|
Người Bình Thường Làm Nên Phép Lạ- Lm. Mark Link, S.J. Hãy Yêu Thương và Chủ Động Làm Những Gì Tình Yêu Đòi Hỏi - Nguyễn Chính Kết Giáo Hội Là Giáo Hội của Chúa Kitô - Lm Vũ Xuân Hạnh Thánh Thể và Sự Hiện Diện Thực Sự của Chúa Kitô - Lm. Trần Trung Liêm O.P. Làm Sao Biết Mình Đang Ngủ Mê - Khổng Nhuận Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng (tt) - Lm. Michet Hubaut – Maranatha dịch Văn Phạm Việt Nam: Văn Phạm Của Các Thánh - Vũ Thanh Đôi Cánh Thiên Thần - Sưu Tầm Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa Quý độc giả, Tin từ hãng thông tấn Reuters gửi đi hôm thứ hai 25 tháng 2 cho biết, theo số liệu của chính phủ Bắc Kinh qua giới truyền thông thì tự tử là nguyên nhân tử vong hàng đầu trong giới những người từ 20 đến 35 tuổi ở Trung Quốc, nơi một con số ước lượng 250,000 người một năm - hay 685 người một ngày - tự kết liễu cuộc đời mình. Ngoài ra, mỗi năm từ 2.5 triệu đến 3.5 triệu người Trung Quốc tự tử nhưng không thành công. Theo tờ China Daily, tự tử là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ năm trong số 1.3 tỉ người dân Trung Quốc, nhưng là nguyên nhân chính đối với những người tuổi từ 20 đến 35. Theo thống kê vừa kể, thì tỉ lệ bất thường về việc giới trẻ tự kết liễu đời mình hình như là một hậu quả trực tiếp của tình trạng căng thẳng ngày càng tăng trong xã hội đang thay đổi quá nhanh chóng tại Trung Quốc. Theo tâm lý gia trị liệu Liu Hong ở Bắc Kinh trả lời phỏng vấn tờ China Daily thì, “Xã hội hiện nay đầy dẫy những tranh đua và áp lực của biết bao vấn đề trong đời sống, do đó những người trẻ, thiếu kinh nghiệm trong việc đối phó với các khó khăn, có khuynh hướng trở nên chán đời, mất phuơng hướng và buồn bã.” Không chỉ ở Trung Quốc, thời gian qua, ở Nhật Bản, một nước đang phát triển mạnh về kinh tế, cũng như tại Hoà Lan, Canada, và một vài nước phương Tây mà nền kinh tế ở đó xem ra đang rất khả quan, đời sống vật chất dư thừa, tiện nghi cao độ; thì các bản thống kê cũng đưa ra những kết quả đáng buồn tương tự như sự việc đang xẩy ra ở Trung Quốc. Có lẽ cũng là điều dễ hiểu cho những việc đau lòng như thế, vì trong các quốc gia văn minh, con người chỉ giới hạn trong những vấn đề hiện sinh, nên nhìn cuộc đời với những bế tắc, trong các nước vô thần con người bị giam hãm trong tù ngục áo cơm và không tìm thấy ý nghĩa, hướng đi cho đời mình. Hạnh phúc biết bao, là những tín hữu Công giáo, chúng ta sống niềm tin vào Đức Kitô và lời hứa của cuộc sống vĩnh hằng. Tuy cuộc sống không thiếu những thử thách, khó khăn khi phải nỗ lực xây dựng xã hội trần thế này mỗi ngày một tốt đẹp hơn, nhưng đó không phải là cùng đích cuối cùng của đời chúng ta; trên hết, chúng ta biết mình được yêu thương, đuợc dẫn dắt bằng chính Lời Ngài, được nuôi dưỡng bằng những bí tích, đặc biệt Bí Tích Thánh Thể. Hơn bao giờ, Giáo Hội hoàn vũ đang sống sung mãn Mầu Nhiệm Tình Yêu ấy trong Năm Thánh Thể này. Đọc tin, xem báo, nghe đài, theo dõi các bản tin trên các mạng lưới mới thấy sức sống âm thầm mà mãnh liệt của Giáo Hội tuyệt vời qua các cuộc tĩnh tâm, chầu kính, đại hội, thánh lễ tôn kính Thánh Thể. An ủi biết bao, nức lòng biết nấy, khi nhìn những hình ảnh, đọc những bài viết kể về những sinh hoạt sống động của Giáo Hội thân thương, giáo xứ này, cộng đoàn nọ, giáo phận kia sốt sắng tổ chức mừng kính Năm Thánh Thể. Phù hợp hơn nữa, Tin Mừng Chúa nhật thứ 18 thường niên tuần này kể về Phép-Lạ-Hoá-Bánh-Ra-Nhiều. Bàn tiệc đầy ắp với dẫy tràn ân sủng đó được trao ban cho biết bao người bởi Đấng ‘chạnh lòng thương,’ phép lạ đó đã được ban cho vì có hai bàn tay nhỏ bé đã mở ra, chú bé trong đám đông hôm ấy trao cho Ngài năm chiếc bánh và hai con cá của mình, dù tên của em chẳng hề được nhắc đến, điều quan trọng là mọi người đã được no nê! Đấy, cái nghịch lý của Tin Mừng và đời thường là ở chỗ ấy, khi con người đi tìm cho mình lối sống để mở ra với thế giới bên ngoài thì gặp những bế tắc đến độ không còn muốn sống, vì họ đã không tìm thấy ý nghĩa của đời mình, của cống hiến, của chia sẻ trao ban…Còn trong Đức Kitô, Đấng đã đến và trao ban tất cả cho nhân loại trong Bí Tích Thánh Thể, thì cùng lúc ấy Ngài mời gọi chúng ta mở lòng, góp vào chút nhỏ nhoi của những hạnh phúc, niềm vui và cả những vất vả, hiểu lầm, đắng cay, tủi nhục của kiếp người, ở nơi bạn đang sống, địa vị của bạn, gia đình và những hy sinh…chính lúc ấy mầu nhiệm Thánh Thể của trao ban, của tự hiến, của chia sẻ đang sống động hơn bao giờ. Trong tâm tình chứa chan hạnh phúc vì được mời gọi hiệp thông với Mầu Nhiệm cao trọng cho đời thêm sung mãn, Maranatha_53 dành nhiều trang cho những chia sẻ, tìm hiểu về Mầu Nhiệm Chia Sẻ và Trao Ban này. Những ngày này và sắp đến, Giáo Hội mừng kính các thánh ‘đặc biệt’ của Giáo Hội, ngày 29 tháng 7, mừng Thánh Nữ Mat-ta, người bạn thân, luôn tiếp đón và phục vụ Chúa Giêsu khi Ngài đến viếng thăm Bêtania. Ngày 31 tháng 7 mừng thánh I-nha-xi-ô, đấng sang lập Dòng Tên, ngày 1 tháng 8 mừng thánh An-phong-sô, tổ phụ Dòng Chúa Cứu Thế, ngày 2 tháng 8 mừng Thánh Gioan Vianey, quan thầy các linh mục, ngày 8 tháng 8 mừng kính Thánh Đa-minh, đấng sang lập Dòng Đa-minh. Thánh nào cũng ‘đặc biệt’ với những nét đặc thù của vị ấy, nhưng phải kể đến các vị này, vì Giáo Hội, nhất là Giáo Hội Việt Nam đã đón nhận nhiều ơn phúc qua các vị linh mục, tu sĩ của các nhà Dòng vừa kể trên, mà những vị ấy suốt đời đã sống ‘tất cả cho vinh quang Thiên Chúa,’ ‘chia sẻ, rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, tất bạt,’ ‘chuyên giảng thuyết, nhất là về lòng yêu mến Đức Mẹ.’ Maranatha xin được mừng lễ quý độc giả, quý cộng tác viên, các Nhà Dòng có quan thầy trong những lễ sắp đến với lòng biết ơn, kính mến vì những ơn lành, quà tặng tinh thần thiêng liêng cách này cách khác đã nhận được trong cuộc đời và hành trình lòng tin. Với tâm tình chia sẻ và cầu nguyện cho những người khổ đau, tuyệt vọng trong thế giới quanh ta và với lòng biết ơn cảm mến, của ngôn ngữ Mẹ Việt Nam thân thương, chúng ta cùng hiệp ý thông công với các thánh ngợi ca tình Chúa bao la và khẩn nguyện: Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!” MARANATHA
TIN MỪNG CHÚA NHẬT NGƯỜI BÌNH THƯỜNG LÀM NÊN PHÉP LẠ
