đưa ra một số những hoàn cảnh khác nhau:

          «Có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất»: Có những người đã trồng đúng hạt giống của sự sống đời đời, nghĩa là đã nhất quyết sống yêu thương, sống tinh thần của Đức Giêsu. Nhưng rất tiếc lòng ham danh, lợi, quyền và những vui thú trần gian, hoặc có những lý thuyết trần tục hấp dẫn họ quá mạnh, lôi cuốn họ vào con đường hưởng thụ cá nhân, ích kỷ, khiến họ từ bỏ việc sống theo tinh thần Đức Giêsu.

          «Có những hạt rơi vào nơi sỏi đá, chỗ đất không có nhiều; nó mọc ngay, vì đất không sâu; nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô»: Đây là những người đã khởi sự sống tinh thần yêu thương của Đức Giêsu một thời gian, nhưng vì chưa quyết tâm dứt khốt và sâu xa, chưa xác tín vào con đường theo Chúa, nên khi bị thử thách bởi nghịch cảnh, đã không bền đỗ, đã từ bỏ con đường mình đang theo.

          «Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt»: Đây là những người quyết tâm theo Chúa đến cùng, nhưng đồng thời cũng theo đuổi một số đam mê trần tục. Tới một lúc nào đó có sự xung đột giữa hai con đường khiến họ phải dứt khốt chọn một. Lúc đó họ bị con đường trần tục hấp dẫn hơn khiến họ từ bỏ con đường theo Chúa.

          «Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục»: Đây là những người quyết tâm theo Chúa đến cùng, lại biết củng cố quyết tâm đó mỗi ngày bằng suy tư lời Chúa, cầu nguyện, từ bỏ mình, hy sinh cho tha nhân. Nhờ đó họ luôn trung thành với tinh thần của Đức Giêsu, bất chấp những khó khăn nghịch cảnh, những cám dỗ của trần thế. Nếu có sa ngã, họ vẫn chỗi dậy được để tiếp tục con đường. Tùy theo cao độ quyết tâm và mức độ củng cố quyết tâm ấy mà họ đạt tới những mức độ thánh thiện và bản lãnh nội tâm khác nhau. Tuy họ đều đạt được sự sống đời đời hay hạnh phúc đích thực một cách tràn đầy, nhưng dung lượng hạnh phúc ấy khác nhau. Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng minh họa sự khác nhau này bằng những bình chứa có dung lượng khác nhau, cái 1 lít, cái 10, cái 100, cái 1000 lít… Cái nào cũng đầy tràn chất lỏng đến nỗi không thể chứa thêm được nữa. Nghĩa là số lượng hạnh phúc đích thực có thể khác nhau rất xa, nhưng ai cũng đều ở mức độ tràn đầy tối đa (100%).

          Như vậy, đọc bài Tin Mừng này, ta hãy xác định cho thật rõ mình phải gieo «nhân» nào vào tâm hồn ta để có sự sống đời đời, và sau đó phải tạo «duyên» tức biến tâm hồn ta thành thửa đất tốt bằng cách nào để «nhân» đó phát triển thành «quả». Điều tối quan trọng là đừng gieo lầm «nhân» kẻo uổng công tu tập hay giữ đạo cả đời một cách sai lạc

Trở về mục lục >>

 

THEO ÁNH MẮT TÂM LINH

Khổng Nhuận

 

Đây là bài được coi như tổng kết của một loạt bài Nền tảng sống đời Kitô hữu. Nhờ nắm được cốt tủy Kitô giáo, chúng ta xây dựng cho mình một quan niệm, một lối nhìn. Đây chính là một trong những chìa khóa vạn năng có thể mở được tất cả những vấn đề liên quan tới cuộc sống đạo chân thực của người Kitô hữu.

Có nhiều cách sống đạo, có nhiều trình độ sống đạo. Từ cấp thấp nhất như chỉ có tên trong sổ Rửa tội hoặc là theo đạo để lập gia đình, sau đó: Con lấy được vợ, con thôi nhà thờ.

Cao hơn một chút và có lẽ số này chiếm đông nhất. Đó là giữ đạo hình thức: cũng đi lễ, cũng rước lễ (chứ không phải rước Chúa), cũng đọc kinh, và đôi khi mạnh dạn tuyên xưng đức tin bằng cách làm Dấu Thánh Giá trong nhà hàng đông người. Nhưng đời sống đạo thì lại giống như quả trứng gà rỗng ruột!! chỉ còn lại một lớp vỏ mong manh!!

