Số 56, Ngày 3-9-2005

 

MỤC LỤC

Thư Tòa Soạn

Phương Cách Sửa Lỗi Anh Em Nói Lên Tình Yêu Đối Với Họ -  Nguyễn Chính Kết

Thánh Thể Phải Trở Nên Trung Tâm Của Đời Sống - ĐTC Bênêdictô XVI

Tâm Tình Gửi Các Bạn Trẻ - Lm. Vũ Xuân Hạnh

Xatan – Mi Là Ai? - Khổng Nhuận

Những Nẻo Đường Của Thinh Lặng (tt) - Lm. Michet Hubaut

“Taizé - Mùa Xuân Nhỏ” của Niềm Hy Vọng và Hiệp Nhất -  Maranatha

Phê Bình Từ Bên Trong  - Lm. Robert P. Maloney

Tâm Tình Cùng Bạn Đọc - Thư Bạn Đọc

 

Trở về các số báo

 

 

Thư Tòa Soạn

Kính thưa Quý độc giả,

“Ngày Lao Động đánh dấu sự kết thúc và bắt đầu. Chính ngày này cho chúng ta biết Mùa Hè thực sự chấm dứt để bắt đầu cho một niên học mới và các công ăn việc làm. Mùa nghỉ hè đã qua. Các lớp học đang bắt đầu. Mùa bóng đá đang tiến hành. Chẳng bao lâu nữa lá cây và tiết mùa sẽ bắt đầu thay đổi. Đối với nhiều người, Ngày Lao Động có thể là thời gian dành cho một cuộc đi chơi ngoài trời lần cuối, một dịp đi mua sắm trước khi trở lại trường, thời gian dành cho công việc nhà hay nghỉ ngơi thư giãn...” Đó là những dòng khởi đầu được trích trong thông điệp "Nghề Nghiệp, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và Giáo Huấn Công Giáo" của Giám Mục Nicholas DiMarzio, chủ tịch Ủy Ban Chính Sách Quốc Nội của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, được gửi nhân Ngày Lao Động năm nay, 5 tháng 9, gửi đi từ Brooklyn, New York và đã được phổ biến vào Thứ Năm 25 tháng 8 tại Washington. Bản văn cũng nhắc nhở, “Truyền thống của chúng ta - là những người tin – chúng ta được kêu gọi để trở thành ‘muối đất,’ là ‘ánh sáng thế gian,’ là ‘men’ trong đời sống kinh tế và xã hội.[1] Người Công Giáo hiện diện khắp mọi nơi trong hệ thống kinh tế hiện nay…Chúng ta được kêu gọi để sống "Tin Mừng Nghề Nghiệp" và sống theo những nguyên tắc của giáo huấn Công Giáo.”

Cuối tuần này, quốc gia Hoa Kỳ mừng lễ Lao Động, mà theo thông điệp của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ gửi cho các tín hữu thì đây là thời gian để suy nghĩ về nghề nghiệp và ý nghĩa của lao động. Ngày lễ này được mừng lần đầu tiên vào ngày 5 tháng 9 năm 1882 tại thành phố New York và tiếp tục cho đến bây giờ. Bình thường, dân chúng Hoa Kỳ rộn ràng chuẩn bị những ngày nghỉ lễ đi chơi xa với gia đình, bè bạn trong những ngày cuối hạ, các trang báo đầy dẫy những địa danh nổi tiếng, những tin tức, quảng cáo về những chuyến đi nghỉ cuối mùa thú vị này.

Thế nhưng, theo các hãng thông tin toàn quốc và địa phương thì các bản tin lại dành những thông tin trên trang nhất, cho tin tức nóng hổi nhất, liên tục nhất trong những ngày này lại hướng về một biến cố khác nghiêm trọng và khẩn thiết hơn, đó là thông tin và những hình ảnh liên quan đến cơn bão Katrina đã đổ vào miền Ðông Nam Hoa Kỳ cuối tuần qua. Trong hơn 16 triệu blogs trên thế giới hiện nay đang hoạt động trên Net hàng ngày, thì 5 blogs hàng đầu được nhiều người vào xem và tham gia đóng góp ý kiến và gửi thông tin nhiều nhất là những trang liên quan đến thiên tai này. Cơn bão hung hãn Katrina đã làm vỡ đê, gây ngập lụt các thành phố tiểu bang Louisiana, (trong đó có nhiều giáo xứ Việt Nam đang sinh sống tại thành phố New Orleans, thường được nhắc đến làng Việt nam này với tên gọi là ‘Ngọc Lân’). Một phần tiểu bang Mississippi cũng ảnh huởng nặng nề khiến cư dân các tiểu bang này buộc phải di tản và sống trong cảnh màn trời chiếu đất. Theo các viên chức cao cấp có trách nhiệm tại các nơi bị bão lụt tàn phá thì phải hàng tháng trời sau các cư dân những thành phố này mới có thể trở lại được nơi chốn cũ, và phải cần nhiều năm sau để có thể xây dựng  và trở lại với cuộc sống bình thường. Điều đáng nói ở đây là trong một đất nước văn minh tiên tiến như Hoa Kỳ, tin tức về cơn bão Katrina đã được báo trước và dự phòng, nhưng cũng không thể cản ngăn hoặc tránh khỏi những thiệt hại hoang tàn và mất mát rất lớn lao về nhân mạng (ước lượng đến con số ngàn) cũng như tài sản (ước luợng phải kể đến hàng chục tỉ đô la). Thế mới thấy sự bất lực, giới hạn của thân phận con người. Nhưng chính những ngày này thì biết bao trái tim lại mở ra, sự tử tế của con người được bày tỏ cho đời, cho người và cho nhau qua những chia sẻ, đóng góp cho những nạn nhân thiên tai này.

Maranatha xin được hiệp thông với những mất mát và đau thuơng đang xẩy ra, đặc biệt với các cộng đoàn Việt Nam trong các vùng gặp bão lụt tai ương; cũng trong tâm tình chia sẻ niềm đau và mất mát vì sự ra đi bất ngờ của Thầy Roger, sáng lập viên của Phong Trào Đại Kết Taizé trong ngày khai mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới (ĐHGTTG) 16 tháng 8 vừa qua. Bàng hoàng, ngỡ ngàng vì sự ra đi của Thầy, trong tiếc thương và ngưỡng mộ người dẫn đường tâm linh, các bạn trẻ và nhiều người trên toàn thế giới cách này cách khác đã tiễn đưa Thầy về lòng đất mẹ trong ngậm ngùi thương tiếc, trong tâm tình đó Maranatha gửi về quý độc giả hình ảnh của cộng đoàn đơn sơ nhưng đặc thù này để bày tỏ niềm tri ân Thầy đã đem đến ‘Mùa Xuân Nhỏ’ cho thế giới hôm nay.

Dư âm của Ngày Giới Trẻ Thế Giới vẫn còn vang vọng sâu xa trong lòng biết bao người bạn trẻ và rất nhiều con người trên các quốc gia, cùng chia sẻ những thao thức, trăn trở cho Giáo Hội thân yêu, giữa những mất mát tinh thần và thể chất, cảm nghiệm sâu xa hơn bao giờ sự bất lực của con người trong vũ trụ và thế giới này, Mầu Nhiệm Thánh Thể - lời huấn dạy của Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI trong ngày bế mạc ĐHGTTG hướng chúng ta về Bí Tích Tình Yêu: trung tâm và mãi luôn là lương thực cần thiết cho đời sống Kitô hữu…và chúng ta cùng nhau tha thiết nguyện xin: Maranatha: Lạy Chúa, xin ngự đến!

MARANATHA

Trở về mục lục >>

 

 TIN MỪNG CHÚA NHẬT XXIII

PHƯƠNG CÁCH SỬA LỖI ANH EM
NÓI LÊN TÌNH YÊU CỦA MÌNH ĐỐI VỚI HỌ

Nguyễn Chính Kết

      Sửa lỗi anh em là bổn phận của tình thương

            Toàn bộ giáo huấn của Kinh Thánh – cả Cựu lẫn Tân Ước – đều tóm gọn trong hai chữ yêu thương. Yêu thương có hai đối tượng chính là Thiên Chúa và tha nhân. Nhưng theo giáo huấn của Đức Giêsu, tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa tất yếu phải được thể hiện thành tình yêu đối với tha nhân. Nghĩa là đã yêu Thiên Chúa thì tất nhiên phải thương tha nhân. Thánh Gioan viết: «Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại không yêu thương anh em mình, người ấy là kẻ nói dối» (1Ga 4,20). Vì tha nhân chính là hiện thân cụ thể và thấy được của Thiên Chúa bên cạnh chúng ta, bất kể tha nhân đó là ai: người yêu ta hay người ghét ta, kẻ ta yêu hay kẻ ta ghét, người làm lợi cho ta hay kẻ thường làm hại ta, người thánh thiện hay người tội lỗi. Kẻ thù, kẻ xấu xa, kẻ tội lỗi mà ta còn phải yêu thương và mong muốn những điều tốt lành cho họ, huống gì người anh em cùng trong một cộng đoàn với ta, cùng chung một lý tưởng với ta, cùng theo Chúa như ta, phạm phải một số lầm lỗi nào đó. Trong bài Tin Mừng này, Đức Giêsu dạy ta cách đối xử với những anh em có những lầm lỗi đó.

            Khi anh em mình có lầm lỗi, Ngài không dạy ta cứ mặc kệ họ, mà đề nghị ta sửa lỗi cho họ: «Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi người ấy» (Mt 18,15a). Ngôn sứ Êdêkien còn cho việc sửa lỗi ấy là một bổn phận hay trách nhiệm: «Chúa phán: Nếu Ta phán với kẻ gian ác rằng: “Hỡi tên gian ác, chắc chắn ngươi phải chết”, mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó» (Ed 33,8).

            Sửa lỗi cho họ chính là cách thể hiện tình thương của ta đối với họ. Vì yêu thương ai thì phải tìm cách làm cho người ấy nên tốt, nên hoàn thiện hơn. Thấy anh em ta lầm lỗi, mà vì nể nang họ, sợ họ bị chạm tự ái, sợ họ buồn nên ta không đả động gì đến lỗi của họ, cứ để mặc họ tiếp tục lầm lỗi, thì đó không phải là yêu thương họ. Tình thương phải thúc giục ta đưa họ ra khỏi sai lầm, khỏi tội lỗi và điều xấu ác, vì nếu họ cứ tiếp tục lầm lỗi, thì hậu quả đến với họ sẽ là đau khổ (đau khổ tinh thần, tâm lý hoặc thể chất), và có thể nguy hại cho linh hồn họ.

      Việc sửa lỗi không quan trọng bằng cách sửa lỗi

            Sửa lỗi anh em khi họ lầm lỗi là bổn phận của yêu thương. Nhưng bản thân việc sửa lỗi không quan trọng và không biểu lộ tình thương bằng cách thức sửa lỗi cho họ. Phải sửa lỗi cách nào để người được sửa lỗi cảm nhận được ta yêu thương họ thật sự, chỉ mong họ nên tốt đẹp hoàn thiện hơn, và chính vì yêu thương họ mà ta sửa lỗi cho họ. Tâm lý thông thường của người lầm lỗi là họ chỉ sửa lỗi theo đề nghị của ta khi họ thấy ta thật lòng yêu thương họ. Có nhiều trường hợp ta sửa lỗi người khác chỉ để chứng tỏ rằng ta vô tội còn họ thì có tội, ta tốt lành còn họ thì xấu xa, ta hữu lý còn họ thì phi lý. Sửa lỗi kiểu ấy chỉ là một hình thức tự đề cao, tự đưa mình lên và hạ thấp người anh em xuống. Sửa lỗi kiểu ấy chỉ chứng tỏ ta tự yêu mình chứ không phải ta yêu thương gì họ, và hậu quả là chỉ gây nên oán thù, chia rẽ, đúng như câu «giáo đa thành oán!»

      Cách sửa lỗi theo tinh thần yêu thương

            Cách sửa lỗi anh em vì yêu thương thì khác hẳn với cách sửa lỗi vì muốn tự đề cao mình và muốn hạ người anh em xuống. Người bị sửa lỗi rất nhạy cảm để nhận ra được ta sửa lỗi họ theo cách nào. Vì thế, chính việc sửa lỗi không quan trọng bằng cách thức sửa lỗi. Nếu ta thật sự yêu thương người có lỗi, thì khi sửa lỗi họ, ta sẽ tỏ ra tôn trọng họ, tránh xúc phạm đến họ, nghĩa là tránh tất cả những câu nói nào có thể khiến họ đau khổ, buồn phiền, tức giận. Hãy xem trong cách giáo dục con cái, người ta vẫn nói: «dạy dỗ», nghĩa là «dạy thì phải dỗ», «dạy» phải luôn luôn đi với «dỗ» mới thành công. «Dỗ» là dùng những lời lẽ êm ái, ngon ngọt, dịu dàng, thấm nhuần tình thương để đề nghị với con cái mình hãy làm việc này hoặc đừng làm việc kia. Khi sửa lỗi người anh em mình, ta cũng cần dùng một phương pháp tương tự như vậy thì mới dễ có kết quả.

      Sửa lỗi anh em theo tinh thần của Đức Giêsu

            Đức Giêsu đưa ra một tiến trình gồm nhiều giai đoạn để sửa lỗi người anh em trong tinh thần tôn trọng và yêu thương họ.

            1) Trước hết«một mình anh với người ấy mà thôi…». Nghĩa là khi ta nhận ra lầm lỗi của người anh em, thì ban đầu phải tôn trọng sự kín đáo, riêng tư: chỉ một mình họ với ta biết cái lầm lỗi ấy thôi. Và trong sự thân mật riêng tư, ta tế nhị chỉ cho họ thấy rõ lầm lỗi của họ, đề nghị họ sửa lỗi bằng những lời lẽ yêu thương nhưng đầy tính thuyết phục. Hãy tự đặt mình vào vị thế của họ để thông cảm với hoàn cảnh và sự yếu đuối của họ khiến họ lầm lỗi. Đừng chỉ biết dựa trên nguyên tắc đạo lý hay luật lệ để trách móc họ như một người ngoại cuộc. Hãy nghĩ rằng rất có thể khi ở trong hoàn cảnh của họ, mình cũng sẽ cư xử chẳng khác gì họ, thậm chí có thể tệ hơn họ.

            2) Chỉ khi giai đoạn 1 không thành công thì mới nên sử dụng tiếp giai đoạn 2: «nếu người ấy không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa…». Trong giai đoạn này, lầm lỗi của người anh em bị công khai hóa hơn, nhưng chỉ công khai trong một giới hạn nhỏ bé. Điều này cũng gây một áp lực nhẹ nhàng đòi buộc người ấy phải sửa lỗi. Song song với áp lực ấy, sự tham gia thêm của một vài anh em thân cận cũng tạo tính thuyết phục hơn.

            3) Giai đoạn 2 mà vẫn không thành công thì đành phải đi đến giai đoạn 3: «Nếu người ấy không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh». Giai đoạn này mức độ công khai, sự thuyết phục và áp lực tạo ra từ đó trở nên nhiều và mạnh hơn nữa. Nhưng tính công khai vẫn còn phải giới hạn trong phạm vi nội bộ của tập thể (hội đoàn, giáo xứ, giáo phận, hay giáo hội địa phương…) chưa nên để lộ cho người ngoài Giáo Hội biết.