Lm. Mark Link, S.J. "Thiên Chúa đã dựng nên thế giới tuyệt đẹp đến nỗi hành động của mỗi cá nhân đều được coi là quan trọng". Những báo cáo của tờ Chicago Sun - Times (Thời báo Mặt Trời Chicago) cho biết 70% nhân viên của hãng được khảo sát đều ăn trộm của chủ họ. Nghiên cứu của Ðại học Cormell cho thấy nơi những trẻ em phát triển bình thường. Khi chúng lên 10 tuổi, chúng thường có thái độ dễ chấp nhận việc lường gạt hay gian dối. Một cuộc nghiên cứu có tính cách quốc tế cho biết một nửa dân số thế giới không được cung cấp đủ nước sạch và có 450 triệu người mỗi đêm phải đi ngủ mà bụng đói meo. Khi nghe những thống kê trên, chúng ta thường cảm thấy thất vọng. Với tư cách là Kitô hữu. Chúng ta biết rằng mình có can dự vào đó. Tuy nhiên, vì chỉ là những con người nên chúng ta sẽ nói: "Tôi đâu có thể làm gì được? Dầu sao tôi cũng chỉ là một cá nhân." Thế rồi chúng ta dẹp những thống kê ấy qua một bên. Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy chúng ta đã xử sự một cách lệch lạc. Chúng ta chỉ biết nhìn vào đó một cách thuần túy là con người. Lẽ ra chúng ta cần phải nhìn vào đó với nhiều niềm tin hơn mới phải. Bài Phúc Âm hôm nay vẽ ra một bức tranh khác với những thống kê chúng ta vừa nghe. Năm ngàn người "không kể đàn bà con trẻ" không có gì ăn và đang đói. Số thực phẩm hiện có chỉ là năm chiếc bánh và hai con cá. Phúc Âm thánh Gioan cho biết số thực phẩm này là của một em bé nào đó. Khi Chúa Giêsu biết có em mang theo thực phẩm. Ngài liền gọi em bé đó. Chắc hẳn em không thể tin nổi tai mình khi nghe Chúa Giêsu nói với em: "Này con, hãy đưa cho Ta số thực phẩm của con để Ta cho đám đông đang đói này ăn nhé!" Dù vậy chú vẫn tin tưởng vào Chúa Giêsu và trao cho Ngài 5 ổ bánh và hai con cá. Tất cả chúng ta đều bíêt sự gì đã xảy ra. Phúc âm hôm nay cho thấy một người cũng có thể thay đổi được cục diện. Hay nói đúng hơn, hai người có thể thay đổi cục diện, tức là Chúa Giêsu và một người nào đó! Chú bé trao cho Chúa Giêsu những gì chú có và Chúa Giêsu lấy đó để thiết đãi đám đông đã không được nuôi ăn và như thế Phúc Âm sẽ mất đi một trong những câu chuyện hứng khởi nhất. Chúng ta nhớ lại lời Chúa Giêsu: "Một hạt lúa nếu không rơi xuống đất và chết đi thì nó vẫn còn là một hạt lúa." (Ga 12: 24). Ðiều Chúa Giêsu muốn nói như sau: "Mỗi mùa hè, những cây lúa kỳ diệu mọc lên trong những cánh đồng lúa ở Kansas đều do những hạt lúa đã hy sinh sự sống của mình để chết đi. Sự sống còn của nhân loại cũng tuỳ thuộc vào nguyên tắc tự hiến này." Thiên Chúa đã sắp đặt thế giới mới cách thức kỳ diệu đến nỗi hành động của mỗi cá nhân đều được coi là quan trọng. Tôi xin minh hoạ chủ điểm này rõ hơn bằng một câu chuyện hài hước. Art Buchwald, một tay viết báo, có lần đã víêt về một người bạn ông sống tại thành phố New York. Chúng ta hãy tạm gọi anh bạn đó là Oscar. Một hôm Art và Oscar bước lên một chiếc taxi. Lúc đó Oscar nói với bác tài:"Bác lái giỏi quá!" Bác ta liền nhìn anh và nói: "Anh làm nghề gì? Bộ anh xỏ xiên tôi hả?" Oscar nói: "Không phải đâu, tôi khen bác thực mà. Tôi khâm phục cách bác di chuyển giữa một đám xe cộ như thế". Bác ta liền nói: "Ðúng, hẳn là thế." đoạn lái xe đi. Sau đó, Art liền hỏi: "Anh làm như vậy với mục đích gì?" Orcar trả lời: "Tôi đang cố gắng đem lại tình yêu cho New York." Art nói: "Anh làm thế nào được?" Oscar nói: "Hãy lấy trường hợp bác tài lúc nãy. Tôi nghĩ rằng tôi đã giúp bác ta một ngày hạnh phúc. Chúng ta hãy giả thiết hôm nay bác ta lái được hai mươi xuất, bác sẽ niềm nở tử tế hơn với những kẻ khác nữa. Cuối cùng, sự tử tế ấy sẽ trải rộng đến cả ngàn người." Art nói: "Anh bắt đầu khùng rồi đấy!" Nhưng ngay lúc đó, họ đi ngang qua một công trường đang xây. Bấy giờ là giữa trưa, đám thợ đang ngồi ăn. Oscar liền bước tới gần một nhóm và nói: "Các bạn đang xây cất một công trình thật tráng lệ!" Ðám thợ giương mắt ngờ vực nhìn Orcar. Anh liền hỏi: "Chừng nào xây xong vậy?" Một gã thợ đầu đội nón an toàn lầu bầu: "Tháng sáu." Orcar liền nói: "Tuyệt quá! Vậy là sắp có thêm một công trình mỹ lệ cho thành phố." Trong khi họ tiếp tục rảo bước, Art nói với Oscar: "Này bạn, tôi chưa thấy ai giống như anh cả." Oscar nói: "Ðồng ý! Anh có thể ghẹo tôi, nhưng đám người này sẽ tiêu hoá những lời của tôi, nhờ đó họ sẽ tốt đẹp hơn." Art liền nói: "Nhưng cho dầu nhờ đó họ tốt hơn đi nữa, thì anh cũng vẫn chỉ là một cá nhân, mà một cá nhân thì làm sao có thể thay đổi thành phố Nữu Ước được". Oscar đáp: “Có chứ! Ðiều quan trọng là chớ ngã lòng. Mang tình yêu về lại cho Nữu Ước không phải dễ dàng, tuy nhiên nếu mà tôi có thể lôi kéo thiên hạ cộng tác với tôi vào chiến dịch này thì..." Art ngắt lời: "Này! Anh vừa nháy mắt với một mụ đàn bà xấu xí phải không?" Orcar nói: "Ðúng thế! Nhưng nếu chị ta là một giáo viên thì lớp học của chị ta hôm nay nhờ đó sẽ có một ngày đẹp tuyệt vời đấy!" Buchwald không hề thêm bớt gì về bài viết này. Chúng ta không biết ông viết nghiêm chỉnh, hoặc nửa đùa nửa thật cho vui, tuy nhiên một số độc giả tin rằng ông ta nghiêm chỉnh hơn chúng ta nghĩ. Ðiều này dẫn chúng ta trở lại với bài Phúc Âm hôm nay. Chú bé đã trao cho Chúa Giêsu tất cả những gì chú có và Chúa Giêsu đã chia sẻ món quà tặng của chú với cả ngàn người. Sứ điệp của bài Phúc Âm hôm nay như sau: "Giống như một hạt lúa, một cá nhân có thể trở thành dụng cụ cho một phép lạ, một cá nhân có thể trở thành dụng cụ cứu giúp hàng ngàn người, khi thấy sứ điệp này xác thực ngay trước mắt. Malcolm Muggeridge, một ngôi sao truyền hình nổi tiếng của Anh Quốc, đã làm điều mà trước đó chàng thề không bao giờ làm, là trở thành một người Công giáo. Chàng cho biết sở dĩ tâm hồn chàng thay đổi là nhờ Mẹ Têrêxa Calcutta. Chàng nói: "Không lời nào nói cho xiết tôi đã mang ơn Mẹ biết bao nhiêu. Mẹ đã chỉ cho tôi một thứ Kitô giáo bằng hành động. Mẹ đã chỉ cho tôi quyền năng của tình yêu, Mẹ đã chỉ cho tôi một cá nhân từ ái có thể khơi dậy cơn thủy triều tình yêu lan đến toàn thế giới." Ðó cũng là Tin Mừng của bài Phúc Âm hôm nay. Tin Mừng này cho biết dù chỉ là cá nhân cũng là quan trọng, vẫn đáng kể, và nếu chúng ta chia sẻ điều mình có với Chúa Giêsu thì Ngài có thể làm cho điều ấy sinh hoa kết trái vượt quá mộng tưởng lớn lao nhất của chúng ta. Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy nếu chúng ta dâng cho Chúa Giêsu tài năng và tặng vật của mình để tuỳ Ngài sử dụng thì Ngài có thể dùng chúng ta để làm nên những phép lạ. Chúng ta hãy kết thúc với bài thơ của Amdo Nervo, một đại thi sĩ cũng là một nhà huyền bí, người Mễ Tây Cơ. Bài thơ này tóm tắt sứ điệp và tinh thần bài nhà huyền bí, người Mễ Tây Cơ. Bài thơ này tóm tắt sứ điệp và tinh thần bài Phúc Âm hôm nay: "Con chỉ là một tia lửa, xin
biến con thành ngọn lửa. Trích Người Tín Hữu.
