|
|
Maranatha 52, Ngày 23-07-2005
Điều Chính Yếu Nhất Để Theo Chúa Là Từ Bỏ Mình - Nguyễn Chính Kết Thức Tỉnh - Khổng Nhuận Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng (tt) - Lm. Michet Hubaut – Maranatha dịch Chân Dung Thánh Maria Mađalêna - Đỗ Trân Duy Hôn Phối Đồng Phái - Lm. Trần Trung Liêm O.P Thư Gởi Chim Oanh - LTCT Hãy Xem Họ Là Những Người Mang Thương Tích - Sưu Tầm Cái Lưỡi - Sưu Tầm Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc
Kính thưa quý độc giả,
Những ngày này, trong khi thế giới đang nóng bỏng và lo âu về những tin tức khủng bố, chiến tranh ở Anh quốc, I-rắc, Chech-nya; thì cường quốc Hoa Kỳ cũng thấp thỏm lo âu và căng thẳng về tình hình an ninh trong nội địa. Tin tức đăng tải hàng giờ, và trong những tin được đăng tải hàng đầu hôm nay, thứ năm ngày 21 tháng 7 năm 2005 là tin Thượng Viện Canada đã thông qua dự luật C-38 với tỷ lệ 47 phiếu thuận, 21 phiếu chống và 3 phiếu trắng để cho việc kết hôn đồng tính được chính thức chấp thuận. Với việc thông qua luật này, Canada là nước thứ tư sau Hòa Lan, Bỉ và Tây Ban Nha hợp pháp hóa việc kết hôn đồng tính. Tại Hoa Kỳ, một vài tiểu bang cũng đang vận động ráo riết để việc kết hôn đồng tính được hợp pháp, trong khi đó tiểu bang Massachusetts luật pháp cũng đã chính thức chấp nhận nhìn nhận việc kết hôn đồng tính. Tin từ Vatican cho biết, Giáo Hội Công Giáo cũng lên tiếng bày tỏ lập trường chống đối luật này, và chia sẻ nỗi đau với Hội Đồng Giám Mục Canada đã thất bại sau ba năm tranh đấu trong việc bảo vệ giá trị hôn nhân gia đình. Các Giám Mục đã cảnh cáo rằng việc thông qua luật kết hôn đồng tính sẽ gây ra những hậu quả tiêu cực, phương hại đến nền giáo dục các con trẻ và làm băng hoại xã hội. Theo nhật báo Người Quan Sát, L'Osservatore Romano, “khi hôn nhân đồng tính được luật pháp ở Canada cho phép chính thức ngang hàng với hôn nhân gia đình thì đã làm méo mó kế hoạch yêu thương cao cả của Thiên Chúa dành cho sự kết hợp cao quý của ý nghĩa đời sống vợ chồng.” Đây là vấn đề ở Châu Mỹ, Châu Âu, ở Việt Nam thì vấn đề này lạ lẫm và xem ra không liên hệ gì đến việc miếng cơm manh áo với bao nhiêu lo lắng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Nhưng làm sao biết được, hiện nay khi thị trường Việt Nam đang mở cửa để hy vọng xây dựng một đời sống khả quan hơn về mặt kinh tế; thì việc đô thị hoá, công nghiệp hóa, rồi chủ nghĩa cá nhân, cách nào đó, những vấn đề tưởng chừng rất xa lạ với văn hoá và nếp sống gia đình của người Việt cũng đã chẳng len vào được đến lũy tre làng của chúng ta rồi sao? Thì những vấn đề và ảnh hưởng của thế giới xem ra xa vời có thể lan đến chính lúc mình không ngờ nhất, một ngày không xa. Hơn nữa, sống trong thế giới hôm nay và cùng chia sẻ thân phận con người, thì “không có gì thuộc về con người mà không vang dội trong lòng người theo Chúa Kitô.” (Gaudium et Spes, số 1). Sống trong thế giới đảo điên, các giá trị nhân bản, Tin Mừng bị xáo trộn đến là đau lòng, tuy vậy, Mùa Thường Niên vẫn tiếp tục sáng lên với màu xanh của sự sống, của cây cỏ mùa hè. Trong tuần cuối cùng của tháng 7, Giáo Hội kính nhớ Thánh Maria Mađalêna, và ngày 26 tháng 7, Giáo Hội kính nhớ Thánh Gioakim và Anna, song thân của Đức Maria. Trong ý suy gẫm của ngày lễ kính này, giá trị hôn nhân gia đình được nhắc lại cách rõ ràng hơn bao giờ: “Tình yêu dẫn đến hôn nhân là một con đường thánh thiện, một ơn gọi, một con đường để hiến dâng toàn diện cho Thiên Chúa. Tình yêu này phải đưa đến hiệu quả và hoạt động nơi hoa trái, tức là con cái. Tình yêu chân thực sẽ biểu hiện trong việc nỗ lực dạy dỗ con cái biết sống chuyên cần, tiết độ, và có giáo dục, theo đúng ý nghĩa của từ ngữ và trở nên những tín hữu tốt lành.” Trong đường hướng tìm về lời mời gọi của Tin Mừng và giá trị của hôn nhân gia đình, Maranatha_52 tuần này mời quý vị cùng tìm hiểu đường hướng của Giáo Hội trong bài Hôn Nhân Đồng Phái, và chân dung của người nữ được gọi là Tông Đồ của Các Tông Đồ. Và trong tâm tình của những người theo Chúa Kitô, tín hữu chúng ta luôn cần tìm những giờ phút thinh lặng thẳm sâu để nhìn lại mình, nhìn lại cuộc đời với muôn ngàn biến đổi để học cách từ bỏ, để hiểu và cảm thông nỗi đau của người khác, để yêu thương và tha thứ cho nhau. Dẫu cuộc đời vốn không thể khác, chúng ta vẫn cố gắng vươn lên giữa những vất vả đời thường, vì biết rằng mình được yêu thương bởi một tình yêu lớn hơn bản thân mình, nỗi khổ của mình, để những thập giá, túng cực, vất vả và khổ đau của đời người vẫn là một sự thật không thể chạy trốn thì chính nơi này, ở đây, hôm nay…Thầy Chí Thánh luôn ở cùng khi chúng ta chân thành khẩn nguyện: Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!
