|
RAO GIẢNG TIN BUỒN
Xuân Thái Chẳng ai vui khi nhận tin buồn. Tin buồn chỉ mang đến tổn thương và mất mát khổ đau. Người ta thích chim én, vì én báo tin xuân vui. Người ta ghê sợ chim cú, vì cú thường mang báo điềm gở. Không ai muốn bị người khác ghê sợ vì chỉ mang Tin buồn và điềm gở. Chẳng ai muốn nhận tin buồn, nói gì đến chuyện rao giảng. Cả người rao giảng lẫn người nhận lãnh đều không ưa thích, nhưng thực tế vẫn thường xảy ra . Đức Giêsu là một nhân vật lịch sử, một nhân vật có thật. Những tiến bộ của khoa học hôm nay, càng ngày càng chứng minh rất nhiều những điều có liên hệ đến Ngài. Ngài không chỉ là hiện thân, nhưng chính là Đấng cứu độ thế giới đang hư hốt này. Ngài là ánh sáng của mặt trời công chính soi rọi đêm tối trần gian. Ngài chính là Tin Mừng đích thực cho những ai mong được cứu rỗi. Hàng hàng lớp lớp cả muôn triệu người thuộc bao thế hệ đã đi theo Ngài. Hôm nay, tôi cũng đi theo Ngài. Có nhiều kiểu đi theo, nhưng chỉ được xem là đi theo Ngài đích thực nếu trở nên giống Ngài, hay ít ra, cũng phải là những mong muốn và cố gắng được nên giống Ngài trong đời sống. Nếu không cố gắng được nên giống Ngài trong đời sống, thì dù vẫn mang danh là đi theo Ngài, nhưng Tin mừng đích thật về Ngài chỉ là một loại Tin mừng giả hiệu, một thứ Tin buồn được tôi thể hiện. Thật đáng tiếc biết bao, vì đôi khi nhìn lại các lời nói và việc làm của mình, tôi thấy vắng bóng công bằng bác ái là cốt lõi của tinh thần Tin Mừng. Tin Mừng thật của Chúa đã biến thành Tin mừng giả nơi tôi rồi. Rao giảng Tin Buồn chỉ là một cách nói trong nhiều cách nói khác nhau, về những gì là đi ngược lại tinh thần Tin Mừng của Đức Kitô. Cả đời sống tôi, với từng ngày sống của tôi cùng các hành vi sự việc, chính là những bài giảng hùng hồn và hiệu quả nhất trong việc làm nhân chứng hay phản chứng về Đấng mà tôi tôn thờ yêu mến. Phản chứng hoặc nhân chứng. Tin Mừng hay Tin Buồn đều được phản ảnh trung thành qua cách sống của tôi. Một cách rao giảng tốt hơn bất cứ cách rao giảng nào khác . Tin mừng là của Chúa. Tin Buồn luôn thuộc về tôi. Hai sự việc khác nhau hoàn toàn, lại có vẻ như không liên hệ gì đến nhau, nhưng vì tôi thường nhân danh Chúa trong mọi vấn đề cả thiện ác tốt xấu, nên có đôi khi hoặc rất nhiều khi, Tin Mừng của Chúa đi ngang qua tôi đã bị biến thành Tin buồn mà không tự biết. Tin buồn thì không ai muốn nhận, nhưng mọi người cứ bị nhận. Tôi đã trở thành gánh nặng thay vì phải là quà tặng dành cho tất cả. Là gánh nặng hay là quà tặng, điều đơn giản này thật dễ nhận biết. Nhưng nhiều khi điều đơn giản ấy cũng bị lẫn lộn đến không thể phân biệt, nếu không có sự bình tâm và nhìn lại. Đó là những nghịch lý, nhưng lại là một thực tế vẫn thường xảy ra. Khi một điều vẫn thường xảy ra thì nghịch lý đã không còn là nghịch lý nữa rồi. Tin mừng về Chúa là một tình yêu vị tha vô vị lợi. Tình yêu này hoàn toàn hướng đến mọi người, cho mọi người, vì mọi người. Một tình yêu từ bỏ xả thân đến chết trên thập tự. Một tình yêu như thế, tự thân đã là một hấp lực và có sức thu hút ghê gớm. Tin buồn của tôi cũng là tình yêu, nhưng là một thứ tình yêu vị kỷ. Mọi chuyện đều quy hướng về Tôi. Gia đình Tôi, cộng đoàn Tôi, đạo của Tôi. Phân loại này chỉ mang tính lý thuyết. Vì trên thực tế, từ cá nhân cho