HÃY YÊU
THƯƠNG VÀ CHỦ ĐỘNG Nguyễn Chính Kết 1. Dù mệt nhọc, cần nghỉ ngơi, Ngài vẫn đón tiếp dân chúng Sau khi nghe tin Gioan Tẩy Giả bị vua Hêrốt chém đầu (x. Mt Mt 14,3-12), chắc chắn Đức Giêsu hết sức xúc động, ngậm ngùi thương tiếc người đã từng nhiệt thành làm tiền hô cho mình. Đoạn Tin Mừng Mt 14,13-21 cho biết lúc ấy Ngài «đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt», vì Ngài có nhu cầu ở một mình để tưởng niệm người quá cố, đồng thời để nghỉ ngơi và cầu nguyện. Nhưng không ngờ dân chúng lại tìm đến Ngài rất đông. Tin Mừng cho biết: «Trông thấy đoàn người đông đảo thì Ngài chạnh lòng thương». «Chạnh lòng thương» là phản ứng của người có lòng trắc ẩn, hay thương xót, thông cảm với những nhu cầu, với những hoàn cảnh éo le, đau khổ của tha nhân. Vì thế, mặc dù chính Ngài đang cần nghỉ ngơi, cần ở một mình, nhưng Ngài đã quên nhu cầu của mình mà chỉ nghĩ đến nhu cầu của dân chúng. Ngài đã đón tiếp họ và «chữa lành các bệnh nhân của họ». Trong cuộc sống đời thường, ta cũng gặp rất nhiều trường hợp tương tự như Ngài: đang khi cần yên tĩnh nghỉ ngơi sau cả một ngày làm việc mệt nhọc, hoặc khi đang nghỉ ngơi thì có người gọi điện thoại hoặc đến tận nhà nhờ vả ta một điều gì cần thiết. Lúc đó ta phản ứng thế nào? Có thể ta nghĩ rằng: «Mình phải nghỉ ngơi cái đã, vì có nghỉ ngơi thì mới làm việc được. Vả lại mình còn biết bao việc khác phải làm nữa. Phải yêu cầu người ta chờ mình nghỉ ngơi đã!»? Hay ta nghĩ rằng: «Người ta cần mình ngay bây giờ nên mới đến vào giờ này. Nếu không giúp họ giờ này thì có thể không còn cơ hội nào giúp họ nữa và công việc của họ sẽ bị lỡ. Thôi mình ráng hy sinh cho họ một chút, mình có thể nghỉ ngơi bù vào lúc khác cũng được mà!»? Phải công nhận: nghĩ và làm được như thế là việc rất khó, đòi hỏi nhiều tình yêu và lòng bao dung. Trong quá khứ, một vài lần vì mệt mỏi sau cả ngày làm việc, tôi đã từ chối giúp đỡ một vài người, nay tôi rất hối hận và tự hỏi: không biết người ta bị kẹt đến thế nào khi mình không giúp họ, và họ buồn thế nào vì việc ấy? Tôi thấy mình đã không giống Đức Giêsu Thầy của mình bao nhiêu, vì mình ít tình yêu quá! Tình yêu mình không đủ mạnh để có thể ráng hy sinh cho tha nhân khi họ cần, dẫu mình đã mệt! 2. Người tông đồ phải có tình thương trong lòng trước đã Ở những vùng dân chúng rất nghèo – như những vùng truyền giáo cho các dân tộc thiểu số – giáo dân phải đi thật xa hàng mấy chục cây số mới đến được nhà thờ để dâng thánh lễ và học hỏi giáo lý. Nhiều vị chủ chăn đã lo cho họ ăn uống cả hàng trăm người trước khi họ ra về (khi thì cơm, khi bánh mì, khi thì mì ăn liền…). Để thực hiện việc này, tháng nào vị linh mục cũng phải đi hàng chục hay hàng trăm cây số đến gõ cửa những nhà hảo tâm quen biết hoặc được giới thiệu để «ăn mày» dùm cho họ. Thật là một hình ảnh rất đẹp về người chủ chăn! Các vị đã thực hiện lời Đức Giêsu: «Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn». Khi nói câu ấy, Đức Giêsu muốn gây ý thức nơi các tông đồ về tình yêu thương, sự quan tâm mà một mục tử phải có đối với dân chúng. Mặc dù mục đích của người tông đồ là loan báo Tin Mừng chứ không phải là lo chuyện vật chất cho dân chúng. Nhưng khi ta biết dân chúng có nhu cầu nào đó, ta nên thể hiện tình yêu thương của ta đối với họ bằng cách giúp họ nhu cầu ấy. Dân chúng có yêu thương mình, lời mình rao giảng mới thấm vào lòng họ. Dân chúng có cảm thấy mình yêu thương họ, họ mới hứng khởi thực hiện những điều mình dạy dỗ. Dân chúng bị hấp dẫn đến với Đức Giêsu không chỉ vì Ngài dạy dỗ họ những điều hay lẽ phải cho bằng vì họ cảm thấy Ngài yêu thương họ, vì Ngài quan tâm săn sóc họ, vì Ngài chữa bệnh cho họ, giúp họ giải quyết những khó khăn trong đời sống họ… Kitô giáo là đạo của tình thương, lấy tình yêu thương làm bản chất của đạo (x. Ga 13,34-35), nên những người rao giảng đạo này phải là người có dồi dào tình thương hơn mọi người, và tình yêu thương ấy phải được chứng tỏ bằng hành động. Truyền đạo không phải chỉ là cung cấp cho người ta có một số kiến thức về Thiên Chúa, về Đức Giêsu hay về Lời của Ngài, mà là làm cho họ trở thành môn đệ Ngài, theo Chúa, và sống giới luật yêu thương của Ngài. Chính mình không sống tinh thần yêu thương này, làm sao mình có thể truyền tinh thần yêu thương này cho người khác được? 3. Hãy chủ động phần việc của mình trước đã… Khi yêu cầu các môn đệ hãy tự mình lo cho họ ăn, Đức Giêsu đã thừa biết khả năng hạn hẹp của các ông, và Ngài cũng đã biết mình phải làm gì. Với quyền năng của Ngài, Ngài có thể biến không khí thành bánh và cá nuôi đám dân chúng, không cần đến 5 chiếc bánh và 2 con cá mà các ông tìm được trong dân chúng. Nhưng Ngài không muốn đơn phương làm như vậy, Ngài muốn có sự góp phần của mọi người. Trước tiên, Ngài muốn chính các tông đồ phải có tình thương, có ý thức trách nhiệm đối với dân chúng và thật sự muốn lo cho họ. Ngài nói: «Chính anh em hãy cho họ ăn». Các tông đồ quả có nhận ra nhu cầu của dân chúng, nhưng tình yêu của các ông đối với dân chúng chưa mạnh đủ để có thể lóe lên sáng kiến hay thúc đẩy các ông tìm cách nào nuôi dân chúng. Vì thế, ngay từ đầu các ông đã nghĩ mình bất lực không thể giúp gì họ được, và các ông đề nghị giải tán dân chúng. Nếu các ông có nhiều tình yêu hơn, các ông sẽ nghĩ ra được mình nên làm gì. Chẳng hạn các ông có thể nói với Đức Giêsu: «Bây giờ chúng ta phải lo cho họ ăn, chúng con chưa biết làm cách nào, nhưng chúng con biết Thầy có cách». Nói như thế, các ông vừa tỏ ra tình yêu và ý thức trách nhiệm của mình, vừa tỏ ra tin tưởng vào quyền năng của Thầy mình. Trong cuộc đời, rất nhiều khi có những việc nào đó ta nên làm hay phải làm nhưng không làm được chỉ vì ta không đủ tình yêu, không đủ nhiệt thành và lòng hăng say. Thiếu yếu tố quan trọng này, ta thường bi quan yếm thế cho rằng mình không thể thực hiện được. Trong một trận chiến, chưa xuất quân mà ta đã nghĩ rằng mình sẽ thua thì quả thật ta đã thua ngay từ đầu ngay trong tư tưởng của mình rồi. Nguyễn Bá Học nói: «Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông». Nhiều việc tốt ta không làm được, không phải vì nó khó hay vì nó không thể làm được, mà vì ta không đủ tình yêu để làm, vì ta đã đầu hàng nó ngay từ trong tư tưởng của ta. Người Kitô hữu không nên sợ mình không làm được, vì ta luôn luôn có một sức mạnh ở ngay trong bản thân mình, đó là quyền năng của Thiên Chúa. Nếu ta tin tưởng vào quyền năng của Ngài, ta sẽ làm được nhiều việc mà mọi người đều nghĩ rằng ta không thể. Vì «không có sự gì mà Thiên Chúa không làm được» (Lc 1,37). Vì «tôi có thể làm được tất cả nhờ quyền năng của Đấng ban sức mạnh cho tôi» (Pl 4,13). Vì «nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì (…) sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được» (Mt 17,20). Tại sao có những vị thánh đã làm được rất nhiều phép lạ? Chính vì các ngài có rất nhiều tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân, và vì các ngài tin tưởng vững chắc vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng luôn hỗ trợ cho mình. Tình yêu thúc đẩy các ngài hành động, và lòng tin tưởng vào quyền năng Thiên Chúa khiến hành động của các ngài đi đến thành công. Người đời vẫn nói: «Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên». Qua bài Tin Mừng về Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều này, ta thấy Ngài muốn các tông đồ, tức con người, phải mưu sự trước, và Ngài chỉ là người giúp cho mưu sự ấy thành công. Các nhà tu đức vẫn nói: «nỗ lực rồi cậy trông», nghĩa là chúng ta phải chủ động nỗ lực trước đã, dù nỗ lực ấy chỉ là yếu tố rất nhỏ (chỉ 1%) để thành tựu và phần chủ yếu (có đến 99%) là do Ngài, nhưng nếu không có phần nỗ lực rất nhỏ khởi đầu của ta thì không có sự việc gì thành tựu. Thánh ý Ngài là muốn có phần chủ động cộng tác của ta. Cho dù ngay cả việc chủ động của ta cũng do Thánh Thần Ngài thúc đẩy, vẫn phải luôn có phần của ta, vì nếu thiếu nó, Thiên Chúa cũng không còn muốn làm phần của Ngài nữa! *** Thiên Chúa luôn muốn mọi người phát triển tình yêu thương trong lòng họ. Ngài muốn mọi điều tốt được thực hiện trên đời này là do sáng kiến của họ, bắt nguồn từ tình yêu thương của họ, chứ Ngài không muốn họ cứ làm theo lệnh Ngài như một cái máy. Ngài rất sung sướng được cộng tác với những công việc tốt đẹp mà chính họ sáng kiến và quyết tâm thực hiện, cho dù sự thành tựu là do Ngài tới 99%. Nhưng Ngài vẫn muốn phải có 1% công lao của con người, mà thiếu nó thì chính Ngài cũng không muốn thực hiện 99% còn lại kia. Chúng ta nên ý thức điều đó. Hãy tự sáng kiến và chủ động trong những việc tốt lành mà với sự cộng tác của Thiên Chúa, ta có thể làm được cho tha nhân, cho thế giới●
GIÁO HỘI LÀ GIÁO HỘI CỦA CHÚA KITÔ
Lm. Vũ Xuân Hạnh Chúa nhật tuần này, Chúa nhật thứ XVIII thường niên, chúng ta suy niệm phép lạ Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng. Tuần sau, Chúa nhật XIX thường niên, phụng vụ Lời Chúa mời gọi chúng ta suy niệm việc Chúa đi trên mặt biển để đến với các tông đồ, giữa lúc các tông đồ đang trên thuyền và đang ở ngoài khơi. Dù nội dung có khác, nhưng hoàn cảnh của cả hai bài Tin Mừng có một chút tương đồng. Chẳng hạn: - Cả hai đều xảy ra ở nơi hoang vắng: trong hoang địa và trên biển mênh mông. - Các tông đồ cảm nhận mình thiếu thốn mọi thứ, nhưng hình như cũng không mong đợi gì về sự bù đắp của Chúa Giêsu. Đúng hơn, họ chưa đủ hiểu biết, chưa đủ tin để mà mong đợi. - Các tông đồ đối diện với cái đói trong dụ ngôn hóa bánh. Còn trong câu chuyện Chúa đi trên mặt biển, họ đối diện với cái nguy hiểm của cuồng phong đe dọa sự sống. - Chúa nhận ra nhu cầu của loài người: Người hóa bánh để nuôi sống và cất mọi nguy hiểm có thể đe dọa sự sống. Đúng hơn, qua cả hai bài Tin Mừng, đều cho thấy Chúa luôn luôn bảo vệ đời sống đức tin của linh hồn. Vì hóa bánh là nhằm hướng con người về Bánh Thánh Thể. Dẹp yên sóng gió là cho thấy tình yêu cứu độ giữa muôn cám dỗ của thế gian. - Chúa chỉ ra tay cứu giúp bằng chính quyền năng của Thiên Chúa vào giờ phút chót, khi mà sự lúng túng và cảm nhận giới hạn của loài người đạt đến đỉnh cao nhất. - Thân phận của các tông đồ nói riêng và của nhân loại nói chung, thường được đặt trước những thử thách, những giằng co giữa đức tin và nỗi sợ hãi, nỗi lo lắng khi vừa phải sống trong cuộc đời nhưng lại vừa hướng về vĩnh cửu. - Chỉ khác một điều giữa hai bản văn, đó là trong trình thuật hóa bánh, không thấy hình ảnh của thánh Phêrô. Vì thế, đấy là lần đâu tiên, trong trình thuật Chúa đi trên mặt biển, thánh Mathêu đã ghi nhận vai trò và hình ảnh của tông đồ Phêrô đứng ở vị trí độc lập, được nhắc tới cách cá vị. Bởi vậy, dù phụng vụ Lời Chúa hôm nay có nhiều đề tài gợi hứng suy niệm. Nhưng tôi xin được suy niệm điểm khác biệt này của hai bản văn để nhận ra ơn gọi của thánh Phêrô liên quan tới Hội Thánh Chúa Kitô và liên quan tới cả bạn và tôi. I. VỊ TRÍ ĐỘC LẬP CỦA TÔNG ĐỒ PHÊRÔ TRONG TRÌNH THUẬT CHÚA ĐI TRÊN MẶT BIỂN. Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều trong Mt 14,13-21 (Tin Mừng Chúa nhật XVIII), Tin Mừng theo thánh Mathêu còn ghi nhận một phép lạ hóa bánh lần hai (Mt 15, 32-39) và một số phép lạ khác (Mt 15, 21-31). Qua những phép lạ ấy, Chúa Giêsu được thu hút bởi đám đông dân chúng. Nhưng hình như họ theo Chúa chỉ là nhất thời, bề ngoài, vụ lợi nhiều hơn là theo vì đức tin. Vì thế, từ nay, Chúa Giêsu bắt đầu trở về với chính Giáo Hội của Người. Người quay về chuyên lo huấn luyện tông đồ đoàn để đặt nền tảng vững vàng cho Giáo Hội của Người. Với việc dõi theo tâm tư của Chúa Giêsu khi nhắm hình thành trong tương lai một cộng đoàn Giáo Hội, thánh Mathêu bắt đầu cho thấy tên tuổi của thánh Phêrô. Nhưng rất tiếc, chỉ trong lần đầu được giới thiệu danh tánh cách minh nhiên, hình ảnh của tông đồ Phêrô chưa phải là nổi bật, chưa phải là hoàn bị, chưa phải là thánh thiện như mong muốn, nhưng đã xen vào trong đó điều gì đó còn bất toàn, còn phải cố gắng hơn, phải tiến xa hơn. Trình thuật cho biết, sau khi nuôi đến năm ngàn người bằng phép lạ hóa bánh, Chúa Giêsu “giục môn đệ trở xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước.” Đang lúc “thuyền đã ra đến giữa biển,” giông bão lại nổi lên. Bằng nỗ lực chống chọi của sức người, hình như không mang lại kết quả: biển vẫn gầm, sóng vẫn thét. Nguy hiểm càng đến gần, vậy mà mãi đến canh tư đêm tối Chúa Giêsu mới xuất hiện. Người xuất hiện không bình thường: lướt trên sóng, trên gió, trên mặt nước, nhưng không có dấu hiệu bị chìm, lại ngày càng tiến gần thuyền hơn. Kể cũng lạ đối với thái độ của tông đồ Phêrô lúc này. Dường như ông quá thật thà, quá dễ tin, quá đơn sơ, nếu không muốn nói là thái độ của kẻ vội vàng. Bởi trong suy nghĩ, mới vừa cho rằng người ta không thể đi trên mặt nước, nhưng chỉ có thể là ma, thì ngay sau đó lại lên tiếng: “Nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho tôi đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy.” Nói là làm. Thánh Phêrô đã nhảy xuống nước thật. Nếu không xem thái độ này là thái độ vội vàng, thì điều mà thánh nhân đang làm thật khó hiểu. Bởi nếu tin rằng, đúng là Thầy, trước sau gì, Thầy cũng sẽ đến thuyền, đến với các ông, Thầy đang đi về phía các ông kia mà, cần gì phải nhảy xuống nước để chạy về phía Thầy. Mặt khác, trong lúc bước ra khỏi thuyền để xuống nước, vẫn là đi trong sóng to gió lớn. Chắc chắn không một ai dại dột liều mình nhảy xuống giữa biển khơi ngay trong lúc bão bùng. Vì thế, vừa khi bước xuống, lập tức thánh nhân nghi nan. Vì nghi nan, thay vì “đến cùng Thầy,” lại đang chìm dần trong dòng nước. Đúng là hấp tấp, vội vàng. Hơn nữa “đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy” lúc này, đâu phải là việc làm cấp bách, cần làm ngay. Việc cần thiết nhất, quan trọng