|
VĂN PHẠM VIỆT NAM: VĂN PHẠM CỦA CÁC THÁNH
Vũ Thanh Đọc tựa bài thấy không xuôi: có chút ngạo nghễ, tự hào về tiếng Việt hơi vô lối. Văn phạm Việt Nam là gì mà so sánh với văn phạm của các Thánh là đấng bậc thiêng liêng, thuộc thế giới trên? Thế nhưng có lẽ còn đỡ hơn là “Ngữ Pháp Tiếng Việt, Ngữ Pháp của Các Thánh Trên Trời” nghe càng nổ, gồ ghề hơn nữa. Tâm lý một số người Việt khá cực đoan: có người coi thường tiếng Việt, cho rằng ngôn ngữ của mình không có khả năng diễn đạt, thiếu thốn từ vựng, ngôn từ không rõ ràng, văn phạm câu cú không được chặt chẽ như tiếng La tinh, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức, và còn nhiều thứ tiếng khác nữa mà những người học tiếng nước ngoài thường đem ra so sánh để thấy tiếng mẹ đẻ sao mà yếu quá. Thảo nào ngày xưa cha ông hay nói, ‘nôm na là cha mách qué,’ cũng là cách chê bai tiếng Nôm, khi so sánh với Hoa ngữ, là tiếng nói của người Trung Hoa thời đó làm bá chủ, bắt các nước chư hầu phải triều cống và học tiếng của họ để dễ dàng thống trị. Trái lại, có người Việt, mặc dù đã học và tìm hiểu một số ngôn ngữ ngoại quốc, lại thấy tiếng mẹ đẻ của mình sao hay quá, thâm thúy quá, diễn đạt tình cảm sâu sắc chẳng có ngôn ngữ nào so sánh được. Họ còn tự hào rằng vốn từ của chúng ta vô cùng phong phú, và đưa ra những ví dụ, chẳng hạn để diễn tả động từ “cười” mà thôi, thì tiếng Việt chúng ta cũng có lắm từ để diễn tả như: cười mỉm, cười ruồi, cười khan, cười mím chi, cười tủm tỉm, cười sằng sặc, cười bò lăn, cười nắc nẻ, cười duyên, cười ngặt nghẽo, cuời hềnh hệch, cười khúc khích, cười lỏn lẻn, cười gượng, cười mát, cười dòn, cười gằn, cười ồ, cười tình, cười khẩy…Và để diễn tả hành động khuân vác, người Việt cũng có những từ thật hay như: khuân, vác, đeo, tha, mang, đội, đẽo, xách, quẩy…mà theo họ, chẳng có ngôn ngữ nào trên thế giới sánh bằng và không thể diễn tả được. Thực ra, những nhận xét trên đều mang tính chủ quan, đầy mặc cảm và rất cực đoan. Nhiều người ngoại quốc cũng rất hay tự hào về ngôn ngữ của họ. Phần nhiều, tình cảm yêu quý tiếng nói, chữ viết của ngôn ngữ mẹ đẻ chỉ là do thói quen. Lấy ví dụ hai em gốc Việt trăm phần trăm, nhưng sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ, khi trò chuyện tâm tình với nhau, hỏi các em dùng tiếng gì? Đương nhiên là tiếng Mỹ. Các em không dùng tiếng Việt Nam để bày tỏ tình cảm, vì không thể diễn tả tình cảm sâu sắc của mình qua tiếng Việt được, dù cả hai đều hiểu và nói tiếng Việt được ít nhiều. Đối với các em, tiếng Anh là ngôn ngữ chính, vì đã phải dùng từ lúc bé, lúc còn ở bậc tiểu học cho đến khi vào đại học. Hỏi kỹ hơn các em cho biết, “Tuy hiểu tiếng Việt đấy, nhưng dùng để bày tỏ tình cảm thấy kỳ kỳ sao đó…” Hai cô cậu có thể nói với nhau, ‘I love you’, dễ dàng hơn là ‘anh yêu em’ hoặc ‘em yêu anh.’ Thế thì khuynh hướng trên cho rằng tiếng Việt diễn đạt tình cảm sâu sắc hơn thì cần phải xét lại. Hơn nữa, nếu cho rằng tiếng Việt giàu nhạc tính thì tiếng Ý, tiếng Pháp cũng đâu có thua gì? Mà nếu chịu khó tra cứu tự điển Thesaurus mới vỡ lẽ ra là ngoài vốn từ vựng kỹ thuật, khoa học, các từ dùng để diễn tả tình cảm. những sinh hoạt thường nhật của các tiếng nước ngoài cũng nhiều lắm. Như thế thì hoá ra những người nào đó, trong đó có người viết, chỉ có mặc cảm tự ti, thêm chút bi quan, rồi chê tiếng Việt? Xin thưa ngay đâu phải thế, vì nếu không đã không có “Văn Phạm Việt Nam - Văn Phạm Các Thánh” này. Không kể đến các vị thời trước, con nhà giàu, đi học trường tây trường đầm, được học ngoại ngữ bé, thì phần đông các học sinh ở Việt Nam sau kỳ thi tiểu học để bắt đầu vào cấp Trung Học đều được học sinh ngữ, nghĩa là ngoài tiếng Việt, thì phải học thêm một hai sinh ngữ nào khác nữa: Pháp hoặc Anh chẳng hạn. Đến giờ học sinh ngữ là học trò ngao ngán vì ngoài việc học các vocabularies mới, thầy cô giáo bắt học sinh học chia động từ (conjuger des verbes), rồi học về giống đực, giống cái (masculin, féminin), đến học thì (temps, tenses), accord du participle passé, mode, conditional sentences, thấy sao mấy thứ tiếng Anh Pháp này lộn xộn quá. Học riết chục năm sau lại quen và thấy ngôn ngữ của họ cũng hay, đâu ra đó, có tính khoa học: như đạo quân có kỷ luật, hàng lớp hẳn hoi, sẵn sàng ra chiến trận, tướng tá binh sĩ đầu đuôi xuôi lọt. Cái khó ban đầu sau khi đã qua được ngưỡng ‘phá ngu,’ được điều kiện hoá nên thấy cái khó ngày xưa giờ lại là kỷ cương, giúp dễ dàng cho việc trình bày tư tưởng, lý luận chặt chẽ, gọn gàng và sáng sủa. Chỉ tội cho thằng (con) bé hồi nhỏ, cứ phải lo sao viết cho hợp thì, hợp temps mãi mà không nhớn lên được. Mãi cho đến gần đây, nhân đọc được bài viết Saintly Grammar của tác giả Van Oostin thì mới thấy tiếng Việt mình sao hay quá. Văn phạm kiểu Việt nam đã được các Thánh trên trời sử dụng từ lâu rồi. Xin chia sẻ xem quý vị có đồng ý không nhé! Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, (hai ngoại ngữ khá thông dụng với người Việt Nam chúng ta), viết một câu bình thường, cần phải có vị ngữ (predicate), mà trong vị ngữ thì phải có động từ được chia (conjugated verb), mà động từ được chia thì phải theo thì (temp), hoặc hiện tại, hoặc quá khứ, hoặc tương lai. Phức tạp hơn và diễn tả cho có ngọn ngành thì phải chú ý đến hiện tại hoàn toàn (present perfect), quá khứ hoàn toàn (past perfect), và tương lai quá khứ (future perfect) và còn phải học và chia tới cái gọi là conditional present, future perfect hay gì gì nữa chứ. Đúng là lắm chuyện! Tiếng Việt ta thì hiện tại, quá khứ, và tương lai cứ thế nhập làm một là ăn chắc. Cần lắm thì thêm chữ “đã”, hoặc “sẽ” là xong, còn đa phần thì chỉ cần động từ: Ăn chưa? Ăn rồi…Đi không? Chưa đi! Mai mốt đi cũng được. Học xong chưa? Vẫn đang học đây…Thế là diễn tả được tất! (Đâu cần phải Would you, Should, Had, Sera, Serons…làm gì cho rắc rối cuộc đời). Ấy, thế mà theo Van Oosting, những người sử dụng tiếng Anh (và cả người dùng tiếng Pháp cùng nhiều ngôn ngữ khác nữa) thì khó có thể hiểu, tin và sống mầu nhiệm thông công với Cộng đoàn Các Thánh Trên Trời được. Sao vậy? Bởi vì những người quen sử dụng ngôn ngữ cách chính xác và mang tính khoa học quá bị giới hạn do việc chia động từ chính xác theo thời gian. Này nhé, Giáo Hội