NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA THINH LẶNG

(tiếp theo Maranatha_54)

Michel Hubaut - Maranatha dịch

 

27 - ĐIỀU ĐÁNG PHẢN KHÁNG TRONG SỰ THINH LẶNG CỦA THIÊN CHÚA.

Nếu Thiên Chúa là Lời, thì Người cũng là Thinh Lặng! Không phải cái thinh lặng mà ta đã nói trước đây, cái thinh lặng bao quanh và chuẩn bị cho Lời, nhưng cái thinh lặng có vẻ rất giống như một sự vắng mặt! Cái ‘điều đáng phản kháng’ (scandale) trong sự thinh lặng của Thiên Chúa đã là một trong những ray rứt của dân Giao Ước trong quá trình lịch sử đầy sóng gió của mình. Một sự thinh lặng không thể nào hiểu được, khiến cho tác giả thánh vịnh thường thốt lên một lời than thở lo lắng khi phải đối diện với sự vênh váo trịch thượng của kẻ dữ.

Lạy Thiên Chúa, xin đừng làm thinh,

Xin đừng nín lặng ngồi yên, lạy Thiên Chúa. (Tv 83,2)

Lạy Thiên Chúa là Đấng con ca ngợi,

Xin Chúa đừng lặng thinh.

Bởi vì kẻ gian ngoa độc dữ mở miệng nhằm hại con,

Nói với con toàn lời dối trá. (Tv 109 1-2)

Ngay cả các ngôn sứ đôi khi cũng chua chát phản kháng, thấy kẻ nghèo bị bóc lột, người vô tội luôn bị khinh chê, còn Thiên Chúa thì im lặng. Họ thét lên với Chúa: “Cho đến bao giờ, Lạy Chúa, con kêu cứu mà Người chẳng đoái nghe?... Sao Người lặng thinh khi kẻ dữ nuốt chửng người chính trực?” (Kb 1, 2.12)

Còn thảm kịch của Giốp thì đã trở thành biểu tượng nổi danh cho người công chính vô tội, khi họ kêu cầu trước sự thinh lặng của Thiên Chúa

Con kêu lên Người, nhưng Người không đáp,

Con trình diện Nguời, nhưng Người chẳng lưu tâm. (G 30,20)

Ta hãy nhớ lại rằng dân Kinh Thánh, sau cuộc tàn phá Giêrusalem, vào thời Lưu Đày, đã từng thấy thế giới tôn giáo của mình sụp đổ, Đất Hứa đã bị quân xâm lăng dẫm nát, hậu duệ của dân thiên sai lại bị lưu đày, Đền Thờ điêu tàn... Đấy là một cú sốc khủng khiếp đối với đức tin khiến họ phải đặt lên câu hỏi ray rứt: Thiên Chúa ở đâu? Lại một nhu cầu cấp bách phải tẩy rửa khái niệm của họ về Thiên Chúa, phải đào sâu nội dung của lời hứa và ý nghĩa của ơn gọi!

Những Thánh Vịnh mệnh danh là ‘của người nghèo của Thiên Chúa’, được viết sau cuộc lưu đày khủng khiếp ấy, nói lên sự thinh lặng đáng sợ của Thiên Chúa:

Vì sao Người không đáp lại con, ôi lạy Chúa! (Tv 12)

Lạy Thiên Chúa, xin đừng câm miệng lặng thinh! (Tv 76)

Cho đến bao giờ, lạy Chúa, Người sẽ ẩn dấu tôn nhan Người? (Tv 82)

Xin trỗi đậy, vì sao Người vẫn ngủ, xin thức giấc! (Tv 87)

Làm sao có thể chấp nhận được điều đáng phản kháng là Thiên Chúa im lặng? Làm sao chúng ta có thể thoát khỏi chiều kích vượt qua của sự cô đơn mà chính Đức Giêsu đã đón nhận? Như thế, sự cô đơn của chúng ta đôi khi là thờ gian huyền bí để cày gieo, thời gian mà Thần Khí kiên nhẫn xây dựng con người vĩnh cửu của chúng ta. Cái thinh lặng khi cưu mang. Cái thinh lặng của con người mới sẽ được sinh ra trong đất mới! Cái thinh lặng của ngày thứ bảy Tuần Thánh trong khi chờ đợi Phục Sinh! Cái thinh lặng để khước từ những của cải nghèo nàn, những kế hoạch phù phiếm của mình hầu đón nhận những sự phong phú không hề hư nát của Thiên Chúa.

Sự thinh lặng của con người cũ chết đi và của đứa con của Thiên Chúa tái sinh. Sự thinh lặng hạt lúa mì chôn vùi dưới đất trước khi trở thành một bông lúa mới. Sự thinh lặng của cái kén chuẩn bị cho con bướm vổ cánh mà bay. Sự thinh lặng của lột xác, của vượt qua. Vì không bao giờ có sự sống nếu không có sự tăng trưởng, và không thể tăng trưởng nếu thiếu sự biến đổi, và không có biến đổi nếu không thông qua cái chết. Sự thinh lặng mãi mãi là một huyền nhiệm về cái chết cũng như về sự tái sinh.