nhất liên quan đến mạng sống nhiều nhất là phải làm sao giữ được thuyền của mình không bị chìm giữa phong ba khiếp đảm này. Còn nếu tin rằng Thầy là Đấng quyền năng, thì bằng mọi cách phải cầu xin Thầy cho bằng được để Thầy dẹp yên sóng gió. Đó mới là điều dễ hiểu. Đó mới là điều cấp bách nhất trong lúc này mà Phêrô và cả tông đồ đoàn cần làm. Nhưng thái độ kỳ hoặc của thánh Phêrô càng kỳ hoặc bao nhiêu, lại càng cho thấy tình yêu và hồng ân của Chúa lớn lao, đường lối và ơn gọi mà Người dành cho loài người diệu kỳ bấy nhiêu. Bởi một con người yếu đuối, hèn kém, xem ra hấp tấp, non nớt, lại được Chúa trao trọng trách lớn không ai bằng: làm đá tảng của Giáo Hội. Về phía thánh Phêrô, lần đầu tiên được giới thiệu ở vị trí độc lập và cao cả như thế, lại chỉ là nông nổi thiếu sót. Dù sau này, khi đã được Chúa tin tưởng, chọn ở vị trí cao cả, Phêrô vẫn chưa phải là người hoàn toàn như mong muốn, bởi thánh nhân đã từng chối Thầy. Nhưng rồi Phêrô sẽ trở thành một Phêrô khác theo thời gian. Càng về sau, khi qua nhiều vấp váp, nhiều biến cố, nhất là biến cố tử nạn của Thầy, và thấm thía mạnh mẽ tình yều của Thầy dành cho mình vượt quá nhiều lần sự vấp váp của bản thân, Đức Giáo Hoàng Phêrô đã lớn lên nhiều, đã trưởng thành vược bậc. Thế mới hay đường lối Thiên Chúa không phải đường lối con người. Thiên Chúa nhìn thấy lòng người. Người không bao giờ sai lầm trong ơn gọi mà Người đã ban cho chúng ta. II. GIÁO HỘI LÀ GIÁO HỘI CỦA CHÚA KITÔ. Giáo Hội không bao giờ là Giáo Hội của riêng một cá nhân con người nào, nhưng là Giáo Hội của chính Chúa Kitô. Trong cuộc bầu chọn Giáo Hoàng vào tháng 4.2005 vừa qua, tôi thấy tường tận ơn Thiên Chúa ban cho Giáo Hội, để cuộc bầu cử diễn ra quá nhanh. Các hồng y như cùng một lòng đồng thuận với nhau chọn Đức Ratzinger làm giáo hoàng thứ 265 của Giáo Hội. Tôi thấy ơn Chúa Thánh Thần như sờ được, bởi ngay sau khi Đức Gioan Phaolô II qua đời, lập tức, người ta nhận ra ngay con người của sự sáng suốt, người của mọi người nơi Đức Biển Đức XVI. Ngài nổi bậc với những cách thức làm việc đầy khôn ngoan, nhất là các lời phát biểu, các bài giảng trong các thánh lễ của tang lễ và mật tuyển viện đều được chú ý ngay, và được đánh giá rất cao. Nhưng tôi vẫn thấy, nếu con thuyền ngày ấy của tông đồ đoàn đã từng bị sóng vỗ, thác gầm, thì con thuyền Giáo Hội của Chúa Kitô qua mọi thời, đều có những sóng to gió lớn khác nhau. Chính Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI đã cho thấy trong bài giảng khai mạc mật tuyển viện: “Chúng ta không thể cứ mãi là trẻ thơ trong đức tin” nghĩa là “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý.”'(Ep 4, 14). Một diễn tả rất thời sự! Biết bao làn gió chủ thuyết mà chúng ta biết đến trong những thập niên cuối cùng. Con thuyền nhỏ tư duy của nhiều Kitô hữu đã thường bị đánh bởi những đợt sóng này - trôi giạt từ thái cực này sang thái cực khác: từ Mác-Xít tới chủ nghĩa tự do, tới mức chủ nghĩa tự do phóng túng; từ chủ nghĩa tập thể đến chủ nghĩa cá nhân ; từ chủ nghĩa vô thần đến chủ nghĩa duy huyền bí tôn giáo mơ hồ; từ chủ nghĩa duy tín đến chủ nghĩa hỗn tạp và vân vân. Nhiều giáo phái được đẻ ra mỗi ngày và xảy ra điều mà thánh Phaolô đã nói về sự lường gạt con người và sự tinh quái nhắm lôi kéo con người đến chỗ lầm lạc (Eõph, 14). Có một đức tin rõ ràng theo kinh Tin Kính của Giáo Hội, lại bị gán cho nhãn hiệu cuồng tín. Trong khi chủ nghĩa tương đối, nghĩa là để cho mình “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý” dường như lại là cách thức hành xử duy nhất tức thời. Người ta đang thành lập một chủ nghĩa độc tài tương đối, nó không nhìn nhận điều gì là chung kết, và để cho cái tôi và ý muốn của mình là mẫu mực duy nhất”. Nhưng chúng ta tin rằng, dù cho “Biết bao làn gió chủ thuyết,”, dù cho “Con thuyền nhỏ tư duy của nhiều Kitô hữu đã thường bị đánh bởi những đợt song,”, Giáo Hội vẫn là Giáo Hội của Chúa Kitô. Càng nhiều phong ba thử thách, Giáo Hội càng chứng tỏ khả năng bền đỗ và vững mạnh của mình, không phải do chính mình, nhưng đó chính là một huyền nhiệm cao cả mà Giáo Hội có được bởi Thiên Chúa. Chính Chúa Kitô đã luôn luôn ban ơn và gìn giữ Giáo Hội của Người. Người ban Thánh Thần làm sức sống của Giáo Hội. Cũng chính Chúa luôn luôn tuyển chọn những con người để nối tiếp sự nghiệp của tông đồ đoàn, gìn giữ và ban ơn cho nhân loại, nhờ đó, Giáo Hội tự thánh hóa mình và thánh hóa nhân loại. Vì là Giáo Hội của Chúa Kitô, yếu tố Thiên Chúa mới là chính. Yếu tố con người chỉ là phụ thuộc. Vì thế, sự bất toàn của con người, là điều không thể tránh khỏi, sẽ là lý do tốt nhất để khẳng định mạnh mẽ và dứt khoát rằng, phép lạ trong lòng Giáo Hội do ơn Chúa luôn luôn được tiếp diễn. Bởi chỉ có phép lạ ấy, sống và nhờ phép lạ ấy, Giáo Hội của Chúa Kitô bền vững qua mọi thời gian. Ngay từ thuở ban đầu, dù Đức Giáo Hoàng Phêrô đã có lần cho thấy sự bất toàn, sự yếu đuối của cái gọi là “nhân tính.” Nhưng Thiên Chúa cần cái nhân tính ấy để làm nên Giáo Hội, để cộng tác với Thiên tính của Người, xây dựng và củng cố Giáo Hội. Thiên Chúa cần nhân tính ấy, để chính Người được vinh danh, được cả sáng. Thiên Chúa cần nhân tính ấy, để trong nhân tính, Người xây dựng Thiên tính cao cả của Người. Người cần nhân tính ấy để biến một Phêrô, tưởng chừng rất nhỏ bé, đã có thể trở nên đá tảng của Giáo Hội của Người. Vì thế, Chúa Giêsu đã không gọi các thiên thần, nhưng lại gọi tông đồ Phêrô và bảo: “Con là Đá. Trên Đá này Thầy xây Hội Thánh của Thầy.” Tiếp tục với Phêrô và tông đồ đoàn, qua dòng lịch sử, thế giới vẫn luôn luôn chứng kiến rất nhiều cái nhân tính ấy của Giáo Hội. Bởi sau Phêrô và tông đồ đoàn, Chúa Kitô vẫn tiếp tục chọn và gọi những con người tiếp nối sự nghiệp phát triển của Giáo Hội. Càng có đông những con người được trao ban ơn gọi, cái nhân tính của Giáo Hội càng lộ rõ, càng dễ nhận ra. Nhưng thật lạ lùng, dẫu chỉ là những con người trong trần thế hợp thành Giáo Hội, vẫn luôn luôn có một chiều kích thánh thiên và siêu hình, để nhờ đó, Giáo Hội có một khả năng sống phi thường. Vì thế, càng lâm vào thử thách bao nhiêu, Giáo Hội càng có sức tự khẳng định mình bấy nhiêu. Bằng chứng là trong lịch sử của Giáo Hội, giai đoạn nào có nhiều biến động nhất, ngay cả những lúc nhìn bề ngoài, hình như cái Thiên tính bị che lấp bởi nhân tính, tội lỗi của những người con của Giáo Hội lồ lộ trước mắt thế giới, thì ngay trong những giai đoạn bi đát như thế, Giáo Hội lại có nhiều những chứng nhân thế giá nhất, nhiều anh chị em được nhìn nhận là hiển thánh nhất. Đúng thật, Chúa đã không sai lầm khi trao Giáo Hội của Người cho chúng ta. Bởi Chúa cần nhân tính của ta để thể hiện Thiên tính của Người. Bởi Giáo Hội không là Giáo Hội của một con người nào, nhưng là Giáo Hội của chính Chúa. Giáo Hội ấy có sức sống mãnh liệt là Chúa Thánh Thần, có ơn cứu độ đời đời được mua bằng giá máu của Chúa Kitô. Là Kitô hữu, trung thành với giáo huấn của Chúa Kitô và giáo huấn của Giáo Hội của Người, chúng ta nguyện xin Chúa cho mình luôn biết làm rạng danh Thiên Chúa khi sống trong lòng Giáo Hội hôm nay●