MARANATHA
TIN
MỪNG CHÚA NHẬT
ĐIỀU CHÍNH YẾU NHẤT
ĐỂ THEO CHÚA Nguyễn Chính Kết 1. «Vui mừng đi bán tất cả những gì mình có» trước tiên phải là một thái độ nội tâm. Trong dụ ngôn này, để mua được kho báu hay viên ngọc quý, người mua phải «vui mừng đi bán tất cả những gì mình có» thì mới mua được kho báu hay viên ngọc ấy. Với dụ ngôn này, Đức Giêsu muốn nói: để đạt được sự sống đời đời, con người phải sẵn sàng từ bỏ tất cả những gì mình có thì mới xứng đáng với sự sống ấy. Đối với Thiên Chúa, thái độ nội tâm quan trọng hơn việc làm bên ngoài. Người Việt vẫn nói: «Thèm lòng chứ không thèm thịt». Đức Giêsu cũng nói: «Ta muốn tình yêu chứ không cần lễ vật» (Mt 9,13; 12,7). Đương nhiên ai có thái độ nội tâm thật sự, thì thái độ ấy tất nhiên phải thể hiện thành hành động khi cần hoặc khi có điều kiện thể hiện. Vậy điều chính yếu nhất để đạt được sự sống đời đời là thái độ sẵn sàng từ bỏ mọi sự, không chừa lại cho mình một thứ gì. Thiên Chúa luôn đòi hỏi những ai theo Ngài một thái độ như vậy trong nội tâm. Một khi ta đã thật sự có thái độ ấy – thường được biểu lộ tự nhiên bằng những hành động cụ thể – thì Ngài không nhất thiết buộc ta phải tiếp tục từ bỏ thật sự bằng hành động. Ngài đã biết rõ lòng ta rồi! Trái lại, trong rất nhiều trường hợp, Ngài còn ban cho ta nhiều điều vượt khỏi tầm mơ ước của ta. Chính Đức Giêsu nói: «Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con hay ruộng đất, gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu ở đời sau» (Mc 10,29-30). Tuy nhiên, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Ngài vẫn luôn đòi hỏi ta phải có thái độ nội tâm là sẵn sàng từ bỏ mọi sự. 2. Điều chính yếu nhất là từ bỏ «cái tôi» của mình Điều quan trọng nhất mà ta phải ưu tiên từ bỏ, không phải là những gì thuộc vật chất hay quyền lực – cho dù ta vẫn phải sẵn sàng từ bỏ bất kỳ lúc nào – cho bằng từ bỏ chính «cái tôi» của ta. Nếu ta chưa từ bỏ chính «cái tôi» của ta, thì tất cả những gì ta đã từ bỏ, vẫn bị kể như chưa từ bỏ gì cả. Có từ bỏ chính «cái tôi» của ta, thì tất cả những từ bỏ khác của ta mới có giá trị. Vì thế, với những kẻ muốn theo Đức Giêsu, muốn làm môn đệ Ngài, Ngài đưa ra những điều kiện thật rõ ràng: «Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo» (Mt 16,24; Lc 9,23). Một người không từ bỏ chính mình, dù có chính thức mang danh theo Ngài, thì cũng chỉ là theo Ngài kiểu «hữu danh vô thực» mà thôi. Và việc từ bỏ chính mình phải được thể hiện bằng việc sẵn sàng chấp nhận «vác thập giá mình», nghĩa là sẵn sàng chấp nhận những thiệt hại, mất mát, đau khổ xảy đến với mình vì sự từ bỏ ấy. 3. Muốn biết ta đã từ bỏ chính mình chưa, thì hãy tự xét xem Muốn biết ta đã từ bỏ chính mình, tức từ bỏ «cái tôi» của mình chưa, ta chỉ cần xét xem ta phản ứng thế nào trong một vài trường hợp điển hình sau đây: – Khi có ai nói động chạm đến «cái tôi», đến lòng tự ái của ta, đến quyền lợi, quyền bính, danh dự của ta? – Khi ta muốn một ai đó gọi ta bằng ông, bằng bố, bằng bác, mà họ lại gọi ta bằng chú, bằng anh, thậm chí bằng em? Ta muốn họ xưng là con, là cháu, mà họ lại xưng là tôi? – Khi ta đưa ý kiến của ta ra, mà có ai đưa ý kiến ngược lại? – Khi có ai muốn sửa một lỗi nào đó của ta làm thiệt hại đến việc chung, hay làm mọi người khó chịu? Nếu phản ứng của ta là nổi giận lên ngay, tỏ vẻ khó chịu tức khắc, muốn ăn thua đủ, muốn “đì” người xúc phạm đến ta, hoặc tìm cách chống chế, chối phăng lầm lỗi mình, chẳng cần xét xem ta có thật sự lỗi lầm hay không… Phản ứng như vậy chứng tỏ ta còn đặt nặng «cái tôi» của mình quá mức, chưa từ bỏ mình chút nào cả, hoặc chưa từ bỏ được bao nhiêu. Con đường tâm linh của ta như thế mới chỉ chập chững những bước đầu tiên thôi; đích thánh thiện mà ta nhắm tới còn xa lắm, phải nói là “xa tít mù khơi”! 4. Nền tảng của việc theo Chúa, của sự thánh thiện Trong đời sống Kitô hữu, rất nhiều khi ta không nhận chân ra được đâu là điều chính yếu, là điều cốt tủy, mặc dù lời Chúa nói lúc nào cũng cứ rõ rành rành! Vì không nhận ra điều chính yếu nên ta cứ lo thực hiện những điều tùy phụ vốn chẳng có giá trị gì trước mặt Chúa khi mà điều chính yếu Ngài yêu cầu ta thì ta chẳng quan tâm thực hiện. Điều kiện duy nhất mà Ngài buộc ta phải có để theo Ngài là «từ bỏ chính mình» và «vác thập giá mình», nhưng thử hỏi những người tự cho rằng mình đang theo Chúa đã thật sự coi điều này là chính yếu chưa, chứ đừng nói tới việc đã thực hiện được điều đó hay chưa! Khi ta chưa thật sự «từ bỏ chính mình», thì mọi việc đạo đức của ta dù lớn lao đến đâu cũng chẳng có giá trị bao nhiêu. Vì lúc ấy ta làm mọi sự vì ta, chứ không phải vì Chúa hay vì tha nhân, mặc dù xem ra là như vậy. Rất có thể ta làm những việc có vẻ vị tha, tốt lành chỉ là để được khen ngợi, được nể phục, được thăng tiến bản thân, hoặc để Chúa trả công bội hậu sau này, v.v… chứ không phải vì yêu thương. Nếu ta chưa thật sự từ bỏ mình, thì hầu như mọi thứ tình yêu của ta chỉ là tình yêu vị kỷ: ta chỉ yêu bản thân mình mà thôi, nhưng lại yêu qua tha nhân chứ không phải yêu chính tha nhân… Ta cho ra tình yêu là để nó lại trở về với chính mình. Tình yêu đích thực được định nghĩa bằng sự ra khỏi chính mình để đến với Chúa hay tha nhân. Nếu ta chưa từ bỏ mình, thì mọi sự ra khỏi chính mình chỉ là giả tạo bề ngoài chứ không có thực chất. Từ bỏ mình chính là điều kiện nền tảng của tình yêu chân thực. Không từ bỏ mình thì không bao giờ có tình yêu chân thực. Và chỉ có tình yêu chân thực mới làm cho các hành động của ta, dù nhỏ mọn nhất, trở nên có giá trị lớn lao. Không có tình yêu, thì việc làm của ta, dù vĩ đại đến đâu, cũng vô giá trị trước Thiên Chúa (x. 1Cr 13,3). Từ bỏ mình chính là nền tảng của tình yêu, và tình yêu chính là gốc rễ của sự thánh thiện. Sự thánh thiện không có một nền tảng nào khác ngoài tình yêu. Vì thánh thiện là giống như Thiên Chúa, mà «Thiên Chúa là tình yêu» (1Ga 4,8.16). Điều chính yếu mà Thiên Chúa muốn ta làm, ta lại không làm, mà cứ mải mê làm những điều tùy phụ, thì ta sẽ phải rất ngạc nhiên khi đến trước tòa Chúa. Ngài đã cảnh báo trước: «Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: “Lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao?” Bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!» (Mt 7,22-23). Chúng ta thử nghĩ xem: làm sao những người coi «cái tôi» của mình quá quan trọng có thể sống hòa thuận được với nhau trên thiên đàng? Cho dù họ có giữ được đủ mọi lề luật, làm đủ mọi việc lành phúc đức ở trần gian này? Để trồng lúa, điều quan trọng nhất không có không được, là ta phải có hạt lúa. Có hạt lúa rồi mới nói đến chuyện bón phân, tưới nước, làm cỏ… Nếu ta chỉ chăm lo chuyện bón phân, tưới nước, làm cỏ mà không hề nghĩ đến chuyện mua hạt giống, thì mọi sự ta làm dù chăm chỉ và tốn công tới đâu cũng vô ích. Vì thế, chúng ta cần phải đặt lại vấn đề cho đúng, kẻo việc giữ đạo của ta trở thành «xôi hỏng, bỏng không», chẳng được gì cả! Thiết tưởng điều căn bản nhất của việc giữ đạo, của việc theo Chúa, chính là «từ bỏ chính mình». Kẻ từ bỏ chính mình để sống yêu thương thật sự, thì dù không mang danh theo Chúa cũng là những người theo Chúa đích thực. Còn kẻ vẫn coi «cái tôi» của mình là quan trọng nhất, thì dù có mang danh theo Chúa cách chính thức đến đâu, cũng chỉ là theo Chúa cách giả tạo mà thôi! *** Dụ ngôn chiếc lưới của Đức Giêsu cho biết, ngày tận thế, những người gọi là theo Chúa sẽ bị tách ra làm hai: kẻ theo đích thực và kẻ chỉ theo Chúa cách giả danh. Tiêu chuẩn mấu chốt để phân biệt chính là sự «từ bỏ chính mình» mà Đức Giêsu đã đòi hỏi những ai theo Ngài phải có, như điều kiện tiên quyết và chính yếu. Vì thế, cần phải nhận ra việc từ bỏ mình là chính yếu và quan trọng đến thế nào, và biết ưu tiên thực hiện điều ấy trước tất cả những điều tốt lành khác●
Khổng Nhuận Dẫn nhập Thức Tỉnh là một chủ đề được phát triển thành một loạt bài, dựa trên tư tưởng của linh mục dòng Tên Anthony De Mello. Ngài là một nhà Linh hướng, nhà trị liệu, vị Linh sư. Ngài luôn tỏ ra là một vị Linh hướng tuyệt vời, giới thiệu người ta đến với Thiên Chúa bằng con đường thực nghiệm tâm linh. Với một chút lý thuyết soi sáng cho phần thực hành mà chúng ta quen gọi là Linh thao. Trước đây, chúng ta làm quen với những bài Nền tảng Sống Đời Kitô hữu. Sau đây chúng ta sẽ tiếp xúc với tư tưởng xoay quanh chủ đề Thức Tỉnh và thực tập ngay trong đời sống của mình qua những bài Linh Thao thực hành. Chúc quý vị Khám Phá Ra Những Ánh Sáng của Thần Khí Thiên Chúa qua những bài lý thuyết và Cảm Nhận Được Sức Mạnh của Thần Khí Ngài qua những bài Linh Thao thực hành từng ngày, từng ngày… Câu chuyện mở đầu: ĐẠI BÀNG GÀ (Theo chuyện kể của linh mục Tony De Mello nhưng phóng tác phần kết rạng ngời hơn) Có người nhặt được quả trứng đại bàng, đem bỏ vào ổ gà đang ấp trong chuồng. Chú đại bàng con nở ra và lớn lên cùng lứa với đàn gà con. Cứ thế suốt đời đại bàng con chỉ làm những việc mà lũ gà vẫn làm, và cứ tưởng mình là một gà con chết tiệt. Nó cũng bới đất tìm sâu bọ, cũng kêu chíp chíp như anh em gà. Một hôm, ngước nhìn trời cao, nó trông thấy một con chim tuyệt đẹp bay phía trên trong bầu trời lồng lộng thênh thang. Với dáng vẻ uy nghi dũng mãnh, cánh chim ấy nhẹ nhàng băng giữa cuồng phong, chỉ lâu lâu mới khẽ nhịp đôi cánh vàng mạnh mẽ của mình. Đại bàng gà kinh hãi buột miệng: “Trời! Cái gì vậy?”. Lũ bạn gà tranh nhau trả lời: “Đó là đại bàng - vua của các loài chim. Đại bàng thuộc trời cao, còn bọn mình thuộc về mặt đất. Bọn mình chỉ là một lũ gà vô danh tiểu tốt.” Một buổi chiều man mát trong khu vườn xanh tươi, cả lũ gà đang tung tăng vui đùa, bỗng nhiên cả bọn láo nháo trốn chạy tán loạn. Đại bàng gà còn đang ngơ ngác, vút một cái, nó đã nằm gọn trong vòng tay của bác đại bàng. Mở mắt ra, nó đã thấy mình ở tuốt trên đỉnh núi chót vót, rung rinh trên cành cây bên bờ hồ. Bác Đại bàng hỏi: Chú mày là gì? Đại bàng gà trả lời với vẻ rất xác tín: Cháu là gà con. Bác Đại bàng dứt khoát: Chú mày là đại bàng. Đại bàng gà ngang bướng đốp chát: Không phải, từ bé, mọi người bảo cháu là gà. Có ai gọi cháu là đại bàng đâu. Thôi được, thử nhìn xuống hồ nước mà xem, mặt mũi chú mày giống lũ gà con chết tiệt hay giống vẻ oai phong của ta. Đại bàng gà nghiêng mình trên mặt hồ trong veo và cực kỳ ngạc nhiên, lần đầu tiên khám phá ra khuôn mặt đích thực của mình: Thì ra cháu quả thật là đại bàng. Thế mà từ trước tới nay cháu cứ tưởng mình là tên gà con chết nhát. Từ đó đại bàng gà tập sống đời đại bàng chính danh. Thời gian đầu tập bay quả là khó! Cả mấy tháng trời mới bay cao chừng vài thước, rồi tháng này qua tháng kia, nó đã bay cao hơn.. Cuối cùng nó vui sướng tung bay trên bầu trời thênh thang tự do bất tận. Nhìn xuống mặt đất, nó bỗng thấy hàng ngàn chú đại bàng gà vẫn còn nhọc nhằn bươi đất tìm giun dế. Nó biết mình phải làm gì để giúp đỡ anh em mình thoát khỏi cảnh tù túng, chật hẹp, để tất cả đều vui hưởng trong khung trời bát ngát, lồng lộng hoan lạc bình an và hạnh phúc●
CẦU
NGUYỆN – TÂM LINH NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG (tiếp theo Maranatha_51)
