Số 55, Ngày 20-08-2005

 MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Cần Một Chọn Lựa - Lm Vũ Xuân Hạnh

Người Kitô Hữu - Lm. Phạm Văn Phuợng, O.P.

Cái Tôi Tuyệt Vời: Gây Tai Họa - Khổng Nhuận

Rao Giảng Tin Buồn - Xuân Thái

Bạn Có Biết? - Maranatha sưu tầm và tổng hợp

Cho Em - Trần Duy Nhiên

Em Là Ai? - Tiểu Di

Thánh Blog: Vị Thánh Mới Nhất Của Giáo Hội Công Giáo - Vũ Thanh

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

 

Thư Tòa Soạn

 

Kính thưa Quý độc giả,

MARANATHA có nghĩa là: Lạy Chúa, xin ngự đến! (Kh 22,20): Đây là lời nguyện kết thúc Thánh Kinh và là lời cầu nguyện tha thiết nhất trong phụng vụ của các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi – cũng là lời cầu nguyện của các tín hữu mọi thời, khắp nơi cho đến ngày cánh chung.

MARANA THA: Tâm tình cầu xin của Kinh Lạy Cha quen thuộc mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta: xin cho danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

MARANATHA: Tên Trang Nhà và Tạp Chí Điện Tử Công Giáo với ước mong chia sẻ và đồng hành với các tín hữu Việt Nam về những thao thức, niềm hy vọng sống ơn gọi và sứ mệnh Kitô hữu giữa lòng trần thế.

MARANATHA: Lời cầu nguyện của những người chắp bàn tay trước Thiên Chúa, để đủ sức mở đôi tay ra với đời – dù luôn phải đối diện với những giới hạn của bản thân, trăn trở với những băn khoăn, thử thách trong cuộc sống hàng ngày – và mời gọi chúng ta sống, làm chứng về Đức Kitô và tình yêu của Ngài được thể hiện trong thế giới hôm nay.  

Trên đây là Thư Ngỏ được đăng trên Trang Nhà (website) của tuần báo điện tử Maranatha. Trước hết, phải cảm tạ Chúa và cảm ơn quý độc giả trong thời gian qua đã kiên  nhẫn đợi chờ. Rất nhiều thư độc giả đã thư về thăm hỏi, làm thế nào để tìm lại các số báo đã phát hành, làm thế nào để tìm một số tài liệu đã được đăng trước đây... Hẹn hò, chờ đợi, nhắc nhở, khích  lệ, hỏi thăm, biết bao ân tình và quý mến của bạn đọc dành cho. Một số độc giả thương tình gửi thư cho biết đã dành một chỗ trên trang nhà của mình cho Maranatha có nơi trú ngụ, có bạn đề nghị sẵn sàng thực hiện website riêng cho Maranatha. Lời cám ơn chân thành xin gửi đến tất cả. Biết bao ưu ái, bấy nhiêu chờ đợi, đến nay thì Trang Nhà của Maranatha đã hình thành và xin ra mắt quý độc giả với địa chỉ http://www.maranatha-vietnam.net

Trang Nhà của Maranatha trình làng đúng vào dịp Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới đang diễn ra tại Kohn, Đức quốc. Sự trùng hợp diệu kỳ thật dễ thương vì Trang Nhà của Maranatha được một số bạn trẻ và cũng là độc giả trung thành của Maranatha thực hiện. Các bạn trẻ ấy, cũng như các tín hữu thao thức sống và làm chứng về Tình Yêu lớn lao trong đời mình, họ phải tự mưu sinh, kiếm sống, cùng với lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ, họ đang cống hiến hết mình cho mục vụ tại giáo xứ địa phương và các sinh hoạt làm phong phú đời sống tâm linh. Thế đấy, dù bận rộn, tất tả ngược xuôi, nhưng với lòng quý mến đặc biệt dành cho Maranatha, khi Trang Nhà trước đây đã phải tạm ngưng ngoài ý muốn, đồng thời số độc giả mới ngày càng tăng và nhu cầu tìm đọc lại các số báo cũ càng nhiều, thì chính các bạn đã nhiệt tình ủng hộ thực hiện trang nhà cho Maranatha. Xin gửi đến các bạn nụ hồng của lòng biết ơn thay cho quý độc giả.

Chúc mừng và hiệp thông với Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, Trang Nhà Maranatha hiện diện thật giản đơn, bình thường như chính tạp chí điện tử Maranatha bấy lâu nay, nghĩa là Trang Nhà không có mục đích nào to lớn, chỉ mong hình thành cho Maranatha một căn nhà đơn sơ, một nơi chốn cho chúng ta có lối trở về, nếu có ngày chúng ta bận rộn hoặc phải đi xa nhiều ngày, tờ báo thân thương bị lạc mất nơi đâu. Vâng, để tìm lại số báo đã phát hành, hoặc một số bài khá hay nhưng dài quá, không thể gửi qua các số báo thường xuyên vì số trang báo gửi đi cần giới hạn, sẽ được đưa vào Trang Nhà của chúng ta đó. Giản đơn thế thôi, với nhiệt tình của các bạn trẻ nhưng cũng vì bận rộn nhiều cho các mục vụ khác, kính mong quý độc giả đón nhận và góp ý chỉnh trang thêm để ngôi nhà của chúng ta ngày càng tuơi mát, sinh động cho chim trời bay về làm tổ...cho Nước Cha trị đến như lời khẩn nguyện mãi ngân vang…Maranatha: Lạy Chúa, xin ngự đến !

MARANATHA

Trở về mục lục >>

 

 

 TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXI

CẦN MỘT CHỌN LỰA

 

Lm. Vũ Xuân Hạnh

1. THẨM ĐỊNH ĐỨC TIN NƠI CÁC TÔNG ĐỒ.

Sau một thời gian tuyển chọn và cho các môn đệ được chứng kiến chính Chúa Giêsu trên hành trình truyền giáo khắp nơi, đã đến lúc Chúa muốn cật vấn về chính thái độ tin của các môn đệ. Chúa đòi các ông phải thẩm định lại đức tin của các ông. Với lời hỏi: “Người ta bảo Con Người là ai?” chỉ là lời gợi mở để đi đến xác định chính thái độ của các môn đệ, sẽ khép lại trên chính lòng tin của các ông với câu hỏi tiếp theo: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?” Người ta nói gì, suy nghĩ gì về Thầy không quan trọng. Điều quan trọng là nơi các con. Đức tin của các con đối với Thầy là thế nào, ở tầm mức nào. Đó mới là điều quan trọng.

Cũng phải thôi, cật vấn về lòng tin là điều tối quan trọng cho thái độ theo Chúa của họ. Hơn nữa, đó là những người mà Chúa biết là Người sẽ cần đến, sẽ trao cho vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng Nước Thiên Chúa của Người. Vì thế càng phải giúp họ thẩm định đức tin của chính họ.

Bắt đầu từ việc thẩm định đức tin, toàn bộ câu chuyện Tin Mừng Mt 16, 13-23, chia làm ba phần, ăn khớp với nhau. Cả ba phần như cùng tập trung vào mỗi một hình ảnh chính yếu: thánh Phêrô. Bởi việc nhấn mạnh hình ảnh thánh Phêrô, tác giả Mathêô cho thấy ngay từ đây, Phêrô có một vị trí quan trọng:

- Chúa Giêsu cật vấn, và Phêrô đại diện tông đồ đoàn tuyên xưng đức tin.

- Chúa Giêsu trao quyền lãnh đạo Hội Thánh cho Phêrô.

- Chúa Giêsu báo thương khó, thánh Phêrô can ngăn và bị quở trách.

Có lẽ vì tính chất quan trọng của lời tuyên xưng đức tin - bởi ngay sau lời tuyên xưng đó, sẽ bắt đầu một giai đoạn mới: Chúa đưa dẫn các môn đệ đi dần vào cuộc khổ nạn và phục sinh của Người - mà đoạn Tin Mừng này được nhiều người đồng ý rằng, đó là đoạn Kinh Thánh trung tâm hoặc bản lề của toàn bộ tin Mừng theo thánh Mathêô.