Ngoài ra, có một số người cố gắng phấn đấu sống đạo cho tốt hơn. Nhưng ngay trong số những người này, cũng có thể chia làm 2 nhóm khác nhau, tùy theo quan điểm. Mỗi nhóm đứng trên đỉnh núi mang màu sắc khác nhau. Từ đó, mỗi nhóm mang cặp kính khác nhau.

I.   Nhóm thứ nhất

Đứng trên đỉnh núi màu đen với cặp mắt kiếng đen ngòm thày bói.

1.      Đặc điểm

Với cặp mắt kiếng đen ngòm, tôi thấy toàn thân-tâm mình nhuộm một màu đen tối, u ám, thê lương - mang biểu tượng một hình tròn đen thùi lùi. Đó là tình trạng cảm thức phàm hèn, yếu đuối, tội lỗi. Tôi yên trí rằng Thiên Chúa là đối tượng ở ngoài tôi để tôi thờ lạy, cầu xin; để tôi suy nghĩ, chiêm ngắm về Ngài. Tôi nhìn Chúa theo kiểu định đề toán học với những thuộc tính tuyệt đối, với lòng tự hào ngất trời: Chúa là đấng ngàn trùng thánh đức, dựng nên trời đất muôn vật, quyền phép vô cùng, thông minh vô cùng, nhân lành vô cùng, công bằng vô cùng … Trái lại, tôi là một thụ tạo đầy khuyết điểm, với tấm linh hồn yếu đuối, mong manh, tội lỗi, xấu xa…

2.      Mục đích giữ đạo

Đời sau được rỗi linh hồn tức là được lên Thiên Đàng hưởng mặt Chúa.

Muốn được rỗi linh hồn tôi phải

Xa lánh các dịp tội, nhất là tội trọng.

Hy sinh, hãm mình, cố gắng chịu đựng vì Chúa để đền tội.

Lập công phúc bằng cách đọc kinh, cầu nguyện, xem lễ, chịu các phép bí tích, làm việc tông đồ, bác ái… Tóm lại tôi phải giữ giáo lý của Chúa: Mến Chúa, yêu người.

3.      Tâm tình giữ đạo

Mục đích cuối cùng là làm sao được lên Thiên Đàng, nhưng chắc chắn một điều là tôi không bao giờ được diễm phúc lên trời thẳng cẳng. Bởi vì cuộc đời giữ đạo của tôi căn cứ trên 2 cuốn sổ: bìa vàng để ghi công trạng, bìa đen để ghi tội lỗi. Sổ bìa vàng vẫn cứ mỏng manh chưa tới 10 trang giấy; trong khi sổ bìa đen lại dày lên rất nhanh theo năm tháng tội tình. Vì yếu đuối phàm hèn, vương vấn tội lỗi, tôi sẽ bị giam cầm nơi luyện ngục lâu lắm, nghe thiên hạ dù doạ: Một phút trên trần gian bằng một ngày nơi luyện ngục - Chúa định nhốt tôi một năm thì tương dương gần 1500 năm trên trần thế!!!. Không hy vọng gì những người còn sống sẽ thường xuyên cầu nguyện cho tôi. Tôi thấy rõ một sự thật phũ phàng: Chính tôi cũng không mấy khi nhớ cầu nguyện cho những người thân yêu đã khuất. Chính đìều này khiến cho việc giữ đạo của tôi đầy bối rối, âu lo, nhất là khi phải đối diện với cái chết. Thật kinh khủng biết bao!!

Có nhiều khi tôi cũng mong ước tiến tới đỉnh trọn lành, nhưng vì cảm thức thân phận yếu hèn trước Đấng Ngàn Trùng Thánh Đức như dòng sông chia cắt đôi bờ Thánh - Phàm. Cảm thức đó có lúc biến thành Bức Tường Ô Nhục sừng sững, vòi vọi ngăn cách giữa tôi và Chúa. Tôi không thể nào vượt qua được dù tôi biết ơn Chúa dồi dào nâng đỡ tôi nhưng cái Thân-Phận-Hèn-Hạ-Tội-Lỗi cứ ghì chặt tôi lại. Vì thế tình Chúa và tôi như hàn thử biểu nóng lạnh bất chợt trước phong ba bão tố cuộc đời. Thỉnh thoảng, nhất là sau tuần tĩnh tâm, tôi cảm thấy gần gũi Chúa hơn, nhưng tôi vẫn cảm thấy bức tường vô hình tàn nhẫn phong tỏa tình yêu nồng nàn của tôi khiến cho tình yêu nồng cháy của tôi chẳng mấy chốc đã vội tàn phai .

