MẸ THIÊN CHÚA

Lm. Vũ Xuân Hạnh

 

I. TUYÊN TÍN CỦA ĐỨC PIÔ XII.

Ngày 1.11.1950, đúng vào dịp lễ các thánh Nam Nữ, Đức Thánh Cha Piô XII long trọng tuyên bố cho toàn thể thế giới Công giáo rằng: “Thánh Mẫu Thiên Chúa là Đấng Vô nhiễm nguyên tội, Đức Maria trọn đời đồng trinh, sau khi sống trọn cuộc đời trần thế, đã được triệu hồi cả hồn và xác vào trong vinh quang thiên quốc.” Kể từ lời tuyên bố trong thánh lễ tuyên tín long trọng hôm ấy, mầu nhiệm Đức Maria được Thiên Chúa đưa về trời cả hồn và xác, trở thành chân lý đức tin cho toàn thể thế giới Công giáo.

Chỉ trong một lời tuyên tín ngắn gọn và quan trọng để tuyên bố một tín điều, Đức Giáo hoàng đã liệt kê cùng lúc đầy đủ bốn đặc ân vô cùng cao cả, ngoài Đức Maria không có bất cứ ai có được. Đó cũng là bốn chân lý tuyệt đối của lòng tin thuộc về đời sống và nhân đức riêng tư của Đức Maria mà mỗi người Kitô hữu phải tin:

- Đức Maria, Thánh Mẫu Thiên Chúa, tức là được làm Mẹ Thiên Chúa.

- Đức Maria, Đấng Vô nhiễm nguyên tội, tức là không hề mắc tội tổ tông truyền từ ngay khi thành thai trong lòng mẹ.

- Đức Maria, Đấng Đồng trinh trọn đời, tức là dù mang thai và sinh con, Mẹ vẫn trinh khiết vẹn toàn.

- Và hôm nay, Mẹ đã được Chúa triệu hồi cả hồn và xác vào trong vinh quang thiên quốc, tức là lên trời cả hồn và xác, sống trong hạnh phúc vĩnh cửu mà Thiên Chúa dành để tặng ban cho tất cả những ai thuộc về Chúa nhờ cả một đời sống thánh thiện nơi gian trần.

II. MẸ THIÊN CHÚA.

Điều đặc biệt cần lưu ý trong lời tuyên tín của Đức Piô XII, đó là đặc ân làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria được Đức Thánh Cha nêu lên trước tiên: “Thánh Mẫu Thiên Chúa.” Nơi Đức Maria, quyền làm Mẹ Thiên Chúa là hồng ân trước hết, trên hết, một hồng ân đặc biệt không ai có thể có. Đó cũng chính là hồng ân quan trọng nhất - không chỉ cho cá nhân Đức Mẹ, mà còn cho cả dòng lịch sử cứu độ và lịch sử nhân loại, cho chính nhân loại - mà Thiên Chúa ban cho Mẹ. Bởi từ ngày thưa “Xin Vâng” với thánh ý Chúa qua lời thiên thần Gabriel, Mẹ đã chính thức cộng tác và hiệp công hoàn toàn với Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa, cũng là Người Con duy nhất của Mẹ, và là Đức Chúa mà Mẹ tôn thờ, kính yêu, nhằm mang lại ơn cứu rỗi đời đời cho nhân loại.

Nếu Đức Maria không được Chúa mời gọi làm Mẹ Chúa Giêsu Kitô, hoặc giả sử, Thiên Chúa đã mời gọi, nhưng Đức Maria không đón nhận quyền làm Mẹ Thiên Chúa của mình, chắc chắn, Đức Maria cũng hoàn toàn giống như chúng ta mà thôi: sẽ không bao giờ Vô nhiễm nguyên tội từ khi tượng thai. Mẹ cũng sẽ không bao giờ đồng trinh trọn đời, một khi đã sanh con. Mẹ cũng sẽ chẳng được triệu hồi cả hồn và xác về trời trước chúng ta như hiện nay. Nhưng thực tế, Mẹ đã được tất cả, vì Mẹ đã chấp nhận làm Mẹ Thiên Chúa. Mẹ đã dấn thân cách hết sức hoàn hảo cho ơn gọi này để nên nữ tỳ của Chúa cách cao đẹp nhất. Bởi sự dấn thân hoàn toàn ấy, Mẹ đã chấp nhận mọi thử thách, dẫu là cây thập giá khốn cùng nhất, để hoàn thành sứ vụ làm Mẹ Đấng Cứu Thế của mình.