Cũng bắt đầu từ đây, tông đồ đoàn nói chung và thánh Phêrô nói riêng, được Chúa Giêsu hướng dẫn để theo Người, không chỉ hôm nay mà còn cả sau này, khi Người không còn hiện diện hữu hình với các ông. Tuy sự giáo dục của Chúa, mãi đến khi Chúa hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua, xem ra các môn đệ vẫn chưa thể thấu đáo hoàn toàn, nhưng cuối cùng các ông sẽ lãnh hội với ân huệ mới: ơn Thánh Thần được ban cho các ông. Với ơn Chúa Thánh Thần, các môn đệ của Chúa Kitô đã làm cho lớn lên và phát triển đến vô cùng, Hội Thánh mà Chúa để lại cho các ông.

Bởi vậy, với một sứ mạng mới, một nhịp bước mới, một hành trình mới, mà nơi đó có biết bao nhiêu gian khó đang chờ đợi phía trước, các môn đệ của Chúa Kitô cần phải có một cái nhìn toàn diện hơn, một tình yêu tinh ròng hơn, một đức tin sắt son hơn, một lòng can đảm và nhiệt huyết hơn. Vì thế, đại diện cho tông đồ đoàn, và cho cả Hội Thánh hôm nay, lời tuyên xưng đức tin của thánh Phêrô: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” (Mt 16, 16) là tối cần thiết, là điều kiện cấp bách. Nó không chỉ là lời trên môi miệng, muốn nói sao thì nói. Nhưng nó diễn tả cả một tâm hồn thành khẩn của người môn đệ theo bước Thầy mình.”

2.  CHỌN LỰA ĐỨC TIN CỦA CHÚNG TA.

Bạn thân mến, chưa cần đề cập đến các phương diện như khoa học, tôn giáo, đời sống xã hội…, chỉ mới nói tới nghệ thuật mà thôi, ai cũng biết, có một người được miêu tả nhiều nhất trong nghệ thuật, trải qua mấy mươi thế kỷ, đó chính là Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người ta đã và vẫn tiếp tục phác họa hình ảnh của Người bằng nhiều cách: điêu khắc, tạc tượng, vẽ ảnh, tranh sơn mài…

Cũng là một hình ảnh được thánh Phêrô khắc họa, nhưng không phải trên giấy, trên vải hay trên gỗ mà trong lòng người, trên đời sống tinh thần của con người, đó là đức tin. Ông không chỉ khắc họa một Đấng Messia trên trần thế, Đấng Cứu độ muôn loài. Lần đầu tiên, thay mặt tông đồ đoàn, thánh Phêrô đã vẽ nên hình ảnh của Chúa Giêsu rất đúng, rất đẹp: vẽ chính thần tính của Người: Chúa Kitô xuất phát từ Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa của muôn loài. “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.”

Cùng với thánh Phêrô, ta cũng cần phải tuyên xưng đức tin trong suốt hành trình của cuộc đời theo Chúa nơi chính mình. Lời tuyên xưng đức tin ấy cần phải được thốt lên tận đáy của lòng trung thành và yêu mến Chúa nơi mỗi chúng ta. Nói cách khác, lời tuyên xưng trên môi miệng, phải trở thành lời thẩm định chính tâm hồn và đời sống của ta dành cho Chúa. Để có thể làm bằng chứng cho đời sống trung thành với đức tin, tôi muốn chia sẻ một cảm nghiệm thực tiễn.

Khi dạy giáo lý cho dự tòng, - thường những thanh niên thiếu nữ, nhất là đa số trong họ là người sắp lập gia đình với người Công giáo xin học giáo lý, ít thấy người lớn tuổi - tôi hay đặt những câu hỏi để anh chị em dự tòng ghi câu trả lời của họ vào giấy rồi nộp cho tôi. Tôi muốn họ, nhất là các bạn trẻ, khi xin học đạo, phải tự bản thân mình trả lời và xác tín về giáo lý mà các bạn theo học. Qua đó, tôi có thể đánh giá, ít là một phần thiện chí và sự ham muốn học đạo của bản thân họ.

Sau một thời gian dạy học, tôi nhận ra có rất nhiều người đi học đạo cho có, cho rồi, nhất là học giáo lý chỉ để lập gia đình, thì thái độ thiếu thiện chí lại càng dễ xảy ra. Thái độ học tập và những câu trả lời trên giấy của các bạn, cho tôi khẳng định điều đó. Chính vì thế, tôi vẫn nói với các bạn trẻ Công giáo rằng, các bạn hãy cố gắng tìm cho mình một người ăn đời ở kiếp là người Công giáo. Vì nói cho cùng, đời sống Công giáo góp phần xây dựng hạnh phúc gia đình rất nhiều. Dĩ nhiên ta không loại trừ trường hợp có những người Công giáo rất tệ và cũng có những tân tòng rất tốt.

Đó là những suy nghĩ khi tôi đọc được các câu trả lời từ phía các học viên của tôi. Tuy nhiên, vẫn có những bài viết có thể cho thấy tác giả của nó thành tâm, thành ý. Chẳng hạn, có một bài viết của một bạn nữ viết thế này:

“Mỗi người đều phải đi trên một con đường, dù chông gai hay trải gấm vóc. Tôi quen anh rồi đi học đạo. Thế là bây giờ, tôi lại bước đi trên một con đường khác: Con đường Đức Tin, mà nơi đó có cha là người dẫn đường, soi sáng. Lúc này rất khó để cha nghĩ là tôi có toàn tâm tin Chúa hay không. Nhưng tôi xin đoan chắc, sẽ đem cuộc sống sau khi gia nhập đạo để chứng minh điều mà cha khai sáng hôm nay, có kết quả. Hay nói cách khác, tôi sẽ cố gắng để không phụ lòng người hướng dẫn mình. Nói về giờ học, do nhà xa, đường đi đầy mối đe dọa, học về hơi tối, những hôm không có anh, mẹ tôi phải đi rước. Chỉ tội cho mẹ: con gái không giúp được gì cho mẹ, đến lúc sắp lấy chồng còn hành mẹ.”

Ngay câu mở đầu, bạn trẻ này đã nói:”Mỗi người đều phải đi trên một con đường, dù chông gai hay trải gấm vóc “Bây giờ, tôi lại bước đi trên một con đường khác: Con đường Đức Tin.”

Có bao giờ bạn tự nói với mình một lời như thế chưa? Có bao giờ ta tự ghi khắc trong lòng rằng, mỗi người đều phải đi trên một con đường, dù là hạnh phúc, hay là gian lao, đều phải có một con đường để mà đi? Cũng giống như Chúa đòi nơi các môn đệ của Người một đức tin dứt khoát về chính thân thế của Chúa, mặc cho mọi người có thể lầm tưởng Chúa là ai đi nữa. Cũng vậy, chính trong lúc này, ai khác thì có những con đường riêng của họ. Còn bạn và tôi, một khi xưng mình là Kitô hữu, con đường chúng ta đi phải là con đường đức tin. Đó chính là chọn lựa của chúng ta. Chọn lựa này trở thành chọn lựa quan trọng. Bởi nó sẽ cho ta sự dấn thân cho những gì ta đã chọn lựa. Nếu không có một chọn lựa, không có sự quyết tâm, sẽ không bao giờ có dấn thân, do đó cũng không bao giờ có hạnh phúc. Chọn lựa sống cho đức tin, đi trên con đường đức tin, đòi ta tiếp tục dấn thân cho đức tin của mình, dẫu con đường đức tin mà ta bước đi gập ghềnh hay suông sẻ.