đến tập thể, ít khi nào có những phân định rạch ròi rõ ràng như trắng với đen, như bóng tối và ánh sang. Xấu xa thường được trình bày như tốt đẹp. Ích kỷ hám hanh thường được thấy như siêu thoát vị tha. Xâm lăng đô hộ nhưng lại được nói là khai sáng bảo trợ. Nếu không có sự sáng suốt nhìn lại ta sẽ bị lầm . **************** “Anh em đừng sợ. Này đây tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa vít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa.” ( Lc 2,10-11 ). Đó là những lời của sứ thần báo cho những người chăn chiên trong đêm Chúa Giêsu sinh ra. Thông thường, người ta sẽ hân hoan sung sướng mỗi khi nhận được một tin vui. Nhưng khi cái tin ấy quá vui, quá đặc biệt, một cái tin vượt quá sự hiểu biết và tưởng tượng của mình, thì cái tin ấy cũng làm người ta bối rối hoang mang rồi dẫn đến lo âu sợ hãi. Chính vì thế, vị sứ giả từ trời cao đã phải trấn an: Anh em đừng sợ, trước khi báo cái tin mừng trọng đại cho con người. Quả thật, tin về Đấng cứu độ đúng là một tin mừng trọng đại chưa từng có, và đã chia lịch sử con người thành 2 mốc thời gian: trước và sau công nguyên. Một kỷ nguyên mới là kỷ nguyên cứu độ với, trong và nhờ Đức Kitô. Đức Giêsu có mặt trên trần gian chỉ có 33 năm, Ngài đã dành 3 năm cuối đời để truyền dạy và rao giảng. Một cuộc đời ngắn ngủi chỉ 33 năm, dưới cái nhìn con người, thì Đức Giêsu là kẻ bị chết yểu giữa tuổi xuân, một cái tuổi đẹp nhất đời người. So sánh với nhiều Giáo chủ của các tôn giáo khác, như 49 năm thuyết pháp của Đức Phật, thì 3 năm rao giảng của Đức Giêsu cũng là khoảng thời gian không dài. Nhưng ảnh hưởng từ sau những rao giảng ấy thật không nhỏ chút nào. Dù biết hay không biết, dù theo hay không theo Đức Kitô, người ta cũng đều công nhận ù nền văn minh Kitô giáo. Nền văn minh ấy đã tác động và đang làm đổi thay thế giới. Lịch sử chung của nhân loại và lịch sử riêng của giáo hội đã minh chứng điều này. Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ mà rao giảng Tin mừng (Mc 16, 15/Mt 28, 19). Sau khi nhận phép rửa để tin nhận Đức Kitô, cũng là lúc đón nhận sứ mạng rao giảng Tin mừng như một căn tính tự nhiên của mọi Kitô hữu. Nói cách khác, sẽ không phải là Kitô hữu, nếu không có chất Kitô trong người. Chỉ là Kitô hữu giả, nếu không thể hiện được tinh thần của Đức Kitô trong tư tưởng lời nói và việc làm. Vì thế, rao giảng Tin mừng không phải là một độc quyền. Rao giảng chính là trách nhiệm và bổn phận đương nhiênø của mỗi người tin Chúa. Có thể nói ngắn gọn bằng một hệ luận: Kitô hữu = tin Chúa + rao giảng. Tin Chúa thì được gì, mất gì? Tôi đã sẵn sàng đến đâu để chấp nhận và đổi thay đời mình? Đã bao nhiêu năm rồi theo Chúa, đời sống đức tin của tôi đã trưởng thành đến đâu? Có trưởng thành để lớn lên hay ngược lại? Những câu hỏi kiểu này có vẻ trần trụi sống sượng, nhưng là các câu hỏi cần thiết để giúp ta thức tỉnh và nhìn lại mình, vì tin Chúa không chỉ là những khái niệm mang tính suy tư trừu tượng. Tin Chúa cũng không phải là những trình diễn đẹp mắt nơi khẩu hiệu hoặc nghi thức bên ngoài. Tin Chúa cũng không nằm trong những lời nói hay ho khéo léo, nhưng lại xáo rỗng chẳng dẫn điều gì tốt lành cụ thể. Vì Đức tin không việc làm là Đức tin chết. Thánh Giacôbê đã nói rõ thư thế. Khi Ngài nói về đức tin