III. NHỮNG KỶ NIỆM NƠI TÂM HỒN MẸ THIÊN CHÚA.

Chúng ta ghi nhận sự dấn thân trong vai trò làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria:

- Đức Maria không chỉ chấp nhận và đón nhận mầu nhiệm thập giá như là một việc làm để xin vâng cho đẹp lòng Chúa mà thôi. Dù điều đó đã là tốt lắm. Nhưng với tư cách làm Mẹ của Con, Đức Maria hằng khắc sâu những kỷ niệm của Chúa Kitô trong lòng mình. Mẹ khắc sâu để nội tâm hóa chính đời sống của mình, để hoàn hảo tiếng “Xin Vâng” như của lễ toàn thiêu hiến dâng Thiên Chúa. Bởi thế, những kỷ niệm của Chúa Kitô, vốn đã là những kỷ niệm của Mẹ, càng trở nên sâu lắng và dữ dội thôi thúc Mẹ mỗi một ngày một mãnh liệt hơn trong sự dấn thân cho Thiên Chúa của Mẹ. Cũng bởi thế, những kỷ niệm không chỉ là kỷ niệm, mà là cả một khung trời nội tâm sâu sắc, dệt nên tâm hồn yêu mến Chúa của Mẹ.

- Hơn thế, cả cuộc đời, trong khi dõi theo từng bước đi của Con qua năm tháng, Mẹ đã sống kết hợp với Con, với cây thập giá đời Con cách trung thành, để những kỷ niệm, không chỉ là kỷ niệm ấy, trở nên chính sự sống và sức sống cho cả cuộc đời dương thế của Mẹ.

- Mẹ khắc ghi mọi lời, mọi biến cố trong cuộc đời Chúa Kitô, như là những kỷ niệm giữa Mẹ với Con mình, nhưng không hề là những kỷ niệm đơn thuần, mà là sự chiêm ngưỡng đến tận cùng, sự suy tư sâu lắng, đúc kết thành cả một đời chìm lắng trong cầu nguyện của Mẹ.

- Những kỷ niệm không dừng lại ở kỷ niệm ấy, đã cho Mẹ đi từ khám phá này đến khám phá khác về Người Con mà Mẹ hằng bồng ẵm, nuôi dưỡng, và lớn lên bên cạnh mình, nhưng chưa bao giờ Mẹ hiểu hết chính Người Con ấy và lối đường mà Người Con ấy thực hiện.

Dù trong ngày truyền tin, thiên thần có cho Mẹ biết, Mẹ sẽ mang thai Con Thiên Chúa Chí Thánh thật: “Maria, đừng sợ, vì người đã đắc sủng nơi Thiên Chúa. Và này, nơi lòng dạ, người sẽ thụ thai, và sinh con, và người sẽ gọi tên Ngài là Giêsu. Ngài sẽ làm lớn, và được gọi là Con Đấng Tối Cao, và Chúa, Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngai Đavid, cha Ngài; và Ngài sẽ làm vua trên nhà Giacob cho đến đời đời, và vương quyền của Ngài sẽ vô cùng vô tận.” (Lc 1, 30-33). Nhưng cả Thiên Chúa lẫn thiên thần của Chúa, không nói gì thêm, không có một lời giải thích nào rõ ràng hơn, hoặc chí ít là khả dĩ có thể hiểu được. Kinh Thánh không ghi lại bất cứ một hành động hay một lời nói nào để ưu tiên giải thích cho Mẹ về mầu nhiệm của chính Người Con của Mẹ. Bởi vậy, sao biến cố “Xin Vâng” của ngày truyền tin, Mẹ vẫn là một người bình thường giữa muôn người. Chúa trả Mẹ về với cuộc sống đời thường, để dù biết mình là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ vẫn cứ phải dò dẫm tìm kiếm suốt đời, nhằm tìm ra thánh ý Chúa và xin vâng suốt đời như thế. Chỉ có những kỷ niệm được Mẹ nội tâm hóa mới dần dà sáng lên một cách khả dĩ mầu nhiệm nơi Đấng Cứu Thế mà thôi.

