|
Người Bình Thường Làm Nên Phép Lạ- Lm. Mark Link, S.J. Hãy Yêu Thương và Chủ Động Làm Những Gì Tình Yêu Đòi Hỏi - Nguyễn Chính Kết Giáo Hội Là Giáo Hội của Chúa Kitô - Lm Vũ Xuân Hạnh Thánh Thể và Sự Hiện Diện Thực Sự của Chúa Kitô - Lm. Trần Trung Liêm O.P. Làm Sao Biết Mình Đang Ngủ Mê - Khổng Nhuận Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng (tt) - Lm. Michet Hubaut – Maranatha dịch Văn Phạm Việt Nam: Văn Phạm Của Các Thánh - Vũ Thanh Đôi Cánh Thiên Thần - Sưu Tầm Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa Quý độc giả, Tin từ hãng thông tấn Reuters gửi đi hôm thứ hai 25 tháng 2 cho biết, theo số liệu của chính phủ Bắc Kinh qua giới truyền thông thì tự tử là nguyên nhân tử vong hàng đầu trong giới những người từ 20 đến 35 tuổi ở Trung Quốc, nơi một con số ước lượng 250,000 người một năm - hay 685 người một ngày - tự kết liễu cuộc đời mình. Ngoài ra, mỗi năm từ 2.5 triệu đến 3.5 triệu người Trung Quốc tự tử nhưng không thành công. Theo tờ China Daily, tự tử là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ năm trong số 1.3 tỉ người dân Trung Quốc, nhưng là nguyên nhân chính đối với những người tuổi từ 20 đến 35. Theo thống kê vừa kể, thì tỉ lệ bất thường về việc giới trẻ tự kết liễu đời mình hình như là một hậu quả trực tiếp của tình trạng căng thẳng ngày càng tăng trong xã hội đang thay đổi quá nhanh chóng tại Trung Quốc. Theo tâm lý gia trị liệu Liu Hong ở Bắc Kinh trả lời phỏng vấn tờ China Daily thì, “Xã hội hiện nay đầy dẫy những tranh đua và áp lực của biết bao vấn đề trong đời sống, do đó những người trẻ, thiếu kinh nghiệm trong việc đối phó với các khó khăn, có khuynh hướng trở nên chán đời, mất phuơng hướng và buồn bã.” Không chỉ ở Trung Quốc, thời gian qua, ở Nhật Bản, một nước đang phát triển mạnh về kinh tế, cũng như tại Hoà Lan, Canada, và một vài nước phương Tây mà nền kinh tế ở đó xem ra đang rất khả quan, đời sống vật chất dư thừa, tiện nghi cao độ; thì các bản thống kê cũng đưa ra những kết quả đáng buồn tương tự như sự việc đang xẩy ra ở Trung Quốc. Có lẽ cũng là điều dễ hiểu cho những việc đau lòng như thế, vì trong các quốc gia văn minh, con người chỉ giới hạn trong những vấn đề hiện sinh, nên nhìn cuộc đời với những bế tắc, trong các nước vô thần con người bị giam hãm trong tù ngục áo cơm và không tìm thấy ý nghĩa, hướng đi cho đời mình. Hạnh phúc biết bao, là những tín hữu Công giáo, chúng ta sống niềm tin vào Đức Kitô và lời hứa của cuộc sống vĩnh hằng. Tuy cuộc sống không thiếu những thử thách, khó khăn khi phải nỗ lực xây dựng xã hội trần thế này mỗi ngày một tốt đẹp hơn, nhưng đó không phải là cùng đích cuối cùng của đời chúng ta; trên hết, chúng ta biết mình được yêu thương, đuợc dẫn dắt bằng chính Lời Ngài, được nuôi dưỡng bằng những bí tích, đặc biệt Bí Tích Thánh Thể. Hơn bao giờ, Giáo Hội hoàn vũ đang sống sung mãn Mầu Nhiệm Tình Yêu ấy trong Năm Thánh Thể này. Đọc tin, xem báo, nghe đài, theo dõi các bản tin trên các mạng lưới mới thấy sức sống âm thầm mà mãnh liệt của Giáo Hội tuyệt vời qua các cuộc tĩnh tâm, chầu kính, đại hội, thánh lễ tôn kính Thánh Thể. An ủi biết bao, nức lòng biết nấy, khi nhìn những hình ảnh, đọc những bài viết kể về những sinh hoạt sống động của Giáo Hội thân thương, giáo xứ này, cộng đoàn nọ, giáo phận kia sốt sắng tổ chức mừng kính Năm Thánh Thể. Phù hợp hơn nữa, Tin Mừng Chúa nhật thứ 18 thường niên tuần này kể về Phép-Lạ-Hoá-Bánh-Ra-Nhiều. Bàn tiệc đầy ắp với dẫy tràn ân sủng đó được trao ban cho biết bao người bởi Đấng ‘chạnh lòng thương,’ phép lạ đó đã được ban cho vì có hai bàn tay nhỏ bé đã mở ra, chú bé trong đám đông hôm ấy trao cho Ngài năm chiếc bánh và hai con cá của mình, dù tên của em chẳng hề được nhắc đến, điều quan trọng là mọi người đã được no nê! Đấy, cái nghịch lý của Tin Mừng và đời thường là ở chỗ ấy, khi con người đi tìm cho mình lối sống để mở ra với thế giới bên ngoài thì gặp những bế tắc đến độ không còn muốn sống, vì họ đã không tìm thấy ý nghĩa của đời mình, của cống hiến, của chia sẻ trao ban…Còn trong Đức Kitô, Đấng đã đến và trao ban tất cả cho nhân loại trong Bí Tích Thánh Thể, thì cùng lúc ấy Ngài mời gọi chúng ta mở lòng, góp vào chút nhỏ nhoi của những hạnh phúc, niềm vui và cả những vất vả, hiểu lầm, đắng cay, tủi nhục của kiếp người, ở nơi bạn đang sống, địa vị của bạn, gia đình và những hy sinh…chính lúc ấy mầu nhiệm Thánh Thể của trao ban, của tự hiến, của chia sẻ đang sống động hơn bao giờ. Trong tâm tình chứa chan hạnh phúc vì được mời gọi hiệp thông với Mầu Nhiệm cao trọng cho đời thêm sung mãn, Maranatha_53 dành nhiều trang cho những chia sẻ, tìm hiểu về Mầu Nhiệm Chia Sẻ và Trao Ban này. Những ngày này và sắp đến, Giáo Hội mừng kính các thánh ‘đặc biệt’ của Giáo Hội, ngày 29 tháng 7, mừng Thánh Nữ Mat-ta, người bạn thân, luôn tiếp đón và phục vụ Chúa Giêsu khi Ngài đến viếng thăm Bêtania. Ngày 31 tháng 7 mừng thánh I-nha-xi-ô, đấng sang lập Dòng Tên, ngày 1 tháng 8 mừng thánh An-phong-sô, tổ phụ Dòng Chúa Cứu Thế, ngày 2 tháng 8 mừng Thánh Gioan Vianey, quan thầy các linh mục, ngày 8 tháng 8 mừng kính Thánh Đa-minh, đấng sang lập Dòng Đa-minh. Thánh nào cũng ‘đặc biệt’ với những nét đặc thù của vị ấy, nhưng phải kể đến các vị này, vì Giáo Hội, nhất là Giáo Hội Việt Nam đã đón nhận nhiều ơn phúc qua các vị linh mục, tu sĩ của các nhà Dòng vừa kể trên, mà những vị ấy suốt đời đã sống ‘tất cả cho vinh quang Thiên Chúa,’ ‘chia sẻ, rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, tất bạt,’ ‘chuyên giảng thuyết, nhất là về lòng yêu mến Đức Mẹ.’ Maranatha xin được mừng lễ quý độc giả, quý cộng tác viên, các Nhà Dòng có quan thầy trong những lễ sắp đến với lòng biết ơn, kính mến vì những ơn lành, quà tặng tinh thần thiêng liêng cách này cách khác đã nhận được trong cuộc đời và hành trình lòng tin. Với tâm tình chia sẻ và cầu nguyện cho những người khổ đau, tuyệt vọng trong thế giới quanh ta và với lòng biết ơn cảm mến, của ngôn ngữ Mẹ Việt Nam thân thương, chúng ta cùng hiệp ý thông công với các thánh ngợi ca tình Chúa bao la và khẩn nguyện: Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!” MARANATHA
TIN MỪNG CHÚA NHẬT NGƯỜI BÌNH THƯỜNG LÀM NÊN PHÉP LẠ
Lm. Mark Link, S.J. "Thiên Chúa đã dựng nên thế giới tuyệt đẹp đến nỗi hành động của mỗi cá nhân đều được coi là quan trọng". Những báo cáo của tờ Chicago Sun - Times (Thời báo Mặt Trời Chicago) cho biết 70% nhân viên của hãng được khảo sát đều ăn trộm của chủ họ. Nghiên cứu của Ðại học Cormell cho thấy nơi những trẻ em phát triển bình thường. Khi chúng lên 10 tuổi, chúng thường có thái độ dễ chấp nhận việc lường gạt hay gian dối. Một cuộc nghiên cứu có tính cách quốc tế cho biết một nửa dân số thế giới không được cung cấp đủ nước sạch và có 450 triệu người mỗi đêm phải đi ngủ mà bụng đói meo. Khi nghe những thống kê trên, chúng ta thường cảm thấy thất vọng. Với tư cách là Kitô hữu. Chúng ta biết rằng mình có can dự vào đó. Tuy nhiên, vì chỉ là những con người nên chúng ta sẽ nói: "Tôi đâu có thể làm gì được? Dầu sao tôi cũng chỉ là một cá nhân." Thế rồi chúng ta dẹp những thống kê ấy qua một bên. Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy chúng ta đã xử sự một cách lệch lạc. Chúng ta chỉ biết nhìn vào đó một cách thuần túy là con người. Lẽ ra chúng ta cần phải nhìn vào đó với nhiều niềm tin hơn mới phải. Bài Phúc Âm hôm nay vẽ ra một bức tranh khác với những thống kê chúng ta vừa nghe. Năm ngàn người "không kể đàn bà con trẻ" không có gì ăn và đang đói. Số thực phẩm hiện có chỉ là năm chiếc bánh và hai con cá. Phúc Âm thánh Gioan cho biết số thực phẩm này là của một em bé nào đó. Khi Chúa Giêsu biết có em mang theo thực phẩm. Ngài liền gọi em bé đó. Chắc hẳn em không thể tin nổi tai mình khi nghe Chúa Giêsu nói với em: "Này con, hãy đưa cho Ta số thực phẩm của con để Ta cho đám đông đang đói này ăn nhé!" Dù vậy chú vẫn tin tưởng vào Chúa Giêsu và trao cho Ngài 5 ổ bánh và hai con cá. Tất cả chúng ta đều bíêt sự gì đã xảy ra. Phúc âm hôm nay cho thấy một người cũng có thể thay đổi được cục diện. Hay nói đúng hơn, hai người có thể thay đổi cục diện, tức là Chúa Giêsu và một người nào đó! Chú bé trao cho Chúa Giêsu những gì chú có và Chúa Giêsu lấy đó để thiết đãi đám đông đã không được nuôi ăn và như thế Phúc Âm sẽ mất đi một trong những câu chuyện hứng khởi nhất. Chúng ta nhớ lại lời Chúa Giêsu: "Một hạt lúa nếu không rơi xuống đất và chết đi thì nó vẫn còn là một hạt lúa." (Ga 12: 24). Ðiều Chúa Giêsu muốn nói như sau: "Mỗi mùa hè, những cây lúa kỳ diệu mọc lên trong những cánh đồng lúa ở Kansas đều do những hạt lúa đã hy sinh sự sống của mình để chết đi. Sự sống còn của nhân loại cũng tuỳ thuộc vào nguyên tắc tự hiến này." Thiên Chúa đã sắp đặt thế giới mới cách thức kỳ diệu đến nỗi hành động của mỗi cá nhân đều được coi là quan trọng. Tôi xin minh hoạ chủ điểm này rõ hơn bằng một câu chuyện hài hước. Art Buchwald, một tay viết báo, có lần đã víêt về một người bạn ông sống tại thành phố New York. Chúng ta hãy tạm gọi anh bạn đó là Oscar. Một hôm Art và Oscar bước lên một chiếc taxi. Lúc đó Oscar nói với bác tài:"Bác lái giỏi quá!" Bác ta liền nhìn anh và nói: "Anh làm nghề gì? Bộ anh xỏ xiên tôi hả?" Oscar nói: "Không phải đâu, tôi khen bác thực mà. Tôi khâm phục cách bác di chuyển giữa một đám xe cộ như thế". Bác ta liền nói: "Ðúng, hẳn là thế." đoạn lái xe đi. Sau đó, Art liền hỏi: "Anh làm như vậy với mục đích gì?" Orcar trả lời: "Tôi đang cố gắng đem lại tình yêu cho New York." Art nói: "Anh làm thế nào được?" Oscar nói: "Hãy lấy trường hợp bác tài lúc nãy. Tôi nghĩ rằng tôi đã giúp bác ta một ngày hạnh phúc. Chúng ta hãy giả thiết hôm nay bác ta lái được hai mươi xuất, bác sẽ niềm nở tử tế hơn với những kẻ khác nữa. Cuối cùng, sự tử tế ấy sẽ trải rộng đến cả ngàn người." Art nói: "Anh bắt đầu khùng rồi đấy!" Nhưng ngay lúc đó, họ đi ngang qua một công trường đang xây. Bấy giờ là giữa trưa, đám thợ đang ngồi ăn. Oscar liền bước tới gần một nhóm và nói: "Các bạn đang xây cất một công trình thật tráng lệ!" Ðám thợ giương mắt ngờ vực nhìn Orcar. Anh liền hỏi: "Chừng nào xây xong vậy?" Một gã thợ đầu đội nón an toàn lầu bầu: "Tháng sáu." Orcar liền nói: "Tuyệt quá! Vậy là sắp có thêm một công trình mỹ lệ cho thành phố." Trong khi họ tiếp tục rảo bước, Art nói với Oscar: "Này bạn, tôi chưa thấy ai giống như anh cả." Oscar nói: "Ðồng ý! Anh có thể ghẹo tôi, nhưng đám người này sẽ tiêu hoá những lời của tôi, nhờ đó họ sẽ tốt đẹp hơn." Art liền nói: "Nhưng cho dầu nhờ đó họ tốt hơn đi nữa, thì anh cũng vẫn chỉ là một cá nhân, mà một cá nhân thì làm sao có thể thay đổi thành phố Nữu Ước được". Oscar đáp: “Có chứ! Ðiều quan trọng là chớ ngã lòng. Mang tình yêu về lại cho Nữu Ước không phải dễ dàng, tuy nhiên nếu mà tôi có thể lôi kéo thiên hạ cộng tác với tôi vào chiến dịch này thì..." Art ngắt lời: "Này! Anh vừa nháy mắt với một mụ đàn bà xấu xí phải không?" Orcar nói: "Ðúng thế! Nhưng nếu chị ta là một giáo viên thì lớp học của chị ta hôm nay nhờ đó sẽ có một ngày đẹp tuyệt vời đấy!" Buchwald không hề thêm bớt gì về bài viết này. Chúng ta không biết ông viết nghiêm chỉnh, hoặc nửa đùa nửa thật cho vui, tuy nhiên một số độc giả tin rằng ông ta nghiêm chỉnh hơn chúng ta nghĩ. Ðiều này dẫn chúng ta trở lại với bài Phúc Âm hôm nay. Chú bé đã trao cho Chúa Giêsu tất cả những gì chú có và Chúa Giêsu đã chia sẻ món quà tặng của chú với cả ngàn người. Sứ điệp của bài Phúc Âm hôm nay như sau: "Giống như một hạt lúa, một cá nhân có thể trở thành dụng cụ cho một phép lạ, một cá nhân có thể trở thành dụng cụ cứu giúp hàng ngàn người, khi thấy sứ điệp này xác thực ngay trước mắt. Malcolm Muggeridge, một ngôi sao truyền hình nổi tiếng của Anh Quốc, đã làm điều mà trước đó chàng thề không bao giờ làm, là trở thành một người Công giáo. Chàng cho biết sở dĩ tâm hồn chàng thay đổi là nhờ Mẹ Têrêxa Calcutta. Chàng nói: "Không lời nào nói cho xiết tôi đã mang ơn Mẹ biết bao nhiêu. Mẹ đã chỉ cho tôi một thứ Kitô giáo bằng hành động. Mẹ đã chỉ cho tôi quyền năng của tình yêu, Mẹ đã chỉ cho tôi một cá nhân từ ái có thể khơi dậy cơn thủy triều tình yêu lan đến toàn thế giới." Ðó cũng là Tin Mừng của bài Phúc Âm hôm nay. Tin Mừng này cho biết dù chỉ là cá nhân cũng là quan trọng, vẫn đáng kể, và nếu chúng ta chia sẻ điều mình có với Chúa Giêsu thì Ngài có thể làm cho điều ấy sinh hoa kết trái vượt quá mộng tưởng lớn lao nhất của chúng ta. Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy nếu chúng ta dâng cho Chúa Giêsu tài năng và tặng vật của mình để tuỳ Ngài sử dụng thì Ngài có thể dùng chúng ta để làm nên những phép lạ. Chúng ta hãy kết thúc với bài thơ của Amdo Nervo, một đại thi sĩ cũng là một nhà huyền bí, người Mễ Tây Cơ. Bài thơ này tóm tắt sứ điệp và tinh thần bài nhà huyền bí, người Mễ Tây Cơ. Bài thơ này tóm tắt sứ điệp và tinh thần bài Phúc Âm hôm nay: "Con chỉ là một tia lửa, xin
biến con thành ngọn lửa. Trích Người Tín Hữu.