Con đường đức tin cũng chính là con đường mang tên Giêsu. Chỉ có con đường Chúa Giêsu đã đi mới dẫn ta về phía Thiên Chúa mà thôi. Vì thế, lời tuyên xưng đức tin của thánh Phêrô ngày xưa, phải là lời thâm tín của chúng ta hôm nay: “Lạy Thầy, Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Bởi chỉ có Chúa Kitô, chỉ có Con Thiên Chúa mới có thể ban cho ta chân lý toàn vẹn về cuộc đời. Chân lý toàn vẹn ấy chính là Lời Chúa, là kho tàng ơn cứu độ mà chính Người đã thực hiện. Đi trên con đường Giêsu, ta sẽ rập khuôn theo đời sống vâng phục, yêu thương, tha thứ của Người mà dấn thân đến cùng cho chính đức tin của mình. Đi trên con đường Giêsu, ta có chính Lời của Người làm chuẩn mực cho thái độ sống của ta. Để chính trên con đường Giêsu, bằng tất cả những gì Chúa Giêsu đã sống, làm phương tiện đưa ta về cùng Thiên Chúa.

Thánh Phêrô đã một lần quả quyết về Chúa Kitô để xác định chính đức tin của mình, dù lúc đó thánh nhân chưa thể hiểu hết đường lối của Chúa. Sự dấn thân của thánh nhân cũng chưa hoàn toàn tinh ròng. Nhưng nó trở nên nền tảng cho những ngày trắc trở đang chờ đợi ở phía tương lai. Nhất là buổi ban đầu sau khi Chúa về trời, cùng lúc với việc xây dựng và phát triển Hội Thánh, cũng chính là lúc phải chấp nhận chịu bắt bớ, bách hại dữ dội, không phải một ngày, hai ngày, nhưng trải qua hàng thế kỷ.

Tiếp tục với bài viết của người bạn trẻ, ta lại thấy một chi tiết khác cảm động: “do nhà xa, đường đi đầy mối đe dọa, học về hơi tối, những hôm không có anh, mẹ tôi phải đi rước. Chỉ tội cho mẹ: con gái không giúp được gì cho mẹ, đến lúc sắp lấy chồng còn hành mẹ.” Dẫu thương mẹ, biết rằng, “đến lúc lấy chồng còn hànhg mẹ,” nhưng người bạn này đã không bỏ cuộc. Cô đã chấp nhận cố gắng đi trên con đường đức tin. Đọc vài cảm nghĩ trong một bài viết ngắn, dù chưa cho thấy hết lòng tin của cô, nhưng sao tôi vẫn cứ hy vọng rằng, cô tìm học giáo lý để bước vào đời sống Kitô hữu không phải chỉ do lấy chồng, nhưng còn là nỗ lực muốn sống đức tin của chính cô. Có thể vì thế mà cô đã đặt đức tin lên trên tình cảm cô dành cho mẹ?

Thôi thì ta cứ tạm tin như thế, để thấy rằng, không phải chỉ với cô gái trong bài viết kia, mà còn đối với chúng ta, hãy là những người biết chọn lựa sống đức tin, để dám sống, dám chết cho đời sống ấy. Bởi chỉ có ai đã chọn lựa đức tin làm lý tưởng, hơn nữa làm lẽ sống, người ấy mới có thể tha thiết dấn thân cho đức tin cách mạnh mẽ. Nếu đã chọn lựa, sự dấn thân sẽ không có bất cứ điều gì, dẫu là thử thách, là thương đau có thể cản lối dấn thân cho đời sống đức tin của mình

 

Trở về mục lục >>

 

NGƯỜI KI-TÔ HỮU

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

Trong những dòng cuối của sứ điệp “Hòa Bình Dưới Thế” vị cố Giáo hoàng Gioan XXIII, được mệnh danh là vị Giáo hoàng nhân từ, dễ thương, đã đưa ra cho chúng ta một định nghĩa : thế nào là một người Ki-tô hữu chân chính như sau:Mỗi một tín hữu trong thế giới của chúng ta là một mảnh sao băng, là một tụ điểm của tình yêu, là một thứ men sống động giữa những người anh em của mình. Nếu người tín hữu đóng trọn vai trò ấy, họ sẽ là người Ki-tô hữu chân chính.

Sống trọn những cam kết trên, quả thật người Ki-tô luôn là một thách thức, một câu hỏi, một sự hiện diện quấy rầy đối với mọi người. Một mảnh sao băng khi chợt sáng lên rồi tắt lịm, nhưng cũng đủ thu hút cái nhìn của con người về một góc trời nào đó. Một hạt men bé nhỏ, mất hút trong khối bột, nhưng cũng đủ sức làm dậy lên cả khối bột. Một thể hiện yêu thương, dù nhẹ nhàng đơn giản, cũng đủ sưởi ấm cõi lòng, đủ sức chinh phục hay cảm hóa bất cứ người nào. Như thế đó, sự hiện diện của người tín hữu luôn có sức thu hút, tạo được ảnh hưởng tốt cho người khác, với điều kiện họ phải sống đúng danh nghĩa người Ki-tô.

Bài Tin Mừng hôm nay cũng muốn nhắc nhở chúng ta về cuộc sống ấy. Trong những việc làm của mình, và nhất là cuộc sống của mình, Chúa Giêsu đã không ngừng là một câu hỏi cho tất cả chúng ta: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Câu hỏi đó Chúa không ngừng đặt ra cho chúng ta và yêu cầu chúng ta sống đúng với niềm tin của mình. Ai trong chúng ta cũng trả lời được Chúa Giêsu là ai? Là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa đến trần gian để dạy bảo Tin Mừng, để cứu chuộc chúng ta. Rồi đến lượt chúng ta, qua cuộc sống của mình, chúng ta cũng luôn là câu hỏi cho những người chung quanh. Dù âm thầm ẩn dật đến đâu, dù bé nhỏ vô danh đến đâu, sự hiện diện của chúng ta cũng luôn là một câu hỏi cho những người chung quanh. Nghĩa là nhìn vào đời sống chúng ta, họ bảo chúng ta là ai?

Thực vậy, giữa một xã hội đầy giành giật, đầy bon chen, lấy tiền bạc làm khuôn vàng thước ngọc, người Ki-tô sẽ vẫn là một câu hỏi, nếu chúng ta sống trong tinh thần khó nghèo, chấp nhận thua thiệt, mất mát hơn là bán đứng lương tâm để chạy theo điều phi pháp. Có một số người lấy hận thù, ăn miếng trả miếng làm luật sống, người Ki-tô sẽ mãi mãi là một câu hỏi, nếu chúng ta vẫn yêu thương với mọi người, sẵn sàng tha thứ và theo Chúa cho đến cùng. Giữa một xã hội mà nhiều người đang buông xuôi, thất vọng, người Ki-tô vẫn mãi mãi là một câu hỏi, nếu chúng ta biết sống lạc quan, tin tưởng vào một Đấng có tình yêu trong lịch sử con người. Giữa xã hội mà sự thành thật với nhau đã trở thành, một thứ xa xỉ phẩm, người Ki-tô sẽ mãi mãi là một câu hỏi, nếu chúng ta vẫn tiếp tục sống thành thật, sống tử tế, tốt đẹp với mọi người, ngay cả đối với chính kẻ thù của mình …Sống như thế quả là không dễ, là một đòi hỏi cam go, nhưng Chúa đòi chúng ta phải cố gắng sống được như thế nếu chúng ta muốn là một Ki-tô hữu đúng danh, nếu chúng ta muốn làm chứng cho Chúa.

Trong tiểu sử của thánh Sác đơ Phu-cô kể rằng: sau khi từ Ma-rốc trở về, anh say sưa kể lại cho gia đình nghe những cuộc thám hiểm đầy kỳ thú của anh qua những khu rừng Phi châu, người chăm chú theo dõi câu chuyện hơn cả là một cô cháu gái chưa đầy 10 tuổi. Khi anh vừa kể xong, bất ngờ cô bé hỏi: “Thưa cậu, cháu thấy cậu làm được nhiều việc rất hay, thế cậu đã làm được gì cho Chúa Giêsu chưa?” Câu hỏi ấy như một luồng điện giật làm Sác đơ Phu-cô bất động. Từ bao lâu nay chưa ai đã khiến anh phải suy nghĩ nhiều như thế: anh đã làm được gì cho Chúa Giêsu? Anh lục soát tâm hồn mình, anh chỉ thấy một lỗ hổng không đáy, anh đã phí phạm tất cả thời giờ và tuổi thanh xuân cho những cuộc ăn chơi trụy lạc và những danh vọng thấp hèn, mắt anh bỗng mở ra để thấy nỗi khốn khổ, nghèo hèn của mình.

