NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG

(tiếp theo Maranatha_50)

Michel Hubaut - Maranatha dịch

19. THIÊN CHÚA ĐÃ NÓI HẾT MỌI SỰ

KHI NGÀI THINH LẶNG MÀ CHẾT.

Nếu những lần thinh lặng của Chúa Kitô là những lời cũng quan trọng như giáo huấn mà Ngài để lại cho chúng ta, thì sự thinh lặng hùng biện nhất trong Tân Ước là sự thinh lặng trong các phiên tòa xử án Ngài. Ngài là người chẳng hề ngại tố cáo sự giả hình hoặc đối đầu với Cha Đẻ của sự dối trá, nhưng Ngài lại ‘thinh lặng’ trước vị Thượng Tế (Mc 14,61), trước Hêrôđê (Lc 23, 9) và trước Philatô. Sự thinh lặng của người công trính đối lập với sự hung hăng bất công của đối thủ Ngài. Sự thinh lặng uy nghi của đấng Messia, khi Giờ Ngài đã đến, và cũng quyền lực duy nhất của Ngài là quyền lực sáng chói của chân lý.

“Khi Ngài bị thượng tế và các kỳ lão buộc tội, Ngài không trả lời một tiếng. Vì thế Philatô mới hỏi: ‘Ông không nghe những gì họ làm chứng chống ông sao?’ và Ngài chẳng trả lời về điểm nào cả, khiến viên tổng trấn rất ngạc nhiên.” (Mt 27, 12-14)

Nhưng sự thinh lặng của Ngài không hề là thái độ hèn nhát. Khi chân lý đòi hỏi, Ngài không ngần ngại nói rõ ràng: “Vị Thượng Tế đứng dậy và nói: ‘Ông không trả lời gì cả sao? Những người này làm chứng chống ông về điều gì vậy?’ Nhưng Đức Giêsu vẫn thinh lặng. Vị Thượng Tế mới nói: ‘Nhân danh Thiên Chúa Hằng Sống, tôi muốn ông nói là ông có phải Đấng Kitô, con Thiên Chúa, hay không’. Đức Giêsu đáp lại: ‘Ông đã nói rồi đấy’.” (Mt  26,63-64)

Nếu Đức Kitô có nói vài lời trên thập giá, thì trước hết đó là lời thinh lặng. Sự thinh lặng của con người chịu đóng đinh thập giá này trở thành một Lời cảm động nát lòng. Thiên Chúa đã nói hết mọi sự khi Ngài thinh lặng mà chết!

Nếu sự thinh lặng của con người, xét theo số lượng các văn bản, được đề cao hơn trong Cựu Ước, thì cần lưu ý rằng những văn bản Tân Ước có được một ánh sáng mới, bởi lẽ chúng qui hướng về con người Đức Giêsu. Sự thinh lặng bao trùm mầu nhiệm Đức Giêsu làm ta liên hệ đến sự thinh lặng bao trùm mầu nhiệm của chính Thiên Chúa! Sự thinh lặng này không còn đơn thuần là lẽ khôn ngoan thế gian mà đạt đến mức độ thần học rồi.

20. “ANH EM CŨNG HÃY RA NƠI VẮNG VẺ!”

Sau chuyến đi tông đồ đầu tiên trở về, Đức Giêsu nói với các tông đồ: “Anh em cũng hãy ra nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một tí” (Mc 6,31). Sự khôn ngoan và lòng ân cần của Đức Kitô, Đấng biết rằng những người ấy cần lùi lại để suy nghĩ về các thành công thất bại trong sứ mạng của mình, hầu điều chỉnh lại lại ‘bên cạnh Ngài’, hầu cảm nếm một sự nghỉ ngơi chính đáng. Người được sai đi càng trầm mình vào thế gian, thì càng cần phải cắm rễ vào sự hiện diện của Thầy. Ở đây, thánh Maccô vạch ra nhịp điệu trường kỳ của mọi cuộc sống thừa sai: đón nhận Lời Chúa trong thinh lặng và công bố Lời ấy nơi công khai, chiêm niệm và hoạt động tông đồ.

Ta không nên quên rằng từ ‘nghỉ ngơi’ trong Kinh Thánh có một âm vang đặc biệt. Đi vào trong sự ‘nghỉ ngơi của Thiên Chúa’ có nghĩa là đi vào Đất Hứa, nơi mà Thiên Chúa sẽ cư ngụ với dân Người. Đối với thánh Maccô, sự ‘nghỉ ngơi’ này gợi lên tình thân mật mới ‘bên cạnh Đức Kitô’, vị Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.