            4) Giai đoạn 4: «Nếu Hội Thánh mà người ấy cũng chẳng nghe, thì hãy kể người ấy như một người ngoại hay một người thu thuế». Có những trường hợp người sai lỗi vẫn cứ ngoan cố với lỗi lầm của mình, thì phải tạo áp lực mạnh hơn nữa là coi người ấy như một người ngoài cộng đoàn hay ngoài Hội Thánh. Đây là giai đoạn bất đắc dĩ chỉ nên sử dụng sau khi đã dùng những biện pháp nêu trên nhiều lần mà vẫn không thành công. Nếu người ấy sửa lỗi, thì ta lại tiếp tục coi họ như người trong cộng đoàn hay trong Giáo Hội.

            Tất cả những giai đoạn trên chỉ là những biện pháp để đưa người anh em sai lỗi của ta về đường ngay nẻo chính. Tất cả đều phải được thực hiện trong tâm tình yêu thương. Không nên bêu xấu, hạ nhục người anh em của mình. Nếu tất cả những biện pháp trên đều thất bại, thì ta đành phải chấp nhận giới hạn khả năng sửa lỗi của mình. Điều này không có nghĩa là loại trừ họ, coi họ không còn là anh em của mình, hoặc mình không còn phải yêu thương hay không còn trách nhiệm gì đối với họ nữa. Chỉ nên dùng những biện pháp thật mạnh như nhờ luật pháp ngoài đời can thiệp, hay công bố cho mọi người biết khi lỗi lầm ấy thật sự có hại cho Giáo Hội hay xã hội, và mình đã dùng tất cả những cách khác mà người có lỗi vẫn cố chấp không chịu thay đổi.

            Thử suy nghĩ một người cha hay mẹ khi thấy con cái hư đốn thì sửa dạy chúng ra sao. Khi đã làm nhiều cách mà chúng không sửa đổi, thì phải kiên nhẫn tìm cách khác nữa. Khi đã tìm hết cách mà con không sửa đổi, thì cha mẹ chỉ biết khóc thầm, chịu đựng đau khổ, chứ không thể từ bỏ con hay ruồng rẫy con được. Không cha mẹ nào thật sự yêu thương con mà lại chấp nhận từ bỏ con, giết con hay không quan tâm tới chúng nữa, cho dẫu lầm lỗi của chúng nặng nề tới đâu. Vì nếu đã làm hết cách, thì dù có từ bỏ chúng cũng không làm chúng sửa lỗi, trái lại, còn đẩy chúng đến những lầm lỗi nặng nề và tai hại hơn. Nếu chúng ta thật sự yêu thương những anh em lỗi lầm của mình, chúng ta cũng sẽ xử sự như vậy.

***

            Kẻ thù, kẻ tội lỗi mà ta còn phải yêu thương huống gì những người anh em của ta còn vướng có chút ít khuyết điểm lầm lỗi! Thiên Chúa muốn ta yêu thương họ thật sự qua cách đối xử của ta với họ khi họ lầm lỗi, nhất là qua cách ta sửa lỗi cho họ. Cách ta sửa lỗi cho họ chính là dấu chỉ rõ ràng nhất chứng tỏ con có thật lòng yêu mến họ hay không.

Trở về mục lục >>

ĐẠI HỘI GIỚI TRẺ THẾ GIỚI 

 

Thánh THỂ cẦn phẢi trỞ nên trung tâm đỜi sỐng chúng ta…

Bài giảng của Đức Thánh Cha BÊNÊĐITÔ XVI

Trần Duy Nhiên dịch

Chúa Nhật 21 tháng 8 vừa qua, Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI chủ tọa lễ bế mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới tại Cologne. Sau đây là bài giảng của ngài trong thánh lễ ngày hôm ấy, được cử hành tại Marienfeld, cách Cologne khoảng 30 km. Ngài giảng bằng năm thứ tiếng: Đức, Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha. Chúng tôi đặt trong móc đơn ngôn ngữ mà ngài dùng cho từng đoạn.  Lời tựa được trích từ một câu trong bài giảng ấy.

-----------------

[Tiếng Đức]

Các bạn trẻ thân mến,

Tối hôm qua, trước Thánh Thể, nơi Chúa Giêsu trở thành lương thực nâng đỡ và nuôi dưỡng đời sống tâm linh của chúng ta (x. Ga 6,35), chúng ta đã bắt đầu cuộc hành trình nội tâm để đến thờ lạy Ngài. Trong Thánh Thể, việc thờ lạy cần phải trở nên sự hiệp nhất. Khi cử hành Thánh Thể, chúng ta ở vào ‘giờ’ của Chúa Giêsu, ‘giờ’ mà Phúc Âm thánh Gioan từng đề cập. Nhờ Thánh Thể, ‘giờ’ của Chúa trở thành ‘giờ’ của chúng ta, trở thành sự hiện diện của Ngài giữa chúng ta. Cùng với các môn đệ mình, Ngài đã cử hành lễ Vượt Qua của Israel, lễ tưởng niệm biến cố mà Thiên Chúa giải thoát dân Israel để đưa họ từ nô lệ đến tự do. Chúa Giêsu thực thi các nghi thức của Israel. Ngài đọc lời chúc tụng và ngợi khen trên mẩu bánh. Nhưng sau đó, một điều mới đã xảy ra. Ngài không chỉ cảm tạ Thiên Chúa vì những công trình quá khứ của Người; mà còn cảm tạ vì Thiên Chúa tôn vinh Ngài, một sự tôn vinh sẽ trở thành hiện thực qua Thập Giá và Phục Sinh, và Ngài cũng nói với các môn đệ bằng những lời chứa chấp toàn bộ Lề Luật và các sách Tiên Tri: “Này là Mình Thầy hy sinh vì anh em. Chén này là Giáo Ước mới trong Máu Thầy”. Sau đó, Ngài phân phát bánh và rượu, đồng thời cũng trao phó cho họ sứ mệnh nói lại và làm lại mãi mãi, để tưởng niệm Ngài, điều mà Ngài đang nói và làm vào lúc ấy.

Chuyện gì đang xảy ra vậy? Làm thế nào Chúa Giêsu có thể trao ban Mình và Máu Ngài? Khi biến bánh thành Mình Ngài và rượu thành Máu Ngài, Ngài đón nhận trước cái chết của mình, Ngài đón nhận nơi sâu thẳm của bản thân mình và biến cái chết đó thành một hành động yêu thương. Điều mà nhìn từ bên ngoài là một hành vi bạo lực tàn nhẫn, thì tự bên trong là biểu hiện của một tình yêu trao ban đến tận cùng. Đấy là sự biến đổi bản thể được thực hiện ở phòng Tiệc Ly, nhằm khai sinh một tiến trình biến đổi, mà cùng đích là biến đổi thế giới cho đến ngày Thiên Chúa trở thành mọi sự trong mọi người (x. 1Cr 15,28).

Từ xưa đến nay, tất cả mọi người, bằng cách này hay bằng cách khác, tự đáy lòng, đều khao khát một sự thay đổi, một sự biến đổi cho trần gian. Giờ đây, hành vi cốt lõi cho sự biến đổi đã trở thành hiện thực, một sự biến đổi có khả năng thực sự đổi mới thế gian: bạo lực biến thành tình yêu và như thế cái chết biến thành sự sống. Bởi lẽ hành vi ấy đã biến đổi cái chết thành sự sống, nên cái chết tự bản chất đã bị vượt qua từ thâm sâu đến độ nó không còn có thể nói lên tiếng nói sau cùng. Nếu ta dùng một hình ảnh quen thuộc, thì đây là một sự phân rã hạt nhân tự thâm sâu của hữu thể - Tình Yêu chiến thắng hận thù, tình yêu chiến thắng cái chết. Chỉ có sự bùng nổ tự cốt lõi của cái thiện thắng cái ác thì mới có thể tạo ra một phản ứng dây chuyền cho các biến đổi dần dần thay đổi thế giới. Mọi thay đổi khác chỉ xảy ra trên bề mặt và không thể cứu với được ai. Chính vì thế mà chúng ta nói đến chương trình Cứu Độ: Điều cần thiết nhất tự thâm sâu đã trở thành hiện thực, và chúng ta có thể bước vào vùng năng động ấy. Chúa Giêsu có thể phân phát Mình của Ngài, bởi vì Ngài đã tự hiến mình thực sự.

[Tiếng Anh]

Sự biến đổi nền tảng và đầu tiên - biến đổi bạo lực thành tình yêu, biến đổi cái chết thành sự sống - sự biến đổi ấy kéo theo những sự biến đổi khác. Bánh và rượu trở thành Mình và Máu Ngài. Tuy nhiên, sự biến đổi không được ngừng lại tại đấy, đúng hơn, chính tại điểm ấy mà sự biến đổi phải khởi đầu để đi đến viên mãn. Mình và Máu Chúa được ban cho chúng ta để chính chúng ta cũng được biến đổi. Chính chúng ta cũng phải trở nên Mình của Chúa Kitô, cùng máu cùng huyết với Ngài. Tất cả chúng ta cùng ăn một bánh duy nhất, điều này có nghĩa là tất cả chúng ta trở nên một với nhau. Chúng ta đã nói rằng, qua đó, việc thờ lạy trở thành sự hiệp nhất. Thiên Chúa không chỉ ở trước mặt chúng ta, như một Đấng Hoàn Toàn Khác. Người đang ở trong chúng ta, và chúng ta ở trong Người. Sức năng động của Người thâm nhập trong chúng ta và, từ chúng ta, sức mạnh ấy muốn truyền sang tha nhân và lan tỏa đến khắp cùng thế giới.

Bữa Tiệc Ly đã thôi thúc chúng ta thực hiện một bước đi mới. Tôi thấy một hình ảnh cho bước đi ấy qua các ý nghĩa khác nhau của từ ngữ ‘thờ lạy’ trong tiếng Hy Lạp và La Tinh. Từ ngữ Hy Lạp là proskynesis, có nghĩa là một hành vi tuân phục, nhận biết Thiên Chúa là đường lối đích thực của chúng ta, và chúng ta chấp thuận bước theo lề luật của Người. Do đó, tự do không có nghĩa là hưởng thụ cuộc đời, là nghĩ rằng mình hoàn toàn độc lập, nhưng hướng theo đường lối của chân lý và thiện hảo, để rồi qua đấy, chúng ta cũng trở thành chân thực và thiện toàn. Thái độ này là thái độ cần thiết, dù cho, vào giai đoạn đầu, lòng khao khát tự do của chúng ta cưỡng lại một viễn ảnh như thế. Chúng ta chỉ có thể thực hiện thái độ ấy một cách hoàn toàn ở bước thứ hai mà bữa Tiệc Lý hé mở cho chúng ta. Từ ngữ La Tinh là ad-oratio: một sự khăng khít môi kề môi, một nụ hôn, một hành vi ôm nhau vào lòng, và rốt cục đó chính là Tình Yêu. Tuân phục trở thành hiệp nhất, vì Đấng mà chúng ta tuân phục chính là Đấng Tình Yêu. Như thế, thái độ tuân phục có một ý nghĩa, vì nó không áp đặt cho chúng ta một điều gì xa lạ, mà giải thoát chúng ta từ nơi sâu thẳm của chân tính mình.

[Tiếng Pháp]

Chúng ta hãy trở lại bữa Tiệc Ly. Điều mới mẻ đã xảy ra tại đấy hệ tại nơi chiều sâu mới của lời kinh chúc tụng lâu đời của Israel, một lời chúc tụng mà giờ đây trở thành một lời có sức biến đổi và cho phép chúng ta tham dự vào ‘giờ’ của Chúa Kitô. Chúa Giêsu không trao cho chúng ta sứ vụ tổ chức lại bữa tiệc Vượt Qua, mà với tư cách là một lễ kỷ niệm thường niên, ta không có quyền tổ chức theo ý mình. Ngài đã trao cho chúng ta sứ mạng tham dự vào ‘giờ’ của Ngài. Chúng ta tham gia nhờ vào lời xuất phát từ quyền năng thánh khi truyền phép - một sự biến đổi được thực hiện qua lời nguyện chúc tụng, khiến chúng ta đi vào cùng dòng chảy với dân Israel và với toàn thể lịch sử cứu độ, và đồng thời ban cho chúng ta một sự mới mẻ mà bản chất sâu xa của lời nguyện này hướng đến.

Lời nguyện ấy - mà Giáo Hội gọi là ‘lời nguyện Thánh Thể’ - làm nên Thánh Thể. Đấy là một lời đầy quyền năng, có khả năng biến đổi một cách hoàn toàn mới mẻ những món quà của trần gian thành món quà tự hiến của Thiên Chúa và đưa chúng ta vào tiến trình biến đổi không ngừng. Chính vì thế mà chúng ta gọi biến cố này là Thánh Thể, dịch từ tiếng Do Thái beracha, có nghĩa là tạ ơn, ngợi khen, chúc tụng, và như thế cũng có nghĩa là một sự thay đổi xuất phát từ Chúa Giêsu: ‘giờ’ của Ngài đang hiện diện. Giờ của Chúa Giêsu là giờ mà Tình Yêu chiến thắng. Nói cách khác: chính Thiên Chúa đã chiến thắng, bởi vì Người là Tình Yêu. Giờ của Chúa Giêsu có thể trở thành giờ của chúng ta, và sẽ trở thành như vậy, nếu chính chúng ta, qua việc cử hành Thánh Thể, chúng ta để mình cuốn theo tiến trình biến đổi mà Chúa đã dự kiến.

Thánh Thể cần phải trở nên trung tâm đời sống chúng ta. Không phải vì muốn phô trương hay vì khao khát quyền lực mà Giáo Hội dạy chúng ta rằng Thánh Thể là một thành phần của ngày Chúa Nhật. Sáng ngày Phục Sinh, trước tiên là các phụ nữ, rồi đến các môn đồ, đã được hồng ân nhìn thấy Chúa. Kể từ đấy, họ biết rằng ngày đầu tiên trong tuần, ngày Chúa Nhật, sẽ là ngày của Ngài, Ngày của Chúa Kitô. Ngày khởi đầu cho công trình tạo dựng nay trở thành ngày đổi mới công trình tạo dựng. Tạo dựng và cứu độ đi đôi với nhau. Chính vì vậy mà Chúa Nhật quan trọng đến như thế. Quả là tốt đẹp khi mà hiện nay, trong nhiều nền văn hóa, ngày Chúa Nhật là một ngày nghỉ việc hoặc, cùng với ngày thứ bảy, nó trở thành một ‘week-end’ nghỉ việc. Tuy nhiên, thời gian nghỉ việc này sẽ trống rỗng nếu Thiên Chúa không hiện diện.