Michel Hubaut - Maranatha dịch 21 - NHỮNG CON NGƯỜI THINH LẶNG. Georges Bernanos viết trong tác phẩm Sous le soleil de Satan (Dưới mặt trời của Satan) như sau: “Thánh nhân được chín mùi trong thinh lặng”. Thật ra, rõ ràng là Thiên Chúa luôn có một đường lối sư phạm. Người luôn khởi sự bằng cách đưa vào ‘sa mạc’ những ai mà Người muốn trao phó một sứ mạng khó khăn hầu phục vụ dân Người: Môsê vào sa mạc Madian, Gioan Tẩy giả vào sa mạc Giuđê, thánh Phaolô vào sa mạc Xyria, thánh Biển Đức vào nơi hoang vắng trên núi Subiaco, thánh I-nhã Loyôla vào Marêsa, thánh Phanxicô Assisi trong các hang của đồng bằng Assisi. Đây là thời điểm của sự thật mà con người ý thức về sự nghèo hèn của mình và mở lòng đối với ân huệ của Thiên Chúa. Thời điểm để cắm rễ cho đức tin. Thời điểm phải thực hiện sự đoạn tuyệt cần thiết để đón nhận một tự do mới và chuẩn bị sống một đời sống hiệp thông mới với mọi người. Tất cả các vị chứng nhân vĩ đại ấy, những người đã đánh dấu lịch sử Cứu Độ, sẽ vẫn mãi là những người yêu mến sự thinh lặng, dù nhiều khi họ sống một nếp sống thật năng động. Làm sao có thể tự xưng là chứng nhân của Đức Kitô nếu ta không sống trở lại, bằng cách này hay bằng cách khác, cuộc đời thừa sai mẫu mực, diễn tiến theo nhịp điệu: thờ lạy Chúa Cha và phục vụ con người! Ai không thích thinh lặng, người ấy có nguy cơ trở nên một con két nói chuyện tôn giáo, một viên chức quản lý việc thánh, chứ không phải là một cộng tác viên của Thiên Chúa. Tác giả thánh vịnh ca lên: “Lạy Chúa, đối với Người, ngay cả thinh lặng cũng là lời ngợi khen” (Tv 64, theo bản Hy lạp). Vì thế, từ những vị ẩn sĩ đầu tiên đến các nam nữ đan sĩ ngày nay, hàng trăm ngàn người nam nữ đã biểu lộ sự yêu chuộng của mình đối với sự cô tịch, không phải vì bản thân sự cô tịch mà vì muốn kiếm tìm Thiên Chúa tại nơi ấy. Một cách biểu trưng, thánh Becnađô xem đấy là một phép thanh tẩy lần thứ hai: “Người đan sĩ này đã được chôn lại với Đức Kitô nhờ phép thanh tẩy trong sa mạc” (Thư 250 cho viện phụ tu viện Portes) Họ đặc biệt được cuốn hút bởi một câu phỏng theo ngôn sứ Hôsê mà ta thường thấy được ghi ở cổng vào tu viện họ: “Này ta sẽ khuyến dụ con, đưa con vào sa mạc và nói khó với lòng con!” (x. Hs 2, 16). Họ luôn xem nơi vắng vẻ là nơi cần thiết để có được một tình thân mật với Thiên Chúa, để mở lòng ra với Người. “Cần phải thông qua sa mạc và ở lại đấy để nhận được ân sủng của Thiên Chúa... Sa mạc này đối với tôi thật là êm ái dịu dàng: thật là êm ái và lành mạnh khi cảm nhận được sự cô tịch, đối diện với những điều vĩnh cửu! Ta cảm thấy chân lý tràn ngập bản thân mình. Vì thế, tôi cảm thấy rất khổ tâm khi phải đi đây đó, phải lìa xa sự cô tịch và thinh lặng này.” (Charles de Foucauld, Sách thiêng liêng). Tương quan giữa cô tịch và thinh lặng ăn sâu vào truyền thống mấy nghìn năm của đời sống đạo trong mọi tôn giáo. Nhưng, như chúng ta đã thấy, sự cô tịch không phải là điều đương nhiên. Như Bernanos đã viết: ‘Hỏa ngục cũng có nội cấm’ (Sous le soleil de Satan). Các giáo phụ trong sa mạc đã nói lên đầy đủ về cuộc chiến và thử thách của các ngài để chúng ta biết rằng một thời gian dài cư ngụ trong cô tịch không phải là cuộc ‘sống nhàn’ êm ái. Sự cô tịch cũng có thể có những ảnh hưởng nguy hại đối với một số người, những người nóng nảy hay đa cảm, trên bình diện quân bình nhân bản cũng như trên bình diện thiêng liêng. Ta không thể đột nhiên đi từ một nếp sống hoạt động sang sa mạc, xa cách mọi cuộc dấn thân trực tiếp, mà đồng thời không cảm thấy một sự nghèo nàn khô cằn, mà không rơi vào một thế giới tưởng tượng hàm hồ và chạy theo tiến trình cổ điển của những luật bù trừ khác nhau. Sự cô tịch không phải là nơi hẹn lý tưởng cho mọi người vào mọi lúc. Điều hiển nhiên đầu tiên, ấy là người nào mong sống cô tịch để tự tìm kiếm chính mình hay để lập một kỷ lục, người ấy sẽ không thể ở lâu ngày trong cô đơn. Nhà Thiên Chúa có nhiều chỗ ở, và có nhiều con đường dẫn về nhà ấy. Như thế, nếp sống cô tịch dài ngày không phải là con đường duy nhất để gặp gỡ Thiên Chúa. Trái lại, không ai có thể bỏ đi hoàn toàn cái thời gian định kỳ dành cho thinh lặng và cô tịch. Có nhiều hình thức cô tịch. Và Chúa ban cho mỗi người hình thức thinh lặng thích hợp với mình. Trong cuộc đời mình, có những giai đoạn thuận lợi và cần thiết hơn những giai đoạn khác. Thời gian và chu kỳ tùy thuộc vào sự phân định nhân bản và thiêng liêng, và sự phân định ấy cần phải được thực hiện với sự đồng hành của một vị linh hướng kinh nghiệm. Những ân sủng và lời gọi của Thiên Chúa thật đa dạng. Không phải ai cũng được kêu gọi làm nhà ẩn tu trong sa mạc hoặc đan sĩ Xitô hay đan sĩ Brunô. Cuối cùng, như đã nói trên, mọi ơn gọi, dù là ơn gọi sống cô tịch nhất, đều gắn liền với một sứ mạng. Từ thuở Abraham, tiếng gọi của vị Thiên Chúa Giao Ước, khi được trở thành người, luôn hướng về sự cứu độ và tương lai của dân Chúa. Chẳng hạn, cha Voillaume đã nói như sau về cha Foucauld: “Ơn gọi của cha (Foucauld) là một ơn gọi hiện diện giữa các dân tộc, một sự hiện diện làm chứng cho tình yêu Chúa Kitô” (Au Coeur des Masses). Nghịch lý này chỉ là lớp vỏ bên ngoài, vì kinh nghiệm cho chúng ta biết rằng chúng ta có thể rất hiện diện bằng tư tưởng và bằng tấm lòng đối với những người ở thật xa, và lại rất vắng mặt đối với tha nhân giữa một đám đông. Ta không thể lẫn lộn sự gần gũi và sự hiện diện. Không phải chỉ cần ở gần những người láng giềng là hiện diện đối với họ. Thánh Têrêxa thành Lisieux đã chẳng phải từng được phong làm bổn mạng các xứ truyền giáo đó sao? Trong khi thánh nữ chưa bao giờ rời Nhà Kín, nơi mà thánh nữ đã nói: “Tôi sẽ là tình yêu, do đó tôi sẽ là tất cả.” Chính phẩm chất tình yêu đốt cháy lòng ta mới làm cho sự cô tịch hay sự gần gũi biến thành sự hiện diện đích thực. Con đường tốt nhất là con đường mà Thiên Chúa muốn chúng ta đi, con đường mà hoàn cảnh chúng ta chỉ định, mà tính khí chúng ta đòi buộc, và tóm lại, con đường mà chúng ta có thể mến Chúa yêu Người nhiều hơn.
22 - THINH LẶNG, TRƯỜNG DẠY CÁI NHÌN Hãy mến yêu thinh lặng. Hãy học lấy từ đây, đây đúng là bậc thầy dạy bạn biết ngắm nhìn gương mặt Chúa Giêsu và dạy mắt lòng bạn quen với hình ảnh Chúa Đấng mặc khải nhan thánh Người và gương mặt tha nhân.
Hãy mến yêu thinh lặng. Hãy học lấy từ đây, đây đúng là bậc thầy dạy bạn biết ngắm nhìn gương mặt biến dạng Chúa Kitô và dạy mắt lòng bạn quen với hình ảnh Chúa Đấng nhìn bạn với cắp mắt của kẻ đói khát khổ đau.
Hãy mến yêu thinh lặng. Hãy học lấy từ đây, đây đúng là bậc thầy dạy bạn biết ngắm nhìn gương mặt hiển dung Chúa Kitô, giữa bao loài thọ tạo, nhìn phản ánh nét đẹp của Đấng Tạo Dựng, hầu nhận ra trong mọi sự mọi người chiều kích nội tại đích thật của muôn loài Và nhìn trong mọi hành vi nhỏ bé nhất của tạo vật dấu vết lòng nhân hậu Người.