TÌM HIỂU và SỰ HIỆN DIỆN THỰC SỰ CỦA CHÚA KITÔ[1]
Jos. Trần Trung Liêm, OP. Khi nói đến Bí tích Thánh thể, điều không thể không đề cập đến chính là “sự hiện diện thực sự” của Chúa Kitô (the real presence of Christ). Theo lịch sử thần học bí tích, “sự hiện diện thực sự” của Chúa Kitô được dùng để chỉ về sự hiện diện Thánh Thể, lần đầu tiên có tính cách loại trừ các cách thế hiện diện khác, bắt đầu từ Scotus.[2] Và điều này thật là không may cho chúng ta! Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh “Sacrisanctum Concilium” của công đồng Vaticanô II (Dec. 4, 1963) số # 7 nói: Chúa Kitô vẫn luôn luôn hiện diện trong Giáo Hội của Ngài, nhất là trong những cử hành phụng vụ: trong Thánh Lễ đặc biệt là dưới hình bánh và rượu, trong Thừa tác viên, trong các bí tích, trong Lời Chúa công bố trong phụng vụ, và khi Giáo Hội cầu nguyện hay ca tụng (Matt 18:20). A. HIỆN DIỆN THỰC SỰ DƯỚI NHIỀU CÁCH THỨC Số 1373 trong Sách Giáo Lý GH Công Giáo khi giới thiệu về sự hiện diện của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, đã diễn tả như sau: “Chúa Giêsu Kitô, Đấng thực sự đã chết, đã sống lại từ cõi chết, đang ngự bên hữu Thiên Chúa, và thực sự đang bầu cử cho chúng ta, Người hiện diện trong Giáo hội dưới nhiều cách thức.” Sau đó, sách Giáo lý liệt kê những hình thức hiện diện “thực sự” của Ngài: trong Lời Chúa, trong cộng đoàn phụng tự (Matt 18:20), trong người nghèo, người bệnh, người tù tội (Mat 25:31-36), trong các bí tích, trong Thánh Lễ, trong thừa tác viên chủ sự, và cách đặc biệt trong Thánh Thể qua hình bánh và rượu. Tông Huấn sau cùng của Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II về Thánh thể có tựa đề Ecclesia de Eucharistia (April 17, 2003), Giáo Hội từ Thánh Thể. Ngài mở đầu Tông huấn như sau: Giáo Hội kín múc được sự sống của mình từ Thánh Thể; tiếp đó, đức cố Giáo Hoàng trích dẫn câu cuối cùng của tin mừng Matthêu 28:20, lời Chúa Giêsu hứa ở lại với Giáo Hội cho đến khi hoàn tất của thời gian, để nói lên sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Giáo Hội.[3] Sự hiện diện của Chúa Kitô trong Thánh Thể được gọi là “thực” - tuy không cho rằng những hình thức hiện diện khác là không “thực,” nhưng bởi vì đây là sự hiện diện mang ý nghĩa đầy đủ nhất: có nghĩa là, đây là một sự hiện diện nền tảng mà qua đó Đức Kitô, Đấng vừa là Chúa vừa là người phàm, làm cho chính mình hiện diện cách hoàn toàn và cách trọn vẹn (wholly and entirely, Paul VI, Mysterium Fidei, Sept 03, 1965, #39; Ecclesia de Eucharistia # 15 §1; Tridentinô). Như vậy, điều Chúa Giêsu hứa trước khi Ngài về trời là sẽ ở lại với chúng ta luôn mãi được thực hiện dưới nhiều hình thức, và Thánh Thể là một hình thức đặc biệt của sự hiện diện thực sự mà ngài đã hứa. Nói cách khác, Thánh Thể học nằm trong Giáo Hội học. Vì thế, khi nói về sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Thánh Thể, chúng ta không thể tách rời bí tích này ra khỏi Giáo Hội; bởi lẽ sự hiện diện trong Thánh Thể, tuy là một hình thức Chúa Giêsu hiện diện hết sức đặc biệt, nhưng là một trong những cách thức Ngài hiện diện thực sự trong Giáo Hội.[4] Chúa Giêsu Phục Sinh hiện diện thực sự trong Giáo Hội bằng nhiều cách, nhưng bốn cách thức sau đây có liên quan trực tiếp hơn với những gì chúng ta thảo luận tại Đại Hội năm 2005 này: 1. Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong cộng đoàn phụng tự:
2. Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong Lời Chúa:
3. Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong Thừa tác viên:
v Một cuộc đời tràn ngập tri ân (a life of profound gratitude): Khi Chúa Giêsu Kitô bẻ bánh, Ngài “Tạ ơn.” v Một cuộc đời được trao đi (a life that is 'given'): “Nhận mà ăn, nhận mà uống”: sống thực và sống trọn lời này chính là trao ban cả con người linh mục. v Một cuộc đời được cứu để cứu đời (a life that is saved in order to save): “Này là mình Ta thí ban cho anh em.” khi lập lại những lời này thay thế Chúa Kitô, linh mục trở thành những người tiên phong của mầu nhiệm cứu độ. Nếu linh mục không thực sự cảm thấy mình được cứu thì làm sao có thể trở thành người tiên phong có sức thuyết phục người khác? v Một cuộc đời ghi nhớ (a life that 'remembers'): “Hãy làm điều này để tưởng nhớ.” Cuộc đời người linh mục là lời nhắc nhở sự hy tế của Chúa Kitô. Hãy sống và hy sinh như Chúa. v Một cuộc đời được thánh hiến (a consecrated life): Mỗi khi cử hành và công bố “Mầu nhiệm đức tin” là mỗi lần linh mục bày tỏ sự lạ lùng luôn mới mẻ với phép lạ ngoại thường diễn ra trên bàn tay của mình. Sự biến đổi bản thể này thực sự là “một eminently sacred reality!” v Một cuộc đời tập trung vào Chúa Kitô (a life centred on Christ): Một Kitô thứ hai phải là một người lấy Chúa Kitô làm mẫu, làm trung tâm, là khuôn thước, làm chính mình. v Một cuộc đời Thánh Thể qua trường học của Mẹ Maria (a 'Eucharistic' life at the school of Mary): Một linh mục hội đủ những điều trên vàsống đúng với những điều Đức Cố Giáo Hoàng nhắn nhủ thì chắc chắn phụng vụ linh mục ấy cử hành sẽ thực sự đúng là “Thần vụ.” 4. Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong hình Bánh và Rượu sau lời truyền phép. Đây là điều chúng ta sẽ dừng lại lâu hơn vì là cốt lõi của bí tích đặc biệt này. Cách thế hiện diện của Chúa Kitô trong hình bánh và rượu là duy nhất (unique). Sự hiện diện này nâng Bí Tích Thánh Thể lên trên tất cả các bí tích khác như là sự “hoàn hảo của đời sống thiêng liêng và cùng đích mà mọi bí tích khác hướng đến.” (ST III, 73, 3 c). Trong Thánh Thể, toàn vẹn Chúa Kitô được chứa đựng cách đúng nghĩa, cách thực sự, và cách căn bản (căn cơ và theo bản chất, Sách Giáo Lý # 1374, Công đồng Tridentinô).[6] B. HIỆN DIỆN TRONG THÁNH THỂ Đề cập đến việc trình bày tín điều cho thời nay, Edward Schillebeeckx, nói: “Đơn thuần lập lại một tín điều từng chữ cho người thời nay có lẽ sẽ áp đặt một gánh nặng không cần thiết và không lý giải được trên niềm tin Kitô giáo của chúng ta. Nếu cứ miễn cưỡng làm như thế, thì ý niệm ‘mầu nhiệm’ sẽ bị người ta xem giống như deus ex machina.”[7] Vào thế kỷ 13, lối cắt nghĩa sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Thánh Thể theo kiểu “giác cảm” (sensualistic interpretation: khi rước lễ, tôi nhai chính thân thể của Chúa Giêsu) đã làm cho những thần học gia thời ấy lên tiếng phản đối, trong các thần học gia này, phải kể đến thánh Albertô, Bonaventure, và nhất là thánh Tôma Aquinô. Tin Lành cho rằng sự hiện diện của Chúa Kitô trong cộng đoàn phụng tự là vượt lên trên bí tích họ cử hành và không có bí tích nào cao cả hơn bí tích nào, tất cả đều bằng nhau vì cùng thông chuyển ân sủng của Chúa. Vì sự hiện diện của Chúa trong cộng đoàn là thật nên với quyền năng của Ngài, ngài có thể transignify (biến đổi ý nghĩa) hay transfinalize (biến đổi mục đích) bánh và rượu thành chính Ngài; và sự biến đổi này chỉ tồn tại bao lâu cộng đoàn phụng tự còn quy tụ - nếu không lãnh chịu thì sự biến đổi cũng không còn.