
|
Số 54, Ngày 13-8-2005
Đức Tin Tạo Nên Sức Mạnh Tinh Thần - Nguyễn Chính Kết Lòng Mẹ - Vĩnh An Theo Đức Mẹ Lên Trời - Gm. Bùi Tuần Mừng Kính Mẹ Maria Hồn Xác Lên Trời - Mẹ Thiên Chúa - Lm Vũ Xuân Hạnh Một Vài Suy Tư về Lòng Sùng Kính Đức Maria Trong GHCG – Lm. Trần Đức Phương Hành Hương Nội Tâm - Giao Duyên Cần Phải Có Gì Để Thức Tỉnh? - Khổng Nhuận Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng (tt) - Lm. Michet Hubaut – Maranatha dịch Theo Vết Chân Mẹ - Con Chiên Nhỏ Tâm Tình Cùng Bạn Đọc – Thư Bạn Đọc
Kính thưa Quý độc giả, Hằng năm đến ngày rằm tháng bảy âm lịch (vào khoảng giữa tháng tám) các chùa đều tổ chức lễ Vu Lan để các Phật tử đến cúng dường, cầu nguyện cho các vong linh được siêu sanh tịnh độ, và cầu cho cha mẹ có được đời sống an lành phước lộc. Đại Lễ Vu Lan là dịp các Phật tử nhớ ơn sanh thành dưỡng dục của mẹ cha. Trong ngày này, nhớ ơn mẹ, ở Nhật có tục lệ cài hoa hồng lên áo. Người nào còn mẹ được cài lên áo hoa hồng đỏ, người nào không còn mẹ thì cài hoa hồng trắng. Một vị thiền sư Việt Nam đi du học ở Nhật thấy tập quán này hay và có ý nghĩa nên du nhập tập quán này vào Việt Nam. Bài hát quen thuộc và phong trào "Bông Hồng Cài Áo" được Phật tử hưởng ứng và phổ biến rộng rãi từ đó. Tình mẹ thương con bao la như trời như biển. Nói đến tình mẹ thì không có thứ tình cảm nào đậm đà và cao quý như tình mẹ thương con. Đã có biết bao nhiêu vần thơ, bao nhiêu câu hò, điệu hát ca tụng tình mẹ thiêng liêng. Có một sự trùng hợp dễ thương là cũng vào trong những ngày giữa tháng tám này, Giáo Hội Công giáo mừng kính Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Có điều gì đó gần gũi, hiệp thông của những người con dân Việt khi nói về Lòng Mẹ, phải không? Trong lãnh vực, tôn giáo, chính trị, kinh tế, con người thường tìm đủ lý lẽ để phân biệt, tách rời, phe nhóm; nhưng khi trái tim lên tiếng, nhất là trái tim của người mẹ thì thường đem chúng ta gần nhau đến không ngờ. Vâng, văn hoá Việt Nam gắn liền với cuộc sống và diễn tả tình cảm con người Việt Nam rất sâu sắc, nhất là diễn tả tình mẹ con, một thứ tình cảm thiêng liêng cao quý nhất, mà không ai trong chúng ta có thể chối từ. Ngay chính Con Một Thiên Chúa Nhập Thể Làm Người cũng đã nhận lấy con đường bình thường mà trân quý ấy. Maria, người nữ Sion đã vâng phục ngay từ ngày đầu khi thiên sứ truyền tin, nhận lấy những nhọc nhằn vất vả của vai trò làm Mẹ. Mẹ đã đảm nhận trọn vẹn thiên chức cao quý nhưng không thiếu khổ đau như bất cứ người mẹ nào trong nhân loại. Trong lòng tin, người mẹ ấy đã âm thầm vâng phục, đón nhận, lắng nghe và bước theo Con của mình trong hành trình cứu độ. Cuối cùng, người nữ ấy được Thiên Chúa đoái thương cất nhắc về Trời cả hồn lẫn xác, một trong bốn đặc ân cao cả Thiên Chúa đã ban cho Mẹ. Đức tin Công giáo dạy chúng ta tin khi qua khỏi đời này, chúng ta sẽ được hưởng cuộc sống đời đời với Thiên Chúa Tình Yêu, nơi đó không còn khóc lóc thảm sầu, được chiêm ngắm vinh quang Thiên Chúa cách tỏ tường viên mãn. Maria, Mẹ của Chúa Giêsu - đã được xót thương và hưởng ân phúc này, cũng là niềm hy vọng cho tất cả mọi tín hữu chúng ta. Trong tâm tình và niềm vui ấy, Maranatha hân hoan cùng với Giáo Hội Mừng Kính Lễ Mẹ Mông Triệu với một số bài suy niệm và tìm hiểu tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, do Đức Piô XII qua tông hiến Munificentissimus Deus, ngày 01 tháng 11 năm 1950 đã công bố. Chúa nhật XX Thường Niên tuần này, Phụng Vụ Lời Chúa nói lên sự kiên trì của người mẹ thành Canaan cầu xin cho con của mình. Qua bài Tin Mừng, cũng thế, lòng mẹ yêu thương, hy sinh, chiụ đựng luôn đóng ấn, trải dài trong những ngày tháng của đời ta, tình yêu ấy cộng vào với lòng tin của người phụ nữ đánh động lòng Đức Giêsu. Mẹ Maria của chúng ta, đang được hưởng niềm vui Phục Sinh trên trời có thể nào lãng quên con cái mình trên đường hành hương về quê trời. Trong cuộc hành hương nội tâm hay lữ hành nơi dương thế, chúng ta tin rằng có Mẹ Maria luôn cầu bầu che chở, trong niềm hy vọng sẽ được về trời với Mẹ, tín hữu chúng ta nhìn lên Mẹ như mẫu gương của lòng cậy trông, kiên nhẫn với tin yêu để chia sẻ với người, với đời tình yêu mà ta đã nhận được với lời tha thiết nguyện xin: Maranatha, lạy Chúa, xin ngự đến!
MARANATHA
TIN MỪNG CHÚA NHẬT XX ĐỨc tin tẠo nên sỨc mẠnh tinh thẦn
Nguyễn Chính Kết 1. Thái độ của dân Do Thái đối với dân ngoại Trong bài Tin Mừng nói về việc Đức Giêsu chữa đứa con gái bị quỷ ám của một phụ nữ người Cana (x. Mt 15,21-28), Đức Giêsu có một vài câu nói khó hiểu, thậm chí khó chấp nhận đối với người thời đại. Muốn hiểu được, ta cần nắm vững bối cảnh của bài Tin Mừng này. Miền Tia và Siđôn – nơi Đức Giêsu và các môn đệ Ngài đến trong bối cảnh bài Tin Mừng này – cũng như miền Cana, là những miền đất của dân ngoại nằm trong lãnh thổ Do Thái. Tương tự như Chợ Lớn là vùng dân cư người Hoa, Phan Rang là vùng của người Chàm tại Việt Nam. Người Do Thái, đặc biệt người Pharisêu, coi dân ngoại bang hay ngoại giáo là những người tội lỗi, bị ô uế về mặt tâm linh, nên họ khinh bỉ ra mặt. Thái độ này tương tự như của người Bàlamôn ở Ấn Độ đối với tiện dân Paria: ngay cả bóng do mặt trời của những người này ngả trên người họ cũng khiến họ phải về nhà tẩy uế. Người phụ nữ đến với Đức Giêsu trong bài Tin Mừng là người Cana, là người ngoại bang và cũng là ngoại giáo. Vì thế, khi đến với Đức Giêsu là người Do Thái, bà đã mường tượng trước thái độ kém thân thiện có thể có của Đức Giêsu đối với bà. Do đó sau khi yêu cầu Ngài chữa bệnh cho con gái bà, bà không ngạc nhiên khi thấy Đức Giêsu im lặng không đáp, và các môn đệ Ngài tỏ thái độ không muốn bà làm phiền Ngài. Thái độ của Đức Giêsu, nếu không hiểu, ta có thể kết luận rằng Ngài thiếu tình người vì Ngài đã tỏ ra không sẵn sàng giúp bà chỉ vì bà là dân ngoại: «Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ítraen mà thôi», thậm chí còn ví dân ngoại như bà là chó nữa: «Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con». Thật ra, Ngài muốn thử thách niềm tin của bà vào Ngài, bằng cách thử làm cho bà nản lòng xem thái độ bà thế nào. Vì điều kiện để Ngài có thể chữa lành con gái của bà theo như ý bà xin là bà phải có đức tin mạnh mẽ. Nếu bà không có đức tin, Ngài không thể giúp bà được gì cả. Thật vậy, khi Ngài về quê hương của mình là Nadarét, Tin Mừng cho biết: «Người không làm nhiều phép lạ tại đó, vì họ không tin» (Mt 13,58). Vì thế, việc thử thách đức tin của bà là chuyện cần thiết. Và Ngài đã thử bà bằng cách tỏ ra coi thường bà giống như những người Do Thái khác vẫn đối xử với bà. Nhưng bà đã vượt qua thử thách ấy, bà đã thắng được lòng tự ái dân tộc của bà và không nản lòng. Điều ấy chứng tỏ bà tin vào quyền năng và tình thương của Ngài. Vì thế, Ngài đã cho bà được toại nguyện. Ngài nói: «Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy». Và con gái bà đã được khỏi ngay lúc ấy. 2. Điều quan trọng là phải có đức tin Để một phép lạ hay lời cầu xin được thành tựu, cần hai yếu tố: quyền năng Thiên Chúa và niềm tin của con người. Yếu tố đầu không còn là vấn đề, vì Thiên Chúa luôn sẵn sàng ban ơn cứu giúp con người vì tình thương vô biên của Ngài. Vì thế, yếu tố quyết định thành tựu hay không nằm ở phía con người: con người có đủ niềm tin hay không. Thật vậy, mỗi lần Ngài chữa bệnh thành công cho một người nào, Ngài không nói «Ta đã cứu chữa con» cho dù nói như vậy rất đúng, mà nói «Lòng tin của con đã cứu chữa con» (Mt 9,22; Lc 17,19). Thiếu đức tin về phía con người, dù Ngài có muốn cứu giúp, Ngài cũng không làm được, như trường hợp Ngài về Nadarét, Ngài đã không biểu lộ quyền năng của Ngài được vì dân chúng thiếu đức tin, cho dù dân ở đây đều là người cùng tôn giáo với Ngài (x. Mt 13,58). Khi con người có đức tin, cho dù là người ngoại giáo, Ngài vẫn thực hiện được những phép lạ. Đây là một điều đáng cho ta suy nghĩ về khả năng nhận được ơn cứu độ: người theo tôn giáo chân chính mà thiếu đức tin và tình yêu có thể không được ưu tiên nhận ơn cứu độ cho bằng người ngoại giáo nhưng có đức tin và tình yêu, biết sống theo tinh thần của Đức Giêsu. Khi có đức tin mạnh mẽ, thì điều ta mong muốn sẽ thành tựu: «Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: “rời khỏi đây, qua bên kia!” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được» (Mt 17,20). Gương của Phêrô khi ông đi trên mặt nước (x. Mt 14,28-31) cho ta thấy: sở dĩ ông làm được chuyện ấy vì ông tin vững chắc rằng ông sẽ làm được với sự trợ giúp của Chúa. Nhưng đang đi trên mặt nước ngon lành, bỗng thấy gió thổi, ông liền nghi ngờ, thế là ông bị chìm xuống ngay lập tức trước mặt Đức Giêsu. Điều ấy cho thấy rõ ràng ông đi được trên nước là vì ông tin vững mạnh, và ông bị chìm xuống là vì lúc ấy ông thiếu đức tin. Như vậy có thể nói: không phải ông đi trên nước mà đi trên đức tin của mình. Đức tin của ta chính là mặt đất để ta bước đi trong đời sống tâm linh của mình. 3. Tại sao những ước nguyện của ta lại không thành tựu? Sở dĩ ta ước nguyện, quyết tâm mà không thành tựu, chính vì ta thiếu niềm tin, tin không đủ mạnh. Vì đức tin của ta nhiều khi chỉ là thứ đức tin được chấp nhận một cách lý thuyết hay chỉ được tuyên xưng mạnh mẽ ngoài miệng thôi. Đó là thứ đức tin bằng lời nói chứ không phải đức tin bằng hành động. Nếu có đức tin thật sự và vững vàng, ta sẽ có một sức mạnh tinh thần rất đáng kể, và đời sống của ta chắc chắn sẽ thay đổi theo chiều hướng lạc quan. Về tinh thần, người mạnh mẽ và người yếu đuối khác nhau ở chỗ: người mạnh mẽ là người dám tự tin vào mình, tin mình có sức mạnh và khả năng thực hiện nhiều việc, còn người yếu đuối không dám tự tin vào mình. Sự tự tin vào bản thân mình của người Kitô hữu được xây dựng trên niềm tin vững chắc vào tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa. Người có đức tin mạnh mẽ không chỉ tin bằng lời nói, mà tin bằng hành động thực tế. Họ tin rằng Thiên Chúa yêu thương họ vì bản chất Ngài là tình yêu (x.1Ga 4,8.16), Ngài không thể không yêu thương, không thể lãnh đạm với những nhu cầu khẩn thiết của họ. Và tình yêu của Ngài là thứ tình yêu đầy quyền năng, không sự gì là không làm được (x. Lc 1,37). Vì thế, khi họ kết hiệp với Ngài bằng đức tin và tình yêu, thì tình yêu của họ cũng sẽ trở thành một thứ tình yêu quyền năng, có khả năng làm được mọi việc. Họ sẽ có kinh nghiệm y như Phaolô: «Tôi có thể làm được mọi sự nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi» (Pl 4,13). Tuy nhiên, để có được kinh nghiệm về sức mạnh như Phaolô, điều kiện tiên quyết là họ phải từ bỏ chính mình, coi nhẹ «cái tôi» của mình, đồng thời ý thức sự hư vô và bất năng của mình đã. Ý thức sự bất năng của mình là nhận thức rằng nếu không nhờ vào quyền năng của Thiên Chúa, họ sẽ không làm được gì cả: «Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được» (Ga 15,5). Vì thế, không bao giờ họ hãnh diện hay lên mặt với ai khi mà tất cả những gì họ làm được đều nhờ vào quyền năng của Thiên Chúa. Nhờ đó, lời cầu nguyện của họ trước Thiên Chúa rất đắt giá vì tâm hồn họ tràn đầy tình yêu, không mang tính vị kỷ, và cũng tràn đầy tin tưởng vào tình yêu và quyền năng của Ngài. Họ sẽ được Thiên Chúa đối xử với họ như đã đối xử với Abraham: «Ta sẽ chúc phúc những ai chúc phúc ngươi; Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc» (St 12,3). Đương nhiên, không phải những người tin vững vàng vào Thiên Chúa thì sẽ không gặp khó khăn, thử thách, nghịch cảnh hay đau thương. Những thứ này luôn luôn là những dụng cụ Thiên Chúa dùng để thánh hóa những người Ngài yêu thương, kể cả Đức Giêsu, Con của Ngài. Họ càng vững mạnh trong đức tin thì họ càng được Thiên Chúa thử thách, để khi vượt thắng những thử thách ấy, đức tin của họ vào Ngài sẽ vững mạnh hơn, và họ được Ngài chúc phúc hơn. Bí quyết để họ vượt qua thử thách chính là đặt niềm tin vào Thiên Chúa nhiều hơn nữa. Nếu họ không vượt qua được thử thách vì chưa mạnh tin đủ thì đức tin của họ sẽ bị suy giảm. Mỗi lần được thử thách là một dịp để họ chiến thắng nếu họ dám tin vào Chúa, để sau đó đức tin họ vững mạnh hơn. Nhưng thử thách cũng sẽ là dịp để họ thất bại nếu họ không đặt đủ niềm tin vào Ngài, và đức tin của họ sẽ ngày càng bị suy yếu, sự tự tin nơi bản thân và sức mạnh tinh thần của họ cũng sẽ giảm đi. Vì thế, điều quan trọng là ta phải củng cố đức tin của mình mỗi ngày, và kiên trì với đức tin khi bị thử thách. *** Người phụ nữ Canaan trong bài Tin Mừng này là người ngoại giáo, nhưng bà tin tưởng vững chắc vào tình yêu quyền năng của Đức Giêsu, nên bà đã đạt được ý nguyện của bà. Trong khi đó, những người cùng quê hương, cùng tôn giáo với Ngài ở Nadarét lại không đạt được điều ấy. Như vậy, người Kitô hữu cần ý thức sự quan trọng của đức tin và tình yêu đối với Thiên Chúa, với Đức Giêsu và với tha nhân trong đời sống tâm linh của mình. Đừng nên quá cậy vào tôn giáo chân chính của mình mà quên đi điều cần thiết hơn rất nhiều là đức tin và tình yêu của ta. Thiếu nó, đời sống tâm linh của ta sẽ bị hụt hẫng, không phát triển được, và không có giá trị trước mặt Thiên Chúa●
“Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào, Chẳng ai trong chúng ta lại không biết câu hát này. Với giai điệu thật mượt mà, sâu lắng, với ca từ thấm đẫm chất thơ gợi lên những hình ảnh thật bình dị, gần gũi, nhạc sĩ Y Vân đã viết thành một bài hát tuyệt vời ca ngợi tình mẹ. Thương con mẹ nào có quản nắng mưa, có ngại gì sớm khuya vất vả… Tình mẹ mãi mãi là như thế, dẫu ở thời nào, dẫu thuộc nền văn minh văn hóa nào và dẫu ở đâu đâu tình mẹ cũng vẫn cứ mãi mãi là như thế. Bà mẹ Canaan trong bài Tin Mừng hôm nay là một hình ảnh sống động minh họa cho tình yêu muôn thuở đó. Chúng ta cảm động trước tình thương con lớn lao cao cả của bà, hơn thế nữa nơi bà chúng ta còn học được tấm gương của một lòng tin kiên vững. Tình yêu và lòng tin ấy cứ xoắn quyện với nhau. Tình yêu dẫn đến lòng tin. Tình yêu kiện cường lòng tin. Biểu lộ của lòng tin cũng chính là biểu lộ của tình yêu. Lòng tin và tình yêu cho bà có được một sức mạnh thật kỳ diệu, vượt thắng mọi thử thách và đi đến cùng trong việc cứu chữa con bà. Thương con hẳn bà đã chạy thầy chạy thuốc, đã khấn vái tứ phương trước khi gặp được Chúa Giêsu. Không rõ nhờ đâu mà bà biết được Đức Giêsu, nhưng khi thấy Người bà tin rằng cơ may đã đến. Bà gọi Người là Con Vua Đavít, bà đặt trọn niềm tin vào Người, vị cứu tinh duy nhất của bà. Dẫu biết rằng bà thuộc dân ngoại, còn Chúa Giêsu là người Do Thái, hai dân tộc có mối thù truyền kiếp không giao du tiếp xúc với nhau, nhưng lòng thương con đã khiến bà bất chấp ranh giới cấm kỵ, hận thù, để đến với Chúa trong tư thế một người xin ơn. Thương con nên khổ vì con. Người đàn bà Canaan xin với Chúa Giêsu: “Xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỉ nhập khổ sở lắm.” Đứa con bị quỉ nhập khổ sở là đúng rồi. Thế nhưng thực tế ai khổ hơn ai, đứa con hay bà mẹ? Con đau, khổ một, thì mẹ khổ mười. Mỗi lần con rên, con quằn quại là lòng mẹ quặn đau như muối xát, mẹ ước gì được lãnh lấy mọi cơn đau của con. Chắc hẳn, các bà mẹ nơi đây đều đã trải qua những kinh nghiệm như thế. Chính vì thế thay vì nói “Xin dủ lòng thương con tôi” bà lại nói: “Xin dủ lòng