HÃY YÊU
THƯƠNG VÀ CHỦ ĐỘNG Nguyễn Chính Kết 1. Dù mệt nhọc, cần nghỉ ngơi, Ngài vẫn đón tiếp dân chúng Sau khi nghe tin Gioan Tẩy Giả bị vua Hêrốt chém đầu (x. Mt Mt 14,3-12), chắc chắn Đức Giêsu hết sức xúc động, ngậm ngùi thương tiếc người đã từng nhiệt thành làm tiền hô cho mình. Đoạn Tin Mừng Mt 14,13-21 cho biết lúc ấy Ngài «đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt», vì Ngài có nhu cầu ở một mình để tưởng niệm người quá cố, đồng thời để nghỉ ngơi và cầu nguyện. Nhưng không ngờ dân chúng lại tìm đến Ngài rất đông. Tin Mừng cho biết: «Trông thấy đoàn người đông đảo thì Ngài chạnh lòng thương». «Chạnh lòng thương» là phản ứng của người có lòng trắc ẩn, hay thương xót, thông cảm với những nhu cầu, với những hoàn cảnh éo le, đau khổ của tha nhân. Vì thế, mặc dù chính Ngài đang cần nghỉ ngơi, cần ở một mình, nhưng Ngài đã quên nhu cầu của mình mà chỉ nghĩ đến nhu cầu của dân chúng. Ngài đã đón tiếp họ và «chữa lành các bệnh nhân của họ». Trong cuộc sống đời thường, ta cũng gặp rất nhiều trường hợp tương tự như Ngài: đang khi cần yên tĩnh nghỉ ngơi sau cả một ngày làm việc mệt nhọc, hoặc khi đang nghỉ ngơi thì có người gọi điện thoại hoặc đến tận nhà nhờ vả ta một điều gì cần thiết. Lúc đó ta phản ứng thế nào? Có thể ta nghĩ rằng: «Mình phải nghỉ ngơi cái đã, vì có nghỉ ngơi thì mới làm việc được. Vả lại mình còn biết bao việc khác phải làm nữa. Phải yêu cầu người ta chờ mình nghỉ ngơi đã!»? Hay ta nghĩ rằng: «Người ta cần mình ngay bây giờ nên mới đến vào giờ này. Nếu không giúp họ giờ này thì có thể không còn cơ hội nào giúp họ nữa và công việc của họ sẽ bị lỡ. Thôi mình ráng hy sinh cho họ một chút, mình có thể nghỉ ngơi bù vào lúc khác cũng được mà!»? Phải công nhận: nghĩ và làm được như thế là việc rất khó, đòi hỏi nhiều tình yêu và lòng bao dung. Trong quá khứ, một vài lần vì mệt mỏi sau cả ngày làm việc, tôi đã từ chối giúp đỡ một vài người, nay tôi rất hối hận và tự hỏi: không biết người ta bị kẹt đến thế nào khi mình không giúp họ, và họ buồn thế nào vì việc ấy? Tôi thấy mình đã không giống Đức Giêsu Thầy của mình bao nhiêu, vì mình ít tình yêu quá! Tình yêu mình không đủ mạnh để có thể ráng hy sinh cho tha nhân khi họ cần, dẫu mình đã mệt! 2. Người tông đồ phải có tình thương trong lòng trước đã Ở những vùng dân chúng rất nghèo – như những vùng truyền giáo cho các dân tộc thiểu số – giáo dân phải đi thật xa hàng mấy chục cây số mới đến được nhà thờ để dâng thánh lễ và học hỏi giáo lý. Nhiều vị chủ chăn đã lo cho họ ăn uống cả hàng trăm người trước khi họ ra về (khi thì cơm, khi bánh mì, khi thì mì ăn liền…). Để thực hiện việc này, tháng nào vị linh mục cũng phải đi hàng chục hay hàng trăm cây số đến gõ cửa những nhà hảo tâm quen biết hoặc được giới thiệu để «ăn mày» dùm cho họ. Thật là một hình ảnh rất đẹp về người chủ chăn! Các vị đã thực hiện lời Đức Giêsu: «Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn». Khi nói câu ấy, Đức Giêsu muốn gây ý thức nơi các tông đồ về tình yêu thương, sự quan tâm mà một mục tử phải có đối với dân chúng. Mặc dù mục đích của người tông đồ là loan báo Tin Mừng chứ không phải là lo chuyện vật chất cho dân chúng. Nhưng khi ta biết dân chúng có nhu cầu nào đó, ta nên thể hiện tình yêu thương của ta đối với họ bằng cách giúp họ nhu cầu ấy. Dân chúng có yêu thương mình, lời mình rao giảng mới thấm vào lòng họ. Dân chúng có cảm thấy mình yêu thương họ, họ mới hứng khởi thực hiện những điều mình dạy dỗ. Dân chúng bị hấp dẫn đến với Đức Giêsu không chỉ vì Ngài dạy dỗ họ những điều hay lẽ phải cho bằng vì họ cảm thấy Ngài yêu thương họ, vì Ngài quan tâm săn sóc họ, vì Ngài chữa bệnh cho họ, giúp họ giải quyết những khó khăn trong đời sống họ… Kitô giáo là đạo của tình thương, lấy tình yêu thương làm bản chất của đạo (x. Ga 13,34-35), nên những người rao giảng đạo này phải là người có dồi dào tình thương hơn mọi người, và tình yêu thương ấy phải được chứng tỏ bằng hành động. Truyền đạo không phải chỉ là cung cấp cho người ta có một số kiến thức về Thiên Chúa, về Đức Giêsu hay về Lời của Ngài, mà là làm cho họ trở thành môn đệ Ngài, theo Chúa, và sống giới luật yêu thương của Ngài. Chính mình không sống tinh thần yêu thương này, làm sao mình có thể truyền tinh thần yêu thương này cho người khác được? 3. Hãy chủ động phần việc của mình trước đã… Khi yêu cầu các môn đệ hãy tự mình lo cho họ ăn, Đức Giêsu đã thừa biết khả năng hạn hẹp của các ông, và Ngài cũng đã biết mình phải làm gì. Với quyền năng của Ngài, Ngài có thể biến không khí thành bánh và cá nuôi đám dân chúng, không cần đến 5 chiếc bánh và 2 con cá mà các ông tìm được trong dân chúng. Nhưng Ngài không muốn đơn phương làm như vậy, Ngài muốn có sự góp phần của mọi người. Trước tiên, Ngài muốn chính các tông đồ phải có tình thương, có ý thức trách nhiệm đối với dân chúng và thật sự muốn lo cho họ. Ngài nói: «Chính anh em hãy cho họ ăn». Các tông đồ quả có nhận ra nhu cầu của dân chúng, nhưng tình yêu của các ông đối với dân chúng chưa mạnh đủ để có thể lóe lên sáng kiến hay thúc đẩy các ông tìm cách nào nuôi dân chúng. Vì thế, ngay từ đầu các ông đã nghĩ mình bất lực không thể giúp gì họ được, và các ông đề nghị giải tán dân chúng. Nếu các ông có nhiều tình yêu hơn, các ông sẽ nghĩ ra được mình nên làm gì. Chẳng hạn các ông có thể nói với Đức Giêsu: «Bây giờ chúng ta phải lo cho họ ăn, chúng con chưa biết làm cách nào, nhưng chúng con biết Thầy có cách». Nói như thế, các ông vừa tỏ ra tình yêu và ý thức trách nhiệm của mình, vừa tỏ ra tin tưởng vào quyền năng của Thầy mình. Trong cuộc đời, rất nhiều khi có những việc nào đó ta nên làm hay phải làm nhưng không làm được chỉ vì ta không đủ tình yêu, không đủ nhiệt thành và lòng hăng say. Thiếu yếu tố quan trọng này, ta thường bi quan yếm thế cho rằng mình không thể thực hiện được. Trong một trận chiến, chưa xuất quân mà ta đã nghĩ rằng mình sẽ thua thì quả thật ta đã thua ngay từ đầu ngay trong tư tưởng của mình rồi. Nguyễn Bá Học nói: «Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông». Nhiều việc tốt ta không làm được, không phải vì nó khó hay vì nó không thể làm được, mà vì ta không đủ tình yêu để làm, vì ta đã đầu hàng nó ngay từ trong tư tưởng của ta. Người Kitô hữu không nên sợ mình không làm được, vì ta luôn luôn có một sức mạnh ở ngay trong bản thân mình, đó là quyền năng của Thiên Chúa. Nếu ta tin tưởng vào quyền năng của Ngài, ta sẽ làm được nhiều việc mà mọi người đều nghĩ rằng ta không thể. Vì «không có sự gì mà Thiên Chúa không làm được» (Lc 1,37). Vì «tôi có thể làm được tất cả nhờ quyền năng của Đấng ban sức mạnh cho tôi» (Pl 4,13). Vì «nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì (…) sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được» (Mt 17,20). Tại sao có những vị thánh đã làm được rất nhiều phép lạ? Chính vì các ngài có rất nhiều tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân, và vì các ngài tin tưởng vững chắc vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng luôn hỗ trợ cho mình. Tình yêu thúc đẩy các ngài hành động, và lòng tin tưởng vào quyền năng Thiên Chúa khiến hành động của các ngài đi đến thành công. Người đời vẫn nói: «Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên». Qua bài Tin Mừng về Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều này, ta thấy Ngài muốn các tông đồ, tức con người, phải mưu sự trước, và Ngài chỉ là người giúp cho mưu sự ấy thành công. Các nhà tu đức vẫn nói: «nỗ lực rồi cậy trông», nghĩa là chúng ta phải chủ động nỗ lực trước đã, dù nỗ lực ấy chỉ là yếu tố rất nhỏ (chỉ 1%) để thành tựu và phần chủ yếu (có đến 99%) là do Ngài, nhưng nếu không có phần nỗ lực rất nhỏ khởi đầu của ta thì không có sự việc gì thành tựu. Thánh ý Ngài là muốn có phần chủ động cộng tác của ta. Cho dù ngay cả việc chủ động của ta cũng do Thánh Thần Ngài thúc đẩy, vẫn phải luôn có phần của ta, vì nếu thiếu nó, Thiên Chúa cũng không còn muốn làm phần của Ngài nữa! *** Thiên Chúa luôn muốn mọi người phát triển tình yêu thương trong lòng họ. Ngài muốn mọi điều tốt được thực hiện trên đời này là do sáng kiến của họ, bắt nguồn từ tình yêu thương của họ, chứ Ngài không muốn họ cứ làm theo lệnh Ngài như một cái máy. Ngài rất sung sướng được cộng tác với những công việc tốt đẹp mà chính họ sáng kiến và quyết tâm thực hiện, cho dù sự thành tựu là do Ngài tới 99%. Nhưng Ngài vẫn muốn phải có 1% công lao của con người, mà thiếu nó thì chính Ngài cũng không muốn thực hiện 99% còn lại kia. Chúng ta nên ý thức điều đó. Hãy tự sáng kiến và chủ động trong những việc tốt lành mà với sự cộng tác của Thiên Chúa, ta có thể làm được cho tha nhân, cho thế giới●
GIÁO HỘI LÀ GIÁO HỘI CỦA CHÚA KITÔ
Lm. Vũ Xuân Hạnh Chúa nhật tuần này, Chúa nhật thứ XVIII thường niên, chúng ta suy niệm phép lạ Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng. Tuần sau, Chúa nhật XIX thường niên, phụng vụ Lời Chúa mời gọi chúng ta suy niệm việc Chúa đi trên mặt biển để đến với các tông đồ, giữa lúc các tông đồ đang trên thuyền và đang ở ngoài khơi. Dù nội dung có khác, nhưng hoàn cảnh của cả hai bài Tin Mừng có một chút tương đồng. Chẳng hạn: - Cả hai đều xảy ra ở nơi hoang vắng: trong hoang địa và trên biển mênh mông. - Các tông đồ cảm nhận mình thiếu thốn mọi thứ, nhưng hình như cũng không mong đợi gì về sự bù đắp của Chúa Giêsu. Đúng hơn, họ chưa đủ hiểu biết, chưa đủ tin để mà mong đợi. - Các tông đồ đối diện với cái đói trong dụ ngôn hóa bánh. Còn trong câu chuyện Chúa đi trên mặt biển, họ đối diện với cái nguy hiểm của cuồng phong đe dọa sự sống. - Chúa nhận ra nhu cầu của loài người: Người hóa bánh để nuôi sống và cất mọi nguy hiểm có thể đe dọa sự sống. Đúng hơn, qua cả hai bài Tin Mừng, đều cho thấy Chúa luôn luôn bảo vệ đời sống đức tin của linh hồn. Vì hóa bánh là nhằm hướng con người về Bánh Thánh Thể. Dẹp yên sóng gió là cho thấy tình yêu cứu độ giữa muôn cám dỗ của thế gian. - Chúa chỉ ra tay cứu giúp bằng chính quyền năng của Thiên Chúa vào giờ phút chót, khi mà sự lúng túng và cảm nhận giới hạn của loài người đạt đến đỉnh cao nhất. - Thân phận của các tông đồ nói riêng và của nhân loại nói chung, thường được đặt trước những thử thách, những giằng co giữa đức tin và nỗi sợ hãi, nỗi lo lắng khi vừa phải sống trong cuộc đời nhưng lại vừa hướng về vĩnh cửu. - Chỉ khác một điều giữa hai bản văn, đó là trong trình thuật hóa bánh, không thấy hình ảnh của thánh Phêrô. Vì thế, đấy là lần đâu tiên, trong trình thuật Chúa đi trên mặt biển, thánh Mathêu đã ghi nhận vai trò và hình ảnh của tông đồ Phêrô đứng ở vị trí độc lập, được nhắc tới cách cá vị. Bởi vậy, dù phụng vụ Lời Chúa hôm nay có nhiều đề tài gợi hứng suy niệm. Nhưng tôi xin được suy niệm điểm khác biệt này của hai bản văn để nhận ra ơn gọi của thánh Phêrô liên quan tới Hội Thánh Chúa Kitô và liên quan tới cả bạn và tôi. I. VỊ TRÍ ĐỘC LẬP CỦA TÔNG ĐỒ PHÊRÔ TRONG TRÌNH THUẬT CHÚA ĐI TRÊN MẶT BIỂN. Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều trong Mt 14,13-21 (Tin Mừng Chúa nhật XVIII), Tin Mừng theo thánh Mathêu còn ghi nhận một phép lạ hóa bánh lần hai (Mt 15, 32-39) và một số phép lạ khác (Mt 15, 21-31). Qua những phép lạ ấy, Chúa Giêsu được thu hút bởi đám đông dân chúng. Nhưng hình như họ theo Chúa chỉ là nhất thời, bề ngoài, vụ lợi nhiều hơn là theo vì đức tin. Vì thế, từ nay, Chúa Giêsu bắt đầu trở về với chính Giáo Hội của Người. Người quay về chuyên lo huấn luyện tông đồ đoàn để đặt nền tảng vững vàng cho Giáo Hội của Người. Với việc dõi theo tâm tư của Chúa Giêsu khi nhắm hình thành trong tương lai một cộng đoàn Giáo Hội, thánh Mathêu bắt đầu cho thấy tên tuổi của thánh Phêrô. Nhưng rất tiếc, chỉ trong lần đầu được giới thiệu danh tánh cách minh nhiên, hình ảnh của tông đồ Phêrô chưa phải là nổi bật, chưa phải là hoàn bị, chưa phải là thánh thiện như mong muốn, nhưng đã xen vào trong đó điều gì đó còn bất toàn, còn phải cố gắng hơn, phải tiến xa hơn. Trình thuật cho biết, sau khi nuôi đến năm ngàn người bằng phép lạ hóa bánh, Chúa Giêsu “giục môn đệ trở xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước.” Đang lúc “thuyền đã ra đến giữa biển,” giông bão lại nổi lên. Bằng nỗ lực chống chọi của sức người, hình như không mang lại kết quả: biển vẫn gầm, sóng vẫn thét. Nguy hiểm càng đến gần, vậy mà mãi đến canh tư đêm tối Chúa Giêsu mới xuất hiện. Người xuất hiện không bình thường: lướt trên sóng, trên gió, trên mặt nước, nhưng không có dấu hiệu bị chìm, lại ngày càng tiến gần thuyền hơn. Kể cũng lạ đối với thái độ của tông đồ Phêrô lúc này. Dường như ông quá thật thà, quá dễ tin, quá đơn sơ, nếu không muốn nói là thái độ của kẻ vội vàng. Bởi trong suy nghĩ, mới vừa cho rằng người ta không thể đi trên mặt nước, nhưng chỉ có thể là ma, thì ngay sau đó lại lên tiếng: “Nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho tôi đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy.” Nói là làm. Thánh Phêrô đã nhảy xuống nước thật. Nếu không xem thái độ này là thái độ vội vàng, thì điều mà thánh nhân đang làm thật khó hiểu. Bởi nếu tin rằng, đúng là Thầy, trước sau gì, Thầy cũng sẽ đến thuyền, đến với các ông, Thầy đang đi về phía các ông kia mà, cần gì phải nhảy xuống nước để chạy về phía Thầy. Mặt khác, trong lúc bước ra khỏi thuyền để xuống nước, vẫn là đi trong sóng to gió lớn. Chắc chắn không một ai dại dột liều mình nhảy xuống giữa biển khơi ngay trong lúc bão bùng. Vì thế, vừa khi bước xuống, lập tức thánh nhân nghi nan. Vì nghi nan, thay vì “đến cùng Thầy,” lại đang chìm dần trong dòng nước. Đúng là hấp tấp, vội vàng. Hơn nữa “đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy” lúc này, đâu phải là việc làm cấp bách, cần làm ngay. Việc cần thiết nhất, quan trọng nhất liên quan đến mạng sống nhiều nhất là phải làm sao giữ được thuyền của mình không bị chìm giữa phong ba khiếp đảm này. Còn nếu tin rằng Thầy là Đấng quyền năng, thì bằng mọi cách phải cầu xin Thầy cho bằng được để Thầy dẹp yên sóng gió. Đó mới là điều dễ hiểu. Đó mới là điều cấp bách nhất trong lúc này mà Phêrô và cả tông đồ đoàn cần làm. Nhưng thái độ kỳ hoặc của thánh Phêrô càng kỳ hoặc bao nhiêu, lại càng cho thấy tình yêu và hồng ân của Chúa lớn lao, đường lối và ơn gọi mà Người dành cho loài người diệu kỳ bấy nhiêu. Bởi một con người yếu đuối, hèn kém, xem ra hấp tấp, non nớt, lại được Chúa trao trọng trách lớn không ai bằng: làm đá tảng của Giáo Hội. Về phía thánh Phêrô, lần đầu tiên được giới thiệu ở vị trí độc lập và cao cả như thế, lại chỉ là nông nổi thiếu sót. Dù sau này, khi đã được Chúa tin tưởng, chọn ở vị trí cao cả, Phêrô vẫn chưa phải là người hoàn toàn như mong muốn, bởi thánh nhân đã từng chối Thầy. Nhưng rồi Phêrô sẽ trở thành một Phêrô khác theo thời gian. Càng về sau, khi qua nhiều vấp váp, nhiều biến cố, nhất là biến cố tử nạn của Thầy, và thấm thía mạnh mẽ tình yều của Thầy dành cho mình vượt quá nhiều lần sự vấp váp của bản thân, Đức Giáo Hoàng Phêrô đã lớn lên nhiều, đã trưởng thành vược bậc. Thế mới hay đường lối Thiên Chúa không phải đường lối con người. Thiên Chúa nhìn thấy lòng người. Người không bao giờ sai lầm trong ơn gọi mà Người đã ban cho chúng ta. II. GIÁO HỘI LÀ GIÁO HỘI CỦA CHÚA KITÔ. Giáo Hội không bao giờ là Giáo Hội của riêng một cá nhân con người nào, nhưng là Giáo Hội của chính Chúa Kitô. Trong cuộc bầu chọn Giáo Hoàng vào tháng 4.2005 vừa qua, tôi thấy tường tận ơn Thiên Chúa ban cho Giáo Hội, để cuộc bầu cử diễn ra quá nhanh. Các hồng y như cùng một lòng đồng thuận với nhau chọn Đức Ratzinger làm giáo hoàng thứ 265 của Giáo Hội. Tôi thấy ơn Chúa Thánh Thần như sờ được, bởi ngay sau khi Đức Gioan Phaolô II qua đời, lập tức, người ta nhận ra ngay con người của sự sáng suốt, người của mọi người nơi Đức Biển Đức XVI. Ngài nổi bậc với những cách thức làm việc đầy khôn ngoan, nhất là các lời phát biểu, các bài giảng trong các thánh lễ của tang lễ và mật tuyển viện đều được chú ý ngay, và được đánh giá rất cao. Nhưng tôi vẫn thấy, nếu con thuyền ngày ấy của tông đồ đoàn đã từng bị sóng vỗ, thác gầm, thì con thuyền Giáo Hội của Chúa Kitô qua mọi thời, đều có những sóng to gió lớn khác nhau. Chính Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI đã cho thấy trong bài giảng khai mạc mật tuyển viện: “Chúng ta không thể cứ mãi là trẻ thơ trong đức tin” nghĩa là “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý.”'(Ep 4, 14). Một diễn tả rất thời sự! Biết bao làn gió chủ thuyết mà chúng ta biết đến trong những thập niên cuối cùng. Con thuyền nhỏ tư duy của nhiều Kitô hữu đã thường bị đánh bởi những đợt sóng này - trôi giạt từ thái cực này sang thái cực khác: từ Mác-Xít tới chủ nghĩa tự do, tới mức chủ nghĩa tự do phóng túng; từ chủ nghĩa tập thể đến chủ nghĩa cá nhân ; từ chủ nghĩa vô thần đến chủ nghĩa duy huyền bí tôn giáo mơ hồ; từ chủ nghĩa duy tín đến chủ nghĩa hỗn tạp và vân vân. Nhiều giáo phái được đẻ ra mỗi ngày và xảy ra điều mà thánh Phaolô đã nói về sự lường gạt con người và sự tinh quái nhắm lôi kéo con người đến chỗ lầm lạc (Eõph, 14). Có một đức tin rõ ràng theo kinh Tin Kính của Giáo Hội, lại bị gán cho nhãn hiệu cuồng tín. Trong khi chủ nghĩa tương đối, nghĩa là để cho mình “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý” dường như lại là cách thức hành xử duy nhất tức thời. Người ta đang thành lập một chủ nghĩa độc tài tương đối, nó không nhìn nhận điều gì là chung kết, và để cho cái tôi và ý muốn của mình là mẫu mực duy nhất”. Nhưng chúng ta tin rằng, dù cho “Biết bao làn gió chủ thuyết,”, dù cho “Con thuyền nhỏ tư duy của nhiều Kitô hữu đã thường bị đánh bởi những đợt song,”, Giáo Hội vẫn là Giáo Hội của Chúa Kitô. Càng nhiều phong ba thử thách, Giáo Hội càng chứng tỏ khả năng bền đỗ và vững mạnh của mình, không phải do chính mình, nhưng đó chính là một huyền nhiệm cao cả mà Giáo Hội có được bởi Thiên Chúa. Chính Chúa Kitô đã luôn luôn ban ơn và gìn giữ Giáo Hội của Người. Người ban Thánh Thần làm sức sống của Giáo Hội. Cũng chính Chúa luôn luôn tuyển chọn những con người để nối tiếp sự nghiệp của tông đồ đoàn, gìn giữ và ban ơn cho nhân loại, nhờ đó, Giáo Hội tự thánh hóa mình và thánh hóa nhân loại. Vì là Giáo Hội của Chúa Kitô, yếu tố Thiên Chúa mới là chính. Yếu tố con người chỉ là phụ thuộc. Vì thế, sự bất toàn của con người, là điều không thể tránh khỏi, sẽ là lý do tốt nhất để khẳng định mạnh mẽ và dứt khoát rằng, phép lạ trong lòng Giáo Hội do ơn Chúa luôn luôn được tiếp diễn. Bởi chỉ có phép lạ ấy, sống và nhờ phép lạ ấy, Giáo Hội của Chúa Kitô bền vững qua mọi thời gian. Ngay từ thuở ban đầu, dù Đức Giáo Hoàng Phêrô đã có lần cho thấy sự bất toàn, sự yếu đuối của cái gọi là “nhân tính.” Nhưng Thiên Chúa cần cái nhân tính ấy để làm nên Giáo Hội, để cộng tác với Thiên tính của Người, xây dựng và củng cố Giáo Hội. Thiên Chúa cần nhân tính ấy, để chính Người được vinh danh, được cả sáng. Thiên Chúa cần nhân tính ấy, để trong nhân tính, Người xây dựng Thiên tính cao cả của Người. Người cần nhân tính ấy để biến một Phêrô, tưởng chừng rất nhỏ bé, đã có thể trở nên đá tảng của Giáo Hội của Người. Vì thế, Chúa Giêsu đã không gọi các thiên thần, nhưng lại gọi tông đồ Phêrô và bảo: “Con là Đá. Trên Đá này Thầy xây Hội Thánh của Thầy.” Tiếp tục với Phêrô và tông đồ đoàn, qua dòng lịch sử, thế giới vẫn luôn luôn chứng kiến rất nhiều cái nhân tính ấy của Giáo Hội. Bởi sau Phêrô và tông đồ đoàn, Chúa Kitô vẫn tiếp tục chọn và gọi những con người tiếp nối sự nghiệp phát triển của Giáo Hội. Càng có đông những con người được trao ban ơn gọi, cái nhân tính của Giáo Hội càng lộ rõ, càng dễ nhận ra. Nhưng thật lạ lùng, dẫu chỉ là những con người trong trần thế hợp thành Giáo Hội, vẫn luôn luôn có một chiều kích thánh thiên và siêu hình, để nhờ đó, Giáo Hội có một khả năng sống phi thường. Vì thế, càng lâm vào thử thách bao nhiêu, Giáo Hội càng có sức tự khẳng định mình bấy nhiêu. Bằng chứng là trong lịch sử của Giáo Hội, giai đoạn nào có nhiều biến động nhất, ngay cả những lúc nhìn bề ngoài, hình như cái Thiên tính bị che lấp bởi nhân tính, tội lỗi của những người con của Giáo Hội lồ lộ trước mắt thế giới, thì ngay trong những giai đoạn bi đát như thế, Giáo Hội lại có nhiều những chứng nhân thế giá nhất, nhiều anh chị em được nhìn nhận là hiển thánh nhất. Đúng thật, Chúa đã không sai lầm khi trao Giáo Hội của Người cho chúng ta. Bởi Chúa cần nhân tính của ta để thể hiện Thiên tính của Người. Bởi Giáo Hội không là Giáo Hội của một con người nào, nhưng là Giáo Hội của chính Chúa. Giáo Hội ấy có sức sống mãnh liệt là Chúa Thánh Thần, có ơn cứu độ đời đời được mua bằng giá máu của Chúa Kitô. Là Kitô hữu, trung thành với giáo huấn của Chúa Kitô và giáo huấn của Giáo Hội của Người, chúng ta nguyện xin Chúa cho mình luôn biết làm rạng danh Thiên Chúa khi sống trong lòng Giáo Hội hôm nay●
TÌM HIỂU và SỰ HIỆN DIỆN THỰC SỰ CỦA CHÚA KITÔ[1]
Jos. Trần Trung Liêm, OP. Khi nói đến Bí tích Thánh thể, điều không thể không đề cập đến chính là “sự hiện diện thực sự” của Chúa Kitô (the real presence of Christ). Theo lịch sử thần học bí tích, “sự hiện diện thực sự” của Chúa Kitô được dùng để chỉ về sự hiện diện Thánh Thể, lần đầu tiên có tính cách loại trừ các cách thế hiện diện khác, bắt đầu từ Scotus.[2] Và điều này thật là không may cho chúng ta! Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh “Sacrisanctum Concilium” của công đồng Vaticanô II (Dec. 4, 1963) số # 7 nói: Chúa Kitô vẫn luôn luôn hiện diện trong Giáo Hội của Ngài, nhất là trong những cử hành phụng vụ: trong Thánh Lễ đặc biệt là dưới hình bánh và rượu, trong Thừa tác viên, trong các bí tích, trong Lời Chúa công bố trong phụng vụ, và khi Giáo Hội cầu nguyện hay ca tụng (Matt 18:20). A. HIỆN DIỆN THỰC SỰ DƯỚI NHIỀU CÁCH THỨC Số 1373 trong Sách Giáo Lý GH Công Giáo khi giới thiệu về sự hiện diện của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, đã diễn tả như sau: “Chúa Giêsu Kitô, Đấng thực sự đã chết, đã sống lại từ cõi chết, đang ngự bên hữu Thiên Chúa, và thực sự đang bầu cử cho chúng ta, Người hiện diện trong Giáo hội dưới nhiều cách thức.” Sau đó, sách Giáo lý liệt kê những hình thức hiện diện “thực sự” của Ngài: trong Lời Chúa, trong cộng đoàn phụng tự (Matt 18:20), trong người nghèo, người bệnh, người tù tội (Mat 25:31-36), trong các bí tích, trong Thánh Lễ, trong thừa tác viên chủ sự, và cách đặc biệt trong Thánh Thể qua hình bánh và rượu. Tông Huấn sau cùng của Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II về Thánh thể có tựa đề Ecclesia de Eucharistia (April 17, 2003), Giáo Hội từ Thánh Thể. Ngài mở đầu Tông huấn như sau: Giáo Hội kín múc được sự sống của mình từ Thánh Thể; tiếp đó, đức cố Giáo Hoàng trích dẫn câu cuối cùng của tin mừng Matthêu 28:20, lời Chúa Giêsu hứa ở lại với Giáo Hội cho đến khi hoàn tất của thời gian, để nói lên sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Giáo Hội.[3] Sự hiện diện của Chúa Kitô trong Thánh Thể được gọi là “thực” - tuy không cho rằng những hình thức hiện diện khác là không “thực,” nhưng bởi vì đây là sự hiện diện mang ý nghĩa đầy đủ nhất: có nghĩa là, đây là một sự hiện diện nền tảng mà qua đó Đức Kitô, Đấng vừa là Chúa vừa là người phàm, làm cho chính mình hiện diện cách hoàn toàn và cách trọn vẹn (wholly and entirely, Paul VI, Mysterium Fidei, Sept 03, 1965, #39; Ecclesia de Eucharistia # 15 §1; Tridentinô). Như vậy, điều Chúa Giêsu hứa trước khi Ngài về trời là sẽ ở lại với chúng ta luôn mãi được thực hiện dưới nhiều hình thức, và Thánh Thể là một hình thức đặc biệt của sự hiện diện thực sự mà ngài đã hứa. Nói cách khác, Thánh Thể học nằm trong Giáo Hội học. Vì thế, khi nói về sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Thánh Thể, chúng ta không thể tách rời bí tích này ra khỏi Giáo Hội; bởi lẽ sự hiện diện trong Thánh Thể, tuy là một hình thức Chúa Giêsu hiện diện hết sức đặc biệt, nhưng là một trong những cách thức Ngài hiện diện thực sự trong Giáo Hội.[4] Chúa Giêsu Phục Sinh hiện diện thực sự trong Giáo Hội bằng nhiều cách, nhưng bốn cách thức sau đây có liên quan trực tiếp hơn với những gì chúng ta thảo luận tại Đại Hội năm 2005 này: 1. Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong cộng đoàn phụng tự:
2. Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong Lời Chúa:
3. Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong Thừa tác viên:
v Một cuộc đời tràn ngập tri ân (a life of profound gratitude): Khi Chúa Giêsu Kitô bẻ bánh, Ngài “Tạ ơn.” v Một cuộc đời được trao đi (a life that is 'given'): “Nhận mà ăn, nhận mà uống”: sống thực và sống trọn lời này chính là trao ban cả con người linh mục. v Một cuộc đời được cứu để cứu đời (a life that is saved in order to save): “Này là mình Ta thí ban cho anh em.” khi lập lại những lời này thay thế Chúa Kitô, linh mục trở thành những người tiên phong của mầu nhiệm cứu độ. Nếu linh mục không thực sự cảm thấy mình được cứu thì làm sao có thể trở thành người tiên phong có sức thuyết phục người khác? v Một cuộc đời ghi nhớ (a life that 'remembers'): “Hãy làm điều này để tưởng nhớ.” Cuộc đời người linh mục là lời nhắc nhở sự hy tế của Chúa Kitô. Hãy sống và hy sinh như Chúa. v Một cuộc đời được thánh hiến (a consecrated life): Mỗi khi cử hành và công bố “Mầu nhiệm đức tin” là mỗi lần linh mục bày tỏ sự lạ lùng luôn mới mẻ với phép lạ ngoại thường diễn ra trên bàn tay của mình. Sự biến đổi bản thể này thực sự là “một eminently sacred reality!” v Một cuộc đời tập trung vào Chúa Kitô (a life centred on Christ): Một Kitô thứ hai phải là một người lấy Chúa Kitô làm mẫu, làm trung tâm, là khuôn thước, làm chính mình. v Một cuộc đời Thánh Thể qua trường học của Mẹ Maria (a 'Eucharistic' life at the school of Mary): Một linh mục hội đủ những điều trên vàsống đúng với những điều Đức Cố Giáo Hoàng nhắn nhủ thì chắc chắn phụng vụ linh mục ấy cử hành sẽ thực sự đúng là “Thần vụ.” 4. Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong hình Bánh và Rượu sau lời truyền phép. Đây là điều chúng ta sẽ dừng lại lâu hơn vì là cốt lõi của bí tích đặc biệt này. Cách thế hiện diện của Chúa Kitô trong hình bánh và rượu là duy nhất (unique). Sự hiện diện này nâng Bí Tích Thánh Thể lên trên tất cả các bí tích khác như là sự “hoàn hảo của đời sống thiêng liêng và cùng đích mà mọi bí tích khác hướng đến.” (ST III, 73, 3 c). Trong Thánh Thể, toàn vẹn Chúa Kitô được chứa đựng cách đúng nghĩa, cách thực sự, và cách căn bản (căn cơ và theo bản chất, Sách Giáo Lý # 1374, Công đồng Tridentinô).[6] B. HIỆN DIỆN TRONG THÁNH THỂ Đề cập đến việc trình bày tín điều cho thời nay, Edward Schillebeeckx, nói: “Đơn thuần lập lại một tín điều từng chữ cho người thời nay có lẽ sẽ áp đặt một gánh nặng không cần thiết và không lý giải được trên niềm tin Kitô giáo của chúng ta. Nếu cứ miễn cưỡng làm như thế, thì ý niệm ‘mầu nhiệm’ sẽ bị người ta xem giống như deus ex machina.”[7] Vào thế kỷ 13, lối cắt nghĩa sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Thánh Thể theo kiểu “giác cảm” (sensualistic interpretation: khi rước lễ, tôi nhai chính thân thể của Chúa Giêsu) đã làm cho những thần học gia thời ấy lên tiếng phản đối, trong các thần học gia này, phải kể đến thánh Albertô, Bonaventure, và nhất là thánh Tôma Aquinô. Tin Lành cho rằng sự hiện diện của Chúa Kitô trong cộng đoàn phụng tự là vượt lên trên bí tích họ cử hành và không có bí tích nào cao cả hơn bí tích nào, tất cả đều bằng nhau vì cùng thông chuyển ân sủng của Chúa. Vì sự hiện diện của Chúa trong cộng đoàn là thật nên với quyền năng của Ngài, ngài có thể transignify (biến đổi ý nghĩa) hay transfinalize (biến đổi mục đích) bánh và rượu thành chính Ngài; và sự biến đổi này chỉ tồn tại bao lâu cộng đoàn phụng tự còn quy tụ - nếu không lãnh chịu thì sự biến đổi cũng không còn.[8] I. CÔNG ĐỒNG TRIĐENTINÔ VÀ TRANSUBSTANTIATIO: Công đồng Triđentinô định tín ngày 11 tháng 10 năm 1551 như sau:[9] “Ai chối rằng bí tích Thánh Thể cực thánh không đích xác, thực sự và chắc chắn (vere, realiter et substantialiter) chứa đựng mình, máu cùng với linh hồn và thiên tính của Chúa Giêsu Kitô tức là toàn vẹn Chúa Kitô, mà cho rằng chúng (bánh và rượu) chỉ như dấu hiệu (sign) hoặc biểu tượng (figure), hoặc do hữu hiệu, thì kẻ đó sẽ bị vạ tuyệt thông.”[10] “Ai cho rằng trong bí tích Thánh Thể cực thánh, bản thể bánh và rượu vẫn còn tồn tại cùng với mình và máu Chúa Giêsu Kitô và chối bỏ sự biến đổi kỳ diệu và đặc biệt của toàn bộ bản thể bánh thành mình thánh và toàn bộ bản thể rượu thành máu thánh, trong khi hình bánh và rượu vẫn còn nguyên, sự biến đổi và Giáo Hội Công Giáo gọi cách rất thích hợp (very suitably) là transubstantiatio, thì kẻ đó sẽ bị vạ tuyệt thông.”[11] Theo đó, có 3 mức độ khác nhau trong giáo huấn của Tridentinô: 1. Trọng tâm của định tín là: trong bí tích Thánh thể, Chúa Giêsu hiện diện cách đặc biệt và khác với sự hiện diện trong các bí tích khác hay các cách hiện diện khác, sự hiện diện này sâu xa và thực sự đến độ Chúa Giêsu có thể nói: “Đây là Mình Ta, Đây là Máu Ta.” Sự hiện diện này là vere, realiter et substantialiter, chứ không phải chỉ như dấu chỉ hay do sự hữu hiệu; và cũng không phải chỉ hiện diện khi hiệp thông (chịu lễ: communion) mà còn là trước khi hiệp thông (sau truyền phép: after consecration) và sau khi hiệp thông (trong Nhà Tạm). 2. Có sự biến đổi đặc biệt từ bản thể bánh và rượu thành bản thể Mình và Máu Chúa. 3. Sự biến đổi này được gọi cách thích đáng là Transubstantiatio, Biến Đổi Bản Thể. Những điều Giáo Hội Công Giáo hiểu và dạy về Thánh Thể có thể được tóm tắt trong 6 điều này: 1. Sự biến đổi bí tích của bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô là hoàn toàn siêu nhiên và chỉ được thực hiện do quyền năng vô cùng của Chúa mà thôi (ST III, Q. 75, a 4) 2. Sự biến đổi này được hiểu bởi đức tin mà thôi (ST III, Q. 75, a 1) 3. Điều cảm nhận được lại dựa vào sự tồn tại của hình bánh và rượu (ST III, Q. 75, a 5) 4. Có hai cách lãnh nhận Thánh Thể: thiêng liêng (spiritually) cũng có nghĩa là hoàn hảo (perfectly) và cách bí tích (sacramentally) cũng có nghĩa là bất toàn (imperfectly), còn cách ngẫu nhiên (accidentally) có nghĩa là mặc dù Thánh Thể vẫn là Bí Tích, đối với người ăn cách accidentally, thực tại Thánh Thể được trừu lại (mất Chúa) [ST III, Q. 80, a 1: perfect là khi người lãnh nhận với mục đích để tham dự vào hiệu quả của bí tích]. 5. Không phải ai cũng lãnh nhận Thánh Thể cách hoàn hảo. 6. Có người lãnh nhận Thánh Thể cách thiêng liêng-không có mặt-và hoàn hảo (not physically eat it). Theo thế, hệ luận đương nhiên là:[12] i. “Thân Thể Chúa Kitô” không hoàn toàn đồng nghĩa với cộng đoàn tín hữu đang tụ họp trong Thánh lễ bởi vì không phải tất cả đều lãnh nhận Thánh Thể cách hoàn hảo. ii. “Thân Thể Chúa Kitô” cũng không đồng nghĩa với một nhóm nhỏ hơn, những người được đặc ân lãnh nhận Thánh Thể cách hoàn hảo bởi lẽ có những người không có mặt nhưng lòng muốn của họ giúp họ lãnh nhận Thánh Thể cách thiêng liêng và hoàn hảo.[13] iii. Do đó, ý hướng của cộng đoàn phụng tự (trong thánh Lễ) không đủ để làm nền tảng cho sự hiện diện Thánh Thể của Chúa Kitô; thế nên “Transignification” hoặc “transfinalization” không giải thích trọn vẹn sự hiện diện đặc biệt của Chúa Kitô trong Thánh Thể. II. TRANSUBSTANTIATIO VÀ MỘT VÀI NỖ LỰC GIẢI THÍCH: Công đồng Tridentinô đã dùng danh từ “Transubstantiatio” để chỉ về thực tại này, nhưng “transubstantiatio” không phải là định nghĩa về Thánh Thể, càng không phải là thực tại Thánh Thể, mà nó chỉ là một danh xưng, một tên gọi “thích hợp nhất” (aptissime, most aptly) diễn tả sự biến đổi rất đặc biệt làm cho bánh và rượu trở thành Mình và Máu Chúa Kitô sau lời truyền phép.[14] 1. Cách Giải Thích theo truyền thống Kinh viện: Nếu Chúa Kitô thực sự hiện diện, khi chúng ta nhìn vào tấm bánh đã truyền phép, chúng ta thấy gì? Đây là câu hỏi được các thần học gia chú ý và tìm cách giải thích. Lối giải thích của Thánh Thomas đại diện cho truyền thống Kinh viện, chúng ta đã biết rồi (ST III, q. 73-83), xin đọc “Thánh Tôma Aquinô & Bí Tích Thánh Thể” của Anh Giuse Đinh Văn Nghị, O.P. báo Chân Lý, tập 12, số 2, năm 2005, trang 2-7. 2. Cách giải thích cận đại:[15] Với con mắt trần (người không tin), mắt đức tin (tín hữu), mắt vinh quang (các thánh), họ thấy gì? Cần phân biệt giữa: sự vật, sự nhìn, sự thấy, sự hiểu và sự tin… Bản thể của sự vật là đối tượng của trí hiểu chứ không phải của giác quan. Vì thế, câu hỏi không phải là “Cái gì đây” nhưng “sự thật gì đây,” “chân lý gì đây.”[16] Vì Tridentinô không giải thích Transubstantiatio là gì nên định nghĩa của danh từ này có vẻ như được bỏ ngỏ. Lợi dụng sự bỏ ngỏ này, nhiều thần học gia Công Giáo hiện nay đã không dùng Aristốt hoặc thánh Thomas để giải thích, họ vẫn giữ lại từ ngữ Transubstantiatio, vẫn hoàn toàn theo giáo huấn của Tridentinô nhưng hiểu và giải thích sự biến đổi Thánh thể này hoàn toàn khác. Phần lớn các thần học gia hiện đại giải thích theo triết lý hiện sinh và nhất là Hiện Tượng luận. Với họ, hiện diện là hiện diện cho người khác, cho một hiện diện khác (presence to, being for). Hiện hữu tức là có đó mà không nói lên tương quan của nó với những hữu thể khác. Một hòn đảo chưa được ai biết đến và cho đến tận thế cũng không được khám phá ra, nó có hiện hữu không? Thưa có. Nhưng nó không hiện diện vì nó không có một sự hiện diện khác với nó để đối chiếu, nó không được nhận diện.[17] Bản chất của sự vật trong tận căn của nó (deepest level of being) là dấu hiệu và dấu chỉ cho những thực tại thiêng liêng và của Chúa. Tương quan cá vị và thiêng liêng thì thực hơn là những tương quan vật lý và chất thể. Tự bản chất của một hữu thể là mang một ý nghĩa nào đó cho người nào đó và ý nghĩa nguyên thủy của hữu thể nằm ở trong thực tại của chính hữu thể (‘without this 'having meaning for', something is not what it is). Một chất liệu hóa học có thể là một thực phẩm, nhưng cũng có thể làm nguyên (nhiên) liệu. Tương quan thay đổi, bản chất của sự vật cũng thay đổi.