Đấy là sự thinh lặng, không chỉ để chiến đấu chống lại sức mạnh sự dữ, nhưng còn là để thanh luyện, đào sâu mầu nhiệm về Thiên Chúa và về con người. Vâng, đôi khi Thiên Chúa có vẻ thinh lặng! Nhưng sự thinh lặng ấy chẳng phải là một cách tôn trọng tự do của con người sao? Một cách mời gọi họ đào sâu khát mong của mình, mở rộng chân trời của mình sao? Nếu đôi khi Tình Yêu im tiếng, thì im lặng chẳng phải là một lời mặc khải sao?

Dù Thiên Chúa thiết tha mong muốn yêu thương, gặp gỡ tôi, ban ơn cho tôi, thì Người cũng không muốn có một sự ngộ nhận giữa bản chất sâu xa của tôi, giữa thực tại của tôi với điều mà Người dành cho tôi. Khi sự thinh lặng của chúng ta có vẻ trống rỗng, khi Thiên Chúa có vẻ trở nên một thực tại mơ hồ và ngôn ngữ mà chúng ta dùng để tiếp cận Người có vẻ như những lời ngây ngô trống rỗng, có lẽ đấy là lúc mà Đấng Tạo Dựng mời gọi chúng ta mở lòng ra để đón nhận một giai đoạn mới trong quá trình tăng trưởng thiêng liêng của mình.

Một cuộc vượt qua khó khăn; qua đó ta phải học cách giữ thinh lặng vì Thiên Chúa mà thôi! Lúc này, chước cám dỗ sẽ là xem các giai đoạn trước đó chỉ là ảo tưởng hoặc tự kỷ ám thị. Thế nhưng, qua sự cô đơn ‘sa mạc’ này, Thần Khí hướng dẫn chúng ta đến giai đoạn tiếp theo, đến một thái độ chân chính hơn đối với Thiên Chúa.

Đây là một sự thinh lặng đáng sợ, nhưng nó thanh tẩy chúng ta khỏi cái nhu cầu tha thiết của mình đó là ‘chiếm hữu’, là thu thập ‘các kinh nghiệm tâm linh’.

Thế nhưng ta không thể nào tích trử ‘ân sủng’ cũng như không thể tích trử manna trong sa mạc. Chúng ta phải tìm ra tình chất ‘cho không’ của tình yêu Thiên Chúa, của Giao Ước và của những ân huệ không lường trước được. Thời gian sa mạc! Đêm đen khó thở! Đấy là thời gian khô cằn cần thiết để ta cắm rễ vào đức khiêm nhường và vào việc phó thác trong đức tin. Đêm đen của cõi lòng và trí khôn, lúc mà con người bắt đầu nghi ngờ mọi sự: nghi ngờ chính mình, nghi ngờ loài người và nghi ngờ cả Thiên Chúa. Sự thinh lặng đáng sợ. Đêm tối của đức tin.

Những giai đoạn bi tráng này của dân Chúa - như ta thấy trong các văn bản viết sau lưu đày - đều dẫn đến kết quả là đức tin được nội tâm hóa sâu xa hơn.

Nhưng đối với một vài người, cái cảm giác độc thoại cô đơn ấy đôi khi trở thành một cuộc chiến bi thảm đẫn đến việc đánh mất đức tin. André Gide, chẳng hạn, kể lại cuộc chiến nội tâm mà ông đã kinh qua trong thời gian niên thiếu và đã làm cho ông rơi hẳn vào thái độ vô thần:

“Ôi Đấng Hằng Hữu, ôi Thiên Chúa của con! Ôi con mong được biết Người! Con quỳ gối lâu giờ, và hình hài lo lắng trong khi tâm hồn tìm kiếm những lời cầu nguyện mới, và đôi khi tâm hồn đâm ra sợ hãi trước lời độc thoại trường kỳ của mình. Ôi! Khi ta không nghe một lời nào đáp lại, mà vẫn tin, vẫn còn đức tin mà không có gì trấn an mình; chờ đợi, nguyện cầu và biết rằng niềm hy vọng ấy đang đánh lừa mình; và rồi tiếp tục cầu nguyện, bằng mọi giá, bởi vì có lẽ...” (Les cahiers d’André Walter, trang 144-145),

François Mauriac chép lại trong một tiểu thuyết của ông, câu trả lời thống thiết mà cha xứ Baluzac, một người đã rơi vào đêm đen của vô tín, đã nói với Xavier, một chủng sinh trẻ, khi anh nhận xét rằng ngài hẳn không thể nào yêu thương trọn đời một tư tưởng hay một huyền thoại:

“Vâng, ta có thể yêu thương một người đã chết cách đây 2000 năm, đúng vậy. Cha là bằng chứng đây, cha và nhiều người khác. Người ấy đã đánh lừa cha biết bao! Người ấy đánh lừa chúng ta từ thế kỷ này đến thế kỷ khác! - Ngài tiếp tục bằng một giọng run rẩy - Cha đã cầu nguyện thật nhiều, van xin thật nhiều! Vào tuổi con, người ta thốt lên những câu hỏi và những câu trả lời, rồi nghĩ rằng chính Thiên Chúa nói. Người ta không biết rằng chẳng có ai cả!” (L’Agneau, tr 208)