Các bạn trẻ thân mến! Đôi khi, trong giai đoạn đầu, có thể rất bất tiện khi phải dự kiến giờ tham dự thánh lễ trong chương trình ngày Chúa Nhật. Nhưng nếu các bạn quả quyết thực hành, các bạn sẽ thấy rằng chính thánh lễ sẽ trở thành trung tâm đúng nghĩa cho ngày nghỉ. Đừng để mình xao lãng Thánh Lễ ngày Chúa Nhật, và hãy giúp người khác khám phá Thánh Lễ. Bởi vì niềm vui mà chúng ta cần toát ra từ đấy, nên chúng ta cần phải học cách hiểu rõ thánh lễ ngày càng sâu sắc hơn, chúng ta cần học cách yêu mến thánh lễ. Chúng ta hãy cam kết thực hiện điều này, và đó là một điều đáng bỏ công! Hãy khám phá sự phong phú sâu xa của phụng vụ Giáo Hội và sự cao cả đích thực của phụng vụ thánh: chúng ta không tổ chức lễ hội cho chính mình, nhưng trái lại chính Thiên Chúa hằng sống tổ chức lễ hội cho chúng ta. Khi yêu mến Thánh Thể, các bạn cũng tái khám phá bí tích Giao Hòa, qua đó lòng nhân hậu đầy xót thương của Thiên Chúa luôn giúp các bạn thực hiện một khởi điểm mới cho cuộc đời.

 [Tiếng Ý]

Ai đã khám phá Chúa Kitô thì phải đưa người khác đến với Ngài. Ta không thể giữ một niềm vui lớn cho riêng mình. Cần phải loan truyền niềm vui ấy. Trên những vùng đất bao la của thế giới, hiện nay người ta quên Thiên Chúa một cách lạ kỳ. Có vẻ như không có gì thay đổi cả dù cho Thiên Chúa không có mặt. Nhưng đồng thời, có một cảm thức thất vọng, bất mãn đối với mọi sự và mọi người. Ta chỉ còn có thể phàn nàn: Cuộc sống không thể nào như thế này được! Đúng như vậy! Thế là cùng với việc quên Chúa, xuất hiện hầu như một cuộc bột phát các tôn giáo. Tôi không muốn phê phán tất cả mọi điều trong xu hướng này. Có thể cũng có một niềm vui chân thành trong việc khám phá. Nhưng trong bối cảnh này, tôn giáo gần như trở thành một sản phẩm tiêu thụ. Ta chọn điều mình thích, và một số người biết cách trục lợi từ các sản phẩm ấy. Nhưng tôn giáo mà người ta tìm kiếm như một ‘trò tiêu khiển’ thì cuối cùng không giúp được gì cho ai cả. Tôn giáo ấy quả tiện lợi, nhưng vào giờ phút khủng hoảng, nó bỏ mặc ta một mình.

 Hãy giúp con người phát hiện lại ngôi sao đích thực chỉ đường cho chúng ta: ấy là Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta cũng vậy, chúng ta hãy tìm cách biết Ngài càng ngày càng hơn để có thể dẫn đưa người khác đến với Ngài với đầy sức thuyết phục. Chính vì thế mà nhất thiết ta phải yêu mến Thánh Kinh và, do đó, phải biết đức tin của Giáo Hội, một đức tin mở cửa để ta hiều ý nghĩa của Thánh Kinh. Chính Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội trong một đức tin ngày càng lớn mạnh, và chính Ngài đã ban đức tin và làm cho đức tin ấy càng ngày càng đi sâu vào chân lý (x. Ga 16,13). Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã thực hiện một công trình tuyệt vời, qua đó đức tin lâu đời đã được giải thích một cách tổng hợp: cuốn Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo. Bản thân tôi, gần đây, tôi cũng đã giới thiệu một bản Tóm Lược cuốn Giáo Lý đó, một bản tóm lược được soạn thảo do lời yêu cầu của cố Giáo Hoàng. Đấy là hai cuốn sách căn bản mà tôi khuyên tất cả các bạn đọc.

[Tiếng Tây Ban Nha]

Dĩ nhiên, các cuốn sách mà thôi thì chưa đủ. Hãy xây dựng những cộng đoàn đặt nền tảng trên đức tin! Suốt mấy thập niên vừa qua xuất hiện những phong trào và cộng đoàn mà sức mạnh của Phúc Âm tỏa rạng một cách mạnh mẽ. Hãy tìm kiếm sự hiệp thông trong đức tin bằng cách đồng hành với nhau trên con đường thực thi cuộc hành hương vĩ đại mà các Đạo Sĩ Phương Đông là những người đầu tiên chỉ đường cho chúng ta. Tính tự phát của các cộng đoàn mới là điều quan trọng, nhưng điều cũng quan trọng như thế, ấy là phải gìn giữ sự hiệp thông với Giáo Hoàng và với các Giám Mục. Chính các ngài bảo đảm rằng ta không tìm kiếm trên những lối đi riêng tư, trái lại, ta sống trong một đại gia đình của Thiên Chúa, mà Chúa Kitô đã thiết lập nên với mười hai Tông Đồ.

[Tiếng Đức]

Một lần nữa, tôi trở về với Thánh Thể. “Bởi lẽ chỉ có một tấm bánh, nên chúng ta tuy nhiều người, cũng chỉ là một thân thể” như lời thánh Phaolô (1 Cr 10,17). Qua đó, ngài muốn nói rằng: Bởi lẽ chúng ta rước lấy cùng một Chúa và Ngài đón tiếp và thu hút chúng ta trong Ngài, chúng ta cũng trở thành một với nhau. Điều này cần được thể hiện trong cuộc sống. Điều này cần được bộc lộ qua khả năng thứ tha. Điều này cần được thể hiện qua tinh thần nhạy cảm đối với nhu cầu người khác Điều này cần được thể hiện qua tinh thần sẵn sàng chia sẻ. Điều này cần được thể hiện qua việc dấn thân đến với tha nhân, người ở cạnh mình cũng như người ở thật xa trong không gian, nhưng vẫn nhìn mình thật gần.

Hiện nay, có nhiều hình thức phục vụ không công, những kiểu mẩu tương trợ, mà xã hội chúng ta đang cần gấp. Ví dụ, chúng ta không nên bỏ mặc những người cao niên trong cô đơn, chúng ta không nên tránh xa những người đau khổ mình gặp trên con đường. Nếu chúng ta suy nghĩ và nếu chúng ta muốn sống hiệp thông với Chúa Kitô, thì mắt chúng ta sẽ mở ra. Bấy giờ, chúng ta không cam lòng sống một cách vô vị, chỉ lo nghĩ đến bản thân mình, mà chúng ta sẽ nhanh chóng nhận thức rằng nếu ta trở nên hữu ích và sẵn sàng với tha hơn thi vô cùng tốt đẹp hơn là chỉ lo đến những thứ dễ dãi mà người ta đem đến cho mình. Tôi biết rằng các bạn, với tư cách là giới trẻ, các bạn khao khát thực hiện những điều trọng đại, các bạn muốn dấn thân để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Hãy bày tỏ cho mọi người thấy khát vọng đó, hãy bày tỏ cho thế giới thấy, một thế giới đang chờ đợi chứng tích ấy nơi các môn đệ Chúa Giêsu Kitô để rồi có thể phát hiện, trước hết là qua tình yêu của các bạn, ngôi sao mà chúng ta đang bước theo, với tư cách là những tín hữu trung thành.

Chúng ta hãy tiến bước cùng với Chúa Kitô và sống cuộc đời mình như những người tôn thờ Thiên Chúa một cách đích thực! Amen!

            Trở về mục lục >>

TÂM TÌNH GỬI CÁC BẠN TRẺ

NHÂN ĐẠI HỘI GIỚI TRẺ THẾ GIỚI LẦN THỨ XX

Lm. Vũ Xuân Hạnh

I. NGÀY QUỐC TẾ GIỚI TRẺ - MỘT KHÁT VỌNG

Một ngày giữa tháng 8, một nhóm bạn trẻ khoảng vài trăm người gồm học sinh, sinh viên, công nhân, có cả các bạn trẻ lỡ lầm nay đã hoàn lương và rất đông những anh chị em đã luống tuổi, nhưng vẫn còn giữ được một tâm hồn trẻ trung, đến từ nhiều nơi đang học hành, làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh và nhiều vùng lân cận gặp gỡ nhau trong tinh thần hướng về Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới. Chủ đề của ngày gặp gỡ lấy lại chính chủ đề của Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới: “CHÚNG TÔI ĐẾN THỜ LẠY CHÚA.” (Mt 2, 2).

Một ngày gặp gỡ, dẫu chỉ là một khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng lại trở thành những giây phút quí báu để mỗi tham dự viên có một khoảng vắng cho riêng mình: Sống cùng nhau, và hiệp thông với Giáo Hội trong biến cố lớn lao, làm xao động cả thế giới: NGÀY QUỐC TẾ GIỚI TRẺ.

Một ngày gặp gỡ như thế, chỉ là một đốm sáng nhỏ nhoi so với tất cả những gì thuộc về Giáo Hội, nhưng trong lòng mỗi bạn trẻ là cả một ánh đuốc sáng của Đức tin. Chính Đức tin lôi kéo các bạn về gặp nhau. Sự gặp gỡ đó, nói lên nỗi khao khát muốn đồng hành cùng Giáo Hội trong biến cố trọng đại này. Chính Đức tin đã làm cho các bạn sống ơn hiệp thông khi cùng nhau hành hương về Co-lon, không phải vượt hàng dặm trường, nhưng bằng một nỗi thao thức hướng về những hoạt động gây cảm hứng và thăng tiến Đức tin. Cụ thể là nỗi thao thức hướng về Co-lon để cùng vô số tham dự viên chính thức của mọi nẻo đường thế giới tôn vinh Chúa Kitô, người Anh Cả của từng bạn trẻ, là Bổn mạng trên mọi bổn mạng của tất cả những ai mang tâm hồn trẻ trung.

Người ta có thể thỏa mãn khi được chạm đến ước mơ. Không bao giờ có bất cứ một thỏa mãn nào nếu ước mơ vẫn chỉ là nỗi khao khát trong lòng người. Một khát vọng hướng về Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới như thế, đủ thấy nỗi lòng của các bạn trẻ trong ngày gặp mặt này nói riêng, và của vô vàn người trẻ đang âm thầm sống Đức tin nói chung. Nỗi khát vọng cháy bỏng lòng người như thế chính là điểm hội tụ của một lòng tin vững vàng, một lòng mến sắt son.

Càng khát vọng bao nhiêu, lại càng minh chứng và càng làm cho Đức tin, cho lòng mến mạnh mẽ bấy nhiêu. Nhìn vào những tâm hồn đầy khát khao, những trái tim tràn trề thổn thức và sâu lắng bởi một Đức tin nơi Chúa Kitô và một niềm tin tưởng nơi Giáo Hội, những người trẻ đang sống ơn hiệp thông cao cả và quí giá, chúng ta không nói ngoa chút nào khi khẳng định, những tâm hồn trẻ trung nhiệt huyết ấy tham dự biến cố Quốc Tế Giới Trẻ cũng trọn nghĩa chẳng kém gì những lữ khách đang đến Co-lon, thuộc Đức quốc. Tất cả khơi nguồn từ ánh đuốc sáng của Đức tin trong lòng các bạn.”

II. CÒN ĐÓ NHỮNG DẤU CHỈ LẠC QUAN.

Cùng tham dự với các bạn trẻ nói trên, rồi nhận ra những khắc khoải, mà bên trong sự khắc khoải ấy cho thấy cả một đức tin chân thành, một lòng yêu mến Giáo Hội thắm thiết, tôi chợt nhận ra, hình như bất kỳ Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới nào, được tổ chức ở bất cứ châu lục nào, do tiếng vang của nó, đều  quy tụ không chỉ mọi thành phần trẻ trung trên khắp thế giới, mà còn lôi kéo sự chú ý của cả nhân loại này.

Các Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới đều nhận được sự chú ý lớn trên toàn thế giới, bởi trước hết, nó là một cuộc hội ngộ của Đức tin, là khuôn mặt của tình yêu hiệp nhất mà Chúa Kitô hằng mong ước, được giới thiệu cho cả thế giới. Nhưng quan trọng hơn, nó thắp lên niềm hy vọng cho loài người về hình ảnh một thế giới có thể sống chung hòa bình, có thể nắm tay nhau cao rao tình yêu khi người ta biết đặt Chúa Kitô làm trọng tâm cho đời mình và trọng tâm của mọi cuộc gặp gỡ.

Bởi thế, cuộc gặp gỡ lần thứ XX này càng mang ý nghĩa của niềm hy vọng. Bởi nó được tổ chức giữa một thế giới còn quá nhiều ngỗn ngang, quá nhiều phức tạp. Nỗi lo sợ do lòng thù hận, và giết chóc hết sức kinh hoàng đang hằn sâu trong tâm mọi người. Sự phân biệt mức sống, khoảng cách giàu nghèo giữa bắc bán cầu và nam bán cầu, giữa những quốc gia tiên tiến và những quốc gia thuộc thế giới thứ ba vẫn là một hố sâu thăm thẳm làm nhức nhối cả nhân loại có lương tâm. Sự phân biệt màu da, chủng tộc vẫn chưa ghi dấu chấm hết.

Giữa mọi nguy cơ nổi lên một nguy cơ đáng sợ hãi đó là vũ khí nguyên tử như  một cái lò giết người kinh khủng mà người ta chạy đua sản xuất hoặc tìm kiếm nó như là cứu cánh cho an ninh quốc gia mình.

Quan trọng hơn nữa, đó là đạo đức xã hội đang trên đà lao xuống dốc. Một đại bộ phận giới trẻ nhân danh tự do để sống thác loạn, điên cuồng. Các phương tiện truyền thông bị những kẻ xấu lợi dụng để gieo rắc không biết bao nhiêu là mầm giống tội lỗi. Bên cạnh đó, một bộ phận khá đông nhân loại coi vấn đề ngừa thai, phá thai là quyền tự do của phụ nữ, là tôn trọng nhân phẩm của họ.

Trong khi đó, vì có sẵn những phương pháp ngừa - phá thai, vì quá phổ biến và dễ dàng thực hiện điều này, phụ nữ không biết rằng chính bản thân họ trở thành những món đồ phục vụ cho sự nô lệ tình dục của nam giới. Vì sự tự do vô độ đó, đã biến những người nam, người nữ trở thành những kẻ giết người man rợ. Họ chính là những người cha, người mẹ sát hại con mình ngay khi nó còn là trứng nước đang lớn từng ngày trong lòng mẹ nó. Một thế giới mà chính cha mẹ còn chối từ con mình, thì thế giới làm sao dám mơ hạnh phúc! Máu mũ của lòng mình mà còn dứt bỏ, thì đồng loại xung quanh còn ý nghĩa gì!

1. Đức tin nơi giới trẻ vẫn sáng ngời

Giữa một thế giới quằn quại, có phần bi đát như thế, lại nổi lên sự kiện lạc quan quá đỗi cho cả Giáo Hội Công Giáo nói riêng, thế giới nói chung. Những con người còn rất trẻ, tưởng chừng chỉ có sức lực, sự nông nổi, ngông cuồng, ngang bướng, không nghĩ gì đến chuyện đạo đức, lạnh nhạt với việc cầu nguyện và sống đức tin, thì lại có cả triệu ngườp trẻ quây quần bên nhau, bên vị Cha già kính yêu của mình là Đức Thánh Cha để cùng sống, cùng cầu nguyện, cùng dâng thánh lễ, cùng học tập các bài giáo lý, cùng đi đàng Thánh Giá, cùng sống ơn hòa giải, và phá vỡ không gian bằng vô số lời kinh, vô số câu ca tiếng hát tôn vinh Thiên Chúa, tôn vinh Chúa Kitô. Và còn biết bao nhiêu bầu tim trẻ trung khác đầy nhiệt huyết, tràn trề tin tưởng hướng về Co-lon bằng ơn hiệp thông mà Thiên Chúa đã trao ban cho Giáo Hội. Và Giáo Hội lại tiếp tục mời gọi mọi người con của mình sống ơn hiệp thông ấy.