- Những kỷ niệm quý giá bên cạnh Con mình, đã biến Đức Maria thành người nữ của sự chiêm ngưỡng. Mẹ đã trung thành chiêm ngưỡng các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Cứu Thế và trở nên kiểu mẫu lớn lao cho sự chiêm ngưỡng của chúng ta:

Trong mầu nhiệm Giáng sinh, sự chiêm ngưỡng của Mẹ hướng về Chúa Con ngay từ lúc truyền tin, khi cưu mang Người nhờ Chúa Thánh Thần, khi lên đường viếng thăm người chị họ Isave và nhận ra dấu lạ diệu kỳ mà Chúa đã thực hiện nơi hai mẹ con của người chị họ. Mẹ đã chiêm ngưỡng Chúa Con khi hạ sinh Người tại Bêlem. Trong cảnh nghèo hèn quá sức của ngày Giáng Sinh, Mẹ đã nhận ra Người Con của Mẹ là vị Chúa giàu sang của những người nghèo. Đồng thời Người là Chúa của Mẹ, vì Mẹ cũng là người nghèo của Chúa. Mẹ đã chiêm ngưỡng Người Con của mình khi tiến dâng Người cho Chúa Cha trong đền thờ và lắng nghe lời tiên tri đau xót: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà.” (Lc 2, 35) của cụ già Simêon. Mẹ đã chiêm ngưỡng dung nhan của Người trong ngày hiển linh, tỏ mình cho dân ngoại, khi ba vị đạo sĩ ngoại giáo đến triều yết Người. Mẹ đồng hành với Chúa Con trên đường di tản sang Aicập để tránh sự đe dọa của bạo quyền Hêrôđê, rồi lại tiếp đồng hành trở về quê hương sau khi Hêrôđê chết.

Trong mầu nhiệm Ẩn dật, Mẹ chiêm ngưỡng phần lớn cuộc sống của Chúa Giêsu chia sẻ thân phận của đại đa số loài người. Đó là một cuộc đời bình thường: lao động chân tay, tùng phục lề luật, vâng phục Thiên Chúa, lắng nghe tiếng Chúa.

Mẹ cũng nhận ra nơi Người Con ấy, dù hết lòng yêu mến và vâng phục cha mẹ trần thế của mình, nhưng không xao lãng phận vụ phải chu toàn mà Cha trên trời đã trao ban. Sự nhận ra ấy cụ thể nhất là lúc tìm được Con sau mấy ngày thất lạc trong đền thánh. Sự vâng phục trong đời sống thường ngày của Chúa Kitô trong mầu nhiệm ẩn dật là khởi đầu công trình tái lập những gì mà Ađam đã phá đổ vì bất tuân phục (Rm 5, 19). Bởi vậy, dù là cuộc sống bình yên, nhưng mầu nhiệm ẩn dật, đặc biệt chính lời Chúa Giêsu: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà Cha con sao?” (Lc 2, 41-52), đã thoáng cung cấp cho Mẹ bằng chứng về “một lưỡi gươm đâu thấu tâm hồn” mình.