II. Nhóm thứ hai

Đứng trên đinh núi màu trắng như tuyết với Ánh Mắt Tâm Linh trong suốt pha lê.

1.      Đặc điểm

Theo ánh mắt Tâm linh, tôi nhận ra Chúa là tình yêu. Chính Ngài sinh ra tôi, tôi là con ruột của Ngài. (Ga 1:13). Ngài ban Thánh Thần vào lòng tôi để tôi sống nhờ sự sống thần linh và sức mạnh của Ngài. (Rm 5:5). Ngài còn cho tôi thông phần bản tánh Thiên Chúa (2Pr 1:4). Như vậy bản chất tôi vốn là thánh từ đầu đến chân. Tượng trưng cho vòng tròn trắng trong, không một vết nhơ tội lỗi. Một khám phá vĩ đại nhất khiến tôi tâm đắc nhất: Thiên Chúa của tôi là một Thiên Chúa nội tại, Ngài hiện diện ngay trong tâm của tôi. Tất nhiên Ngài còn hiện diện khắp mọi nơi: trên trời xanh thẳm, trong nhà tạm cô đơn, qua tâm bánh thánh hiền hoà. Ngài cũng chính là nguồn sống dồi dào viên mãn để tôi sống nhờ Ngài. Y như Anh cả Giêsu đã từng tuyên bố: Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha (Ga 6:57). Thêm vào đó: Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được rằng chúng ta ở lại trong Người và Người ở lại trong chúng ta:đó là Người đã ban Thần Khí của Người cho chúng ta. (1Ga 4;13). Chúng ta ở lại trong Người và Người ở lại trong chúng ta sẽ đưa tới một kết luận rất đỗi ngọt ngào: Tôi và Ngài không có khoảng cách vì đã nên một trong nhau.

2.      Mục đích cuộc sống đạo

Tôi sống hiệp nhất với Ngài để hưởng bình an, hoan lạc, hạnh phúc với Ngài ngay tại đời này và mãi mãi trong kiếp sống mai sau…

3.      Tâm tình sống đạo

Chúa đã ban cho tôi tất cả: sự sống thần linh, sức mạnh và thần tánh của Ngài. Sung sướng quá, tôi chỉ có mỗi một việc là tập sống bằng nguồn sống linh thánh của Ngài, dựa vào sức mạnh toàn năng của Ngài mà vượt qua khó khăn, trở ngại, cám dỗ để tôi lớn lên trong niềm vui kết hợp với Ngài ngày càng mật thiết hơn. Chúa của tôi lúc này không còn hình tướng: Vua cả uy nghi trên trời, Ngưòi Cha nhân lành, ngưòi bạn thân thiết, người tình tôn quý (các soeur thường nhận Đức Giêsu là Đấng Tình Quân của mình). Dù không mang hình tướng, nhưng Ngài hiện diện thật sống động trong tâm tôi để: Chính ở nơi Người mà chúng ta sống, cử động, và hiện hữu (Cv 17:28).

Nói như vậy không có nghĩa là tôi luôn sống trong Ngài, nhưng theo ngày tháng trôi đi, thời gian sống trong Ngài tăng lên. Đây là lối sống vừa tâm linh, vừa lý trí, vừa siêu việt vừa gần gũi với niềm xác tín sâu xa, chứ không lệ thuộc cảm tính: vui làm, buồn nghỉ. Chỉ có thể tăng chứ không nóng lạnh bất chợt, hăng chán bất thường theo tình cảm con người. Chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước. (Gl 5:25). Từ đó, dẫn tới kết quả rất tuyệt vời: Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.(Rm 14;17). Thế nên, cuộc sống đạo của tôi rất thoải mái, vui tươi, bình an, hạnh phúc.

Chúa ở đâu, Thiên Đàng ở đó. Hiện nay, tôi đang tập sống nên một với Chúa, cũng có nghĩa là tôi đang nếm hưởng Thiên Đàng ngay tại thế gian này. Như vậy, cuộc sống đạo của tôi quả là hạnh phúc, ngọt ngào.