Ngày hôm sau, anh tìm đến xưng tội với một linh mục. Anh vào dòng khổ tu, ít lâu sau, anh xin đến Na-da-rét để sống trọn vẹn cho Chúa Giêsu. Một ngày kia, khi đang cầu nguyện sốt sắng trong phòng, bỗng anh nghe thấy từ căn nhà bên cạnh tiếng rên rỉ của một người Hồi giáo, nhớ lại gương bác ái của Chúa Giêsu, anh tự hỏi: tôi có thể giam mình cầu nguyện trong phòng trong lúc có những anh chị em chung quanh đang khốn khổ thất vọng chăng? Thế là anh quyết định đến sống giữa họ, trở thành người anh em của họ, nhất là của những người cô đơn, lạc lõng, nghèo hèn. Những năm cuối đời, anh sống giữa sa mạc Sa-ha-ra, chia sẻ hoàn toàn cuộc sống cho những người cùng khổ, và chia sẻ đến giọt máu cuối cùng khi phát súng oan nghiệt của kẻ sát nhân bắn gục anh giữa lúc anh đang cầu nguyện.

Mọi Ki-tô hữu chân chính đều phải tự hỏi mình: tôi đã làm được gì cho Chúa Giêsu? Chúng ta cũng tự hỏi mình như thế. Qua bao nhiêu năm tháng cuộc đời, qua bao nhiêu nhiệm vụ lớn nhỏ đã hoặc đang đảm trách, qua bao nhiêu hồng ân đã lãnh nhận, tôi đã làm được gì cho Chúa Giêsu?  Không phải là cho Chúa Giêsu mãi đâu trên trời, nhưng là cho Chúa Giêsu đang tiếp tục ngự đến, đang tiếp tục hiện diện trong cuộc đời tôi, trong tâm hồn tôi, nơi những người anh em tôi, cũng là anh em của Ngài, nhất là những ai thấp hèn, cùng khổ. Tôi tự hỏi mình, mà chính Chúa Giêsu cũng hỏi tôi mỗi ngày: “Con đã làm được gì cho Cha?” cũng có nghĩa là “Con đã làm được gì cho những người anh em bé mọn nhất của Cha?” Mỗi người chúng ta hãy suy nghĩ và trả lời!

 

Trở về mục lục >>

 

 SỐNG ĐẠO

CÁI TÔI TUYỆT VỜI: GÂY TAI HỌA

Khổng Nhuận

Đã gọi là cái tôi tuyệt vời sao nó lại gây tai họa? Tuyệt vời vì nó thoả mãn con người ta, nhưng nó lại gây tai hoạ cho cho chính ta và đôi khi cho cả cộng đoàn.

Chúng ta có thể gọi đó là những cái nhãn hiệu bên ngoài. Nhãn hiệu này thường thường do người khác gán cho ta, nhưng cũng có trường hợp ta tự phong cho mình.

Nhãn hiệu tốt lành:  Cái tôi tế nhị

Ta rất tế nhị, không muốn làm phiền lòng ai. Ai nhờ điều gì, có khi ta biết chắc rằng mình không thể giúp được nhưng cũng hứa đại để làm vui lòng anh em. nhưng chính điều đó lại khiến người ta khó chịu khi cuối cùng ta lại chẳng thực hiện lời hứa. Và chính điều đó cũng làm ta áy náy không yên. Khổ thật, ta không có can đảm từ chối lời mời gọi hay yêu cầu của người khác bởi vì ta ngại mất nhãn hiệu tốt lành. Thành thử chính cái tôi tế nhị ấy đã gây tai hoạ cho ta và anh em.

Nhãn hiệu đáng phục:  Cái tôi trung tín

Ta nổi tiếng là luôn giữ lời hứa một cách tuyệt vời. Bạn bè phục lăn ta về chuyện đó, dù mưa hay năng, dù khó khăn đến đâu, ta cũng khắc phục để thực hiện lời hứa tới nơi tới chốn. Nhưng cũng chính vì nhãn hiệu trung tín này đã gây cho ta bao bực dọc khó chịu. Bất ngờ, những chuyện không đâu, ở trên trời rơi xuống, khiến nhiều lần ta không thực hiện đúng lời hứa như đã dự định. Quả là một cái tôi tuyệt vời: gây tai họa.

Nhãn hiệu cừ khôi: Cái tôi tài năng

Tôi còn nhớ mang máng một câu chuyện kể rằng. Có một số thày dòng kia chăm chỉ, siêng năng soạn bài giảng với trọn cả tâm tình với mong ước rất đơn sơ: mình chỉ cố gắng làm tròn phận sự người gieo hạt giống Lời Chúa. Nhưng một thời gian sau, danh các thày nổi lên như cồn. Ai cũng tấm tắc khen các thày giảng hay. Thế là từ đó, các thày dồn hết tâm trí của mình vào việc luyện văn sao cho trau chuốt hơn, tìm các câu chuyện minh họa dồi dào hơn, luyện giọng của mình ngọt ngào, đi vào lòng người hơn các đồng môn khác.Một cuộc so tài ngấm ngầm nhưng cũng không kém phần quyết liệt. Vừa mong mình nổi tiếng hơn anh em khác vừa sợ mình thua kém anh em đồng môn. Cái tôi bắt đầu núp đàng sau thúc đẩy các thày làm việc cất lực mong sao cho người nghe cảm phục tài năng ăn nói của mình. Điều quan trọng là chuyển tải sự sức sống Lời Chúa thì các thày quê béng đi rồi. Cái tôi tài năng với nhãn hiệu kỳ khôi đang trên đài danh vọng, hân hoan trong hạnh phúc bừng bừng!!  Quả là một cái tôi tuyệt vời: gây tai họa.

Nhãn hiệu oai phong: Cái tôi cao quý

Ngay cả trong lãnh vực Tông Đồ, ta cũng phải làm mọi cách để nhà thờ xứ mình cao hơn, to hơn các giáo xứ bên cạnh; nhóm mình ngon lành hơn nhóm khác; cộng đoàn mình nổi tiếng hơn cộng đoàn khác; ca đoàn mình hát hay hơn ca đoàn khác. Thiên Chúa bị biến thành những sản phẩm kinh tế thị trường. Thiên Chúa của cộng đoàn mình phải huy hoàng hơn cộng đoàn kia. Cùng làm việc tông đồ, nhưng ta vẫn mong họ đừng thành công như mình. Ta chẳng dại gì giúp họ ngang bằng mình… . Người công giáo chúng ta thường tự hào đạo mình là đạo thật do chính Chúa từ trời xuống lập nên. Bất cứ điều gì của Đạo mình thì luôn luôn tốt. Ngược lại, bất cứ cái gì của đạo khác thì đều sai, đều xấu với lời mỉa mai rất ấu trĩ: bọn thệ phản, bọn thờ bụt thần ma quỷ Thà làm con chó nhà Đức Chúa Trời còn hơn làm quan ở ngoài thế gian!! Chính vì thế linh mục Anthony De Mello đã kể một câu chuyện khá dí dỏm:

Có một người tỉ phú đến xin lễ

Thưa linh mục, xin ngài làm một lễ cho con chó yêu quý của tôi.

Ông nói gì? Làm lễ cho con chó của ông?!!

Nhưng tôi quý nó lăm. Xin ngài dâng một lễ cho nó.

Ở đây chúng tôi không dâng lễ cho chó. Hay là ông thử gặp giáo phái ở dưới phố kia xem sao. May ra họ có thể giúp ông.

Người ấy vừa quay ra vừa than thở với vị linh mục:

Buồn quá, tôi mến con chó ấy lắm. tôi định dâng một triệu đô-la để xin lễ cho nó đấy.

Vị linh mục vội bảo: Khoan đã, sao ông không nói rõ cho tôi biết rằng con chó của ông là CÔNG GIÁO!!