Hãy mến yêu thinh lặng. Hãy học lấy từ đây, đây đúng là bậc thầy dạy bạn biết ngắm nhìn gương mặt con người và Thiên Chúa của Đức Kitô, là Cội Nguồn và Cùng Đích của lịch sử con người; Và dạy mắt lòng bạn quen với hình ảnh Chúa và dạy mắt lòng bạn quen nhận ra những mảng ánh sáng cuối ngỏ cụt, những mầm mống vĩnh hằng ngay trong thoáng chốc hiện nay, và cái tương lai còn ẩn nấp trong tất cả mọi sinh linh
Hãy mến yêu thinh lặng. Hãy học lấy từ đây, đây đúng là bậc thầy dạy bạn biết ngắm nhìn gương mặt thật của con người và của Thiên Chúa, đem cho bạn cái nhìn nội tâm của đức tin để bạn biết nhìn thấy con người, với niềm vui và nỗi khổ, với thất vọng và niềm tin, với những biến cố nhỏ to trong cuộc đời, bằng cái nhìn của Chúa Giêsu● (còn tiếp)
TÌM HIỂU CHÂN DUNG THÁNH MARIA MAĐALÊNA
Đỗ Trân Duy 1. Trong cơn lốc khát vọng tự do của thời đại mới, những người tự xưng là tiến bộ muốn đặt lại vấn đề chủ quyền con người. Họ muốn tách rời khỏi qui chế hướng đạo của Giáo Hội. Họ muốn giải phóng tư tưởng cá nhân và đòi bình quyền giới tính trong giai cấp lãnh đạo tôn giáo. Mở đường cho họ là một số học giả thiên về giáo lý của ngụy kinh (apocryphal gospels) và Ngộ Giáo (Gnostic gospels). Chúng là những kinh điển đề cao năng lực cá nhân và phụ nữ. Robert Langdon và Leigh Teabing[1] là hai vị tiêu biểu cho khuynh hướng này. Hai ông vin vào kinh điển Ngộ Giáo và 2 sách Phúc Âm theo Philíp và Maria [Mađalêna] của ngụy kinh, để đưa ra luận chứng rằng có mối tình cảm trần thế giữa Đức Giêsu và bà Maria Mađalêna. Ý đồ họ muốn nhắm tới là dùng bà Maria Mađalêna làm đòn bẩy để hủy bỏ địa vị “Đấng Cứu Thế” của Đức Giêsu. Theo họ, với năng lực cá nhân, con người có thể kinh nghiệm trực tiếp với Thượng Đế không cần qua trung gian Đức Giêsu. Chủ đề về thánh Maria Mađalêna trở thành vấn nạn “đức tin tôn giáo”, khi càng ngày càng có nhiều người lợi dụng sự mờ nhạt lịch sử, cố ý đưa ra những nhận định hàm hồ[2]. Vô tình, bà là vị tông đồ duy nhất chịu rất nhiều ngộ nhận kể cả từ phía Giáo hội lẫn thế tục. Các học giả công giáo cho rằng hai sách Phúc Âm của Philíp và Maria [Mađalêna] được viết vào khoảng cuối thế kỷ II hay đầu thế kỷ III. Điều đáng nói là sách không do Philíp và Maria viết, vì lúc đó họ đã qua đời. Susan A. Calef[3] khảo sát hai quyển sách trên, bà chỉ tìm thấy có chữ “cảm thương” khi diễn tả tình cảm của Đức Giêsu dành cho bà Maria Mađalêna. Một lối bộc lộ tình cảm rất bình thường. Trong Phúc Âm theo Maria có một đoạn nói rõ hơn. Đó là lần các tông đồ khiếu nại với Đức Giêsu rằng, “Tại sao Thầy lại yêu bà ấy hơn chúng tôi?” Sự kiện này có vẻ vô lý và cũng không đủ chứng cớ để đưa ra những nhận xét ác ý. Trong khi đó cả bốn sách Phúc Âm chính kinh đều viết về bà Maria Mađalêna, nhưng lại không làm sáng tỏ vị thế đặc biệt của bà. Maria Mađalêna là ai? Tên thật của bà là Maria, bởi sinh trưởng ở xứ Mađala nên được gọi là Maria Mađalêna. Maria là một tên nữ rất thông dụng của dân Do Thái. Những bà theo Đức Giêsu, đa số đều mang tên Maria. Trừ Đức Maria mẹ Đức Giêsu, Thánh Kinh khi nhắc đến họ thường chỉ nói là “bà Maria.” Vì vậy không thể xác định người được nhắc đến là bà Maria nào. Theo các giáo phụ Hy Lạp, trong số những môn đồ nữ của Đức Giêsu, có tới ba vị trùng tên là Maria: · Bà Maria tội lỗi, người lấy nước mắt rửa chân cho Đức Giêsu (Luca 7:36-50). · Bà Maria chị của Martha và Lazaru (Gioan 11:1-3 và Luca 10:38-42). · Bà Maria xứ Mađala, tức Maria Mađalêna, người bị 7 quỉ ám (Luc 8:2).. Theo truyền thống Protestant chỉ có hai bà Maria. Thứ nhất là bà Maria xứ Bêthani, tức người đàn bà tội lỗi, cũng là chị em của Martha và Lazaru. Thứ hai là bà Maria xứ Mađala, người bị 7 quỉ ám. Theo truyền thống Latin ba nhân vật nói trên chỉ là một người, đó là bà Maria Mađalêna. Ngoài ra Thánh Kinh còn nói tới một cô gái giang hồ, tức người đàn bà phạm tội ngoại tình (Gio 8:1-11). Cũng theo truyền thống Latin, Maria Mađalêna bị đồng hóa với cô gái này. Chúng ta hãy lần theo sử liệu để thấy rõ tại sao lại có vấn đề bất nhất về sự nhận diện về bà. Trước hết theo thánh sử Luca, Đức Giêsu gặp bà Maria lần đầu tiên tại miền Galilê. Bà Maria này được nhận diện là người đàn bà tội lỗi, người rửa chân cho Đức Giêsu (Luc 7:36-50). Kế đó Đức Giêsu rời Galilê đến một tỉnh nào đó và Ngài đã làm phép đuổi 7 quỉ ám ra khỏi bà Maria Mađalêna (Luc 8:1-3). Tuy Thánh Kinh không nêu địa danh nơi Đức Giêsu làm phép đuổi quỉ, nhưng căn cứ vào địa danh Mađala, người ta có thể biết Đức Giêsu đã đi về hướng Bắc của xứ Galilê. Thánh Luca không nói gì đến sự đồng nhất giữa bà Maria bị quỉ ám và bà Maria “tội lỗi” ở Galilê. Sau đó Đức Giêsu đến một tỉnh khác, có thể phỏng đoán là tỉnh Bêthani. Tại đây Ngài gặp bà Maria chị em của Martha và Lazaru (Luc 10:38-42). Căn cứ vào 3 địa điểm khác biệt và cách quãng, nên đã có khuynh hướng tin rằng có 3 nhân vật Maria khác nhau. Tuy nhiên thánh sử Gioan lại khảng định 3 nhân vật trên chỉ là một người, đó chính là bà Maria Mađalêna (Gio 11:1-3; 12:1-3). Sự lẫn lộn hàm hồ bắt đầu từ đấy. Đã có nhiều giả thuyết giải thích về sự khác biệt của sử liệu, nhằm mục đích thống nhất những cá biệt về một mối. Chẳng hạn có thuyết cho rằng Bà Maria Mađalêna vốn là người xứ Mađala nhưng sinh sống ở Bêthani và có một thời cư ngụ ở Galilê. Thần học gia Elizabeth A. Johnson không đồng ý như vậy. Dì phước Elizabeth nhận xét rằng vì thánh Gioan khẳng định 3 nhân vật nói trên là một người, nên tín hữu có khuynh hướng uốn nắn lối nhìn theo chiều hướng ấy. Theo Elizabeth, thánh Gioan viết Phúc Âm khoảng 50-80 năm sau khi Đức Giêsu chịu nạn. Thời gian 50-80 năm đủ để làm phai nhạt trí nhớ về độ chính xác của sự kiện. Hơn nữa thánh sử đặt trọng tâm vào sứ mạng truyền bá đạo lý hơn là việc ghi chép sử liệu. Do đó mọi tình tiết phụ thường chỉ dựa vào truyền thuyết mà viết lại. Ngoài ra chúng chỉ đóng vai trò dẫn chứng một cách tổng quát cho câu truyện được đầy đủ mà thôi. Vào lúc ấy bà Maria Mađalêna cũng đã qua đời. Những gì viết về bà dù không được chính xác cũng không còn ai đính chính nữa. Một thí dụ về độ chính xác là biến cố bà Maria Mađalêna rửa chân cho Đức Giêsu. Cả hai thánh Máccô và Mátthêu đều nhất trí cho biết rằng