[18] Có những tương quan do con người xác định và điều này xẩy ra là do năng quyền họ có (được trao cho hay được công nhận). Một chiếc lá phong đỏ được thêu trên một nền vải trắng và đỏ, chỉ là một bức tranh thêu, nhưng nếu chính phủ Canada quyết định nâng nó lên thành biểu tượng của quốc gia, thành quốc kỳ, thì nó đã mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Cụ thể mà nói, không thấy có gì khác biệt hay thay đổi, nhưng bản chất của miếng vải thêu này đã hoàn toàn đổi, sự hiện hữu của nó mang một mối tương quan đặc biệt đối với người dân Canada. Trên thực tế, ý nghĩa mới của miếng vải có được do sự thay đổi này thực hơn và sâu xa hơn là sự thay đổi vật lý hay thể lý. Chúng ta hãy thử tìm hiểu về sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Thánh thể, bắt đầu từ chất liệu trở đi:[19] 1. Lúa và nho được bàn tay con người trồng tỉa, chăm bón và sau đó phải qua những tiến trình tự nhiên và kỹ thuật mới trở nên bánh và rượu. Bánh và rượu là sản phẩm của lao công và kỹ năng của con người, và mục đích của chúng là để nuôi sống con người. Chính con người cho chúng mục đích này vì thực ra họ có thể chọn loại thực phẩm khác. Vậy bánh và rượu được con người dùng làm thực phẩm để duy trì mạng sống của họ. 2. Khi nuôi dưỡng đời sống thể lý của con người, bánh và rượu mang một ý nghĩa và biểu tượng cao hơn. Bánh trở thành biểu tượng cho sự sống (symbol of life), rượu trở thành biểu tượng cho niềm vui của cuộc sống (symbol of joy of life). Từ thực phẩm, chúng trở thành biểu tượng cho sự sống và niềm vui của cuộc sống. 3. Khi bánh và rượu được chia sẻ chung trong một nhóm người (gia đình, cộng đoàn), chúng trở nên sự biểu hiện của tình huynh đệ, sự thân mật giữa các cá vị, hay sự kết thúc đầy hoan lạc của một ưng thuận (contract, agreement), một dịp diễn tả AGAPÊ. Từ niềm vui riêng đến chung vui và biểu hiện tình huynh đệ. 4. Cùng là tác động ăn, nhưng nơi con vật thì khác mà nơi con người lại hoàn toàn khác mặc dù sự tiêu hoá sinh học có thể giống nhau. Như thế, bánh có thể trở nên khác mà không thay đổi về sinh-thể-lý (biologically or physically). Sự thay đổi diễn ra là do “inter-personal relationship,” mối tương quan cá vị giữa hai thực thể: thực phẩm và người hưởng thụ nó. Sự thay đổi về ý nghĩa của mối tương quan này là tận căn, là cốt lõi (radical) hơn cả sự thay đổi thể lý đơn thuần (purely physical). Sự thay đổi này có thể được gọi là substantial change, sự thay đổi bản thể. Do đó, câu hỏi: “Bánh sau truyền phép có phải là bánh thông thường không (ordinary bread)?” là một câu hỏi vô nghĩa vì rõ ràng bánh bây giờ đã là “Thánh Thể” rồi. Thay đổi bản thể thì sâu xa và tận căn hơn là thay đổi thể chất. 5. Môi trường phát sinh “Thánh Thể”: 1Cor 11:23: “Tôi xin truyền lại cho anh em điều chính tôi đã nhận được từ Chúa, trong đêm bị trao nộp…” Như thế, Thánh Thể và Thánh Giá có sự liên quan mật thiết; mầu nhiệm Thánh Thể không thể hiểu được bên ngoài mầu nhiệm Thập Giá. Biết trước sự khổ hình, sự chết và Phục Sinh đang chờ đón mình, Đức Giêsu thiết lập bí tích Thánh Thể. Tại sao? Bởi vì Thánh Thể là quà tặng chính Chúa Kitô cho Giáo hội. Thánh Thể là Hy tế, là quà tặng của Chúa Kitô để Giáo Hội luôn luôn tưởng nhớ đến Ngài. 6. Bữa tiệc: Khi bánh và rượu được dùng trong phụng vụ Thánh thể thì ý nghĩa của chúng đã đổi và chúng đã trở thành chất liệu cho một bữa tiệc. Chất liệu của bí tích Thánh Thể không phải chỉ là bánh và rượu, nhưng là bánh và rượu được dùng trong bữa tiệc thánh thể.[20] Bí tích không chỉ cần sự vật (chất liệu), nhưng còn cần mô thức (hành động, lời truyền..). Schillebeeckx cho rằng chất liệu của bí tích Thánh thể bao gồm: thực phẩm, bữa tiệc và cộng đoàn tín hữu tại bàn tiệc. Những yếu tố này là human matter của Thánh Thể. Bữa tiệc Đức Giêsu cử hành với các môn đệ là bữa tiệc Vượt Qua, là bữa tiệc tưởng nhớ biến cố quan trọng trong quá khứ. Bánh là biểu tượng của sự sống; khi Đức Giêsu nói: “Này là mình ta, hiến tặng vì anh em” thì lời này cũng đồng nghĩa với “Này là sự sống của ta hiến tặng cho anh em.” Do đó, chịu lễ là lãnh nhận chính sự sống của Chúa Kitô, và như thế là chính sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa. Sự sống của Chúa chính là ratio sacramenti (lý do hiện hữu) của bí tích Thánh Thể. 7. Thánh Thể là quà tặng: “Anh em hãy cầm lấy mà ăn, đây là mình thầy, hiến tế vì anh em.” (1Cor 11:24). Quà tặng này không phải là tấm bánh mà là chính Chúa Giêsu Kitô. Quà tặng chính bản thân Chúa Kitô này không trực tiếp nhắm đến (hay trao vào) bánh và rượu, nhưng là nhắm đến các tín hữu (bánh và rượu là vật thể, không có khả năng để lãnh nhận sự hiện diện hữu vị). Do đó, sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Thánh Thể chính yếu dành cho (hướng đến) các tín hữu nhờ và trong tặng phẩm bánh và rượu (không phải bánh và rượu xuông, nhưng là bánh và rượu như là một tặng phẩm). Qua và trong bánh + rượu, Chúa Kitô hiện diện cho Giáo Hội và Thánh Thể đem Giáo Hội đến hiện diện với Chúa Kitô, vì thế Thánh Thể được gọi là nguồn và tột đỉnh của đời sống Kitô hữu. Vì qua hình bánh và rượu, Chúa Kitô trao tặng Giáo Hội quà tặng tuyệt vời đó là chính người tặng, là chính Ngài.[21] Kết Luận: Xin được dùng điều cha cựu Bề Trên Tổng Quyền Timothy Radcliffe viết về người giảng thuyết trong chia sẻ tại San Francisco ngày 15 tháng 04 năm 2000 để thay lời kết cho bài chia sẻ này:[22] “Để là người giảng thuyết, cần phải kết hợp hai đức tính có vẻ mâu thuẫn nhau: sự quả quyết và lòng khiêm nhường. Chúng ta cần sự quả quyết của thánh Phaolô, người đã viết: “Nếu miệng anh tuyên xưng rằng đức Giêsu là Chúa và nếu trong lòng anh tin rằng Thiên Chúa đã cho Người phục sinh từ trong kẻ chết, thì anh sẽ được cứu độ.” Khẳng định này thật minh bạch. Không có sự quả quyết, chúng ta không thể rao giảng. Chúng ta phải dám can đảm công bố niềm tin của mình. Nhưng chúng ta cũng cần có lòng khiêm nhường của những người ý thức mình biết rất ít. Như thánh Tôma Aquinô từng nói, về Thiên Chúa chúng ta chẳng biết tí gì. Chúng ta là những kẻ ăn mày chân lý, hạnh phúc vì được một chút soi sáng từ những người chúng ta gặp trên đường. Theo giải thích của thánh Grêgôriô Nyssê, chúng ta đi từ sự khởi đầu đến sự khởi đầu, đến sự khởi đầu. Chúng ta phải học cho biết khiêm nhường trước lòng tin của kẻ khác. Có thể họ còn nhiều sai lầm, nhưng cũng có cái gì đó cho ta học hỏi. Thánh Tôma luôn là cảm hứng cho chúng ta, bởi vì thánh nhân đã thể hiện sự quân bình trọn hảo giữa sự quả quyết và lòng khiêm nhường. Người đã viết được bộ Tổng Luận Thần học và cũng chính người bảo rằng tất cả những gì người đã viết chỉ là rơm rác. Mầu nhiệm lật nhào mọi kiêu hãnh. Thánh Thể là “Mầu Nhiệm Đức Tin,” mầu nhiệm này lật nhào mọi lý giải của con người. Bánh và rượu sau khi được truyền phép đã là Mình và Máu Chúa Kitô. Sự hiện diện thật sự và cao cả này của Chúa Kitô trong Giáo hội đòi hỏi sự hiện diện của chúng ta để đáp trả lại sự hiện diện này. Đây là một sự hiện diện hũu vị và sự hiện diện này đòi chúng ta nhận diện không những bằng cách “hãy đến mà xem” (Gioan 1:39), nhưng trên hết “Hãy đến mà thờ lạy.” (Matt 2:2)●
Transubstantiation
SỐNG TÂM LINH LÀM SAO BIẾT MÌNH ĐANG NGỦ MÊ?
Khổng Nhuận Như gã say rượu tít cung thang, miệng luôn lảm nhảm: Tui đâu có say! Nhưng thực ra chẳng còn một chút ý thức gì. Sáng hôm sau tỉnh dậy, không nhớ gì mình đã làm hoặc đã nói hôm qua. Tình trạng ngủ mê của chúng ta cũng vậy. trong thời gian ngủ mê, ta thường cho rẳng mình đâu có ngủ mê. Nhưng cũng có một lúc nào đó chúng ta nhận ra mình ngủ mê và rất muốn tỉnh giấc nhưng không biết làm cách nào để tỉnh lại. LÀM SAO BIẾT MÌNH ĐANG NGỦ MÊ? Người máy: thực hiện các việc đạo đức: đọc kinh miên man, hát thánh ca dù với giọng oanh vàng, siêng năng tham dự thánh lễ, rước lễ, chầu Mình Thánh Chúa …. tất cả đều làm như cái máy theo thói quen, hoặc làm cho người ta khen. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn tự hào mình còn đạo đức hơn chán vạn người khác dựa vào những thành tích bên ngoài với con số: đi lễ hàng ngày, rước lễ hàng ngày, mỗi tuần kiêng thịt ngày thứ sáu… trong khi chúng tôi chẳng biết Chúa là ai, là gì… ngoài một mớ lý thuyết vỡ lòng về một ông Chúa mang tầm vóc uy nghi, cao siêu, xa lạ mà chúng tôi đã từng nghe đi nghe lại trong nhà thờ mỗi ngày : quả thực mình đang ngủ mê. Đọc Kinh Thánh, dù cho mỗi ngày 15 phút, nhưng ngay sau đó lại để cho những lo toan gai góc thường ngày làm chết ngộp Lời Chúa vừa gieo vào lòng. Dù đọc suốt cả đời, hạt giống Lời Chúa cũng không thể sinh hoa trái. Có dịp nào thảo luận về Kinh Thánh, chúng tôi hăng hái tranh luận như một lũ thầy bói sờ voi. Sau đó ai về nhà nấy, chuyện Lời Chúa cứ để chim trời bay xuống ăn mất thoải mái, chẳng dính dáng gì tới đời sống thường ngày của chúng tôi: quả thực mình đang ngủ mê. Chúng tôi còn thích đọc các sách đạo đức, thần học bàn về Chúa, đức tin, sống đạo … nhưng hầu như chúng tôi chỉ đọc để tăng thêm kiến thức, biết thêm một mớ lý thuyết xa vời với những lý luận rất cao siêu. Còn chuyện hiểu về Chúa, dường như chúng tôi vẫn còn trong tình trạng mẫu giáo với một vài quan niệm cứng ngắc, vô hồn về Chúa của mình: toàn năng, tạo dựng trời đất (đó là việc của Ngài, tôi đâu có toàn năng) yêu thương vô biên (nhưng Ngài lại chỉ yêu thương khoảng 10% số người theo đạo Chúa, còn 90% quân ngoại đạo thì mặc xác, sống chết mặc bay!! Thế mà cũng tung hô Ngài là yêu thương vô bờ!!). hoá ra điều tôi biết về Chúa chỉ là cái vỏ, là ý niệm; còn chính bản thể đích thực của Ngài chúng tôi hoàn toàn mù tịt: quả thực mình đang ngủ mê. Chúng tôi bỏ nhà bỏ cửa, dấn thân ra khơi Loan Báo Tin Mừng. Nhưng khổ nỗi chúng tôi chỉ biết nói những gì ghi trong giấy, không được nói ra ngoài đề, nếu không sẽ đi lạc và làm cho người nghe hoang mang. Chúng tôi chỉ là máy cassette vô hồn. Chính bản thân chúng tôi cũng chẳng thấm Lời Chúa, không biết người nghe sẽ như thế nào?! Thành thử ra, tiếng là chúng tôi đã cứu được rất nhiều linh hồn - hàng trăm, hàng ngàn người gia nhập vào cộng đoàn - nhưng chính linh hồn chúng tôi thì không biết ra sao: quả thực mình đang ngủ mê. Chúng tôi rêu rao lớn tiếng: hãy tin vào sự quan phòng của Chúa, nhưng chúng tôi vẫn cứ lo sợ đủ thứ. Lo vì không biết làm sao để giải quyết tình trạng tinh thần các thành viên sa sút, họ đã mất lửa thủa ban đầu. Lo vì quá khá nhiều thành viên rời bỏ cộng đoàn sau 3,4 năm sinh hoạt. Rồi chúng tôi khích lệ nhau: Đừng sợ! Đừng sợ! Rõ ràng là chúng tôi đang mang nỗi sợ trong mình, nếu không, cần gì phải vừa run run vừa nhắc nhở nhau như thế. Thêm vào đó, trong đời sống gia đình, chúng tôi cánh cánh bên lòng lắm nỗi lo toan: Không biết chuyện làm ăn may mắn của mình kéo dài được mấy năm; Không biết con cái sau này lấy vợ lấy chồng có được hạnh phúc không? Và cả ngàn nỗi lo khác lúc âm thầm lúc dâng cao. Chính nỗi lo sợ này mách bảo cho chúng tôi biết: quả thực mình đang ngủ mê. Tình trạng bị giam cầm, áp bức: Chúng tôi chăm chăm giữ đạo làm sao kiếm được cái vé vào cửa thiên đàng (thiên đàng mà cũng có cửa !!) Trước khi đi ngủ nếu không đọc ít là 3 kinh Kính Mừng thì ngủ không yên. Chúng tôi bị giam cầm trong không gian chật chột những gì đã được dạy, không dám suy nghĩ, không dám đặt vần đề, sơ lạc đạo thì chỉ có chết. Thí dụ đơn giản như Giáo hội dạy: Thiên Chúa có Ba Ngôi thì cứ buộc phải tin và vang tiếng tuyên xưng niềm tin ấy vào mỗi ngày Chúa nhật. Ba Ngôi cứ việc hủ hỉ yêu thương nhau, hiệp thông với với nhau. Còn chúng tôi là lũ thường dân lúc nhúc dưới gầm trời này có hiểu cóc khô gì đâu - đã gọi là màu nhiệm thì làm sao mà hiểu được!! - làm sao mà hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa được. Cùng lắm hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi yêu thương nhau sẽ là tấm gương sáng chói cho anh em công giáo chúng tôi biết yêu thương nhau mà thôi. Chúng tôi như lũ trẻ bảo sao nghe vậy, đứa nào thắc mắc, đặt vấn đề, suy nghĩ khác những gì bề trên dạy sẽ bị đuổi ra khỏi nhà: một hình thức bị áp bức, bị giam cầm, không bằng roi vọt, không bằng cũi chó, chuồng cọp nhưng bằng áp lực truyền thống, áp lực cộng đoàn trong giáo xứ. Như thế cũng dủ chứng tỏ: quả thực mình đang ngủ mê. Tóm lại, chúng tôi đã dẫn ra một vài việc cụ thể để biết rằng: quả thực mình đang ngủ mê. Một tác giả nổi danh trong cuốn Le Mystique Espiègle (Nhà Thần Bí Tinh Nghịch) đã tuyên bố rằng: Người ta sinh ra, sống và chết trong tình trạng ngủ say. Trong câu chuyện nguyên bản Chú Đại Bàng Gà, linh mục dòng Tên Anthony de Mello đã gióng một hồi chuông báo tử cho người ai cứ mãi thích ngủ mê, không chịu thức dậy khi kết thúc câu chuyện bằng một cái chết nhạt nhẽo vô vị của chú đại bàng con: Cứ vậy, đại bàng ta sống và chết như một chú gà vì nó vẫn đinh ninh rằng mình chỉ là một con gà vô danh tiểu tốt, khốn cùng. Làm sao chúng tôi dám quả quyết là quả thực mình đang ngủ mê? Xin thưa: Nếu sống trong Thần Khí, chúng tôi sẽ biết rất rõ bằng tâm sáng suốt, thức tỉnh bởi vì Thần Khí thấu suốt mọi sự ngay cả những gì sâu thăm nơi Thiên Chúa. (1Cr 2;10)●
NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG (tiếp theo Maranatha_52) Michel Hubaut - Maranatha dịch “Thinh lặng không gì khác hơn là lời nói nội tâm” (L. Lavelle, La parole intérieure) Ở bình diện thứ nhất, thinh lặng mở lòng để chúng ta nghe tiếng nói của ý thức mình. Thật vậy, đối với con người, một tư tưởng có giá trị gì đâu nếu không có từ ngữ để diễn đạt? Cũng vậy, thinh lặng mà thiếu lời nội tâm, chẳng phải chỉ là sự trống rỗng của vô thức sao? Ở bình diện thứ hai, thinh lặng mở lòng để chúng ta nghe Tiếng Chúa chạm đến ‘lòng’ mình qua lời của Chúa Kitô và sự linh hứng của Thần Khí. Như vậy, thinh lặng không phải là vắng bóng hay khước từ lời nói, nhưng trái lại, đấy là đón nhận lời nói nội tâm, nơi xuất phát của mọi lời bên ngoài. “Các tâm hồn chìm xuống trong thinh lặng, như vàng và bạc chìm xuống trong nước tinh khiết, và những lời chúng ta nói chỉ có ý nghĩa nhờ sự im lặng nơi nó tắm mình” (Maeterlinck, Le trésor des Humbles) Nếu lời nói không được bao phủ, xen kẽ bằng thinh lặng, nó sẽ trở nên một loạt ngôn từ và âm nhạc sẽ trở thành những âm thanh chói tai! Thiếu thinh lặng đi trước và theo sau, lời nói con người và âm nhạc chỉ còn là một chuổi những âm thanh liên tục khiến không ai chịu nổi! Thinh lặng đem lại cho mỗi ngôn từ và mỗi nốt nhạc sức nặng và màu sắc đặc trưng. Như thế, chẳng phải là tình cờ mà, trong truyền thống Kinh Thánh, thinh lặng đi trước hoặc nối dài Lời, làm rõ nghĩa cho cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người. Những cảnh ‘Thần Hiển’ hay ‘Thiên Chúa tỏ mình’ thường được bao phủ bằng một sự thinh lặng cung kính bao la. “Còn Đức Chúa, Người ngự trong thánh điện, toàn thể trái đất, hãy thinh lặng trước nhan Người!” (Kb 2,16) Và lời loan báo về một lần can thiệp của Người, vì lợi ích của dân Người, thường đi đôi với một lời mời gọi phải chờ đợi trong thinh lặng: “Hãy thinh lặng trước Tôn Nhan Thiên Chúa, vì Ngày của Chúa đã đến gần (Xp 1,7) Hỡi các đảo, hãy thinh lặng nghe tôi, Mong các dân được thêm sức mạnh Tiến lại gần và lên tiếng nói! Hãy cùng nhau ra tòa nào! (Is 40,1) Hỡi mọi xác phàm, hãy thinh lặng trước nhan Đức Chúa! Bởi vì Người tỉnh giấc và ra khỏi Nơi Thánh của Người. (Dcr 2, 17) Khi Con Chiên mở ấn thứ bảy, thì cả trời yên lặng chừng nửa giờ... (Kh 8,1) Như thánh Gioan đã viết trong lời tựa tuyệt vời của ngài, “Lúc khởi đầu... Ngôi Lời là Thiên Chúa” và Ngôi Lời ấy như được bao phủ trong một sự viên mãn lặng thinh. “Khi vạn vật chìm sâu trong thinh lặng, lúc đêm trường chừng như điểm canh ba, thì từ trời cao thẳm, Lời toàn năng của Ngài đã rời bỏ ngôi báu” (Kn 18, 14-15) Về vấn đề Đức Kitô nhập thể, thánh Phaolô nói rằng đấy là Lời mặc khải, là ‘một mầu nhiệm vốn được giữ thinh lặng từ ngàn xưa, nhưng nay lại được biểu lộ như lời các ngôn sứ trong Sách Thánh’ (Rm 16, 25) Thinh lặng đi trước và theo sau Lời Mặc Khải. Xưa kia cũng như ngày nay, Lời chỉ có thể ‘sinh ra’ trong lòng một người và trong lòng nhân loại thông qua một sự chín mùi lâu dài, trong thinh lặng và âm thầm: sự thinh lặng siêu hình của Thiên Chúa, một tình yêu tác tạo. 24 - SỰ THINH LẶNG BIẾT LẮNG NGHE. Nếu Thiên Chúa trong Kinh Thánh ‘nói’ với dân Người, thì ta hiểu rằng ‘lắng nghe’ là đặc điểm của truyền thống Kitô Do Thái giáo. “Hỡi Israen, hãy im lặng mà nghe! Hôm nay ngươi đã trở thành dân của Đức Chúa, Thiên Chúa ngươi. Ngươi hãy nghe tiếng Đức Chúa. Thiên Chúa ngươi, và đem ra thực hành những mệnh lệnh và thánh chỉ của Người” (Dnl 27,9). Nhưng đối với con người trong Kinh Thánh, “Lời Thiên Chúa” không rơi từ trời xuống như một thiên thạch, hay một tiếng nói vọng trong kịch nghệ. Nó ‘sinh ra’ khi biến cố gặp gỡ con người sống các biến cố đó. Khi biến cố mà dân Chúa đã kinh qua (Ra khỏi Aicập, Lưu dày ở Babylon) gặp gỡ ‘lòng’ của một con người được Thần khí linh hứng và giải thích biến cố đó. Lịch sử một dân tộc và sứ điệp được loan báo bởi những con người từng có kinh nghiệm thiêng liêng (được linh hứng) thì không thể tách rời nhau, khi nói đến khái niệm ‘Lời Chúa’ trong Kinh Thánh. Suốt dòng lịch sử, Thiên Chúa đã làm trỗi dậy những ‘người trung gian’, Abraham, Môsê, các ngôn sứ, các hiền nhân. Những người này, trong sự thinh lặng của sa mạc hay của lòng mình, đều lắng nghe Thần Khí, suy nghĩ và giải thích ý nghĩa sâu xa của lịch sử dân tộc mình và nhận ra một sự Hiện Diện luôn hành động, sư hiện diện của Thiên Chúa. Như thế, các biến cố ấy trở thành ‘Lời Chúa’, trở thành những sứ điệp có thể hiểu được và cần được truyền lại cho toàn dân. Trong chiều hướng đó, trong các tác phẩm của thánh Gioan chẳng hạn, động từ ‘lắng nghe, nghe’ có một tầm quan trọng rất lớn. Chữ ấy trở đi trở lại 58 lần trong Phúc âm thánh Gioan, 16 lần trong các thư tín của ngài và 46 lần trong sách Khải Huyền. Nó là một thành phần của từ vựng mặc khải. 22 lần là ‘nghe’ Chúa Giêsu, con người Ngài, ‘nghe’ lời nói và tiếng nói của Ngài, và 4 lần là ‘nghe’ Chúa Cha hay tiếng của Cha. Chúa Giêsu - ta đã nói rằng Ngài rất quen thuộc với thinh lặng - tự giới thiệu mình là người nói, mặc khải, làm chứng về điều mình đã nghe. Ngài thường sống trong thái độ lắng nghe Cha Ngài. Ngài là ‘Đấng đến từ trên cao... để làm chứng về điều mình thấy và nghe” (3, 31-32). “Đấng sai tôi thì chân thật và điều tôi nghe nơi người cũng chân thật, đấy là điều mà tôi công bố cho thế gian’ (8, 26) Và người Do Thái muốn giết Ngài vì Ngài nói, Ngài mặc khải sự thật. “Bây giờ các ông muốn giết tôi, tôi là người đã nói sự thật mà tôi đã nghe nơi Thiên Chúa” (8,40). Ngài là ngôi Con, Đấng đã tỏ cho môn đệ - mà Ngài xem là ‘bạn hữu’ - biết mọi điều Ngài đã ‘nghe’ nơi Cha Ngài. “Mọi điều Thầy nghe được nơi Cha, Thầy đã cho anh em biết”. (15,15) Người môn đệ, theo gương Ngài, là người biết lắng nghe. Hành trình đức tin, hành trinh theo Chúa Kitô luôn khởi đầu bằng một lời mà ta nghe được. Do đó, chính vì ‘nghe lời’ của thầy mình mà hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả đã ‘theo Đức Giêsu’. Nhưng, lời của Chúa Giêsu thì lại càng sâu sắc hơn nữa. Đấy là điều mà những người Samari tuyên bố khi họ nghe được lời chứng của người phụ nữ từ giếng Giacốp quay về. “Số người tin vì lời Đức Giêsu nói còn đông hơn nữa. Họ bảo người phụ nữ: ‘Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Ngài thật là Đấng cứu độ trần gian’.” (4,41-42) Nếu lời của người phụ nữ đã đánh thức đức tin của họ, thì lời Đức Giêsu, sau khi được ‘lắng nghe’ và ‘nghe ra’, đã thay đổi cái đức tin non trẻ ấy thành một xác tín cá nhân: “Người này là Đấng cứu độ”. Nghe là một yếu tố căn bản cho đức tin. Trong tác phẩm thánh Gioan, có một tương quan mật thiết giữa ‘nghe lời Chúa’ và ‘tin’. “Ai nghe lời tôi và tin và Đấng đã sai tôi thì có sự sống đời đời” (5, 24). Lắng nghe lời Đức Giêsu, nhận ra đấy là lời của Đấng Thiên Sai và tin vào lời ấy, gắn bó với lời ấy như gắn bó với lời của chính Chúa Cha, tất cả những hành động ấy đều là một. Thế nhưng hành động ‘lắng nghe và nghe’ ấy đòi hỏi một số tư thế nội tâm, mà tư thế căn bản là đón nhận và suy tư trong thinh lặng của lòng mình. Việc lắng nghe ấy không phải là hệ quả của những cuộc thảo luận vô bổ, mà là kết quả ‘sự thinh lặng biết lắng nghe’, và đó đã là một tác động của Thiên Chúa để thôi thúc lòng con người mở ra hầu đón nhận mặc khải của Người. “Không ai đến được với tôi nếu Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy...” Trong sách Ngôn sứ, có lời chép rằng: “Mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai đã nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha thì sẽ đến với tôi” (6,44-45) Một chủ đề khác cũng gần với chủ đề ấy, trong thánh Gioan, ấy là chủ đề ‘nghe tiếng’, bao hàm một tương quan trực tiếp hơn với chính con người Giêsu: Tiếng ấy là ‘tiếng’ của Con Thiên Chúa, (5,25) của “Con loài người”, của Đấng xét xử kẻ sống và kẻ chết (5,27-29), của Người Chăn Chiên Lành, (10, 3-5, 16-17), của vị vua và chứng nhân cho chân lý (18, 37). So sánh với lời nói, thì ‘tiếng nói’ làm ta liên tưởng rõ ràng hơn đến một lời gọi, một lời mời khẩn thiết. Khi nghe ‘tiếng’ Thầy ‘gọi’, chị Maria (em Matta) vội vã đứng lên và đến với Chúa Giêsu (11, 28-29). ‘Nghe’ và nhất là ‘lắng nghe’ tiếng thì đòi hỏi phải có mối liên hệ thuộc về nhau giữa người gọi và người được gọi. Về phương diện này, bài giảng về Đấng Chăn Chiên lành soi sáng cho chúng ta nhiều và cho ta thấy cái tương quan thân mật khi nói đến việc ‘lắng nghe’ tiếng Chúa. Chiên của Ngài ‘lắng nghe tiếng Ngài’, vì mỗi con được gọi đúng tên mình và chúng nhận ra tiếng của Chủ Chăn. Như Maria Magdala sẽ ‘nhận ra’ tiếng của Thầy mình chỉ khi nghe một người gọi tên mình: “Maria!”; như hôn thê trong Diễm ca ‘nhận ra’ tiếng của Người Yêu (2,8; 5,2; 8,13). Maria nhận ra Ngài không phải vì nhìn thấy Ngài (bởi lẽ chị ngỡ là người làm vườn) nhưng vì giọng nói của Ngài, vì nghe ‘tiếng’ Ngài. Cũng thế, Gioan Tẩy Giả so sánh mình với bạn của tân lang và ông ‘đứng đó lắng nghe, hớn hở vui mừng vì nghe tiếng tân lang” (3,29) Lời Chúa chỉ có thể chạm đến lòng của người nào sẵn sàng, một người ở trong tư thế lắng nghe. Chỉ người nào tìm kiếm Thiên Chúa, yêu mến thinh lặng, ‘lắng nghe Thiên Chúa’, thi mới nghe được mà thôi ● (còn tiếp)
TẠP
BÚT VĂN PHẠM VIỆT NAM: VĂN PHẠM CỦA CÁC THÁNH
Vũ Thanh Đọc tựa bài thấy không xuôi: có chút ngạo nghễ, tự hào về tiếng Việt hơi vô lối. Văn phạm Việt Nam là gì mà so sánh với văn phạm của các Thánh là đấng bậc thiêng liêng, thuộc thế giới trên? Thế nhưng có lẽ còn đỡ hơn là “Ngữ Pháp Tiếng Việt, Ngữ Pháp của Các Thánh Trên Trời” nghe càng nổ, gồ ghề hơn nữa. Tâm lý một số người Việt khá cực đoan: có người coi thường tiếng Việt, cho rằng ngôn ngữ của mình không có khả năng diễn đạt, thiếu thốn từ vựng, ngôn từ không rõ ràng, văn phạm câu cú không được chặt chẽ như tiếng La tinh, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức, và còn nhiều thứ tiếng khác nữa mà những người học tiếng nước ngoài thường đem ra so sánh để thấy tiếng mẹ đẻ sao mà yếu quá. Thảo nào ngày xưa cha ông hay nói, ‘nôm na là cha mách qué,’ cũng là cách chê bai tiếng Nôm, khi so sánh với Hoa ngữ, là tiếng nói của người Trung Hoa thời đó làm bá chủ, bắt các nước chư hầu phải triều cống và học tiếng của họ để dễ dàng thống trị. Trái lại, có người Việt, mặc dù đã học và tìm hiểu một số ngôn ngữ ngoại quốc, lại thấy tiếng mẹ đẻ của mình sao hay quá, thâm thúy quá, diễn đạt tình cảm sâu sắc chẳng có ngôn ngữ nào so sánh được. Họ còn tự hào rằng vốn từ của chúng ta vô cùng phong phú, và đưa ra những ví dụ, chẳng hạn để diễn tả động từ “cười” mà thôi, thì tiếng Việt chúng ta cũng có lắm từ để diễn tả như: cười mỉm, cười ruồi, cười khan, cười mím chi, cười tủm tỉm, cười sằng sặc, cười bò lăn, cười nắc nẻ, cười duyên, cười ngặt nghẽo, cuời hềnh hệch, cười khúc khích, cười lỏn lẻn, cười gượng, cười mát, cười dòn, cười gằn, cười ồ, cười tình, cười khẩy…Và để diễn tả hành động khuân vác, người Việt cũng có những từ thật hay như: khuân, vác, đeo, tha, mang, đội, đẽo, xách, quẩy…mà theo họ, chẳng có ngôn ngữ nào trên thế giới sánh bằng và không thể diễn tả được. Thực ra, những nhận xét trên đều mang tính chủ quan, đầy mặc cảm và rất cực đoan. Nhiều người ngoại quốc cũng rất hay tự hào về ngôn ngữ của họ. Phần nhiều, tình cảm yêu quý tiếng nói, chữ viết của ngôn ngữ mẹ đẻ chỉ là do thói quen. Lấy ví dụ hai em gốc Việt trăm phần trăm, nhưng sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ, khi trò chuyện tâm tình với nhau, hỏi các em dùng tiếng gì? Đương nhiên là tiếng Mỹ. Các em không dùng tiếng Việt Nam để bày tỏ tình cảm, vì không thể diễn tả tình cảm sâu sắc của mình qua tiếng Việt được, dù cả hai đều hiểu và nói tiếng Việt được ít nhiều. Đối với các em, tiếng Anh là ngôn ngữ chính, vì đã phải dùng từ lúc bé, lúc còn ở bậc tiểu học cho đến khi vào đại học. Hỏi kỹ hơn các em cho biết, “Tuy hiểu tiếng Việt đấy, nhưng dùng để bày tỏ tình cảm thấy kỳ kỳ sao đó…” Hai cô cậu có thể nói với nhau, ‘I love you’, dễ dàng hơn là ‘anh yêu em’ hoặc ‘em yêu anh.’ Thế thì khuynh hướng trên cho rằng tiếng Việt diễn đạt tình cảm sâu sắc hơn thì cần phải xét lại. Hơn nữa, nếu cho rằng tiếng Việt giàu nhạc tính thì tiếng Ý, tiếng Pháp cũng đâu có thua gì? Mà nếu chịu khó tra cứu tự điển Thesaurus mới vỡ lẽ ra là ngoài vốn từ vựng kỹ thuật, khoa học, các từ dùng để diễn tả tình cảm. những sinh hoạt thường nhật của các tiếng nước ngoài cũng nhiều lắm. Như thế thì hoá ra những người nào đó, trong đó có người viết, chỉ có mặc cảm tự ti, thêm chút bi quan, rồi chê tiếng Việt? Xin thưa ngay đâu phải thế, vì nếu không đã không có “Văn Phạm Việt Nam - Văn Phạm Các Thánh” này. Không kể đến các vị thời trước, con nhà giàu, đi học trường tây trường đầm, được học ngoại ngữ bé, thì phần đông các học sinh ở Việt Nam sau kỳ thi tiểu học để bắt đầu vào cấp Trung Học đều được học sinh ngữ, nghĩa là ngoài tiếng Việt, thì phải học thêm một hai sinh ngữ nào khác nữa: Pháp hoặc Anh chẳng hạn. Đến giờ học sinh ngữ là học trò ngao ngán vì ngoài việc học các vocabularies mới, thầy cô giáo bắt học sinh học chia động từ (conjuger des verbes), rồi học về giống đực, giống cái (masculin, féminin), đến học thì (temps, tenses), accord du participle passé, mode, conditional sentences, thấy sao mấy thứ tiếng Anh Pháp này lộn xộn quá. Học riết chục năm sau lại quen và thấy ngôn ngữ của họ cũng hay, đâu ra đó, có tính khoa học: như đạo quân có kỷ luật, hàng lớp hẳn hoi, sẵn sàng ra chiến trận, tướng tá binh sĩ đầu đuôi xuôi lọt. Cái khó ban đầu sau khi đã qua được ngưỡng ‘phá ngu,’ được điều kiện hoá nên thấy cái khó ngày xưa giờ lại là kỷ cương, giúp dễ dàng cho việc trình bày tư tưởng, lý luận chặt chẽ, gọn gàng và sáng sủa. Chỉ tội cho thằng (con) bé hồi nhỏ, cứ phải lo sao viết cho hợp thì, hợp temps mãi mà không nhớn lên được. Mãi cho đến gần đây, nhân đọc được bài viết Saintly Grammar của tác giả Van Oostin thì mới thấy tiếng Việt mình sao hay quá. Văn phạm kiểu Việt nam đã được các Thánh trên trời sử dụng từ lâu rồi. Xin chia sẻ xem quý vị có đồng ý không nhé! Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, (hai ngoại ngữ khá thông dụng với người Việt Nam chúng ta), viết một câu bình thường, cần phải có vị ngữ (predicate), mà trong vị ngữ thì phải có động từ được chia (conjugated verb), mà động từ được chia thì phải theo thì (temp), hoặc hiện tại, hoặc quá khứ, hoặc tương lai. Phức tạp hơn và diễn tả cho có ngọn ngành thì phải chú ý đến hiện tại hoàn toàn (present perfect), quá khứ hoàn toàn (past perfect), và tương lai quá khứ (future perfect) và còn phải học và chia tới cái gọi là conditional present, future perfect hay gì gì nữa chứ. Đúng là lắm chuyện! Tiếng Việt ta thì hiện tại, quá khứ, và tương lai cứ thế nhập làm một là ăn chắc. Cần lắm thì thêm chữ “đã”, hoặc “sẽ” là xong, còn đa phần thì chỉ cần động từ: Ăn chưa? Ăn rồi…Đi không? Chưa đi! Mai mốt đi cũng được. Học xong chưa? Vẫn đang học đây…Thế là diễn tả được tất! (Đâu cần phải Would you, Should, Had, Sera, Serons…làm gì cho rắc rối cuộc đời). Ấy, thế mà theo Van Oosting, những người sử dụng tiếng Anh (và cả người dùng tiếng Pháp cùng nhiều ngôn ngữ khác nữa) thì khó có thể hiểu, tin và sống mầu nhiệm thông công với Cộng đoàn Các Thánh Trên Trời được. Sao vậy? Bởi vì những người quen sử dụng ngôn ngữ cách chính xác và mang tính khoa học quá bị giới hạn do việc chia động từ chính xác theo thời gian. Này nhé, Giáo Hội Công giáo tin vào sự sống đời sau. Sau khi chết, hồn nhà ta cứ như trong quân đội, đang từ Tiểu Đoàn Giáo Hội Chiến Đấu, tuỳ theo công trạng lúc sinh tiền, hoặc bổ sung vào Trung Đoàn Giáo Hội Thanh Luyện (Đau Khổ), hoặc thăng cấp lên Sư Đoàn Giáo Hội Vinh Quang. Mà theo đức tin, thì trong cộng đoàn các thánh, luôn có sự liên kết chặt chẽ thường trực giữa những người đang sống ở trần gian (nghĩa là đang ở trong tiểu đoàn Giáo Hội Chiến Đấu (Lữ Hành), với những người đã sống, (Giáo Hội Đau Khổ Thanh Luyện hoặc Vinh Quang), tức là những người đã từ giã đời này mà yên nghỉ. Nếu đã chết thì động từ được chia phải ở quá khứ, mà quá khứ thì không còn nữa, mà không còn nữa thì làm sao có thể tin và hoạt động, hiểu được một Giáo Hội Khải Hoàn. Hay ít ra là Giáo Hội đang thanh luyện trong luyện hình? Nhà thơ người Ái Nhĩ Lan, William Butler Yeats có nhiều viễn tượng (vừa xa vời, vừa tưởng tượng) trong sáng tác của mình đã đau khổ khám phá ra rằng ngôn ngữ của ông không chịu đơn giản chút nào. Một phần năm các sáng tác của ông trình bày những viễn tượng này. Mà viễn tượng thì nằm ngoài không gian, lại không bị thời gian chi phối. Chính vì giới hạn của ngôn ngữ phải chia mà nhà thơ phải sử dụng động từ dưới dạng Danh Động Từ (Gerund - Gérondif), tức là những chữ tưởng là động từ mà không phải động từ vì không phải chia gì cả. Đó là một cách thoát khỏi vòng “kim cô” thời gian mà Yeast đã dùng. Ngôn ngữ Việt Nam ta thì ngon lành. Người Việt chúng ta không phải bận tâm mất sức đến những việc chia thì (temp, tense), hợp thời gian chi cả. Động từ là động từ, thế thôi. Cần nói chuyện quá khứ thì cùng lắm phải thêm chữ “đã”, bàn chuyện tương lai nếu muốn thì thêm chữ “sẽ.” Mà có mấy ai, mấy khi cần đến những chữ này để làm cho rắc rối câu văn. Đọc Kinh Thánh mà xem, thường khi gặp câu “Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng..,” đâu cần chia động từ nói (bao giờ, quá khứ, hiện tại, tương lai..) Chính thế, ngôn ngữ Việt Nam cho chúng ta bắt gặp một Chúa Giêsu đang sống động thật sự ngay ở hiện tại này với chúng ta, đúng thần học quá đi chứ, mà đúng thật đấy, Chúa Giêsu Kitô đang hiện diện nơi này, ở đây và nói với anh em, không đúng sao? Đâu phải chỉ là lời nói của Chúa Giêsu của 2000 năm về trước cho các Tông Đồ? Chúng ta đang có Chúa hiện diện, và được đọc, đang nghe Lời của Ngài ngay lúc này đây. Nếu phải chia động từ cho đúng theo hiện tại, quá khứ hoặc tương lai, thì các thánh đã qua đời rồi, phải để hành động ở quá khứ, thì làm sao thông công được với người đang còn sống ở hiện tại đời này. Còn nếu người còn sống muốn nói chuyện với người đã vào một nơi quá khứ, tương lai khác thì sử dụng động từ ở thời nào? Đọc lại Kinh Thánh xem thử: Moses said to God (Ông Mô-sê (đã) thưa cùng Thiên Chúa); God exclaimed (Chúa Giêsu (đã) thốt lên). Toàn là những chuyện quá khứ, mà quá khứ là những gì đã qua, con người đã khuất rồi, qua rồi, chết rồi, làm gì có ảnh hưởng sâu sắc và biến đổi được ai? Làm sao có chuyện sống trong Giáo Hội Khải Hoàn được nữa. Trình bày như thế chắc cũng chưa rõ. Lấy ví dụ khi phải nói về người đã qua đời: thường ta thêm vào chữ “quá cố.” Cứ tưởng tượng một người Việt Nam cầu nguyện hoặc thưa chuyện thế này…”Thưa Chúa Giêsu quá cố..” Thưa Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị quá cố…” Không, người Việt chúng ta chẳng bao giờ phải phiền toái mất thì giờ cho những việc như vậy bởi vì động từ chúng ta dùng trong ngôn ngữ tiếng Việt bao giờ cũng chỉ ở hiện tại và chỉ hiện tại. “Thánh Gioan đưa Đức Mẹ về nhà mình.” Jesus loved Martha and her sister and Lazarus, “Đức Giê-su quý mến cô Mác-ta, cùng hai người em là cô Ma-ri-a và anh La-da-rô.” (Ga 11:5). Trong khi người nước ngoài hoặc người phải học ngôn ngữ khác phải khổ sở trong việc chia động từ, để hiểu được mầu nhiệm Hội Thánh Thông Công, đến nỗi các tác giả phải kêu gọi sử dụng việc dùng thì hiện tại, bây giờ và mãi mãi (the present time, forever and ever. Amen!) thì người Việt chúng ta chẳng phải bận tâm, cứ dùng chính ngay ngôn ngữ và văn phạm của tiếng mẹ đẻ mình mà diễn tả và sống cái mầu nhiệm khó hiểu nhưng rất gần gũi này. Không phải chúng ta được an ủi biết Chúa Giêsu đã sống lại và hiện đang sống cùng với chúng ta khi chúng ta tiếp xúc, đọc và nghe Kinh Thánh sao? Ngài nói với mình trong các biến cố đời sống, miễn là ta dành thì giờ để đọc và để cho Lời đó tác động. Hơn nữa, các thánh cũng đã ở cùng với chúng ta tự thuở nào rồi. Điều mà một số người than phiền tiếng Việt không rõ ràng thì phải chăng đã mang lại cho con dân Việt Nam chúng ta cơ hội đọc Phúc Âm sống động bằng ngôn ngữ của mình, và thú vị khám phá ra rằng, ngôn ngữ yêu dấu của chúng ta, ngôn ngữ Việt Nam lại là ngôn ngữ chuyển tải, trình bày được cách dễ dàng sống động và phù hợp với nền “Thần Học Các Thánh Thông Công.” Nói cách khác, ngôn ngữ và văn phạm Việt Nam tự bao giờ đã là ngôn ngữ diễn tả mầu nhiệm Phục Sinh sống động nhất, nhiệm mầu nhất, đó là ngôn ngữ của các thánh trên trời tự thuở đời đời. Đó là niềm an ủi rất lớn lao và là niềm tự hào cho những người đang mặc cảm về tiếng Việt nghèo nàn, lạc hậu, và thua sút nền văn minh của các ngôn ngữ khác trên thế giới. Nhưng cũng đừng quá tự hào, vì trên trời cũng có thể dùng văn phạm giống văn phạm trong ngôn ngữ của ta, tuy nhiên các thánh lại nói với cung giọng thiên cung thì cũng không dễ hiểu đâu nhé, nếu không thì Lời Chúa đâu cần phải mất công dịch ra hằng trăm ngôn ngữ trên thế giới, và hơn 2,000 năm rồi mà con người vẫn chưa học được điều Thiên Chúa muốn bày tỏ cho nhân loại. Và vì không hiểu hết, nên chúng ta sống không đúng với những gì Ngài mời gọi, và vì chưa sống được nên càng cần khiêm tốn học hỏi, để rồi cả đời sẽ thấy tiếng Việt rất đẹp và hay; rồi xem lại các ngôn ngữ khác thì vẫn chuyển tải được nét đẹp của nền văn hoá của họ: dù là tiếng Anh, Pháp, Đức, Latinh, Hoa ngữ, Do Thái, Hy Lạp…vẫn cần được tìm hiểu, để hiểu nhau hơn, để yêu mến nhau, để mà cùng nói chuyện thiên cung bằng ngôn ngữ của loài người. Và cuối cùng thì…Tiếng Việt muôn năm! Hoan hô Tiếng Việt! Các Thánh còn sử dụng văn phạm kiểu Việt Nam, tại sao ta lại không ra sức cổ võ việc học và sử dụng Tiếng Việt mến yêu?●
CHIA SẺ - SUY TƯ
Sưu tầm Chuyện kể về một cậu bé luôn mặc cảm tự ti vì trên lưng cậu có hai vết thẹo rất rõ. Nó kéo dài từ bả vai xuống đến tận phần eo với phần da nhăn nhúm. Vì thế, cậu luôn cảm thấy xấu hổ về bản thân mình. Ngày ngày đi học, cậu rất sợ bị bạn bè phát hiện. Vào giờ thể dục, khi ai nấy háo hức thay chiếc áo thể dục trắng tinh không đẫm chút mồ hôi thì cậu bé lại trốn vào một góc sân, nhanh chóng thay áo để mọi người không nhìn thấy vết thẹo trên lưng cậu. Thời gian dài trôi qua, cái gì đến cũng phải đến. “Eo ơi, gớm quá!” “A,…quái vật!” “Ôi, thật khủng khiếp!” Những lời vô tâm ấy đã làm đau lòng người bạn nhỏ của chúng ta. Cậu vừa khóc vừa chạy vào sau cánh cửa lớp, trốn tránh tất cả bạn bè. Từ đó, cậu bé không bao giờ bước ra khỏi lớp và đặc biệt, cậu trốn tránh và không còn muốn theo học môn thể dục nữa. Sau sự việc này, mẹ cậu bé dịu dàng nắm tay cậu đến gặp cô giáo chủ nhiệm. Cô là một nữ giáo viên đôn hậu. Người mẹ kể rằng khi mới sinh, cậu con trai đã mắc bệnh nặng, gần như mất hết hy vọng nhưng gia đình không đành lòng bỏ rơi và quyết cứu cho được đứa con. Qua cuộc giải phẫu vô cùng khó khăn vất vả, cậu bé trai đã được cứu nhưng từ đó để lại hai vết thẹo lớn trên lưng. Nói đến đây, người mẹ run run bật khóc. Đến giờ thể dục ngày hôm sau, cậu bé xuất hiện ở một góc tối với chiếc áo thể dục. Các bạn nhỏ khác thấy thế, lại ngây thơ thốt lên những lời vô tâm: “Ôi, thật đáng sợ!” “Ghê quá, trên lưng cậu ấy có 2 con trùn to lắm.” Ngay lúc ấy, cô giáo vô tình đi ngang, các bạn nhỏ vây quanh lấy cô và nói về vết thẹo. Cô giáo tiến gần đến cậu bé, đặt nhẹ tay lên bờ vai gầy nhỏ bé và mỉm cười nói: “Trước đây, cô đã định kể cho các con nghe một câu chuyện nhưng xem ra, cô phải kể ngay lúc này.” Các bạn trẻ vây quanh lấy cô. Cô giáo nhẹ nhàng kéo chiếc áo của cậu bé lên làm lộ rõ hai vết thẹo lớn và nói với đám trẻ: “Đây là một truyền thuyết. Ngày xưa, các thiên thần trên trời đã bay xuống và biến thân thành các bạn nhỏ như chúng ta đây. Tất nhiên, có thiên thần nhanh nhẹn đã kịp tháo gỡ đôi cánh của mình, nhưng cũng có thiên thần hơi chậm, không kịp tháo hết đôi cánh của mình và để lại hai vết như thế này.” “Vậy đó là cánh của thiên thần hả cô?” “Đúng đó!” - cô giáo mỉm cười. Bỗng một bạn gái lên tiếng: “Thưa cô, chúng con có thể sờ chúng không?” Từ nãy đến giờ cậu bé vẫn cứ đứng ngẩn người ra, không nói được câu nào, và bây giờ thì cậu lại khóc. Nhưng cô giáo mỉm cười và diụ dàng nói: “Chúng ta phải xin phép vị thiên thần nhỏ của chúng ta trước chứ?” Lặng người đi một chút, cậu bé lấy lại bình tĩnh và đáp: “Vâng, được ạ!” Các bạn nhỏ vây quanh lấy cậu, hết bạn này đến bạn khác đến sờ vào “đôi cánh” ấy. “Ôi, tuyệt thật, con đã sờ được cánh của thiên thần rồi!” Năm tháng dần trôi, người bạn nhỏ của chúng ta đã lớn hơn nhiều, cậu vẫn thầm cảm ơn cô giáo đã đem lại cho cậu một niềm tin mới, một nghị lực mới. Lên cấp ba, cậu mạnh dạn tham gia giải bơi lội cấp thành phố và đoạt giải Á Quân. Cậu đã dũng cảm chọn môn bơi lội bởi cậu tin rằng vết thẹo trên lưng chính là món quà cô giáo năm xưa dành tặng với tất cả sự yêu thương - đôi cánh thiên thần● Trở về mục lục >>