thương tôi!” Bà xin Người nhìn đến nỗi đau của một bà mẹ, đau vì nỗi đau của đứa con. Nhưng Đức Giêsu không đáp lại một lời. Tại sao Chúa lại lãnh đạm với nỗi đau của con người như vậy? Chắc hẳn chúng ta cũng đã từng gặp sự thinh lặng của Chúa như thế. Tại sao Chúa không đáp lời cầu xin của chúng ta? Bà chẳng ngã lòng trước thái độ lạnh lùng của Chúa Giêsu. Bà cứ lẽo đẽo theo sau mà nài nẵng xin mãi xin hoài đến nỗi các môn đệ Chúa không chịu nổi những lời lẽo nhẽo ấy nên trình với Chúa để Người đuổi bà về. Chẳng kể gì thái độ khó chịu của các môn đệ, bà trực tiếp giáp mặt Đức Giêsu và nài xin Người cứu giúp. Lần này bà lãnh đủ một gáo nước lạnh: “Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.” Sao lạ vậy ? Chúa Giêsu mới làm phép lạ hóa bánh ra nhiều nuôi năm ngàn người, vậy mà Người lại nhẫn tâm khước từ mẩu bánh nhỏ cho người đàn bà khốn khổ này ư? Câu chuyện đã đi đến cao điểm, thử thách đã đến cùng tột. Thế nhưng, chính trong cơn thử thách như thế ta mới thấy hết vẻ đẹp của tình mẫu tử và đức tin của bà. Bà chấp nhận lối so sánh của Chúa. Bà không dám mong được những ân huệ như dân Do Thái, bà chỉ xin chút vụn vặt thừa thãi cho con bà, bởi vì “lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.” Đến đây thì Chúa Giêsu chẳng còn lý do gì để chối từ, Người nói: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật! Bà muốn sao thì được như vậy.” Làm sao mà Người có thể chối từ được trước tình yêu bao la và niềm tin mạnh mẽ đến vậy. Không phải Người đã từng bảo: “Hãy xin thì sẽ cho, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ thì sẽ mở” đó sao? Hơn nữa, Người cũng có một bà mẹ, Đức Maria. Rồi sẽ có ngày Mẹ Người sẽ khổ đau đi theo con trên chặng đường thương khó, trái tim Mẹ như bị lưỡi gươm đâm thâu khi đứng dưới chân thập giá. Có lẽ nỗi đau khổ của bà mẹ Canaan này khiến Chúa Giêsu chạnh nghĩ đến mẹ mình. Cũng có một bà mẹ, thế nên Người hiểu tấm lòng của các bà mẹ, Người chẳng nỡ từ chối những gì các bà mẹ trong cơn đau khổ cầu xin. Bà mẹ Canaan là tấm gương cho tất cả các Kitô hữu chúng ta về sự kiên trì cầu nguyện, đặc biệt là cho các bậc làm cha mẹ. Cha mẹ nào mà chẳng thương con. Vì thương con nên mới khổ vì con. Chắc hẳn, con đau bệnh không làm khổ lòng cha mẹ cho bằng con hư hỏng. Bao cha mẹ đã bạc mái đầu vì những đứa con ngỗ nghịch hư hỏng, bao bà mẹ đã khóc hết nước mắt vì có đứa con lỡ vướng vào ma tuý… Trong trường hợp đó, lòng thương con của các bậc cha mẹ có xoắn quyện chặt chẽ với lòng tin mạnh mẽ vào Thiên Chúa hay không? Các bậc cha mẹ đã làm hết cách, đã tha thiết cầu xin, đã kiên tâm cầu xin, đã tin tưởng cầu xin, như người mẹ Canaan này chưa?●
MỪNG
KÍNH ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI
Gm. GB. Bùi Tuần Đức Mẹ Maria đã được lên trời. Mừng lễ này, tôi có một nguyện ước thiết tha. Đó là: Sẽ đến một ngày, tôi cũng được Mẹ dẫn về quê trời, để cùng với Mẹ, chia sẻ hạnh phúc trường sinh từ Thiên Chúa là Cha giàu tình yêu thương xót. Nguyện ước thiết tha trên đây trở thành một lời cầu nguyện thường xuyên. Trong tâm tình cầu nguyện này, tôi cảm nghiệm đời tôi là một cuộc hành hương với Đức Mẹ. Từng ngày, mỗi giờ là những bước đi. Bước đi nhỏ thôi, nhưng nhạy cảm với những gì Đức Mẹ âm thầm chỉ bảo. Đức Mẹ không dạy gì khác, ngoài Phúc Âm. Đặc biệt là Phúc Âm thánh Gioan. Tôi tin thánh Gioan là người con quý yêu của Mẹ đã ghi lại những điều Mẹ đã dạy ngài, trong suốt thời gian Mẹ ở với ngài, sau khi Chúa Giêsu thăng thiên. Có thể nói: Những gì Thánh Gioan viết chính là hành trang của Mẹ trong cuộc hành hương về trời. Hành trang này gồm ba việc, mà Chúa Giêsu đã trối lại trong bữa tiệc ly: - Một là phép Thánh Thể, - Hai là điều răn yêu thương, - Ba là việc Chúa quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Ba việc trên đây ví như hơi thở của người hành hương với Đức Mẹ. Tôi xin phép chia sẻ đôi chút những gì tôi cảm nghiệm được về ba việc đó. 1/ Phép Thánh Thể Đối với người hấp hối, phép Thánh Thể là "của ăn đàng". Nhưng đối với người hành hương, phép Thánh Thể là "của ăn đàng" thường xuyên mỗi ngày. Để phép Thánh Thể trở thành "của ăn đàng" cho người hành hương, tôi phải đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể như Đức Mẹ đã đón nhận xưa. Xưa, Đức Mẹ đã đón nhận Chúa Giêsu với tinh thần khiêm tốn xin vâng. Mẹ xin vâng chọn cuộc sống vất vả như Chúa Giêsu. Mẹ xin vâng chia sẻ cuộc sống của lớp dân nghèo. Mẹ xin vâng cùng với Chúa Giêsu từ bỏ mình, vác thánh giá mình, dâng hiến chính mình làm của lễ đền tội cho nhân loại. Mẹ xin vâng tuyệt đối quên mình, để chính nhờ Chúa Giêsu, cùng với Chúa Giêsu và trong Chúa Giêsu, mà quy hướng mọi vinh quang lớn nhỏ về Chúa Cha cùng với Chúa Thánh Thần muôn đời. Đức Mẹ hành hương về trời với Chúa Giêsu Thánh Thể trong tâm tình luôn tạ ơn và luôn đền tội. Như vậy, tôi hành hương về trời với Đức Mẹ, cũng phải rất quan tâm đến việc kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu đang sống động. Như lời Chúa Giêsu phán: "Thầy là cây nho, các con là cành" (Ga 15,5). Có thể nói: Chúa đang kêu gọi chúng ta hãy kết hợp với Người, hãy tiếp tục chương trình cứu độ của Người cho thế giới hôm nay. Phúc Âm thánh Gioan nói rất ít về phép Thánh Thể, nhưng lại đề cao giới răn mới là giới răn yêu thương. Tôi có cảm tưởng là thánh Gioan đã có chọn lựa độc đáo đó, chính vì đã được Đức Mẹ dạy dỗ nhắc nhở nhiều, trong thời gian Đức Mẹ âm thầm sống chặng đường cuối của cuộc hành hương. Đức Mẹ muốn việc tôn sùng Thánh Thể luôn phải đi kèm với việc yêu thương, phục vụ. Việc đi kèm này là rất quan trọng cho việc tôn sùng Thánh Thể. 2/ Điều răn yêu thương "Thầy ban cho các con một điều răn mới là hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con." (Ga 13,34). Lời trối trên đây được coi là rất cần cho người hành hương. Thực tế cho thấy: Trên đời này, sống với nhau là điều không dễ, yêu thương nhau lại càng không dễ, yêu thương nhau như Chúa yêu thương ta lại càng không dễ chút nào. Chính vì không dễ, nên cuộc hành hương với Đức Mẹ về trời sẽ là một chuỗi dài những nhịp đập của trái tim yêu thương rướm máu như trái tim Mẹ. Thực vậy, có những rướm máu do phải hy sinh cho việc thăng tiến những người mình yêu. Yêu một cách chính đáng bao giờ cũng đòi hỏi người mình yêu phải phấn đấu nên tốt hơn mỗi ngày về mọi mặt. Không phấn đấu, không đón nhận sự giúp đỡ thăng tiến, cam sống trôi nổi, không định hướng, không hợp ý Chúa, đó là những lưỡi đòng đâm vào trái tim người sống giới luật yêu thương của Chúa. Thời sự hằng ngày hiện nay là một bức ảnh khá đau buồn cho những tình yêu thăng tiến. Không những bao người đang khước từ thăng tiến, mà cũng bao người muốn thăng tiến nhưng không sao nhìn được ánh sáng hy vọng. Do thiếu điều kiện cần thiết. Lại có những rướm máu do những vòng xoáy hận thù của bao thế hệ nối tiếp nhau. Hận thù giữa các gia đình và dân tộc. Hận thù giữa cả các tôn giáo. Chỉ nói riêng về phía Công giáo, những người sống giới luật yêu thương làm sao quên được bao hành vi đối xử bất kính, bạo tàn mà một số con cái Hội Thánh đã làm cho những người đạo khác mà mình kết án một cách kiêu căng. Bao vết thương vẫn còn đó, làm nhức nhối cuộc hành hương của những người con Đức Mẹ. Ta phải hết sức hàn gắn lại bằng trái tim tế nhị của tình Mẹ xót thương, nhất là bằng trái tim khiêm tốn phục vụ, mà Chúa Giêsu, Con Mẹ, đã đề cao trước khi phó mình chịu chết để đền tội cho nhân loại. 3/ Rửa chân cho nhau Cũng thánh Gioan đã thuật lại tỉ mỉ việc Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ trong bữa tiệc ly. Tôi nghĩ ngài làm như vậy cũng do Đức Mẹ nhắn nhủ. Bởi vì đối với Đức Mẹ hành hương về trời, việc các môn đệ Chúa phục vụ nhau một các khiêm nhường là yếu tố quan trọng. Chúa Giêsu phán: "Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho các con, để các con cũng làm như Thầy đã làm cho các con" (Ga 13,14-15). Thực vậy, việc Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ dạy ta phải phục vụ nhau một cách khiêm nhường. Khiêm nhường phục vụ mà Chúa dạy vừa đề cao nội dung phục vụ, vừa lưu ý đến cách phục vụ, vừa nhắc nhở đến người được phục vụ. Những người chúng ta phục vụ một cách đặc biệt sẽ ưu tiên là những người thấp hèn, những người không được bằng ta, những người kém cỏi. Nội dung chúng ta phục vụ một cách đặc biệt sẽ là những việc mọn hèn, nhất là việc tha thứ cho nhau, rửa mặc cảm cho nhau. Cách chúng ta phục vụ một các đặc biệt sẽ khiêm tốn, chân thành, kín đáo, tế nhị. Riêng tôi, tôi thực hiện các việc trên đây suốt cuộc hành hương về trời một cách đơn sơ. Thực hiện đơn sơ là sống tinh thần thơ ấu trong tay Đức Mẹ. Với tinh thần thơ ấu, tôi đón nhận Nước Trời là Chúa Giêsu của tôi. Người đến với tôi dù dưới bất cứ hình thức nào, tôi cũng vẫn nhìn Người là Tin Mừng của tôi. Tin Mừng này luôn mới, vì tình Mẹ dành cho tôi giúp tôi khám phá ra chân trời mới càng ngày càng đẹp. Mẹ chỉ cho tôi hướng đi về đó, Mẹ dắt tôi đi theo hướng đó. Cuộc hành hương của tôi về trời không còn là cuộc hành hương của riêng tôi, mà là cuộc hành hương của Đức Mẹ dắt tôi và bao người bé nhỏ khác luôn phó thác ở tình Mẹ xót thương, vừa bước đi, vừa ca ngợi Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót●
Lm. Vũ Xuân Hạnh
I. TUYÊN TÍN CỦA ĐỨC PIÔ XII. Ngày 1.11.1950, đúng vào dịp lễ các thánh Nam Nữ, Đức Thánh Cha Piô XII long trọng tuyên bố cho toàn thể thế giới Công giáo rằng: “Thánh Mẫu Thiên Chúa là Đấng Vô nhiễm nguyên tội, Đức Maria trọn đời đồng trinh, sau khi sống trọn cuộc đời trần thế, đã được triệu hồi cả hồn và xác vào trong vinh quang thiên quốc.” Kể từ lời tuyên bố trong thánh lễ tuyên tín long trọng hôm ấy, mầu nhiệm Đức Maria được Thiên Chúa đưa về trời cả hồn và xác, trở thành chân lý đức tin cho toàn thể thế giới Công giáo. Chỉ trong một lời tuyên tín ngắn gọn và quan trọng để tuyên bố một tín điều, Đức Giáo hoàng đã liệt kê cùng lúc đầy đủ bốn đặc ân vô cùng cao cả, ngoài Đức Maria không có bất cứ ai có được. Đó cũng là bốn chân lý tuyệt đối của lòng tin thuộc về đời sống và nhân đức riêng tư của Đức Maria mà mỗi người Kitô hữu phải tin: - Đức Maria, Thánh Mẫu Thiên Chúa, tức là được làm Mẹ Thiên Chúa. - Đức Maria, Đấng Vô nhiễm nguyên tội, tức là không hề mắc tội tổ tông truyền từ ngay khi thành thai trong lòng mẹ. - Đức Maria, Đấng Đồng trinh trọn đời, tức là dù mang thai và sinh con, Mẹ vẫn trinh khiết vẹn toàn. - Và hôm nay, Mẹ đã được Chúa triệu hồi cả hồn và xác vào trong vinh quang thiên quốc, tức là lên trời cả hồn và xác, sống trong hạnh phúc vĩnh cửu mà Thiên Chúa dành để tặng ban cho tất cả những ai thuộc về Chúa nhờ cả một đời sống thánh thiện nơi gian trần. II. MẸ THIÊN CHÚA. Điều đặc biệt cần lưu ý trong lời tuyên tín của Đức Piô XII, đó là đặc ân làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria được Đức Thánh Cha nêu lên trước tiên: “Thánh Mẫu Thiên Chúa.” Nơi Đức Maria, quyền làm Mẹ Thiên Chúa là hồng ân trước hết, trên hết, một hồng ân đặc biệt không ai có thể có. Đó cũng chính là hồng ân quan trọng nhất - không chỉ cho cá nhân Đức Mẹ, mà còn cho cả dòng lịch sử cứu độ và lịch sử nhân loại, cho chính nhân loại - mà Thiên Chúa ban cho Mẹ. Bởi từ ngày thưa “Xin Vâng” với thánh ý Chúa qua lời thiên thần Gabriel, Mẹ đã chính thức cộng tác và hiệp công hoàn toàn với Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa, cũng là Người Con duy nhất của Mẹ, và là Đức Chúa mà Mẹ tôn thờ, kính yêu, nhằm mang lại ơn cứu rỗi đời đời cho nhân loại. Nếu Đức Maria không được Chúa mời gọi làm Mẹ Chúa Giêsu Kitô, hoặc giả sử, Thiên Chúa đã mời gọi, nhưng Đức Maria không đón nhận quyền làm Mẹ Thiên Chúa của mình, chắc chắn, Đức Maria cũng hoàn toàn giống như chúng ta mà thôi: sẽ không bao giờ Vô nhiễm nguyên tội từ khi tượng thai. Mẹ cũng sẽ không bao giờ đồng trinh trọn đời, một khi đã sanh con. Mẹ cũng sẽ chẳng được triệu hồi cả hồn và xác về trời trước chúng ta như hiện nay. Nhưng thực tế, Mẹ đã được tất cả, vì Mẹ đã chấp nhận làm Mẹ Thiên Chúa. Mẹ đã dấn thân cách hết sức hoàn hảo cho ơn gọi này để nên nữ tỳ của Chúa cách cao đẹp nhất. Bởi sự dấn thân hoàn toàn ấy, Mẹ đã chấp nhận mọi thử thách, dẫu là cây thập giá khốn cùng nhất, để hoàn thành sứ vụ làm Mẹ Đấng Cứu Thế của mình. III. NHỮNG KỶ NIỆM NƠI TÂM HỒN MẸ THIÊN CHÚA. Chúng ta ghi nhận sự dấn thân trong vai trò làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria: - Đức Maria không chỉ chấp nhận và đón nhận mầu nhiệm thập giá như là một việc làm để xin vâng cho đẹp lòng Chúa mà thôi. Dù điều đó đã là tốt lắm. Nhưng với tư cách làm Mẹ của Con, Đức Maria hằng khắc sâu những kỷ niệm của Chúa Kitô trong lòng mình. Mẹ khắc sâu để nội tâm hóa chính đời sống của mình, để hoàn hảo tiếng “Xin Vâng” như của lễ toàn thiêu hiến dâng Thiên Chúa. Bởi thế, những kỷ niệm của Chúa Kitô, vốn đã là những kỷ niệm của Mẹ, càng trở nên sâu lắng và dữ dội thôi thúc Mẹ mỗi một ngày một mãnh liệt hơn trong sự dấn thân cho Thiên Chúa của Mẹ. Cũng bởi thế, những kỷ niệm không chỉ là kỷ niệm, mà là cả một khung trời nội tâm sâu sắc, dệt nên tâm hồn yêu mến Chúa của Mẹ. - Hơn thế, cả cuộc đời, trong khi dõi theo từng bước đi của Con qua năm tháng, Mẹ đã sống kết hợp với Con, với cây thập giá đời Con cách trung thành, để những kỷ niệm, không chỉ là kỷ niệm ấy, trở nên chính sự sống và sức sống cho cả cuộc đời dương thế của Mẹ. - Mẹ khắc ghi mọi lời, mọi biến cố trong cuộc đời Chúa Kitô, như là những kỷ niệm giữa Mẹ với Con mình, nhưng không hề là những kỷ niệm đơn thuần, mà là sự chiêm ngưỡng đến tận cùng, sự suy tư sâu lắng, đúc kết thành cả một đời chìm lắng trong cầu nguyện của Mẹ. - Những kỷ niệm không dừng lại ở kỷ niệm ấy, đã cho Mẹ đi từ khám phá này đến khám phá khác về Người Con mà Mẹ hằng bồng ẵm, nuôi dưỡng, và lớn lên bên cạnh mình, nhưng chưa bao giờ Mẹ hiểu hết chính Người Con ấy và lối đường mà Người Con ấy thực hiện. Dù trong ngày truyền tin, thiên thần có cho Mẹ biết, Mẹ sẽ mang thai Con Thiên Chúa Chí Thánh thật: “Maria, đừng sợ, vì người đã đắc sủng nơi Thiên Chúa. Và này, nơi lòng dạ, người sẽ thụ thai, và sinh con, và người sẽ gọi tên Ngài là Giêsu. Ngài sẽ làm lớn, và được gọi là Con Đấng Tối Cao, và Chúa, Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngai Đavid, cha Ngài; và Ngài sẽ làm vua trên nhà Giacob cho đến đời đời, và vương quyền của Ngài sẽ vô cùng vô tận.” (Lc 1, 30-33). Nhưng cả Thiên Chúa lẫn thiên thần của Chúa, không nói gì thêm, không có một lời giải thích nào rõ ràng hơn, hoặc chí ít là khả dĩ có thể hiểu được. Kinh Thánh không ghi lại bất cứ một hành động hay một lời nói nào để ưu tiên giải thích cho Mẹ về mầu nhiệm của chính Người Con của Mẹ. Bởi vậy, sao biến cố “Xin Vâng” của ngày truyền tin, Mẹ vẫn là một người bình thường giữa muôn người. Chúa trả Mẹ về với cuộc sống đời thường, để dù biết mình là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ vẫn cứ phải dò dẫm tìm kiếm suốt đời, nhằm tìm ra thánh ý Chúa và xin vâng suốt đời như thế. Chỉ có những kỷ niệm được Mẹ nội tâm hóa mới dần dà sáng lên một cách khả dĩ mầu nhiệm nơi Đấng Cứu Thế mà thôi. - Những kỷ niệm quý giá bên cạnh Con mình, đã biến Đức Maria