Như thánh Gioan đã viết một cách tuyệt vời, mọi Kitô hữu đều là chứng nhân cho một Đấng hiện hữu mà mình đã chiêm ngắm và lắng nghe trong thinh lặng nguyện cầu: “Điều chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã chiêm ngắm... thì chúng tôi loan báo cho anh em.” (1Ga 1,1tt).

Và khi đối diện với nghịch cảnh, người làm chứng bị cám dỗ lẫn trốn, thì cũng chính trong thinh lặng mà người ấy lại nghe được tiếng của Đấng đã sai mình và sẽ tìm lại được dũng cảm theo đuổi sứ mạng của mình. Chước cám dỗ ‘bỏ cuộc’ của tiên tri Êlia là một minh họa sắc nét (1V 19, 1-15)

Êlia vừa chiến thắng các tiên tri giả phục vụ dưới trướng của nữ hoàng Giêzabel, một người độc ác và thờ ngẫu tượng. Bà giận dữ báo cho vị tiên tri biết rằng bà sẽ giết ông khi xuất hiện cơ hội đầu tiên.

Lo sợ, Êlia trốn và sa mạc! “Êlia sợ hãi, ông trỗi dậy và tìm cách thoát thân. Ông đến Becshabê thuộc Giuđa, và để gia nhân mình ở lại đấy.” Vị tiên tri từng năng nổ vì tin chắc rằng mình có được sức mạnh của Thiên Chúa, giờ đây chỉ còn là một con người đáng thương, sợ hãi đến thắt ruột. Ông ý thức giới hạn của con người mình. Ông trú ẩn vào nơi sa mạc, quyết tâm biến đi trong thiên nhiên mà không để cho ai hay biết.

“Thế là ông đi một ngày trong sa mạc và ngồi xuống dưới bụi cây. Ông mong muốn được chết nên nói: ‘Lạy Chúa, thế là đủ rồi! Xin cất mạng sống con đi, vì con chẳng hơn gì cha ông của con.’ Ông nằm xuống và thiếp ngủ.”

Ông bị dằn vặt vì sự chênh lệch giữa gánh nặng của sứ mệnh và khả năng hạn chế của con người ông. Những giờ phút đầu tiên bước đi một mình thì đầy tràn về bản thân ông, về những vấn đề của ông, về thất bại của ông. Cần phải có một thời gian mới buộc im tiếng cho những trận cuồng phong của suy nghĩ, của thắc mắc, của phản kháng mình, vì chúng vẫn còn ồn ào quá, dù cho ông ở nơi sa mạc, một sa mạc chỉ làm cho tiếng ồn nội tâm được khuếch đại lên thôi. Ông chỉ còn một nơi duy nhất để trú ẩn, đấy là giấc ngủ. Ngủ đi! Quên đi! Không còn nghĩ ngợi gì nữa. Giấc ngủ đôi khi là một hình thức chạy trốn.

“Nhưng này một thiên sứ chạm vào ông và nói: ‘hãy trỗi dậy mà ăn’. Ông nhìn lên và thấy ở cạnh mình một ổ bánh nướng trên đá nóng và một bầu nước. Ông ăn uống, rồi nằm xuống lại. Nhưng thiên sứ của Thiên Chúa lại đến một lần nữa, chạm vào ông và nói: ‘hãy trỗi dậy mà ăn, nếu không thì ông không đủ sức đi hết đoạn đường xa’. Ông trỗi dậy và ăn uống”.

Thiên Chúa không bỏ rơi tôi tá Người. Hai lần, Người tế nhị đến viếng thăm, đánh thức ông khỏi cơn ngái ngủ - biểu trưng cho mọi sự mệt mỏi thiêng liêng của chúng ta - và nuôi sống ông. Êlia cần phải hồi phục sức lực vì con đường nội tâm của ông chỉ mới khởi đầu. Vì thế, trong thinh lặng, ông đón nhận các ân huệ của Thiên Chúa, ăn bánh Lời Người, uống nước hằng sống của Thánh Linh.

“Nhờ lương thực ấy, ông đi 40 đêm ngày để đến Horeb, ngọn núi của Thiên Chúa”. Êlia phải đi một cách biểu trưng theo lộ trình đức tin của dân ông, để tìm lại con đường đến Sinai, nơi ưu tuyển để Gặp Gỡ. Đấy chính là nơi mà Thiên Chúa đã ký kết một Giao Ước với con người; đấy chính là nơi mà cuộc Xuất Hành đã tìm thấy trọn vẹn ý nghĩa, đấy chính là nơi mà Người đã mặc khai Danh Người cho Môsê.

Êlia cần phải cắm rễ lại ơn gọi của mình vào một cảm nghiệm cá nhân đối với sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng đã sai ông đi, và cắm rễ lại sứ mạng mình vào chương trình Tình Yêu của Người, vào Lịch Sử cứu độ. Một cảm nghiệm nội tâm, không thể diễn đạt bằng lời! Thế nên tác giả Thánh Kinh đã biểu trưng bằng một hình ảnh thật đẹp đó là làn gió hiu hiu.

“Ông vào một cái hang và nghỉ đêm tại đó... Bấy giờ có tiếng hỏi ông: ‘Êlia, ngươi làm gì ở đây?’ Ông thưa: ‘Lòng nhiệt thành đối với Đức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh, nung nấu con, vì con cái Israen đã bỏ giao ước với Người, phá hủy  bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ Người. Chỉ sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng con’.” Êlia khởi sự kêu lên nổi chán ngán của mình. Lòng hăng say của ông đối với sứ mạng Chúa trao chưa hề chết đi và chính vì thế mà ông chua xót trước sự việc là Thiên Chúa có vẻ thất bại, sự thù địch vẫn còn, kẻ vô đạo vẫn nhởn nhơ, và dân trung thành với giao ước thì lại bị bỏ rơi.

“Đức Chúa phán với ông: ‘Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Đức Chúa’. Cái hang mà Êlia đứng nơi cửa gợi cho ta nhớ lại khe núi mà Môsê lánh khỏi mặt Người khi Người đi ngang qua (Xh 33,21). Hang này cũng tượng trưng cho ‘cõi lòng’ mà mọi người phải đứng nơi cửa để đón tiếp Thiên Chúa trực tiếp đi qua.

“Kìa Đức Chúa đi ngang qua. Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong cơn gió bão. Sau đó là động đất, nhưng Đức Chúa không ở trong trận động đất. Sau động đất là lửa, nhưng Đức Chúa cũng không ở trong lửa. Sau lửa có tiếng gió hiu hiu.”

Hẳn là Êlia chờ đợi một cuộc ‘hiển linh’ ngoạn mục, một biểu hiện rền vang của Thiên Chúa. Ông vẫn hy vọng vào một Thiên Chúa hùng mạnh, có khả năng trấn áp đối phương. Thiên Chúa lo tẩy rửa những quan niệm quá con người của ông, khi ông vẽ vời Người theo hình ảnh của lòng mong muốn thống trị hay bạo lực của chính bản thân mình.

Thiên Chúa không có mặt trong tiếng gầm thét của bão táp, không có mặt trong sự cuồng nộ của động đất. Tác giả Kinh Thánh viết như thế. Thiên Chúa viếng thăm Êlia trong cơn gió thoảng, ‘trong tiếng thì thầm một làn gió hiu hiu’ mà ta chỉ có thể cảm nhận trong thinh lặng. ‘Êlia đã nghe được’.

Ông khám phá rằng Thiên Chúa hiện diện cũng như hơi thở, một làn gió, một sinh khí giống như sức sống mà sách Sáng Thế đã nêu ra, khi ‘Đức Chúa thổi sinh khí vào mũi’ để biến Ađam thành một con người. (St 2,7).

“Đức Chúa phán: ‘Hãy đi đi, hãy trở về trên con đường ngươi đã đi qua...’.” Một lần nữa, được củng cố nhờ cảm nghiệm thiêng liêng này, nhờ sự thân mật với Thiên Chúa mà ông tìm lại được trong thinh lặng, Êlia từ nay sẽ có khả năng tiếp tục lắng nghe tiếng gọi của Thiên Chúa và chu toàn sứ mạng của mình. Trong lòng ông lại vang lên tiếng ‘hãy đi’, cái tiếng biến con người thành chứng nhân và ngôn sứ. Ông đã canh tân lòng dũng cảm nội tâm vì nó được đặt nền tảng trên niềm xác tin rằng cuộc chiến đấu của ông chính là cuộc chiến đấu của Thiên Chúa, Đấng không bao giờ bỏ mặc ông một mình. Ông phải thông qua sự lột xác và sự thinh lặng của sa mạc để tìm thấy nguồn mạch của ơn gọi mình và tính chất nhưng không trong ơn cứu độ của Thiên Chúa. (Còn tiếp)

 

Trở về Muc Lục