Ngay cả con chó mang nhãn hiệu công giáo còn được coi trọng huống chi là người Công giáo. Chúng ta quá tự hào, quá hợm hĩnh mình với nhãn hiệu Công giáo đến nỗi linh mục Richard Rohr, dòng Phan Sinh đã phải cay đắng thốt lên: Công giáo cao cả lắm sao?  Tất cả cả chỉ vì ta đồng hoá mình với nhãn hiệu oai phong. Quả là một cái tôi tuyệt vời: gây tai họa.

Nhãn hiệu cao quý: Cái tôi đạo đức thánh thiện

Một nhất nhãn hiệu cao quý nhất, nhưng cũng làm ta đau khổ nhất. Không đau khổ sao được khi con gái của mình lỡ cho tạm ứng trước khi kết hôn. Không hổ thẹn sao được khi mình đôi lúc yếu đuối sa ngã - chỉ một mình biết - mà đi đâu ai cũng tôn vinh mình là ông thánh sống!! Không bực tức sao được khi lỡ mang nhãn hiệu thánh thiện nên đành phải cắn răng chịu đựng những điều tai quái mà kẻ tiểu nhân cố tình đàn áp mình, xài xể mình, bôi nhọ mình. Quả là một cái tôi tuyệt vời: gây tai họa.

Nhãn hiệu uy tín: Cái tôi giấu mặt tài tình nhất 

Đây là cái tôi mà có thể nói phần lớn các huynh trưởng chóp bu thích danh vọng trong cộng  đoàn dễ bị vướng phải. Vì ta là trưởng cao nhất nên tất cả những gì ta đưa ra đều đúng, đều hợp lý, thậm chí nếu tìm trong Kinh Thánh, thế nào cũng có một vài câu Lời Chúa nào đó làm nền tảng cho kế hoạch của mình. Hầu hết các huynh trưởng đều tự phong cho mình một nhãn hiệu rất ư là tôn quý: ý huynh trưởng là ý Chúa. Các thành viên nghi ngờ điều gì, cần tham vấn đều gì. A lê hấp, cứ đi tìm huynh trưởng, chắc chắn sẽ nhận được những lời khuyên rất khôn ngoan vì đó được coi như ý Chúa, Cứ yên trí, nhắm mắt mà thi hành. Vẫn biết thường thường các huynh trưởng giỏi giang hơn thành viên, nhưng không phải luôn luôn là đúng ý Chúa. Bởi vì con người bất toàn, ngay cả các linh mục, giám mục, giáo hoàng vẫn có những sai sót, đặc biệt là những quyết định liên quan tới vấn đề tổ chức, xã hội, chuyên môn….

Nguy hiểm nhất là bỗng nhiên …đùng một cái… xuất hiện một huynh trưởng khác tỏ ra xuất sắc hơn về một lãnh vực nào đó, có nguy cơ làm lu mờ huynh trưởng chóp bu. Anh dễ bị xao động và dễ cảm thấy bị tổn thương danh dự. Chính lúc này, cái tôi giấu mắt mới bộc lộ được hết tài năng của nó. Nó thỏ thẻ bên tai rằng: Anh là huynh trưởng cao nhất. Anh phải có bổn phận gìn giữ cộng đoàn cho thật tốt. Coi chừng có kẻ khác giả làm người chăn tới phá cộng đoàn bằng những tư tưởng khác lạ so với bài bản chính thức của cộng đoàn. Kẻ đó sẽ gây hoang mang và tạo ra sự chia rẽ, không còn một lòng một trí theo anh nữa đâu. Anh phải nhân danh sự ổn định của cộng đoàn khôn khéo loại trừ tên đó một cách rất nhẹ nhàng và hợp lý nhất. Cho dù hơi vô lý một chút, cũng đừng có ngại, miễn sao làm cho hắn chán nản mà tự nguyện rời bỏ cộng đoàn. Anh tránh được tiếng loại trừ anh em. Ngoài ra còn một số đông khác như đàn cừu, chẳng biết cóc khô gì đâu. Họ thường cho rằng tên đó không biết vâng phục, ra là phải.. Cứ thế, tôi bảo đảm với anh tối đa chỉ trong vòng một năm thôi, tên đó đành phải ngậm ngùi biến khỏi cộng đoàn, lúc đó anh sẽ làm vua một cõi. Tiếng nói thì thầm đó chẳng dại gì để lộ mặt thật của nó: đó chính là cái tôi uy tín, cái tôi ganh tỵ ẩn sâu trong cõi vô thức: sợ bị lu mờ trước những huynh trưởng dưới quyền. Quả là một cái tôi tuyệt vời: gây tai họa.

Tóm lại, một khi đồng hoá với nhãn hiệu, ta thường cho rằng đó là những nén vàng, nén bạc Chúa giao để ta phát triển nó lên. Đúng thôi, nhưng khi cọ sát với thực tế, chính những nhãn hiệu tuyệt với đó  đã âm thầm dẫn dắt chúng ta hướng theo một đường lối khác: đường lối oai phong, cừ khôi theo kiểu thế gian và ta từ từ rơi vào cái bẫy ngọt ngào do người khác hoặc chính mình tạo nên. Đáng tiếc là hầu như chúng ta khó có thể thoát ra được. Lý do rất đơn giản và mạnh mẽ: Tất cả các nhãn hiệu đó đã khôn khéo khoác lên cái tôi giấu mặt một áo choàng thánh thiện lấp lánh ánh kim sa gây cho chúng ta luôn tin tưởng rằng: ta đang nỗ lực làm tròn bổn phận của mình cho công trình của Chúa!!! Trong khi cái tôi giấu mặt âm thầm lớn lên chi phối mọi suy nghĩ và thọc gậy chỉ huy vào mọi hành động của ta - đặc biệt là trong phạm vi làm việc tông đồ với cương vị hướng dẫn các cộng đoàn. Quả là một cái tôi tuyệt vời: gây tai họa

 

Trở về mục lục >>

 

RAO GIẢNG TIN BUỒN

 

            Xuân Thái

            Chẳng ai vui khi nhận tin buồn. Tin buồn chỉ mang đến tổn thương và mất mát khổ đau. Người ta thích chim én, vì én báo tin xuân vui. Người ta ghê sợ chim cú, vì cú thường mang báo điềm gở. Không ai muốn bị người khác ghê sợ vì chỉ mang Tin buồn và điềm gở. Chẳng ai muốn nhận tin buồn, nói gì đến chuyện rao giảng. Cả người rao giảng lẫn người nhận lãnh đều không ưa thích, nhưng thực tế vẫn thường xảy ra .

            Đức Giêsu là một nhân vật lịch sử, một nhân vật có thật. Những tiến bộ của khoa học hôm nay, càng ngày càng chứng minh rất nhiều những điều có liên hệ đến Ngài. Ngài không chỉ là hiện thân, nhưng chính là Đấng cứu độ thế giới đang hư hốt này. Ngài là ánh sáng của mặt trời công chính soi rọi đêm tối trần gian. Ngài chính là Tin Mừng đích thực cho những ai mong được cứu rỗi. Hàng hàng lớp lớp cả muôn triệu người thuộc bao thế hệ đã đi theo Ngài. Hôm nay, tôi cũng đi theo Ngài. Có nhiều kiểu đi theo, nhưng chỉ được xem là đi theo Ngài đích thực nếu trở nên giống Ngài, hay ít ra, cũng phải là những mong muốn và cố gắng được nên giống Ngài trong đời sống. Nếu không cố gắng được nên giống Ngài trong đời sống, thì dù vẫn mang danh là đi theo Ngài, nhưng Tin mừng đích thật về Ngài chỉ là một loại Tin mừng giả hiệu, một thứ Tin buồn được tôi thể hiện. Thật đáng tiếc biết bao, vì đôi khi nhìn lại các lời nói và việc làm của mình, tôi thấy vắng bóng công bằng bác ái là cốt lõi của tinh thần Tin Mừng. Tin Mừng thật của Chúa đã biến thành Tin mừng giả nơi tôi rồi.