Trong tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:
Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha. Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. Trân trọng, MARANATHA
Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau: v Do tình cờ tôi được đọc tuần báo Maranatha thấy rất hay và hữu ích. Vì thế, tôi xin mạn phép xin Ban biên tập gởi cho tôi tuần báo Maranatha theo địa chỉ email…Tôi xin chân thành cám ơn Ban biên tập. Nguyện xin Thiên Chúa và Mẹ Maria chúc lành cho công việc mà Quí vị đang thực hiện. Cảm tạ. Độc giả, Trần Bảo Thăng. v Quí vị của Maranatha kính mến, Cám ơn quí vị đã đón nhận chia sẻ và phổ biến “Hôn Phối Đồng Phái.” Mặc dù Thượng Viện Canada đã thông qua dự luật cho phép hôn phối đồng phái, nhưng chúng ta cũng tiếp tục cầu nguyện và nhất là các gia đình cần sống thánh thiện và gương mẫu hơn. Trong tâm tình tìm hiểu và suy niệm về Bí Tích Thánh Thể trong Năm Thánh Thể này, xin được gửi đến quí vị bài chia sẻ này. Xin Chúa tiếp tục chúc lành cho quí vị. Fr. Liêm Trần, O.P. v Xin chân thành cám ơn Quý Vị đã gởi cho tôi tuần báo này. Ước mong được thường xuyên nhận được, nó giúp cho đời sống tôi rất nhiều. Chân thành, Minh Thương. v Kính thưa quí báo! Anh bạn này máy không thể nhận được trên 300kb…nên tôi phải lược bớt những gì trang trí để nhẹ bớt kb…Tôi muốn gởi thư này để quí vị được khích lệ…Điều đáng e ngại của chúng tôi: người viết và người đọc cùng thế hệ dễ đồng cảm…nhưng thế hệ sau thì sao? Qua chú Tiến và một số bạn trẻ thời nay đón nhận quí báo như được vàng…đã giải toả nỗi lo toan của chúng ta. Kính chúc quí báo luôn tràn đầy ơn Đặc Sủng. Xin tiếp tục cầu nguyện cho chúng tôi ở quê nhà. Văn Hưởng. v Bắt được vàng! Ngày mai Tiến phải đi thuyết trình về ơn gọi Phan Sinh tại thế. TỪ BỎ mình để đi con đường Cha Thánh Phanxicô đã vạch (Linh Đạo Phan Sinh) thì nhận được bài của Bác chuyển. Bài Nguyễn Chính Kết. Cả những bài về Maria Madalena. ...Cám ơn bác Văn Hưởng. Mấy ngày nay Tiến đang cảm cúm, đau cả cái cuống họng cả lưng và đầu gối nữa. Nhưng hy vọng ngày mai sẽ khá hơn. Xin chúc Bác và Quý quyến An Vui hạnh phúc. v Xin cám ơn Ban Biên Tập báo Maranatha đã gởi cho độc giả những bài báo giá trị, sâu sắc, qua đó tôi đã học hỏi được rất nhiều và chia sẻ cho những người quen biết. Đặc biệt, xin cám ơn BBT và cha Joseph Liêm đã cho đăng bài về Hôn Nhân Đồng Phái tuần vừa qua. Vì ở nơi xa xôi hẻo lánh này, chúng tôi không biết gì nhiều về tình hình thế giới, qua những bài viết trên đã giúp mở mang tâm hiểu biết và đời sống đức tin cũng như quý trọng những giá trị gia đình hơn. Xin Chúa tiếp tục ban ơn tiếp sức cho BBT và các cha, quý vị, để Maranatha luôn là nguồn cung cấp ‘thực phẩm’ cho chúng tôi là những người đói khát thông tin và Lời Chúa. Trần Tiến. v Trước hết, tôi xin gởi đến quý bạn trong Báo Maranatha lời chào sức khoẻ. Bữa hôm cách đây không lâu, tôi có đọc báo Maranatha nhưng sau đó tôi bị mất địa chỉ email của báo Maranatha. Nay tôi xin được địa chỉ qua một linh mục Xuân Bích, mong rằng quý báo Maranatha tiếp tục gởi báo hàng tuần cho tôi. Tôi xin chân thành cám ơn. Thầy Antôn Lê Văn Thăng. v Con rất vui vì được Chị Đào Tiệp gởi cho số báo 49. Nếu có thể được xin Quí toà soạn gởi cho con các số báo kể từ số 49. Con là Chủng Sinh ở Việt Nam, do vậy con chẳng có Mỹ Kim để đóng góp, con chỉ xin đóng góp lời cầu nguyện cho Quí Toà Soạn thôi. Kính mong Quí Toà Soạn tạo điều kiện cho con. Con xin tri ân. Đinh Phạm Ngọc. v Cháu mới được biết đến Maranatha thông qua một người giới thiệu. Nhưng cháu rất thích và cháu thấy báo Maranatha thật bổ ích cho cháu, nhất là trong thời gian này là thời gian cháu cố gắng vươn lên trên con đưòng “Từ bỏ cái tôi của mình.” Cháu muốn là độc giả thường xuyên của Maranatha. Kính mong Toà soạn gửi tuần báo đều đặn cho cháu. Cháu vô cùng biết ơn nếu đưọc Quý Báo chấp nhận. Cháu kính chúc Quý Báo không ngừng phát triển góp phần mở Nước Chúa ngày càng lan rộng khắp nơi. Trần Phượng Vy.
Trang Nhà (website) http://www.maranatha-vietnam.net Thư từ, ý kiến, xin gửi về maranatha@saintly.com Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về Chân thành cám ơn
[1] Bài gợi ý mở đầu tại ĐẠI HỘI ANH CHỊ EM ĐAMINH VIỆT NAM HẢI NGOẠI 2005 nhóm họp tại Calgary từ ngày 4-8 tháng 7: “TRAO LẠI CHO THA NHÂN ĐIỀU ĐÃ NHẬN ĐƯỢC TỪ CHÚA.” (1Cor 11:23) - ALLIIS TRADERE ACCEPTUM A DOMINO. [2] Thần học gia dòng Phanxicô sống 1265-1308. Xem E. Schillebeeckx, The Eucharist, trang 43. [3] Judith Marie Kubicki, “Recognizing the Presence of Christ in the Liturgical Assembly,”, Theological Studies 65 (Dec. 2004). [4] Đức Giêsu lịch sử là Emmanuel (Thiên-Chúa-Ở-Cùng-Chúng-Ta), Đức Giêsu Phục Sinh là Đức Chúa (Yaweh) “Ở-Cùng-Chúng-Ta” mọi ngày cho đến khi hoàn tất thời gian (evgw. meqV u`mw/n eivmi pa,saj ta.j h`me,raj e[wj th/j suntelei,aj tou/ aivw/noj). [Chúa Giêsu Kitô Phục sinh được tuyên xưng là Thiên Chúa (Elohim) và Đức Chúa (Yaweh) như trong Gioan 20:28]. [5] Al Gore và Bush con tranh cử, Al Gore nói Gioan 16:3 thay vì Gioan 3:16. Cô kia lấy chồng nhiều lần, lần này đặt bánh cưới và muốn dùng 1Gioan 4:18: “Trong tình yêu không có sợ hãi vì tình yêu hoàn hảo loại trừ mọi sợ hãi” nhưng vì câu này quá dài, người làm bánh xin được chỉ viết số đoạn và câu mà thôi. Khi được phép, ông ta lại viết là Gioan 4:18 (“Bà đã có năm đời chồng, và người bà hiện có chẳng phải là chồng bà!”) [6] Công đồng Tridentinô (1545 - 1563) được họp tại thành phố mang tên này từ tháng 9 năm 1547, đến 1549 vì ĐGH Phaolô III chết và do trận dịch, nên công đồng được dời đến Bologna; ĐGH Julius III [1550-1555] ra lệnh tái triệu tập công đồng và họp tại Tridentinô [phần về Thánh Thể được công bố năm 1551]; Marcellus II làm Giáo hoàng được đúng 22 ngày, Phaolô IV (1555-1559), rồi Pius IV (1559-1565) tiếp tục chủ trì công đồng. Mục đích chính của công đồng này là chống lại Luther và nhóm 'Thệ phản'; bản dự thảo năm 1547 lên án người hiểu Thánh thể như là dấu chỉ (sign or symbolic form như ông Zwingli, Oecolempadius, những người Sacramentarians), và người cho rằng cả hai bản thể đều còn nguyên mà chỉ có hypostatic union và buộc phải tin là có sự biến đổi về bản thể, đến bản bổ sung 1551 thì lên án thêm người cho sự hiện diện chỉ là dấu chỉ, tượng trưng (figure) hay 'by efficacity' (coi Schillebeeckx, The Eucharist, trang 30). [7] Schillebeeckx, The Eucharist, trang 90. [8] Có lần tôi được mời giảng trong một nghi lễ Chúa Nhật của người Tin Lành theo Luther, tôi thấy sau khi họ ăn bánh truyền phép không hết, họ cất trở lại trong bao bánh chưa được truyền phép, tôi củng đi dự nghi lễ của Evangelicals, họ để bánh và rượu (hoặc nước nho - grape juice) và cầu nguyện, ca hát, giảng xong họ lên ăn bánh và uống rượu mà chẳng có lời truyền phép chi cả. Laurence Hemming, “Transubstantiating Our Selves,” Heythrop Journal 44 (2003), trang 421. [9] E. Schillebeeckx, The Eucharist, trang 37-38. [10] “If anyone should deny that the most holy sacrament of the Eucharist truly, really and substantially contains the body and blood together with the soul and divinity of our Lord Jesus Christ and thus the whole Christ, but should say that they (body, blood, etc.) are only (present) as in a sign or figure or (only) by (their) efficacy, let him be excommunicated.” [11] 11 Should anyone maintain that, in the most holy sacrament of the Eucharist, the subatance of bread and wine remains (in existence) together with the body and blood of our Lord Jesus Christ and should deny this wonderful and unique changing of the whole substance of bread into the body and of the whole substance of wine into the blood, while the species of bread and wine nonetheless remain, which change the Catholic Church very suitably calls transubstantiation, let him be excommunicated. [12] Laurence Paul Hemming, “Transubstantiating Our Selves” trong Heythrop Journal 44 (2003), trang 425. [13] Lumen gentium # 1 “Giáo hội, hiện diện trong Chúa Kitô như là một bí tích, tức là một dấu chỉ và dụng cụ, cho sự liên kết mật thiết của toàn thể và trọn vẹn nhân loại với Thiên Chúa..” [14] Nên biết, công đồng không nói rằng đây là danh xưng duy nhất loại trừ mọi cách khác. Giáo Lý Công Giáo # 1375 “In hoc sacramento, Christus fit praesens per conversionem panis et vini in corpus et sanguinem Christi.” [15] Thực ra, phương pháp giải thích này không phải là điều gì mới lạ vì các thánh giáo phụ đã từng áp dụng đường lối này. Xem bài của Anh Giuse Đinh văn Nghị, “Thánh Tôma Aquinô và Bí Tích Thánh Thể,” Chân Lý, Tập 12, số 2, 2005, trang 6. [16] Các thần học gia về bí tích phân biệt: Res et sacramemtum: thực tại bí tích Thánh thể: sự hiện diện của Chúa Kitô trong Thánh thể và Res scramenti: hiệu quả của bí tích: sự kết hợp của mọi tín hữu khi lãnh nhận Mình Thánh. ST III, Q. 73, a. 2, a. 3. Giữa hai thực tại này có một thực tại khác: res tantum - (do Charles Davis of England): object is not bread but Christ (Schillebeeckx, trg.115). [17] Hiện diện là thiết lập một tương quan do đó không thể có một hiện diện tự nó. Hiện diện là mang một ý nghĩa nào đó đối với sự hiện diện của các hữu thể khác hay mang một nhiệm vụ nào đó, đóng một vai trò hỗ tương nào đó với những hữu thể chung quanh, hoặc đóng một vai trò nào đó do người chủ của nó đặt cho. [18] E. Schillebeeckx, The Eucharist, trang 112-113. [19] E. Schillebeeckx, The Eucharist, trang 130-151. [20] Một linh mục uống rượu ở ngoài quán và cố tình đọc lời truyền phép trên rượu, giám mục của địa phận phải ra mua hết rượu làm từ nho về. [21]Xin coi biểu đồ Transubstantiation ở phần cuối để có cái nhìn tổng quát và đối chiếu giữa giải thích truyền thống mà tôi tạm gọi là “Giải thích tĩnh” và giải thích hiện đại mà tôi tạm gọi là “Giải thích động.” Nên nhớ, lối giải thích động hoàn toàn đồng ý với giáo huấn của Tridentinô và chỉ muốn giải thích danh từ Transubstantiation theo “sign” và “what it signifies.” [22] “Consecrate Them In Truth, John 17:17” trong I Call You Friends, London: Continuum, 2001, trang 115. Xem “Xin Thánh Hóa Họ Trong Chân Lý” trong Để Niềm Vui Anh Em Nên Trọn, Học Viện Đaminh 2002, trang 86-87.
|