Lưu ý quan trọng

Nói như vậy không có nghĩa là khi tôi sống đạo Theo ánh mắt Tâm linh. lập tức tôi trở thành thánh nhân, không còn biết trần gian là gì nữa, bỏ bê vợ con, nhà cửa. Tối ngày ở nhà xứ dọn dẹp, tổ chức, hay dấn thân cả đời lo phục vụ cho công trình của Chúa. Thực ra, khi chuyển sang lối nhìn Theo ánh mắt Tâm linh con người thân xác vẫn không ngừng núi kéo tôi trở lại lối mòn muôn thủa của con người cũ với lối nhìn nhân loại. Một lối nhìn đã hằn sâu vào trí não tôi suốt gần 40 năm. Tôi cũng đã phải khổ sở, phải cố gắng và ban đầu tôi cũng đã từng rất loạng quạng. Bất cứ một chuyện gì xảy ra, con người cũ của tôi bao giờ cũng lên tiếng trước và cố gắng giành phần thắng về phía mình. Tôi đã vấp ngã nhiều phen, nhưng đứng dậy và tiếp tục đi trên con đường mình đã khám phá.

Càng sống Theo ánh mắt Tâm linh, tôi càng xác tín tôi vốn là con yêu dấu của Chúa, tràn đầy sức mạnh Thần Khí của Ngài. Nhờ đó, cuộc chiến của tôi trở nên nhẹ nhàng hơn, và ngày càng lướt thắng tư tưởng nhân loại. Cuối cùng, sự sống thần linh và sức mạnh Thần Khí Thiên Chúa dần dần lớn lên trong tôi. Bề ngoài, tôi vẫn sống như xưa: đi lễ, rước Chúa, phục vụ vợ con, anh em, cộng đoàn, giáo xứ…nhưng với một tinh thần mới, một trái tim mới, một lối nhìn mới. Từ đó, cuộc sống đời Kitô hữu chân thực của tôi mới bình an, hạnh phúc. Đây mới là cuộc sống đạo đồi dào, vững mạnh trong tình yêu thương Thiên Chúa theo ánh mắt tâm linh

 

Trở về mục lục >>

 

 CẦU NGUYỆN

 NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG

(tiếp theo Maranatha_50)

Michel Hubaut - Maranatha dịch

19. THIÊN CHÚA ĐÃ NÓI HẾT MỌI SỰ

KHI NGÀI THINH LẶNG MÀ CHẾT.

Nếu những lần thinh lặng của Chúa Kitô là những lời cũng quan trọng như giáo huấn mà Ngài để lại cho chúng ta, thì sự thinh lặng hùng biện nhất trong Tân Ước là sự thinh lặng trong các phiên tòa xử án Ngài. Ngài là người chẳng hề ngại tố cáo sự giả hình hoặc đối đầu với Cha Đẻ của sự dối trá, nhưng Ngài lại ‘thinh lặng’ trước vị Thượng Tế (Mc 14,61), trước Hêrôđê (Lc 23, 9) và trước Philatô. Sự thinh lặng của người công trính đối lập với sự hung hăng bất công của đối thủ Ngài. Sự thinh lặng uy nghi của đấng Messia, khi Giờ Ngài đã đến, và cũng quyền lực duy nhất của Ngài là quyền lực sáng chói của chân lý.

“Khi Ngài bị thượng tế và các kỳ lão buộc tội, Ngài không trả lời một tiếng. Vì thế Philatô mới hỏi: ‘Ông không nghe những gì họ làm chứng chống ông sao?’ và Ngài chẳng trả lời về điểm nào cả, khiến viên tổng trấn rất ngạc nhiên.” (Mt 27, 12-14)

Nhưng sự thinh lặng của Ngài không hề là thái độ hèn nhát. Khi chân lý đòi hỏi, Ngài không ngần ngại nói rõ ràng: “Vị Thượng Tế đứng dậy và nói: ‘Ông không trả lời gì cả sao? Những người này làm chứng chống ông về điều gì vậy?’ Nhưng Đức Giêsu vẫn thinh lặng. Vị Thượng Tế mới nói: ‘Nhân danh Thiên Chúa Hằng Sống, tôi muốn ông nói là ông có phải Đấng Kitô, con Thiên Chúa, hay không’. Đức Giêsu đáp lại: ‘Ông đã nói rồi đấy’.” (Mt  26,63-64)

Nếu Đức Kitô có nói vài lời trên thập giá, thì trước hết đó là lời thinh lặng. Sự thinh lặng của con người chịu đóng đinh thập giá này trở thành một Lời cảm động nát lòng. Thiên Chúa đã nói hết mọi sự khi Ngài thinh lặng mà chết!