[8] I. CÔNG ĐỒNG TRIĐENTINÔ VÀ TRANSUBSTANTIATIO: Công đồng Triđentinô định tín ngày 11 tháng 10 năm 1551 như sau:[9] “Ai chối rằng bí tích Thánh Thể cực thánh không đích xác, thực sự và chắc chắn (vere, realiter et substantialiter) chứa đựng mình, máu cùng với linh hồn và thiên tính của Chúa Giêsu Kitô tức là toàn vẹn Chúa Kitô, mà cho rằng chúng (bánh và rượu) chỉ như dấu hiệu (sign) hoặc biểu tượng (figure), hoặc do hữu hiệu, thì kẻ đó sẽ bị vạ tuyệt thông.”[10] “Ai cho rằng trong bí tích Thánh Thể cực thánh, bản thể bánh và rượu vẫn còn tồn tại cùng với mình và máu Chúa Giêsu Kitô và chối bỏ sự biến đổi kỳ diệu và đặc biệt của toàn bộ bản thể bánh thành mình thánh và toàn bộ bản thể rượu thành máu thánh, trong khi hình bánh và rượu vẫn còn nguyên, sự biến đổi và Giáo Hội Công Giáo gọi cách rất thích hợp (very suitably) là transubstantiatio, thì kẻ đó sẽ bị vạ tuyệt thông.”[11] Theo đó, có 3 mức độ khác nhau trong giáo huấn của Tridentinô: 1. Trọng tâm của định tín là: trong bí tích Thánh thể, Chúa Giêsu hiện diện cách đặc biệt và khác với sự hiện diện trong các bí tích khác hay các cách hiện diện khác, sự hiện diện này sâu xa và thực sự đến độ Chúa Giêsu có thể nói: “Đây là Mình Ta, Đây là Máu Ta.” Sự hiện diện này là vere, realiter et substantialiter, chứ không phải chỉ như dấu chỉ hay do sự hữu hiệu; và cũng không phải chỉ hiện diện khi hiệp thông (chịu lễ: communion) mà còn là trước khi hiệp thông (sau truyền phép: after consecration) và sau khi hiệp thông (trong Nhà Tạm). 2. Có sự biến đổi đặc biệt từ bản thể bánh và rượu thành bản thể Mình và Máu Chúa. 3. Sự biến đổi này được gọi cách thích đáng là Transubstantiatio, Biến Đổi Bản Thể. Những điều Giáo Hội Công Giáo hiểu và dạy về Thánh Thể có thể được tóm tắt trong 6 điều này: 1. Sự biến đổi bí tích của bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô là hoàn toàn siêu nhiên và chỉ được thực hiện do quyền năng vô cùng của Chúa mà thôi (ST III, Q. 75, a 4) 2. Sự biến đổi này được hiểu bởi đức tin mà thôi (ST III, Q. 75, a 1) 3. Điều cảm nhận được lại dựa vào sự tồn tại của hình bánh và rượu (ST III, Q. 75, a 5) 4. Có hai cách lãnh nhận Thánh Thể: thiêng liêng (spiritually) cũng có nghĩa là hoàn hảo (perfectly) và cách bí tích (sacramentally) cũng có nghĩa là bất toàn (imperfectly), còn cách ngẫu nhiên (accidentally) có nghĩa là mặc dù Thánh Thể vẫn là Bí Tích, đối với người ăn cách accidentally, thực tại Thánh Thể được trừu lại (mất Chúa) [ST III, Q. 80, a 1: perfect là khi người lãnh nhận với mục đích để tham dự vào hiệu quả của bí tích]. 5. Không phải ai cũng lãnh nhận Thánh Thể cách hoàn hảo. 6. Có người lãnh nhận Thánh Thể cách thiêng liêng-không có mặt-và hoàn hảo (not physically eat it). Theo thế, hệ luận đương nhiên là:[12] i. “Thân Thể Chúa Kitô” không hoàn toàn đồng nghĩa với cộng đoàn tín hữu đang tụ họp trong Thánh lễ bởi vì không phải tất cả đều lãnh nhận Thánh Thể cách hoàn hảo. ii. “Thân Thể Chúa Kitô” cũng không đồng nghĩa với một nhóm nhỏ hơn, những người được đặc ân lãnh nhận Thánh Thể cách hoàn hảo bởi lẽ có những người không có mặt nhưng lòng muốn của họ giúp họ lãnh nhận Thánh Thể cách thiêng liêng và hoàn hảo.[13] iii. Do đó, ý hướng của cộng đoàn phụng tự (trong thánh Lễ) không đủ để làm nền tảng cho sự hiện diện Thánh Thể của Chúa Kitô; thế nên “Transignification” hoặc “transfinalization” không giải thích trọn vẹn sự hiện diện đặc biệt của Chúa Kitô trong Thánh Thể. II. TRANSUBSTANTIATIO VÀ MỘT VÀI NỖ LỰC GIẢI THÍCH: Công đồng Tridentinô đã dùng danh từ “Transubstantiatio” để chỉ về thực tại này, nhưng “transubstantiatio” không phải là định nghĩa về Thánh Thể, càng không phải là thực tại Thánh Thể, mà nó chỉ là một danh xưng, một tên gọi “thích hợp nhất” (aptissime, most aptly) diễn tả sự biến đổi rất đặc biệt làm cho bánh và rượu trở thành Mình và Máu Chúa Kitô sau lời truyền phép.[14] 1. Cách Giải Thích theo truyền thống Kinh viện: Nếu Chúa Kitô thực sự hiện diện, khi chúng ta nhìn vào tấm bánh đã truyền phép, chúng ta thấy gì? Đây là câu hỏi được các thần học gia chú ý và tìm cách giải thích. Lối giải thích của Thánh Thomas đại diện cho truyền thống Kinh viện, chúng ta đã biết rồi (ST III, q. 73-83), xin đọc “Thánh Tôma Aquinô & Bí Tích Thánh Thể” của Anh Giuse Đinh Văn Nghị, O.P. báo Chân Lý, tập 12, số 2, năm 2005, trang 2-7. 2. Cách giải thích cận đại:[15] Với con mắt trần (người không tin), mắt đức tin (tín hữu), mắt vinh quang (các thánh), họ thấy gì? Cần phân biệt giữa: sự vật, sự nhìn, sự thấy, sự hiểu và sự tin… Bản thể của sự vật là đối tượng của trí hiểu chứ không phải của giác quan. Vì thế, câu hỏi không phải là “Cái gì đây” nhưng “sự thật gì đây,” “chân lý gì đây.”[16] Vì Tridentinô không giải thích Transubstantiatio là gì nên định nghĩa của danh từ này có vẻ như được bỏ ngỏ. Lợi dụng sự bỏ ngỏ này, nhiều thần học gia Công Giáo hiện nay đã không dùng Aristốt hoặc thánh Thomas để giải thích, họ vẫn giữ lại từ ngữ Transubstantiatio, vẫn hoàn toàn theo giáo huấn của Tridentinô nhưng hiểu và giải thích sự biến đổi Thánh thể này hoàn toàn khác. Phần lớn các thần học gia hiện đại giải thích theo triết lý hiện sinh và nhất là Hiện Tượng luận. Với họ, hiện diện là hiện diện cho người khác, cho một hiện diện khác (presence to, being for). Hiện hữu tức là có đó mà không nói lên tương quan của nó với những hữu thể khác. Một hòn đảo chưa được ai biết đến và cho đến tận thế cũng không được khám phá ra, nó có hiện hữu không? Thưa có. Nhưng nó không hiện diện vì nó không có một sự hiện diện khác với nó để đối chiếu, nó không được nhận diện.[17] Bản chất của sự vật trong tận căn của nó (deepest level of being) là dấu hiệu và dấu chỉ cho những thực tại thiêng liêng và của Chúa. Tương quan cá vị và thiêng liêng thì thực hơn là những tương quan vật lý và chất thể. Tự bản chất của một hữu thể là mang một ý nghĩa nào đó cho người nào đó và ý nghĩa nguyên thủy của hữu thể nằm ở trong thực tại của chính hữu thể (‘without this 'having meaning for', something is not what it is). Một chất liệu hóa học có thể là một thực phẩm, nhưng cũng có thể làm nguyên (nhiên) liệu. Tương quan thay đổi, bản chất của sự vật cũng thay đổi.