GIÁO HỘI LÀ GIÁO HỘI CỦA
CHÚA KITÔ
Lm. Vũ Xuân Hạnh
Chúa nhật tuần này, Chúa nhật thứ XVIII thường
niên, chúng ta suy niệm phép lạ Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều để nuôi đám
đông dân chúng. Tuần sau, Chúa nhật XIX thường niên, phụng vụ Lời Chúa mời
gọi chúng ta suy niệm việc Chúa đi trên mặt biển để đến với các tông đồ,
giữa lúc các tông đồ đang trên thuyền và đang ở ngoài khơi. Dù nội dung có
khác, nhưng hoàn cảnh của cả hai bài Tin Mừng có một chút tương đồng. Chẳng
hạn:
- Cả hai đều xảy ra ở nơi hoang vắng: trong hoang
địa và trên biển mênh mông.
- Các tông đồ cảm nhận mình thiếu thốn mọi thứ,
nhưng hình như cũng không mong đợi gì về sự bù đắp của Chúa Giêsu. Đúng hơn,
họ chưa đủ hiểu biết, chưa đủ tin để mà mong đợi.
- Các tông đồ đối diện với cái đói trong dụ ngôn
hóa bánh. Còn trong câu chuyện Chúa đi trên mặt biển, họ đối diện với cái
nguy hiểm của cuồng phong đe dọa sự sống.
- Chúa nhận ra nhu cầu của loài người: Người hóa
bánh để nuôi sống và cất mọi nguy hiểm có thể đe dọa sự sống. Đúng hơn, qua
cả hai bài Tin Mừng, đều cho thấy Chúa luôn luôn bảo vệ đời sống đức tin của
linh hồn. Vì hóa bánh là nhằm hướng con người về Bánh Thánh Thể. Dẹp yên
sóng gió là cho thấy tình yêu cứu độ giữa muôn cám dỗ của thế gian.
- Chúa chỉ ra tay cứu giúp bằng chính quyền năng
của Thiên Chúa vào giờ phút chót, khi mà sự lúng túng và cảm nhận giới hạn
của loài người đạt đến đỉnh cao nhất.
- Thân phận của các tông đồ nói riêng và của nhân
loại nói chung, thường được đặt trước những thử thách, những giằng co giữa
đức tin và nỗi sợ hãi, nỗi lo lắng khi vừa phải sống trong cuộc đời nhưng
lại vừa hướng về vĩnh cửu.
- Chỉ khác một điều giữa hai bản văn, đó là trong
trình thuật hóa bánh, không thấy hình ảnh của thánh Phêrô. Vì thế, đấy là
lần đâu tiên, trong trình thuật Chúa đi trên mặt biển, thánh Mathêu đã ghi
nhận vai trò và hình ảnh của tông đồ Phêrô đứng ở vị trí độc lập, được nhắc
tới cách cá vị. Bởi vậy, dù phụng vụ Lời Chúa hôm nay có nhiều đề tài gợi
hứng suy niệm. Nhưng tôi xin được suy niệm điểm khác biệt này của hai bản
văn để nhận ra ơn gọi của thánh Phêrô liên quan tới Hội Thánh Chúa Kitô và
liên quan tới cả bạn và tôi.
I. VỊ TRÍ ĐỘC LẬP CỦA TÔNG
ĐỒ PHÊRÔ TRONG TRÌNH THUẬT CHÚA ĐI TRÊN MẶT BIỂN.
Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều trong Mt 14,13-21
(Tin Mừng Chúa nhật XVIII), Tin Mừng theo thánh Mathêu còn ghi nhận một phép
lạ hóa bánh lần hai (Mt 15, 32-39) và một số phép lạ khác (Mt 15, 21-31).
Qua những phép lạ ấy, Chúa Giêsu được thu hút bởi đám đông dân chúng. Nhưng
hình như họ theo Chúa chỉ là nhất thời, bề ngoài, vụ lợi nhiều hơn là
theo vì đức tin. Vì thế, từ nay, Chúa Giêsu bắt đầu trở về với chính Giáo
Hội của Người. Người quay về chuyên lo huấn luyện tông đồ đoàn để đặt nền
tảng vững vàng cho Giáo Hội của Người.