            Rao giảng Tin Buồn chỉ là một cách nói trong nhiều cách nói khác nhau, về những gì là đi ngược lại tinh thần Tin Mừng của Đức Kitô. Cả đời sống tôi, với từng ngày sống của tôi cùng các hành vi sự việc, chính là những bài giảng hùng hồn và hiệu quả nhất trong việc làm nhân chứng hay phản chứng về Đấng mà tôi tôn thờ yêu mến. Phản chứng hoặc nhân chứng. Tin Mừng hay Tin Buồn đều được phản ảnh trung thành qua cách sống của tôi. Một cách rao giảng tốt hơn bất cứ cách rao giảng nào khác .

Tin mừng là của Chúa. Tin Buồn luôn thuộc về tôi. Hai sự việc khác nhau hoàn toàn, lại có vẻ như không liên hệ gì đến nhau, nhưng vì tôi thường nhân danh Chúa trong mọi vấn đề cả thiện ác tốt xấu, nên có đôi khi hoặc rất nhiều khi, Tin Mừng của Chúa đi ngang qua tôi đã bị biến thành Tin buồn mà không tự biết. Tin buồn thì không ai muốn nhận, nhưng mọi người cứ bị nhận. Tôi đã trở thành gánh nặng thay vì phải là quà tặng dành cho tất cả. Là gánh nặng hay là quà tặng, điều đơn giản này thật dễ nhận biết. Nhưng nhiều khi điều đơn giản ấy cũng bị lẫn lộn đến không thể phân biệt, nếu không có sự bình tâm và nhìn lại. Đó là những nghịch lý, nhưng lại là một thực tế vẫn thường xảy ra. Khi một điều vẫn thường xảy ra thì nghịch lý đã không còn là nghịch lý nữa rồi.

            Tin mừng về Chúa là một tình yêu vị tha vô vị lợi. Tình yêu này hoàn toàn hướng đến mọi người, cho mọi người, vì mọi người. Một tình yêu từ bỏ xả thân đến chết trên thập tự. Một tình yêu như thế, tự thân đã là một hấp lực và có sức thu hút ghê gớm.

            Tin buồn của tôi cũng là tình yêu, nhưng là một thứ tình yêu vị kỷ. Mọi chuyện đều quy hướng về Tôi. Gia đình Tôi, cộng đoàn Tôi, đạo của Tôi.

            Phân loại này chỉ mang tính lý thuyết. Vì trên thực tế, từ cá nhân cho đến tập thể, ít khi nào có những phân định rạch ròi rõ ràng như trắng với đen, như bóng tối và ánh sang. Xấu xa thường được trình bày như tốt đẹp. Ích kỷ hám hanh thường được thấy như siêu thoát vị tha. Xâm lăng đô hộ nhưng lại được nói là khai sáng bảo trợ. Nếu không có sự sáng suốt nhìn lại ta sẽ bị lầm . 

****************                           

“Anh em đừng sợ. Này đây tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là  tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa vít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa. ( Lc 2,10-11 ).

            Đó là những lời của sứ thần báo cho những người chăn chiên trong đêm Chúa Giêsu sinh ra. Thông thường, người ta sẽ hân hoan sung sướng mỗi khi nhận được một tin vui. Nhưng khi cái tin ấy quá vui, quá đặc biệt, một cái tin vượt quá sự hiểu biết và tưởng tượng của mình, thì cái tin ấy cũng làm người ta bối rối hoang mang rồi dẫn đến lo âu sợ hãi. Chính vì thế, vị sứ giả từ trời cao đã phải trấn an: Anh em đừng sợ, trước khi báo cái tin mừng trọng đại cho con người.

            Quả thật, tin về Đấng cứu độ đúng là một tin mừng trọng đại chưa từng có, và đã chia lịch sử con người thành 2 mốc thời gian: trước và sau công nguyên. Một kỷ nguyên mới là kỷ nguyên cứu độ với, trong và nhờ Đức Kitô. Đức Giêsu có mặt trên trần gian chỉ có 33 năm, Ngài đã dành 3 năm cuối đời để truyền dạy và rao giảng. Một cuộc đời ngắn ngủi chỉ 33 năm, dưới cái nhìn con người, thì Đức Giêsu là kẻ bị chết yểu giữa tuổi xuân, một cái tuổi đẹp nhất đời người. So sánh với nhiều Giáo chủ của các tôn giáo khác, như 49 năm thuyết pháp của Đức Phật, thì 3 năm rao giảng của Đức Giêsu cũng là khoảng thời gian không dài. Nhưng ảnh hưởng từ sau những rao giảng ấy thật không nhỏ chút nào. Dù biết hay không biết, dù theo hay không theo Đức Kitô, người ta cũng đều công nhận ù nền văn minh Kitô giáo. Nền văn minh ấy đã tác động và đang làm đổi thay thế giới. Lịch sử chung của nhân loại và lịch sử riêng của giáo hội đã minh chứng điều này.

            Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ mà rao giảng Tin mừng (Mc 16, 15/Mt 28, 19). Sau khi nhận phép rửa để tin nhận Đức Kitô, cũng là lúc đón nhận sứ mạng rao giảng Tin mừng như một căn tính tự nhiên của mọi Kitô hữu. Nói cách khác, sẽ không phải là Kitô hữu, nếu không có chất Kitô trong người. Chỉ là Kitô hữu giả, nếu không thể hiện được tinh thần của Đức Kitô trong tư tưởng lời nói và việc làm. Vì thế, rao giảng Tin mừng không phải là một độc quyền. Rao giảng chính là trách nhiệm và bổn phận đương nhiênø của mỗi người tin Chúa.

            Có thể nói ngắn gọn bằng một hệ luận: Kitô hữu = tin Chúa + rao giảng.

            Tin Chúa thì được gì, mất gì? Tôi đã sẵn sàng đến đâu để chấp nhận và đổi thay đời mình? Đã bao nhiêu năm rồi theo Chúa, đời sống đức tin của tôi đã trưởng thành đến đâu? Có trưởng thành để lớn lên hay ngược lại?

            Những câu hỏi kiểu này có vẻ trần trụi sống sượng, nhưng là các câu hỏi cần thiết để giúp ta thức tỉnh và nhìn lại mình, vì tin Chúa không chỉ là những khái niệm mang tính suy tư trừu tượng. Tin Chúa cũng không phải là những trình diễn đẹp mắt nơi khẩu hiệu hoặc nghi thức bên ngoài. Tin Chúa cũng không nằm trong những lời nói hay ho khéo léo, nhưng lại xáo rỗng chẳng dẫn điều gì tốt lành cụ thể. Vì Đức tin không việc làm là Đức tin chết. Thánh Giacôbê đã nói rõ thư thế. Khi Ngài nói về đức tin chết thì phải ngầm hiểu ngay rằng, đã có một đức tin sống động nhận được trong  ngày chịu phép rửa. Nhưng cùng với thời gian, đức tin ấy của tôi đã ngày một héo úa rồi tàn lụi. Chỉ còn là một đức tin trên giấy của tờ Giấy rửa tội vì không được bồi đắp và nuôi dưỡng bằng những hành động cụ thể.

            Trái ngược với đức tin chết là một đức tin sống động. Để có đức tin đáng mơ ước này, tất nhiên người ta phải rèn luyện tập tành và chịu hao tổn mất mát nhiều thứ. Mất thì giờ, mất của cải sức lực. Đôi khi mất cả danh dự, sức khỏe và mất luôn cả mạng sống mình. Theo lẽ thường của tự nhiên, ít ai muốn nhận mất mát thiệt thòi về phần mình. Vì thế, đức tin sống động luôn ít có. Tại ít có nên hiếm hoặc vì hiếm nên ít có? Điều nào thì cũng chỉ nói lên sự khác biệt với giữa 2 loại đức tin. Đức tin chết, là thứ dễ có và có nhiều ở mọi nơi mọi thời.