Hóa ra thế giới không mất mà đang được. Trong cái đi xuống của luân thường, vẫn còn đó một chiều kích đi lên của tình yêu, của sự thánh thiện. Mà tình yêu, sự thánh thiện là một khối thiêng liêng của tinh thần. Cái gì thuộc về tinh thần mới mạnh mẽ và tồn tại. Trong niềm hy vọng, ta dám tin rằng, sự đi xuống của luân thường chỉ là khuôn mặt thoáng qua của sự dữ, của những ai cố tình sống thác loạn, tha hóa. Chúng ta cũng tin y như thế về những giá trị tinh thần sẽ sống và tồn tại mãi, bởi đó là điều mà nhân loại rất cần.

2. Một thế giới đang giằng co.

Bình minh của ngàn năm thứ ba đã ló dạng. Nhân loại đã trải qua một thế kỷ cuối cùng của ngàn năm cũ, trong đó khoa học kỷ thuật bay trên đà phát triển bằng một tốc độ lớn vô cùng, một tốc độ mà trước đó chưa có. Đà phát triển đó chắc chắn sẽ tiếp tục đi vào thiên niên kỷ mới này. Cùng với sự phát triển tột bực của khoa học, nó cũng đem tinh thần hưởng thụ, và mức sống đề cao vật chất như là cứu cánh của đời người theo nó vào ngàn năm mới.

Trong quá khứ, vì quen thói định mức mọi sự, dẫu đó là lãnh vực vật chất, hay linh thiêng, theo cái nhìn khoa học, cho nên người ta đã thấm nhiễm quá mức não trạng thực nghiệm và tinh thần thực dụng, thấm nhiễm cho đến mức trở thành nô lệ cho cái não trạng và tinh thần ấy, thì ngàn năm mới có thể sẽ không giảm mà còn gia tăng. Người ta đã quá vội vàng ảo tưởng và kiêu ngạo, biến họ trở thành một thứ nô lệ vật chất. Cái bi đát nằm ở chỗ: nô lệ nhưng không nhận ra mình nô lệ.

Trong một thế giới có hai phía: Một bên cố níu những gì là đạo đức, là truyền thống, là tinh hoa chắt chiu từ tinh thần của nhân loại mấy triệu năm để nói với thế giới rằng: con người và vũ trụ có nguồn, có cội được sinh ra từ một người Cha từ ái. Người là Cha của tất cả loài người, loài người là anh em với nhau. Vì Người mà tất cả hãy yêu nhau, hãy sống một đời sống hợp luân thường đạo lý. Còn bên kia thì lại muốn nổi loạn, muốn phá đổ tất cả những gì là thánh thiêng, làm chủ cuộc đời mình theo cách nghĩ, cách làm của riêng mình bất chấp tốt xấu. Các giá trị truyền thống trở nên cổ hũ, đạo đức là vô ích. Họ tôn thờ khoa học như là chúa tể của mình.

3. Nhiệm vụ giữ gìn đức tin của người trẻ.

Một thế giới giằng co như thế, rất cần đức tin của bạn và tôi, những người trẻ hôm nay. Chúng ta xác tín mãnh liệt vào nguồn sống, nguồn hướng đạo duy nhất cho sự sống của mình là chính Chúa Kitô. Bạn và tôi hãy mang lấy tâm tư, mang lấy thao thức của Người để trao tặng một thế giới loại trừ Thiên Chúa.

Tâm tư ấy, thao thức ấy chỉ có thể mang lấy bằng đời sống cầu nguyện liên lỉ giống như tất cả các thánh và giống như Đức Thánh Cha để sống cuộc sống của Chúa Kitô, để nói tiếng nói của Chúa Kitô, để hành động bằng những việc làm của Chúa Kitô: Nhằm trở nên chứng nhân cho tình yêu của Thiên Chúa.

Nghĩa là những Kitô hữu trẻ hôm nay, hãy là người tiếp nối sự nghiệp của Chúa Kitô, giới thiệu Thiên Chúa, là Chúa muôn loài, muôn vật, nhưng cũng là một Người Cha nhân từ vô vàn. Chỉ nhờ Người và nơi Người mà tất cả mọi người được sống. Bằng một đức tin và một khả năng sống đức tin mãnh liệt như thế, giới trẻ trở thành những người lính canh giữ đức tin trong ngàn năm mới. Dẫu thế giới có như thế nào đi nữa, lòng người vẫn tẩy chay hay đón nhận Thiên Chúa, bạn và tôi hãy dấn thân cho đức tin. Hãy cao rao tình yêu Thiên Chúa nơi chính cuộc đời và lối sống của mình. Đừng quên rằng: ngàn năm mới đang đặt vào tay chúng ta, những hy vọng của tương lai Giáo Hội. Bởi vậy, chúng ta hãy sống như người có hy vọng và gieo hy vọng vào thế giới. Hy vọng của chúng ta chính là Chúa Kitô. Gieo hy vọng là đưa Chúa Kitô vào tâm hồn nhân loại

Trở về mục lục >>

 

 SỐNG ĐẠO

XA-TAN, MI LÀ AI?

Khổng Đức Nhuận

Xa-tan là một nhân vật được nhắc tới khá nhiều trên đầu môi chót lưỡi thiên hạ cũng như trong các bài viết về tôn giáo. Chúng tôi nhận thấy có ba vấn đề cần quan tâm:

Xatan đáng ghét - Xatan đáng thương - Bộ mặt thật của Xatan theo ánh mắt tâm linh

Xatan đáng ghét

Đáng ghét là phải lắm rồi vì Xatan là:

Chuyên viên mê hoặc Con Mãng Xà bị tống ra, đó là Con Rắn xưa, mà người ta gọi là ma quỷ hay Xa-tan, tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ. (Kh 12:9). Nó ru ngủ con người bằng trăm phương ngàn kế với những lời thì thầm mật ngọt, thí dụ như:

Anh quả là uy nghiêm: một mình anh lèo lái cả một cộng đoàn đông người, theo đúng đường lối cộng đoàn đã đề ra.

Anh thực là thánh thiện, các linh mục cũng khó lòng theo kịp. Hơn mười hai giờ - đã quá giờ ăn rồi - mà vẫn còn hăng say thuyết giảng cho nhóm!!!

Anh đáng phục quá! Anh đã bỏ cả cửa nhà, vợ con để lo cho công trình của Chúa. Chắc chắn Chúa sẽ thưởng công bội hậu. (Dù anh bỏ bê bổn phận đối với vợ, con cái!!)

Anh quả là bậc thày đáng kính với cả kho kiến thức đầy đầu.

Và thế là anh hăng say dấn thân phục vụ để bảo tồn uy tín mà Xatan đã nhẹ nhàng âm tầm gieo vào tận đáy cùng vô thức của anh để anh luôn nghĩ rằng tôi dang phục vụ cho công trình của Chúa, đang làm vinh danh Chúa. Nhưng một cách vô thức, anh đang thực hiện mọi việc vì vinh quang của anh, bằng chứng là anh coi cộng đoàn này là của riêng mình. Anh sẵn sàng loại trừ tất cả những anh em nào có ý kiến khác với ý kiến của anh. Anh tha hồ tác oai tác quái theo ý riêng của mình một cách trắng trợn. Ngay cả người phụ tá đã có một thời rất tâm đắc với anh, nhưng sau khi người phụ tá trưởng thành hơn, không còn gà mờ làm kiếp nghị gật, a dua với anh nữa, anh đã gạt thẳng tay, bất kể đó là gương mù gương xấu cho các huynh trưởng sau này. Nếu là công trình của Chúa thì tất nhiên anh phải sẵn sàng mở lòng để đón nhận những anh em khác cũng đang nóng lòng đóng góp cho cộng đoàn chứ!!! - hiệp nhất trong đa dạng - Anh chỉ muốn mọi người đều một lòng một trí theo tiêu chuẩn anh đã đề ra!!! Anh đang bị mê hoặc trong cái bẫy ngọt ngào của Xatan - cái bẫy của những nhãn hiệu oai phong - mà anh vẫn cứ tưởng là mình sáng suốt nhất, không ai bằng.

Xatan đáng thương

Không phải lúc nào Xatan cũng đáng ghét, đôi khi Xatan cũng mang nỗi oan Thị Kính!!

Vợ chồng tôi hay cãi nhau: Đúng là thằng Xatan nó quấy nhiễu khiến cho nhà chúng tôi như hoả ngục!! Trong khi ai cũng muốn cái tôi của mình phải thắng thế hơn trong cuộc tranh cãi!!

Cộng đoàn tôi kỳ này có nhiều chuyện lộn xộn có nhiều chuyện bất hoà, một số rời bỏ cộng đoàn. Đúng là thằng Xatan nó quấy nhiễu. Trong khi ai cũng muốn cho ý kiến của mình là hay nhất!! Hoặc chỉ có huynh trưởng chóp bu là sáng suốt nhất còn tất cả các huynh trưởng thừa hành cứ việc chờ đợi lệnh trên chỉ xuống, bảo gì làm nấy chứ không dám giải quyết việc gì, thành thử ra cộng đoàn càng đông càng rắc rối phức tạp và lộn xộn, lúc ngấm ngầm, lúc công khai vì không được xử lý kịp thời.

Nếu tôi lỡ mê đắm vào một thói quen xấu, lập tức tôi biện hộ. Đúng là thằng Xatan nó quyến rũ tôi. Nếu không, tôi đâu có bê bối như bây giờ!!

Ta thấy đó, Xatan đôi khi cũng đáng thương đấy chứ. Lỗi của ta rành rành ra đấy nhưng ta cứ tha hồ đổ vấy cho Xatan - ta chắc chắn Xatan không thể nào biện minh được!! Chắc ăn còn hơn bắp!!

Tại sao vậy?

Chúng ta cùng đọc lại 2 câu Kinh Thánh sau đây:

ITi 5:15: Thật vậy, đã có kẻ lạc đường đi theo Xa-tan.

Kh 2:9: Ta biết lời vu khống của những kẻ xưng mình là Do-thái, mà thực ra không phải : chúng chỉ là thành viên thuộc hội đường của Xa-tan.

Ai là kẻ lạc đường đi theo Xatan? Xin thưa: Bất cứ ai sống theo lối nhìn của thế gian, cư xử theo lề thói thế gian thì đều là kẻ lạc đường. Nói như thế nghe có vẻ toàn thể nhân loại đều đi theo Xatan sao? Lại xin thưa: Nhìn bề ngoài, những người Công giáo đều là con Chúa, khó có thể bảo họ đi theo Xatan. Nhưng nếu bình tĩnh hồi tâm lại. Chúng ta rất khoái đi lạc đường và thường xuyên đi lạc đường.

Tại sao dám quả quyết như vậy? Bới vì nếu cuộc sống của chúng ta vắng bóng sự hiện diện của Thiên Chúa thì quả thật những lúc đó chúng ta vô tình đi lạc vào đường lới của Xatan. Và đương nhiên chúng tathành viên thuộc hội đường của Xa-tan!! Chối làm sao được!!

Bộ mặt thật của Xatan - theo ánh mắt tâm linh

Nghe nói tới Xatan chúng ta thường tưởng tượng ra một ác quỷ hung dữ với đối mắt đỏ ngầu sát máu, cặp sừng nhọn hoắt và khuôn mặt khiến ai diện kiến cũng phải siêu hồn phác lạc. Theo ánh mắt tâm linh, Xatan là một Chuyên viên biến hoá khôn lường và bất ngờ nhất.

Xatan là một Chuyên viên biến hoá khôn lường.

Xatan đâu có dại gì mang bộ mặt quỷ dạ xoa, ai thấy cũng tránh xa thì còn làm ăn gì được. Phao-lô đã cảnh báo chúng ta:  Lạ gì đâu ! Vì chính Xa-tan cũng đội lốt thiên thần sáng láng!! (2Co 11:14)

Đọc lời Kinh Thánh này chúng ta thường hiểu là nói về những tiên tri giả, những tay Pha-ri-sêu, những tên giả hình còn tôi thì vô can.

Có ngờ đâu, đôi khi chính tôi cũng thản nhiên đóng vai Xatan với đôi cách thiên thần thánh thiện sáng chói bao phủ khắp châu thân!! Chính tôi chứ không phải ai khác, một sự thực khủng khiếp!! Này nhé, tôi đi lễ hàng ngày, làm ca trưởng, có khi còn kiêm luôn cả trưởng ban Lễ sinh, hàng ngày chầu chực nơi bàn thánh. Có khi tôi làm trưởng hội đoàn, làm trưởng khu, làm chủ tịch hội đồng giáo xứ. Tối ngày ở nhà thờ, lăng xăng lo cho công việc của Chúa. Ai trông thấy cũng thầm khen ngợi tôi là thánh thiện như thiên thần ánh sáng!! Nhưng có ngờ đâu, tôi vẫn cứ lén lút phạm những tội mà khó có người phát hiện. Lúc này ứng nghiệm lời Kinh Thánh nơi tôi: Chính Xa-tan cũng đội lốt thiên thần sáng láng!!

Xatan là một Chuyên viên biến hoá bất ngờ nhất.

Bạn không tin sao? chúng ta cùng nhớ lại lời Đức Giêsu ông Phê-rô: "Xa-tan! lui lại đàng sau Thầy!tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người." (Mac 8:33)

Xatan là ai vậy. Chính là Phê-rô chứ còn ai! Vì Đức Giêsu phán bảo: lui lại đàng sau Thầy!  Vâng, lui lại đàng sau Thày. Vì sao Phê-rô lúc này lại chính là Xatan? Bởi vì dựa theo tiêu chuẩn: “Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người." Bất ngờ ở chỗ: ngay cả Phê-rô, môn đồ trưởng, vị giáo hoàng tiên khởi, mà cũng có lúc biến thành Xatan. Huống chi là chúng ta, nếu ta không mặc con người mới với quan niệm mới theo mẫu gương Đức Kitô thì ta cũng có lúc hoá thành Xatan, khi chúng ta suy nghĩ và hành động theo thói thế gian, mà thủ lãnh thế gian chính là tên Xatan.

Quả thật Xatan là một Chuyên viên biến hoá khôn lường và bất ngờ nhất.

Thoát khỏi quyền lực Xa-tan mà trở về cùng Thiên Chúa

Tuy Xatan có mưu mô và xảo quyệt đến đâu đi nữa, cuối cùng mỗi người chúng ta cũng không những có thể thoát khỏi quyền lực kinh hồn của hắn mà còn dễ dàng đè bẹp Xatan ở dưới chân mình.

Làm cách nào có thể đè bẹp Xatan?

Có nhiều cách lắm, trong bài này chúng tôi xin chia sẻ cách dễ nhất: Đó là không cần phải thực hiện những công việc cực kỳ khó nhọc, gian nan như trèo non lội suối hay những việc cao siêu cả thể; Mà chỉ cần đơn giản ngồi thinh lặng quan sát, nhìn ngắm thằng Xatan chính mình.