Nếu sự thinh lặng của con người, xét theo số lượng các văn bản, được đề cao hơn trong Cựu Ước, thì cần lưu ý rằng những văn bản Tân Ước có được một ánh sáng mới, bởi lẽ chúng qui hướng về con người Đức Giêsu. Sự thinh lặng bao trùm mầu nhiệm Đức Giêsu làm ta liên hệ đến sự thinh lặng bao trùm mầu nhiệm của chính Thiên Chúa! Sự thinh lặng này không còn đơn thuần là lẽ khôn ngoan thế gian mà đạt đến mức độ thần học rồi.

20. “ANH EM CŨNG HÃY RA NƠI VẮNG VẺ!”

Sau chuyến đi tông đồ đầu tiên trở về, Đức Giêsu nói với các tông đồ: “Anh em cũng hãy ra nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một tí” (Mc 6,31). Sự khôn ngoan và lòng ân cần của Đức Kitô, Đấng biết rằng những người ấy cần lùi lại để suy nghĩ về các thành công thất bại trong sứ mạng của mình, hầu điều chỉnh lại lại ‘bên cạnh Ngài’, hầu cảm nếm một sự nghỉ ngơi chính đáng. Người được sai đi càng trầm mình vào thế gian, thì càng cần phải cắm rễ vào sự hiện diện của Thầy. Ở đây, thánh Maccô vạch ra nhịp điệu trường kỳ của mọi cuộc sống thừa sai: đón nhận Lời Chúa trong thinh lặng và công bố Lời ấy nơi công khai, chiêm niệm và hoạt động tông đồ.

Ta không nên quên rằng từ ‘nghỉ ngơi’ trong Kinh Thánh có một âm vang đặc biệt. Đi vào trong sự ‘nghỉ ngơi của Thiên Chúa’ có nghĩa là đi vào Đất Hứa, nơi mà Thiên Chúa sẽ cư ngụ với dân Người. Đối với thánh Maccô, sự ‘nghỉ ngơi’ này gợi lên tình thân mật mới ‘bên cạnh Đức Kitô’, vị Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.

Như thánh Gioan đã viết một cách tuyệt vời, mọi Kitô hữu đều là chứng nhân cho một Đấng hiện hữu mà mình đã chiêm ngắm và lắng nghe trong thinh lặng nguyện cầu: “Điều chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã chiêm ngắm... thì chúng tôi loan báo cho anh em.” (1Ga 1,1tt).

Và khi đối diện với nghịch cảnh, người làm chứng bị cám dỗ lẫn trốn, thì cũng chính trong thinh lặng mà người ấy lại nghe được tiếng của Đấng đã sai mình và sẽ tìm lại được dũng cảm theo đuổi sứ mạng của mình. Chước cám dỗ ‘bỏ cuộc’ của tiên tri Êlia là một minh họa sắc nét (1V 19, 1-15)

Êlia vừa chiến thắng các tiên tri giả phục vụ dưới trướng của nữ hoàng Giêzabel, một người độc ác và thờ ngẫu tượng. Bà giận dữ báo cho vị tiên tri biết rằng bà sẽ giết ông khi xuất hiện cơ hội đầu tiên.

Lo sợ, Êlia trốn và sa mạc! “Êlia sợ hãi, ông trỗi dậy và tìm cách thoát thân. Ông đến Becshabê thuộc Giuđa, và để gia nhân mình ở lại đấy.” Vị tiên tri từng năng nổ vì tin chắc rằng mình có được sức mạnh của Thiên Chúa, giờ đây chỉ còn là một con người đáng thương, sợ hãi đến thắt ruột. Ông ý thức giới hạn của con người mình. Ông trú ẩn vào nơi sa mạc, quyết tâm biến đi trong thiên nhiên mà không để cho ai hay biết.

“Thế là ông đi một ngày trong sa mạc và ngồi xuống dưới bụi cây. Ông mong muốn được chết nên nói: ‘Lạy Chúa, thế là đủ rồi! Xin cất mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con.’ Ông nằm xuống và thiếp ngủ.”