Với việc dõi theo tâm tư của Chúa Giêsu khi nhắm
hình thành trong tương lai một cộng đoàn Giáo Hội, thánh Mathêu bắt đầu cho
thấy tên tuổi của thánh Phêrô. Nhưng rất tiếc, chỉ trong lần đầu được giới
thiệu danh tánh cách minh nhiên, hình ảnh của tông đồ Phêrô chưa phải là nổi
bật, chưa phải là hoàn bị, chưa phải là thánh thiện như mong muốn, nhưng đã
xen vào trong đó điều gì đó còn bất toàn, còn phải cố gắng hơn, phải tiến xa
hơn.
Trình thuật cho biết, sau khi nuôi đến năm ngàn
người bằng phép lạ hóa bánh, Chúa Giêsu “giục môn đệ trở xuống thuyền mà
qua bờ bên kia trước.” Đang lúc “thuyền đã ra đến giữa biển,”
giông bão lại nổi lên. Bằng nỗ lực chống chọi của sức người, hình như không
mang lại kết quả: biển vẫn gầm, sóng vẫn thét. Nguy hiểm càng đến gần, vậy
mà mãi đến canh tư đêm tối Chúa Giêsu mới xuất hiện. Người xuất hiện không
bình thường: lướt trên sóng, trên gió, trên mặt nước, nhưng không có dấu
hiệu bị chìm, lại ngày càng tiến gần thuyền hơn.
Kể cũng lạ đối với thái độ của tông đồ Phêrô lúc
này. Dường như ông quá thật thà, quá dễ tin, quá đơn sơ, nếu không muốn nói
là thái độ của kẻ vội vàng. Bởi trong suy nghĩ, mới vừa cho rằng người ta
không thể đi trên mặt nước, nhưng chỉ có thể là ma, thì ngay sau đó lại lên
tiếng: “Nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho tôi đi trên mặt nước mà đến
cùng Thầy.” Nói là làm. Thánh Phêrô đã nhảy xuống nước thật.
Nếu không xem thái độ này là thái độ vội vàng, thì
điều mà thánh nhân đang làm thật khó hiểu. Bởi nếu tin rằng, đúng là Thầy,
trước sau gì, Thầy cũng sẽ đến thuyền, đến với các ông, Thầy đang đi về phía
các ông kia mà, cần gì phải nhảy xuống nước để chạy về phía Thầy. Mặt khác,
trong lúc bước ra khỏi thuyền để xuống nước, vẫn là đi trong sóng to gió
lớn. Chắc chắn không một ai dại dột liều mình nhảy xuống giữa biển khơi ngay
trong lúc bão bùng. Vì thế, vừa khi bước xuống, lập tức thánh nhân nghi nan.
Vì nghi nan, thay vì “đến cùng Thầy,” lại đang chìm dần trong dòng
nước. Đúng là hấp tấp, vội vàng.
Hơn nữa
“đi
trên mặt nước mà đến cùng Thầy” lúc
này, đâu phải là việc làm cấp bách, cần làm ngay. Việc cần thiết nhất, quan
trọng nhất liên quan đến mạng sống nhiều nhất là phải làm sao giữ được
thuyền của mình không bị chìm giữa phong ba khiếp đảm này. Còn nếu tin rằng
Thầy là Đấng quyền năng, thì bằng mọi cách phải cầu xin Thầy cho bằng được
để Thầy dẹp yên sóng gió. Đó mới là điều dễ hiểu. Đó mới là điều cấp bách
nhất trong lúc này mà Phêrô và cả tông đồ đoàn cần làm.
Nhưng thái độ kỳ hoặc của thánh Phêrô càng kỳ hoặc
bao nhiêu, lại càng cho thấy tình yêu và hồng ân của Chúa lớn lao, đường lối
và ơn gọi mà Người dành cho loài người diệu kỳ bấy nhiêu. Bởi một con người
yếu đuối, hèn kém, xem ra hấp tấp, non nớt, lại được Chúa trao trọng trách
lớn không ai bằng: làm đá tảng của Giáo Hội.
Về phía thánh Phêrô, lần đầu tiên được giới thiệu
ở vị trí độc lập và cao cả như thế, lại chỉ là nông nổi thiếu sót. Dù sau
này, khi đã được Chúa tin tưởng, chọn ở vị trí cao cả, Phêrô vẫn chưa phải
là người hoàn toàn như mong muốn, bởi thánh nhân đã từng chối Thầy. Nhưng
rồi Phêrô sẽ trở thành một Phêrô khác theo thời gian. Càng về sau, khi qua
nhiều vấp váp, nhiều biến cố, nhất là biến cố tử nạn của Thầy, và thấm thía
mạnh mẽ tình yều của Thầy dành cho mình vượt quá nhiều lần sự vấp váp của
bản thân, Đức Giáo Hoàng Phêrô đã lớn lên nhiều, đã trưởng thành vược bậc.