            Chính vì có nhiều thứ đức tin trên giấy, đức tin ảo, đức tin trình diễn như vậy, nên Tin Mừng về Đấng Cứu độ đã có lúc biến thành TIN BUỒN đối với nhiều người. Dạy giáo lý khác với rao giảng. Dạy giáo lý là truyền đạt những kiến thức về đạo. Còn rao giảng là làm chứng. Làm chứng về một kinh nghiệm sống tốt đẹp hoặc một sức mạnh mà chính mình đã được lãnh nhận và thụ hưởng. Rao giảng cũng là giới thiệu về một Đấng mà chính mình đã được quen biết. Từ quen biết rồi đến gặp gỡ và sống gắn bó thân tình, dù Đấng ấy vô hình không nhìn thấy. Tôi không thể nào nói là quen biết hay gặp gỡ thân tình với Đức Giêsu, nếu không sống với giới răn của Ngài: “Thày ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau, như thày đã yêu thương anh em.” ( Ga 13,34 ). Đạo là đường. Chỉ có một con đường để gặp được Đức Kitô đó là Tình yêu. Thánh Gioan đã khẳng định: Yêu thương là giữ tròn lề luật.

*********

            Yêu thương luôn luôn là một mời gọi, nhưng nhiều khi đã trở nên những thách đố lớn lao không vựơt qua nổi đối với con người. Nói rõ hơn, TIN MỪNG về Đấng cứu độ là Thiên Chúa Tình Yêu, đã bị biến thành TIN BUỒN khi những ai có trách nhiệm thể hiện, nhưng họ lại thiếu hoặc mất khả năng thương yêu. Thay vì loan báo Tin mừng, những lúc ấy, tôi chỉ là những kẻ Rao giảng Tin Buồn với cái thứ Đức Tin trên giấy, Đức Tin không việc làm của tôi.

Đức tin không việc làm đã là một tệ hại, nhưng còn tệ hại hơn nữa, khi tôi có những việc làm phản chứng. Khi đó, những phản chứng ấy sẽõ bôi đen và làm hỏng công trình của bao nhiêu thiện chí khác. Tôi Rao giảng Tin Buồn của tôi, nhưng cứ lại muốn người khác tin rằng tôi đang Rao giảng Tin mừng về Chúa. Mang danh là người của Kitô, nhưng tôi chẳng có chất Kitô trong người, nên đời sống của tôi rãy đầy các phản chứng mà không tự biết. Tôi đang hoang tưởng và ảo tưởng về đời sống đức tin của mình mà không nhận ra. Những hoang tưởng và ảo tưởng kiểu này không chỉ có nơi cá nhân, đôi khi có cả nơi cộng đoàn tập thể.

Mahattma Gandhi. Một vĩ nhân của loài người. Một vị thánh của toàn dân tộc Ấn Độ. Ta hãy nghe ông nói về các Kitô hữu, cụ thể là tập thể những người Anh đang đô hộ nước ông:  “Nếu những Kitô hữu ở Ấn Độ thực sự sống đúng tinh thần của Đức Kitô, thì chẳng cần phải mất công rao giảng, thì toàn dân Ấn sẽ biến thành các Kitô hữu hết.”

Trước mắt ông lúc ấy, những kẻ mang danh là Kitô hữu cũng tham lam, cũng độc ác và tàn bạo như bao kẻ xâm lăng khác. Ông rất say mê Đức Kitô, đến nỗi Thánh Kinh đã là cuốn sánh gối đầu của ông. Có một chi tiết hết sức thú vị từ niềm say mê của ông, vì chính Thánh Kinh đã giúp có những gợi ý và cho ông niềm tin cùng sức mạnh để thi hành đường lối bất bạo động. Cũng chính nhờ đường lối này mà cuối cùng, dân tộc ông đã được giải phóng. Nhưng không vì thế mà ông nhìn người Kitô hữu thiện cảm hơn chút nào. Những Kitô hữu có mặt trên đất nước ông lúc đó đang rao giảng Tin Buồn của chính họ, nhưng lại muốn mọi người xem là đang rao giảng Tin mừng về Chúa. Ông đã viết: “Đọc Thánh Kinh, tôi mến Đức Kitô. Nhưng không ưa người Công giáo. Vì họ không giống Đức Kitô chút nào.”

Nhiều người Công giáo cảm thấy bị sốc (shock) khi nghe biết câu này, vì cho rằng Gandhi bị thành kiến xấu nên ông đã phát biểu thiếu ngay thẳng trung thực. Nhưng nhiều người khác lại cám ơn và coi đây là một dịp may để nhắc nhở mình nên giống Chúa hơn.

*************

Lịch sử mỗi con người cũng như lịch sử của một dân tộc hay cộng đoàn, luôn có những đổi thay với những thăng trầm thịnh suy theo quy luật tất yếu. Có khi sáng ngời với những thành công rực rỡ, nhiều khi lại là những bóng đen của thất bại ê chề đau đớn. Cũng có luôn cả những lỗi lầm hoặc va vấp thiếu sót. Giáo hội của chúng ta cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Dù Giáo hội được Chúa thiết lập và có Thánh thần hướng dẫn, nhưng vì còn là những con người lữ hành với đủ các mặt hạn chế, nên Giáo hộâi cũng không tránh được các sai lỗi thiếu sót.

Những năm cuối đời trên ngôi Giáo hoàng, trong cương vị người đứng đầu Giáo Hội, Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 đã làm một cuộc nhìn lại toàn bộ tiến trình của Giáo hội mình. Trong 2000 năm lịch sử giáo hội, Ngài đã nhận thấy bên cạnh những nét son của rất nhiều những điều gọi là “được,” còn có những chấm đen của nhiều điều “chưa được.” Cũng có luôn cả những phản chứng ở những nơi và trong những người mà lẽ ra, phải là các chứng từ với các chứng nhân tích cực nhất.

Thay mặt Giáo Hội, Ngài đã chân thành sám hỗi và xin lỗi toàn thế giới về 7 mảng lớn, trong đó, có nhiều mảng liên quan đến vận mệnh loài người và văn minh thế giới, như cuộc chiến tranh thứ 2, vụ án Galilê.. Vàvới tư cách riêng của cá nhân mình, Ngài cũng đã nhiều lần, ở nhiều nơi ngỏ lời xin lỗi với nhiều người. Xem như thế, ai cũng thấy rõ ở ngay trong lòng Giáo Hội, cũng có lúc Tin mừng về Chúa đã bị biến thành Tin buồn để rao giảng.

Nhiều kẻ tỏ ra khó chịu và cho rằng, tại sao Đức Giáo hoàng lại dại dột quá thế, vì Ngài đã khờ khạo vạch áo cho người xem lưng như vậy. Cũng có kẻ bị lung lay đức tin, vì nghĩ rằng Giáo hội là người mẹ cũng là thày dạy đức tin, khó chấp nhận cái chuyện giáo hội cũng có những sai lầm như thế. Nhưng thật may, con số những người nghĩ như trên không nhiều. Cả thế giới đã thấy các việc làm của Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II là những việc làm của một tâm hồn vô cùng dũng cảm. Biết được những điều sai nơi mình là TRÍ, dám nhận trách nhiệm là DŨNG, xin người khác tha lỗi là NHÂN vì biết tôn trọng giá trị người khác cũng là LỄ là NGHĨA.

Cả thế giới đã kính phục và học hỏi gương sống của Ngài. Ngài đã làm một việc mà, từ 2000 năm nay chưa ai làm. Nhiều giáo hội địa phương trên thế giới đã học tập và noi gương Ngài để nhìn lại mình. TạiViệt Nam, tinh thần thức tỉnh của Đức cố giáo hoàng đã sống lại nơi Giáo phận Thái Bình, khi cách đây vài tháng, trong một buổi lễ rước kiệu long trọng có sự hiện diện của nhiều người nhiều giới, có cả những người không có đạo. Vị đứng đầu Giáo phận đã vác một cây thánh giá lớn, Ngài bước đi từng bước rồi lại từng bước một cách chậm chạp, cùng với nhiều vị đồng tế khác. Sau đó, Đức Giám mục là vị trách nhiệm cao nhất, đã chân thành xin lỗi tất cả mọi người về những thiếu sót của chính mình và những người thuộc quyền. Một bầu khí lắng đọng đến rưng rưng đã bao trùm suốt cả buổi lễ. Trong buổi lễ, lòng mọi người như lắng lại và trầm hẳn xuống. Những hình ảnh ấy, nhiều người chỉ được nhìn thấy qua mạng, nhưng ai cũng bùi ngùi cảm động. Có người đã bật khóc.