Công giáo tin vào sự sống đời sau. Sau khi chết, hồn nhà ta cứ như trong quân đội, đang từ Tiểu Đoàn Giáo Hội Chiến Đấu, tuỳ theo công trạng lúc sinh tiền, hoặc bổ sung vào Trung Đoàn Giáo Hội Thanh Luyện (Đau Khổ), hoặc thăng cấp lên Sư Đoàn Giáo Hội Vinh Quang. Mà theo đức tin, thì trong cộng đoàn các thánh, luôn có sự liên kết chặt chẽ thường trực giữa những người đang sống ở trần gian (nghĩa là đang ở trong tiểu đoàn Giáo Hội Chiến Đấu (Lữ Hành), với những người đã sống, (Giáo Hội Đau Khổ Thanh Luyện hoặc Vinh Quang), tức là những người đã từ giã đời này mà yên nghỉ. Nếu đã chết thì động từ được chia phải ở quá khứ, mà quá khứ thì không còn nữa, mà không còn nữa thì làm sao có thể tin và hoạt động, hiểu được một Giáo Hội Khải Hoàn. Hay ít ra là Giáo Hội đang thanh luyện trong luyện hình? Nhà thơ người Ái Nhĩ Lan, William Butler Yeats có nhiều viễn tượng (vừa xa vời, vừa tưởng tượng) trong sáng tác của mình đã đau khổ khám phá ra rằng ngôn ngữ của ông không chịu đơn giản chút nào. Một phần năm các sáng tác của ông trình bày những viễn tượng này. Mà viễn tượng thì nằm ngoài không gian, lại không bị thời gian chi phối. Chính vì giới hạn của ngôn ngữ phải chia mà nhà thơ phải sử dụng động từ dưới dạng Danh Động Từ (Gerund - Gérondif), tức là những chữ tưởng là động từ mà không phải động từ vì không phải chia gì cả. Đó là một cách thoát khỏi vòng “kim cô” thời gian mà Yeast đã dùng. Ngôn ngữ Việt Nam ta thì ngon lành. Người Việt chúng ta không phải bận tâm mất sức đến những việc chia thì (temp, tense), hợp thời gian chi cả. Động từ là động từ, thế thôi. Cần nói chuyện quá khứ thì cùng lắm phải thêm chữ “đã”, bàn chuyện tương lai nếu muốn thì thêm chữ “sẽ.” Mà có mấy ai, mấy khi cần đến những chữ này để làm cho rắc rối câu văn. Đọc Kinh Thánh mà xem, thường khi gặp câu “Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng..,” đâu cần chia động từ nói (bao giờ, quá khứ, hiện tại, tương lai..) Chính thế, ngôn ngữ Việt Nam cho chúng ta bắt gặp một Chúa Giêsu đang sống động thật sự ngay ở hiện tại này với chúng ta, đúng thần học quá đi chứ, mà đúng thật đấy, Chúa Giêsu Kitô đang hiện diện nơi này, ở đây và nói với anh em, không đúng sao? Đâu phải chỉ là lời nói của Chúa Giêsu của 2000 năm về trước cho các Tông Đồ? Chúng ta đang có Chúa hiện diện, và được đọc, đang nghe Lời của Ngài ngay lúc này đây. Nếu phải chia động từ cho đúng theo hiện tại, quá khứ hoặc tương lai, thì các thánh đã qua đời rồi, phải để hành động ở quá khứ, thì làm sao thông công được với người đang còn sống ở hiện tại đời này. Còn nếu người còn sống muốn nói chuyện với người đã vào một nơi quá khứ, tương lai khác thì sử dụng động từ ở thời nào? Đọc lại Kinh Thánh xem thử: Moses said to God (Ông Mô-sê (đã) thưa cùng Thiên Chúa); God exclaimed (Chúa Giêsu (đã) thốt lên). Toàn là những chuyện quá khứ, mà quá khứ là những gì đã qua, con người đã khuất rồi, qua rồi, chết rồi, làm gì có ảnh hưởng sâu sắc và biến đổi được ai? Làm sao có chuyện sống trong Giáo Hội Khải Hoàn được nữa. Trình bày như thế chắc cũng chưa rõ. Lấy ví dụ khi phải nói về