Bình thường bất cứ chuyện gì xảy ra, tôi đều phản ứng và sống theo thói quen từ bao đời nay. Ai sao tôi vậy, đó là truyền thống mà tôi cứ như một người máy đã được cài đặt các chương trình một cách nhiêm khắc. Reng! 6 g rồi, đi lễ. Reng! tới giờ đi làm. Reng! tới giờ ăn cơm. Reng! tới giờ nghỉ ngơi tắm rửa. Reng! tới giờ đi ngủ! Thế là hết một buổi sáng và một buổi chiều! Con người máy của tôi đã hoàn tất một ngày Chúa ban!

Còn về chuyện lo cho công trình của Chúa cũng thế. Reng! Đi họp. Reng! Đi Loan Báo Tin Mừng - Nói cho người khác những gì người ta nhồi nhét vào đầu tôi, mà tôi chẳng hề sống, chẳng hề cảm nghiệm. Nhà Thiền có một thành ngữ tuyệt vời: Nhai bã mía!! Nói Lời Chúa mà chính mình không thấm được chất ngọt của nó thì có khác gì nhai bã mía Lời Chúa vừa nhạt nhách vừa vô vị và vô ích!! Đáng tiếc thay! rất nhiều người trong chúng tôi vẫn cứ vui vẻ tưởng mình là đạo đức lắm, thánh thiện lắm!! Chúng tôi đinh ninh rằng: càng học nhiều thì càng thấm, nhưng hoá ra không phải như vậy. Vì tất cả những gì chúng tôi tiếp thu được chỉ thuần tuý lý thuyết. Còn trong lãnh vục sống thì chẳng ai chịu quan tâm, kể cả người hướng dẫn lẫn người nghe. Thành thử ra, dù ở trong cộng đoàn cả chục năm trời mà trình độ tâm linh dường như vẫn đứng yên tại chỗ.  Vẫn đọc Kinh Thánh như vẹt. hăng hái chia sẻ Lời Chúa như lũ mù sờ voi. Quanh đi quẩn lại toàn là những quyết tâm và quyết tâm; nghe rất phấn khởi, nhưng chúng tôi chẳng bao giờ chịu thực hiện trong cuộc sống đạo của mình. Khổ một nỗi trong tình trạng mù dẫn mù như vậy, thế mà chúng tôi cứ tưởng  mình sáng lắm - mỗi ngày đọc Kinh Thánh 15 phút cơ mà, mỗi ngày cầu nguyện 15 phút cơ mà. Nhưng chỉ toàn là xin hết ơn này đến ơn nọ. Ai có ngờ đâu chúng tôi lại vô tình lạc bước đi theo Xa-tan và là thành viên thuộc hội đường của Xa-tan chúng tôi không hề hay biết!! Thế mới chết chứ!!!

Vậy đây là lúc nhìn lại con người của mình và mạnh dạn, can đảm nhận ra mình đang lạc lối.

Sau đó, nhìn lại con người đích thực của mình. Tôi phát xuất từ đâu? Từ Chúa hay Xatan? Tôi bị Xatan áp bức? hay được tình yêu Chúa luôn gìn giữ chở che đêm ngày? Bản tánh tôi ra sao? Tôi lỗi đầy mình hay vốn thánh thiện từ đầu đến chân? Xin vui lòng đọc lại những bài Nền tảng sống đời Kitô hữu để khám phá ra bản tánh cao quý chân thực của mình trong trang web http://anhmattamlinh.tinvui.org 

Một  khi nhận ra bản tánh tuyệt vời của mình, lập tức, ta cảm nhận rất rõ ràng mình đã Rời bóng tối mà trở về cùng ánh sáng, thoát khỏi quyền lực Xa-tan mà trở về cùng Thiên Chúa. (Cv 26:18). Và chính  Thiên Chúa trong lòng mình là nguồn bình an, chẳng bao lâu nữa sẽ đè bẹp Xa-tan, bắt nó phải ở dưới chân anh em. (Rm 16:20).

Kết quả là Xatan trở thành rác rưởi, không đáng để ta sợ hãi vì điều quan tâm nhất hiện nay là chúng ta sống một cuộc sống mới dồi dào trong tâm tình một người con yêu dấu của Chúa, nơi đó không có bóng dáng của Xatan. Tuy nhiên, vì suốt mấy chục năm qua, ta lỡ quen nghe theo lời đường mật của Xatan, nên đôi khi ta cũng thèm muốn quay trở về với lối sống xưa. Nhưng nhờ sức mạnh của Thần Khí Thiên Chúa sẵn trong tâm, chúng ta có thể vượt qua cơn cám dỗ của Xatan một cách tương đối dễ dàng.

Tóm lại, nếu tự nhận mình hèn yếu tội lỗi, ta sẽ thấy Xatan quả là khủng phiếp. Nó sàng ta như sàng gạo suốt đêm ngày. Nhưng nếu dám nhận mình đôi khi cũng biến thành Xatan thì ta sẽ thấy Xatan không còn ghê gớm nữa. Cuối cùng, ta khám ra mình chính là con yêu dấu của Cha, tràn đầy Thần Khí Thiên Chúa, lúc này Xatan hầu như không còn đất dung thân trong tâm hồn ta nữa. Lâu lâu, ta vấp ngã chút xíu - không ăn thua!! - với sức mạnh Thần Khí Thiên Chúa uy dũng, ta có thể dứng dậy rất nhanh và tiếp tục cuộc sống dồi dào, hạnh phúc mà chính ta đã khám phá và cảm nghiệm một cách cực kỳ xác tín. Mến chúc quý vị nhận ra bộ mặt thật của Xatan, để rồi chẳng bao lâu nữa, quý vị sẽ đè bẹp Xa-tan, bắt nó phải quỳ ở dưới chân quý vị

 


Ý CẦU NGUYỆN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

THÁNG 9  NĂM 2005

 

     Ý Chung: Xin cho chính quyền các nước trên hoàn cầu nhìn nhận quyền tự do tôn giáo.

  Ý Truyền Giáo: Xin cho các Giáo Hội non trẻ, khi dấn thân loan báo sứ điệp Kitô giáo, được nhờ đó     mà hội nhập theo chiều sâu vào các nền văn hoá của các dân tộc.

 

Trở về mục lục >>

 

 CẦU NGUYỆN


NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG

(tiếp theo Maranatha_54)

Michel Hubaut - Maranatha dịch

 

27 - ĐIỀU ĐÁNG PHẢN KHÁNG TRONG SỰ THINH LẶNG CỦA THIÊN CHÚA.

Nếu Thiên Chúa là Lời, thì Người cũng là Thinh Lặng! Không phải cái thinh lặng mà ta đã nói trước đây, cái thinh lặng bao quanh và chuẩn bị cho Lời, nhưng cái thinh lặng có vẻ rất giống như một sự vắng mặt! Cái ‘điều đáng phản kháng’ (scandale) trong sự thinh lặng của Thiên Chúa đã là một trong những ray rứt của dân Giao Ước trong quá trình lịch sử đầy sóng gió của mình. Một sự thinh lặng không thể nào hiểu được, khiến cho tác giả thánh vịnh thường thốt lên một lời than thở lo lắng khi phải đối diện với sự vênh váo trịch thượng của kẻ dữ.

Lạy Thiên Chúa, xin đừng làm thinh,

Xin đừng nín lặng ngồi yên, lạy Thiên Chúa. (Tv 83,2)

Lạy Thiên Chúa là Đấng con ca ngợi,

Xin Chúa đừng lặng thinh.

Bởi vì kẻ gian ngoa độc dữ mở miệng nhằm hại con,

Nói với con toàn lời dối trá. (Tv 109 1-2)

Ngay cả các ngôn sứ đôi khi cũng chua chát phản kháng, thấy kẻ nghèo bị bóc lột, người vô tội luôn bị khinh chê, còn Thiên Chúa thì im lặng. Họ thét lên với Chúa: “Cho đến bao giờ, Lạy Chúa, con kêu cứu mà Người chẳng đoái nghe?... Sao Người lặng thinh khi kẻ dữ nuốt chửng người chính trực?” (Kb 1, 2.12)

Còn thảm kịch của Giốp thì đã trở thành biểu tượng nổi danh cho người công chính vô tội, khi họ kêu cầu trước sự thinh lặng của Thiên Chúa

Con kêu lên Người, nhưng Người không đáp,

Con trình diện Nguời, nhưng Người chẳng lưu tâm. (G 30,20)

Ta hãy nhớ lại rằng dân Kinh Thánh, sau cuộc tàn phá Giêrusalem, vào thời Lưu Đày, đã từng thấy thế giới tôn giáo của mình sụp đổ, Đất Hứa đã bị quân xâm lăng dẫm nát, hậu duệ của dân thiên sai lại bị lưu đày, Đền Thờ điêu tàn... Đấy là một cú sốc khủng khiếp đối với đức tin khiến họ phải đặt lên câu hỏi ray rứt: Thiên Chúa ở đâu? Lại một nhu cầu cấp bách phải tẩy rửa khái niệm của họ về Thiên Chúa, phải đào sâu nội dung của lời hứa và ý nghĩa của ơn gọi!

Những Thánh Vịnh mệnh danh là ‘của người nghèo của Thiên Chúa’, được viết sau cuộc lưu đày khủng khiếp ấy, nói lên sự thinh lặng đáng sợ của Thiên Chúa:

Vì sao Người không đáp lại con, ôi lạy Chúa! (Tv 12)

Lạy Thiên Chúa, xin đừng câm miệng lặng thinh! (Tv 76)

Cho đến bao giờ, lạy Chúa, Người sẽ ẩn dấu tôn nhan Người? (Tv 82)

Xin trỗi đậy, vì sao Người vẫn ngủ, xin thức giấc! (Tv 87)

Làm sao có thể chấp nhận được điều đáng phản kháng là Thiên Chúa im lặng? Làm sao chúng ta có thể thoát khỏi chiều kích vượt qua của sự cô đơn mà chính Đức Giêsu đã đón nhận? Như thế, sự cô đơn của chúng ta đôi khi là thờ gian huyền bí để cày gieo, thời gian mà Thần Khí kiên nhẫn xây dựng con người vĩnh cửu của chúng ta. Cái thinh lặng khi cưu mang. Cái thinh lặng của con người mới sẽ được sinh ra trong đất mới! Cái thinh lặng của ngày thứ bảy Tuần Thánh trong khi chờ đợi Phục Sinh! Cái thinh lặng để khước từ những của cải nghèo nàn, những kế hoạch phù phiếm của mình hầu đón nhận những sự phong phú không hề hư nát của Thiên Chúa.

Sự thinh lặng của con người cũ chết đi và của đứa con của Thiên Chúa tái sinh. Sự thinh lặng hạt lúa mì chôn vùi dưới đất trước khi trở thành một bông lúa mới. Sự thinh lặng của cái kén chuẩn bị cho con bướm vổ cánh mà bay. Sự thinh lặng của lột xác, của vượt qua. Vì không bao giờ có sự sống nếu không có sự tăng trưởng, và không thể tăng trưởng nếu thiếu sự biến đổi, và không có biến đổi nếu không thông qua cái chết. Sự thinh lặng mãi mãi là một huyền nhiệm về cái chết cũng như về sự tái sinh.

Đấy là sự thinh lặng, không chỉ để chiến đấu chống lại sức mạnh sự dữ, nhưng còn là để thanh luyện, đào sâu mầu nhiệm về Thiên Chúa và về con người. Vâng, đôi khi Thiên Chúa có vẻ thinh lặng! Nhưng sự thinh lặng ấy chẳng phải là một cách tôn trọng tự do của con người sao? Một cách mời gọi họ đào sâu khát mong của mình, mở rộng chân trời của mình sao? Nếu đôi khi Tình Yêu im tiếng, thì im lặng chẳng phải là một lời mặc khải sao?

Dù Thiên Chúa thiết tha mong muốn yêu thương, gặp gỡ tôi, ban ơn cho tôi, thì Người cũng không muốn có một sự ngộ nhận giữa bản chất sâu xa của tôi, giữa thực tại của tôi với điều mà Người dành cho tôi. Khi sự thinh lặng của chúng ta có vẻ trống rỗng, khi Thiên Chúa có vẻ trở nên một thực tại mơ hồ và ngôn ngữ mà chúng ta dùng để tiếp cận Người có vẻ như những lời ngây ngô trống rỗng, có lẽ đấy là lúc mà Đấng Tạo Dựng mời gọi chúng ta mở lòng ra để đón nhận một giai đoạn mới trong quá trình tăng trưởng thiêng liêng của mình.

Một cuộc vượt qua khó khăn; qua đó ta phải học cách giữ thinh lặng vì Thiên Chúa mà thôi! Lúc này, chước cám dỗ sẽ là xem các giai đoạn trước đó chỉ là ảo tưởng hoặc tự kỷ ám thị. Thế nhưng, qua sự cô đơn ‘sa mạc’ này, Thần Khí hướng dẫn chúng ta đến giai đoạn tiếp theo, đến một thái độ chân chính hơn đối với Thiên Chúa.

Đây là một sự thinh lặng đáng sợ, nhưng nó thanh tẩy chúng ta khỏi cái nhu cầu tha thiết của mình đó là ‘chiếm hữu’, là thu thập ‘các kinh nghiệm tâm linh’.

Thế nhưng ta không thể nào tích trử ‘ân sủng’ cũng như không thể tích trử manna trong sa mạc. Chúng ta phải tìm ra tình chất ‘cho không’ của tình yêu Thiên Chúa, của Giao Ước và của những ân huệ không lường trước được. Thời gian sa mạc! Đêm đen khó thở! Đấy là thời gian khô cằn cần thiết để ta cắm rễ vào đức khiêm nhường và vào việc phó thác trong đức tin. Đêm đen của cõi lòng và trí khôn, lúc mà con người bắt đầu nghi ngờ mọi sự: nghi ngờ chính mình, nghi ngờ loài người và nghi ngờ cả Thiên Chúa. Sự thinh lặng đáng sợ. Đêm tối của đức tin.

Những giai đoạn bi tráng này của dân Chúa - như ta thấy trong các văn bản viết sau lưu đày - đều dẫn đến kết quả là đức tin được nội tâm hóa sâu xa hơn.

Nhưng đối với một vài người, cái cảm giác độc thoại cô đơn ấy đôi khi trở thành một cuộc chiến bi thảm đẫn đến việc đánh mất đức tin. André Gide, chẳng hạn, kể lại cuộc chiến nội tâm mà ông đã kinh qua trong thời gian niên thiếu và đã làm cho ông rơi hẳn vào thái độ vô thần:

“Ôi Đấng Hằng Hữu, ôi Thiên Chúa của con! Ôi con mong được biết Người! Con quỳ gối lâu giờ, và hình hài lo lắng trong khi tâm hồn tìm kiếm những lời cầu nguyện mới, và đôi khi tâm hồn đâm ra sợ hãi trước lời độc thoại trường kỳ của mình. Ôi! Khi ta không nghe một lời nào đáp lại, mà vẫn tin, vẫn còn đức tin mà không có gì trấn an mình; chờ đợi, nguyện cầu và biết rằng niềm hy vọng ấy đang đánh lừa mình; và rồi tiếp tục cầu nguyện, bằng mọi giá, bởi vì có lẽ...” (Les cahiers d’André Walter, trang 144-145),

François Mauriac chép lại trong một tiểu thuyết của ông, câu trả lời thống thiết mà cha xứ Baluzac, một người đã rơi vào đêm đen của vô tín, đã nói với Xavier, một chủng sinh trẻ, khi anh nhận xét rằng ngài hẳn không thể nào yêu thương trọn đời một tư tưởng hay một huyền thoại:

“Vâng, ta có thể yêu thương một người đã chết cách đây 2000 năm, đúng vậy. Cha là bằng chứng đây, cha và nhiều người khác. Người ấy đã đánh lừa cha biết bao! Người ấy đánh lừa chúng ta từ thế kỷ này đến thế kỷ khác! - Ngài tiếp tục bằng một giọng run rẩy - Cha đã cầu nguyện thật nhiều, van xin thật nhiều! Vào tuổi con, người ta thốt lên những câu hỏi và những câu trả lời, rồi nghĩ rằng chính Thiên Chúa nói. Người ta không biết rằng chẳng có ai cả!” (L’Agneau, tr 208)

Những tiếng thét phản kháng ấy, xưa kia cũng như ngày nay, đối với sự thinh lặng của Thiên Chúa chẳng phải là tiếng thét của chúng ta một ngày nào đó sao? Khi bất hạnh giáng xuống, khi thất bại sau bao cố gắng, khi thử thách dày xéo chúng ta, khi bệnh hoạn, khổ đau hay cái chết xuất hiện trong ta hay quanh ta... câu hỏi nhói tim bùng dậy trong lòng ta: Thiên Chúa ở đâu trong bao nhiêu biến cố ấy?