Thế mới hay đường lối Thiên Chúa không phải đường lối con người. Thiên Chúa
nhìn thấy lòng người. Người không bao giờ sai lầm trong ơn gọi mà Người đã
ban cho chúng ta.
II. GIÁO HỘI LÀ GIÁO HỘI CỦA
CHÚA KITÔ.
Giáo Hội không bao giờ là Giáo Hội của riêng một
cá nhân con người nào, nhưng là Giáo Hội của chính Chúa Kitô. Trong cuộc bầu
chọn Giáo Hoàng vào tháng 4.2005 vừa qua, tôi thấy tường tận ơn Thiên Chúa
ban cho Giáo Hội, để cuộc bầu cử diễn ra quá nhanh. Các hồng y như cùng một
lòng đồng thuận với nhau chọn Đức Ratzinger làm giáo hoàng thứ 265 của Giáo
Hội. Tôi thấy ơn Chúa Thánh Thần như sờ được, bởi ngay sau khi Đức Gioan
Phaolô II qua đời, lập tức, người ta nhận ra ngay con người của sự sáng
suốt, người của mọi người nơi Đức Biển Đức XVI. Ngài nổi bậc với những cách
thức làm việc đầy khôn ngoan, nhất là các lời phát biểu, các bài giảng trong
các thánh lễ của tang lễ và mật tuyển viện đều được chú ý ngay, và được đánh
giá rất cao.
Nhưng tôi vẫn thấy, nếu con thuyền ngày ấy của
tông đồ đoàn đã từng bị sóng vỗ, thác gầm, thì con thuyền Giáo Hội của Chúa
Kitô qua mọi thời, đều có những sóng to gió lớn khác nhau. Chính Đức Giáo
hoàng Biển Đức XVI đã cho thấy trong bài giảng khai mạc mật tuyển viện:
“Chúng ta không thể cứ mãi là trẻ thơ trong đức tin” nghĩa là “bị sóng đánh
trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý.”'(Ep 4, 14). Một diễn tả rất thời sự!
Biết bao làn gió chủ thuyết mà chúng ta biết đến
trong những thập niên cuối cùng. Con thuyền nhỏ tư duy của nhiều Kitô hữu đã
thường bị đánh bởi những đợt sóng này - trôi giạt từ thái cực này sang thái
cực khác: từ Mác-Xít tới chủ nghĩa tự do, tới mức chủ nghĩa tự do phóng
túng; từ chủ nghĩa tập thể đến chủ nghĩa cá nhân ; từ chủ nghĩa vô thần đến
chủ nghĩa duy huyền bí tôn giáo mơ hồ; từ chủ nghĩa duy tín đến chủ nghĩa
hỗn tạp và vân vân. Nhiều giáo phái được đẻ ra mỗi ngày và xảy ra điều mà
thánh Phaolô đã nói về sự lường gạt con người và sự tinh quái nhắm lôi kéo
con người đến chỗ lầm lạc (Eõph, 14). Có một đức tin rõ ràng theo kinh Tin
Kính của Giáo Hội, lại bị gán cho nhãn hiệu cuồng tín. Trong khi chủ nghĩa
tương đối, nghĩa là để cho mình
“bị
sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý”
dường như lại là cách thức hành xử duy nhất tức thời. Người ta đang thành
lập một chủ nghĩa độc tài tương đối, nó không nhìn nhận điều gì là chung
kết, và để cho cái tôi và ý muốn của mình là mẫu mực duy nhất”.
Nhưng chúng ta tin rằng, dù cho “Biết bao làn gió
chủ thuyết,”, dù cho “Con thuyền nhỏ tư duy của nhiều Kitô hữu đã thường bị
đánh bởi những đợt song,”, Giáo Hội vẫn là Giáo Hội của Chúa Kitô. Càng
nhiều phong ba thử thách, Giáo Hội càng chứng tỏ khả năng bền đỗ và vững
mạnh của mình, không phải do chính mình, nhưng đó chính là một huyền nhiệm
cao cả mà Giáo Hội có được bởi Thiên Chúa. Chính Chúa Kitô đã luôn luôn ban
ơn và gìn giữ Giáo Hội của Người. Người ban Thánh Thần làm sức sống của Giáo
Hội. Cũng chính Chúa luôn luôn tuyển chọn những con người để nối tiếp sự
nghiệp của tông đồ đoàn, gìn giữ và ban ơn cho nhân loại, nhờ đó, Giáo Hội
tự thánh hóa mình và thánh hóa nhân loại.