chết thì phải ngầm hiểu ngay rằng, đã có một đức tin sống động nhận được trong ngày chịu phép rửa. Nhưng cùng với thời gian, đức tin ấy của tôi đã ngày một héo úa rồi tàn lụi. Chỉ còn là một đức tin trên giấy của tờ Giấy rửa tội vì không được bồi đắp và nuôi dưỡng bằng những hành động cụ thể. Trái ngược với đức tin chết là một đức tin sống động. Để có đức tin đáng mơ ước này, tất nhiên người ta phải rèn luyện tập tành và chịu hao tổn mất mát nhiều thứ. Mất thì giờ, mất của cải sức lực. Đôi khi mất cả danh dự, sức khỏe và mất luôn cả mạng sống mình. Theo lẽ thường của tự nhiên, ít ai muốn nhận mất mát thiệt thòi về phần mình. Vì thế, đức tin sống động luôn ít có. Tại ít có nên hiếm hoặc vì hiếm nên ít có? Điều nào thì cũng chỉ nói lên sự khác biệt với giữa 2 loại đức tin. Đức tin chết, là thứ dễ có và có nhiều ở mọi nơi mọi thời. Chính vì có nhiều thứ đức tin trên giấy, đức tin ảo, đức tin trình diễn như vậy, nên Tin Mừng về Đấng Cứu độ đã có lúc biến thành TIN BUỒN đối với nhiều người. Dạy giáo lý khác với rao giảng. Dạy giáo lý là truyền đạt những kiến thức về đạo. Còn rao giảng là làm chứng. Làm chứng về một kinh nghiệm sống tốt đẹp hoặc một sức mạnh mà chính mình đã được lãnh nhận và thụ hưởng. Rao giảng cũng là giới thiệu về một Đấng mà chính mình đã được quen biết. Từ quen biết rồi đến gặp gỡ và sống gắn bó thân tình, dù Đấng ấy vô hình không nhìn thấy. Tôi không thể nào nói là quen biết hay gặp gỡ thân tình với Đức Giêsu, nếu không sống với giới răn của Ngài: “Thày ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau, như thày đã yêu thương anh em.” ( Ga 13,34 ). Đạo là đường. Chỉ có một con đường để gặp được Đức Kitô đó là Tình yêu. Thánh Gioan đã khẳng định: Yêu thương là giữ tròn lề luật. ********* Yêu thương luôn luôn là một mời gọi, nhưng nhiều khi đã trở nên những thách đố lớn lao không vựơt qua nổi đối với con người. Nói rõ hơn, TIN MỪNG về Đấng cứu độ là Thiên Chúa Tình Yêu, đã bị biến thành TIN BUỒN khi những ai có trách nhiệm thể hiện, nhưng họ lại thiếu hoặc mất khả năng thương yêu. Thay vì loan báo Tin mừng, những lúc ấy, tôi chỉ là những kẻ Rao giảng Tin Buồn với cái thứ Đức Tin trên giấy, Đức Tin không việc làm của tôi. Đức tin không việc làm đã là một tệ hại, nhưng còn tệ hại hơn nữa, khi tôi có những việc làm phản chứng. Khi đó, những phản chứng ấy sẽõ bôi đen và làm hỏng công trình của bao nhiêu thiện chí khác. Tôi Rao giảng Tin Buồn của tôi, nhưng cứ lại muốn người khác tin rằng tôi đang Rao giảng Tin mừng về Chúa. Mang danh là người của Kitô, nhưng tôi chẳng có chất Kitô trong người, nên đời sống của tôi rãy đầy các phản chứng mà không tự biết. Tôi đang hoang tưởng và ảo tưởng về đời sống đức tin của mình mà không nhận ra. Những hoang tưởng và ảo tưởng kiểu này không chỉ có nơi cá nhân, đôi khi có cả nơi cộng đoàn tập thể. Mahattma Gandhi. Một vĩ nhân của loài người. Một vị thánh của toàn dân tộc Ấn Độ. Ta hãy nghe ông nói về các Kitô hữu, cụ thể là tập thể những người Anh đang đô hộ nước ông: “Nếu những Kitô hữu ở Ấn Độ thực sự sống đúng tinh thần của Đức Kitô, thì chẳng cần phải mất công rao giảng, thì toàn dân Ấn sẽ biến thành các Kitô hữu hết.” Trước mắt ông lúc ấy, những kẻ mang danh là Kitô hữu cũng tham lam, cũng độc ác và tàn bạo