thành người nữ của sự chiêm ngưỡng. Mẹ đã trung thành chiêm ngưỡng các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Cứu Thế và trở nên kiểu mẫu lớn lao cho sự chiêm ngưỡng của chúng ta: Trong mầu nhiệm Giáng sinh, sự chiêm ngưỡng của Mẹ hướng về Chúa Con ngay từ lúc truyền tin, khi cưu mang Người nhờ Chúa Thánh Thần, khi lên đường viếng thăm người chị họ Isave và nhận ra dấu lạ diệu kỳ mà Chúa đã thực hiện nơi hai mẹ con của người chị họ. Mẹ đã chiêm ngưỡng Chúa Con khi hạ sinh Người tại Bêlem. Trong cảnh nghèo hèn quá sức của ngày Giáng Sinh, Mẹ đã nhận ra Người Con của Mẹ là vị Chúa giàu sang của những người nghèo. Đồng thời Người là Chúa của Mẹ, vì Mẹ cũng là người nghèo của Chúa. Mẹ đã chiêm ngưỡng Người Con của mình khi tiến dâng Người cho Chúa Cha trong đền thờ và lắng nghe lời tiên tri đau xót: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà.” (Lc 2, 35) của cụ già Simêon. Mẹ đã chiêm ngưỡng dung nhan của Người trong ngày hiển linh, tỏ mình cho dân ngoại, khi ba vị đạo sĩ ngoại giáo đến triều yết Người. Mẹ đồng hành với Chúa Con trên đường di tản sang Aicập để tránh sự đe dọa của bạo quyền Hêrôđê, rồi lại tiếp đồng hành trở về quê hương sau khi Hêrôđê chết. Trong mầu nhiệm Ẩn dật, Mẹ chiêm ngưỡng phần lớn cuộc sống của Chúa Giêsu chia sẻ thân phận của đại đa số loài người. Đó là một cuộc đời bình thường: lao động chân tay, tùng phục lề luật, vâng phục Thiên Chúa, lắng nghe tiếng Chúa. Mẹ cũng nhận ra nơi Người Con ấy, dù hết lòng yêu mến và vâng phục cha mẹ trần thế của mình, nhưng không xao lãng phận vụ phải chu toàn mà Cha trên trời đã trao ban. Sự nhận ra ấy cụ thể nhất là lúc tìm được Con sau mấy ngày thất lạc trong đền thánh. Sự vâng phục trong đời sống thường ngày của Chúa Kitô trong mầu nhiệm ẩn dật là khởi đầu công trình tái lập những gì mà Ađam đã phá đổ vì bất tuân phục (Rm 5, 19). Bởi vậy, dù là cuộc sống bình yên, nhưng mầu nhiệm ẩn dật, đặc biệt chính lời Chúa Giêsu: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà Cha con sao?” (Lc 2, 41-52), đã thoáng cung cấp cho Mẹ bằng chứng về “một lưỡi gươm đâu thấu tâm hồn” mình. Trong mầu nhiệm Công khai, khởi đầu tại tiệc cưới Cana (Ga 2, 1-12), cái nhìn chiêm ngưỡng của Mẹ như xuyên thấu, như hiểu rõ tâm tư của Người Con khi đề nghị một cách nhẹ nhàng, tế nhị về một dấu lạ, mà lẽ ra chưa đến lúc Người Con ấy ra tay thực hiện. Chính điều đó, cho chúng ta thêm một bằng chứng, với sự chiêm ngưỡng thâm sâu và hiểu rõ ý Chúa, Đức Maria trở thành người đầy quyền lực trong lời chuyển cầu cho đoàn con dưới thế. Trong công cuộc truyền giáo của Chúa Con, Đức Maria đã không ngừng dõi theo từng bước Con đi, để cùng với bao nhiêu người đồng bào thân tín, Mẹ nhận ra chính nơi Người Con yêu dấu của Mẹ là hiện thân của Nước Trời. Không chỉ dõi bước theo Con bằng một sự chiêm ngưỡng thụ động, Đức Maria đã lên đường đến gặp Con trong lúc Con đang thi hành phận vụ. Chính trong khung cảnh cảm động ấy, Người Con Một của Mẹ đã thốt lên lời ca ngợi những ai sống Lời Chúa, và gián tiếp khen ngợi Mẹ mình: “Mẹ Ta và anh em Ta là những kẻ nghe và làm theo Lời Thiên Chúa.” (Lc 8, 21). Trong mầu nhiệm Khổ nạn, Đức Maria hướng cái nhìn chiêm ngưỡng trong đau buồn của mình để tiếp sức cho con, an ủi Con, về mặt trần thế, để Con hoàn thành đến mức trọn hảo cây thập giá đời mình. Cùng với nhiều phụ nữ đạo đức, Đức Maria đã thực sự vác thập giá trên trọn nẻo đường thập giá của Con, điều mà ngay cả những nam nhi, thanh niên như các tông đồ, dù đã có cả một thời gian sống bên cạnh Người Con ấy, còn khiếp sợ, bỏ chạy trốn, hòng thoát thân. Khi đứng dưới chân thập giá (Ga 19, 25), Mẹ chứng kiến cuộc khổ nạn và cái chết của Người, cái nhìn chiêm ngưỡng và hiệp thông sâu xa của Mẹ, đã làm cho Mẹ trở thành người nữ đầu tiên cộng tác với Chúa Cứu Thế, mang lại ơn cứu rỗi cho loài người. Đến lúc nhận lấy tông đồ Gioan làm con của mình, Mẹ đã dang rộng vòng tay từ ái và mở rộng bầu tim chỉ chất chứa có tình yêu mà thôi, đón nhận cả một đoàn con đông đảo dưới thế làm con của mình. Trong mầu nhiệm Phục sinh, cái nhìn chiêm ngưỡng của Mẹ tỏ rạng niềm vui vinh quang của ánh sáng Phục sinh, một sự Phục sinh vĩnh cửu, làm cho loài người được tham dự vào chính sự sống của Thiên Chúa. Và chính Mẹ, người nữ đầu tiên qua muôn thế hệ, trong khắp nhận loại, được vinh quang hưởng nhờ trước ơn Phục sinh của Con mình, để như Con, thân xác của Mẹ không bao giờ bị hủy hoại. Chúa Kitô đã không để thân xác người Mẹ đã sinh ra mình về mặt nhân trần bị hư nát, bởi Mẹ chính là Mẹ của Người, Mẹ Thiên Chúa. Cuối cùng, cái nhìn chiêm ngưỡng của Đức Maria rực cháy vì được tràn đầy Thánh Thần trong ngày lễ Hiện Xuống. Cùng với ơn Thánh Thần được trao ban cho riêng mình và cho cả Hội Thánh, Đức Maria trở thành Nữ Vương các thánh tông đồ, tiếp tục dõi theo từng bước chân của đoàn con trong công tác truyền giáo khắp thế giới. Mãi cho đến hôm nay, và sẽ còn tiếp tục về sau, Đức Maria vẫn là Người Mẹ kính yêu của cả Hội Thánh. Vì thế trong mọi công tác hôm nay của mình, Hội Thánh tin rằng, mình luôn luôn có một ánh mắt dõi theo bằng lời chuyển cầu hết sức hiệu ngiệm và uy thế trước mặt Chúa Kitô, bởi một lẽ đơn giản: Mẹ là Mẹ của Người và là Mẹ của cả Hội Thánh. Hướng về Chúa Kitô, hưởng vinh quang Phục sinh của Con mình, Mẹ không bao giờ khước từ đoàn con dưới thế. *** Đúng thật, Mẹ là Mẹ Thiên Chúa! chính nhờ hồng ân cao cả này, Đức Maria đã nhận được nhiều đặc ân quý giá khác mà Thiên Chúa tặng ban (chẳng hạn ba đặc ân còn lại mà Đức Thánh Cha Piô XII đã nói). Nhưng với tình mẫu tử của Mẹ Thiên Chúa dành cho đoàn con, nơi Đức Maria, dù đã nhận được nhiều hồng ân cao cả, Mẹ không hề sống cho riêng mình, lại luôn luôn vươn ra toàn nhiệm thể của Chúa Kitô, để mang lại nhiều kết quả cứu độ cho đoàn con đông đảo này. Nhưng cái gì cũng có “giá trị” riêng của nó mà mọi chọn lựa đều phải “trả” cho cái “giá trị” ấy. Vì thế, nếu gọi là “trả giá,” thì Đức Mẹ đã hoàn thành xuất sắc ơn gọi làm Mẹ Thiên Chúa của mình trong mọi chiều kích mà Thiên Chúa muốn Mẹ phải cộng tác với Đấng Cứu Thế. Bởi vậy, hồng ân Thiên Chúa ban cho Mẹ đã đẹp, đã sang trọng, đã kiều diễm, lại được chính Mẹ tô điểm bằng cả một đời dâng hiến của mình, càng tôn vinh chính Mẹ, càng làm cho Mẹ lộng lẫy và quý phái vô cùng. Chính vì thế, Mẹ trở thành kiểu mẫu và trường học cho cả Hội Thánh và cho mọi Kitô hữu. Mẹ Maria là một gương mẫu vô song cho ta về việc dấn thân theo Chúa Kitô, vì không ai say sưa yêu mến Chúa Kitô như Mẹ. Bắt đầu bằng tiếng “Xin Vâng” trong ngày đầu tiên được diễm phúc làm Mẹ Thiên Chúa, tình yêu của Mẹ đối với Thiên Chúa vốn đã có từ lâu, nay lại càng mãnh liệt trên chính Người Con yêu quý của mình. Tình yêu ấy đã khiến Mẹ đã một lần thưa “Xin Vâng,” có đủ can đảm, đủ lòng tin, lòng cậy trông sống một đời xin vâng. Hôm nay, nhân lễ Đức Mẹ được đưa về trời cả hồn và xác, chúng ta ôn lại và quãng diễn một chút về lời tuyên tín của Đức Piô XII: “Thánh Mẫu Thiên Chúa là Đấng Vô nhiễm nguyên tội, Đức Maria trọn đời đồng trinh, sau khi sống trọn cuộc đời trần thế, đã được triệu hồi cả hồn và xác vào trong vinh quang thiên quốc.” Chúng ta tiếp tục đưa ánh mắt đức tin của mình, dõi theo Đức Maria mà chiêm ngắm Chúa Kitô, chiêm ngắm đời sống và lời giảng dạy của Người, để như Mẹ đã sống cho Người, ta cũng sẽ trở nên môn đệ của Người. Và sau cùng, để như Mẹ được Thiên Chúa ân trưởng trọng hậu, chúng ta cũng được cứu độ cả hồn lẫn xác, nhờ Chúa Kitô, Đấng Cứu chuộc chúng ta đời đời.
TÌM HIỂU lòng sùng kính ĐỨc Maria trong GIÁO HỘI CÔNG GIÁO.