Ta không thể lên án cái khát vọng con người là muốn được nhìn thấy Thiên Chúa ra tay can thiệp khi mọi sự đều chao đảo. Nhưng cũng phải nhận ra chước cám dỗ muôn đời của con người là tạc ra cho mình một thiên chúa ‘hữu dụng’, vừa tầm với mơ ước, nỗi sợ của mình, và thiên chúa đó ‘phục vụ’ cho những nhu cầu trước mắt của chúng ta. Đấy là các thần linh được đựng lên trong thời cổ đại. Và chẳng phải là lúc nào cũng có một tên ngoại đạo đang thiếp ngủ trong mỗi người chúng ta sao?

Nếu cái vỏ thinh lặng của Thiên Chúa làm chúng ta đau, thì nó cũng có thể trở nên cơ hội để ta đặt lên một câu hỏi đúng đắn và lành mạnh: “Tôi tin vào vị Thiên Chúa nào?”. Đây là một câu hỏi mà không nên quá nhanh nhẩu giải đáp bằng một lối mòn duy tri thức hay một câu trả lời duy đạo đức. Vả lại vị Thiên Chúa mà người ta tưởng tượng ra để phục vụ cho các điều mình yêu thích, cho các thành công của mình, trong bối cảnh văn hóa xã hội hiện nay, vị Thiên Chúa ấy khó lòng chống trả nổi với những cuộc phản kháng. Và trước cái chết của vị thiên chúa ‘hữu dụng’, chỉ có thể có hai thái độ mà thôi: hoặc là thái độ dửng dưng của chủ nghĩa vô thần hoặc là thái độ khiêm nhường đón nhận một Thiên Chúa không khớp với mong muốn của chúng ta.

Sự nghi ngờ có thể trở nên con đường dẫn đến một đức tin thuần khiết, một đức tin luôn tìm kiếm Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Đấng nhập thể trong hình hài khiêm nhường của một trẻ thơ, rồi chết đi trên thập giá, dù không hề có một tội lỗi nào.

Vị Thiên Chúa ấy quả thật không phải, tuyệt đối không phải, đơn thuần là hình ảnh phóng chiếu của các nhu cầu con người hầu che đi những lo sợ hiện sinh của mình. Chúng ta không thể nào bịa ra được một Thiên Chúa như thế! Người chẳng hề khớp với những nhu cầu tự nhiên của một con người đi tìm sự bù trừ trong tôn giáo. Thiên Chúa đã xóa hào quang thần thánh của mọi thiên chúa giả trong ‘tôn giáo tự nhiên’. Trước vị Thiên Chúa ấy, vị Thiên Chúa thinh lặng, chúng ta được mời gọi thực sự tiến hành một cuộc vượt qua phục sinh. Sống lễ Vượt Qua của mình cũng có nghĩa là đóng đinh vào thập giá mọi khái niệm của chúng ta về Thiên Chúa, hầu đón nhận một Thiên Chúa mãi mãi cao cả hơn, một Giao Ước ‘cho không’.

Vị Thiên Chúa mà Đức Giêsu Kitô mặc khải thì không ‘dùng’ để làm gì cả, theo ý nghĩa hẹp của từ ngữ này. Người không xóa bỏ các giới hạn hay các thử thách trong kiếp người, nhưng Người biến đổi đời thường chúng ta và phá vỡ chân trời hạn hẹp của chúng ta.

Thật khó khăn để ‘trở lại’ với Thiên Chúa của Phúc Âm,  để đi từ một ‘thiên chúa’ ngoại đạo mà ta phải lấy lòng, phải thuyết phục hầu đến với một Thiên Chúa từng đón nhận cái chết của chúng ta để làm vọt lên sự sống đời đời.  Tôi không cần phải biện minh cho sự thinh lặng của Thiên Chúa! Nhưng những sự thinh lặng ấy chẳng phải là một lời ‘âm’ mà chúng ta cần phải học cách lắng nghe và giải thích sao? Sự thinh lặng của Thiên Chúa chẳng phải là một hình thức ngôn ngữ không lời khiến chúng ta phải đào sâu, tinh luyện nội dung của các khát mong của mình sao?

            Trở về mục lục >>

 

 

“TAIZÉ -

MÙA XUÂN NHỎ” CỦA NIỀM HY VỌNG VÀ HIỆP NHẤT

 

Maranatha sưu tầm và tổng hợp

 

Taizé, một cộng đoàn và cũng là một phong trào cầu nguyện do Sư Huynh Roger Schutz thành lập. Thầy Roger, một thần học gia Tin lành, sinh trưởng tại Provence, Thụy Sĩ. Năm 1940, lúc ấy ở vào tuổi 25, Thầy Roger đã rời Thụy Sĩ, nơi Thầy đã sinh ra để đến Pháp sinh sống. Trong những năm dài bị bệnh lao phổi, một tiếng gọi thẳm sâu trong Thầy “làm thế nào thiết lập một cộng đoàn nơi mà ‘sự giản đơn cũng như lòng tử tế phải là nền tảng và là trung tâm của mọi sự trong cuộc sống khi thể hiện tinh thần Phúc Âm.” 

Taizé, một làng nhỏ ở miền Nam Burgundy nước Pháp. Cộng đoàn ở đây mang tính hoàn vũ, hiệp nhất của các tôn giáo. Khi thế chiến thứ hai bắt đầu, nhà cầu nguyện Taizé được dùng làm nơi trú ẩn cho người Do Thái bị quân Đức Quốc Xã lùng bắt. Vài năm sau, cộng đoàn Taizé được chính thức thiết lập như một tu viện mang tính đại kết do thầy Roger Schutz làm bề trên tiên khởi. Những thanh niên chọn lối sống này chia sẻ với nhau về vật chất cũng như tinh thần, họ được mời gọi sống độc thân và hướng về một đời sống cực kỳ đơn giản. Các Thầy mưu sinh bằng nghề nghiệp của họ và quyết tâm không nhận quà cáp biếu xén cho riêng bản thân mình. Phần đông họ sống giữa những người nghèo để chia sẻ thân phận với những người bất hạnh. Ngày nay, cộng đoàn Taizé đã tập họp được khoảng trên 100 sư huynh, gồm có Công giáo và một số lớn các giáo phái Tin Lành, đến từ hơn 25 quốc gia. Cầu nguyện 3 lần với nhau mỗi ngày là trọng tâm của đời sống cộng đoàn Taizé.

Cộng đồng Taizé hình thành và phát triển nhằm hoà giải giữa những người Kitô hữu với nhau. Từ năm 1950 đến nay, phong trào này đã thu hút hàng ngàn thanh niên thiếu nữ từ rất nhiều quốc gia trên thế giới đã đến và tìm thấy ở phong trào này đường lối đặc biệt về cầu nguyện, gặp gỡ và học hỏi suy niệm. Thêm vào đó, các sư huynh thuộc phong trào này đã viếng thăm, hướng dẫn những buổi hội thảo, học tập lớn nhỏ, và cũng ở lại nơi một số các quốc gia ở Châu Phi, Bắc và Nam Mỹ, Á Châu cũng như ở Châu Âu, như là thành phần của “cuộc lữ hành tín thác trên địa cầu.” Họ đến và hiện diện, chia sẻ với những người bất hạnh mang trong mình những vết thương của kỳ thị, bỏ rơi và nghèo đói.

Những nhà lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, Công giáo, Tin Lành, Chính Thống, trong đó có các giám mục, linh mục, vô số những cha sở, linh mục tuyên uý giới trẻ trong các giáo phận, các mục sư trên toàn thế giới đã đến Taizé trong những thập niên qua và con số này tiếp tục gia tăng ngày càng đông hơn.

Vào ngày 5 tháng 10 năm 1986, chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng đã đến chia sẻ những sinh hoạt với cộng đoàn nhỏ bé này. Trong cuộc viếng thăm và cầu nguyện với những người tham dự trên một ngọn đồi ở Taizé, Đức Thánh Cha đã bày tỏ cử chỉ thân thiện với các sư huynh của cộng đoàn, đặc biệt gửi đến Sư huynh Roger tình huynh đệ, Ngài nói: “Chư huynh quý mến, trong bầu không khí thân thương như trong gia đình, tôi xin gửi đến anh em lòng quý mến đặc biệt và lòng tín cẩn của tôi với lời ngắn ngủi đơn sơ mà chính Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, người mà các bạn rất qúy mến đã đón chào sư huynh Roger trong một dịp gặp gỡ như thế này: “Ồ, Taizé, đó chính là một mùa xuân nhỏ!” Lòng uớc muốn của tôi là nguyện xin Chúa chúc lành cho mùa xuân này được luôn nở rộ, và ‘với mùa xuân bé nhỏ này’ (tuy nhỏ bé thế đấy), nhưng với niềm vui của Phúc Âm, đã mang lại niềm hy vọng và dấy lên niềm ao ước sâu xa để rồi hình thành sự hoà giải và hiệp nhất giữa những môn đệ của Chúa Kitô.”

Đến Taizé, chúng ta sẽ được đón chào bởi một cộng đoàn của các sư huynh gồm những con người đã đáp lời xin Vâng với lời mời gọi của Đức Kitô cho cuộc sống và những chọn lựa của họ. Mỗi ngày, các sư huynh sẽ hướng dẫn và giới thiệu một đoạn Tin Mừng và khách viếng sẽ dành nhiều thì giờ trong thinh lặng, suy gẫm. Những người tham dự cũng được hướng dẫn bằng những khoá hội thảo chuyên đề về đức tin, luân lý, xã hội, cả âm nhạc và nghệ thuật nữa. Một tuần lễ tham dự trong thinh lặng thật sự là một kinh nghiệm tuyệt vời trong sự chìm đắm sâu xa với Thiên Chúa qua cầu nguyện và đào sâu đức tin và tâm tư mình; đồng thời cũng cảm nghiệm được sự hiệp thông quý báu với tha nhân qua sự hiện diện với biết bao con người chung quanh đến từ khắp nơi trên hoàn cầu. Bằng cách này, rất nhiều thanh niên thiếu nữ đến khắp nơi trên toàn thế giới đã sống cao điểm sự mở ra để đón nhận và thinh lặng để lắng nghe. Những tham dự viên này thường khám phá cho mình những con đuờng dẫn về sự hiệp nhất giữa các nền văn hoá khác biệt và các truyền thống Kitô giáo. Điều này thật quý báu để giúp cho những người bạn trẻ này trưởng thành hơn trong việc  nhận ra và đồng thời đóng góp một nền tảng vững chắc cho những người đã được tạo dựng của niềm tin cậy và hoà bình trong một thế giới bị tổn thương bởi hận thù, chia rẽ và bạo lực. Khi đón nhận lời mời gọi này, Taizé không thành lập một phong trào của một cộng đoàn riêng lẻ, mà mỗi một cá nhân được mời gọi sau thời gian ở lại đó, họ mang về cuộc sống và hoàn cảnh riêng của mình, những kinh nghiệm về sự nhận thức mới mẻ mà họ vừa thâu thập được từ tuần lễ ở Taizé. Với kinh nghiệm tuyệt vời trong sâu thẳm của đời sống tâm linh vừa được khám phá và biến đổi, họ nối kết với những bè bạn chung quanh, để chính họ và những con người có hoàn cảnh và thao thức tương tự, cùng nhau dấn thân lên đường, lãnh trách nhiệm về cuộc sống, thực hiện điều tốt lành mà họ đã được mời gọi, nhất là chia sẻ cuộc sống với những người cùng khốn, để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.

GIỜ CẦU NGUYỆN TAIZÉ

Các bài đọc trong Tin Mừng, Thánh Vịnh, Kinh Lạy Cha, các bài hát nhẹ nhàng, tiết tấu chậm rãi, sự thinh lặng, lời cầu nguyện ngắn gọn được dùng đặc biệt trong giờ cầu nguyện của phong trào Taizé.  Đàn guitar được sử dụng rất thích hợp cho nhũng giờ cầu nguyện mang phong thái Taizé, thỉnh thoảng đàn Organ cũng được sử dụng. Thường các bản nhạc dành cho giờ cầu nguyện này được một người hay nhóm nhỏ xuớng lên và cả cộng đoàn lập lại rất nhiều lần, và nhỏ dần, chậm lại…cho đến khi lời hát đó được thấm sâu trong tâm hồn và tâm trí những người tham dự. Sau các bài hát này, thường dành cho những  khoảnh khắc im lặng rất sâu và rất dài đưa người tham dự vào sự hiệp thông trọn vẹn với Thánh Thể, Thiên Chúa Tình yêu…Ánh sáng nhẹ, dịu dàng, một vài nhánh lá hoa nhỏ, đơn sơ đưọc dùng để trang trí trong các buổi cầu nguyện này. Các ảnh tuợng icon, cộng với rất nhiều ánh nến lung linh được sử dụng nhiều nhất trong các giờ cầu nguyện Taizé. Điểm độc đáo và gây ấn tượng, cảm động nhiều hơn cả, có lẽ là vào cuối giờ cầu nguyện, những người tham dự được mời cầm lấy ngọn nến nhỏ của mình, tượng trưng cho những niềm vui, nỗi buồn, thử thách, hy vọng, đắng cay trong cuộc đời đưa lên cung thánh (hoặc bục chính), cùng ngồi ở đó chung quanh nhau, ở giữa là cây thánh giá lớn được sắp bằng những ngọn nến của những người tham dự trong thinh lặng với tâm tình cảm mến và thờ lạy.

Tại Việt nam cũng đã có một số linh mục, bạn trẻ được đến Taizé để tìm hiểu về những sinh hoạt của phong trào này. Trong những năm qua, giờ cầu nguyện mang tinh thần Taizé cũng được tổ chức tại Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sàigòn, đó là một cố gắng tốt đẹp để giới thiệu và đưa phong trào này vào Việt Nam. Tại hải ngoại, giờ cầu nguyện Taizé thường là một trong những sinh hoạt chính được đưa vào chương trình của các Đại Hội Giáo Lý tại Hoa Kỳ hoặc là một trong những sinh hoạt điển hình mang lại sức sống tâm linh cho cộng đoàn như tại giáo xứ Saint Patrick, San Jose, California.