trước ngày kỷ niệm lễ Vượt Qua 2 ngày, Đức Giêsu ở trong nhà ông Simon thuộc tỉnh Bêthani. Tại đây bà Maria Mađalêna đã rửa chân cho Đức Giêsu (Mac 14: 1-3; Mat 26: 1-8). Tuy nhiên thánh Gioan lại kể rằng sự kiện rửa chân xảy ra tại nhà bà Martha trước ngày lễ Vượt Qua 6 ngày (Gio 12: 1-3). Nếu không muốn chấp nhận có hai lần rửa chân, chúng ta đành phải lựa một bỏ một. Trong trường hợp này sử liệu của hai thánh Máccô và Mátthêu chính xác hơn của thánh Gioan, vì hai người đều tường thuật như nhau và vì sách của họ được viết sau biến cố phục sinh khoảng 10 - 20 năm. Thời gian này rất gần với biến cố nêu ra và còn được hỗ trợ bởi nhiều nhân chứng còn sống. Như vậy những gì chúng ta có thể biết chính xác về bà Maria Mađalêna là: bà là người xứ Mađala và là người bị 7 quỉ ám (Mac 16:9). Bà phụ giúp Đức Giêsu trong mọi hành trình rao giảng tin mừng (Luc 8:2-3). Bà là người đứng dưới chân Thập Tự giá lúc Đức Giêsu từ trần (Mac 15:40; Mat 27:56; Luc 23:49; Gio 19:25). Bà chứng kiến cảnh táng xác Đức Giêsu (Mac 15:47). Bà là nhân chứng đầu tiên của biến cố Đức Giêsu phục sinh (Gio 20:1-18). Với những sự kiện này, xét theo cương vị môn đồ, bà phải là một vị Tông Đồ có một vị thế rất cao trọng. 2. Sáu trăm năm sau, đại chúng dựa vào truyền thuyết cho rằng bà Maria Mađalêna là “người đàn bà tội lỗi” và là “người đàn bà ngoại tình.” Sự kiện này được hợp thức hóa bởi Giáo Hoàng Gregory Cả (590-604). Lỗi lầm về sự ngộ nhận này có thể hiểu là do sự vô ý hơn là chủ ý. Vào thời đó giáo hội không có lợi điểm lãnh hội sự đa dạng thâm sâu của thần học như ngày nay. Nhận định của Giáo Hoàng Gregory Cả chỉ là phản ảnh niềm tin của đại chúng. Theo truyền thống, tín hữu công giáo tin rằng người bị 7 quỉ ám phải là người tội lỗi nặng nề. Giáo hoàng Gregory Cả nhận định 7 quỉ tượng trưng cho 7 tội, trong đó nặng nhất là tội dâm ô. Trong chiều hướng ấy giáo lý về 7 mối tội đã được giáo hội khai triển ra. Nghiên cứu về lịch sử, các học giả thấy rằng vào thời đó giáo hoàng Gregory Cả khởi xướng chương trình cải tổ nền luân lý Kitô giáo. Vì nhu cầu lợi ích cho giáo dân, giáo hoàng đặt bà Maria Mađalêna vào địa vị gương mẫu cho chủ thuyết của ngài. Ngài muốn đại chúng thấy một bằng chứng điển hình để chứng minh kẻ tội lỗi nhất cũng có thể cải hóa. Trên thực tế Thánh Kinh nói rất nhiều về trường hợp đàn ông bị quỉ ám, nhưng không có trường hợp nào nam nạn nhân bị gán là kẻ tội lỗi. Các Thánh sử không hề đồng hóa sự việc bị quỉ ám với tội lỗi. Thần học cũng không thấy có sự liên hệ giữa hiện tượng quỉ ám và tội lỗi. Tại sao lại có thành kiến xấu về phía nữ nạn nhân bị quỉ ám. Thánh Kinh ghi rằng Đức Giêsu chữa lành bệnh quỉ ám cho bà Maria Mađalêna chứ không nói tha tội cho bà. Về vấn đề cô gái giang hồ, không hề có phúc âm nào, kể cả Phúc Âm theo thánh Gioan, cho biết người đàn bà ngoại tình là bà Maria Mađalêna (Gio 8:1-11). Tại sao chúng ta phải gán cho bà những tội mà chứng cớ sử liệu không có. Các giáo phụ thời giáo hội sơ khai không hề nói bà Maria Mađalêna là người tội lỗi, trái lại các ngài rất tôn trọng bà. Câu tuyên bố nổi tiếng của bà với các Tông Đồ: “Tôi đã thấy Chúa” (Gio 20:18) khiến các Tông Đồ cho bà là kẻ nói sảng (Luc 24:11). Nhưng chính câu tuyên bố ấy là nền móng xây dựng giáo hội Kitô và là bản tuyên xưng khải hoàn của giáo hội phục sinh. Cảm phục thành tích của bà, thánh Hippolytus Thành Lamã (khoảng năm 200) đã đặt cho bà tước hiệu “Apostolorum Apostola” (Tông Đồ của các Tông Đồ). Thánh Augustine (354-430) nói, “Chính Chúa Thánh Thần đã khiến bà Maria Mađalêna trở nên Tông Đồ của các Tông Đồ.” 3. Với một vị thế như vậy, tại sao Maria Mađalêna không được Kinh Thánh lưu ý một cách đúng mức? Thực ra Thánh Kinh đã có nêu tên bà một cách đặc biệt, nhưng vẫn còn vướng mắc trong vấn đề văn hóa trọng nam khinh nữ. Vào thời đó người phụ nữ không có chỗ đứng trong xã hội. Ngay cả mẹ Đức Giêsu cũng ít được nhắc đến. Họ không được nêu tên ra trước công chúng. Các thánh sử thường dùng cách nói trống như “có mấy người phụ nữ” để gọi họ (Luc 23:55). Nếu có nhắc đến một cá nhân đặc biệt nào, người ấy thường được xác nhận nương vào tên của người đàn ông. Chẳng hạn “bà Maria vợ của Clôbát”, “bà Maria mẹ của Giacôbê” (Gio 19:25; Mac 15:40; Luc 24:10). Tuy thế tên của bà Maria Mađalêna đã được các thánh sử nhắc đến nhiều lần. Điều đó chứng tỏ bà là người nổi bật không thể bỏ qua. Nhiều khi có nhiều bà hiện diện, nhưng thánh sử vẫn chỉ nêu danh của riêng bà: “có bà Maria Mađalêna và những bà Maria khác” (Mat 28:1). Các học giả và thần học gia Công Giáo kêu gọi tín hữu hãy có một nhận định mới về thánh Maria Mađalêna[4]. Xưa kia bà đã là nạn nhân của sự ngộ nhận gán cho bà là kẻ đầy tội lỗi. Ngày nay bà lại là nạn nhân trong sự lợi dụng của phong trào đề cao cá nhân và giải phóng phụ nữ. Chủ thuyết Ngộ Giáo đề cao năng lực cá nhân, nhưng con người không thể nào là chính mình. Ta là một cá nhân bất toàn, tội lỗi, một con người chưa trọn vẹn. Muốn vươn lên để hòa nhập với Thiên Chúa, con người cần sự cứu chuộc của Đức Giêsu để trở nên hoàn hảo. Về vấn đề nữ quyền, gần đây đã có phòng trào yêu cầu giáo hội Công Giáo phong chức linh mục cho nữ giới. Sự yêu cầu, phần nào liên hệ đến chủ đề bình quyền giới tính, nhưng phần lớn đặt căn bản trên nhu cầu thiếu hụt nhân số trong giới chức phụng vụ. Giáo hoàng Gioan Phaolô II cho rằng việc truyền chức linh mục cho nam giới là một cổ tục thuộc lãnh vực truyền thống, vốn do Đức Giêsu lập ra. Nghi thức này không đặt trên sự kỳ thị giới tính. Bà Maria Mađalêna đã được các học giả và thần học gia Công Giáo nhận diện là một trong những vị sáng lập ra giáo hội sơ khai. Bà là người duy nhất chia sẻ với Đức Giêsu trong hành trình giảng đạo từ Galilê, trung thành với Ngài cho đến phút cuối cùng của cuộc khổ nạn, và đón chào Ngài lúc phục sinh. Đó là những kho tàng ẩn dấu cần khai quật hơn là trưng bày những gán ghép lấy từ dã sử và truyền thuyết. Theo truyền thống Giáo Hội Chính Thống Đông Phương, thánh Maria Mađalêna cùng thánh Gioan và Đức Mẹ Maria di chuyển về miền Êphêsô, Tiểu Á. Thánh Maria Mađalêna sống một cuộc đời sám hối đúng với chân lý Phúc Âm rồi qua đời ở đó. Lễ kính thánh nhằm ngày 22 tháng Bảy. Từ năm 1970, Giáo hội Công Giáo đã điều chỉnh bài phúc âm trong thánh lễ kính thánh Maria Mađalêna. Bài đọc về câu truyện “người đàn bà ngoại tình” được thay thế bằng câu truyện bà gặp Đức Giêsu phục sinh (Gio 20:11-20). Đáng tiếc sự sửa sai này đã không được đại chúng chú ý đúng mức. Đại chúng vẫn thấy bà vốn là một cô gái giang hồ, người bị 7 quỉ ám, hơn là một vị Tông Đồ, người đần tiên gặp Đức Giêsu phục sinh[5]. Kitô hữu chúng ta hãy rửa chân cho sạch bụi bặm của những bước đi lạc đường, để đứng cúi đầu tôn kính một vị thánh cao cả●