Ông bị dằn vặt vì sự chênh lệch giữa gánh nặng của sứ mệnh và khả năng hạn chế của con người ông. Những giờ phút đầu tiên bước đi một mình thì đầy tràn về bản thân ông, về những vấn đề của ông, về thất bại của ông. Cần phải có một thời gian mới buộc im tiếng cho những trận cuồng phong của suy nghĩ, của thắc mắc, của phản kháng mình, vì chúng vẫn còn ồn ào quá, dù cho ông ở nơi sa mạc, một sa mạc chỉ làm cho tiếng ồn nội tâm được khuếch đại lên thôi. Ông chỉ còn một nơi duy nhất để trú ẩn, đấy là giấc ngủ. Ngủ đi! Quên đi! Không còn nghĩ ngợi gì nữa. Giấc ngủ đôi khi là một hình thức chạy trốn.

“Nhưng này một thiên sứ chạm vào ông và nói: ‘hãy trỗi dậy mà ăn’. Ông nhìn lên và thấy ở cạnh mình một ổ bánh nướng trên đá nóng và một bầu nước. Ông ăn uống, rồi nằm xuống lại. Nhưng thiên sứ của Thiên Chúa lại đến một lần nữa, chạm vào ông và nói: ‘hãy trỗi dậy mà ăn, nếu không thì ông không đủ sức đi hết đoạn đường xa’. Ông trỗi dậy và ăn uống”.

Thiên Chúa không bỏ rơi tôi tá Người. Hai lần, Người tế nhị đến viếng thăm, đánh thức ông khỏi cơn ngái ngủ - biểu trưng cho mọi sự mệt mỏi thiêng liêng của chúng ta - và nuôi sống ông. Êlia cần phải hồi phục sức lực vì con đường nội tâm của ông chỉ mới khởi đầu. Vì thế, trong thinh lặng, ông đón nhận các ân huệ của Thiên Chúa, ăn bánh Lời Người, uống nước hằng sống của Thánh Linh.

“Nhờ lương thực ấy, ông đi 40 đêm ngày để đến Horeb, ngọn núi của Thiên Chúa”. Êlia phải đi một cách biểu trưng theo lộ trình đức tin của dân ông, để tìm lại con đường đến Sinai, nơi ưu tuyển để Gặp Gỡ. Đấy chính là nơi mà Thiên Chúa đã ký kết một Giao Ước với con người; đấy chính là nơi mà cuộc Xuất Hành đã tìm thấy trọn vẹn ý nghĩa, đấy chính là nơi mà Người đã mặc khai Danh Người cho Môsê.

Êlia cần phải cắm rễ lại ơn gọi của mình vào một cảm nghiệm cá nhân đối với sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng đã sai ông đi, và cắm rễ lại sứ mạng mình vào chương trình Tình Yêu của Người, vào Lịch Sử cứu độ. Một cảm nghiệm nội tâm, không thể diễn đạt bằng lời! Thế nên tác giả Thánh Kinh đã biểu trưng bằng một hình ảnh thật đẹp đó là làn gió hiu hiu.

“Ông vào một cái hang và nghỉ đêm tại đó... Bấy giờ có tiếng hỏi ông: ‘Êlia, ngươi làm gì ở đây?’ Ông thưa: ‘Lòng nhiệt thành đối với Đức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh, nung nấu con, vì con cái Israen đã bỏ giao ước với Người, phá hủy  bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ Người. Chỉ sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng con’.” Êlia khởi sự kêu lên nổi chán ngán của mình. Lòng hăng say của ông đối với sứ mạng Chúa trao chưa hề chết đi và chính vì thế mà ông chua xót trước sự việc là Thiên Chúa có vẻ thất bại, sự thù địch vẫn còn, kẻ vô đạo vẫn nhởn nhơ, và dân trung thành với giao ước thì lại bị bỏ rơi.

“Đức Chúa phán với ông: ‘Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Đức Chúa’. Cái hang mà Êlia đứng nơi cửa gợi cho ta nhớ lại khe núi mà Môsê lánh khỏi mặt Người khi Người đi ngang qua (Xh 33,21). Hang này cũng tượng trưng cho ‘cõi lòng’ mà mọi người phải đứng nơi cửa để đón tiếp Thiên Chúa trực tiếp đi qua.

“Kìa Đức Chúa đi ngang qua. Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong cơn gió bão. Sau đó là động đất, nhưng Đức Chúa không ở trong trận động đất. Sau động đất là lửa, nhưng Đức Chúa cũng không ở trong lửa. Sau lửa có tiếng gió hiu hiu.”