 

 

GIÃ BIỆT VÀ TRI ÂN SƯ HUYNH ROGER

Thầy Roger nhận được nhiều giải thưởng trong công việc đóng góp cho nền Hòa Bình thế giới do các Viện đại học danh tiếng tại Âu Châu và Hoa Kỳ khen tặng. Năm 1988, tổ chức UNESCO cũng đã trao tặng Thầy giải thưởng về hoà bình và giáo dục.  Thầy cũng viết nhiều sách hướng dẫn cầu nguyện và tâm linh bằng tiếng Pháp và đã được dịch sang tiếng Anh, có hai quyển được viết chung với Mẹ Têrêxa Calcuta nhan đề: Maria, Mẹ của Sự Hoà Giải (1989), và Cầu Nguyện: Tìm Kiếm Trái Tim của Thiên Chúa. (1992).

Cách đây 8 năm, Sư Huynh Alois, 51 tuổi, một người Công Giáo Đức được chọn thay thế Sư huynh Roger để chăm sóc cộng đoàn Taizé khi sức khoẻ của Thầy Roger đã quá yếu. Trong thời gian gần đây, thầy Roger sử dụng ngồi xe lăn để di chuyển. Ngày thứ Ba, 16 tháng 8 năm 2005, đúng vào ngày chính thức khai mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, sư huynh Roger đã bị một kẻ dùng dao đâm vào cổ khi Thầy đang cùng 2,000 người đang cầu nguyện trong một thánh đường gần Macon thuộc nước Pháp. Kẻ sát nhân là một phụ nữ người Rumani, 36 tuổi. Bà đã bị bắt ngay tại hiện trường. Theo giới chức có thẩm quyền, bà là người không bình thường và bị bệnh tâm thần. Vì Thầy quá yếu và cao tuổi nên đã qua đời ngay tại nhà thờ, hưởng thọ 90 tuổi. Đức Hồng Y Joachim Meisner của Cologne cho biết: “Những người tham dự Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới sẽ đến Thầy trong tâm tình tri ân và thương nhớ.” Đức Giám Mục Franz Dietel giáo phận Munich phát biểu: “Cái chết của thầy Roger là một mất mát lớn lao cho phong trào đại kết.” Đức Ông Noel Treanor, Tổng Thư Ký Hội Đồng Giám Mục Âu Châu đưa ra bản tuyên cáo báo chí nói: “Chủ trương của vị sáng lập phong trào Taizé đã đi vào tim óc của nhiều người tại Âu Châu và thế giới, đặc biệt có âm hưởng lớn lao đối với giới trẻ.”

Cảm tạ Thiên Chúa đã ban tặng cho thế giới này sự hiện diện của Sư Huynh Roger Schutz, tưởng nhớ và tri ân Thầy đã mang lại cho giới trẻ và biết bao người tìm lại được giá trị của tình yêu, lòng tử tế khi chiêm ngắm trong thinh lặng về tình yêu của Thượng Đế qua thiên nhiên và tình người, tình nhân loại không phân biệt tôn giáo, mầu da, chính kiến thì họ lại tìm gặp lại chính mình tròn đầy và trọn vẹn hơn cả. Ngày hôm nay, giữa một thế giới đầy bạo lực và chia rẽ, thì tên gọi của Taizé được vang lên như sự hiện diện của bình an, hoà giải, hiệp thông và chờ đợi thiết tha của một mùa xuân trong Giáo Hội như chính lời phát biểu của Sư huynh Roger: “Khi Giáo Hội biết yên lặng lắng nghe, chữa lành và hoà giải, chính là lúc Giáo Hội tỏa rạng hơn bao giờ vì phản ánh tình yêu thương trong suốt nhất.”

            Trở về mục lục >>

 

NHẬN ĐỊNH – SUY TƯ 

PHÊ BÌNH TỪ BÊN TRONG

Linh mục Robert P. Maloney

Maranatha dịch

Hôm qua tôi vào Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô khi cổng vừa mở vào lúc 7 giờ sáng, theo dòng người đến bàn thờ Chân Phước Gioan XXIII. Mỗi ngày ở đây đều có một linh mục giảng lễ, ông cha này làm cái gì cũng vừa đúng lại vừa sai! Thế nhưng ông ấy lại không làm tôi thất vọng. Là người đã từng giảng dạy môn giảng thuyết, tôi đặc biệt thích phê phán những gì ông ấy làm. Hôm qua, trong bài giảng ngắn, ông ấy đã đề cập đến nhà họa sĩ điêu khắc gia lừng danh Michelangelo, triết gia Tây Ban Nha Miguel de Unamuno, tiên tri Môsê, tiên tri Aaron, Chúa Giêsu và cả thánh nữ Catarina Sienna nữa. Bài học mà tôi muốn nhồi nhét vào đầu các chủng sinh rằng mỗi bài giảng chỉ nên có một chủ đề thôi đã bị ông cha này quên tuốt mất.

Thế vậy mà tôi vẫn cứ tiếp tục đi lễ tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô để nghe vị linh mục này giảng mới lạ chứ, mặc dù ông ấy phá luật, nhưng ông ta làm gì cũng đúng hết. Như hôm nay đây, tôi thấy ông ta thành kính cúi đầu cầu nguyện trước khi giảng lễ. Lòng yêu mến Lời Chúa của vị linh mục này bộc lộ ngay khi vừa bắt đầu giảng. Nghe ông nói, tôi nhận thấy ngay là bài giảng được chuẩn bị kỹ càng, có suy niệm Thánh Kinh hẳn hòi. Mặc dù có thể hơi lan man, một số điểm cũng gây chú ý, và trọng tâm chủ điểm bài giảng đánh động tôi thật mạnh mẽ.

Bài đọc hôm nay trích từ chương 32 trong sách Xuất hành. Chuyện kể về ông Môsê, khi xuống núi thấy dân chúng đang thờ con bê vàng liền phản ứng giận dữ. “Xin ông bà anh chị em lưu ý,” vị giảng thuyết hùng hồn nói với nhóm tín hữu chung quanh bàn thờ, “xin chú ý sự khác biệt giữa Môsê và Aaron. Ông Aaron là người có can dự vào việc thờ ngẫu tượng này, lại đổ hết trách nhiệm lên dân chúng, rồi nói với ông Môsê: ‘Anh thấy dân này chiều theo sự xấu như thế nào. Họ nói với em, cho chúng tôi một ông thần để lãnh đạo, chứ còn ông Môsê, mặc dù đã dẫn chúng tôi ra khỏi Ai Cập, nhưng không biết ông ta gặp chuyện gì rồi.’ Về phần ông Môsê, dù tức giận lắm, nhưng không đổ lỗi cho người khác, trái lại đã đồng hoá mình với những người chung quanh và thưa cùng Chúa: “Xin Chúa tha thứ lỗi lầm của họ, còn nếu Ngài không tha, thì xin gạt tên con ra khỏi danh sách của Ngài.”

Vị giảng thuyết đã hỏi đám đông, “Có phải chúng ta ai cũng giống như Aaron? Chúng ta sẵn sàng chê trách đổ lỗi cho người khác: cha mẹ, thầy cô, và cả đến Giáo Hội. Nhưng Môsê thì khác, ông ấy biết mình cùng đi với dân chúng về đất hứa. Môsê ý thức rằng ông ta cũng là thành phần của dân chúng.”

Linh mục này có thói quen là thường dành một cái gì bất ngờ vào cuối cuộc lễ. Lúc mà cậu bé giúp lễ còn ngái ngủ dẫn cha xuống khỏi bàn thờ, thì bất chợt ông ấy đứng lại giữa đàn chiên nhỏ bé, giơ tay cao và nói: “Nhà thơ người La Mã mang tên Trilussa rất thường phê phán Giáo Hội. Ông ta cũng có sự hiểu biết tinh tế về bản chất con người. Tối hôm qua tôi mới đọc một bài thơ của ông ấy mang tựa đề là “Tội Nguyên Tổ.” Thế rồi ông cha này đứng lại ngay chỗ ấy, đọc thuộc lòng bài thơ bằng tiếng La-tinh mà tác giả Trilussa đã viết. Dịch tạm như sau:

Chúa hỏi Adam: - Ai ăn trái táo?

-Thưa Chúa, con ăn. Adam trả lời. - Nhưng con không tự lấy - mà cô ấy đưa cho con.

-Cô ấy là ai? Có phải E-và không?

- Dạ thưa đúng vậy. Không cô ấy thì còn ai vào đây. Nếu không con đã chẳng nói 

Thật xấu hổ thay cho đấng mày râu đầu tiên của quả địa cầu…

Cả ngày tôi cứ suy nghĩ miên man về bài giảng này. Bộ tôi không phản ứng với Giáo Hội giống như Aaron đã làm sao? Những phê bình của tôi thường có giọng điệu của người bên ngoài hơn là bên trong Giáo Hội? Tôi nhớ lại một trường hợp cách đây vài năm, khi đi du lịch nước Anh, tôi có đi xem một phim mang tên “Truyền Giáo.” Tối đó, khi về nhà, có một vị khách ở bàn ăn. Tôi kể chuyện mới đi xem phim “Truyền Giáo” về, vị này hỏi tôi nghĩ thế nào về bộ phim.  Tôi trả lời rằng tôi rất thích phim này, nhưng cảm thấy hình ảnh Giáo Hội bị mô tả tệ quá. Vị khách trả lời tôi, “Vậy sao? Thế mà tôi lại nghĩ hình ảnh Giáo Hội trong phim khá độc đáo đấy chứ! Chắc là tùy theo cách chúng ta nhìn “Giáo Hội” thôi.  Có lẽ cha đề cập đến những vấn đề của hàng giáo phẩm, các viên chức giáo triều trong phim thời bấy giờ chứ gì, còn tôi lại nhìn thấy hình ảnh các linh mục truyền giáo Dòng Tên, các thổ dân người Paraguay, theo tôi thì họ mới chính là hình ảnh thật nổi bật đặc biệt trong phim đấy.” Tôi đã được dạy một bài học, nhưng đó thật là một bài học bổ ích. Giáo Hội là chúng ta, là tất cả chúng ta!

Suy nghĩ về việc phê bình, đặc biệt phê bình Giáo Hội, tôi nhận thấy có ba khuynh hướng:

Loại thứ nhất, giống như những chàng lính canh, cảnh giác với mọi lời phê bình. Họ bảo vệ cả những điều không thể bảo vệ nổi. Trong những trường hợp quá tệ hại, thì họ biến thành những pho tượng giống như sư tử, giữ thinh lặng với cặp mắt buồn bã. Tôi đã sống nhiều năm với một vị rất thông minh nhưng không thể thảo luận chi với vị này, nếu có bất cứ điều gì liên quan đến việc phê phán các đấng bậc. Dần dần tôi nhận ra rằng vị ấy cần sự cảnh giác và đề phòng cao độ mới có thể sống bình an. Nhưng tôi cũng nhận ra rằng vì đề phòng như thế, con người thông minh này đã xa lánh các bạn đồng nghiệp đến nỗi ai muốn làm bạn thân thiết với vị này cũng khá khó khăn.

Khuynh hướng thứ hai giống như Aaron. Đó là một cái bẫy mà nhiều người, trong đó có tôi thường rơi vào. Thật dễ dàng lên án, đổ tội cho “các giám mục” hay “giáo triều Roma” khi gặp những quyết định mà chúng ta không thích. Của đáng tội, chẳng dễ mà đề đạt tiếng nói phê bình hợp lý nhằm đóng góp xây dựng cho những ai đã đưa ra những quyết định như thế. Và cũng chẳng dễ để tìm ra những giải pháp hữu hiệu trong việc đối thoại với những người đưa ra những quyết định, hoặc ít nhất là làm hết khả năng để tìm những giải pháp khả thi. Đổ lỗi cho người khác thì dễ dàng hơn nhiều. Nhưng việc đổ lỗi, cho dù có làm thanh sạch, thường ít mang lại điều gì mới. Phê bình đổ lỗi có thể tìm ra người chịu trách nhiệm trong những chuyện đã xảy ra, nhưng thường nó không giúp mở ra một tương lai mới hoặc tốt đẹp hơn. Người theo Aaron thường dễ dàng đổ trách nhiệm cho ai khác, nhưng lại ít khi nhận trách nhiệm của chính mình.

Chính nhóm thứ ba này là điều mà những người theo Môsê cố gắng làm. Không giống như nhóm thứ nhất, họ không sợ gióng lên tiếng nói để phê bình; nhưng cũng không giống nhóm thứ hai, họ làm thế với tư cách là một thành viên hoàn toàn thuộc về Giáo Hội. Điều đã đánh động tôi hàng nhiều năm trời là việc nhiều nhà thần học danh tiếng của thế kỷ XX, như Karl Rahner, Henri de Lubac và Yves Congar, đã lên tiếng công khai phàn nàn về “Giáo Hội mến yêu.” Họ đã viết như những người từ ở bên trong chứ không phải bên ngoài. Ngày hôm nay cũng thế, trong cơn khủng hoảng của Giáo Hội Hoa Kỳ, nhiều tiếng nói phê phán xuất phát từ các tín hữu Công giáo vì lòng yêu mến Giáo Hội, và ước mong Giáo Hội được phát triển, vượt qua những khủng hoảng bi thảm hiện nay để thay đổi cơ cấu đã tạo ra những điều tệ hại trên.

Thực ra, phải can đảm lắm mới dám nói, dám viết và kiên trì trình bày sự thật với tình yêu thương. Nhưng cũng như thánh Phaolô khi công khai chê trách Thánh Phêrô, “Tôi đã cự lại ông ngay trước mặt.” (Gl 2:11), Giáo Hội đã có, và luôn cần có những người trung thành, yêu mến Giáo Hội lên tiếng phê bình.

Một trong những người phê bình dữ dội nhất trong lịch sử là một giáo dân mang tên Catherine Benincasa, người mà linh mục trong bài giảng gọi là thánh Catherine thành Sienna. Bà thánh này đã hết sức can đảm, thúc giục và cuối cùng thuyết phục được Giáo hoàng Gregory XI bỏ Avignon mà về Rôma. Bà đã viết như sau: “Phải trưởng thành lên, đừng như một đứa bé chết khiếp.” Xin lưu ý là lúc viết thư cho Đức Giáo Hoàng, bà đã nổi tiếng thánh thiện rồi. Thánh nữ cũng cố vấn cho vị kế nhiệm Đức Gregory là Đức Urbano VI, nói thẳng rằng Đức Thánh Cha phải kiềm chế cơn nóng giận. Các lá thư của bà viết cho các hồng y ủng hộ một ngụy Giáo Hoàng lại còn thẳng thừng ghê gớm hơn. Thậm chí trong ngôn ngữ thời nay cũng còn nghe chói tai: “Cái gì làm cho các ông hành xử như thế? Các ông giống như hoa không hương, chỉ tỏa mùi xú uế làm ô nhiễm cả địa cầu.” Vào năm 1995, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã ca tụng thánh nữ là “sống động nhiệt tình” và “tự do đầy sáng kiến.”