như bao kẻ xâm lăng khác. Ông rất say mê Đức Kitô, đến nỗi Thánh Kinh đã là cuốn sánh gối đầu của ông. Có một chi tiết hết sức thú vị từ niềm say mê của ông, vì chính Thánh Kinh đã giúp có những gợi ý và cho ông niềm tin cùng sức mạnh để thi hành đường lối bất bạo động. Cũng chính nhờ đường lối này mà cuối cùng, dân tộc ông đã được giải phóng. Nhưng không vì thế mà ông nhìn người Kitô hữu thiện cảm hơn chút nào. Những Kitô hữu có mặt trên đất nước ông lúc đó đang rao giảng Tin Buồn của chính họ, nhưng lại muốn mọi người xem là đang rao giảng Tin mừng về Chúa. Ông đã viết: “Đọc Thánh Kinh, tôi mến Đức Kitô. Nhưng không ưa người Công giáo. Vì họ không giống Đức Kitô chút nào.” Nhiều người Công giáo cảm thấy bị sốc (shock) khi nghe biết câu này, vì cho rằng Gandhi bị thành kiến xấu nên ông đã phát biểu thiếu ngay thẳng trung thực. Nhưng nhiều người khác lại cám ơn và coi đây là một dịp may để nhắc nhở mình nên giống Chúa hơn. ************* Lịch sử mỗi con người cũng như lịch sử của một dân tộc hay cộng đoàn, luôn có những đổi thay với những thăng trầm thịnh suy theo quy luật tất yếu. Có khi sáng ngời với những thành công rực rỡ, nhiều khi lại là những bóng đen của thất bại ê chề đau đớn. Cũng có luôn cả những lỗi lầm hoặc va vấp thiếu sót. Giáo hội của chúng ta cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Dù Giáo hội được Chúa thiết lập và có Thánh thần hướng dẫn, nhưng vì còn là những con người lữ hành với đủ các mặt hạn chế, nên Giáo hộâi cũng không tránh được các sai lỗi thiếu sót. Những năm cuối đời trên ngôi Giáo hoàng, trong cương vị người đứng đầu Giáo Hội, Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 đã làm một cuộc nhìn lại toàn bộ tiến trình của Giáo hội mình. Trong 2000 năm lịch sử giáo hội, Ngài đã nhận thấy bên cạnh những nét son của rất nhiều những điều gọi là “được,” còn có những chấm đen của nhiều điều “chưa được.” Cũng có luôn cả những phản chứng ở những nơi và trong những người mà lẽ ra, phải là các chứng từ với các chứng nhân tích cực nhất. Thay mặt Giáo Hội, Ngài đã chân thành sám hỗi và xin lỗi toàn thế giới về 7 mảng lớn, trong đó, có nhiều mảng liên quan đến vận mệnh loài người và văn minh thế giới, như cuộc chiến tranh thứ 2, vụ án Galilê.. Vàvới tư cách riêng của cá nhân mình, Ngài cũng đã nhiều lần, ở nhiều nơi ngỏ lời xin lỗi với nhiều người. Xem như thế, ai cũng thấy rõ ở ngay trong lòng Giáo Hội, cũng có lúc Tin mừng về Chúa đã bị biến thành Tin buồn để rao giảng. Nhiều kẻ tỏ ra khó chịu và cho rằng, tại sao Đức Giáo hoàng lại dại dột quá thế, vì Ngài đã khờ khạo vạch áo cho người xem lưng như vậy. Cũng có kẻ bị lung lay đức tin, vì nghĩ rằng Giáo hội là người mẹ cũng là thày dạy đức tin, khó chấp nhận cái chuyện giáo hội cũng có những sai lầm như thế. Nhưng thật may, con số những người nghĩ như trên không nhiều. Cả thế giới đã thấy các việc làm của Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II là những việc làm của một tâm hồn vô cùng dũng cảm. Biết được những điều sai nơi mình là TRÍ, dám nhận trách nhiệm là DŨNG, xin người khác tha lỗi là NHÂN vì biết tôn trọng giá trị người khác cũng là LỄ là NGHĨA. Cả thế giới đã kính phục và học hỏi gương sống của Ngài. Ngài đã làm một việc mà, từ 2000 năm nay chưa ai làm. Nhiều