Trong mầu nhiệm Công khai, khởi đầu tại tiệc cưới Cana (Ga 2, 1-12), cái nhìn chiêm ngưỡng của Mẹ như xuyên thấu, như hiểu rõ tâm tư của Người Con khi đề nghị một cách nhẹ nhàng, tế nhị về một dấu lạ, mà lẽ ra chưa đến lúc Người Con ấy ra tay thực hiện. Chính điều đó, cho chúng ta thêm một bằng chứng, với sự chiêm ngưỡng thâm sâu và hiểu rõ ý Chúa, Đức Maria trở thành người đầy quyền lực trong lời chuyển cầu cho đoàn con dưới thế.

Trong công cuộc truyền giáo của Chúa Con, Đức Maria đã không ngừng dõi theo từng bước Con đi, để cùng với bao nhiêu người đồng bào thân tín, Mẹ nhận ra chính nơi Người Con yêu dấu của Mẹ là hiện thân của Nước Trời.

Không chỉ dõi bước theo Con bằng một sự chiêm ngưỡng thụ động, Đức Maria đã lên đường đến gặp Con trong lúc Con đang thi hành phận vụ. Chính trong khung cảnh cảm động ấy, Người Con Một của Mẹ đã thốt lên lời ca ngợi những ai sống Lời Chúa, và gián tiếp khen ngợi Mẹ mình: “Mẹ Ta và anh em Ta là những kẻ nghe và làm theo Lời Thiên Chúa.” (Lc 8, 21).

Trong mầu nhiệm Khổ nạn, Đức Maria hướng cái nhìn chiêm ngưỡng trong đau buồn của mình để tiếp sức cho con, an ủi Con, về mặt trần thế, để Con hoàn thành đến mức trọn hảo cây thập giá đời mình. Cùng với nhiều phụ nữ đạo đức, Đức Maria đã thực sự vác thập giá trên trọn nẻo đường thập giá của Con, điều mà ngay cả những nam nhi, thanh niên như các tông đồ, dù đã có cả một thời gian sống bên cạnh Người Con ấy, còn khiếp sợ, bỏ chạy trốn, hòng thoát thân.

Khi đứng dưới chân thập giá (Ga 19, 25), Mẹ chứng kiến cuộc khổ nạn và cái chết của Người, cái nhìn chiêm ngưỡng và hiệp thông sâu xa của Mẹ, đã làm cho Mẹ trở thành người nữ đầu tiên cộng tác với Chúa Cứu Thế, mang lại ơn cứu rỗi cho loài người. Đến lúc nhận lấy tông đồ Gioan làm con của mình, Mẹ đã dang rộng vòng tay từ ái và mở rộng bầu tim chỉ chất chứa có tình yêu mà thôi, đón nhận cả một đoàn con đông đảo dưới thế làm con của mình.

Trong mầu nhiệm Phục sinh, cái nhìn chiêm ngưỡng của Mẹ tỏ rạng niềm vui vinh quang của ánh sáng Phục sinh, một sự Phục sinh vĩnh cửu, làm cho loài người được tham dự vào chính sự sống của Thiên Chúa. Và chính Mẹ, người nữ đầu tiên qua muôn thế hệ, trong khắp nhận loại, được vinh quang hưởng nhờ trước ơn Phục sinh của Con mình, để như Con, thân xác của Mẹ không bao giờ bị hủy hoại. Chúa Kitô đã không để thân xác người Mẹ đã sinh ra mình về mặt nhân trần bị hư nát, bởi Mẹ chính là Mẹ của Người, Mẹ Thiên Chúa.

