THINH LẶNG: CẦU NGUYỆN TẬP TRUNG

                                                                                                     Đỗ Trân Duy

Về dạng thức cầu nguyện, Kitô giáo có ba hình thức: Cầu nguyện thành tiếng (vocal prayer), cầu nguyện trong suy ngẫm (tĩnh tâm, meditation), và cầu nguyện trong chiêm niệm (contemplative prayer). Chữ meditation thường được các học giả dùng để nói về Zen (thiền định), vì vậy thiền Kitô được gọi là Christian meditation. Thực ra danh xưng meditation đã có từ lâu trong Kitô giáo và là dạng cầu nguyện lectio divina. Đó là một nghi thức đọc Thánh Kinh và lắng nghe người đọc Thánh Kinh với tâm hồn chìm sâu trong ý của lời. Chiêm niệm chủ yếu hướng vào khả năng tự ý thức và chứng nghiệm của cá nhân. Chiêm niệm là trạng thái thức tỉnh và giác ngộ chân lý rồi sống với chân lý ấy. Ngôn từ xem ra có vẻ rắc rối, để dễ hình dung, chúng ta có thể tạm đặt ba dạng cầu nguyện trên theo tiến trình thời gian như sau. Khởi đầu ta cất tiếng đọc kinh cầu nguyện. Kế đó ta tĩnh tâm suy ngẫm về ý nghĩa thâm sâu của lời kinh. Sau cùng ta đạt trình độ sống thực với chân lý của lời kinh. Tuy chúng ta có thể phân biệt ý nghĩa của ba dạng cầu nguyện, nhưng những danh xưng của chúng lại rất mơ hồ. Vì ngôn ngữ chưa thống nhất, nên người ta thường dùng lẫn lộn qua lại giữa chiêm niệm, tĩnh tâmsuy ngẫm. Vả lại ý niệm suy ngẫmchiêm niệm cũng có thể dùng cho bất cứ trường hợp nào. Vì vậy, khi nói đến “chiêm niệm”, mỗi người thường nắm bắt những ý niệm khác nhau.

Gần đây có một dạng tĩnh tâm mới, được một số cha dòng Bênêđíc quảng bá ngày càng rộng, đó là dạng cầu nguyện tập trung (centering prayer). Dạng cầu nguyện này khác hẳn với ba dạng cầu nguyện trên. Cầu nguyện tập trung là danh xưng được đặt ra cốt để tách biệt khỏi những danh xưng cũ, hầu tránh tình trạng sử dụng lẫn lộn như đã xảy ra. Danh xưng tuy mới nhưng dạng cầu nguyện này đã có từ thế kỷ thứ III trong lịch sử Kitô giáo. Cầu nguyện tập trung là đặt tất cả ý thức sự hiện hữu vào điểm thời gian của hiện tại. Nói cụ thể nó chính là dạng thiền của Đông phương phối hợp với lối chiêm niệm của các ẩn sĩ Kitô giáo trong thế kỷ III. Vì vậy, cầu nguyện tập trung còn được gọi là thiền Kitô (Christian Zen). Trong dạng cầu nguyện này chúng ta chỉ ngồi im lặng từ đầu chí cuối. Ta ngồi “cầu nguyện” nhưng không đọc kinh, không suy ngẫm, không chiêm niệm, và không ngay cả tư tưởng. Ta không có ý cầu nguyện bất cứ điều gì, dù là cầu nguyện với Thiên Chúa. Ta cũng không mong đợi bất cứ điều gì xảy ra, dù là hy vọng vào Thiên Chúa. Ta đóng lại tất cả mọi giác quan, mọi xúc cảm, mọi suy nghĩ, mọi lo lắng, mọi ràng buộc, để chìm vào cõi im lặng của hư vô. Vì không có tư tưởng nên ý thức về thời gian cũng không có. Tuy nhiên ta vẫn thức tỉnh để “biết” rằng ta đang hòa vào Thiên Chúa trong hiện tại vĩnh hằng. Sự biết này không phải do ý thức của trí óc nhưng là sự biết ở bên trong, tức sự trực giác của ta.

Các thần học gia gọi phương thế giữ mình trong im lăng là sự an trú trong tình yêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa ẩn dấu trong cõi im lặng. Muốn gặp Thiên Chúa chúng ta hãy vào cõi im lặng. Trong những dạng cầu nguyện khác, ta “kéo” Thiên Chúa xuống cho hợp vớí trình độ hiểu biết của ta. Vì thế Thượng Đế trở thành một phóng ảnh của trí óc ta. Trái lại trong Cầu nguyện tập trung ta phó mình cho Thiên Chúa dẫn dắt ta theo ý của Người. Im lặng là một huyền nhiệm nên không thể giải thích phẩm tính của im lặng. Im lặng nằm bên ngoài thế giới vật lý và những định luật của vũ trụ. Người ta có thể tìm hiểu nguồn gốc của dạng Cầu nguyện tập trung với những chứng liệu trong Thánh Kinh, nhưng người ta không thể tìm được một văn kiện nào luận về Cầu nguyện tập trung. Bởi vì dạng cầu nguyện này không phải là giáo lý, giáo điều hay trình độ kiến thức. Nó hoàn toàn chỉ là sự trống vắng rất đơn sơ và giản dị. Giản dị đến mức không có gì để nói. Chủ yếu của Cầu nguyện tập trung là chứng nghiệm cá nhân. Trong tĩnh lặng chúng ta cảm nhận tình yêu của Thiên Chúa trong sự phó mặc. Thế thôi, ngoài ra không có gì để nói cả.