Lm. Giuse Trần Trung Liêm, O.P. Một ngày trong tháng Ba năm 2003, được báo có kẻ dùng súng hăm dọa người, cảnh sát thành phố Houston, Texas đã đột nhập vào một căn hộ và bắt gặp tại trận hai người đàn ông đang giao tình với nhau. Mặc dù hành động này là do đồng tình và diễn ra tại tư gia, cả hai đều bị buộc tội đã vi phạm đạo luật của Texas cấm giao hợp với người cùng phái tính. Cả hai đã bị giam một đêm và phạt 200 đô la. Hai thanh niên này đã kháng cáo lên Toà Thượng Thẩm Hoa Kỳ cho rằng Texas đã vi phạm quyền hiến định của những người đồng phái vì đã buộc tội họ khi họ đang thực hiện hành vi không trái phép theo luật Texas nếu được thực hiện bởi cặp khác phái.[6] Sự kiện kể trên đã không còn là một điều gây ngạc nhiên cho người dân sống trên vùng Bắc Mỹ tự do và phồn thịnh này nữa. Những người đồng phái ‘yêu’ nhau, chung sống với nhau, và đòi chính quyền phải công nhận mối giây liên hệ của họ như ràng buộc hôn nhân có đủ mọi quyền lợi như những cặp vợ chồng trước pháp luật, đã trở thành điều xuất hiện hằng ngày trên báo chí, truyền thanh, truyền hình hoặc từ kinh nghiệm cá nhân. Vào giữa năm 2004, khi thị trưởng của thành phố San Francisco, California ủng hộ và đồng ý cấp giấy hôn thú cho người đồng phái, đã có hằng ngàn cặp tuôn đến thành phố này để làm thủ tục kết hôn! Riêng tại Canada, hơn một năm vừa qua dân chúng đã quen thuộc với tiếng ‘Hôn phối đồng phái’’(same-sex marriage) và trong những tháng đầu năm 2005, cụm từ này đã trở thành chảo dầu sôi trên mảnh đất giá lạnh này. Đầu tháng 02 năm 2005, tôi có gởi thư đến các cấp chính quyền địa phương, tỉnh bang và liên bang để xin họ xét lại quyết định thay đổi định nghĩa về hôn phối là một khế ước kết hợp giữa một người nam và một người nữ và chỉ hai người mà thôi. Một tháng sau, tôi đã được ông Jim Prentice, M.P. của vùng trung bắc Calgary viết thư trả lời và cho biết lập trường của ông là ủng hộ hôn phối đồng phái. Đối với ông, ‘hôn phối thuộc về tự do của cá nhân và như vậy là tự do được hiến pháp xác định.’ Ông viết: ‘Dựa trên quyền gì mà xã hội của chúng ta từ chối cho người công dân đồng tính điều mà mọi người dân được hưởng: đó là giấy hôn-thú dân sự.’ Châm ngôn mà ông Prentice dựa vào là ‘Một cá nhân có toàn quyền trên bản thân của hắn, thể xác và trí óc.” (Over himself, over his own body and mind, the individual is sovereign - câu nói của John Stuart Mill). Nguyên tắc này đã trở thành nền tảng cho lối sống theo chủ nghĩa cá nhân cực độ (extreme individualism) mà theo đó quyền lợi của cá nhân nên được ưu tiên đối với bất cứ quan tâm nào của xã hội và đời sống riêng tư của một cá nhân là việc riêng của cá nhân đó, không ai có quyền xía vào.[7] Hôn Phối Đồng Phái trên thế giới. Tính cho đến đầu năm 2005, trên toàn thế giới chỉ có hai quốc gia của Âu Châu chấp nhận cho người đồng phái được cấp giấy hôn thú dân sự nếu họ muốn. Hiệp Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị (International Covenant on Civil and Political Rights, Dec. 16, 1966), số 23 § 1 & 2 xác định gia đình là yếu tố tự nhiên và nền tảng của xã hội và phải được xã hội cũng như quốc gia bảo vệ; đồng thời quyền người nam và người nữ kết hôn và xây dựng một gia đình phải được công nhận.[8] Điều khoản này đã được đưa ra hầu toà ở New Zealand vào năm 1997 bởi vì nó không cho người đồng phái cưới nhau, nhưng đã bị Toà Thượng Thẩm của nước này bác bỏ. Một đơn kiện tương tự về cùng một điều khoản này cũng bị Ủy Ban Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc (UNHRC) bác bỏ năm 2002.[9] Tháng Tư năm 2001, Hòa Lan đã nới rộng định nghĩa hôn phối (từ sự cam kết sống chung) giữa một người nam và một người nữ bằng giữa hai người (không phân biệt nam hay nữ). Như thế Hòa Lan đã trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới lập luật cho phép hai người đồng phái ‘cưới’ nhau. Tháng Giêng năm 2003, Bỉ quốc trở thành nước thứ hai cho phép hôn phối đồng phái; tháng Bảy năm 2003, tỉnh bang Ontario và British Columbia của Canada đã chấp nhận hôn phối đồng phái trong ranh giới của họ. Tháng 9 năm 2003, Nghị Viện của Canada đã đồng ý xác định lại ý nghĩa của ‘hôn phối’ với chiều hướng muốn nới rộng ra cho cả những cặp đồng phái.[10] Tự điển Oxford của Canada xuất bản năm 2004 định nghĩa ‘hôn phối’ là sự hiệp nhất về mặt tôn giáo hay pháp luật của hai người (two persons) mà định nghĩa trước đây của cùng một tự điển này là ‘sự hiệp nhất về mặt tôn giáo hay pháp luật của một người nam và một người nữ.’ Dù muốn hay không, chúng ta không thể tránh khỏi việc đương đầu với trào lưu của những người đồng phái mà trong những ngày gần đây họ đã vượt qua tình trạng sống trong sợ hãi và lén lút đến tình trạng tự hào và cổ võ cho lối sống ấy qua những cuộc biểu tình và diễn hành với tên ‘Pride Day’ hoặc ‘Pride Parade.’[11] Theo tôi, đó là hai thái cực cần phải tránh. Giáo hội Công Giáo luôn luôn phân biệt con người với khuynh hướng tình dục, nhân vị với hành vi, tội nhân với tội lỗi. Ngay năm 1986, Thánh Bộ Đức Tin đã chính thức nhắc nhở các giám mục phải chăm sóc mục vụ cho những người có khuynh hướng đồng tính.