                                                            ****************

Thời nay, người ta cần chứng nhân hơn cần thầy dạy. Mọi giá trị trong xã hội đang bị đảo lộn. Ngay thẳng trả lại của rơi thì bị xem là ngu khờ dại dột. Phá thai là chuyện bình thường không phải là giết người. Đồng tính không phải là chuyện ghê tởm bẩn thỉu và đầy rẫy đủ thứ các tệ nạn khác. Là một thành phần của xã hội, nên giáo hội không tránh khỏi bị ảnh hưởng vì các đổi thay trong xã hội. Hiện nay, dân số Kitô giáo trên thế giới tuy có tăng theo đà tăng của dân số thế giới, nhưng tỷ lệ người Kitô hữu càng ngày càng giảm từ 50 năm trở lại đây. Ngay taiï Châu âu, nơi trước đây dân số Kitô hữu đã là 70%, thì nay tỷ lệ người thực sự hành đạo chỉ còn chưa tới 5%. Theo thống kê của Tòa thánh, tại Á Châu tính đến cuối năm 1998 số Kitô hữu chỉ là 2,7%. Số Kitô hữu tăng chủ yếu là do số trẻ em được rủa tội sớm. Vừa lọt lòng mẹ đã thành Kitô hữu rồi. Con số những người giác ngộ và tự nguyện trở thành Kitô hữu thì rất ít.

Thực trạng ấy chẳng có gì đáng vui. Tin mừng về Đức Kitô không còn cần thiết, hay vì ở đâu và với ai đó Tin mừng kia đã biến thành Tin buồn, đang khi ai cũng chán và ghê sợ Tin buồn như ghê sợ chim cú ? Trong đó, liệu có tôi không ?

Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi. Lỗi tại tôi mọi đàng. Những lời trong kinh cáo mình này, cùng với cộng đoàn, tôi thường đọc rất sốt sắng trong nhà thờ, nhưng lại rất ít khi được thể hiện trong đời sống. Lỗi tại tôi mọi đàng hay Tiên trách kỷ, hậu trách nhân chính là một nguyên lý vô cùng minh triết, để giúp trước hết, chính mình được sống hạnh phúc thăng hoa, và đồng thời sẽ mang bình an hạnh phúc đến cho người khác. Tôi chỉ đọc sốt sắng trong nhà thờ mà không áp dụng trong đời sống, nên chính tôi không được nếm hưởng hạnh phúc. Tôi không có hạnh phúc trong lòng, thì làm sao cho kẻ khác điều tôi không có? Tôi đã biến Đạo tình yêu thành Đạo nhà thờ. Đạo của tôi đã trở thành Đạo nhà thờ, đang khi thời gian ở trong nhà thờ là rất ít. Tôi chỉ sống đạo trong nhà thờ, nên Tin mừng Tình yêu về Chúa đã biến thành Tin buồn mà tôi rao giảng.

Sai lỗi, thiếu sót là chuyện tất yếu và bình thường của con người. Nhưng có đủ sáng suốt để nhận ra hay không là một chuyện khác hẳn. Và một khi đã nhận ra, liệu còn có đủ dũng khí và can đảm để sửa sai hay không lại là một chuyện hoàn toàn khác nữa.

Xin Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II cầu cho chúng con

Trở về mục lục >>

 

 

ĐẠI HỘI GIỚI TRẺ THẾ GIỚI  

BẠN CÓ BIẾT…?

 

Maranatha sưu tầm và tổng hợp 

Bạn có biết, hiện nay trên thế giới có biến cố nào đang được các biên tập viên truyền thanh truyền hình và các trang nhà quan tâm nhiều nhất, đăng tải nhiều bản tin nhất?

  • Xin thưa, đó là biến cố Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới (ĐHGTTG) lần thứ XX đang được diễn ra tại thành phố Köln, Đức Quốc. Bạn có thể vào thăm http://www.dhgt-2005.net để biết thêm chi tiết.

Bạn có biết, ĐHGTTG là gì, hình thành lúc nào ĐHGTTG và do ai chủ xướn

  • ĐHGTTG một ngày hội của niềm tin. Đó là một biến cố lớn của giới trẻ thế giới. Các bạn trẻ  này thuộc các quốc gia, chủng tộc, tiếng nói, màu da khác nhau sẽ dự ĐHGTTG tại một quốc gia nào đó. Trong đại hội các bạn trẻ sẽ gặp gỡ, cầu nguyện, vui chơi, và hội thảo để trao đổi với nhau các kinh nghiệm sống thuộc các nền văn hoá khác nhau, giúp xây dựng bản thân, đời sống đức tin, và cùng nhau tìm ra những phương thức thực hành đức bác ái giữa thế giới hôm nay.  Khi ra về các bạn trẻ sẽ cố gắng để xây dựng một tương lai tốt đẹp và phong phú hơn cho gia đình, tổ quốc và xã hội.

  • Sáng kiến tổ chức Ngày Giới Trẻ Thế Giới (NGTTG) là của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Trong năm 1983 - 1984 Giáo Hội Công Giáo mừng Năm Thánh đặc biệt để tưởng niệm cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô cách đó 1950 năm. Trước Lễ Phục Sinh 1984, thời điểm kết thúc Năm Thánh, Đức Thánh Cha đã mời gọi tất cả các Bạn Trẻ trên toàn thế giới đến tham dự Chúa Nhật Lễ Lá tại Rôma - và rất đông các bạn trẻ đã đáp lời. Phấn khởi vì số tham dự viên lớn lao này, Đức Thánh Cha đã chính thức công bố năm 1985 là Năm Của Giới Trẻ, và mời các bạn trẻ đến Roma vào Chúa nhật Lễ Lá 1985. Xúc động vì sự thành công của ngày gặp gỡ giới trẻ dịp này, vào tháng 12 năm 1985 Đức Thánh Cha đã công bố chính thức rằng, từ nay sẽ tổ chức mỗi năm ngày gặp gỡ cho giới trẻ. Và không chỉ thế: cứ hai năm một lần sẽ có một Ngày Giới Trẻ Thế Giới chính thức được tổ chức tại một nơi nào trên thế giới. Trong những năm nằm giữa các NGTTG quốc tế này Đức Thánh Cha mời gọi giới trẻ tham dự NGTTG thuộc cấp địa phận được tổ chức vào ngày chủ nhật Lễ Lá tại các giáo xứ địa phương. Các NGTTG được đếm liên tục không lệ thuộc vào hình thức quốc tế hay thuộc địa phận. Như thế, Ngày Giới Trẻ năm 1986 là Ngày Giới Trẻ thứ nhất được tổ chức cấp Giáo Phận tại Roma – ĐHGT Thế Giới có tính quốc tế đầu tiên được tổ chức tại năm 1987 tại Buenos Aires, thủ đô nước Argentina (Nam Mỹ), và ĐHGTTG tại Köln năm 2005 là lần thứ XX.

Bạn có biết  ĐHGTTG đã diễn ra ở những đâu và có khoảng bao nhiêu ngưòi tham dự?

  • Năm 1987 tại Buenos Aires, thủ đô nước Argentina (Nam Mỹ), khoảng một triệu người tham dự

  • Năm 1989 tại Santiago de Campostella, Bồ Đào Nha (Âu Châu), khoảng nửa triệu người tham dự

  • Năm 1991 tại Czestochowa, Ba Lan (Âu Châu), khoảng hơn một triệu rưỡi người tham dự. 

  • Năm 1993 tại Denver, Colorado, Hoa Kỳ (Bắc Mỹ), có khoảng  nửa triệu người tham dự. 

  • Năm 1995 tại Manila ,Thủ đô Phi Luật Tân (Á Châu), có khoảng nửa triệu người tham dự.

  • Năm 1997 tại Paris, thủ đô Paris (Âu Châu), khoảng trên một triệu người tham dự.