người đã qua đời: thường ta thêm vào chữ “quá cố.” Cứ tưởng tượng một người Việt Nam cầu nguyện hoặc thưa chuyện thế này…”Thưa Chúa Giêsu quá cố..” Thưa Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị quá cố…” Không, người Việt chúng ta chẳng bao giờ phải phiền toái mất thì giờ cho những việc như vậy bởi vì động từ chúng ta dùng trong ngôn ngữ tiếng Việt bao giờ cũng chỉ ở hiện tại và chỉ hiện tại. “Thánh Gioan đưa Đức Mẹ về nhà mình.” Jesus loved Martha and her sister and Lazarus, “Đức Giê-su quý mến cô Mác-ta, cùng hai người em là cô Ma-ri-a và anh La-da-rô.” (Ga 11:5). Trong khi người nước ngoài hoặc người phải học ngôn ngữ khác phải khổ sở trong việc chia động từ, để hiểu được mầu nhiệm Hội Thánh Thông Công, đến nỗi các tác giả phải kêu gọi sử dụng việc dùng thì hiện tại, bây giờ và mãi mãi (the present time, forever and ever. Amen!) thì người Việt chúng ta chẳng phải bận tâm, cứ dùng chính ngay ngôn ngữ và văn phạm của tiếng mẹ đẻ mình mà diễn tả và sống cái mầu nhiệm khó hiểu nhưng rất gần gũi này. Không phải chúng ta được an ủi biết Chúa Giêsu đã sống lại và hiện đang sống cùng với chúng ta khi chúng ta tiếp xúc, đọc và nghe Kinh Thánh sao? Ngài nói với mình trong các biến cố đời sống, miễn là ta dành thì giờ để đọc và để cho Lời đó tác động. Hơn nữa, các thánh cũng đã ở cùng với chúng ta tự thuở nào rồi. Điều mà một số người than phiền tiếng Việt không rõ ràng thì phải chăng đã mang lại cho con dân Việt Nam chúng ta cơ hội đọc Phúc Âm sống động bằng ngôn ngữ của mình, và thú vị khám phá ra rằng, ngôn ngữ yêu dấu của chúng ta, ngôn ngữ Việt Nam lại là ngôn ngữ chuyển tải, trình bày được cách dễ dàng sống động và phù hợp với nền “Thần Học Các Thánh Thông Công.” Nói cách khác, ngôn ngữ và văn phạm Việt Nam tự bao giờ đã là ngôn ngữ diễn tả mầu nhiệm Phục Sinh sống động nhất, nhiệm mầu nhất, đó là ngôn ngữ của các thánh trên trời tự thuở đời đời. Đó là niềm an ủi rất lớn lao và là niềm tự hào cho những người đang mặc cảm về tiếng Việt nghèo nàn, lạc hậu, và thua sút nền văn minh của các ngôn ngữ khác trên thế giới. Nhưng cũng đừng quá tự hào, vì trên trời cũng có thể dùng văn phạm giống văn phạm trong ngôn ngữ của ta, tuy nhiên các thánh lại nói với cung giọng thiên cung thì cũng không dễ hiểu đâu nhé, nếu không thì Lời Chúa đâu cần phải mất công dịch ra hằng trăm ngôn ngữ trên thế giới, và hơn 2,000 năm rồi mà con người vẫn chưa học được điều Thiên Chúa muốn bày tỏ cho nhân loại. Và vì không hiểu hết, nên chúng ta sống không đúng với những gì Ngài mời gọi, và vì chưa sống được nên càng cần khiêm tốn học hỏi, để rồi cả đời sẽ thấy tiếng Việt rất đẹp và hay; rồi xem lại các ngôn ngữ khác thì vẫn chuyển tải được nét đẹp của nền văn hoá của họ: dù là tiếng Anh, Pháp, Đức, Latinh, Hoa ngữ, Do Thái, Hy Lạp…vẫn cần được tìm hiểu, để hiểu nhau hơn, để yêu mến nhau, để mà cùng nói chuyện thiên cung bằng ngôn ngữ của loài người.
Và cuối cùng thì…Tiếng Việt muôn năm! Hoan hô
Tiếng Việt! Các Thánh còn sử dụng văn phạm kiểu Việt Nam, tại sao ta lại
không ra sức cổ võ việc học và sử dụng Tiếng Việt mến yêu?●
|