Lm. Anphong Trần Đức Phương Lòng sùng kính Đức Maria đã có từ lâu đời trong Giáo Hội. Các Thánh giáo phụ, đặc biệt thánh Bênađô, dựa vào nền tảng Kinh Thánh, đã rao giảng và viết rất nhiều về lòng sùng kính Đức Maria và giải thích những nhiệm lạ cao siêu Thiên Chúa đã làm nơi Đức Maria (Thiên Chúa đã làm cho tôi những điều cao cả - Luca 1:49); đặc biệt mầu nhiệm Vô Nhiễm Nguyên Tội và trọn đời đồng trinh (‘dù Bà đã chịu thai bởi ơn Chúa Thánh Thần, và sinh ra đấng Cứu Thế mà vẫn còn đồng trinh trọn đời’ (Lc 1:26 ). Tiếp theo cũng có bao nhiêu các vị Thánh và các học giả Công Giáo đã rao giảng và viết nhiều về Đức Maria; nhưng giảng bao nhiêu, viết bao nhiêu về Đức Maria cũng không đủ (De Maria numquam satis) Trong bài này chúng tôi không dám đề cập đến những đề tài cao siêu về Đức Maria, nhưng xin trình bày một cách đơn sơ các việc sùng kính Đức Maria trong Giáo Hội để quý vị và các bạn trẻ, cũng như chính chúng tôi thêm lòng nhiệt thành sùng kính Đức Maria và noi gương nhân đức của Ngài. Theo truyền thống từ lâu đời, hàng ngày vào buổi sáng, buổi trưa, và buổi chiều, các giáo hữu thường nguyện Kinh Truyền Tin (Mùa Phục Sinh thì đọc kinh ‘Lạy Nữ Vương Thiên Đàng’) để nhớ đến giờ phút vô cùng trọng đại trong lịch sử cứu độ: ‘Ngôi Lời xuống thế làm người trong lòng Mẹ Maria’. Giờ phút thiêng liêng nầy cũng chia đôi lịch sử nhân loại: Thời Cựu Ước và thời Tân Ước. Theo tiếng chuông ‘Truyền Tin’ (cũng gọi là ‘chuông nhật một’ vì giật từng tiếng) các tín hữu đọc chung, hoặc riêng, Kinh Truyền Tin trong đó có 3 lần xen vào kinh Kính Mừng. Những ngày thanh bình buổi xa xưa ở Việt Nam cũng như ở Âu Châu vào đúng lúc 12 giờ trưa, khi từ tháp chuông đổ chuông Truyền Tin thì các tín hữu đang làm việc ngoài cánh đồng, đều ngưng mọi công việc và cùng nguyện kinh Truyền Tin theo từng nhóm đang làm việc với nhau. Đọc các bản văn diễn tả lại khung cảnh thiêng liêng đạo đức này chúng ta thấy rất cảm động. Ngày nay, tại Hoa Kỳ nhiều nhà thờ vẫn đổ chuông ‘Truyền Tin’ vào lúc 12 giờ trưa và khoảng 6 giờ chiều để nhắc nhở các tín hữu nhớ đến giờ phút nguyện kinh Truyền Tin, kính nhớ mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể, và đồng thời nhớ đến Đức Maria long trọng nhận lời sứ thần truyền tin và Ngôi Lời nhập thể trong lòng Mẹ Maria. Cũng theo truyền thống lâu đời trong Giáo Hội, ngày thứ Bảy (nhất là ngày thứ Bảy đầu tháng) là ngày đặc biệt dâng kính Mẹ Maria để kính nhớ và đền tạ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ (theo mệnh lệnh Fatima) và cầu nguyện cho hòa bình thế giới. Trong một năm, có hai tháng đặc biệt dâng kính Mẹ Maria: Tháng Năm thường được gọi là Tháng Hoa. Các họ đạo tại Việt Nam, và các cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại hải ngoại, thường có những đoàn các em dâng hoa, hát vãn kính Đức Mẹ (thường vào những thứ Bảy) rất sốt sắng. Các giáo hữu ngoại quốc khi dự các buổi dâng hoa này cũng tỏ ra rất hâm mộ. Tháng Mười là tháng Mân Côi (ngày xưa thường gọi là tháng Đức Bà) để kính Mẹ Maria bằng tràng hạt Mân Côi (tràng chuỗi). Thường các tín hữu lần chuỗi Mân Côi hàng ngày (hoặc ‘Chuỗi Năm Mươi’ hay ‘Một Trăm Năm Mươi’ ngắm cả 3 màu nhiệm ‘Vui’ ‘Thương’ và ‘Mừng’). Nếu lần một chuỗi ‘Năm Mươi’ thì suy ngắm các ‘Mùa’ theo ngày. Chúa Nhật: ‘Mùa Mừng’, thứ Hai: ‘Mùa Vui’, thứ Ba: ‘Mùa Thương’, thứ Tư: ‘Mùa Mừng’. thứ Năm: ‘Mùa Vui’, thứ Sáu: ‘Mùa Thương’. Từ tháng Mười năm 2002, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã lập thêm ‘Mầu nhiệm Sự Sáng’ và được khuyến khích ngắm vào ngày thứ Năm. Về nguồn gốc ‘chuỗi Mân Côi’ thì nhiều sách đạo đức viết về ‘Mẹ Maria’ đã nói đến. Về danh từ ‘Mân Côi’: khi còn nhỏ, tôi hay nghe các cụ gọi là ‘Môi Khôi’ hay có nơi gọi là ‘Văn Côi’; danh từ mới nhất gọi là ‘Mai Khôi’. Trong Lịch Phụng Vụ Công Giáo và nhiều sách đạo đức thì thường dùng chữ ‘Mân Côi’. Ngoài ra cũng có dòng nữ tu có tên là ‘Dòng Con Đức Mẹ Mân Côi.’ Do lòng sùng kính Mẹ Maria, qua các thời đại đã có rất nhiều tước hiệu để nói lên cuộc đời thánh thiện phong phú của Mẹ Maria, hầu hết đã được ghi lại trong kinh gọi là ‘Kinh Cầu Đức Bà.’ Ngoài ra có rất nhiều ‘Kinh’ để kính Đức Mẹ và cầu nguyện với Đức Mẹ. Trong đó, tất nhiên kinh ‘Kính Mừng’ là đặc biệt hơn cả, vì phần đầu lấy từ Tin Mừng: Lời kính chào Đức Mẹ của Thiên Thần Gabriel. Phần sau là lời cầu nguyện tha thiết mỗi người con dâng lên Mẹ. Ngoài các ‘Kinh’ kính Đức Mẹ, còn có thật nhiều bản Thánh Ca (bằng rất nhiều thứ tiếng) để ca ngợi và cầu nguyện với Đức Mẹ, như bài hát nổi tiếng thế giới là bài ‘Ave Maria’ của Franz Schubert (1797-1828). Việt Nam chúng ta cũng có nhiều nhạc sĩ sáng tác các bản thánh ca về Đức Mẹ Maria rất phổ thông, và rất hay. Đặc trưng như truờng ca ‘Ave Maria’ (Thơ Hàn Mạc Tử và nhạc hoà âm của Hải Linh). Cũng có không biết bao nhiêu bức họa và tượng Đức Mẹ nổi tiếng trên thế giới do các họa sĩ hay điêu khắc gia lừng danh trên thế giới như Michelangelo (+1564) với bức họa ‘Pieta’; Fra Angelico (+1455); Raphael (+1520); Germain Philon (+1590) . . . Các sách vở, báo chí và các thi phẩm viết về Đức Mẹ qua các thời đại cũng rất phong phú (như đã nói ở trên), đặc biệt là bài Thiên Thần truyền tin cho Đức Maria (L’announce faite à Marie) của văn hào Pháp Paul Claudel (viết vào năm 1912). Trong suốt năm Phụng Vụ của Giáo Hội, có các Lễ kính Đức Mẹ sau đây: Lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (1/1); Đức Mẹ Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thờ, thường gọi là lễ Nến (2/2); Đức Mẹ Lộ Đức (11/2); Lễ Truyền Tin (25/3); Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ (thứ Bảy tuần II sau Lễ Hiện Xuống); Đức Mẹ Fatima (13/5); Đức Mẹ đi Thăm Viếng Bà Elizabeth (I-sa-Ve) (31/5); Đức Mẹ Núi Camêlô (16/7); Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (15/8); Sinh Nhật Đức Mẹ (8 tháng 9). Đức Mẹ Sầu Bi (15/9); Lễ Đức Mẹ Mân Côi (7/10); Lễ Đức Mẹ Dâng Mình (21/11); Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm (8/12); Đức Mẹ Guadalupe (12/12). Trong các Lễ trên đây chúng ta thấy có ba Lễ kính việc Đức Mẹ hiện ra: Lễ Đức Mẹ Lộ Đức, Lễ Đức Mẹ Fatima, và Lễ Đức Mẹ Guadalupe. Cho đến nay có nhiều nơi nổi tiếng Đức Mẹ đã hiện ra. Tại Việt Nam thì chúng ta không thể không nhắc đến Đức Mẹ Lavang (Quảng Trị). Riêng trong thế kỷ 20, thì có nhiều nơi đã được nói đến là Đức Mẹ đã hiện ra và đã được ghi lại trong cuốn video ‘Những Lần Đức Mẹ Hiện Ra Trong Thế Kỷ 20’. Có những nơi Giáo Hội đã xác nhận, có những nơi Giáo Hội chưa chính thức công nhận. Lòng sùng kính Đức Mẹ Maria không phải chỉ có nơi người Công Giáo mà nơi nhiều người thuộc các tôn giáo khác nhau. Tuy nhiên lòng sùng kính Đức Maria nơi người Công Giáo không phải chỉ dựa trên tình cảm hay do xin được ơn nọ ơn kia ‘phần hồn, phần xác’, nhưng là hệ tại việc học hỏi các tín đìều về Đức Maria trong Kinh Thánh và trong các giáo huấn của Giáo Hội. Đặc biệt các tín điều về ‘Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội’, ‘Đức Mẹ Trọn Đời Đồng Trinh’, ‘Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời’, ‘Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa’... Trong bài này chúng tôi không có ý đề cập đến các đề tài lớn lao này. Đã có nhiều sách vở, báo chí đề cập đến và minh giải rõ ràng dựa trên nền tảng Thánh Kinh và Thánh Truyền. Việc sùng kính Đức Maria cũng do việc học tập các đức tính của Đức Maria trong cuộc sống trần gian và đem ra thực hành trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Ngoài đời sống đạo hạnh với một lòng mến Chúa và hoàn toàn tin tưởng, cậy trông và phó thác nơi Chúa, Đức Maria còn luôn sống một đời sống khó nghèo, bình dân, đơn sơ, khiêm tốn (‘Tôi chỉ là tôi tớ của Chúa’- Luca 1:38), hòa hợp yêu thương và giúp đỡ mọi người trong lúc khó khăn, thiếu thốn (‘Vội vàng đi lên miền núi để thăm viếng Bà Elizabeth’ - Luca 1:39). Riêng về lòng sùng kính Đức Mẹ Maria nơi các người ngoài Công giáo có ở khắp nơi trên thế giới. Tại Việt Nam chẳng hạn, khi còn nhỏ, chúng tôi thấy có nhiều người ‘bên lương’ đến dâng hoa Kính Đức Mẹ tại Đền Thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp Thái Hà Ấp (ngoại ô Hà Nội). Tại Miền Nam, cũng có nhiều người ngoài Công giáo đến dâng hoa, đèn nến và cầu xin với Đức Mẹ như tại Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế (Sài Gòn) hay tại Nhà Thờ Đức Mẹ Bình Triệu (ngoại ô Sài Gòn). Tại nơi Đức Mẹ hiện ra rất nổi tiếng và đã được Giáo Hội công nhận như Lộ Đức (Lourdes ở Pháp, 1858), Fatima (Bồ Đào Nha, 1917), hay Guadalupe (Mexico, 1531) hàng năm có nhiều triệu người đến hành hương kính viếng, trong đó cũng có rất nhiều người không phải Công Giáo. Có một điều rất quan trọng chúng ta cần lưu ý là: Lòng sùng kính Đức Mẹ Maria trong Giáo Hội Công Giáo không làm giảm đi, hay quên đi lòng tôn kính, thờ phượng cùa chúng ta đối với Thiên Chúa là Cha chúng ta; nhưng qua Mẹ Maria chúng ta đến với Chúa là Cha chúng ta. Như vậy chúng ta thật hạnh phúc khi chúng ta có niềm tin vững chắc nơi Chúa là Cha yêu thương và Đức Maria là Người Mẹ luôn âu yếm, chở che, nâng đỡ và chuyển cầu cùng Chúa cho chúng ta. Tốt lành biết bao khi chúng ta được sống trong Gia Đình Giáo Hội vừa có Cha quyền năng và nhân từ, vừa có Mẹ đầy tình yêu thương con cái. Xin Thiên Chúa là Cha nhân lành, nhờ lời Mẹ Maria chuyển cầu, ban muôn ơn lành cho mỗi người, mỗi gia đình và thế giới chúng ta, cũng như cho Quê Hương và Giáo Hội Việt Nam.