Những tiếng thét phản kháng ấy, xưa kia cũng như ngày nay, đối với sự thinh lặng của Thiên Chúa chẳng phải là tiếng thét của chúng ta một ngày nào đó sao? Khi bất hạnh giáng xuống, khi thất bại sau bao cố gắng, khi thử thách dày xéo chúng ta, khi bệnh hoạn, khổ đau hay cái chết xuất hiện trong ta hay quanh ta... câu hỏi nhói tim bùng dậy trong lòng ta: Thiên Chúa ở đâu trong bao nhiêu biến cố ấy?

Ta không thể lên án cái khát vọng con người là muốn được nhìn thấy Thiên Chúa ra tay can thiệp khi mọi sự đều chao đảo. Nhưng cũng phải nhận ra chước cám dỗ muôn đời của con người là tạc ra cho mình một thiên chúa ‘hữu dụng’, vừa tầm với mơ ước, nỗi sợ của mình, và thiên chúa đó ‘phục vụ’ cho những nhu cầu trước mắt của chúng ta. Đấy là các thần linh được đựng lên trong thời cổ đại. Và chẳng phải là lúc nào cũng có một tên ngoại đạo đang thiếp ngủ trong mỗi người chúng ta sao?

Nếu cái vỏ thinh lặng của Thiên Chúa làm chúng ta đau, thì nó cũng có thể trở nên cơ hội để ta đặt lên một câu hỏi đúng đắn và lành mạnh: “Tôi tin vào vị Thiên Chúa nào?”. Đây là một câu hỏi mà không nên quá nhanh nhẩu giải đáp bằng một lối mòn duy tri thức hay một câu trả lời duy đạo đức. Vả lại vị Thiên Chúa mà người ta tưởng tượng ra để phục vụ cho các điều mình yêu thích, cho các thành công của mình, trong bối cảnh văn hóa xã hội hiện nay, vị Thiên Chúa ấy khó lòng chống trả nổi với những cuộc phản kháng. Và trước cái chết của vị thiên chúa ‘hữu dụng’, chỉ có thể có hai thái độ mà thôi: hoặc là thái độ dửng dưng của chủ nghĩa vô thần hoặc là thái độ khiêm nhường đón nhận một Thiên Chúa không khớp với mong muốn của chúng ta.

Sự nghi ngờ có thể trở nên con đường dẫn đến một đức tin thuần khiết, một đức tin luôn tìm kiếm Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Đấng nhập thể trong hình hài khiêm nhường của một trẻ thơ, rồi chết đi trên thập giá, dù không hề có một tội lỗi nào.

Vị Thiên Chúa ấy quả thật không phải, tuyệt đối không phải, đơn thuần là hình ảnh phóng chiếu của các nhu cầu con người hầu che đi những lo sợ hiện sinh của mình. Chúng ta không thể nào bịa ra được một Thiên Chúa như thế! Người chẳng hề khớp với những nhu cầu tự nhiên của một con người đi tìm sự bù trừ trong tôn giáo. Thiên Chúa đã xóa hào quang thần thánh của mọi thiên chúa giả trong ‘tôn giáo tự nhiên’. Trước vị Thiên Chúa ấy, vị Thiên Chúa thinh lặng, chúng ta được mời gọi thực sự tiến hành một cuộc vượt qua phục sinh. Sống lễ Vượt Qua của mình cũng có nghĩa là đóng đinh vào thập giá mọi khái niệm của chúng ta về Thiên Chúa, hầu đón nhận một Thiên Chúa mãi mãi cao cả hơn, một Giao Ước ‘cho không’.

Vị Thiên Chúa mà Đức Giêsu Kitô mặc khải thì không ‘dùng’ để làm gì cả, theo ý nghĩa hẹp của từ ngữ này. Người không xóa bỏ các giới hạn hay các thử thách trong kiếp người, nhưng Người biến đổi đời thường chúng ta và phá vỡ chân trời hạn hẹp của chúng ta.

Thật khó khăn để ‘trở lại’ với Thiên Chúa của Phúc Âm,  để đi từ một ‘thiên chúa’ ngoại đạo mà ta phải lấy lòng, phải thuyết phục hầu đến với một Thiên Chúa từng đón nhận cái chết của chúng ta để làm vọt lên sự sống đời đời.  Tôi không cần phải biện minh cho sự thinh lặng của Thiên Chúa! Nhưng những sự thinh lặng ấy chẳng phải là một lời ‘âm’ mà chúng ta cần phải học cách lắng nghe và giải thích sao? Sự thinh lặng của Thiên Chúa chẳng phải là một hình thức ngôn ngữ không lời khiến chúng ta phải đào sâu, tinh luyện nội dung của các khát mong của mình sao?

          

 

Trở về Muc Lục