Tuy nhiên người ta thường không muốn chấp nhận một điều gì đó mà không có tối thiểu vài khái niệm về nó. Cho nên người ta có khuynh hướng giải thích cầu nguyện tập trung qua những khái niệm thần học, hay ít ra qua những khái niệm triết học. Một số thần học gia và tư tuởng gia đã có những cảm nghĩ rất linh động về sự tĩnh lặng. Chúng không phải là lời giải thích nhưng là những lời gợi cảm rất sắc bén và xúc động. Chẳng hạn cha Merton cho rằng: cầu nguyện không phải chỉ là đứng trước Thiên Chúa để nói một điều gì, nhưng là để “kinh nghiệm niềm vui cuộc sống trong sự hiện diện của Ngài”. Cha Chu Công nói, “Ta không tìm bình an, không tìm giác ngộ, không tìm gì cho mình… Chúa là tất cả của giờ cầu nguyện.” Tôi không muốn đi xa hơn vì không muốn bạn bị lôi cuốn vào thế giới khái niệm. Một khái niệm nào đó dù có thập phần hoàn mỹ cũng thất bại khi diễn tả về Thượng Đế. Khi tâm ta nghĩ đến danh xưng “Thiên Chúa”, dù muốn dù không danh xưng ấy trở thành một khái niệm của trí thức chủ quan. Hãy ra khỏi mọi ý niệm, vì ý nghĩa của cầu nguyện tập trung nằm ở cuối đường của những khái niệm. Tôi chỉ có thể nói thêm rằng khi Thiên Chúa sinh ra con người, Thiên Chúa thở hơi của mình vào xác phàm của con người. Xác phàm trở thành mạng sống vì hơi thở của Thiên Chúa là Thần Khí ban sự sống. Vậy trong thế cầu nguyện tập trung, ta chỉ nên ngồi im lặng mà hít thở. Ta hòa tan hữu thể với Thần Khí ban sự sống. Bời vậy trong cầu nguyện tập trung, chúng ta chẳng có đề tài gì để suy nghĩ, để tìm tòi. Chúng ta còn không dùng tới trí tuệ hay lý trí. Nói cho cùng, cầu nguyện tập trung không phải là việc làm của trí thông minh. Đó là thời gian của đức tin và lòng khiêm nhường. Tất cả mọi ý thức của ta tập trung hoàn toàn trong ý thức “đang im lặng trong niềm tin”.

Tuy nhiên người ta nghiệm ra, không dễ gì mà giữ được im lặng trong trạng thái hoàn toàn có ý thức. Trí óc con người rất giao động. Nó luôn luôn phóng ra những hình ảnh và tư tưởng lộn xộn. Nó không chịu nằm yên trong thinh lặng. Vì vậy, cái cốt yếu phải biết trong dạng cầu nguyện tập trung là kỹ thuật giữ thinh lặng. Các tổ phụ Kitô thiền dậy rằng để giữ thinh lặng, chúng ta phải ngồi, giữ lưng thật thẳng, hơi thở điều hòa, mắt nhắm lim dim, miệng tụng một câu kinh ngắn, rồi chìm vào hư vô[1]. Cần nói rõ câu kinh ngắn không phải là lời cầu nguyện. Nó chỉ là câu niệm mà âm thanh của nó có công dụng giúp trí óc không chạy vẩn vơ. Một điều lý thú là tổ thiền John Main đã dùng nhóm từ “Maranathan” làm câu niệm cho hội đoàn của ngài. Thêm nữa cầu nguyện tập trung không phải lúc nào cầu nguyện cũng được. Trái lại chỉ nên cầu nguyện một ngày hai lần, mỗi lần khoảng từ 20 đến 30 phút trong những giờ giấc nhất định. Vì vấn đề kỹ thuật được nhấn mạnh, nên người ta có khuynh hướng tục hóa nghi thức này. Cuối cùng nó có thể trở thành một loại công phu “Yoga” luyện tập thể chất. Điều này không phải là sai, vì lối “ngồi im lặng” hóa giải được sự căng thẳng của thể xác và làm thư giãn tinh thần. Nhưng nếu ta không ý thức đó là dạng cầu nguyện, nó chẳng mang lại một tiến bộ tâm linh nào cho ta cả.

Sau một thời gian “tu thân” chúng ta mới hiểu ý nghĩa của dạng cầu nguyện tập trung. Như những bông sen thơm tho bị chôn trong bùn đen, những giá trị nhân bản ẩn khuất từ từ khai triển và mở ra. Con người của ta trở nên khác trước. Chẳng hạn ta tự nhiên có lòng bác ái, điều mà ta đã cố gắng lập đức từ lâu mà không sao thể hiện được. Sự diễn biến xảy ra rất tự nhiên trong khi ta không biết tại sao. Chính Thiên Chúa đã thanh lọc tâm hồn ta trong những lần ta đến an trú trong Người. Hữu thể của ta đã nối kết với Thượng Đế ở một nơi ngoài tầm của ngôn ngữ, của lý trí và của những thực thể. Vào mỗi buổi sáng, sau khi ta chìm trong cầu nguyện tập trung, sự sung mãn của tình yêu tồn tại bao phủ tâm hồn ta trong cả một ngày. Mọi việc tầm thường ta làm trong ngày đều có ý nghĩa hơn, vì ta có cảm nhận Thiên Chúa đứng đàng sau mọi việc. Ta thấy Thiên Chúa hiện diện khắp nơi và ta sống với lòng cảm mến tri ân. Trình độ này một ngày nào đó sẽ đến với ta. Đó là cốt tủy ý nghĩa và hoa quả của cầu nguyện tập trung

Trở về Muc Lục