SỐNG TÂM LINH Giao Duyên Cách đây 207 năm, Đức Mẹ đã hiện ra tại La Vang năm 1798, để cứu giúp những Kitô hữu kiên trung với đức tin phải lẩn trốn trong rừng vì bị vua quan thời Tự Đức bách hại. Và hằng năm, vào dịp lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, người công giáo ở khắp nơi trong nước tuốn đến La Vang (thuộc tỉnh Quảng Trị) để hành hương tỏ lòng hiếu thảo và kính mến Đức Mẹ, nhờ đó họ nhận được nhiều ơn lành từ người Mẹ chung rất nhân từ của nhân loại. Năm nay 2005, cũng như mọi năm, khách hành hương sẽ đến đây 3 ngày – từ 13 đến 15 tháng 8 – để được sống dưới bóng từ bi của Mẹ hiền, để suy nghĩ về tình thương của Mẹ, để cầu nguyện, dâng thánh lễ kính Mẹ, và nhất là để được ơn cải hóa từ bên trong. Hành hương, một việc làm tốt đẹp Hành hương đến một nơi nào đó có tính linh thiêng và lịch sử liên quan đến Chúa Giêsu, Đức Mẹ hay một vị thánh nào đó để tỏ lòng kính mến, yêu thương, hiếu thảo… đối với các Ngài là một việc làm rất tốt đẹp, đáng khuyến khích. Nhưng còn tốt đẹp và đáng khuyến khích hơn nữa khi các Kitô hữu cùng đến thật đông đảo những nơi đó vào cùng một ngày đặc biệt nào đó, chẳng hạn đến La Vang vào dịp kỷ niệm hàng năm ngày Đức Mẹ hiện ra tại đó. Việc làm tập thể này mang tính giáo hội, tính cộng đồng rất cao. Việc thờ phượng Thiên Chúa, việc tôn sùng Đức Mẹ hay các thánh không chỉ nên thực hiện với tư cách cá nhân, mà còn cần thực hiện với tư cách cộng đồng hay tập thể Giáo Hội nữa. Điều quan trọng là tấm lòng Nhưng vấn đề cốt yếu để làm đẹp lòng Thiên Chúa, để tỏ lòng hiếu thảo với Đức Mẹ hay lòng kính mến các thánh không nằm ở chính việc hành hương mà ở tấm lòng yêu thương thúc đẩy ta đi hành hương. Điều quan trọng và có giá trị trước Thiên Chúa là phải có lòng, có cái tâm yêu mến đã; việc hành hương chỉ là hành động biểu lộ cụ thể tấm lòng yêu thương ấy. Nếu việc hành hương không xuất phát từ tấm lòng yêu thương ấy, thì nó chẳng có giá trị bao nhiêu. Thánh Phaolô cho biết: «Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi» (1Cr 13,3). Lòng yêu thương hay đức mến ấy mới là điều cốt yếu phải có để việc hành hương có giá trị trước Thiên Chúa và đem lại cho ta ơn phúc, sức mạnh, bình an… Đặt vấn đề như vậy, ta thấy việc hành hương chưa phải là chuyện ưu tiên phải làm, mặc dù rất nên làm. Mà chuyện ưu tiên phải làm là có tình yêu thương trước đã. Nếu tình yêu thương ấy là một tình cảm đích thực thì tự nhiên nó phải được thể hiện thành việc làm cụ thể. Mà thể hiện thành việc làm cụ thể thì không nhất thiết phải là đi hành hương, mà có rất nhiều việc khác có thể làm, thậm chí cần thiết phải làm hơn rất nhiều. Tóm lại, người ta có thể đi hành hương mà không do tình yêu thúc đẩy; và người được tình yêu thúc đẩy thì không nhất thiết là phải đi hành hương. Hành hương là gì? Hành hương là ra khỏi nơi mình ở, nơi mình thường sống để đến một nơi linh thiêng nào đó liên quan đến Thiên Chúa, Đức Mẹ hay một vị thánh nào đấy. Do đó, hành hương có thể được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa thể chất và nghĩa tâm linh. Hành hương theo nghĩa thể chất rất dễ hiểu và người Kitô hữu thường thực hiện thứ hành hương này. Nó đem lại khá nhiều lợi ích cho người hành hương: được ơn này ơn kia, ơn khỏi bệnh, ơn bình an, ơn soi sáng để giải quyết khó khăn, ơn tìm được người thân bị lạc, tìm được của cải bị mất, v.v… Nhưng ơn quan trọng nhất là ơn được cải hóa, ơn từ bỏ con người cũ ích kỷ để trở thành con người mới vị tha, biết thật sự yêu thương. Tuy nhiên, hành hương có thể hiểu theo nghĩa tâm linh, đó là hành hương bằng nội tâm, xảy ra ngay trong nội tâm của mình. Đây là một kiểu hành hương làm đẹp lòng Thiên Chúa, Đức Mẹ nhất, và đem lại nhiều ơn lành quí giá nhất. Hành hương nội tâm Hành hương nội tâm là ra khỏi bản thân mình để đến với Thiên Chúa và tha nhân. Người ta chỉ thực hiện được cuộc hành hương này khi quyết tâm từ bỏ tính ích kỷ của mình. Người ích kỷ thì tâm trí luôn bị chi phối bởi chính «cái tôi» của mình, lúc nào cũng luẩn quẩn với «cái tôi» của mình, không vượt ra khỏi sự kiềm chế của «cái tôi» ấy để thật sự đến với Thiên Chúa và tha nhân được. Khi cầu nguyện, người ích kỷ chỉ nghĩ tới những nhu cầu, những đau khổ của họ, những gì đang làm họ bận tâm, những điều họ mong muốn nhưng chưa thành tựu, và họ xin Thiên Chúa giải quyết, đồng thời ban cho họ đủ mọi thứ mà họ yêu cầu. Họ chỉ nghĩ đến những gì họ muốn Thiên Chúa làm cho họ, không hề nghĩ đến hoặc nghĩ đến rất ít những gì Thiên Chúa muốn họ làm cho Ngài, cho tha nhân chung quanh họ. Khi làm một điều gì tốt cho ai, họ luôn luôn tính toán xem làm như thế thì lợi ích cho họ được bao nhiêu. Nếu thấy việc làm ấy có lợi cho họ, đời này hoặc đời sau, thì họ mới chịu làm. Tâm trí họ không bao giờ vượt ra khỏi bản thân họ. Chính những người này cần phải làm một cuộc hành hương nội tâm nếu muốn nhận được dồi dào sức mạnh và hồng ân của Thiên Chúa. Thật vậy, ta thử đặt mình vào địa vị của Thiên Chúa xem ta sẽ đối xử thế nào với một người ích kỷ như thế? Và ta sẽ đối xử thế nào với một người vị tha không nghĩ gì đến chính bản thân họ mà chỉ nghĩ đến chuyện làm những gì ta muốn người ấy làm? Nếu ta là Chúa ta sẽ ban ơn cho ai nhiều hơn? – Đương nhiên ta sẽ ban ơn dư dật cho người chỉ nghĩ đến ta, hoặc nghĩ đến ta nhiều hơn chính bản thân họ. Đó chính là ý nghĩa lời Chúa Giêsu: «Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi thì sẽ cứu được mạng sống ấy» (Lc 9,24). Cuộc hành hương nội tâm phải xảy ra trong chính nội tâm của mình chứ không phải trong không gian vật chất. Ta có thể cứ ngồi ở nhà mà vẫn hành hương đúng với ý muốn của Thiên Chúa khi ta thật sự ra khỏi chính mình để thật sự đến với Thiên Chúa, đến với tha nhân bằng những tâm tình, tư tưởng và hành động thật sự vị tha, đầy tinh thần yêu thương. Khi làm như vậy, ta sẽ kéo ơn Chúa và sức mạnh của Ngài đến với ta thật dồi dào. Ngược lại ta cũng có thể hành hương đến nơi nọ nơi kia, đến tận nước nọ nước kia, tốn không biết bao nhiêu thời gian và tiền bạc, mà không hề ra khỏi bản thân ta, để rồi ta chẳng nhận được ơn Chúa bao nhiêu. Một thí dụ về hành hương nội tâm Một thầy dòng lớn tuổi nọ có một nguyện ước ngay từ hồi còn trẻ, khi mới vào dòng, là trong đời mình sẽ đi hành hương đến Bêlem, Nazarét, Giêrusalem. Ông muốn đến tận nơi Chúa Giêsu đã sinh ra, nơi Ngài sống thời thơ ấu. Ông muốn đích thân đi trên con đường Chúa Giêsu đã đi khi vác thánh giá, và đến tận đỉnh núi sọ, nơi Ngài chết thảm thiết vì ông. Ông muốn như thế vì ông rất yêu mến Ngài. Ông đã ngỏ ý nguyện ấy với bề trên nhà dòng. Vì thế, bề trên cho phép ông được để dành tiền cho công việc ấy. Ai cho ông tiền thì ông cứ giữ lấy không phải nộp cho bề trên như các thầy dòng khác. Để dành suốt 40 năm trường ông mới có tạm đủ tiền để thực hiện cuộc hành hương ấy, lúc ấy ông đã trên 60 tuổi. Đến ngày thực hiện cuộc hành hương ấy, ông ra khỏi nhà dòng với tâm hồn thật phấn khởi vì ông đang bắt đầu thực hiện điều ông hằng mơ ước suốt 40 năm qua. Nhưng trên đường đi mua vé máy bay, ông tình cờ gặp một bà mẹ đang khóc lóc thảm thiết vì con bà bị bệnh nan y mà không có tiền chữa trị. Nó sẽ chết trong vòng một tháng nếu bà không đưa nó vào bệnh viện điều trị. Nó là đứa con duy nhất của bà, và đang là người nuôi sống bà