[12] Sau đây, chúng tôi xin trình bày một vài chủ trương căn bản của những người đấu tranh cho tự do và quyền sống chung của những người đồng phái, lưỡng phái và đổi phái (gay, lesbian, bisexual and transgender được viết tắt là GLBT). Kế đó, chúng tôi sẽ đưa ra một vài nhận định và kết luận với cái nhìn của Giáo Hội trên hiện trạng và trào lưu đồng phái tính này. Lập luận của những người Đồng-Lưỡng-Đổi phái đòi cưới nhau: Không kể đến những quyền lợi một gia đình được hưởng và được chính phủ bảo vệ do hôn phối đem lại (có khoảng 1,049 đặc quyền khác nhau) mà những người đồng-lưỡng-đổi phái cố gắng để đấu tranh đòi sửa đổi định nghĩa về hôn phối sao cho họ có quyền được cưới nhau trước pháp luật, thì sau đây là 3 lý do chính họ dựa vào: 1. Bản chất của hôn phối đã từng thay đổi trong quá khứ - đã có thời người khác chủng tộc, người khác mầu da không được lấy nhau nhưng xã hội hiện hành đã chấp nhận tất cả những sự khác biệt này. Nếu bản chất của hôn phối đã được thay đổi thì giờ đây cũng nên được thay đổi để chấp nhận cả những người đồng phái yêu nhau được cưới nhau. 2. Vào năm 1955, Sammy Cahn viết một bài hát có lời lẽ về tình yêu như sau: ‘Tình yêu và hôn phối, theo nhau như bóng với hình. Ta được hoàn toàn tự do vì cầu vòng tình yêu này. Tình yêu biến ta thành bất cứ điều gì ta muốn.’ Theo đó, nền tảng của hôn phối chính là tình yêu. Hôn nhân chỉ là mối tương quan thân mật giữa hai người, tất cả những gì khác đều là lỗi thời và không cần thiết.[13]8 Và đây là lập luận của những người ủng hộ hôn phối đồng phái: Hôn phối được thiết lập do tình yêu của hai người, mà không phải tất cả những người yêu nhau đều là những cặp khác phái; do đó, hôn phối không được phép giới hạn cho người nam và người nữ. 3. Khi định nghĩa hôn phối là mối giây ràng buộc giữa một nam và một nữ, thì định nghĩa này đã loại trừ người cùng phái yêu nhau được ‘lấy nhau,’, sự loại trừ này cần phải được bãi bỏ vì nó cho thấy có sự đối xử không bình đẳng. Định nghĩa về hôn phối như hiện nay vi phạm đến quyền lợi của người cùng phái. Đối xử không bình đẳng và một điều luật vi phạm đến quyền lợi của một người công dân là điều mâu thuẫn có tính hiến định và như vậy không thể chấp nhận được. Khi xếp những đôi đồng phái vào một thể chế khác với thể chế hôn nhân hiện hành thì vẫn là chưa thực sự có bình đẳng. Cư xử khác biệt không phải là bình đẳng. Nhận Định: 1. Sự thực thi và sự hiểu biết về hôn phối có phát triển theo thời gian, nhưng bản chất của hôn phối không thay đổi vì vẫn luôn luôn là giữa một nam và một nữ. Điều này không chỉ đúng trong một quốc gia, một châu lục, một thời đại nào đó nhưng là phổ quát cho mọi nơi và mọi thời. Những thay đổi về hôn phối trong qua khứ chỉ là những thay đổi phụ thuộc chứ không nằm trong bản chất của thể chế hôn nhân. Thể chế hôn nhân vẫn là dành cho một nam và một nữ và chỉ giữa hai người mà thôi. Chính quyền dân sự không lập ra hôn phối mà chỉ là công nhận một thể chế đã được thực thi ngay từ khi con người sống thành xã hội. Nói cách khác, thể chế hôn nhân không thuộc quyền hiến định của chính quyền. Không ai có quyền trên những gì không thuộc quyền mình hoặc cao hơn quyền mình. 2. Hôn phối mà chỉ dựa trên tình yêu thì thật nguy hiểm không thể lường được. Tình yêu rất cần thiết cho đời sống hôn nhân nhưng nó lại là một điều thường xuyên thay đổi. Sự thay đổi có thể về cường độ và cả về đối tượng. Sự thay đổi về cường độ của tình yêu diễn ra theo dòng thời 3 gian, lúc mới yêu khác với lúc đã yêu vài ba năm, lúc chưa sống chung khác lúc đã sống với nhau… Vậy khi tình yêu phu phụ bị nhạt phai hay hết đi thì hai người không còn là chồng vợ hay sao?[14] Đối tượng của tình yêu cũng có thể thay đổi, và thay đổi rất thường xuyên. Điều ấy cũng dễ hiểu bởi lẽ con người không ai hoàn toàn. Nếu nguồn gốc tình yêu chồng vợ bắt nguồn từ công, từ dung, từ ngôn, từ hạnh, thì đương nhiên sẽ có một người (hay nhiều người) giỏi hơn, đẹp hơn, ăn nói khéo hơn, và đạo hạnh hơn thì chẳng lẽ đối tượng của tình yêu không thay đổi sao? Nếu tình yêu vợ chồng bắt nguồn từ nhân, từ nghĩa, từ lễ, từ trí, từ tín, thì chắc chắn trong tương lai cũng sẽ có người nhân từ hơn, hiểu lẽ sống hơn, biết qui củ hơn, thông thái khôn ngoan hơn, tín cẩn hơn, chẳng lẽ tình yêu không thay đổi đối tượng sao? Thêm vào đó, tự nhiên mà nói, chúng ta có khuynh hướng và có khả năng yêu nhiều người khác nhau trong một lúc? Nếu hôn phối chỉ đặt căn bản trên tình yêu mà thôi thì đa thê hoặc đa phu là điều không thể tránh! Con người có một nhu cầu rất căn bản là cần sự thân mật với người khác. Trong những quan hệ của con người, chúng ta thấy ít nhất có 8 hình thức thân mật khác nhau: tình cảm, trí thức, thẩm mỹ, sáng tạo, giải trí, khủng hoảng, tình dục và tinh thần. Không một cá nhân nào có thể thoả mãn tất cả những hình thức thân mật đó nơi một người. Chúng ta luôn cần đến một số những tương quan thân tình trong đời sống chúng ta, đồng phái và khác phái. Thật là sai lầm khi đồng hoá ‘thân mật’ với việc giao hợp tính dục. Trên thực tế, rất nhiều khi giao hợp tính dục mà lại không chia sẻ sự thân mật với nhau một tí nào cả. Tình dục là một cách thế diễn tả sự thân mật chứ không bao giờ lại là phương tiện để đạt đến sự thân mật ấy.[15] 3. Điều trở thành tiêu chuẩn để phân định các thể chế khác biệt nhưng bình đẳng trong luật pháp bắt nguồn từ phiên toà Brown v. The Board of Education vào năm 1954 ở Toà Thượng Thẩm Hoa Kỳ. Phiên toà này đã tuyên bố trong lãnh vực giáo dục công cộng, việc đối xử khác biệt nhưng bình đẳng dựa trên cơ sở da màu là không hợp pháp. Điều phán quyết của toà này dựa trên sự đối xử khác nhau theo màu da, và được áp dụng trên tiêu chuẩn này chứ không áp dụng trên các tiêu chuẩn khác; bởi vì phán quyết này không phù hợp với hệ thống giáo dục của trường học chỉ nhận học sinh của một phái tính mà thôi, như những trường dành cho nam sinh và những trường dành cho nữ sinh. Lấy sự phân chia phòng cho bệnh nhân trong bệnh viện làm thí dụ. Nếu phân chia phòng ốc dựa trên sự khác biệt về da màu hay chủng tộc, như vậy là kỳ thị; nhưng nếu phân chia dựa trên sự khác biệt về phái tính thì không phải là kỳ thị; mà trên thực tế, sự phân chia này là cần thiết.[16] Vậy sự khác biệt giữa hôn phối hiện hành (một nam một nữ) và hôn phối đang được những người đồng phái đòi hỏi là gì? Hôn phối là một sự phối hợp của hai người thành một xác thể được hoàn hợp và hiện thực hoá bởi những hành vi mà tự bản chất của chúng là truyền sinh bất kể hiệu quả của những hành vi ấy có truyền sinh hay không (trường hợp những cặp lớn tuổi hay những cặp bất lực). Sự kết hợp xác thể của hai người phối ngẫu trong hành vi giao hợp là một kết hợp sinh học liên kết hai người thành một hữu thể. |