Hẳn là Êlia chờ đợi một cuộc ‘hiển linh’ ngoạn mục, một biểu hiện rền vang của Thiên Chúa. Ông vẫn hy vọng vào một Thiên Chúa hùng mạnh, có khả năng trấn áp đối phương. Thiên Chúa lo tẩy rửa những quan niệm quá con người của ông, khi ông vẽ vời Người theo hình ảnh của lòng mong muốn thống trị hay bạo lực của chính bản thân mình.

Thiên Chúa không có mặt trong tiếng gầm thét của bão táp, không có mặt trong sự cuồng nộ của động đất. Tác giả Kinh Thánh viết như thế. Thiên Chúa viếng thăm Êlia trong cơn gió thoảng, ‘trong tiếng thì thầm một làn gió hiu hiu’ mà ta chỉ có thể cảm nhận trong thinh lặng. ‘Êlia đã nghe được’.

Ông khám phá rằng Thiên Chúa hiện diện cũng như hơi thở, một làn gió, một sinh khí giống như sức sống mà sách Sáng Thế đã nêu ra, khi ‘Đức Chúa thổi sinh khí vào mũi’ để biến Ađam thành một con người. (St 2,7).

“Đức Chúa phán: ‘Hãy đi đi, hãy trở về trên con đường ngươi đã đi qua...’.” Một lần nữa, được củng cố nhờ cảm nghiệm thiêng liêng này, nhờ sự thân mật với Thiên Chúa mà ông tìm lại được trong thinh lặng, Êlia từ nay sẽ có khả năng tiếp tục lắng nghe tiếng gọi của Thiên Chúa và chu toàn sứ mạng của mình. Trong lòng ông lại vang lên tiếng ‘hãy đi’, cái tiếng biến con người thành chứng nhân và ngôn sứ. Ông đã canh tân lòng dũng cảm nội tâm vì nó được đặt nền tảng trên niềm xác tin rằng cuộc chiến đấu của ông chính là cuộc chiến đấu của Thiên Chúa, Đấng không bao giờ bỏ mặc ông một mình. Ông phải thông qua sự lột xác và sự thinh lặng của sa mạc để tìm thấy nguồn mạch của ơn gọi mình và tính chất nhưng không trong ơn cứu độ của Thiên Chúa. (Còn tiếp)

Trở về mục lục >>

 

THINH LẶNG: CẦU NGUYỆN TẬP TRUNG

 

                                                                                                     Đỗ Trân Duy

Về dạng thức cầu nguyện, Kitô giáo có ba hình thức: Cầu nguyện thành tiếng (vocal prayer), cầu nguyện trong suy ngẫm (tĩnh tâm, meditation), và cầu nguyện trong chiêm niệm (contemplative prayer). Chữ meditation thường được các học giả dùng để nói về Zen (thiền định), vì vậy thiền Kitô được gọi là Christian meditation. Thực ra danh xưng meditation đã có từ lâu trong Kitô giáo và là dạng cầu nguyện lectio divina. Đó là một nghi thức đọc Thánh Kinh và lắng nghe người đọc Thánh Kinh với tâm hồn chìm sâu trong ý của lời. Chiêm niệm chủ yếu hướng vào khả năng tự ý thức và chứng nghiệm của cá nhân. Chiêm niệm là trạng thái thức tỉnh và giác ngộ chân lý rồi sống với chân lý ấy. Ngôn từ xem ra có vẻ rắc rối, để dễ hình dung, chúng ta có thể tạm đặt ba dạng cầu nguyện trên theo tiến trình thời gian như sau. Khởi đầu ta cất tiếng đọc kinh cầu nguyện. Kế đó ta tĩnh tâm suy ngẫm về ý nghĩa thâm sâu của lời kinh. Sau cùng ta đạt trình độ sống thực với chân lý của lời kinh. Tuy chúng ta có thể phân biệt ý nghĩa của ba dạng cầu nguyện, nhưng những danh xưng của chúng lại rất mơ hồ. Vì ngôn ngữ chưa thống nhất, nên người ta thường dùng lẫn lộn qua lại giữa chiêm niệm, tĩnh tâmsuy ngẫm. Vả lại ý niệm suy ngẫmchiêm niệm cũng có thể dùng cho bất cứ trường hợp nào. Vì vậy, khi nói đến “chiêm niệm”, mỗi người thường nắm bắt những ý niệm khác nhau.