trong tuổi già. Mất nó, bà không thể sống được. Nhưng số tiền bà cần để chữa trị cho con quá cao, ngang với toàn bộ số tiền mà ông thầy dòng đã để dành suốt 40 năm. Nhờ suy niệm Tin Mừng hằng ngày, ông bỗng nhận ra Chúa Giêsu đang thật sự hiện thân trong hai mẹ con đang gặp cơn khốn khổ này. Ông cảm nghiệm một cách rất thực tế như vậy. Thế là bao nhiêu tiền ông để dành được suốt 40 năm qua, ông trao cho bà mẹ ấy tất cả, rồi về lại nhà dòng với tâm trạng thật hân hoan. Cha bề trên hỏi ông sao lại về, ông bảo ông đã đi hành hương và đã gặp được chính Chúa Giêsu rồi. Ông nói đúng, ông đã đi hành hương rồi, một cuộc hành hương thật sự và đúng nghĩa nhất. Ông đã hoàn toàn ra khỏi lòng mình, ra khỏi ước nguyện mà ông vẫn cho là linh thiêng cao cả nhất của đời ông để đến với Thiên Chúa và tha nhân. Ước nguyện đó dẫu sao vẫn là của ông mà ông cho rằng hợp với ý của Thiên Chúa. Nhưng khi gặp hoàn cảnh cùng khốn của hai mẹ con bà kia, ông đã từ bỏ ý riêng ấy để làm theo ý Thiên Chúa mà ông nhận ra ngay tức thời khi gặp họ: phải cứu lấy con bà ấy. Mạng sống của nó bội phần quý hơn và cần thiết hơn cuộc hành hương của ông. Ông nhận ra sự hy sinh ấy có giá trị cao cả trước Thiên Chúa và đẹp lòng Ngài gấp bội việc hành hương của ông. Kể từ đó trở đi, cuộc sống ông thay đổi hẳn vì ông thường xuyên gặp được Chúa Giêsu đích thực luôn hiện thân nơi những người đang sống chung quanh ông: các thầy sống cùng dòng với ông, và những người mà thỉnh thoảng ông gặp trong cuộc đời. Tuy không hành hương bằng thể chất đến Palestine, nhưng ông đã hành hương bằng tinh thần trong nội tâm của ông. Ông đã ra khỏi chính bản thân ông để thật sự đến với Thiên Chúa luôn hiện diện nơi tha nhân ông gặp, và cũng đến với chính họ. Ông đã từ bỏ ý riêng của ông, cho dù đó là ước nguyện ông đã theo đuổi suốt cả đời ông, để làm theo thánh ý Thiên Chúa mà ông nhận ra vào phút chót. Thực hiện được cuộc hành hương nội tâm ấy, ông đã trở thành con người mới: con người vị tha. Trở thành người vị tha, lập tức ông cảm thấy quan niệm, cách suy nghĩ, cách hành động, cụ thể nhất đối với ông là cách cầu nguyện, cũng thay đổi theo. Cách cầu nguyện cũ rõ ràng phản ảnh tính ích kỷ của ông. Cách cầu nguyện vị tha Ông nhận ra cách cầu nguyện hay nhất, đẹp ý Thiên Chúa nhất, đem lại sức mạnh và ơn Chúa cho ông nhiều nhất, đó là: thay vì nói với Chúa những điều ông muốn để xin Chúa thực hiện, thì ông xin Chúa hãy nói với ông những gì Ngài muốn để ông thực hiện. Cách cầu nguyện mới của ông là: thay vì lo nói cho thật nhiều với Chúa thì ông chỉ quan tâm lắng nghe Ngài nói. Ông cảm thấy nghe Ngài nói có lợi hơn là nói với Ngài rất nhiều. Vì những gì ông định nói, muốn nói, Ngài đã biết tất cả, nên ông cảm thấy không cần phải nói. Điều ông cần và rất cần là biết được Ngài muốn gì nơi ông. Muốn thế, ông phải lắng tai nghe Ngài nói. Và khi ông lắng nghe, ông thấy rõ ràng Chúa nói với ông. Trong cách cầu nguyện này ông không xin gì với Chúa mà chỉ quan tâm đến những gì Chúa yêu cầu ông làm. Nhưng quả thật chưa bao giờ ông lại nhận được dồi dào ơn Chúa như bây giờ. Ông đã được tất cả những gì ông cần, và nhất là ông cảm nghiệm được sức mạnh và hạnh phúc đích thực của Chúa đến với ông. Có phải bạn rất muốn đi hành hương La Vang, Tà Pao, hay Lộ Đức, Fatima? Tốt lắm! Xin Thiên Chúa chúc lành cho điều mong ước ấy. Nhưng rất có thể bạn không có thì giờ, tiền bạc hay điều kiện để thực hiện? Đừng lo, bạn vẫn có thể hành hương bằng nội tâm của bạn, một kiểu hành hương mà Thiên Chúa và Đức Mẹ luôn mong muốn bạn thực hiện hơn cả những cuộc hành hương mà bạn vẫn mong muốn thực hiện bấy lâu nay●
Khổng Nhuận Vấn để được đặt ra là: “Cần phải có gì để thức tỉnh?” Đây là một trong những vần đề hóc búa và gai góc ngay cả đối với hàng ngũ linh mục. Trước đây, trong thời gian mò mẫm tìm chân lý, chính tôi đã nhiều lần tham vấn các linh mục quen biết (trên một vài lớp trong chủng viện) với một câu hỏi rất nghiêm chỉnh: Làm cách nào để biết mình thức tỉnh? Hầu hết các Ngài đều trợn mắt lên tưởng như tôi từ cung trăng rớt xuống. Có lẽ trong đời linh mục của các Ngài, chưa ai đặt ra cho một một vấn nạn nghe rất quen thuộc trong Phúc âm, nhưng không dễ trả lời chút nào. Có vị ân cần bảo: Phải giữ mình cho sạch tội trọng, vì Chúa đến như kẻ trộm. Tôi tâm sự: Cả mấy năm nay, em không mắc tội trọng, ngoài tội lo ra vớ vẩn. Còn chuyện giờ Chúa gọi, ai cũng biết phải đối diện với nó, nhưng có mấy ai chuẩn bị cho giờ kinh khủng ấy, trừ một số người nằm liệt giường liệt chiếu, biết sức khoẻ mình sắp tàn và giờ phút từ giã cõi trần sắp tới, mà trong lòng vẫn còn vương vấn cõi trần, và rất hoang mang không biết mình sẽ ra sao sau khi chết - "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?" (Ga 14:5) Rõ ràng vẫn chưa phải là tỉnh thức, vì em nghe nói thức tỉnh là tình trạng cực kỳ sáng suốt và bình an. Nếu vẫn còn lo sợ, bối rối thì chứng tỏ đang ngủ mê chứ làm sao gọi là thức tỉnh được? Có vị lại khuyên: Phải cầu nguyện luôn kẻo sa chước cám dỗ. Tôi thắc mắc: Em đã từng nghe nói: Phải cầu nguyện liên lỉ, nhưng làm cách nào có thể cầu nguyện liên lỉ, trong khi đầu óc suy nghĩ đủ thứ chuyện trên đời và chân tay tất bật làm việc từ sáng tới tối; lấy đâu ra giờ để cầu nguyện? Thế anh cầu nguyện liên lỉ thế nào? Mỗi ngày được được bao nhiêu phút? Ngài ngước mặt lên, dáng vẻ tự tin: Chú mày giỡn hả? Sáng chiều dâng lễ, đọc kinh phụng vụ đã ngốn hết cả vài tiếng đồng hồ rồi đấy. Tôi hỏi tới: Tuyệt vời, nhưng em nghe dạy rằng cầu nguyện là sống những giây phút tương quan thân mật với Chúa của lòng mình. Vậy trong những giờ mà anh gọi là cầu nguyện, anh có thực sự sống thân mật với Chúa không? Ngài cúi mặt xuống, trầm tư một vài giây: À, à ….. điều này coi bộ khó thực hiện. Thì ra bấy lâu nay mình vẫn tự hào là linh mục của Chúa, thi hành trọn vẹn bổn phận một linh mục của giáo hội. Hôm nay cậu đặt câu hỏi này khiến mình phải suy nghĩ lại cách sống của mình bấy lâu. Cám ơn những chia sẽ thẳng thắn của cậu. Có vị chân thành hơn: Thú thật với cậu, tớ cũng còn đang lùng bùng về vấn đề gây cấn này. Thật đáng tiếc! Các linh mục quen biết đều không giúp gì cho nỗi băn khoăn, khắc khoải, trăn trở của tôi vào thời gian đó. Trong cộng đoàn, ngay cả các huynh trưởng cao cấp, hầu như không ai quan tâm vấn đề gai góc này. Người ta chỉ đặt nặng vấn đề vâng phục khi nhận công tác ở trên giao và dấn thân phục vụ cho công trình của Chúa trong việc Ra Khơi Loan Báo Tin Mừng. Chúng tôi thường nói đùa với nhau: nhớ dấn thân nhé, nhớ dấn thân nhé! Trong công cuộc ra khơi Loan Báo Tin Mừng, chúng tôi dấn thân như một đàn cừu nối đuôi nhau theo một con đường đã được lập trình cụ thể và rất chi tiết. Thí dụ hát 3 bài và chỉ được chọn trong sách đã phát hành dành riêng cho cộng đoàn mình, không được hát bài khác. Khi huấn luyện, phải nói những gì ở trên soạn ra, chỉ thêm một chút cho có vẻ màu mè chứ không được nói những gì ngoài bài. Có thể nói chúng tôi là một đống cassette vô hồn. Ấn một phát là nói. Một số người chưa quen, có thể đọc một đoạn rồi giải thích sơ sơ những điều mà ai cũng hiểu, rồi lại đọc nguyên văn đoạn tiếp theo…cứ thế cho tới hết bài. Người nghe chẳng biết ý người thuyết trình muốn nhấn mạnh điều gì - cứ đều đều như một bài dân ca ru ngủ.
|