[18] Có những tương quan do con người xác định và điều này xẩy ra là do năng quyền họ có (được trao cho hay được công nhận). Một chiếc lá phong đỏ được thêu trên một nền vải trắng và đỏ, chỉ là một bức tranh thêu, nhưng nếu chính phủ Canada quyết định nâng nó lên thành biểu tượng của quốc gia, thành quốc kỳ, thì nó đã mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Cụ thể mà nói, không thấy có gì khác biệt hay thay đổi, nhưng bản chất của miếng vải thêu này đã hoàn toàn đổi, sự hiện hữu của nó mang một mối tương quan đặc biệt đối với người dân Canada. Trên thực tế, ý nghĩa mới của miếng vải có được do sự thay đổi này thực hơn và sâu xa hơn là sự thay đổi vật lý hay thể lý. Chúng ta hãy thử tìm hiểu về sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Thánh thể, bắt đầu từ chất liệu trở đi:[19] 1. Lúa và nho được bàn tay con người trồng tỉa, chăm bón và sau đó phải qua những tiến trình tự nhiên và kỹ thuật mới trở nên bánh và rượu. Bánh và rượu là sản phẩm của lao công và kỹ năng của con người, và mục đích của chúng là để nuôi sống con người. Chính con người cho chúng mục đích này vì thực ra họ có thể chọn loại thực phẩm khác. Vậy bánh và rượu được con người dùng làm thực phẩm để duy trì mạng sống của họ. 2. Khi nuôi dưỡng đời sống thể lý của con người, bánh và rượu mang một ý nghĩa và biểu tượng cao hơn. Bánh trở thành biểu tượng cho sự sống (symbol of life), rượu trở thành biểu tượng cho niềm vui của cuộc sống (symbol of joy of life). Từ thực phẩm, chúng trở thành biểu tượng cho sự sống và niềm vui của cuộc sống. 3. Khi bánh và rượu được chia sẻ chung trong một nhóm người (gia đình, cộng đoàn), chúng trở nên sự biểu hiện của tình huynh đệ, sự thân mật giữa các cá vị, hay sự kết thúc đầy hoan lạc của một ưng thuận (contract, agreement), một dịp diễn tả AGAPÊ. Từ niềm vui riêng đến chung vui và biểu hiện tình huynh đệ. 4. Cùng là tác động ăn, nhưng nơi con vật thì khác mà nơi con người lại hoàn toàn khác mặc dù sự tiêu hoá sinh học có thể giống nhau. Như thế, bánh có thể trở nên khác mà không thay đổi về sinh-thể-lý (biologically or physically). Sự thay đổi diễn ra là do “inter-personal relationship,” mối tương quan cá vị giữa hai thực thể: thực phẩm và người hưởng thụ nó. Sự thay đổi về ý nghĩa của mối tương quan này là tận căn, là cốt lõi (radical) hơn cả sự thay đổi thể lý đơn thuần (purely physical). Sự thay đổi này có thể được gọi là substantial change, sự thay đổi bản thể. Do đó, câu hỏi: “Bánh sau truyền phép có phải là bánh thông thường không (ordinary bread)?” là một câu hỏi vô nghĩa vì rõ ràng bánh bây giờ đã là “Thánh Thể” rồi. Thay đổi bản thể thì sâu xa và tận căn hơn là thay đổi thể chất. 5. Môi trường phát sinh “Thánh Thể”: 1Cor 11:23: “Tôi xin truyền lại cho anh em điều chính tôi đã nhận được từ Chúa, trong đêm bị trao nộp…” Như thế, Thánh Thể và Thánh Giá có sự liên quan mật thiết; mầu nhiệm Thánh Thể không thể hiểu được bên ngoài mầu nhiệm Thập Giá. Biết trước sự khổ hình, sự chết và Phục Sinh đang chờ đón mình, Đức Giêsu thiết lập bí tích Thánh Thể. Tại sao? Bởi vì Thánh Thể là quà tặng chính Chúa Kitô cho Giáo hội. Thánh Thể là Hy tế, là quà tặng của Chúa Kitô để Giáo Hội luôn luôn tưởng nhớ đến Ngài. 6. Bữa tiệc: Khi bánh và rượu được dùng trong phụng vụ Thánh thể thì ý nghĩa của chúng đã đổi và chúng đã trở thành chất liệu cho một bữa tiệc. Chất liệu của bí tích Thánh Thể không phải chỉ là bánh và rượu, nhưng là bánh và rượu được dùng trong bữa tiệc thánh thể.[20] Bí tích không chỉ cần sự vật (chất liệu), nhưng còn cần mô thức (hành động, lời truyền..). Schillebeeckx cho rằng chất liệu của bí tích Thánh thể bao gồm: thực phẩm, bữa tiệc và cộng đoàn tín hữu tại bàn tiệc. Những yếu tố này là human matter của Thánh Thể. Bữa tiệc Đức Giêsu cử hành với các môn đệ là bữa tiệc Vượt Qua, là bữa tiệc tưởng nhớ biến cố quan trọng trong quá khứ. Bánh là biểu tượng của sự sống; khi Đức Giêsu nói: “Này là mình ta, hiến tặng vì anh em” thì lời này cũng đồng nghĩa với “Này là sự sống của ta hiến tặng cho anh em.” Do đó, chịu lễ là lãnh nhận chính sự sống của Chúa Kitô, và như thế là chính sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa. Sự sống của Chúa chính là ratio sacramenti (lý do hiện hữu) của bí tích Thánh Thể. 7. Thánh Thể là quà tặng: “Anh em hãy cầm lấy mà ăn, đây là mình thầy, hiến tế vì anh em.” (1Cor 11:24). Quà tặng này không phải là tấm bánh mà là chính Chúa Giêsu Kitô. Quà tặng chính bản thân Chúa Kitô này không trực tiếp nhắm đến (hay trao vào) bánh và rượu, nhưng là nhắm đến các tín hữu (bánh và rượu là vật thể, không có khả năng để lãnh nhận sự hiện diện hữu vị). Do đó, sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Thánh Thể chính yếu dành cho (hướng đến) các tín hữu nhờ và trong tặng phẩm bánh và rượu (không phải bánh và rượu xuông, nhưng là bánh và rượu như là một tặng phẩm). Qua và trong bánh + rượu, Chúa Kitô hiện diện cho Giáo Hội và Thánh Thể đem Giáo Hội đến hiện diện với Chúa Kitô, vì thế Thánh Thể được gọi là nguồn và tột đỉnh của đời sống Kitô hữu. Vì qua hình bánh và rượu, Chúa Kitô trao tặng Giáo Hội quà tặng tuyệt vời đó là chính người tặng, là chính Ngài.[21] Kết Luận: Xin được dùng điều cha cựu Bề Trên Tổng Quyền Timothy Radcliffe viết về người giảng thuyết trong chia sẻ tại San Francisco ngày 15 tháng 04 năm 2000 để thay lời kết cho bài chia sẻ này:[22] “Để là người giảng thuyết, cần phải kết hợp hai đức tính có vẻ mâu thuẫn nhau: sự quả quyết và lòng khiêm nhường. Chúng ta cần sự quả quyết của thánh Phaolô, người đã viết: “Nếu miệng anh tuyên xưng rằng đức Giêsu là Chúa và nếu trong lòng anh tin rằng Thiên Chúa đã cho Người phục sinh từ trong kẻ chết, thì anh sẽ được cứu độ.” Khẳng định này thật minh bạch. Không có sự quả quyết, chúng ta không thể rao giảng. Chúng ta phải dám can đảm công bố niềm tin của mình. Nhưng chúng ta cũng cần có lòng khiêm nhường của những người ý thức mình biết rất ít. Như thánh Tôma Aquinô từng nói, về Thiên Chúa chúng ta chẳng biết tí gì. Chúng ta là những kẻ ăn mày chân lý, hạnh phúc vì được một chút soi sáng từ những người chúng ta gặp trên đường. Theo giải thích của thánh Grêgôriô Nyssê, chúng ta đi từ sự khởi đầu đến sự khởi đầu, đến sự khởi đầu. Chúng ta phải học cho biết khiêm nhường trước lòng tin của kẻ khác. Có thể họ còn nhiều sai lầm, nhưng cũng có cái gì đó cho ta học hỏi. Thánh Tôma luôn là cảm hứng cho chúng ta, bởi vì thánh nhân đã thể hiện sự quân bình trọn hảo giữa sự quả quyết và lòng khiêm nhường. Người đã viết được bộ Tổng Luận Thần học và cũng chính người bảo rằng tất cả những gì người đã viết chỉ là rơm rác. Mầu nhiệm lật nhào mọi kiêu hãnh. Thánh Thể là “Mầu Nhiệm Đức Tin,” mầu nhiệm này lật nhào mọi lý giải của con người. Bánh và rượu sau khi được truyền phép đã là Mình và Máu Chúa Kitô. Sự hiện diện thật sự và cao cả này của Chúa Kitô trong Giáo hội đòi hỏi sự hiện diện của chúng ta để đáp trả lại sự hiện diện này. Đây là một sự hiện diện hũu vị và sự hiện diện này đòi chúng ta nhận diện không những bằng cách “hãy đến mà xem” (Gioan 1:39), nhưng trên hết “Hãy đến mà thờ lạy.” (Matt 2:2)●
Transubstantiation
SỐNG TÂM LINH LÀM SAO BIẾT MÌNH ĐANG NGỦ MÊ?
|