Nguyên nhân của các vấn đề hiện nay có lẽ một phần vì không có cơ hội để phát biểu, đặc biệt cho giới giáo dân. Chẳng mấy ai được gặp Đức Giáo Hoàng, hoặc hồng y, thậm chí ngay cả giám mục giáo phận. Các cha sở thì có người chịu nghe, nhưng không phải mọi cha đều như nhau. Mà viết cho hàng giáo phẩm thì thường các lá thư như thế đều bị kiểm duyệt trước, rồi được chọn lọc gửi đến những người chẳng có mấy thẩm quyền để nói lên được điều gì khác những điều đã từng nói trước đây. Các thần học gia thì trình bày những vấn đề gay go bằng cách xuất bản các bài viết, nhưng số lượng tác giả và uy tín của những người bị Thánh Bộ Đức Tin gọi lên trong những thập niên gần đây đã làm nản chí việc suy tư thần học mang tính phê phán công khai.

Vậy thì thử hỏi có cách nào để những người phê bình từ bên trong có cơ hội để được lắng nghe không? Nếu có nhiều hội nghị kiểu “Công Đồng” của giáo phận thì có tạo được cơ hội cho nam nữ giáo dân phát biểu ý kiến của họ? Liệu nhiều “Công Đồng” của các giám mục có tạo cơ hội cho các đấng bậc trong Giáo Hội và các đại biểu khác của Giáo Hội lên tiếng? Thử nghĩ xem có nên mở rộng việc tham khảo hơn, bao gồm cả giáo dân trước khi chọn lựa các giám mục? Có nên mời các thành phần nam nữ giáo dân làm việc trong các Thánh Bộ của giáo triều Rôma, kể cả những người làm cố vấn cho Đức Giáo Hoàng không nhỉ? Có thể nào tìm ra những phương cách mới mẻ hơn, để lấy được ý kiến của giáo dân, xem họ nghĩ gì về những vấn đề quan trọng của Giáo Hội không? Tôi thấy rằng trong trường hợp khá đau lòng hiện nay, điều tối cần là tìm ra những phương thức để có sự tham gia đầy đủ của mọi thành phần.

Những người cầm quyền thường muốn chung quanh họ chỉ có những người suy nghĩ đồng tình với mình. Điều này sẽ trở nên nguy hiểm nếu những tiếng nói đề đạt lên trên toàn là những điều họ muốn nghe và kết án những người phê bình là “bất trung.” Thực ra, trái với suy nghĩ thông thường, những người phê phán thường là những người trung thành nhất với Giáo Hội. Họ cũng giống như triết gia Socrates, lên tiếng với bồi thẩm đoàn trong phiên xử ông ta: “Tôi là thứ ruồi trâu mà Thiên Chúa đã ban cho đất nước, để suốt ngày đêm, mọi nơi mọi lúc luôn bám vào quý vị, khiêu khích, thuyết phục, và phê phán quý vị. Và cũng vì chẳng dễ mà tìm được người  khác như tôi, nên xin quý vị tha mạng cho. Tôi biết rằng quý vị có thể thấy bực mình vì bất thần bị đánh thức, đang khi quý vị mơ màng ngủ quên, hoặc quý vị có thể nghĩ rằng nếu mà mình đánh nó chết…thì có lẽ suốt đời sẽ được ăn ngon ngủ yên, chỉ trừ khi Thiên Chúa quan phòng, vì thương quý vị mà ban cho một con ruồi trâu khác.”

Thật là hồng phúc nếu trong Giáo Hội luôn có những tiếng nói như thế

Linh mục Robert P. Maloney, thuộc dòng Truyền Giáo, từng là Bề Trên Tổng Quyền Nhà Dòng tại Rôma. Bài viết này được xuất bản vào tháng 10 năm 2004.

Trở về mục lục >>

 

 

 TÂM TÌNH CÙNG BẠN ĐỌC

 

Trong tuần qua, MARANATHA đã nhận được điện thư xin nhận báo, đổi địa chỉ e-mail, giới thiệu thân hữu nhận báo, gửi bài vở và ý kiến đóng góp của:

Lm. Vũ Xuân Hạnh, Phạm Hùng Sơn – CVK, Nguyễn Hữu Dõng - CS Gioan Tẩy Giả, Maria Thuỷ Nhiên Trần, Phêrô Văn Hưởng, Cát Tường, Đỗ Trân Duy, Khổng Nhuận, Xuân Thái, Jer. Nguyễn Văn Nội, Peter Hoàng Trịnh, Phan Hữu Gia, Đỗ Đức Thạnh, Antôn Nguyễn Ngọc Triêm, Gia Đình NVHB-TTCG, Mary Tuyết, Ánh Hồng, Phó Tế Giuse Nguyễn Phẩm, Xuân Thái, Mac Linh SSS, …

Chân thành cám ơn Quý Vị đã đón nhận, đóng góp bài vở, ý kiến xây dựng và những khích lệ của Quý cộng tác viên và độc giả dành cho Maranatha.  Nguyện xin Chúa chúc lành cho Quý Vị. 

                        Trân trọng,  MARANATHA

THƯ BẠN ĐỌC

 

Xin chia sẻ một vài tâm tình đã nhận được từ cộng tác viên và độc giả gửi về MARANATHA trong tuần qua để hiệp thông cầu nguyện cho nhau:

v     Congratulation!! Maranatha has just made a very nice Website. Khổng Nhuận

LTS: Xin cám ơn Anh đã có lời chúc mừng. Mong tiếp tục nhận bài của anh. MARANATHA

v     Xin các anh gửi Maranatha cho địa chỉ của một nguời bạn …Xin cám ơn. Jer Nguyễn Văn Nội

Cám ơn ông đã giới thiệu độc giả mới. Tên và địa chỉ này đã  được ghi vào danh sách gửi báo hàng tuần.

v     Cám ơn về việc gửi báo đến cho tôi cách đều đặng từ số 30 đến nay số 55 rất tốt. Nay đọc trong Maranatha 55 bài St. BLOG của Vũ Thanh có giới thiệu nhiều trang Web rất hay, để đọc những thông tin Công giáo bằng tiếng Việt, và một số cá nhân, giáo xứ, phong trào, đoàn thể cũng có trang “độc đáo” riêng của mình; rất quý hoá. Nhân tiện, xin đề nghị hân hạnh giới thiệu đến quý vị thêm trang www.binhcang.com, theo tôi cũng khá hay hay với nhiều điều bổ ích cho việc tìm hiểu và sống đạo. Đặc biệt nhất là chúng ta cùng nhau Lần Hạt Mân Côi Trên Mạng Lưới Toàn Cầu, vào tháng Mân Côi sắp tới. Và cảm ơn đã giới thiệu tôi vào trang nhà của Maranatha rất hay, nhưng chỉ đọc được từ số 22 ngày 02-10-2004 đến nay số 55 khá tuyệt diệu, đẹp đẽ và rất tiện sưu tầm. Xin cảm ơn Ban Biên Tập Maranatha. Nguyện xin Thiên Chúa và Thánh Mẫu Lavang chúc lành và ban muôn vàn ơn lành xuống cho Quí Vị được vạn sự như ý. Mến chúc, Độc giả, Phan Hữu Gia, Na-Uy.

Chân thành cám ơn vì đã có lời khen khích lệ về Trang Nhà, cũng để khích lệ các bạn trẻ đang âm thầm phục vụ cho mục vụ truyền thông ích lợi này, các số báo 1-21 sẽ được đưa lên một ngày gần đây. Cám  ơn bạn vì đã giới  thiệu website mới. Nguyện xin Chúa chúc lành.

v     Xin cám ơn đã gởi Báo MARANATHA. Nhiều bài giá trị. Hoan hô! .Xin vui lòng giải thích chữ Maranatha. Nghĩa và nguyên gốc của nó là gì ? Xin cám ơn trước. Đỗ Đức Thạnh  

LTS: Xin vui lòng vào website: www.maranatha-vietnam.net. Ở trang nhà có giải thích về chữ Maranatha. Nói một cách ngắn gọn: Maranatha là một tiếng Aram có nghĩa là: Lạy Chúa, Xin Ngự Đến! "Thánh Phaolô đã kết thúc bức thư thứ nhất gửi Giáo Đoàn Corintô bằng lời cầu nguyện: MARANATHA (1Cr 16, 22), nghĩa là Lạy Chúa, xin ngự đến! Và đấy cũng là lời cầu nguyện mà thánh Gioan dùng để kết thúc sách Khải Huyền (Kh 22,20).  Lời cầu MARANATHA trở thành lời cầu tha thiết nhất trong phụng vụ của các cộng đoàn Kitô Hữu tiên khởi. " Xin chúc bình an. MARANATHA

v     Kính thưa quý báo, Con thật được hạnh phúc khi được một ân nhân thương gửi báo Maranatha cho con hàng tuần. Nên con có điều kiện được tiếp xúc với báo khá lâu rồi. Hôm nay, nhân dịp Maranatha ra một trang Web và địa chỉ liên lạc nhận báp qua email đó lại là một điều kiện để chúng con là những Sinh viên đang theo học tại Huế có điều kiện hơn để tiếp xúc với báo. Có thể được thì xin quý báo có thể gửi về cho anh em SV Huế chúng con các bài báo để chúng con có thêm những tin tức về giáo hội cũng như các tư liệu học tập. Nguyện xin Mẹ Lavang cầu bầu cùng chúc quý báo ngày phục vụ tốt hơn và làm sáng danh Chúa hơn mỗi ngày. Antôn Nguyễn Ngọc Triêm.

Rất hân hạnh gửi báo đến Nhóm Sinh Viên Công Giáo Huế để phục vụ nhu cầu học hỏi và tâm linh của các bạn. Nguyện xin Chúa chúc lành cho việc học tập của các bạn thật tốt. MARANATHA.

v     Con xin chân thành cám ơn ban biên tập đã gửi báo cho con đều đặn, con chẳng biết nói gì hơn chỉ biết cầu xin Chúa chúc lành cho công việc phục vụ của quý vị để mọi người thêm lòng kính Chúa yêu mến anh em mình hơn. Xin trân trọng cám ơn.  Peter Hoàng Trịnh.

Cám ơn vì tấm chân tình của bạn và giới thiệu độc giả mới, tên và địa chỉ này đã được ghi vào danh sách gửi báo hàng tuần.

v     Cám ơn Quý Báo đã tiếp tục gởi báo cho chúng tôi. Chúng tôi đã cho MARANATHA on line rồi. Mời quý báo vào coi lại. http://nuvuonghoabinh.org/diendan/cutecast.pl?forum=7&thread=329. Trân trọng, Gia Đình NVHB-TTCG.

 Cám ơn rất nhiều về thịnh tình của Quý Vị dành cho. Xin cầu cho nhau và chúc trang nhà luôn mãi là công cụ của tình thương và rao truyền tình yêu Thánh Tâm Chúa.

v     Lần đầu tiên Mary Tuyết nhận được tài liệu của Tuần Báo MARANATHA, Mary Tuyết  xin chân thành cám ơn. Nguyện xin Chúa luôn chúc lành và ban ơn trợ lực cho Quý Vị vì qua Qúy Vị mà TUẦN BÁO đã được sinh ra và lớn lên…Cùng hiệp thông cầu nguyện để TUẦN BÁO mãi là một trong những lương thực tinh thần quí hoá cho những ai khao khát tìm về Chân - Thiện - Mỹ. Trong Đức Kitô. Mary Tuyết.

Cám ơn chị đã đón nhận MARANATHA. Mọi sự đều là hồng ân, tuần báo hiện diện đến ngày hôm nay là nhờ hồng ân Chúa và tình thương của độc giả, cộng tác viên.

v     Rất cám ơn quí vị đã gởi các số báo và tôi đã nhận được đầy đủ. Nhân tiện với tư cách "giáo dân" xin thân thưa với quí báo: Chúng tôi muốn chia sẻ, cùng muốn "xây dựng" để tương lai Giáo Hội sẽ có nhiều vị chủ chiên sẽ nên "chốn tựa nương" cho con cháu...Xin chia sẻ một ưu tư:

1) Về Giáo Hội bên Mỹ: Đành rằng  tôi thấy việc kiện cáo "lạm dụng tình..." nên làm để " giải phẫu "ung nhọt"..Nhưng với tư cách giáo dân tôi không hiểu ..sao giáo dân bên đó lại nhận tiền bồi thường ..vì kiện để "sửa sai"..chứ tài chánh là của chung đóng góp..để xây dựng sinh lợi cho cộng đoàn thì hay hơn ..vả lại..những "..vết thương " hoặc.."dị chứng" có thể chữa bằng đôla chăng?

3) Tương lai xin quí báo có những "bài" để anh em lấy lại nguồn "an ủi" từ Chúa..vẫn "sống chung".."Sống với" Giáo Hội…

Xin coi như đây là ý kiến cá nhân. Kính xin Chúa luôn ban ơn lành cho tất cả chúng ta. Văn Hưởng.

Xin đón nhận những ý kiến và thao thức của ông.  Nguyện xin Chúa chúc lành 

v     Xin quý báo vui lòng gửi Maranatha đến địa chỉ sau.. Chân thành cám ơn quí báo rất nhiều. Nguyện xin THIÊN CHÚA BA NGÔI – VUA TÌNH YÊU và MẸ MARIA RẤT TUYỆT VỜI nâng đỡ và đồng hành với quí báo mãi mãi nhé. Trân trọng kính chào quí báo. Nhiên Trần.

Cám ơn bạn đã liên tục giới thiệu độc giả mới. Cầu chúc trái tim mãi tươi hồng tin yêu..

v     Con chân thành ghi ơn quý Báo đã dùng phương tiện này để nuôi dưỡng đời sống Đức Tin của anh chị em. Xin gởi cho con báo hàng tuần theo địa chỉ…Chân thành, Phó Tế Giuse Nguyễn Phẩm.

Cám ơn Thầy ghi danh nhận báo. Mong đón nhận những ý kiến đóng góp hoặc bài vở về ơn gọi phó tế.

v     Kính gởi các Anh Chị trong Ban Biên Tập Maranatha. Xin cám ơn các anh chị rất nhiều… Tôi không phải là Linh mục. Năm nay 63 tuổi, hiện đang phụ trách biên tập Nguyệt san Lửa Mến của Gia đình Phạt Tạ Thánh Tâm…Rất vui vì được cộng tác với Maranatha. Xin cầu nguyện cho tôi. Nguyện chúc những thiện chí và lòng nhiệt thành của Maranatha sẽ nhận được nhiều ơn lành từ Trời cao. Rất trân trọng. Xuân Thái.

Rất vui và cám ơn khi nhận được bài do Ông đóng góp, mong tiếp tục nhận được bài mới. Xin Chúa chúc lành cho công việc Ngài trao để Lửa Mến luôn lan tràn..

v     Xin chào ban điều hành báo Maranatha. Tôi thấy báo có thể giúp rất nhiều cho những ai cần có tài liệu để sống niềm tin. …vậy xin ban điều hành gởi báovề địa chỉ:….Mac Linh SSS.

Xin cám ơn đã giới thiệu độc giả và có lời khích lệ…Nguyện chúc bình an.

Trở về mục lục >>


[1] Tin Mừng Mt 5:13; Hiến chế Mục Vụ về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay "Gaudium et Spes", 40.

 

     

Trang Nhà (website)  http://www.maranatha-vietnam.net

Thư từ, ý kiến, xin gửi về  maranatha@saintly.com

Bài vở đóng góp cho MARANATHA, xin Quý Vị gửi về

maranatha.vietnam@gmail.com.

Chân thành cám ơn