Gần đây có một dạng tĩnh tâm mới, được một số cha dòng Bênêđíc quảng bá ngày càng rộng, đó là dạng cầu nguyện tập trung (centering prayer). Dạng cầu nguyện này khác hẳn với ba dạng cầu nguyện trên. Cầu nguyện tập trung là danh xưng được đặt ra cốt để tách biệt khỏi những danh xưng cũ, hầu tránh tình trạng sử dụng lẫn lộn như đã xảy ra. Danh xưng tuy mới nhưng dạng cầu nguyện này đã có từ thế kỷ thứ III trong lịch sử Kitô giáo. Cầu nguyện tập trung là đặt tất cả ý thức sự hiện hữu vào điểm thời gian của hiện tại. Nói cụ thể nó chính là dạng thiền của Đông phương phối hợp với lối chiêm niệm của các ẩn sĩ Kitô giáo trong thế kỷ III. Vì vậy, cầu nguyện tập trung còn được gọi là thiền Kitô (Christian Zen). Trong dạng cầu nguyện này chúng ta chỉ ngồi im lặng từ đầu chí cuối. Ta ngồi “cầu nguyện” nhưng không đọc kinh, không suy ngẫm, không chiêm niệm, và không ngay cả tư tưởng. Ta không có ý cầu nguyện bất cứ điều gì, dù là cầu nguyện với Thiên Chúa. Ta cũng không mong đợi bất cứ điều gì xảy ra, dù là hy vọng vào Thiên Chúa. Ta đóng lại tất cả mọi giác quan, mọi xúc cảm, mọi suy nghĩ, mọi lo lắng, mọi ràng buộc, để chìm vào cõi im lặng của hư vô. Vì không có tư tưởng nên ý thức về thời gian cũng không có. Tuy nhiên ta vẫn thức tỉnh để “biết” rằng ta đang hòa vào Thiên Chúa trong hiện tại vĩnh hằng. Sự biết này không phải do ý thức của trí óc nhưng là sự biết ở bên trong, tức sự trực giác của ta.

Các thần học gia gọi phương thế giữ mình trong im lăng là sự an trú trong tình yêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa ẩn dấu trong cõi im lặng. Muốn gặp Thiên Chúa chúng ta hãy vào cõi im lặng. Trong những dạng cầu nguyện khác, ta “kéo” Thiên Chúa xuống cho hợp vớí trình độ hiểu biết của ta. Vì thế Thượng Đế trở thành một phóng ảnh của trí óc ta. Trái lại trong Cầu nguyện tập trung ta phó mình cho Thiên Chúa dẫn dắt ta theo ý của Người. Im lặng là một huyền nhiệm nên không thể giải thích phẩm tính của im lặng. Im lặng nằm bên ngoài thế giới vật lý và những định luật của vũ trụ. Người ta có thể tìm hiểu nguồn gốc của dạng Cầu nguyện tập trung với những chứng liệu trong Thánh Kinh, nhưng người ta không thể tìm được một văn kiện nào luận về Cầu nguyện tập trung. Bởi vì dạng cầu nguyện này không phải là giáo lý, giáo điều hay trình độ kiến thức. Nó hoàn toàn chỉ là sự trống vắng rất đơn sơ và giản dị. Giản dị đến mức không có gì để nói. Chủ yếu của Cầu nguyện tập trung là chứng nghiệm cá nhân. Trong tĩnh lặng chúng ta cảm nhận tình yêu của Thiên Chúa trong sự phó mặc. Thế thôi, ngoài ra không có gì để nói cả.

Tuy nhiên người ta thường không muốn chấp nhận một điều gì đó mà không có tối thiểu vài khái niệm về nó. Cho nên người ta có khuynh hướng giải thích cầu nguyện tập trung qua những khái niệm thần học, hay ít ra qua những khái niệm triết học. Một số thần học gia và tư tuởng gia đã có những cảm nghĩ rất linh động về sự tĩnh lặng. Chúng không phải là lời giải thích nhưng là những lời gợi cảm rất sắc bén và xúc động. Chẳng hạn cha Merton cho rằng: cầu nguyện không phải chỉ là đứng trước Thiên Chúa để nói một điều gì, nhưng là để “kinh nghiệm niềm vui cuộc sống trong sự hiện diện của Ngài”. Cha Chu Công nói,