Cuối cùng, cái nhìn chiêm ngưỡng của Đức Maria rực cháy vì được tràn đầy Thánh Thần trong ngày lễ Hiện Xuống. Cùng với ơn Thánh Thần được trao ban cho riêng mình và cho cả Hội Thánh, Đức Maria trở thành Nữ Vương các thánh tông đồ, tiếp tục dõi theo từng bước chân của đoàn con trong công tác truyền giáo khắp thế giới. Mãi cho đến hôm nay, và sẽ còn tiếp tục về sau, Đức Maria vẫn là Người Mẹ kính yêu của cả Hội Thánh. Vì thế trong mọi công tác hôm nay của mình, Hội Thánh tin rằng, mình luôn luôn có một ánh mắt dõi theo bằng lời chuyển cầu hết sức hiệu ngiệm và uy thế trước mặt Chúa Kitô, bởi một lẽ đơn giản: Mẹ là Mẹ của Người và là Mẹ của cả Hội Thánh. Hướng về Chúa Kitô, hưởng vinh quang Phục sinh của Con mình, Mẹ không bao giờ khước từ đoàn con dưới thế.

*** 

Đúng thật, Mẹ là Mẹ Thiên Chúa! chính nhờ hồng ân cao cả này, Đức Maria đã nhận được nhiều đặc ân quý giá khác mà Thiên Chúa tặng ban (chẳng hạn ba đặc ân còn lại mà Đức Thánh Cha Piô XII đã nói).

Nhưng với tình mẫu tử của Mẹ Thiên Chúa dành cho đoàn con, nơi Đức Maria, dù đã nhận được nhiều hồng ân cao cả, Mẹ không hề sống cho riêng mình, lại luôn luôn vươn ra toàn nhiệm thể của Chúa Kitô, để mang lại nhiều kết quả cứu độ cho đoàn con đông đảo này.

Nhưng cái gì cũng có “giá trị” riêng của nó mà mọi chọn lựa đều phải “trả” cho cái “giá trị” ấy. Vì thế, nếu gọi là “trả giá,” thì Đức Mẹ đã hoàn thành xuất sắc ơn gọi làm Mẹ Thiên Chúa của mình trong mọi chiều kích mà Thiên Chúa muốn Mẹ phải cộng tác với Đấng Cứu Thế. Bởi vậy, hồng ân Thiên Chúa ban cho Mẹ đã đẹp, đã sang trọng, đã kiều diễm, lại được chính Mẹ tô điểm bằng cả một đời dâng hiến của mình, càng tôn vinh chính Mẹ, càng làm cho Mẹ lộng lẫy và quý phái vô cùng. Chính vì thế, Mẹ trở thành kiểu mẫu và trường học cho cả Hội Thánh và cho mọi Kitô hữu.

Mẹ Maria là một gương mẫu vô song cho ta về việc dấn thân theo Chúa Kitô, vì không ai say sưa yêu mến Chúa Kitô như Mẹ. Bắt đầu bằng tiếng “Xin Vâng” trong ngày đầu tiên được diễm phúc làm Mẹ Thiên Chúa, tình yêu của Mẹ đối với Thiên Chúa vốn đã có từ lâu, nay lại càng mãnh liệt trên chính Người Con yêu quý của mình. Tình yêu ấy đã khiến Mẹ đã một lần thưa “Xin Vâng,” có đủ can đảm, đủ lòng tin, lòng cậy trông sống một đời xin vâng.

Hôm nay, nhân lễ Đức Mẹ được đưa về trời cả hồn và xác, chúng ta ôn lại và quãng diễn một chút về lời tuyên tín của Đức Piô XII: “Thánh Mẫu Thiên Chúa là Đấng Vô nhiễm nguyên tội, Đức Maria trọn đời đồng trinh, sau khi sống trọn cuộc đời trần thế, đã được triệu hồi cả hồn và xác vào trong vinh quang thiên quốc.” Chúng ta tiếp tục đưa ánh mắt đức tin của mình, dõi theo Đức Maria mà chiêm ngắm Chúa Kitô, chiêm ngắm đời sống và lời giảng dạy của Người, để như Mẹ đã sống cho Người, ta cũng sẽ trở nên môn đệ của Người. Và sau cùng, để như Mẹ được Thiên Chúa ân trưởng trọng hậu, chúng ta cũng được cứu độ cả hồn lẫn xác, nhờ Chúa Kitô, Đấng Cứu chuộc chúng ta đời đời.

 

Trở về Muc Lục