Vì là Giáo Hội của Chúa Kitô, yếu tố Thiên Chúa
mới là chính. Yếu tố con người chỉ là phụ thuộc. Vì thế, sự bất toàn của con
người, là điều không thể tránh khỏi, sẽ là lý do tốt nhất để khẳng định mạnh
mẽ và dứt khoát rằng, phép lạ trong lòng Giáo Hội do ơn Chúa luôn luôn được
tiếp diễn. Bởi chỉ có phép lạ ấy, sống và nhờ phép lạ ấy, Giáo Hội của Chúa
Kitô bền vững qua mọi thời gian.
Ngay từ thuở ban đầu, dù Đức Giáo Hoàng Phêrô đã
có lần cho thấy sự bất toàn, sự yếu đuối của cái gọi là “nhân tính.” Nhưng
Thiên Chúa cần cái nhân tính ấy để làm nên Giáo Hội, để cộng tác với Thiên
tính của Người, xây dựng và củng cố Giáo Hội. Thiên Chúa cần nhân tính ấy,
để chính Người được vinh danh, được cả sáng. Thiên Chúa cần nhân tính ấy, để
trong nhân tính, Người xây dựng Thiên tính cao cả của Người. Người cần nhân
tính ấy để biến một Phêrô, tưởng chừng rất nhỏ bé, đã có thể trở nên đá tảng
của Giáo Hội của Người. Vì thế, Chúa Giêsu đã không gọi các thiên thần,
nhưng lại gọi tông đồ Phêrô và bảo: “Con là Đá. Trên Đá này Thầy xây Hội
Thánh của Thầy.”
Tiếp tục với Phêrô và tông đồ đoàn, qua dòng lịch
sử, thế giới vẫn luôn luôn chứng kiến rất nhiều cái nhân tính ấy của Giáo
Hội. Bởi sau Phêrô và tông đồ đoàn, Chúa Kitô vẫn tiếp tục chọn và gọi những
con người tiếp nối sự nghiệp phát triển của Giáo Hội. Càng có đông những con
người được trao ban ơn gọi, cái nhân tính của Giáo Hội càng lộ rõ, càng dễ
nhận ra. Nhưng thật lạ lùng, dẫu chỉ là những con người trong trần thế hợp
thành Giáo Hội, vẫn luôn luôn có một chiều kích thánh thiên và siêu hình, để
nhờ đó, Giáo Hội có một khả năng sống phi thường. Vì thế, càng lâm vào thử
thách bao nhiêu, Giáo Hội càng có sức tự khẳng định mình bấy nhiêu. Bằng
chứng là trong lịch sử của Giáo Hội, giai đoạn nào có nhiều biến động nhất,
ngay cả những lúc nhìn bề ngoài, hình như cái Thiên tính bị che lấp bởi nhân
tính, tội lỗi của những người con của Giáo Hội lồ lộ trước mắt thế giới, thì
ngay trong những giai đoạn bi đát như thế, Giáo Hội lại có nhiều những chứng
nhân thế giá nhất, nhiều anh chị em được nhìn nhận là hiển thánh nhất.
Đúng thật, Chúa đã không sai lầm khi trao Giáo Hội
của Người cho chúng ta. Bởi Chúa cần nhân tính của ta để thể hiện Thiên tính
của Người. Bởi Giáo Hội không là Giáo Hội của một con người nào, nhưng là
Giáo Hội của chính Chúa. Giáo Hội ấy có sức sống mãnh liệt là Chúa Thánh
Thần, có ơn cứu độ đời đời được mua bằng giá máu của Chúa Kitô. Là Kitô hữu,
trung thành với giáo huấn của Chúa Kitô và giáo huấn của Giáo Hội của Người,
chúng ta nguyện xin Chúa cho mình luôn biết làm rạng danh Thiên Chúa khi
sống trong lòng Giáo Hội hôm nay●
Trở về Muc Lục