giáo hội địa phương trên thế giới đã học tập và noi gương Ngài để nhìn lại mình. TạiViệt Nam, tinh thần thức tỉnh của Đức cố giáo hoàng đã sống lại nơi Giáo phận Thái Bình, khi cách đây vài tháng, trong một buổi lễ rước kiệu long trọng có sự hiện diện của nhiều người nhiều giới, có cả những người không có đạo. Vị đứng đầu Giáo phận đã vác một cây thánh giá lớn, Ngài bước đi từng bước rồi lại từng bước một cách chậm chạp, cùng với nhiều vị đồng tế khác. Sau đó, Đức Giám mục là vị trách nhiệm cao nhất, đã chân thành xin lỗi tất cả mọi người về những thiếu sót của chính mình và những người thuộc quyền. Một bầu khí lắng đọng đến rưng rưng đã bao trùm suốt cả buổi lễ. Trong buổi lễ, lòng mọi người như lắng lại và trầm hẳn xuống. Những hình ảnh ấy, nhiều người chỉ được nhìn thấy qua mạng, nhưng ai cũng bùi ngùi cảm động. Có người đã bật khóc. **************** Thời nay, người ta cần chứng nhân hơn cần thầy dạy. Mọi giá trị trong xã hội đang bị đảo lộn. Ngay thẳng trả lại của rơi thì bị xem là ngu khờ dại dột. Phá thai là chuyện bình thường không phải là giết người. Đồng tính không phải là chuyện ghê tởm bẩn thỉu và đầy rẫy đủ thứ các tệ nạn khác. Là một thành phần của xã hội, nên giáo hội không tránh khỏi bị ảnh hưởng vì các đổi thay trong xã hội. Hiện nay, dân số Kitô giáo trên thế giới tuy có tăng theo đà tăng của dân số thế giới, nhưng tỷ lệ người Kitô hữu càng ngày càng giảm từ 50 năm trở lại đây. Ngay taiï Châu âu, nơi trước đây dân số Kitô hữu đã là 70%, thì nay tỷ lệ người thực sự hành đạo chỉ còn chưa tới 5%. Theo thống kê của Tòa thánh, tại Á Châu tính đến cuối năm 1998 số Kitô hữu chỉ là 2,7%. Số Kitô hữu tăng chủ yếu là do số trẻ em được rủa tội sớm. Vừa lọt lòng mẹ đã thành Kitô hữu rồi. Con số những người giác ngộ và tự nguyện trở thành Kitô hữu thì rất ít. Thực trạng ấy chẳng có gì đáng vui. Tin mừng về Đức Kitô không còn cần thiết, hay vì ở đâu và với ai đó Tin mừng kia đã biến thành Tin buồn, đang khi ai cũng chán và ghê sợ Tin buồn như ghê sợ chim cú ? Trong đó, liệu có tôi không ? Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi. Lỗi tại tôi mọi đàng. Những lời trong kinh cáo mình này, cùng với cộng đoàn, tôi thường đọc rất sốt sắng trong nhà thờ, nhưng lại rất ít khi được thể hiện trong đời sống. Lỗi tại tôi mọi đàng hay Tiên trách kỷ, hậu trách nhân chính là một nguyên lý vô cùng minh triết, để giúp trước hết, chính mình được sống hạnh phúc thăng hoa, và đồng thời sẽ mang bình an hạnh phúc đến cho người khác. Tôi chỉ đọc sốt sắng trong nhà thờ mà không áp dụng trong đời sống, nên chính tôi không được nếm hưởng hạnh phúc. Tôi không có hạnh phúc trong lòng, thì làm sao cho kẻ khác điều tôi không có? Tôi đã biến Đạo tình yêu thành Đạo nhà thờ. Đạo của tôi đã trở thành Đạo nhà thờ, đang khi thời gian ở trong nhà thờ là rất ít. Tôi chỉ sống đạo trong nhà thờ, nên Tin mừng Tình yêu về Chúa đã biến thành Tin buồn mà tôi rao giảng. Sai lỗi, thiếu sót là chuyện tất yếu và bình thường của con người. Nhưng có đủ sáng suốt để nhận ra hay không là một chuyện khác hẳn. Và một khi đã nhận ra, liệu còn có đủ dũng khí và can đảm để sửa sai hay không lại là một chuyện hoàn toàn khác nữa. Xin Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II cầu cho chúng con●
|